MÔ TẢ SÁNG KIẾN 1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến. Ở Việt Nam, vấn đề hướng dẫn học sinh tự học, tự nghiên cứu là một vấn đề mang tính thời sự, là một trong những giải pháp về đổi mới phương pháp dạy học, được nhiều nhà giáo dục quan tâm trong định hướng đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục. Nhưng hiện nay, chưa có nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu bàn về vấn đề hướng dẫn học sinh tự học, tự nghiên cứu, khiến cho việc áp dụng phương pháp này trong dạy học các môn học nói chung và môn Lịch sử nói riêng gặp nhiều khó khăn, lúng túng. Trong các công trình đã xuất bản về hướng dẫn học sinh tự học ở Việt Nam, được biết đến nhiều nhất và phổ biến nhất là Tuyển tập Tác phẩm Tự Giáo Dục, Tự Học, tự Nghiên Cứu của Nguyễn Cảnh Toàn (sách này gồm 2 tập) do Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây xuất bản. Ngoài ra, các bài báo, tài liệu về hướng dẫn học sinh tự học chủ yếu vẫn ở dạng sáng kiến kinh nghiệm và trao đổi trong cộng đồng giáo viên. Vì vậy, trong bối cảnh dạy học đó, một số giải pháp nhằm hình thành kỹ năng tự học với sách giáo khoa Lịch sử cho học sinh lớp 6 đã được nảy sinh nhằm góp thêm một tiếng nói cho việc hình thành kỹ năng tự học lịch sử với sách giáo khoa cho học sinh đầu cấp. Đồng thời, thực hiện nhiệm vụ, đường lối, quan điểm chỉ đạo của Ngành giáo dục trong giai đoạn hiện nay. 2. Cơ sở lý luận. 2.1. Quan niệm về tự học. Theo Nguyễn Cảnh Toàn: Tự học là tự mình dùng các giác quan để thu nhận thông tin rồi tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (so sánh, quan sát, phân tích, tổng hợp) và có khi cả cơ bắp (phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (trung thực, khách quan, chí tiến thủ, không ngại khó….) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình. Còn Nguyễn Văn Đản cho rằng: “Tự học là một quá trình học, trong đó học sinh tự giác, độc lập, tự điều khiển các thao tác, hành động nhận thức, nhằm đạt tời mục tiêu học tập của cá nhân”. Sự thống nhất trong quan niệm về tự học, đó là tính tự giác, tự chủ trong hành động và mục đích rõ ràng của hành động tự học để đạt tới mục tiêu đề ra. 2.2. Quan niệm về kỹ năng tự học. Kỹ năng tự học là cách thức lựa chọn và thực hiện các hành động học tập của do học sinh chủ động, tự giác tiến hành để đạt tới mục tiêu học tập cuả các nhân. Kỹ năng tự học được biểu hiện ở các mặt kỹ thuật của hành động tự học và năng lực tự học của mỗi cá nhận. Nói cách khác năng lực tự học được biểu hiện ra ở kỹ năng tự học. Để tự học có kết quả người học phải có một số kỹ năng cơ bản: kỹ năng đọc sách, ghi chép, ôn tập và hệ thống hóa bài học, kỹ năng tự kiểm tra đánh giá, kỹ năng tìm tài liệu, làm việc với nhóm, kỹ năng lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch, kỹ năng tự nghiên cứu và tổ chức hoạt động ….Các kỹ năng có mối quan hệ gắn bó hữu cơ, bổ sung cho nhau và có ý nghĩa quyết định đến kết quả tự học. Các biểu hiện của kỹ năng lực tự học: + Xác định được nhiệm vụ học tập một cách tự giác, chủ động; tự đặt được mục tiêu học tập để đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu thực hiện. + Lập và thực hiện kế hoạch học tập nghiêm túc, nề nếp; thực hiện các cách học: Hình thành ghi nhớ của bản thân; phân tích nhiệm vụ học tập để lựa chọn được các nguồn tài liệu đọc phù hợp (các đề mục, các đoạn bài trong SGK, sách tham khảo, Internet) lưu giữ thông tin có chọn lọc bằng ghi tóm tắt với đề cương chi tiết, bằng bản đồ khái niệm, bảng, các từ khóa, ghi chú bài giảng của GV theo các ý chính; tra cứu tài liệu ở thư viện nhà trường theo yêu cầu của nhiệm vụ học tập. + Nhận ra và điều chỉnh những sai sót, hạn chế cảu bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua lời góp ý của GV, bạn bè; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ của người khác khi gặp khó khăn trong học tập 2.3. Kỹ năng tự học với SGK Lịch sử lớp 6. HS lớp 6 có độ tuổi từ 1112, là thời kì quá độ từ trẻ con sang người lớn và giai đoạn này tạo nên sự phát triển đặc thù về mọi mặt: phát triển thể chất, trí lực, đạo đức, xã hội….HS đã xác định được động cơ học tập để nắm vững tri thức, sẵn sàng lao động nhưng chưa bền vững; đã thể hiện hứng thú (mức độ khác nhau) với các môn học, yếu tố say mê tự học đã xuất hiện ở nhiều học sinh. Sự phát triển về nhận thức tạo điều kiện cho HS khả năng quan sát tinh tế, tư duy trừu tượng, phát triển ngôn ngữ và ghi nhớ loogic, ghi nhớ ý nghĩa tăng lên. Tư duy khái quát, độc lập của HS lớp 6 được phát triển mạnh, tư duy phê phán hình thành và phát triển; tư duy sáng tạo độc lập giúp HS thích tìm ra cách giải bài tập riêng của mình, phát minh ra cái mới…Từ những đặc điểm này, GVLS chú ý nâng cao hứng thú của HS với môn học, phát huy tính tích cực, sáng tạo qua việc tổ chức các hoạt động học tập, rèn luyện kỹ năng học tập, đặc biệt kỹ năng tự học lịch sử với HS. SGK là tài liệu học tập chủ yếu, nguồn tri thức quan trọng với HS. Việc tự học với SGK được tiến hành ở cả trên lớp cũng như ở nhà. Để hình thành kỹ năng tự học lịch sử với SGK một cách có hiệu quả, HS cần thực hiện bền bỉ trong một quá trình, qua từng bài học cụ thể, có sự hướng dẫn của GV (ở các mức độ khác nhau). Căn cứ vào mục tiêu bộ môn Lịch sử ở trường THCS, GV xác định những kỹ năng tự học lịch sử với SGK phù hợp với HS. Trong tự học lịch sử với SGK, kỹ năng tự học cần rèn luyện đối với học sinh bao gồm: + Kỹ năng khai thác lược đồ, bàn đồ, tranh ảnh lịch sử, phim tư liệu để tự tìm kiếm nội dung lịch sử thông qua kênh hình. + Khả năng tự đọc và phát hiện kiến thức lịch sử cơ bản trong SGK. + Khả năng tự tìm kiếm kiến thức lịch sử thông qua tài liệu tham khảo. + Kỹ năng kết hợp SGK với nghe giảng và ghi chép. + Khả năng trả lời câu hỏi và tự đặt câu hỏi. + Khả năng tự hệ thống hóa kiến thức ôn tập, củng cố kiến thức. 3. Thực trạng của vấn đề. Để tìm hiểu thực trạng của việc dạy học Lịch sử lớp 6 trên địa bàn huyện nhà, tôi tiến hành dự giờ của các bạn đồng nghiệp ở trường bạn. Đồng thời, khảo sát ý kiến HS qua hệ thống phiếu khảo sát để nắm bắt được tình hình học tập bộ môn. 3.1. Dự giờ GV. Dự giờ tiết 4, tuần 4, Lịch sử lớp 6 bài Các quốc gia cổ đại phương Đông của đồng nghiệp Nguyễn Văn A, trường THCS X (Đây là một trường học được đánh giá là trường có chất lượng dạy học tốt trong huyện). Nội dung bài giảng sơ lược tóm tắt như sau: Hoạt động của GV HS Nội dung kiến thức Hoạt động 1(Đàm thoại Nêu vấn đề) Ở phương Đông những cư dân nguyên thuỷ đã sinh sống ở những đâu? Thời gian nào? GV: Cuối thời NT, cư dân sống ở lưu vực những dòng sông lớn đó ngày càng đông. Theo em, vì sao cư dân tập trung ở lưu vực các con sông lớn? Với điều kiện tự nhiên thuận lợi đó, ngành kinh tế chính của cư dân vùng này là gì? Cư dân đã biết làm gì để phát triển nông nghiệp? GV kể chuyện thần thoại “Ông Vũ Trị Thuỷ”. Với đầy đủ yếu tố: Đất đai, nước tưới, sản xuất nông nghiệp sẽ như thế nào? GV sử dụng hình 8 và miêu tả phần dưới. Các quốc gia cổ đại phương Đông được hình thành vào thời gian nào? Ở đâu? GV: các quốc gia cổ đại phương Đông là những quốc gia cổ đại sớm nhất trong lịch sử loài người. Hoạt động 2 (Thảo luận Nêu vấn đề) XH cổ đại phương Đông bao gồm những tầng lớp nào? Các tầng lớp có vai trò, vị trí như thế nào trong xã hội cổ đại phương Đông? Điều qui định trong luật là với đối tượng nào? Qua 2 điều luật trên, người cày thuê phải làm việc như thế nào? GV nói qua về các cuộc đấu tranh của nô lệ và dân nghèo GV: Tuy ở mỗi nước quá trình hình thành và phát triển của nhà nước không giống nhau, nhưng thể chế chung là chế độ quân chủ chuyên chế. Em hiểu thế nào là “chuyên chế”? (Nhà vua có quyền hành như thế nào?) Em biết những cách gọi nào về người đứng đầu ở các quốc gia cổ đại phương Đông? Em còn biết gì về các quốc gia cổ đại phương Đông? HS: TQ: Thiên tử ( Con trời); Ai Cập: Pha ra ôn ( ngôi nhà lớn); Lưỡng Hà: En si (người đứng đầu) GV: Ở Ai Cập, Ấn Độ bộ phận tăng lữ khá đông. Họ tham gia vào các việc chính trị và có quyền hành khá lớn, thậm trí lấn át cả quyền vua. 1, Các quốc gia cổ đại phương Đông đã được hình thành từ bao giờ? Đời sống kinh tế : Cư dân tập trung ở lưu vực các dòng sông lớn vì: Đất đai màu mỡ, dễ canh tác, cho năng xuất cao, đảm bảo cuộc sống cho họ. Ngành kinh tế chính: Nông nghiệp. Cư dân còn biết làm thuỷ lợi để phát triển nông nghiệp. =>SX nông nghiệp PT cao, lương thực dư thừa, giai cấp hình thành và xuất hiện nhà nước. Thời gian: Vào cuối thiên niên kỉ IV đầu thiên niên kỉ III TCN các nhà nước đầu tiên được hình thành ở phương Đông đó Địa điểm: ở Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Quốc ngày nay, trên lưu vực các con sông lớn như sông Nin ở Ai Cập... 2, Sơ lược về tổ chức và đời sống xã hội ở phương Đông Các tầng lớp xã hội chính XH gồm 3 tầng lớp: Nông dân công xã là lực lượng lao động chính. Quý tộc là tầng lớp có nhiều của cải quyền thế, gồm vua, quan lại và tăng lữ Nô lệ là những người hầu hạ phục dịch cho quý tộc, thân phận không khác gì con vật. Tổ chức xã hội: Vua nắm mọi quyền hành trong xã hội=> Nhà nước quân chủ chuyên chế. Bộ máy hành chính từ TW đến địa phương còn khá đơn giản do quý tộc nắm giữ. Củng cố Em hãy kể tên và xác định vị trí các quốc gia cổ đại phương đông trên lược đồ? XH phương Đông cổ đại gồm những tầng lớp nào? Vị trí, vai trò của các tầng lớp? Hướng dẫn về nhà Học bài nắm chắc thời gian, địa điểm ra đời, nền tảng kinh tế, thể chế của các quốc gia này. Sưu tầm các tư liệu liên quan đến các quốc gia cổ đại phương Đông. Đọc và chuẩn bị bài 5 tìm hiểu những nét đặc trưng của XH phương Tây Như vậy, qua tiết dự giờ tôi nhận thấy: GV chủ yếu sử dụng phương pháp thuyết trình kết hợp nêu vấn để làm rõ nội dung kiến thức bài dạy. Chính các phương pháp này khiến cho giờ học trầm, không sinh động. Học sinh chỉ giống như một cỗ máy nghe giảng ghi bài, thụ động tiếp nhận lượng kiến thức mà cô giáo dạy. Sự chuẩn bị một tiết dạy lịch sử của giáo viên còn sơ sài nên khi tổ chức giảng dạy vài lần không thành công, giáo viên lại xem nhẹ nội dung này. Hình thức tổ chức dạy và học còn đơn giản, chưa phong phú, chưa đáp ứng nhu cầu nhận thức của học sinh, chưa kích thích được tính ham hiểu biết và hứng thú học tập của học sinh, thiếu các bài tập về nhà sưu tầm lịch sử. 3.2. Trao đổi, khảo sát với học sinh qua phiếu khảo sát PHIẾU KHẢO SÁT VỀ THỰC TRẠNG HỌC LỊCH SỬ LỚP 6 (Phiếu dành cho học sinh trước khi thực nghiệm) 1. Em cho biết tầm quan trọng của môn Lịch sử ở trường Trung học cơ sở? a. Quan trọng b. Rất quan trọng c. Không quan trọng d. Bình thường 2. Theo em học môn Lịch sử để làm gì? a. Nâng cao hiểu biết về lịch sử b. Trở thành học sinh giỏi toàn diện c. Trở thành nhà nghiên cứu lịch sử d. Đạt kết cao khi thi 3. Em có thích học môn Lịch sử không? a. Thích b. Không thích c. Bình thường d. Bắt buộc 4. Vì sao em không thích học môn lịch sử? a. Đây là môn học rất khó nhớ, có quá nhiều sự kiện b. Đây chỉ môn học phụ không quan trọng c. Bài giảng cô giáo cho ghi dài d. Đây là môn học thường phải sử dụng bản đồ 5. Ở trên lớp em học tập môn lịch sử như thế nào? a. Nghe giảng, ghi bài, phát biểu ý kiến b. Học hoàn toàn theo sách giáo khoa c. Thích thì ghi, không thích thì không ghi d. Không thích nghe giảng, không thích ghi bài 6. Em thường học bài cũ của môn Lịch sử như thế nào? a. Học thuộc vở ghi b. Học theo ý hiểu kết hợp vở ghi c. Học theo ý mở rộng của sách giáo khoa d. Học theo sách tham khảo 7. Theo em, hiện nay thầy (cô) giáo thường sử dụng phương pháp giảng dạy nào khi dạy môn Lịch sử?
Trang 1MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến.
Ở Việt Nam, vấn đề hướng dẫn học sinh tự học, tự nghiên cứu là một vấn đềmang tính thời sự, là một trong những giải pháp về đổi mới phương pháp dạy học,được nhiều nhà giáo dục quan tâm trong định hướng đổi mới và nâng cao chấtlượng giáo dục Nhưng hiện nay, chưa có nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu bàn
về vấn đề hướng dẫn học sinh tự học, tự nghiên cứu, khiến cho việc áp dụngphương pháp này trong dạy học các môn học nói chung và môn Lịch sử nói riênggặp nhiều khó khăn, lúng túng Trong các công trình đã xuất bản về hướng dẫnhọc sinh tự học ở Việt Nam, được biết đến nhiều nhất và phổ biến nhất là Tuyển
tập Tác phẩm "Tự Giáo Dục, Tự Học, tự Nghiên Cứu" của Nguyễn Cảnh Toàn
(sách này gồm 2 tập) do Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội và Trung tâmVăn hóa Ngôn ngữ Đông Tây xuất bản Ngoài ra, các bài báo, tài liệu về hướngdẫn học sinh tự học chủ yếu vẫn ở dạng sáng kiến kinh nghiệm và trao đổi trongcộng đồng giáo viên
Vì vậy, trong bối cảnh dạy học đó, một số giải pháp nhằm hình thành kỹ năng tự học với sách giáo khoa Lịch sử cho học sinh lớp 6 đã được nảy sinh
nhằm góp thêm một tiếng nói cho việc hình thành kỹ năng tự học lịch sử với sách
giáo khoa cho học sinh đầu cấp Đồng thời, thực hiện nhiệm vụ, đường lối, quanđiểm chỉ đạo của Ngành giáo dục trong giai đoạn hiện nay
2 Cơ sở lý luận
2.1 Quan niệm về tự học.
Theo Nguyễn Cảnh Toàn: Tự học là tự mình dùng các giác quan để thu nhận thông tin rồi tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (so sánh, quan sát, phân tích, tổng hợp) và có khi cả cơ bắp (phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (trung thực, khách quan, chí tiến thủ, không ngại khó….) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình.
Trang 2Còn Nguyễn Văn Đản cho rằng: “Tự học là một quá trình học, trong đó học sinh tự giác, độc lập, tự điều khiển các thao tác, hành động nhận thức, nhằm đạt tời mục tiêu học tập của cá nhân” Sự thống nhất trong quan niệm về tự học,
đó là tính tự giác, tự chủ trong hành động và mục đích rõ ràng của hành động tựhọc để đạt tới mục tiêu đề ra
2.2 Quan niệm về kỹ năng tự học.
Kỹ năng tự học là cách thức lựa chọn và thực hiện các hành động học tậpcủa do học sinh chủ động, tự giác tiến hành để đạt tới mục tiêu học tập cuả cácnhân Kỹ năng tự học được biểu hiện ở các mặt kỹ thuật của hành động tự học vànăng lực tự học của mỗi cá nhận Nói cách khác năng lực tự học được biểu hiện ra
ở kỹ năng tự học Để tự học có kết quả người học phải có một số kỹ năng cơ bản:
kỹ năng đọc sách, ghi chép, ôn tập và hệ thống hóa bài học, kỹ năng tự kiểm trađánh giá, kỹ năng tìm tài liệu, làm việc với nhóm, kỹ năng lập kế hoạch, thực hiện
kế hoạch, kỹ năng tự nghiên cứu và tổ chức hoạt động ….Các kỹ năng có mốiquan hệ gắn bó hữu cơ, bổ sung cho nhau và có ý nghĩa quyết định đến kết quả tự học
Các biểu hiện của kỹ năng lực tự học:
+ Xác định được nhiệm vụ học tập một cách tự giác, chủ động; tự đặt đượcmục tiêu học tập để đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu thực hiện
+ Lập và thực hiện kế hoạch học tập nghiêm túc, nề nếp; thực hiện các cáchhọc: Hình thành ghi nhớ của bản thân; phân tích nhiệm vụ học tập để lựa chọnđược các nguồn tài liệu đọc phù hợp (các đề mục, các đoạn bài trong SGK, sáchtham khảo, Internet) lưu giữ thông tin có chọn lọc bằng ghi tóm tắt với đề cươngchi tiết, bằng bản đồ khái niệm, bảng, các từ khóa, ghi chú bài giảng của GV theocác ý chính; tra cứu tài liệu ở thư viện nhà trường theo yêu cầu của nhiệm vụ học tập
+ Nhận ra và điều chỉnh những sai sót, hạn chế cảu bản thân khi thực hiệncác nhiệm vụ học tập thông qua lời góp ý của GV, bạn bè; chủ động tìm kiếm sự
hỗ trợ của người khác khi gặp khó khăn trong học tập
2.3 Kỹ năng tự học với SGK Lịch sử lớp 6.
Trang 3HS lớp 6 có độ tuổi từ 11-12, là thời kì quá độ từ trẻ con sang người lớn vàgiai đoạn này tạo nên sự phát triển đặc thù về mọi mặt: phát triển thể chất, trí lực,đạo đức, xã hội….HS đã xác định được động cơ học tập để nắm vững tri thức, sẵnsàng lao động nhưng chưa bền vững; đã thể hiện hứng thú (mức độ khác nhau) vớicác môn học, yếu tố say mê tự học đã xuất hiện ở nhiều học sinh Sự phát triển vềnhận thức tạo điều kiện cho HS khả năng quan sát tinh tế, tư duy trừu tượng, pháttriển ngôn ngữ và ghi nhớ loogic, ghi nhớ ý nghĩa tăng lên Tư duy khái quát, độclập của HS lớp 6 được phát triển mạnh, tư duy phê phán hình thành và phát triển;
tư duy sáng tạo độc lập giúp HS thích tìm ra cách giải bài tập riêng của mình, phátminh ra cái mới…Từ những đặc điểm này, GVLS chú ý nâng cao hứng thú của
HS với môn học, phát huy tính tích cực, sáng tạo qua việc tổ chức các hoạt độnghọc tập, rèn luyện kỹ năng học tập, đặc biệt kỹ năng tự học lịch sử với HS
SGK là tài liệu học tập chủ yếu, nguồn tri thức quan trọng với HS Việc tựhọc với SGK được tiến hành ở cả trên lớp cũng như ở nhà Để hình thành kỹ năng
tự học lịch sử với SGK một cách có hiệu quả, HS cần thực hiện bền bỉ trong mộtquá trình, qua từng bài học cụ thể, có sự hướng dẫn của GV (ở các mức độ khácnhau) Căn cứ vào mục tiêu bộ môn Lịch sử ở trường THCS, GV xác định những
kỹ năng tự học lịch sử với SGK phù hợp với HS
Trong tự học lịch sử với SGK, kỹ năng tự học cần rèn luyện đối với họcsinh bao gồm:
+ Kỹ năng khai thác lược đồ, bàn đồ, tranh ảnh lịch sử, phim tư liệu để tựtìm kiếm nội dung lịch sử thông qua kênh hình
+ Khả năng tự đọc và phát hiện kiến thức lịch sử cơ bản trong SGK
+ Khả năng tự tìm kiếm kiến thức lịch sử thông qua tài liệu tham khảo.+ Kỹ năng kết hợp SGK với nghe giảng và ghi chép
+ Khả năng trả lời câu hỏi và tự đặt câu hỏi
+ Khả năng tự hệ thống hóa kiến thức ôn tập, củng cố kiến thức
Trang 43 Thực trạng của vấn đề.
Để tìm hiểu thực trạng của việc dạy học Lịch sử lớp 6 trên địa bàn huyện nhà,tôi tiến hành dự giờ của các bạn đồng nghiệp ở trường bạn Đồng thời, khảo sát ýkiến HS qua hệ thống phiếu khảo sát để nắm bắt được tình hình học tập bộ môn
3.1 Dự giờ GV.
Dự giờ tiết 4, tuần 4, Lịch sử lớp 6 bài "Các quốc gia cổ đại phương Đông" của đồng nghiệp Nguyễn Văn A, trường THCS X (Đây là một trường học được đánh giá là trường có chất lượng dạy học tốt trong huyện) Nội dung bài giảng sơ lược tóm tắt như sau:
Hoạt động 1(Đàm thoại - Nêu vấn đề)
- Ở phương Đông những cư dân nguyên thuỷ
đã sinh sống ở những đâu? Thời gian nào?
- GV: Cuối thời NT, cư dân sống ở lưu vực
những dòng sông lớn đó ngày càng đông
- Theo em, vì sao cư dân tập trung ở lưu vực
các con sông lớn?
- Với điều kiện tự nhiên thuận lợi đó, ngành
kinh tế chính của cư dân vùng này là gì?
- Cư dân đã biết làm gì để phát triển nông
nghiệp?
- GV kể chuyện thần thoại “Ông Vũ Trị
Thuỷ”
- Với đầy đủ yếu tố: Đất đai, nước tưới, sản
xuất nông nghiệp sẽ như thế nào?
- GV sử dụng hình 8 và miêu tả phần dưới
- Các quốc gia cổ đại phương Đông được
hình thành vào thời gian nào? Ở đâu?
- GV: các quốc gia cổ đại phương Đông là
những quốc gia cổ đại sớm nhất trong lịch sử
1, Các quốc gia cổ đại phương Đông đã được hình thành từ bao giờ?
- Cư dân còn biết làm thuỷ lợi đểphát triển nông nghiệp
=>SX nông nghiệp PT cao, lương thực dư thừa, giai cấp hình thành
và xuất hiện nhà nước.
* Thời gian: Vào cuối thiên niên
kỉ IV- đầu thiên niên kỉ III TCNcác nhà nước đầu tiên được hìnhthành ở phương Đông đó
* Địa điểm: ở Ai Cập, Lưỡng Hà,
Trang 5loài người.
Hoạt động 2 (Thảo luận - Nêu vấn đề)
- XH cổ đại phương Đông bao gồm những
tầng lớp nào?
- Các tầng lớp có vai trò, vị trí như thế nào
trong xã hội cổ đại phương Đông?
- Điều qui định trong luật là với đối tượng
nào?
- Qua 2 điều luật trên, người cày thuê phải
làm việc như thế nào?
- GV nói qua về các cuộc đấu tranh của nô lệ
và dân nghèo
- GV: Tuy ở mỗi nước quá trình hình thành
và phát triển của nhà nước không giống
nhau, nhưng thể chế chung là chế độ quân
chủ chuyên chế
- Em hiểu thế nào là “chuyên chế”?
(Nhà vua có quyền hành như thế nào?)
- Em biết những cách gọi nào về người đứng
đầu ở các quốc gia cổ đại phương Đông?
- Em còn biết gì về các quốc gia cổ đại
đông Họ tham gia vào các việc chính trị và
Ấn Độ, Trung Quốc ngày nay, trênlưu vực các con sông lớn như sôngNin ở Ai Cập
2, Sơ lược về tổ chức và đời sống
xã hội ở phương Đông
* Tổ chức xã hội:
- Vua nắm mọi quyền hành trong xã
hội=> Nhà nước quân chủ chuyên chế.
- Bộ máy hành chính từ TW đếnđịa phương còn khá đơn giản doquý tộc nắm giữ
Nông dân công xã
Nô lệ Quý tộc
Trang 6có quyền hành khá lớn, thậm trí lấn át cả
quyền vua
* Củng cố
- Em hãy kể tên và xác định vị trí các quốc gia cổ đại phương đông trên lược đồ?
- XH phương Đông cổ đại gồm những tầng lớp nào? Vị trí, vai trò của các tầng lớp?
* Hướng dẫn về nhà
- Học bài nắm chắc thời gian, địa điểm ra đời, nền tảng kinh tế, thể chế của các quốc gia này
- Sưu tầm các tư liệu liên quan đến các quốc gia cổ đại phương Đông
- Đọc và chuẩn bị bài 5 tìm hiểu những nét đặc trưng của XH phương Tây
* Như vậy, qua tiết dự giờ tôi nhận thấy:
- GV chủ yếu sử dụng phương pháp thuyết trình kết hợp nêu vấn để làm rõnội dung kiến thức bài dạy Chính các phương pháp này khiến cho giờ học trầm,
không sinh động Học sinh chỉ giống như một cỗ máy nghe giảng - ghi bài, thụ
động tiếp nhận lượng kiến thức mà cô giáo dạy
- Sự chuẩn bị một tiết dạy lịch sử của giáo viên còn sơ sài nên khi tổ chứcgiảng dạy vài lần không thành công, giáo viên lại xem nhẹ nội dung này
- Hình thức tổ chức dạy và học còn đơn giản, chưa phong phú, chưa đápứng nhu cầu nhận thức của học sinh, chưa kích thích được tính ham hiểu biết vàhứng thú học tập của học sinh, thiếu các bài tập về nhà sưu tầm lịch sử
3.2 Trao đổi, khảo sát với học sinh qua phiếu khảo sát
PHIẾU KHẢO SÁT
VỀ THỰC TRẠNG HỌC LỊCH SỬ LỚP 6
(Phiếu dành cho học sinh trước khi thực nghiệm)
1 Em cho biết tầm quan trọng của môn Lịch sử ở trường Trung học cơ sở?
Trang 7a Nâng cao hiểu biết về lịch sử
b Trở thành học sinh giỏi toàn diện
4 Vì sao em không thích học môn lịch sử?
a Đây là môn học rất khó nhớ, có quá nhiều sự kiện
b Đây chỉ môn học phụ không quan trọng
c Bài giảng cô giáo cho ghi dài
d Đây là môn học thường phải sử dụng bản đồ
5 Ở trên lớp em học tập môn lịch sử như thế nào?
a Nghe giảng, ghi bài, phát biểu ý kiến
b Học hoàn toàn theo sách giáo khoa
c Thích thì ghi, không thích thì không ghi
d Không thích nghe giảng, không thích ghi bài
6 Em thường học bài cũ của môn Lịch sử như thế nào?
a Học thuộc vở ghi
b Học theo ý hiểu kết hợp vở ghi
c Học theo ý mở rộng của sách giáo khoa
d Học theo sách tham khảo
7 Theo em, hiện nay thầy (cô) giáo thường sử dụng phương pháp giảng dạy nào khi dạy môn Lịch sử?
a Miêu tả bằng ngôn ngữ nói là chính
b Giải thích, minh hoạ bằng tranh ảnh, bản đồ
Trang 8Qua việc trao đổi, khảo sát với học sinh tôi nhận thấy: Đa số học sinh đều chorằng Lịch sử là một môn học không quan trọng trong nhà trường (75%) Chỉ có số
ít HS cho rằng đó là môn học quan trọng (25%) Có thể nói đây là một thực trạngđáng buồn của ngành giáo dục Cũng bởi các em cho rằng học lịch sử chỉ để đạtđiểm cao trong thi cử Làm vừa lòng bố mẹ, tránh bị bố mẹ la mắng Số lượng HScho rằng học lịch sử để nâng cao nhận thức về bộ môn là rất ít (chiếm tỉ lệ 25% sốHS) Các em cũng không thích học bộ môn (90%) bởi đây là bộ môn khó nhớ cónhiều sự kiện và là môn phụ không quan trọng Khi được hỏi ở trên lớp các emhọc môn Lịch sử như thế nào các em đều cho rằng vừa nghe giảng vừa ghi bài vàphát biểu ý kiến Có em lại cho rằng thích thì ghi mà không thích thì thôi Đẻ hiểumột bài lịch sử các em có phương pháp tự học ở nhà là học theo ý hiểu, học ở vởghi Ý thức tự học của các em cũng rất hạn chế Các em tự học theo vở ghi chỉ khinào bắt buộc cô giáo, bố hoặc mẹ bất buộc Còn khi nào cần điểm cao thì các emhọc nghĩa là chỉ thỉnh thoảng mới học theo vở ghi Khi hỏi các em trên lớp GV sửdụng phương pháp dạy học nào? Đa số các em cho rằng các thầy cô miêu tả ngônngữ nói là chính Thỉnh thoảng mới có thầy cô sử dụng tranh, ảnh bản đồ để minhhọa
Như vậy: Tình trạng không thích học Lịch sử là một tình trạng phổ biến
hiện nay Điều đó dẫn đến việc các em sợ học sử, chất lượng kiểm tra thấp, chấtlượng học sinh giỏi hạn chế Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực trạng trên, tôi tiếnhành phân tích nguyên nhân và rút ra phương pháp dạy học thích hợp với học
Trang 9sinh Đó là phải hình thành cho học sinh kỹ năng tự học với SGK Lịch sử cho học sinh đặc biết là học sinh lớp 6 (học sinh khối đầu cấp).
4 Các biện pháp hình thành kỹ năng tự học với GSK Lịch sử cho học sinh lớp 6.
4 1 Hình thành kỹ năng đọc - hiểu nội dung bài viết SGK Lịch sử 6.
Với HS lớp 6 việc đọc được bài viết không có nghĩa là đã hiểu nội dung bàiviết trong SGK Việc rèn kỹ năng đọc - hiểu nội dung bài viết sẽ giúp HS xác địnhnội dung chủ yếu của toàn bài (khái quát), nội dung cụ thể (sự kiện, hiện tượng,nhân vật….) của từng mục và xác định kiến thức cơ bản của bài học Từ đó, họcsinh có thể trả lời được những câu hỏi:
- Bài học này/mục này đề cập đến vấn đề gì?
- Nội dung nào là cơ bản, quan trọng, sự kiện hay nhân vật nào tiêu biểu đốivới vấn đề đó?
- Những từ ngữ nào quan trọng (từ khóa) trong một đoạn, một mục và toàn bài?
Ví dụ: Ngay từ bài học đầu tiên trong chương trình Lịch sử lớp 6, để hìnhthành năng lực tự học cho học sinh, GV hướng dẫn HS đọc – hiểu nội dung bàiviết như sau:
Bài 1 Sơ lược về môn lịch sử.
- GV cho HS đọc toàn bộ nội dung bài 1 ngay trên lớp khoảng 10 phút(Cũng có thể cho 1 HS đọc to, học sinh khác kết hợp nghe và đọc thầm theoSGK) Sau khi HS đọc xong, GV đặt câu hỏi:
+ Bài học bao gồm mấy mục? Nội dung từng mục đề cập đến vấn đề gì?
Với câu hỏi này tưởng rất dễ đa số các em sẽ trả lời được, nhưng GV khôngnên bỏ qua Vì câu hỏi ban đầu này sẽ giúp HS hình thành thói quen hiểu cấu trúcnội dung 1 bài học lịch sử và nội dung mà SGK định trình bày Cụ thể với câu hỏinày, HS trả lời được bài học gồm 3 mục, mục 1 cho biết lịch sử là gì? Mục 2: mụcđích của việc học lịch sử Mục 3: Con người dựa vào đâu để biết và dựng lại lịch sử?
Sau khi HS trả lời được câu hỏi này, GV đặt tiếp câu hỏi:
Trang 10+ Trong 3 nội dung em vừa trình bày, nội dung nào là cơ bản và quan trọng nhất?
Chắc chắn với câu hỏi này HS sẽ biết được mục đích của việc học lịch sử đểlàm gì? Học lịch sử để hiểu được cội nguồn của tổ tiên, ông cha, làng xóm, cộinguồn của dân tộc mình; biết được tổ tiên, ông cha ta đã sống và lao động như thếnào để tạo nên đất nước ngày nay, từ đó biết quý trọng những gì mình đang có,biết ơn những người làm ra nó, cũng như biết mình làm gì cho đất nước…
Để giúp HS nâng cao năng lực tự học, GV đặt câu hỏi: Những từ ngữ nàoquan trọng (từ khóa) trong một đoạn, một mục và toàn bài? Với bài này học sinh
sẽ xác định được từ khóa trung tâm của bài là lịch sử.
Như vậy, kỹ năng đọc – hiểu bài viết là kỹ năng cần thiết để rèn luyện các
kỹ năng khác khi tự học lịch sử với SGK, tài liệu
4.2 Hình thành kỹ năng quan sát và khai thác kênh hình trong SGK Lịch sử 6.
Kênh hình trong SGK lịch sử (tranh, ảnh, lược đồ, bản đồ, bảng biểu….)chứa đựng những nội dung lịch sử không chỉ mang tính minh họa cho nội dung bàiviết mà còn là nguồn tri thức, có khả năng cung cấp kiến thức, rèn luyện kỹ năng
và tăng hứng thúc học tập cho HS Khi làm việc với kênh hình, HS không chỉ
quan sát mà còn tìm kiếm được những thông tin ẩn chứa trong đó, như: Bức ảnh phản ánh về nhân vật hay sự kiện nào? Nội dung của hình đó là gì? Thông điệp đằng sau bức hình?
* Đối với kênh hình là ảnh chụp, GV hướng dẫn HS tự học theo các bướcnhư sau:
- Bước 1: Quan sát tranh, ảnh từ trái qua phải, từ trên xuống dưới nắm nộidung khái quát của tranh, ảnh
- Bước 2: Mô tả nội dung bức ảnh (GV đặt các câu hỏi gợi mở giúp HSquan sát được kĩ hơn)
- Bước 3 Nhận xét nội dung lịch sử được mô tả trong bức ảnh
Trang 11Ví dụ: Khi dạy tiết 1 bài 1 “Sơ lược về môn lịch sử”, GV giúp HS hình
thành kỹ năng quan sát và khai thác kênh hình trong SGK như sau:
Hình 1: Một lớp ở trường làng thời xưa
GV hướng dẫn HS kỹ năng quan sát và khai thác kênh hình như sau:
+ GV giới thiệu khái quát nội dung bức ảnh: Bức ảnh chụp khung cảnh củamột lớp học ở trường làng thời xưa
+ Sau đó cho HS quan sát (từ trái sang phải, từ trên xuống dưới) và gợi mở
để HS thảo luận: Qua bức ảnh, các em thấy lớp học thời xưa khác với lớp học ởtrường em bây giờ như thế nào? Vì sao có sự khác nhau đó? Bức ảnh nói lên điều gì?
+ HS sẽ tìm ra được: Lớp học được tổ chức ở ngoài trời, ngay trước sânnhà, không có phòng học riêng cũng không có bảng đen, phấn trắng….Lớp học có7-8 HS, sách vở được đặt dưới nền ngay trước mặt HS mặc quần trắng, áo the dài,không có HS nữ HS ngồi xếp bằng tư thế ngay ngắn, tay khoanh trước ngực,chăm chú nhìn vào thầy giáo, một HS đứng bên cạnh, mặt quay vào thầy giáo có
lẽ đang trả lời câu hỏi của thầy Qua đó HS dễ dàng nhật thấy sự khác nhau củatrường học thời xưa và trường học bây giờ Đồng thời HS cũng sẽ tự nhận thấyđiều kiện sống còn nghèo nàn so với ngày nay Nhưng bức ảnh cũng thể hiện đượctinh thần hiếu học, tôn sư trọng đạo, một tinh thần tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
Hình 2 Bia Tiến sĩ (Văn Miếu – Quốc Tử Giám)
Trang 12
Tương tự GV hướng dẫn HS rèn kĩ năng qua các bước:
+ Quan sát ảnh và giới thiệu: Đây là bức ảnh chụp văn bia Tiến sĩ ở VănMiếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội), khắc tên tuổi của những người đỗ Tiến sĩ trongcác khoa thi thời xưa Bia được khắc trên loại đá xanh, kích thước không giốngnhau, được chạm khắc hoa văn tinh xảo Trên mỗi tấm bia khắc một bài văn bằngchữ Hán…Bia được đặt trên lưng rùa bằng đá
+ Trả lời câu hỏi: Bia đá được đặt ở Văn Miếu để làm gì? Nó thuộc loại tưliệu nào? (Bia đặt ở Văn Miếu nhằm tôn vinh những người đỗ đạt cao Thuộc loại
tư liệu hiện vật, tư liệu gốc.)
* Đối với kênh hình là lược đồ, sơ đồ
- Bước 1 Quan sát lược đồ, sơ đồ Đọc các chú thích trên lược đồ, sơ đồ.Năm được các kí hiệu mang tính đặc thù của bộ môn
- Bước 2 Tường thuật lại nội dung trên lược đồ, sơ đồ theo gợi ý của GV
- Bước 3 Nhận xét nội dung sự kiện
Ví dụ: Khi học bài 15 Nước Âu Lạc (Tiếp theo).
Trang 13
Sơ đồ khu thành Cổ Loa
- HS quan sát hình, mô tả về cấu trúc thành Cổ Loa, cách bố trí của thành:Thành gồm ba vòng tròn khép kín Theo thứ tự từ trong ra ngoài là thành nội,thành trung, thành ngoại Bên ngoài mỗi vòng thành đều có hào sâu bao quanh.Cac hào nối với nhau và thông với sông Hồng, đầm Cả Ngoài ba vòng thành vàhào khép kín, khoảng giữa các vòng thành và phía ngoài thành ngoại còn có nhiềuđoạn lũy và ụ đất được bố trí và sử dụng như những công sự phòng vệ thành Cổ Loa
- Nhận xét về việc xây dựng thành Cổ Loa và cách bố trí của thành: Tất cả
những “chiến lũy” “ụ đất phòng vệ” cùng ba vòng thành khép kín tạo thành công
trình kiến trúc thống nhất, một căn cứ quân sự mang tính chất phòng vệ vữngchắc, phối hợp bộ binh và thủy binh Thể hiện trí tuệ tài giỏi của con người thời đó
Ví dụ: Khi học bài 27: Khởi nghĩa Lí Bí Nước Vạn Xuân
Trang 14
Lược đồ: Khởi nghĩa Lí Bí
- HS quan sát lược đồ đọc tên các châu, xác định vị trí các châu trên lược đồtrên lược đồ: Giao Châu - đồng bằng Trung du Bắc Bộ, Hoàng Châu - QuảngNinh, Ái Châu - Thanh Hóa, Đức Châu - Nghệ An, Hà Tĩnh Trung tâm là LongBiên - nay thuộc Bắc Ninh
- Xác định địa điểm bùng nổ và phát triển của cuộc khởi nghĩa: Chu Diên,Thanh Trì, Thái Bình
Tóm lại: Việc rèn luyện kỹ năng khai thác kênh hình sẽ giúp cho HS quan
sát tinh tế, sâu sắc hơn cũng như khả năng biểu đạt phi ngôn ngữ kiến thức của mình
4.3 Hình thành kỹ năng diễn đạt nội dung bài học trong SGK Lịch sử 6.
HS lớp 6 có khả năng ghi nhớ kiến thức logic, cùng với sự phát triển ngônngữ, HS thích biểu đạt theo cách hiểu của mình Vì vậy, kỹ năng diễn đạt có thểbằng lời nói, chữ viết, cũng có thể qua hình thức phi ngôn ngữ (tranh vẽ, hình ảnh,
sơ đồ, bảng biểu…)
Ví dụ: Khi học bài 8: Thời nguyên thủy trên đất nước ta.
GV hướng dẫn HS diễn đạt nội dung kiến thức bài học bằng cách lập bảng
hệ thống các giai đoạn phát triển của thời nguyên thủy ở nước ta như sau:
Trang 15phát triển gian
Người tối cổ
40-30vạnnăm
Hang Thẩm Hai, ThẩmKhuyên (Lạng Sơn); núi
Đọ, Quan Yên (ThanhHóa); Xuân Lộc (Đồng Nai)
Công cụ đá ghè đẽo thô
sơ dùng để chặt, đập;nhiều mảnh đá ghèmỏng
Người tinh
khôn (giai
đoạn đầu)
3-2 vạnnăm
Mái đá Ngườm (TháiNguyên); Sơn Vi (PhúThọ); Lai Châu, Sơn La,Bắc Giang, Thanh Hóa,Nghệ An
Những chiếc rìu bằnghòn cuội, được ghè đẽothô sơ, có hình thù rõràng
12.000-Bắc Sơn, Quỳnh Văn, HạLong
Rìu ngắn, rìu có vaingày càng nhiều, đượcmài lưỡi
Hoặc khi học về bộ máy nhà nước thời An Dương Vương (đoạn 3, mục 2:
Nước Âu Lạc ra đời, bài 14: Nước Âu Lạc) HS có thể tự học rồi trình bày bằng
cách hệ thống hóa bằng sơ đồ như sau:
Như vậy, từ một nội dung lịch sử nhưng với những cách diễn đạt phong phú
thể hiện sự sáng tạo của HS, rất cần được khuyến khích
4.4 Hình thành kỹ năng tóm tắt và hệ thống kiến thức trong SGK.
An Dương Vương Lạc hầu – Lạc tướng
(trung ương)
Bộ(Lạc tướng)
Bộ(Lạc tướng)
Chiềng, chạ(Bồ chính)
Chiềng, chạ(Bồ chính)
Chiềng, chạ(Bồ chính)
Trang 16Kỹ năng này giúp HS hiểu bài sâu sắc và rèn luyện kỹ năng khái quát, tổnghợp kiến thức HS có thể tóm tắt và hệ thống kiến thức bằng lập dàn ý, bảng biểu,
vẽ sơ đồ khối, sơ đồ tư duy….Yêu cầu của kỹ năng tóm tắt và hệ thống kiến thức
là ngôn ngữ phải ngắn gọn cơ bản
Ví dụ 1: GV hướng dẫn HS hình thành kỹ năng tóm tắt và hệ thống kiến
thức SGK trong bài 2: Cách tính thời gian trong lịch sử trong mục 1, ở từng đoạn
như sau:
Mục 1 Tại sao phải xác định thời gian?
GV cho HS đọc lướt qua một lần, yêu cầu HS tóm lược nội dung của từngđoạn trong mục, rồi sau đó tóm tắt nội dung cả mục Cụ thể:
- Đoạn 1: HS tóm lược được nội dung: Lịch sử loài người gồm nhiều sựkiện, thời gian khác nhau Muốn hiểu lịch sử phải sắp xếp sự kiện theo thời gian
- Đoạn 2: Xác định thời gian là cần thiết
- Đoạn 3: Xác định thời gian là nguyên tắc cơ bản
- Đoạn 4: Con người từ xưa có thói quen ghi lai chuyện đã xảy ra, họ biếttính thời gian qua hiện tượng tự nhiên
=> Cả mục có thể tóm lược lại như sau: Lịch sử loài người có nhiều sự kiệnxảy ra với thời gian khác nhau Nên việc xác định thời gian là cần thiết Con người
từ xưa đã biết tính thời gian qua các hiện tượng tự nhiên
Trang 17Như vậy, khi tóm tắt và hệ thống kiến thức trong SGK, phải chú ý từ ngữ cô đọng, súc tích, có thể sử dụng các từ khóa đã xác định khi đọc – hiểu, coi đó là điểm tựa cho tư duy và ghi nhớ.
4.5 Hình thành kỹ năng theo dõi SGK kết hợp ghi chép trong giờ học.
Kỹ năng đọc-hiểu, tóm tắt và hệ thống hóa kiến thức là tiền đề để HS rèn
kỹ năng ghi chép nội dung bài học Quá trình ghi chép của HS trong giờ họckhông chỉ thể hiện mức độ hiểu nội dung kiến thức qua bài giảng mà còn là biểuhiện của kỹ năng ghi chép HS theo dõi SGK kết hợp nghe giảng và diễn đạt lạitheo ngôn ngữ của mình sẽ giúp HS nhớ lâu, khắc sâu nội dung bài học Đồng thời
phát huy khả năng tư duy độc lập khi kết hợp các kỹ năng đọc SGK- nghe viết bài.
giảng-4.6 Hình thành kỹ năng làm bài tập lịch sử.
Bài tập lịch sử có trong SGK hoặc GV giao, đều có tác dụng giúp HS dùngkiến thức và kỹ năng của mình chiếm lĩnh kiến thức bài học và thể hiện thái độtrong học tập Kỹ năng làm bài tập lịch sử của HS phản ánh mức độ nhận thức(biết, hiểu) và khả năng vận dụng kiến thức, tư duy của HS trước nhiệm vụ học tập
cụ thể Với HS lớp 6, ngay từ những buổi đầu GV nên cho HS làm những bài tập
Trang 18đơn giản ở các dạng như trắc nghiệm hay tự luận Những bài tập trong SGK có thểđược triển khai lại dưới các dạng trò chơi để kích thích sự chú ý học tập của các em
Ví dụ: Dạng bài tập điền khuyết
Bài 1 Trên thế giới, Người tối cổ xuất hiện cách đây khoảng 3-4 triệu năm.Những hài cốt của Người tối cổ được tìm thấy ở nhiều nơi như: miền Đông châuPhi, trên đảo………(In-đô-nê-xia), ở gần …….(Trung Quốc)
Cho các từ: Gia-va; Bắc Kinh; Xu-ma-tơ-ra; Trường An; Trường Thành
Bài 2 Người tối cổ sống theo ……….khoảng vài chục người, ban ngày họhái lượm hoa quả và săn bắt thú để ăn, ban đêm họ ngủ………Họ biết ghè đẽo đálàm công cụ Cuộc sống bấp bênh như thế kéo dài hàng………
Cho các từ: bầy; thị tộc; nhóm nhỏ; ngoài trời; trong hang động; trong nhà; hàng chục triệu năm; hàng triệu năm; hàng chục vạn năm.
Ví dụ: Dạng bài tập hỏi - đáp đúng – sai
1 Loài vượn cổ sống cách đây vài triệu năm Đúng Sai
2 Người tinh khôn sống chủ yếu nhờ săn bắt thú và hái
3 Người tinh khôn biết trồng rau, trồng lúa Đúng Sai
4 Trong xã hội cổ đại phương Đông nghề nông trồng lúa rất
5 Ở Hi Lạp, Rô-ma đất đai rất thuận lợi cho việc trồng lúa Đúng Sai
6 ở Hi Lạp, Rô – ma có hai giai cấp cơ bản là chủ nô và
7 Ở phương Đông người ta thường sử dụng loại chữ tượng
Trang 19ảnh trong SGK đã phô tô phóng to và cắt dời ra thành các ô vuông nhỏ) Một số tranh ảnh tham khảo:
4.7 Hình thành kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá.
Tự thực hiện các hành động học tập để chiếm lĩnh kiến thức, đồng thời rènluyện kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá mức độ tự nhận thức của mình Kỹ năng tựkiểm tra, đánh giá được thực hiện ở mức đơn giản nhất là HS tự trả lời những câuhỏi có sau mỗi mục, mỗi bài trong SGK sau đó đối chiếu với mỗi bài viết để đánhgiá đúng/sai Ở mức độ cao hơn có thể kết hợp SGK với phiếu bài tập được giaohoặc căn cứ vào nội dung SGK, HS tự đặt ra bài tập để thực hiện
Mức 1 Tự trả lời câu hỏi SGK
Ví dụ bài 5 Các quốc gia cổ đại phương Tây.
GV hướng dẫn HS tự trả lời câu hỏi phía cuối bài trong SGK trang 16.Câu hỏi 1 Các quốc gia cổ đại phương Tây đã được hình thành ở đâu và từbao giờ?
Câu hỏi 2 Em hiểu thế nào về xã hội chiếm hữu nô lệ?
HS tự trả lời và so sánh với SGK để tự đánh giá xem mình được bao nhiêu điểm