MÀU 14/KHCNBan hành kèm theo Quyết định số 3839 /QĐ-ĐHQỌIỈN ngày 24 thángio năm 2014 cùa Giám đốc Đợi học Quốc gia Hà Nội KÉT QUẢ THỤC HIỆN ĐẺ TÀI KH&CN CẮP ĐẠI HỌC QUÓC GIA Tên đề tài:
Trang 1MÀU 14/KHCN
(Ban hành kèm theo Quyết định số 3839 /QĐ-ĐHQỌIỈN ngày 24 thángio năm 2014
cùa Giám đốc Đợi học Quốc gia Hà Nội)
KÉT QUẢ THỤC HIỆN ĐẺ TÀI KH&CN
CẮP ĐẠI HỌC QUÓC GIA
Tên đề tài: Nguồn pháp luật - Những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng
ở Việt Nam trong bổi cảnh xay dựng nhà nước pháp quyền
IVtã số đề tài: QG.i2.38
Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Thị Hoài Phương
ĐẠĨ HỌC QƯÓC GIA HÀ NỘI
BÁO CÁO TÔNG KẾT
Hà Nội, 2015
Trang 2PHẦN I T H Ô N G T IN C H U N G
1.1 Tên đề tài: Nguồn pháp luật - Nhũng vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền
1.2 M ã số: QG.12.38
1.3 D anh sách chủ trì, th à n h viên th am gia thực hiện đề tài
TT C hức d a n h , học vị, họ và tên Đ on vị công tác Vai trò thực hiện đề tài
1 ThS N guyễn Thị Hoài Phương Khoa Luật - ĐHQGHN Chủ trì đề tài
2 TS Mai Văn Thắng Khoa Luật - ĐHQGHN Thư ký đề tài
3 GS.TSKH Đào Trí ú c Khoa Luật - ĐHQGHN Tham gia viết chuyên đề
4 GS.TS Nguyễn Đăng Dung Khoa Luật - ĐHQGHN Tham gia viêt chuyên đê
5 GS.TS Phạm Hồng Thái Khoa Luật - ĐHQGHN Tham gia viêt chuyên đê
6 PGS.TS N guyễn M inh Đoan Trường ĐH Luật HN Tham gia viết chuyên đề
7 TS Đỗ Đức Minh ĐHQGHN Tham gia viêt chuyên đê
8 TS Nguyễn M inh Tuấn Khoa L u ật-Đ H Q G H N Tham gia viêt chuyên đê
9 TS Lê Thị Phương N ga Khoa Luật - ĐHQGHN Tham gia viết chuyên đê
10 TS N guyễn Văn N am Học viện An ninh nhân dân Tham gia viết chuyên đề
11 TS HỒ Quang Huy Bộ Tư pháp Tham gia viêt chuyên đê
12 ThS Lại Thị Phương Thảo Trường ĐH Luật HN Tham gia viết chuyên đề
1.4 Đ on vị chủ trì: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
1.5 Thòi gian thực hiện:
1.5.1 Theo hợp đồng: từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 10 năm 2014
1.5.2 Gia hạn (nếu có): đến tháng 12 năm 2015
1.5.3 Thực hiện thực tể: từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 12 năm 2015
1.6 Những thay đổi so vói thuyết minh ban đầu (nếu có):
(v ề mục tiêu, nội dung, phương pháp, kết quả nghiên cứu và tổ chức thực hiện; Nguyên nhãn; Ỷ kiến của Cơ quan quản lý)
- Thứ nhất, thay đổi số lượng chuyên đề:
+ Theo Thuyết minh đề cương, số lượng chuyên đề NCKH là 09 Mỗi chuyên đề có dự kiến kinh phí là 8.000.000đ (Tổng là 09 X 8.000.000đ = 72.000.000đ)
+ Nay xin thay đổi, số lượng chuyên đề NCKH là 13, trong đó:
05 chuyên đề X 8.000.000đ = 40.000.000đ
08 chuyên đề X 4.000.000đ = 32.000.000đ
-3 ' I đ ạ i h ọ c q u ố c g i a h a nội_ ,
; TRUNG TAM THÔNG TIN THƯ VIỆN 1
I OQO&OOD05T7-T
Trang 3Tổng: 40.000.000đ + 32.000.000đ = 72.000.000đ
- Thứ hai, thay đổi các chuyên gia viết chuyên đề:
+ Hầu hết các chuyên gia viết chuyên để vẫn giữ nguyên, gồm: GS.TS Phạm Hồng Thái, GS.TSKH Đào Trí ú c , GS.TS Nguyễn Đăng Dung, PGS.TS Nguyễn Minh Đoan, TS M ai Văn Thắng, ThS Nguyễn Thị Hoài Phương, ThS Phan Thị Lan Phương, ThS Lê Thị Phương Nga
+ Thay đổi những chuyên gia không tham gia viết chuyên đề so với Thuyết minh đề cương ban đầu gồm: GS.TS Hoàng Thị Kim Quế, TS Phạm Thị Duyên Thảo Lý do: Quá bận việc công tác và việc cá nhân
+ Thay đổi bổ sung các chuyên gia tham gia viết chuyên đề so với Thuyết minh đề cương ban đầu gồm:
TS Đỗ Đức Minh - Ban Thanh Tra - ĐHQGHN
TS Nguyễn Minh Tuấn - Khoa Luật - ĐHQGHN
TS Nguyễn Văn Nam - Đại học cảnh sát
ThS Hồ Quang Huy - Bộ Tư pháp
ThS Lại Thị Phương Thảo - Trường Đại học Luật Hà Nội
Đây đều là các nhà khoa học có chuyên ngành luật, có khả năng nghiên cứu khoa học chuyên sâu, vỉ vậy các sản phẩm nghiên cứu khoa học sẽ được đảm bảo chất lượng
1.7 Tổng kinh phí được phê duyệt của đề tài: 120 triệu đồng.
PHÀN II TỎNG QUAN KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u
V iết theo cấu trúc một bài báo khoa học tổng quan từ 6-15 trang (báo cáo này sẽ được đăng trên tạp chí khoa học ĐHQGHN sau khi đề tài được nghiệm thu), nội dung gồm các phần:
1 Đặt vấn đề
Ở nước ta hiện nay phần lớn vẫn quan niệm nguồn pháp luật là hình thức bên ngoài của pháp luật, là những gì chứa đựng các quy phạm pháp luật Do đó, về mặt lý luận đa phần vẫn chỉ thừa nhận văn bản quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành là loại nguồn chính thống duy nhất Tuy nhiên, nếu chỉ quan niệm nguồn pháp luật với nghĩa hẹp như vậy sẽ gây mâu thuẫn với định nghĩa về “Pháp luật”, theo đó, “Pháp luật là tổng thể các quy tắc xử sự chung do nhà nước thừa nhận hoặc ban hành và bảo đảm thực hiện, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội” Vậy, bên cạnh những “văn bản quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành” thì những quy tắc xử sự do nhà nước thừa nhận là gì? Và nhà nước có sử dụng các quy tắc xử sự này để áp dụng trong những trường họp thực tế cụ thể hay không? Với quan niệm về nguồn pháp luật theo hướng mở rộng như vậy, đề tài sẽ nghiên cứu nguồn pháp luật dưới cả góc độ lý luận và thực tiễn áp dụng
2 Mục tiêu
Trang 4Việc nghiên cứu đề tài: “Nguồn pháp luật - Những vẩn đề lỷ luận và thực tiễn áp dụng ở
Việt Nam trong bổi cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền” nhằm đạt được các mục tiêu chủ yếu
sau đây:
+ Làm rõ một số vấn đề lý luận về nguồn pháp luật, cụ thể như: Khái niệm nguồn pháp luật; nguồn pháp luật qua các giai đoạn phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam;
+ Phân tích, đánh giá khái quát các loại nguồn pháp luật ở nước ta và thực tiễn áp dụng các loại nguồn này;
+ Trên cơ sở các nội dung nghiên cứu trên, đưa ra các quan điểm và định hướng về xây dựng hệ thống nguồn pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam
3 Phưo*ng pháp nghiên cứu
Ngoài các phương pháp mang tính truyền thống như duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
đề tài áp dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống, liên ngành, luật học so sánh và dự báo qua những tài liệu thứ cấp các nước để làm sáng tỏ các vấn đề cần được nghiên cứu trong phạm vi đề tài
4 Tổng kết kết quả nghiên cứu
Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi tập trung nghiên cứu những nội dung chủ yếu sau đây:
N ội dung í : Những vấn đề lý luận về nguồn pháp luật.
Nội dung này có nhiệm vụ làm rõ khái niệm, vị trí, vai trò và ý nghĩa của nguồn pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam nói riêng, và ừong các hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới nói chung; khái quát các giai đoạn phát triển của nguồn pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam; làm rõ các yếu tố tác động đến quá trình hình thành và phát triển các loại nguồn pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam qua từng giai đoạn
Nguồn pháp luật là một trong những khái niệm căn bản và quan trọng của khoa học pháp lý nói chung Hiện nay, vẫn có rất nhiều quan điểm của các học giả trong nước cũng như trên thế giới bàn luận về cách hiểu khái niệm này Một số quan điểm cho rằng, khoa học pháp lý phân hình thức pháp luật thành: “hình thức bên trong - cấu trúc của pháp luật và hình thức bên ngoài - sự thể hiện
ra bên ngoài của pháp luật” 1 “Sự thể hiện ra bên ngoài của pháp luật” được coi, một cách tương đối, là nguồn của pháp luật Tuy vậy, “sự thể hiện ra bên ngoài của pháp luật” và khái niệm nguồn
pháp luật có những điểm tương đồng nhưng không phải là hoàn toàn đồng nhất Xuất phát từ quan
điểm này, nguồn pháp luật được nhìn nhận như: “là những hình thức chính thể hiện các quy tắc bắt
1 Xem thêm Giáo trình Lý luận chung về N hà nước và Pháp luật, Khoa Luật, ĐHQG Hà Nội, Hà Nội, 2005, tr, 304
3
Trang 5buộc chung được nhà nước thừa nhận có giá trị pháp lý để áp dụng vào việc giải quyết các sự việc trong thực tiễn pháp lỷ và lù phương (hức tồn tại trên thực tế của các quy phạm pháp luật
Mặt khác, một số nhà nghiên cứu lại khẳng định, khi nói tới nguồn pháp luật cần đề cập
đến cả nguồn nội dung và nguồn hình thức: “khi xem xét về nguồn củci pháp luậl Việt Nam hiện
nay, cần phải quan tâm cả nguồn nội dung và nguồn hình thức của n ó ”2 Theo hướng này,
“nguồn nội dung của pháp luật là xuất xứ, là căn nguyên của pháp luật bởi vì nó được các chủ thể
có thấm quyển dựa vào đỏ đế xây dựng, ban hành và giải thích pháp lu ậ t”; “nguồn hình thức của pháp luật được hiểu là phương thức tồn tại của các quy phạm pháp luật trong thực tế hay là nơi chứa đựng, nơi có thế cungcẩp các quy phạm pháp luật, tức là những căn cứ mà các chủ thể cỏ thẩm quyền dựa vào đó đề giải quyết các vụ việc pháp lý xảy ra trong thực tế”3.
Tóm lại, có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm nguồn của pháp luật trên thế giới Tuy nhiên, dù hiểu theo nghĩa rộng hay hẹp thì khi nói đến nguồn pháp luật là ta muốn đề cập đến vấn đề: từ đâu, cơ sở nào mà chúng ta vận dụng để giải quyết những vụ việc cụ thể Theo chúng tôi, cần phải có sự phân biệt rạch ròi giữa nguồn của pháp luật (source o f law) và nguồn gốc của pháp luật (origin o f law) Chúng tôi quan niệm rằng, nguồn của pháp luật suy đến cùng là trả lời câu hỏi: cái gì là căn cứ được vận dụng để giải quyết một vấn đề pháp lý cụ thể, không phải vấn đề
cơ sở nào hình thành nên pháp luật, thuộc nội hàm của một khái niệm khác là nguồn gốc của pháp
luật (origin of law) Hay nói cách khác, nguồn pháp luật là hình thức chỉnh thức thể hiện các quy
tắc bắt buộc chung được nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, có giá trị pháp lý, được vận dụng
vào việc giải quyết các vụ việc pháp lý.
N ội dung 2: Đảnh giá các nguồn pháp luật ở Việt Nam và giá trị, thực trạng của chúng trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện đại.
Với nội dung này, đề tài có nhỉệm vụ làm rõ giá trị, các ưu điểm, hạn chế và thực tiễn áp dụng các loại nguồn trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Hiện nay nguồn pháp luật chủ yếu ở Việt Nam là văn bản quy phạm pháp luật Xuất phát
từ nhận định, đánh giá đúng đắn về sự phát triển đất nước giai đoạn 2005 - 2010, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011- 2020, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội XI đã xác định nhiệm vụ hoàn thiện thể chế là một trong ba đột phá chiến lược để phát triển, với nội dung
“Hoàn thiện thể chế kỉnh tế thị trường định hướng XHCN, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính”, trong những năm qua công tác xây dựng, ban hành các
văn bản quy phạm pháp luật đã ngày càng được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chú trọng nghiên cứu, thực hiện nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và khả thi của văn bản sau khi được ban hành Nhìn từ góc độ lý luận cho thấy, một trong các tiêu chí bắt buộc đối với nhà nước pháp
1 Xem thêm Giáo trình L ý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Khoa Luật,ĐHQG Hà Nội, Hà Nội, 2005, tr 306
2 TS Nguyễn Thị Hồi, về khái niệm Nguồn của Pháp luật, Tạp chí Luật học, số 2/2008, tr.29
3 TS Nguyễn Thị Hồi, về khái niệm Nguồn cùa pháp luật, Tạp chí Luật học, số 2/2008, tr 29.
4
Trang 6quyền là phải xây dựng được hệ thống pháp luật thực sự đầy đủ, đồng bộ và hoàn thiện Do vậy, mục tiêu nâng cao chất lượng của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là một yêu cầu tất yếu, mang tính khách quan, nhưng đồng thời cũng là một thách thức đối với chính các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Việc ban hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 vừa qua có thể xem là một bước tiến tích cực trong hoạt động xây dựng pháp luật ở nước ta Luật này đã thay thế cho Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, ủ y ban nhân dân năm 2004 Việc ban hành Luật năm 2015 đã khắc phục được một số những hạn chế khi
cả hai Luật song song cùng tồn tại, tạo cơ sở cho việc áp dụng thống nhất trong quá trình xây đựng, ban hành VBQPPL của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền ban hành VBQPPL ở trung ương và địa phương
Nguồn pháp luật chính thức thứ hai ở Việt nam là tập quán pháp Tập quán pháp là loại nguồn đã hình thành lâu đời ở Việt Nam từ trước năm 1945 Sau cách mạng chúng vẫn được sử dụng trong một thời gian khá dài, sau dần bị mai một và ít sử dụng hơn Năm 2005 Bộ luật Dân sự Việt Nam đã thừa nhận tập quán là nguồn pháp luật chính thức trong một số lĩnh vực nhất định
Tại Điều 3 Bộ luật Dân sự quy định như sau: “Trong trường hợp pháp luật không quy định và các
bẽn không có thỏa thuận thì có thể áp dụng tập quán; nếu không có tập quản thì áp dụng quy định tương tự của pháp luật Tập quán và quy định tương tự của pháp luật không được trải với những nguyên tắc quy định trong Bộ luật Dân sự” Tuy nhiên, hiện nay trên thực tế việc áp dụng tập
quán cũng chưa nhiều và còn gặp rất nhiều khó khăn Việc áp dụng tập quán được thực hiện nhiều
là ở các tỉnh vùng núi và đối với các vụ việc liên quan đến đồng bào các dân tộc ít người Trong nhiều vụ các bản án hoặc quyết định được ban hành dựa ữên tập quán đã bị Viện Kiểm sát hoặc Tòa án cấp phúc thẩm bác bỏ Lý do của việc áp dụng hạn chế nguồn tập quán là vì việc quy định
áp dụng tập quán cũng chưa thực sự rõ ràng, nhất là đối với trường hợp có nhiều tập quán cùng điều chỉnh một vấn đề không có dự liệu sẽ ưu tiên tập quán nào
Đối với tiền lệ pháp, trong lịch sử chúng ta đã từng áp dụng pháp luật tiền lệ, nhất là giai đoạn đầu khi hệ thống các nguồn luật Việt Nam còn hạn chế Chẳng hạn, tại Thông tư 442/TTg ngày 19/1/1955 của Chính phủ và Thông tư 19-VHH ngày 30/6/1955 của Bộ Tư pháp; Chỉ thị 772/TATC ngày 10/7/1959 của TANDTC và một số văn bản pháp luật khác đều có đề cập tới việc
áp dụng án lệ tại Việt Nam Tuy nhiên, những năm sau này khi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được củng cố đầy đủ hơn thì án lệ gần như không được đề cập đến như một loại nguồn pháp luật chính thức ở Việt Nam nữa Suốt một thời gian dài, án lệ hay tiền lệ pháp chưa được coi là nguồn chính thức của pháp luật Việt Nam, nhưng trên thực tế với những phương thức và cách thức khác nhau, “án lệ” đã hiện diện trong những quyết định, phán quyết của hệ thống tòa án nhân dân Cùng với sự ra đời của của Nghị quyết số 48 -N Q /TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW năm 2005 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành trung ương Đàng cộng sản Việt Nam về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và cải cách tư pháp, án lệ cũng như tập quán pháp đang có những
5
Trang 7động lực cho sự pháp triến: “Nghiên cứu về khả năng khai thác, sử dụng án lệ, tập quán (kể cả tập
quán, thông lệ thương mại quốc tế) và quy tẳc của cúc hiệp hội nghề nghiệp góp phần bổ sung và hoàn thiện pháp luật ” (Nghị quyết số 48-NQ/TW) và ‘T ờ ạ án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kình nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng pháp luật, phái triển án lệ ” (Nghị quyết số 49-
NỌ/TW) Và gần đây nhất, với sự ra đời của Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015
về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng ản lệ sẽ là phương thức hiệu quả đề khắc phục các khiếm khuyết cùa pháp luật, bảo đảm việc áp dụng pháp luật thống nhất trong xét xử, tạo lập tính
ôn định, minh bạch và tiên liệu được trong các phán quyết của Tòa án, qua đó có tác dụng hướng dẫn các hành vi ứng xử không chỉ đối với các bên trong vụ án, mà còn đối vói cả cộng đồng xã
Đối với một số loại nguồn pháp luật khác như Pháp luật quốc tế và pháp luật nước ngoài Đối với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia đã được sử dụng khá nhiều, nhất ]à trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã và bảo vệ môi trường Việt Nam cũng đã từng bước thửa nhận sự ưu tiên áp dụng các quy định của Điều ước quốc tế so với luật trong nước
Đối với pháp luật nước ngoài Việt Nam cũng từng bước áp dụng trong điều kiện mờ cửa, họp tác quốc tế ngày càng diễn ra trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội
Các tư tưởng, học thuyết pháp lý Đây là loại nguồn được sử dụng khá nhiều ở Việt Nam Thường thì các tư tưởng, quan điểm pháp luật chủ yếu là đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản, các tư tưởng, học thuyết pháp lý mà chủ yếu là Chủ nghĩa Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh được thường xuyên viện dẫn như những tư tưởng chỉ đạo để xây dựng phảp luật và giải thích các quy định pháp luật
Quy tắc của các hội nghề nghiệp Quy tắc của các hội nghề nghiệp hầu như không được coi là nguồn của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp ngoại lệ Chẳng hạn, Điều lệ mẫu của Hợp tác xã nông nghiệp 1969 cũng được coi là nguồn pháp luật Việt Nam Hiện nay thì loại nguồn này hầu như không tồn tại
N ội dung 3: Quan điểm và giải pháp nhằm tạo lập nguồn pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế.
Nội dung này có nhiệm vụ xác định các yêu cầu nhằm tạo lập nguồn pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền; đồng thời đề xuất các kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện các nguồn hiện hành của pháp luật trong hệ thống pháp luật nước ta và áp dụng các nguồn mới đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế
Hiện nay, chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam là xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và thực hiện hội nhập sâu rộng hơn với thể giới trên nhiều lĩnh vực khác nhau Để phù hợp với chủ trương đó đòi hỏi hệ thống pháp luật cũng phải thích ứng nhằm kịp thời điều chỉnh, giải quyết tốt hơn các quan hệ xã hội, đặc biệt là
6
Trang 8các quan hệ mới phát sinh M ột trong những vấn đề quan trọng đó là làm sao phải tạo lập nguồn pháp luật Việt Nam nhằm đáp ứng các yêu cầu cấp bách trên Việc tạo lập nguồn pháp luật Việt Nam trong điều kiện xây dựng N hà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế cần được tiến hành theo những định hướng cơ bản sau: Việc tạo lập nguồn pháp luật Việt Nam trong điều kiện xây dựng
N hà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế cần tiến hành theo những định hướng cơ bản sau:
Thủ nhất, củng cổ, hoàn thiện những loại nguồn pháp ỉuật hiện có, nhất là đối với nguồn văn bản quy phạm pháp luật Đ ồng thời nghiên cứu p h á t triển đa dạng các loại nguồn pháp luật cho phù hợp với điều kiện mới.
Đối với nguồn văn bản quy phạm pháp luật (sau đây xin phép gọi là VBQPPL), thành công rất lớn của Nhà nước trong thời gian qua là ban hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 Luật này đã thay thế cho Luật Ban hành VBQPPL năm 2008 và Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND năm 2004 Việc ban hành Luật năm 2015 đã khắc phục được một số những hạn chế khi cả hai Luật song song cùng tồn tại, tạo cơ sở cho việc áp dụng thống nhất trong quá trình xây dựng, ban hành VBQPPL của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền ban hành VBQPPL ở trung ương và địa phương Tuy nhiên dù đẩ có Luật, nhưng vấn đề đặt ra là cần thực hiện nghiêm túc và đầy đủ các quy định của Luật Ban hành VBQPPL Ví dụ, khi xây dựng các VBQPPL eần thực hiện khâu đánh giá tác động văn bản, tham vấn ý kiến góp ý của xã hội, văn bản cần được thẩm tra đầy đủ Các văn bản khi ban hành cần đảm bảo tính hợp pháp và hợp lý, đảm bảo tính khả thi
Đối với nguồn tập quán, những năm gần đây dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ở nước ta nhiều tập quán, truyền thống văn hoá tốt đẹp đã được khôi phục, đặc biệt là chủ trương xây dựng hương ước mới càng làm cho tập tục có điều kiện phát triển và phát huy vai trò trong đời
sống xã hội "Sự xuất hiện trở lại của hương ước (hương ước mới) đang đóng góp nhất định vào
quá trình quản lý và dân chủ hoá ở nông thôn nước ta hiện n ay"^\ Để phát huy hơn nữa vai trò
tích cực của tập tục trong đời sống xã hội hiện nay, thì N hà nước ta nên tiến hành sưu tầm, tập hợp hoá các tập tục được xem là quan trọng, có giá trị đang tồn tại trong khắp các miền của đất nước Trên cơ sở đó chọn lọc để giữ gìn, phát huy những tập tục tốt đẹp, loại trừ những tập tục có hại,
đồng thời tác động để hình thành những tập tục mới phù hợp với đời sống, bản sắc văn hoá của
dân tộc trong thời đại mới Đồng thời cũng cần có hướng dẫn cụ thể hơn về điều kiện, nguyên tắc
áp dụng tập quán
Đối vói nguồn án lệ, dấu ấn đáng ghi nhận nhất trong thòi gian vừa qua là việc Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ra Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ Đây sẽ là phương thức hiệu quả để khắc phục các khiếm khuyết của pháp luật, bảo đảm việc áp dụng pháp luật thống nhất trong xét xử, tạo lập tính ổn định, minh bạch và tiên liệu được trong các phán quyết của Tòa án, qua đó có tác dụng hướng dẫn
(1) V ăn phòng Quốc hội, N ghiên cứu lập pháp " H ương ước" số 8- 8/2003, tr 63
7
Trang 9các hành vi ứng xử không chỉ đối với các bên trong vụ án, mà còn đối với cả cộng đồng xã hội Tuv đã có căn cứ pháp lý để coi án lệ là một loại nguồn trong hệ thống pháp luật Việt Nam, nhưng chúng ta cần tiếp tục nâng cao hiểu biết về chức năng, vai trò của án lệ trong văn hóa pháp lý ở nước ta Chỉ khi nào các luật sư, thẩm phán và một số chủ thể khác có thói quen sử dụng án lệ khi giải quyết vụ việc thì lúc đó án lệ mói có vị thế vững chắc trong các nguồn luật của Việt Nam
Đối với nguồn pháp luật quốc tế, Việt Nam có tham gia vào việc tạo lập pháp luật quốc tế
và pháp luật quốc tế cũng có ảnh hưởng nhất định đến quá trình áp dụng pháp luật tại nước ta Tuy vậy, một khía cạnh cần phải nghiên cứu đó là mối quan hệ về hiệu lực áp dụng của pháp luật quốc
tế so với các nguồn khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam như thế nào về cơ bản thì pháp luật quốc tế có giá trị cao hơn luật nội địa của Việt Nam, trừ Hiến pháp Do đó, Luật cũng cần phải sửa
và thể hiện chính xác hơn vấn đề nào thuộc chức năng cùa cơ quan nào Bởi lẽ, điều ước có hiệu lực cao hơn luật của quốc hội, nhưng văn bản của các cơ quan khác không thể có giá trị pháp lý cao hơn các luật của Quốc hội Khi ban hành văn bản nội địa thì không được cản trớ việc thực hiện điều ước Việc tạo lập nguồn pháp luật quốc tế, kí kết, gia nhập, phê chuẩn, phê duyệt các điều ước quốc tế cần phải được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
Đối với nguồn là các tư tưởng, học thuyết pháp lý ở Việt Nam hiện nay Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội một cách toàn diện Đường lối chính sách của Đảng là những quan điểm, những phương hướng chung nhất, có tính chất chiến lược đối với sự phát triển của nhà nước và xã hội trên các lĩnh vực trọng của đời sống xã hội trong đối nội cũng như đối ngoại của đất nước Tuy nhiên, đối với đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản, tư tưởng, quan điểm pháp lý của Chủ nghĩa Mác- Lênin và Tự tưởng Hồ chí Minh chỉ nên coi là căn
cứ để xây dựng, ban hành, giải thích pháp luật hoặc định hướng đường lối giải quyết vấn đề Hạn chế tới mức thấp nhất việc áp dụng trực tiếp loại nguồn này trong các hoạt động pháp lý cụ thể
Thứ hai, làm rõ moi quan hệ giữa các loại nguồn pháp luật, thứ tự ưu tiên áp dụng để các
tổ chức và cá nhân thuận lợi và thong nhất hơn trong việc áp dụng chính xác các nguồn luật.
Khi đã đa dạng hóa các nguồn luật sẽ xảy ra tình huống cùng một quan hệ xã hội nhưng có thể có nhiều quy định pháp luật cùng điều chỉnh và việc áp dụng chúng có thể đẫn đến những hệ quả pháp lý khác nhau Do vậy, nếu có hai hay nhiều quy phạm pháp luật của cùng một loại nguồn hoặc thuộc các loại nguồn khác nhau cùng có thể áp dụng để giải quyết một vấn đề thực tiễn và cho ra những hệ quả pháp lý khác nhau, thì cần phải xây dựng một số quy tắc nhằm xác định quy phạm nào nên được ưu tiên áp dụng Nếu các quy phạm nằm trong các văn bản pháp luật thành văn khác nhau, nguyên tắc xử lý mâu thuẫn đã được quy định trong luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật Cụ thể là:
- Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lí cao hơn
- Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật về cùng một vấn đề do cùng một cơ
8
Trang 10quan ban hành mà có quy định khác nhau thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau.
- Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân cùng cấp có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản quy phạm pháp luật cùa hội đồng nhân dân
- Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lí hoặc quy định trách nhiệm pháp lí nhẹ hon đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới
Thứ ba, đẩy mạnh hoạt động rà soát, hệ thống hóa pháp luật nhằm tạo ra nhiều bộ luật, bộ pháp điển phục vụ các hoạt động pháp luật một cách nhanh chỏng, thuận lợi và hiệu quả hon.
Đe có được một hệ thống pháp luật với các nguồn luật phù họp có tính khả thi và đạt hiệu quả cao cần phải thường xuyên tiến hành rà soát hệ thống pháp luật hiện hành theo từng lĩnh vực,
có đánh giá, tổng kết để đưa ra những định hướng cho việc xây dựng pháp luật tập trung vào những lĩnh vực then chốt, phục vụ cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Kịp thời phát hiện những điểm mâu thuẫn, chồng chéo và những lỗ hổng trong hệ thống pháp luật để khắc phục làm cho hệ thống pháp luật trở nên hoàn thiện hơn Từ đó, tăng cường công tác hệ thống hoá pháp luật, cần đặc biệt chú trọng tới pháp điển hoá pháp luật để tạo ra nhiều bộ luật, bộ pháp điển có tính thống nhất và giá trị pháp lý cao Công tác hệ thống hóa quy phạm pháp luật cần được tiến hành cẩn trọng, tỉ mỉ, khoa học, đòi hỏi những người làm công tác này không chỉ đom thuần dựa trên những kiến thức pháp lý mà phải sử dụng cả những tri thức kinh tế, xã hội học, tâm lý học
Thứ tư, không ngùng xây dựng, hoàn thiện hệ thong pháp luật cho phù hợp với điều kiện
Trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang chuyển đổi mạnh mẽ, tình hình thế giới và trong nước có nhiều thay đổi dẫn đến nhiều vẩn đề thuộc về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước còn đang trong quá trình hình thành, phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm nên việc xây dựng pháp luật là hết sức khó khăn Nó đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới tư duy, đặc biệt là tư duy pháp lý, nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện, đầy đủ các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, tình hỉnh, điều kiện và những biến động trên thế giới, nhận thức đánh giá đầy đủ, chính xác các giá trị
xã hội của pháp luật từ đó mới có thể đưa ra được những tư tưởng, quan điểm pháp lý phù họp cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật của đất nước trong điều kiện hiện tại và tương lai
5 Đánh giá về các kết quả đã đạt được và kết luận
Đe tài đăng ký sản phẩm là các báo cáo chuyên đề, 01 báo cáo tổng quan kết quả nghiên cứu của Đe tài và các kiến nghị của Đe tài bao gồm đầy đủ các nội dung nghiên cứu của Đề tài; phản ánh rõ các quan điểm khoa học; số liệu điều tra xã hội học, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế; kinh nghiệm lịch sử trong việc xây dựng hệ thống nguồn pháp luật phù hợp với tình hình Việt Nam