PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Hoàn cảnh nảy sinh chuyên đề. Trong những năm gần đây, Bộ GDĐT đã có rất nhiều chỉ đạo về việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông. Thay đổi về nội dung của bài học, về số lượng câu hỏi, bài tập, bài thực hành, sơ đồ, biểu đồ, lược đồ…Lồng ghép các tích hợp liên môn, Giáo dục môi trường, Tư tưởng Hồ Chí Minh...Những sự thay đổi đó nhằm mục đích nâng cao chất lượng giáo dục ở đối tuợng học sinh, mà chất lượng của học sinh phụ thuộc chủ yếu vào phương pháp dạy học của giáo viên. Nếu như trước đây việc truyền thụ kiến thức là nhiệm vụ quan trọng và đòi hỏi người dạy phải đóng vai trò chủ đạo tận dụng hết mọi năng lực của mình để giúp học sinh vấn đề bằng phương pháp thuyết giảng cho học sinh tiếp thu là chính. Thì nay phương pháp này không hợp lý trong chương trình SGK với từng bộ phận. Chương trình học ở các bậc học để áp dụng phương pháp dạy học mới lấy học sinh làm trung tâm, học sinh đóng vai trò chủ đạo trong tiến học thì người thầy người giáo viên soạn giảng phải có những phương pháp dạy học mới. Trong những phương pháp dạy học mà chúng tôi đã sử dụng và đổi mới, phương pháp dạy học như “sử dụng đồ dùng trực quan và hệ thống bài tập trong tiết dạy”; “Lập dàn ý và hệ thống câu hỏi cho tiết học sau trong bước dặn dò của tiết lên lớp”…Chúng tôi nhận thấy phương pháp thảo luận nhóm là một phương pháp mang lại hiệu quả cao. Do đó, nhóm chuyên môn chúng tôi mạnh dạn áp dụng phương pháp thảo luận nhóm nhằm “Hình thành và phát triển năng lực hợp tác nhóm cho học sinh”. 2. Cơ sở lý luận của chuyên đề. Giáo dục thế hệ trẻ là nhiệm vụ mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều coi là chiến lược của dân tộc mình . Vì thế đai hội lần thứ IX Đảng cộng sản Việt Nam trong nghị quyết ghi rõ “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, tương lai của một dân tộc, một quốc gia phải nhìn vào nền giáo dục của quốc gia đó. Nói về tầm quan trọng của giáo dục thế hệ trẻ nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang sánh vai các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần công lớn trong học tập của các em’’ . Trước khi người ra đi trong di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh có dặn: “Phải giáo dục thế hệ trẻ để cho họ trở thành những người vừa hồng vừa chuyên”. Trong điều kiện hiện nay khi khoa học kỉ thuật phát triển như vũ bão ,nền kinh tế tri thức có tính toàn cầu thì nhiệm vụ của ngành giáo dục vô cùng to lớn. Giáo dục không chỉ truyền đạt kiến thức cho học sinh mà còn phải giúp học sinh vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống vừa mang tính giáo dục ,vừa mang tính giáo dưỡng cao hơn là giáo dưỡng hướng đến nguồn gốc cội nguồn của tổ tiên và trân trọng nó. Để đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, việc đổi mới phương pháp dạy học có vai trò đặc biệt quan trọng, giúp phát triển một số năng lực cần thiết cho học sinh (HS) như: năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực vận dụng kiến thức khoa học vào thực tiễn, năng lực khám phá, năng lực tự học, năng lực hợp tác,… phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm (gọi tắt là phương pháp dạy học theo nhóm) là một trong những phương pháp tích cực, tạo điều kiện thuận lợi để bồi dưỡng những năng lực này cho HS THCS. Với phương pháp dạy học theo nhóm, giáo viên tổ chức HS hình thành các nhóm học tập. Mỗi thành viên trong nhóm học tập này có trách nhiệm tự học tập, đồng thời có trách nhiệm giúp đỡ các thành viên khác trong nhóm để cùng hoàn thành mục đích học tập chung của nhóm. Phương pháp dạy học theo nhóm tạo môi trường thuận lợi giúp HS có cơ hội phát biểu, trao đổi và học tập lẫn nhau, cùng nhau tìm hiểu kiến thức mới. Những HS yếu, kém có cơ hội được học hỏi những bạn giỏi hơn; HS khá giỏi không chỉ hoàn thành nhiệm vụ của mình mà còn cần giúp đỡ các bạn yếu hơn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Học tập theo nhóm giúp HS phát triển năng lực xã hội, phát triển những kĩ năng như: sử dụng ngôn ngữ, giao tiếp, thảo luận, bảo vệ ý kiến, giải quyết mâu thuẫn,… HS có cơ hội phát huy hoạt động sáng tạo, đánh giá, tổng hợp, phân tích, so sánh,… biết giải quyết các vấn đề và tình huống, từ đó học hỏi được những kinh nghiệm cần thiết cho bản thân. 3. Thực trạng của chuyên đề. 3.1. Về phía giáo viên: Hiện nay, đa phần GV đang tiếp cận với PP đổi mới dạy học nhằm hình thành năng lực cho HS. Tuy nhiên để hình thành năng lực cho HS như thế nào vẫn là câu hỏi khó đối với đa số GV đứng lớp. Qua dự giờ, hội thi giáo viên giỏi các cấp, tôi nhận thấy GV giảng dạy đã sử dụng các PPDH nhằm hình thành năng lực cho HS. Nhưng với việc hình thành năng lực hợp tác nhóm (thảo luận) cho HS vẫn chưa triệt để. Phần thảo luận nhóm đa phần còn hình thức với những hướng dẫn đơn giản. Có giờ dạy GV chỉ chung thành với thảo luận nhóm theo bàn, hoặc thảo luận hình thức cặp đôi...Các hình thức thảo luận của GV chưa giâỉ quyết được triệt để nội dung bài học. Phần trình bày đa phần GV chỉ hướng vào đối thoại với HS khá, giỏi cũng chưa phát huy hết năng lực của các HS khác.... Việc sử dụng thảo luận nhóm trong giảng dạy nói chung trong giảng dạy lịch sử nói riêng không phải là vấn đề mới. Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy nhiều giáo viên còn lúng túng, chưa nắm vững các bước, quy trình sử dụng hoạt động nhóm vì vậy hiệu quả của phương pháp chưa cao. 3.2. Về phía học sinh : Qua quá trình khảo sát, phân tích, dự giờ, kiểm tra tình trạng học tập bộ môn Lịch sử của trường, chúng tôi nhận thấy: Học sinh: khoảng 40% học sinh trung bình, yếu không biết cách thảo luận, không mạnh dạn đóng góp ý kiến và không nắm được nội dung cần học ở lớp cũng như nội dung cần luyện tập ở nhà. Học sinh chưa có thói quen soạn và xem bài trước ở nhà trước khi đến lớp (kể cả bài tập và câu hỏi từ dễ đến khó ở sách giáo khoa và cả sách bài tập) Khoảng 15% học sinh có khả năng trình bày, diễn đạt kiến thức trước cả lớp . Như vậy, hoạt động thảo luận nhóm của HS hiện nay vẫn còn hình thức. Thông thường sau khi GV đưa nhiệm vụ thảo luận nhóm, chỉ có một số ít HS tích cực tham gia thảo luận đó là những HS khá, giỏi, ý thức tốt. Còn những HS trung bình, yếu không tham gia thảo luận chỉ góp mặt bằng cách ngồi im nghe, xem các bạn khác trình bày, phát biểu. Tóm lại, để việc giảng dạy môn lịch sử đạt hiệu quả cao hơn nhóm chuyên môn Lịch sử đã mạnh dạn áp dụng phương pháp thảo luận nhóm vào trong các bài dạy lịch sử THCS. Một trong những điểm mà tôi đã làm “Nâng cao hiệu quả dạy – học môn lịch sử trường THCS bằng việc giúp các em có thÓ cùng nhau đưa ra suy nghĩ của mình để giải quyết các vấn đề” có những vấn đề giúp học sinh giải quyết được những sự kiện, hình ảnh lịch sử, nh÷ng nhân chứng sống hay các câu ca dao, tục ngữ mà thế hệ trước để lại để các em có thể hiểu biết hơn về lịch sử và áp dụng vào đời sống thực tiễn mà không gây nhàm chán và xa lạ lai có tác dụng kích thích tính chủ động, tự giác, sáng tạo, hứng thú trong môn học.
Trang 1PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Hoàn cảnh nảy sinh chuyên đề.
Trong những năm gần đây, Bộ GD-ĐT đã có rất nhiều chỉ đạo về việc thựchiện chương trình giáo dục phổ thông Thay đổi về nội dung của bài học, về sốlượng câu hỏi, bài tập, bài thực hành, sơ đồ, biểu đồ, lược đồ…Lồng ghép cáctích hợp liên môn, Giáo dục môi trường, Tư tưởng Hồ Chí Minh Những sựthay đổi đó nhằm mục đích nâng cao chất lượng giáo dục ở đối tuợng học sinh,
mà chất lượng của học sinh phụ thuộc chủ yếu vào phương pháp dạy học củagiáo viên
Nếu như trước đây việc truyền thụ kiến thức là nhiệm vụ quan trọng và đòihỏi người dạy phải đóng vai trò chủ đạo tận dụng hết mọi năng lực của mình đểgiúp học sinh vấn đề bằng phương pháp thuyết giảng cho học sinh tiếp thu làchính Thì nay phương pháp này không hợp lý trong chương trình SGK với từng
bộ phận Chương trình học ở các bậc học để áp dụng phương pháp dạy học mớilấy học sinh làm trung tâm, học sinh đóng vai trò chủ đạo trong tiến học thìngười thầy người giáo viên soạn giảng phải có những phương pháp dạy học mới
Trong những phương pháp dạy học mà chúng tôi đã sử dụng và đổi mới,phương pháp dạy học như “sử dụng đồ dùng trực quan và hệ thống bài tập trongtiết dạy”; “Lập dàn ý và hệ thống câu hỏi cho tiết học sau trong bước dặn dò của
tiết lên lớp”…Chúng tôi nhận thấy phương pháp "thảo luận nhóm" là một
phương pháp mang lại hiệu quả cao Do đó, nhóm chuyên môn chúng tôi mạnh
dạn áp dụng phương pháp thảo luận nhóm nhằm “Hình thành và phát triển năng lực hợp tác nhóm cho học sinh”.
2 Cơ sở lý luận của chuyên đề.
Giáo dục thế hệ trẻ là nhiệm vụ mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều coi
là chiến lược của dân tộc mình Vì thế đai hội lần thứ IX Đảng cộng sản Việt
Nam trong nghị quyết ghi rõ “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, tương lai của
một dân tộc, một quốc gia phải nhìn vào nền giáo dục của quốc gia đó
Nói về tầm quan trọng của giáo dục thế hệ trẻ nhân ngày khai trường đầu
tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang sánh vai các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần công lớn trong học tập của các em’’ Trước khi người ra đi trong di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh có dặn: “Phải giáo dục thế hệ trẻ để cho họ trở thành những người vừa hồng vừa chuyên”.
Trang 2Trong điều kiện hiện nay khi khoa học kỉ thuật phát triển như vũ bão ,nền
kinh tế tri thức có tính toàn cầu thì nhiệm vụ của ngành giáo dục vô cùng to lớn.Giáo dục không chỉ truyền đạt kiến thức cho học sinh mà còn phải giúp học sinhvận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống vừa mang tính giáo dục ,vừa mangtính giáo dưỡng cao hơn là giáo dưỡng hướng đến nguồn gốc cội nguồn của tổtiên và trân trọng nó
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, việc đổi mớiphương pháp dạy học có vai trò đặc biệt quan trọng, giúp phát triển một số nănglực cần thiết cho học sinh (HS) như: năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề,năng lực vận dụng kiến thức khoa học vào thực tiễn, năng lực khám phá, nănglực tự học, năng lực hợp tác,… phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm (gọi tắt
là phương pháp dạy học theo nhóm) là một trong những phương pháp tích cực,tạo điều kiện thuận lợi để bồi dưỡng những năng lực này cho HS THCS
Với phương pháp dạy học theo nhóm, giáo viên tổ chức HS hình thànhcác nhóm học tập Mỗi thành viên trong nhóm học tập này có trách nhiệm tự họctập, đồng thời có trách nhiệm giúp đỡ các thành viên khác trong nhóm để cùnghoàn thành mục đích học tập chung của nhóm Phương pháp dạy học theo nhómtạo môi trường thuận lợi giúp HS có cơ hội phát biểu, trao đổi và học tập lẫnnhau, cùng nhau tìm hiểu kiến thức mới Những HS yếu, kém có cơ hội đượchọc hỏi những bạn giỏi hơn; HS khá giỏi không chỉ hoàn thành nhiệm vụ củamình mà còn cần giúp đỡ các bạn yếu hơn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.Học tập theo nhóm giúp HS phát triển năng lực xã hội, phát triển những kĩ năngnhư: sử dụng ngôn ngữ, giao tiếp, thảo luận, bảo vệ ý kiến, giải quyết mâuthuẫn,… HS có cơ hội phát huy hoạt động sáng tạo, đánh giá, tổng hợp, phântích, so sánh,… biết giải quyết các vấn đề và tình huống, từ đó học hỏi đượcnhững kinh nghiệm cần thiết cho bản thân
3 Thực trạng của chuyên đề.
3.1 Về phía giáo viên:
Hiện nay, đa phần GV đang tiếp cận với PP đổi mới dạy học nhằm hìnhthành năng lực cho HS Tuy nhiên để hình thành năng lực cho HS như thế nàovẫn là câu hỏi khó đối với đa số GV đứng lớp Qua dự giờ, hội thi giáo viên giỏicác cấp, tôi nhận thấy GV giảng dạy đã sử dụng các PPDH nhằm hình thànhnăng lực cho HS Nhưng với việc hình thành năng lực hợp tác nhóm (thảo luận)cho HS vẫn chưa triệt để Phần thảo luận nhóm đa phần còn hình thức với nhữnghướng dẫn đơn giản Có giờ dạy GV chỉ chung thành với thảo luận nhóm theobàn, hoặc thảo luận hình thức cặp đôi Các hình thức thảo luận của GV chưa
Trang 3giâỉ quyết được triệt để nội dung bài học Phần trình bày đa phần GV chỉ hướngvào đối thoại với HS khá, giỏi cũng chưa phát huy hết năng lực của các HS khác
Việc sử dụng thảo luận nhóm trong giảng dạy nói chung trong giảng dạylịch sử nói riêng không phải là vấn đề mới Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạynhiều giáo viên còn lúng túng, chưa nắm vững các bước, quy trình sử dụng hoạtđộng nhóm vì vậy hiệu quả của phương pháp chưa cao
- Học sinh chưa có thói quen soạn và xem bài trước ở nhà trước khi đếnlớp (kể cả bài tập và câu hỏi từ dễ đến khó ở sách giáo khoa và cả sách bài tập)
- Khoảng 15% học sinh có khả năng trình bày, diễn đạt kiến thức trước cả lớp Như vậy, hoạt động thảo luận nhóm của HS hiện nay vẫn còn hình thức.Thông thường sau khi GV đưa nhiệm vụ thảo luận nhóm, chỉ có một số ít HStích cực tham gia thảo luận đó là những HS khá, giỏi, ý thức tốt Còn những HS
trung bình, yếu không tham gia thảo luận chỉ góp mặt bằng cách ngồi im nghe,
xem các bạn khác trình bày, phát biểu
Tóm lại, để việc giảng dạy môn lịch sử đạt hiệu quả cao hơn nhómchuyên môn Lịch sử đã mạnh dạn áp dụng phương pháp thảo luận nhóm vào
trong các bài dạy lịch sử THCS Một trong những điểm mà tôi đã làm “Nâng cao hiệu quả dạy – học môn lịch sử trường THCS bằng việc giúp các em có thÓ cùng nhau đưa ra suy nghĩ của mình để giải quyết các vấn đề” có những
vấn đề giúp học sinh giải quyết được những sự kiện, hình ảnh lịch sử, nh÷ngnhân chứng sống hay các câu ca dao, tục ngữ mà thế hệ trước để lại để các em
có thể hiểu biết hơn về lịch sử và áp dụng vào đời sống thực tiễn mà không gâynhàm chán và xa lạ lai có tác dụng kích thích tính chủ động, tự giác, sáng tạo,hứng thú trong môn học
Trang 4PHẦN 2 NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ
1 Lí luận chung.
1.1 Khái niệm.
Theo quan điểm của những nhà tâm lý học Năng lực là tổng hợp các đặcđiểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đạc trưng của một hoạtđộng, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao
Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhânnới đóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn đo tựnhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có
Có thể mô phỏng theo sơ đồ:
Năng lực hợp tác được xem là một trong những năng lực quan trọng củacon người trong xã hội hiện nay, chính vì vậy, phát triển năng lực hợp tác từtrong trường học đã trở thành một xu thế giáo dục trên thế giới Dạy học hợp táctrong nhóm nhỏ chính là sự phản ánh thực tiễn của xu thế đó
Dạy học nhóm còn được gọi bằng những tên khác nhau như: Dạy học hợptác, Dạy học theo nhóm nhỏ, trong đó học sinh của một lớp học được chia thànhcác nhóm nhỏ, trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành cácnhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việccủa nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp
Dạy học nhóm nếu được tổ chức tốt sẽ phát huy được tính tích cực, tínhtrách nhiệm; phát triển năng lực cộng tác làm việc và năng lực giao tiếp của HS
1.2 Bản chất
Trang 5PPDH hợp tác trong nhóm nhỏ còn được gọi bằng một số tên khác như
"Phương pháp thảo luận nhóm" hoặc PPDH hợp tác
Đây là một PPDH mà " học sinh được phân chia thành từng nhóm nhỏ riêng biệt, chịu trách nghiệm về một mục tiêu duy nhất, được thực hiện thông qua nhiệm vụ riêng biệt của từng người Các hoạt động cá nhân riêng biệt được
tổ chức lại, liên kết hữu cơ với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu chung".
Phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng nhằm giúp cho mọi hs thamgia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em có thể chia
sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết các vấn đề có liên quan đến nộidung bài học; tạo cơ hội cho các em được giao lưu, học hỏi lẫn nhau; cùng nhauhợp tác giải quyết những nhiệm vụ chung
1.3 Quy trình thực hiện
Khi sử dụng PPDH này, lớp học được chia thành những nhóm từ 4 đến 6người Tùy mục đích sư phạm và yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm đượcphân chia ngẫu nhiên hoặc có chủ định, được duy trì ổn định trong cả tiết họchoặc thay đổi theo từng hoạt động, từng phần của tiết học, các nhóm được giaonhiệm vụ giống nhau hoặc mỗi nhóm nhận một nhiệm vụ khác nhau, là các phầntrong một chủ đề chung
Cấu tạo của một hoạt động theo nhóm (trong một phần của tiết học, hoặcmột tiết, một buổi) có thể là như sau:
Bước 1 Làm việc chung cả lớp
- GV giới thiệu chủ đề thảo luận nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức
- Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm, quy định thời gian vàphân công vị trí làm việc cho các nhóm
- Hướng dẫn cách làm việc theo nhóm (nếu cần)
Bước 2 Làm việc theo nhóm - Lập kế hoạch làm việc
- Thỏa thuận quy tắc làm việc
- Phân công trong nhóm, từng cá nhân làm việc độc lập
- Trao đổi ý kiến, thảo luận trong nhóm
- Cử đại diện trình bày kết quả làm việc của nhóm
Bước 3 Thảo luận, tổng kết trước toàn lớp
- Đại diện từng nhóm trình bày kết quả thảo luận của nhóm
- Các nhóm khác quan sát, lắng nghe, chất vấn, bình luận và bổ sung ý kiến
- GV tổng kết và nhận xét, đặt vấn đề cho bài tiếp theo hoặc vấn đề tiếp theo
1.4 Các cách thành lập nhóm
Trang 6Có nhiều cách để thành lập nhóm theo các tiêu chí khác nhau, không nên
áp dụng một tiêu chí duy nhất trong cả năm học Có thể theo sổ điểm danh, theomàu sắc, theo biểu tượng, theo giới tính, theo vị trí ngồi, hoặc có cùng sự lựachọn, Bảng sau đây trình bày 10 cách theo các tiêu chí khác nhau
Quy mô nhóm có thể lớn hoặc nhỏ, tùy theo nhiệm vụ Tuy nhiên, nhómthường từ 3-5 hs là phù hợp
Tiêu chí Cách thực hiện Ưu, nhược điểm
1 Các nhóm gồm
những người tự
nguyện, chung mối
quan tâm
Ưu điểm: Đối với học sinh thì đây là cách dễ chịu nhất
để thành lập nhóm, đảm bảo công việc thành công nhanhnhất
Nhược điểm: Dễ tạo sự tách biệt giữa các nhóm trong
lớp, vì vậy cách tạo nhóm như thế này không nên là khảnăng duy nhất
2 Các nhóm ngẫu
nhiên
Bằng cách đếm số, phát thẻ, gắp thăm, sắp xếp theo màusắc,
Ưu điểm: Các nhóm luôn luôn mới mẻ sẽ đảm bảo là tất
cả các hs đều có thể học tập chung nhóm với tất cả các
hs khác
Nhược điểm: Nguy cơ có trục trặc tăng cao, học sinh
phải sớm làm quen với việc đó để thấy rằng cách lậpnhóm như vậy là bình thường
3 Nhóm ghép hình
Xé nhỏ một bức tranh hoặc các tờ tài liệu cần xử lí, các
hs được phát mẫu xé nhỏ, những hs ghép thành bứctranh hoặc tờ tài liệu đó sẽ tạo thành nhóm
Ưu điểm: Cách tạo nhóm kiểu vui chơi, không gây ra sự
đối địch, đối kháng
Nhược điểm: Cần một tí chi phí để chuẩn bị và cần
nhiều thời gian hơn để tạo lập nhóm
4 Các nhóm với những
đặc điểm chung
Ví dụ: Tất cả những học sinh cùng sinh ra trong mùađông, mùa xuân, mùa hè hoặc mùa thu sẽ tạo thànhnhóm
Ưu điểm: Tạo lập nhóm một cách độc đáo, tạo ra niềm
vui cho hs có thể biết nhau rõ hơn
Nhược điểm: Cách làm này mất đi tính độc đáo nếu
được sử dụng thường xuyên
5 Các nhóm cố định Các nhóm được duy trì trong một số tuần hoặc một số
Trang 7trong một thời gian dài
tháng, các nhóm này thậm chí có thể được đặt tên riêng
Ưu điểm: Cách làm này đã được chứng tỏ tốt trong
những nhóm học tập có nhiều vấn đề
Nhược điểm: Sau khi đã quen nhau một thời gian dài
thì việc lập các nhóm mới sẽ khó khăn
6 Nhóm có hs khá giỏi
để hỗ trợ hs yếu kém
Những hs khá giỏi trong lớp cùng luyện tập với các họcsinh yếu hơn và đảm nhận nhiệm vụ của người hướngdẫn
Ưu điểm: Tất cả đều được lợi Những học sinh khá giỏi
đảm nhận trách nhiệm, những hs yếu kém được giúp đỡ
Nhược điểm: Ngoài việc mất thời gian thì chỉ có ít
nhược điểm, trừ phi những hs khá giỏi hướng dẫn sai
7 Phân chia theo năng
lực học tập khác nhau
Những học sinh yếu hơn sẽ xử lí các bài tập cơ bản,những hs đặc biệt giỏi sẽ nhận được thêm những bài tập
bổ sung
Ưu điểm: học sinh có thể xác định mục đích của mình.
Ví dụ, ai bị điểm kém trong môn Toán thì có thể tậptrung vào một số ít bài tập
Nhược điểm: Cách làm này dẫn đến kết quả là nhóm
học tập cảm thấy bị chia thành những học sinh thôngminh và những hs kém
8 Phân chia theo các
dạng học tập
Được áp dụng thường xuyên khi học tập theo tìnhhuống, những hs thích học tập với hình ảnh, ẩm thanhhoặc biểu tưởng sẽ nhận được những bài tập tương ứng
Ưu điểm: Hs sẽ biết các em thuộc dạng học tập như thế
nào?
Nhược điểm: học sinh chỉ học những gì mình thích và
bỏ qua những nội dung khác
9 Nhóm với các bài
tập khác nhau
Ví dụ, trong khuôn khổ một dự án, một số hs sẽ khảo sátmột xí nghiệp sản xuất, một số khác khảo sát cơ sởchăm sóc xã hội,
Ưu điểm: Tạo điều kiện học tập theo kinh nghiệm đối
với những gì đặc biệt quan tâm
Nhược điểm: Thường chỉ có thể áp dụng trong khuôn
khổ một dự án lớn
10 Phân chia hs nam Ưu điểm: Có thể thích hợp nếu học về những chủ đề
Trang 82 Các kỹ năng cần thiết để hình thành năng lực hợp tác nhóm.
Muốn thực hiện thành công dạy học theo nhóm ở trường trung học cơ sở,ngoài việc GV cần có những kĩ năng dạy học như: thiết kế mục tiêu và nội dungbài học phù hợp với mô hình dạy học nhóm, phối hợp với các phương pháp dạyhọc tích cực, điều hành các hoạt động học tập hợp tác, kĩ năng tổng kết nội dungbài học,… HS cũng cần được rèn luyện những kĩ năng học tập nhất định đểthích hợp với các nguyên tắc và yêu cầu của phương pháp dạy học hợp tác theonhóm như:
2.1 Kĩ năng thành lập nhóm: HS sau khi nhận được nhiệm vụ học tập
cần di chuyển nhanh vào nhóm, không gây ồn ào; cần tham gia hoạt động ngaysau khi ngồi vào nhóm, ngồi cùng với nhóm trong suốt quá trình hoạt động, giaotiếp vừa đủ không làm ảnh hưởng đến nhóm khác, thực hiện các công việc củanhóm từng bước theo sự phân công
2.2 Kĩ năng lập kế hoạch hoạt động nhóm: Có kĩ năng xây dựng một kế
hoạch hoạt động cho nhóm một cách cụ thể, hợp lí, bao gồm: thứ tự công việc,nội dung công việc, thời gian, người chịu trách nhiệm,… sẽ đảm bảo cho mỗithành viên chủ động và có định hướng trong công việc của mình và của cảnhóm
2.3 Kĩ năng xây dựng nội quy học tập nhóm: Cần thiết lập những nội
quy, những nguyên tắc chung trong hoạt động để mọi thành viên trong nhómdựa vào đó mà thực hiện, đảm bảo sự quy củ, nghiêm túc trong hoạt động củanhóm
2.4 Kĩ năng phân công nhiệm vụ rõ ràng, hợp lí: Phụ thuộc vào vai trò
và kĩ năng chỉ đạo của nhóm trưởng Cần phân công công việc rõ ràng, phù hợpvới năng lực của mỗi thành viên để họ ý thức được vai trò của mình, có tráchnhiệm hoàn thành công việc Ngược lại, nếu phân công công việc không rõ ràng,không hợp lí, có người phải đảm nhiệm quá nhiều việc, có người lại không cóviệc để làm, kết quả là sự bất hợp tác sẽ tác động lớn đến chất lượng của hoạtđộng nhóm và sản phẩm của nhóm
2.5 Kĩ năng thảo luận, trao đổi: Điểm đặc trưng nổi bật nhất của học tập
hợp tác theo nhóm là sự hợp tác nhằm xây dựng một sản phẩm trí tuệ tập thểbằng việc thống nhất các ý kiến thông qua sự thảo luận, trao đổi, giữa các thành
Trang 9viên trong nhóm Vì vậy, đây là một kĩ năng có vị trí rất quan trọng trong hoạtđộng nhóm Thảo luận, trao đổi là hoạt động đòi hỏi các thành viên phải tư duy
và có tinh thần xây dựng ý kiến hết mình cho nhóm Để thảo luận, trao đổi cóhiệu quả, các thành viên trong nhóm cần có khả năng thuyết trình, diễn giải vấn
đề sao cho mạch lạc, thuyết phục; khả năng phản biện cũng như khả năng lắngnghe và tiếp thu ý kiến góp ý của các thành viên khác Thông qua thảo luận, traođổi có thể nhận biết được cách tiếp cận vấn đề, quan niệm riêng của từng thànhviên, mức độ tác động lẫn nhau giữa các thành viên Kĩ năng này không chỉ giúp
cả nhóm thống nhất được ý kiến mà còn giúp mỗi thành viên học hỏi lẫn nhau,giúp nhau cùng phát triển
2.6 Nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu tài liệu là một kĩ năng cần thiết
trong học tập hợp tác theo nhóm vì kiến thức đưa ra cho hoạt động nhóm thường
là những vấn đề rộng, đòi hỏi HS tự tìm tòi, nghiên cứu qua các tài liệu Muốnnghiên cứu tài liệu hiệu quả, cần biết cách huy động kiến thức, biết đánh giá,chọn lọc, phân tích, tổng hợp các kiến thức theo những vấn đề mình cần tìm…
kĩ năng nghiên cứu tài liệu giúp mọi thành viên trong nhóm giải quyết công việccủa nhóm mình nhanh chóng hơn
2.7 Kĩ năng chia sẻ trách nhiệm: Để hoạt động của nhóm đạt chất lượng
và không khí làm việc trong nhóm vui vẻ, đoàn kết mọi thành viên cần chia sẻtrách nhiệm với nhau Biết chia sẻ hợp lí trách nhiệm giữa các thành viên sẽ tạođộng lực giúp hoạt động nhóm đạt hiệu quả cao hơn
2.8 Kĩ năng lắng nghe một cách chủ động, tích cực: Lắng nghe một
cách hiệu quả giúp tiết kiệm thời gian, hạn chế rắc rối, thắt chặt các mối quan
hệ Trong học tập hợp tác theo nhóm, kĩ năng lắng nghe là cần thiết, vì lắngnghe là phương pháp cơ bản để tập hợp thông tin Mục tiêu của lắng nghe là đểhiểu, học hỏi, lĩnh hội, giúp đỡ, hỗ trợ
2.9 Kĩ năng chia sẻ thông tin: Học tập hợp tác theo nhóm là hợp tác trên
cơ sở chia sẻ kiến thức và thông tin từ nhiều thành viên để hoàn thiện nội dungkiến thức chung một cách tốt nhất Vì vậy kĩ năng chia sẻ thông tin là rất cầnthiết, giúp lượng thông tin thêm phong phú – một điều kiện để sản phẩm nhómđạt chất lượng cao
2.10 Kĩ năng giải quyết xung đột: Những xung đột giữa các tư tưởng, ý
kiến, lí thuyết, lời giải và phương pháp giải bài tập… có thể gây ra sự bất hoàtrong nhóm, làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động nhóm Vì vậy, kĩ năng giảiquyết xung đột là rất quan trọng đối với hoạt động nhóm, đặc biệt là với nhómtrưởng – người chịu trách nhiệm điều hoà các mối quan hệ trong nhóm
Trang 102.11 Kĩ năng tự đánh giá hoạt động của nhóm: Để hoạt động nhóm
ngày càng đạt hiệu quả, nhóm cần phải thường xuyên đánh giá hoạt động củamình để tự điều chỉnh kịp thời Đồng thời , tự đánh giá cũng là cách để pháthiện, biểu dương các thành viên tích cực, phê bình các thành viên còn thiếu ýthức… nhằm tạo thêm động lực cho các thành viên trong nhóm nhiệt tình hơnvới hoạt động chung Cần đặc biệt coi trọng sự công bằng trong đánh giá, bởi đó
là nguyên nhân chính thúc đẩy hay kìm hãm động lực làm việc của các thànhviên Tự đánh giá ở đây gồm hai nội dung: tự đánh giá sự tham gia hoạt độngnhóm của các thành viên trong nhóm và tự đánh giá hoạt động của nhóm (mặttốt, mặt hạn chế nhằm có biện pháp khắc phục)
Tóm lại, để tổ chức các hoạt động học tập cho HS, không chỉ sử dụng các
phương pháp nhận thức học tập mà còn phối hợp với phương pháp giao tiếp,hợp tác nhằm giúp HS giải quyết các nhiệm vụ học tập một cách có hiệu quảhơn HS không chỉ được hình thành các tri thức và phẩm chất trí tuệ mà còn cần
có bản lĩnh giải quyết vấn đề trong môi trường thu nhỏ (nhóm lớp) tạo nền tảng
để sau này HS có khả năng thích ứng nhanh với các hoạt động thực tiễn xã hội.Như vậy, việc xác định và rèn luyện kĩ năng học tập hợp tác theo nhóm cho HS
sẽ phát huy tính tích cực, đồng thời tạo sự phối hợp, hợp tác hiệu quả giữa cácchủ thể trong quá trình học tập ở trường trung học cơ sở
3 Phương pháp hình thành năng lực hợp tác nhóm cho học sinh.
3.1 Các khâu trong quá trình thảo luận
Trước khi hình thành năng lực thảo luận nhóm cho HS, người GV cần tìmhiểu lí luận chung về các khâu trong một quá trình thảo luận Cụ thể để thựchiện hoạt động thảo luận trên lớp, Gv cần thực hiện các khâu như sau:
a Chuẩn bị nội dung thảo luận :
+ Trước tiên GV cần chọn bài, chọn vấn đề thích hợp cho HS thảo luận.+ Cần lưu ý khi chọn đề tài thảo luận là phải xem xét nghiên cứu xem HS
đã biết gì về chủ đề đã nêu ra
+ Khi đã chọn được vấn đề thảo luận đúng yêu cầu, GV cần thông báocho học sinh chuẩn bị ý kiến (viết thành văn bản) tham gia thảo luận
+ Từ đó HS ý thức được yêu cầu nội dung của đề tài, các nguồn tài liệuchính, kế hoạch thực hiện và nhiệm vụ của tập thể cũng như của từng cá nhân…
Ví dụ: Tiết 10 - bài 9 Đời sống người nguyên thủy trên đất nước ta.
Mục 3 Chọn nội dung thảo luận: Quan sát hình ảnh:
Trang 111/ Cho biết trong những hoạt động ở Hòa Bình - Bắc Sơn - Hạ Long các nhàkhảo cổ còn tìm thấy những gì ?
2/ Có những loại hình nào ? Và làm bằng gì ?
3/ Sự xuất hiện những đồ trang sức của người nguyên thủy có ý nghĩa gì ?
HS tìm hiểu nội dung, yêu cầu theo bài học
Ví dụ: Tiết 22 bài 20 : Từ sau Trưng Vương đến trước Lý Nam Đế (Giữa thế kỉ I – Giữa thế kỉ VI) Mục 3
1/ Quan sát sơ đồ phân hóa xã hội trang 55, em có nhận xét gì về sựchuyển biến xã hội ở nước ta ?
2/ Theo em, các chính sách văn hóa của phong kiến phương bắc nhằmmục đích gì ? Vì sao người Việt vẫn giữ được phong tục tâp quán và tiếng nóicủa tổ tiên ?
Mục 4 : Cuộc khởi nghĩa Bà Triệu (năm 248)
1/Nguyên nhân thất bại và ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa Bà Triệu ?
2/ Qua bài ca dao cuối bài thể hiên ý chí Bà Triệu như thế nào ?
b Tổ chức thảo luận :
+ Mở đầu thảo luận: GV nên thông báo về chủ đề cần thảo luận, quy trình
và nguyên tắc thảo luận
+ Hướng dẫn thảo luận: Trong quá trình thảo luận GV làm nhiệm vụquan sát, theo dõi mà không tham gia ý kiến thảo luận, không cắt ngang lời HS,không tỏ phản ứng nếu câu trả lời, tranh luận không đúng với ý mình Tuy nhiênnhằm làm tăng thêm hứng thú khi thảo luận, GV cũng có thế đưa ra các câu,giống như “ván nhún” hoặc nêu ra cách thảo luận để tạo không khí sôi nổi chobuổi thảo luận Tạo không khí thân mật, cởi mở, khuyến khích sự tham gia của
Trang 12mỗi HS trong thảo luận Khi thảo luận, GV phải nghe cẩn thận những điều học
HS nói để hiểu HS định nói cái gì
Thảo luận là một khâu quan trong để hình thành kiến thức vì vậy để đảm bảotoàn bộ HS đều tham gia vào quá trình này Gv cần phải giao nhiệm vụ cụ thể rõdàng cho từng thành viên Từ việc bầu nhóm trưởng, thư ký ghi chép (Có thểhình thành kỹ năng này ngay từ đầu năm học)
Ví dụ: Bài 27 : Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng năm 938.
Mục 2: Chiến thắng Bạch Đằng năm 938
Bước 1: GV thông báo chủ đề cần thảo luận:
1/ Tại sao Ngô Quyền chọn sông Bạch Đằng là nơi quyết chiến với quânxâm lược Nam Hán?
2/ Vì sao nói : trân chiến trên song Bạch Đằng năm 938 là một chiếnthắng vĩ đại của dân tộc ta ?
Bước 2 GV phân nhóm và quy định nội dung cho từng nhóm hoạt độngBước 3 Quy định thời gian thảo luận
Bước 4 Tất cả các đối tượng học sinh đều tham gia bàn bạc và đóng góp
ý kiến
Bước 5: Đại diện nhóm ghi nội dung đã thống nhất vào bảng phụ Các đốitượng còn lại trong nhóm ghi nội dung đã thống nhất vào phiếu học tập (hoặc vởghi) Cử một đại diện của nhóm lên thuyết minh phần nội dung thảo luận củanhóm( bất kì một học sinh nào không nhất thiết phải cử học sinh khá, giỏi Vìđây là nội dung cả nhóm đã thống nhất)
Giáo viên cho các nhóm khác góp ý bổ sung nội dung của nhóm vừa trìnhbày cho đầy đủ
Giáo viên rút lại và cho học sinh chỉnh sửa những nội dung còn thiếu sót
c Tổng kết thảo luận :
GV tổng kết những ý kiến phát biểu, nêu lên một cách súc tích và có hệthống những ý kiến thống nhất và chưa thống nhất Chốt vấn đề thảo luận (Cóthể học sinh chốt đúng, trình bày đúng gv không cần nhắc lại )
- Tham gia ý kiến về những điều chưa thông nhất và bổ sung thêm nhữngđiều cần thiết Những ý kiến chưa thống nhất có thể sắp xếp vào buổi thảo luậnsau
- GV cần đánh giá các ý kiến phát biểu, nhận xét tinh thần thái độ làm việcchung của tập thể, của nhóm và cá nhân HS
Ví dụ: Khi dạy bài 10 Nước Đại Việt ở TK XVIII, mục 1.
Trang 13Gv thực hiện tổng kết hoạt động động nhóm cho câu hỏi: Việc xây dựng quân đội nhà Trần có gì khác và giống so với thời Lý? như sau:
- Nhận xét ưu, nhược điểm của hoạt động
- Đánh giá, cho điểm, tuyên dương thành viên tích cực
* Một số vấn đề cần lưu ý khi tổ chức thảo luận nhóm
- Các vấn đề đưa ra thảo luận phải là những vấn đề buộc các thành viên trong
nhóm cùng suy nghĩ để đóng góp tìm hiểu bài
- Khi chia nhóm thảo luận nên cơ cấu có đủ thành phần (giỏi – khá – trungbình – yếu – kém, hiếu đông – trầm lặng…) Nên để học sinh luân phiên nhaulàm nhóm trưởng ,thư kí Qui mô nhóm không nên quá đông
- Giáo viên nên chuẩn bị kỹ vấn đề cần thảo luận và dự kiến các tình huốngxảy ra cùng các phương án xử lý
- Giao nhiệm vụ phải rõ ràng, cụ thể, đảm bảo mỗi học sinh đều hiểu nhiệm
- Cần tạo không khí thi đua giữa các nhóm để khuyến khích học tập
- Giáo viên nên nhận xét ngắn gọn về tình hình làm việc của các nhóm để kịpthời động viên, khuyến khích các nhóm thảo luận tốt hơn và rút kinh nghiệm cácnhóm làm việc chưa tốt
3.2 Kỹ thuật và một số yêu cầu trong phương pháp thảo luận
Tùy theo số lượng học sinh trong lớp, nội dung học tập mà giáo viên chiathành bao nhiêu nhóm, số lương thành viên trong nhóm Tùy theo mục tiêu vàyêu cầu vấn đề học tập mà mà các nhóm được phân ngẫu nhiên hoặc mặc định,được duy trì ổn định trong cả tiết học hoặc thay đổi theo từng hoạt động của tiếthọc Các nhóm được giao cùng một nhiệm vụ hoặc khác nhiệm vụ
* Để chia nhóm theo ngẫu nhiên, có thể dùng thẻ học tập có ghi số hoặcđiểm danh hoặc ghép mảnh theo chủ đề học tập Trong tiết học, nếu có nhiều nội
Trang 14dung, ta nên thay đổi hình thức nhóm, tạo ra cái mới, không khí häc tËp vui vẻhơn.
*Để chia theo chủ định, giáo viên nên chú ý đặc điểm của học sinh (trình
độ, thái độ, tính cách, giới tính…) để cơ cấu nhóm cho phù hợp Các hình thức nhóm cụ thể:
- Nhóm nhỏ (2-3 hs) : kỹ thuật này thường dung khi cần học sinh trao
đổi, thảo luận những vấn đề cụ thể, đơn giản, thời gian ngắn
Ví du: Bài 20 : Từ sau Trưng Vương đến trước Lý Nam Đế (Giữa thế kỉ
I – Giữa thế kỉ VI) mục 3.
HS thảo luận theo cặp đôi (hoặc bàn 3) nội dung câu hỏi: Vì sao người
Việt vẫn giữ được phong tục tâp quán và tiếng nói của tổ tiên ?
- Nhóm ghép đôi: dùng để nghiên cứu, phân tích, trao đổi vê một số vấn
đề phức tạp đòi hỏi có sự cộng tác cao
Ví du: Bài 20 : Từ sau Trưng Vương đến trước Lý Nam Đế (Giữa thế kỉ
I – Giữa thế kỉ VI) mục 4.
HS trao đổi nhóm theo câu hỏi:
1/Nguyên nhân thất bại và ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa Bà Triệu?
2/ Qua bài ca dao cuối bài thể hiên ý chí Bà Triệu như thế nào?
- Nhóm 4-6 HS: dïng khi häc sinh trao đổi ý kiến hoặc thực hành một
công việc cụ thể đồi hỏi nỗ lực chung của cả nhóm khi tiến hành thảo luận
Ví du: Bài 20 : Từ sau Trưng Vương đến trước Lý Nam Đế (Giữa thế kỉ
I – Giữa thế kỉ VI) mục 3.
HS thảo luận theo nội dung khó hơn: Quan sát sơ đồ phân hóa xã hội
trang 55, em có nhận xét gì về sự chuyển biến xã hội ở nước ta ?
- Nhóm 6-8 HS: dùng khi thảo luận với nội dung có nhiều vấn đề, nhiều
quan điểm trong khả năng giải quyết của học sinh, các vấn đề cần so sánh hay đisâu hơn vào một nội dung đã thảo luận ở nhóm nhỏ nhưng khó thực hiện chungcho cả lớp
Ví dụ: Bài 27 : Ngô Quyền và chiến thắng Bach Đằng năm 938 (mục 2)
Cả lớp thảo luận mỗi dãy làm một nhóm, mỗi nhóm khoảng 8-10 HS cùngmột vấn đề: Tại sao Ngô Quyền chọn sông Bạch Đằng là nơi quyết chiến vớiquân xâm lược Nam Hán?
- Nhóm xuất phát và nhóm chuyên sâu: dùng khi thu thập thông tin và
các vÊn đề thảo luận, rèn luyện kỹ năng xử lý và trình bày thông tin
Ví dụ: Bài 27 : Ngô Quyền và chiến thắng Bach Đằng năm 938 (mục 2)
Trang 15Sau khi thu thập thông tin bài học học sinh cùng nhau phân tích, rút ra bàihcoj cho câu hỏi thảo luận: Vì sao nói: Trận chiến trên sông Bạch Đằng năm 938
là một chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta ?
* Các bước tiến hành :
- Bước 1: giáo viên hợp chung cả lớp, chia nhóm, nêu vấn đề học tập xác
định nhiệm vụ nhận thức cho nhóm, gợi ý và hướng đẫn học sinh cách thảoluận
- Bước 2: học sinh phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm.Giáo viên quan sát, theo dõi và giúp đỡ các em thảo luận nếu cần
- Bước 3: học sinh cử đại diện báo cáo kết quả của nhóm, góp ý và bổsung cho nhau
- Bước 4: giáo viên đánh giá, nhận xét, bổ sung, kết luận…
* Những điểm cần lưu ý khi thực hiện kỹ thuật tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm
- Giáo viên cần giao nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng cho từng nhóm
- Khi làm việc theo nhóm, các nhóm có thể tự bầu ra nhóm trưởng nếucần Các thành viên trong nhóm có thể luân phiên nhau làm nhóm trưởng Nhómtrưởng phân công cho mỗi thành viên thực hiện một phần công việc
- Kết quả thảo luận có thể được trình bày dưới nhiều hình thức (bằng lời,bằng tranh vẽ, bằng tiểu phẩm, bằng văn bản viết trên giấy to, ) có thể do mộtngười thay mặt nhóm trình bày hoặc có thể nhiều người trình bày, mỗi ngườimột đoạn nối tiếp nhau
- Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả chung của cảlớp Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ramột đại diện hoặc có thể phân công mỗi nhóm viên trình bày một phần nếunhiệm vụ được giao là khá phức tạp
- Tạo điều kiện để các nhóm tự đánh giá lẫn nhau hoặc cả lớp cùng đánhgiá
- Tùy theo nhiệm vụ học tập, học sinh có thể sử dụng hình thức làm việc
cá nhân hoặc hoạt động nhóm cho phù hợp
- Trong suốt quá trình học sinh thảo luận, giáo viên cần đến các nhóm,quan sát, lắng nghe, gợi ý, giúp đỡ học sinh khi cần thiết
3.3 Các phương pháp, biện pháp tiến hành thực nghiệm chuyên đề.
a Về chuẩn bị dụng cụ để hoạt động nhóm :
Trang 16- Theo đặc thù các lớp ở trường thì mỗi lớp có 3 dãy bàn bàn nên chia
thành các nhóm theo sơ đồ (để tránh di chuyển nhiều tốn thời gian và ồn ào mất trật tự, chỉ 2 bàn quay mặt lại là được).
- Mỗi nhóm phải có 2 bảng phụ, kích thuớc không nhỏ và cũng không quá
to, quy định cỡ 50cm x 70cm là vừa + bút lông xóa được, 1 cây màu đỏ và 1 câymàu xanh hoặc đen
- Giáo viên phân nhóm và có nhóm trưởng, nhóm phó (phòng khi nhómtrưởng vắng) để điều hành chung và chuẩn bị dụng cụ cho tốt
b Về phương pháp, cách thức hoạt động:
+ Về phía giáo viên.
- Chọn nội dung hoạt động nhóm thường là nội dung có nhiều ý, nội dungtrọng tâm, có tính tư duy học sinh trung bình và yếu khó giải quyết
- Xây dựng trong giáo án hệ thống câu hỏi, tình huống vấn đề phải cụ thể rõràng có dàn ý hệ thống chi tiết, giúp HS dễ biết cách thức nhanh chóng và có hệthống (vì thời gian có hạn)
- GV nên cho HS về nhà xem trước, phân tích, tìm hiểu là toàn bài học mới,nhưng để chuẩn bị thì có thể cho 2 3 nội dung và có thể 2 nhóm hoặc 3 nhómchuẩn bị một nội dung không nên đưa ra nhiều nội dung thảo luận quá (4) hoặc
ít quá (1) nên chọn sao cho hợp lí tùy nội dung và thời gian trong tiết dạy
Bàn 1 Bàn 2
Nhóm 4
Nhóm
1
Nhóm
2