Tòa án chính là thành trì cuối cùng để thực hiện mục đích đó.1 Song cũng có quan điếm cho rằng Nhà nước pháp quyền là Nhà nước phải có nền tư pháp hoạt động độc lập, nếu như hoạt động tư
Trang 1Đ ẠI HỌC Q U Ố C GIA HÀ N Ộ I
ím D ữH iỉ
BAO CAO TONG KÊT
K ÉT Q U Ả TH Ự C H IỆN ĐÊ T À I K H & C N
C Ả P Đ ẠI HỌC Q U Ó C G IA
T ÊN ĐÈ TÀI:
NÂNG CAO NĂNG L ự c ĐỘI NGŨ THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở ĐỊA PHƯƠNG ĐÁP ỨNG YÊU CẰU CẢI CÁCH TỮ PHÁP Ở VIỆT NAM
M ã số đề tài: Ọ G TĐ 11.17 Chủ nhiệm đề tài: PG S.TS Trịnh Quốc Toản
Hà Nội, tháng 2/2015
Trang 2BẢNG CHỬ VIÉT TẮT
ĐẠI HỌC Q U Ô C G IA HÀ NỘI ỉ TRUNG TÂM THÔNG TiN ĨH Ư VIỆM I
000 ÊOO 00S~DS
I
Trang 3-M ỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1: MỘT SỐ VÁN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ TÒA ÁN
TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYÈN
1.1 Khái niệm và đặc trưng của Nhà nước pháp quyền
1.1.1 Khái niệm Nhà nước pháp quyền
1.1.2 Các đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền
1.2 Đặc trưng các hoạt động của Tòa án và các yêu cầu đối vói Tòa
án trong Nhà nưóc pháp quyền
1.2.1 Tư pháp trong Nhà nước pháp quyền một nhánh quyền lực
Nhà nưó'c được phân quyền
1.2.2 Đặc trưng của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền
1.2.3 Các yêu cầu đối với Tòa án trong Nhà nước pháp quyền
Chương 2: VAI TRÒ, CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NĂNG
L ự c CỦA THẨM PHÁN, LỊCH s ử PHÁT TRIẺN CHẾ
ĐỊNH THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN ĐỊA PHƯƠNG
TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
2.1 Vai trò của Thấm phán Tòa án nhân dân địa phương
2.2 Năng lực của Thấm phán, những tiêu chí đánh giá năng
lực Thấm phán Tòa án nhân dân địa phương
2.2.1 Khái niệm năng lực của Thẩm phán Tòa án nhân dân
2.2.2 Những tiêu chí đánh giá năng lực Thâm phán
2.3 Lịch sử phát triên chế định Thấm phán trong pháp luật
Việt Nam từ năm 1945 đến nay
2.3.1 Giai đoạn từ cách mạng Tháng tám năm 1945 đến trước khi
3
Trang 4ban hành Hiến pháp năm 1959
2.3.2 Giai đoạn từ khi ban hành Hiến pháp năm 1959 đến trước khi
ban hành Hiến pháp năm 1992
2.3.3 Giai đoạn từ sau khi ban hành Hiến pháp 1992 đến trước khi
Quốc hội ban hành Nghị quyết số số: 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992
2 3 4 Giai đoạn từ sau khi ban hành Nghị quyết số số:
51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 về việc sửa đổi, bổ sung một
số điều của Hiến pháp năm 1992 đến trước khi ban hành Hiến pháp năm 2013
2 3 5 Chế định Thấm phán trong Hiến pháp 2013 và Luật Tố chức
Tòa án nhân dân năm 2014
Chương 3: THựC TRẠNG NĂNG Lực THẨM PHÁN TÒA
ÁN NHÂN DÂN ĐỊA PHƯƠNG, NHU CÀU VÀ CÁC GIẢI
PHÁP NÂNG CAO NĂNG L ự c ĐỘI NGŨ THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN DỊA PHƯƠNG
3.1 Thực trạng năng lực đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân
dân địa phương ở nước ta hiện nay
3.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của tồn tại, hạn
chế của đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân địa phương
ở nước ta hiện nay
3.3 Nhu cầu, quan điểm, định hướng nâng cao năng lực đội
ngũ Thấm phán Tòa án nhân dân địa phương
3.4 Các giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ Thấm phán Tòa
án nhân dân địa phương ở nước ta đáp ứng yêu cẩu cải cách tư pháp
KÉT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5Chương 1
MỘT SÓ VẤN ĐÊ LÝ LUẬN
VÊ TÒA ÁN TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYÊN 1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYÈN
1.1.1 Khái niệm Nhà nước pháp quyền
Ngay từ thời cổ đại, nhiều nhà tư tưởng tiến bộ đã đưa ra những ý niệm về môi quan hệ giữa nhà nước thông qua những người cầm quyền lực nhà nước và pháp luật, vê tình trạng không chịu trách nhiệm của giới nắm quyền lực nhà nước Những tư tưởng đó đã phê phán một cách kịch liệt chế độ vô trách nhiệm, hay còn được gọi là chế độ đặc miễn trách nhiệm của vua chúa phong kiến Những ý niệm tiến bộ đó mãi đến thế kỷ XVII, XVIII, và XIX của Cách mạng
tư sản mới được các nhà tư tưởng nâng cấp thành học thuyết về Nhà nước pháp quyền
Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền ra đời nhằm chống lại sự chuyên quyền, độc đoán, gắn liền với việc xác lập và phát triển dân chủ Động lực ra đời của hệ tư tưởng này bắt nguồn từ những quan điểm của người xưa rằng, sự công bằng, pháp luật là những thuộc tính vốn có từ ngàn xưa của trời đất Bởi vậy, bạo lực, lộng quyền và hỗn loạn là cái tương phản lại quy luật trên cần phải xoá bỏ1 Khái niệm „pháp quyền“ mà chúng ta nói đến hoàn toàn khác với quan niệm „pháp trị“ của các tác giả pháp gia, mà Hàn Phi tử của Trung quốc làm đại diện, ơ đó pháp luật là công cụ của nhà nước, nhà cầm quyền sống trên pháp luật Trái lại dưới chế độ pháp quyền không ai có thể đứng trên pháp luật, kể cả các nhà câm quyền Đó là truyền thống của của phương Tây, xuất phát từ nền Cộng hòa La mã, và sau này được phát triển thành học thuyết pháp quyền, mà đặc điếm của nó là sự ưu thế của pháp luật
Những tư tưởng vĩ đại đó tiếp tục được các nhà tư tưởng chính trị - pháp lí của Cách mạng tư sản phát triển lên một thế giới quan chính trị - pháp lí mới
1 LS N g u y ễ n V ă n T h ả o : X â y dự n g N hà nước p h á p quyền d ư ớ i s ự lãnh đạo củ a Đảng. N x b
T ư p h á p , 2 0 0 6 , tr 10
5
Trang 6Đó là thế giới quan của các nhà tư tưởng của cách mạng dân chủ tư sản Anh,, Pháp, và Đức của Locke, của Montesquieu, của Kant và của Hegel.
Bên cạnh việc chống lại sự độc tài, chuyên chế của chế độ phong kiến,, các nhà tư tưởng nói trên còn khẳng định mạnh mẽ những tư tưởng nhân đạo, các nguyên tắc của tự do, bình đẳng giữa các cá nhân, thừa nhận những quyền con người là tạo hoá và bất khả xâm phạm Họ cố gắng trong việc tìm tòi ra những cơ cấu, hình thức và cả những công cụ nhằm chống lại sự tiếm quyền, tình trạng vô trách nhiệm của quyền lực nhà nước thông qua những người có quyền lực nhà nước
Sự phát triển của lí luận học thuyết Nhà nước pháp quyền tư sản chịu ảnh
hưởng của hai luồng tư tưởng: Một là sự khẳng định ngày càng cao những quan
niệm mới về tự do của con người thông qua việc tôn trọng tính tối cao của pháp
quyền - pháp luật tự nhiên; Hai là, xác lập mối tương quan quyền lực chính trị
mới giữa giai cấp tư sản đang lên và chế độ phong kiến đã lỗi thời Hơn nữa, cần phải loại trừ khả năng độc đoán, chuyên quyền trong cơ quan hay cá nhân cụthể Vì lẽ đó, học thuyết Nhà nước pháp quyền gắn liền với chủ nghĩa lập hiến tư
•> !
sản
Học thuyết pháp quyền có ít nhất 3 ý nghĩa quan trọng làm nền tảng Thứ nhất, luật pháp là công cụ điều chỉnh quyền lực của chính phủ Thứ hai, mọi chủ thể đều bình đẳng trước pháp luật và thứ ba, thẩm quyền tài phán phải tuân thủ theo thủ tục tố tụng đã được ấn định trước Là công cụ điều chỉnh chính quyền, pháp luật có hai nhiệm vụ: Giới hạn chính quyền và đề phòng sự lạm dụng quyền lực nhà nước, đồng thời khiến cho chính quyền trở nên sáng suốt hơn và
có những chính sách khôn ngoan hơn Pháp quyền hoàn toàn đối lập với nhân
về khái niệm "Nhà nước pháp quyền" có nhiều cách tiếp cận, nhận thức
khác nhau, cụ thế có người nhấn mạnh yếu tố nhân quyền, tính tối cao của Hiến pháp, pháp luật, có người nhấn mạnh yếu tố phân chia quyền lực nhà nước và sự
1 LS N g u y ễ n V ă n T h ả o : X â y d ự n g N hà nư ớc p h á p quyền d ư ớ i s ự lãnh đạo của Đảng, Nxb
T ư p h áp , 2 0 0 6 , tr 12
6
Trang 7hạn chế quyền lực nhà nước, có người nhấn mạnh tính dân chủ, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Trong tổng thể nhũng quan điểm trên, chúng ta thấy yếu tô có vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo đảm các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền chính là thiết chế Tòa án Bởi vì, mục đích cao nhất của Nhà nước pháp quyền là bảo vệ con người, tránh mọi sự lạm dụng quyền lực nhà nước mà vi phạm quyền lợi của người khác Tòa án chính là thành trì cuối cùng
để thực hiện mục đích đó.1
Song cũng có quan điếm cho rằng Nhà nước pháp quyền là Nhà nước phải
có nền tư pháp hoạt động độc lập, nếu như hoạt động tư pháp không độc lập thì mặc dù có một số dấu hiệu được xác định là hiện hữu trong Nhà nước, chẳng hạn như có các Tòa án, có hệ thống pháp luật, thậm chí là có bầu cử, tự d o thì Nhà nước đó vẫn sẽ không phải thực sự là Nhà nước pháp quyền2
Nhà nước pháp quyền là một hiện tượng chính trị - pháp lý phức tạp, rộng lớn không ngừng phát triển theo thời gian, với những đòi hỏi tất yếu thể hiện quy luật phát trien xã hội Do vậy nếu đưa ra một khái niệm theo kiểu liệt kê các đặc trưng của Nhà nước pháp quyền thì e rằng khó có thể có được một định nghĩa bao quát hết nội hàm khái niệm Nhà nước pháp quyền.Vì vậy để xây dựng được khái niệm Nhà nước pháp quyền thì nên xác định vấn đề cốt lõi nhất, căn bản nhất của Nhà nước pháp quyền đặt ra là gì và phương thức thực hiện để đạt được vấn đề đó
Trong tiếng Anh, không có thuật ngữ "Nhà nước pháp quyền" mà chỉ có thuật ngữ "pháp quyền" (The Rule of Law), thuật ngữ này được hiểu vấn đề cốt lõi của pháp quyền là pháp luật về quyền Pháp luật phân định và bảo vệ các quyền: Quyền của công dân và quyền của Nhà nước; quyền của các nhánh quyền lực nhà nước như lập pháp, hành pháp, tư pháp3
Trong tiếng Pháp, thuật ngữ Nhà nước pháp quyền "Etat de droit" được hiêu là "Nhà nước của quyền hay nói một cách khác quan hệ xã hội được xây
1 Nguyễn Đăng Dung (2005), Sự hạn chế quyền lực nhà nước, Nxb Đại học Quốc gia Hà N ộ i ,
2 Đ a o Trí ú c (Chủ biên) (2007), Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước.
Xem, Nguyễn Sĩ Dũng, Cội nguồn của pháp quyền, Tia sang, 2004 , 7 và Báo Tuổi tre ngày 16 tháng 8 nam 2004
7
Trang 8dựng trên cơ sở các quyền: quyền của chủ thể này là nghĩa vụ của các chủ thể khác, pháp luật điều chỉnh và phân định các quyền này".
Như vậy, ngay trong bản thân thuật ngữ "pháp quyền" đã thể hiện rất rõ vấn đề cốt lõi của khái niệm: Pháp luật về quyền Quyền ở đây được hiểu là quyền của mọi thành viên trong xã hội, quyền không chỉ của đa số, số đông mà còn là quyền của thiểu số, quyền không chỉ của Nhà nước mà còn là của tư nhân Những quyền này được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật Hiến pháp và pháp luật không phải chỉ là ý chí của Nhà nước mà còn là ý chí của mọi thành viên trong xã hội Nhà nước pháp quyền là Nhà nước có vai trò, nghĩa vụ
tô chức quyền lực và vận hành xã hội sao cho bảo đảm tất cả những quyền trên được thực hiện Trên cơ sở cách tiếp cận này, hiện nay có nhiều quan điểm đưa
ra khái niệm Nhà nước pháp quyền tương đối gần nhau:
Theo giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Khoa Luật, ĐHQGHN thì Nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức nhà nước với sự phân công lao động khoa học, họp lý giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, có cơ chế kiểm soát quyền lực, Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên
cơ sở pháp luật, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, pháp luật có tính khách quan, nhân đạo, công bằng, tất cả vì lợi ích chính đáng của con người.4 Tuy khái niệm này đã đề cập đến phương thức tổ chức quyền lực nhà nước và nhấn mạnh yếu tố pháp luật nhưng yếu tố "quyền" chưa thể hiện một cách rõ nét
Khác với nguyên tắc phổ biến pháp chế của các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, Nhà nước pháp quyền là một khái niệm chính trị - pháp lý đòi hỏi phải tuân thủ luật tự nhiên và thiết lập một cơ chế nhằm bảo vệ các quyền tự nhiên của con người3 Nhà nước pháp quyền là Nhà nước dân chủ đối lập hoàn toàn với Nhà nước pháp trị, chuyên chế độc tài Trong Nhà nước pháp quyên, người ta đề cao luật tự nhiên và phản ánh nó vào Hiến pháp, đồng thời phân chia quyên lực đê kiềm chế chính quyền, với mục tiêu bảo vệ con người
4 Xem, Lý luận chung vè N hà nước và pháp luât, Hoàng thị Kim Quế (Chủ biên), Đ H Q G HN, 2007 , 174
5 Khoa Luật - Đại học Q u ố c gia Hà Nội (2001), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật,NXB Đạ: học quốc gia Hà Nội.
8
Trang 9Nhà nước trong chế độ pháp trị (The Rule of Law), lẽ đương nhiên phải
có :ách thức tố chức và hoạt động khác với nhà nước không ở hoặc không có chủ trương xây dựng chế độ này Đe tiện cho việc phân biệt này, và cũng để cho phì hợp với các qui định của Hiến pháp, nhà nước trong chế độ pháp quyền đưcc gọi là Nhà nước pháp quyền Nhà nước pháp quyền ở đây như là một hình thứ; nhà nước Hình thức này phải phản ánh đúng cái nội dung mà nó cần phải biển hiện Nội dung và hình thức là một cặp phạm trù của triết học, dùng để phán ánh sự tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng: nội dung nào, thì có hình thức cấu trúc đó Để hiểu được Nhà nước pháp quyền là một hình thức nhà nước, có nhieu cách tiếp cận, và có nhiều cách phân tích Một trong những cách có thể sử dụnĩ là việc chỉ ra những dấu ấn của Nhà nước pháp quyền khác với các nhà nưcc không phải là pháp quyền
Trước hết Nhà nước pháp quyền có cách thức tổ chức và hoạt động đối nghịch với các nhà nước độc tài, chuyên chế Những nhà nước của chế độ chính trị phong kiến, của chế độ chính trị chiếm hữu nô lệ, của nhà nước của các chế
độ ihuộc địa cũng không phải là Nhà nước pháp quyền Những chế độ chính trị (ché độ nhà nước) nêu trên đều gắn liền với sự bóc lột đa số nhân dân, cai trị nhân dân bằng các biện pháp độc tài, bằng vũ khí, bằng các loại nhà tù, nhà giam Nhấn dân không được quyền tham gia vào các công việc của nhà nước, không có quyền, mà chỉ gánh chịu các trách nhiệm nặng nề mà giai cấp thống trị ban hành Nhả nước pháp quyền phải là một nhà nước hợp pháp, một nhà nước dân chủ,
một nhà nước của hoà bình, mà ở đó quyền lực thuộc về nhân dân.
Như vậy, một Nhà nước pháp quyền không thể là một nhà nước nhân trị, hay còn được gọi là đức trị, mà là một nhà nước dựa trên cơ sở của pháp luật Trước hết phải tuân thủ Hiến pháp, đạo luật tối cao buộc các chủ thể trong xã hội phải thi hành Nhà nước pháp quyền là một nhà nước phải đặt trong tình trạng phải bị kiếm soát, phải bị hạn chế Mục đích của sự hạn chế và kiểm soát quyền lực của nhà nước để bảo vệ con người, tránh mọi sự lạm dụng quyền lực nhà nước, mà vi phạm quyền lợi của người khác
Nhà nước pháp quyền là một hình thức nhà nước đối nghịch với hình thức
9
Trang 10nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc pháp trị Nội dung của tư tưởng pháp trị
do các tác giả của Trung Quốc cổ đại, phái Pháp gia (Hàn Phi Tử) đề xướng là chống lại tư tưởng nhân trị Trong một nhà nước pháp trị không nhất thiết phải có hiến pháp, mà chỉ cần có pháp luật của nhà Vua Bổn phận của nhà vua không phải là chú trọng đến đạo tu thân, mà cốt ở chỗ ấn định các luật pháp và ban bố cho mọi người biết đế thi hành Cũng không khác gì quan niệm của nhân trị, pháp luật chủ yếu là hình phạt để trừng trị Nhưng khác nhân trị ở chỗ được dùng thường xuyên hơn, thay chỗ cho đạo đức của phép trị nước bàng nhân trị Pháp luật chỉ là văn bản của nhà vua được ban hành theo ý chí độc tôn của nhà vua, mà không phải là ý chí của nhân dân, không có nhân quyền, không có quyền công dân, không có hiến pháp để hạn chế quyền lực của nhà vua, trừ trường hợp đặc biệt những ông vua lập hiến
Nhà nước pháp quyền là một hình thức nhà nước cũng đối nghịch với nhà nước của cơ chế thời chiến, và nhà nước của cơ chế tập trung của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trước đây
Do nhu cầu của cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, cũng như trong cuộc kháng chiến chống chế độ chuyên chế phong kiến, phải đảm bảo nguyên tắc bí mật bất ngờ, phải tập trung mọi nguồn lực kể cả vật chất và tinh thần của mọi thành phần, tầng lớp cư dân, nhiều hoạt động cũng như các quyết định của nhà nước không được công khai, không được bàn bạc thảo luận Các thiết chế dân chủ hầu như phải ngừng, hoặc hạn chế hoạt động Thiết chế của nhà nước thời chiến khác với các thiết chế của Nhà nước pháp quyền Nếu như ở nhà nước thời chiến, quân
sự phải đứng trên dân sự, thì Nhà nước pháp quyền ngược lại bao giờ quân sự cũng phải chịu sự lãnh đạo của dân sự
Bên cạnh nhà nước thời chiến, một nhà nước của thời kỳ bao cấp, tập trung cũng không phải Nhà nước pháp quyền Bởi lẽ rằng một nhà nước tập trung, bao câp làm cho các chủ thế không tự chịu trách nhiệm về nhũng hành vi của mình, luôn luôn chờ sự chỉ đạo của cấp trên Đây cũng không thể là biểu hiện của Nhà nước pháp quyền
Xét cho cùng, bản chất của Nhà nước pháp quyền là nhà nước bị hạn chế
10
Trang 11quvén lực Nhà nước pháp quyền không thể có được ở một nhà nước chuyên chế, tập trung với mục đích là hạn chế nhân quyền Nhà nước thì rât cân thiêt cho nhân loại, nhưng những người nắm được quyền lực nhà nước cũng rất dễ đi đến chỗ lạm dụng quyền lực, nên phải hạn chế, phải kiểm soát quyền lực nhà nước Hạn chế quyền lực như là một tiêu chí sâu xa của nhà nước pháp quyền.
Nhà nước pháp quyền là một phương thức tổ chức và vận hành xã hội trên cơ sở các quyền tự nhiên, không ai có thể đứng trên pháp luật Các quyền này được phân định và tổ chức sao cho sự lạm quyền không thể xảy ra và quyền
tự do, dân chủ, quyền tự nhiên của người dân được bảo vệ Hiến pháp, pháp luật
có tính tối cao và là các công cụ quan trọng nhất đế xác lập và phân định các quyền Hiến pháp, pháp luật được xây dựng trên nền tảng các tư tưởng pháp lý tiến bộ của nhân loại nhằm đảm bảo thực sự những giá trị xã hội được thừa nhận chung của nền văn minh thế giới: công bằng, nhân đạo, dân chủ, pháp chế Trong đó, Hiến pháp được coi là linh hồn của Nhà nước pháp quyền và là bản khế ước xã hội quan trọng nhất
1.1.2 Các đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền
Mặc dù pháp quyên là nền tảng của xã hội dân chủ, nhưng không có sự nhất trí hoàn toàn về các đặc trưng tạo nên nhà nước pháp quyền Tuy nhiên, pháp quyền thường thừa nhận là các công dân đều được bảo vệ trước những hành động tuỳ tiện của các cấp chính quyền nếu như các quyền của họ được hiến pháp ghi nhận Luật pháp phải đwocj công bố công khai cho tất cả mọi người
để được áp dụng một cách bình đẳng Việc chấp hành quyền lực nhà nước phải dựa trên các đạo luật được ban hành theo hiên spháp và nhằm mục đích bảo vệ
tự do, công lý Nước pháp quyền có nội hàm rộng lớn, bao gồm các thành tố cơ bản có mối liên hệ biện chứng, thống nhất hữu cơ, tác động lẫn nhau, vừa là cơ
s ở , vừa là điều kiện, động lực của nhau: Nhà nước - Pháp luật - Xã hội - Công dân - Tự do dân chủ Dù còn nhiều quan điểm khác nhau, nhưng xét một cách phổ quát và đã được thừa nhận chung thì Nhà nước pháp quyền có những đặc trưng cơ bản sau:
11
Trang 12- Nhà nước pháp quyên đảm bảo tôi cao luật pháp mang tính công lý, tỉnh công băng và tính khách quan
Nhà nước pháp quyền ở nghĩa hẹp nhất đấy là sự tuân thủ pháp luật của
tất cả các chủ thể trong xã hội, mà trước hết là Nhà nước Ở góc độ cơ bản này,
thì chính Nhà nước này là khác biệt căn bản với Nhà nước nhân trị Pháp quyền
có nghĩa là không một cá nhân nào, cho dù là tổng thống được đứng trên pháp
luật, các chính phủ dân chủ phải thực thi quyền lực theo quy định của pháp luật,
và bản thân chính phủ cũng phải bị pháp luật giới hạn Luật pháp phải thẻ hiện ý
chí của nhân dân, mà không phải ý chí của các quan chức nhà nước, cũng như
của ý chí các đảng phái tự phong
Tính hợp pháp của quyền lực nhà nước liên quan mật thiết với tính đảm
bảo tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật Chính việc tuân thủ hiến pháp và
pháp luật tạo nên tính hợp pháp của các hành vi thực hiện quyền lực nhà nước
Không có một cá nhận nào, tổ chức nào tự đặt mình đứng trên pháp luật và đứng
ngoài pháp luật Đây là đặc trưng quan trọng và làm cho Nhà nước pháp quyền
trở thành Nhà nước khác biệt so với các Nhà nước khác Với sự ra đời của tư
tưởng về Nhà nước pháp quyền, mối quan hệ giữa Nhà nước và pháp luật có sự
thay đổi căn bản Pháp luật giữ vai trò thống trị không chỉ đối với xã hội mà còn
đối với chính bản thân Nhà nước Đây là sự kết hợp giữa hệ thống quyền lực với
hệ thống các quy tắc xử sự trong xã hội Khác với Nhà nước pháp trị trong lịch
sử, pháp luật của Nhà nước pháp quyền trở thành công cụ chế ước, quy định,
kiểm tra, giám sát tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà nước Nhà nước
pháp quyền tự đặt mình dưới pháp luật chứ không phải đứng trên và ngoài pháp
luật Pháp luật không chỉ là công cụ để duy trì và phát triển xã hội mà còn là
công cụ để duy trì sự tồn tại của chính Nhà nước Chức năng và quyền hạn của
Nhà nước được giới hạn trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Nguyên tắc
họp hiến, hợp pháp và chế độ trách nhiệm pháp lý là những yêu cầu của việc xây
dựng Nhà nước pháp quyền Nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho
phép, còn công dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm Neu vượt
quá giới hạn pháp luật, Nhà nước sẽ trở thành độc tài, chuyên chế, đi ngược lại
12
Trang 13với lợi ích của nhân dân, cướp đi tự do của công dân Như vậy, Nhà nước và công dân đều có quyền và nghĩa vụ trước pháp luật.
Tuy nhiên, nếu chỉ đề cao vai trò, vị trí, tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật không thôi thì nó cũng chẳng phân biệt được gì so với pháp luật cai trị của các Nhà nước khác trong lịch sử Cái làm cho Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước pháp quyền có tính tối cao và trở thành linh hồn của Nhà nước pháp quyền, khác với các Nhà nước khác trong lịch sử, ỉà ở chỗ bản chất, nội dung và phương thức hình thành của nó
Pháp luật của các Nhà nước độc tài, chuyên chế là thứ pháp luật độc tài,
do ý chí của giai cấp cầm quyền đặt ra để cai trị xã hội Pháp luật được coi là công cụ riêng của giai cấp cầm quyền chủ yếu dùng để trấn áp xã hội, nên nó gắn liền với sự bóc lột đa số nhân dân lao động, cai trị nhân dân bằng vũ khí và nhà tù Nhân dân không được quyền tham gia vào công việc của Nhà nước mà ngược lại, phải gánh chịu các trách nhiệm nặng nề do giai cấp thống trị ban hành
Ngay pháp luật trong Nhà nước pháp trị cũng vậy Người đầu tiên đề ra chủ thuyêt vê pháp trị là Hàn Phi Tử Nó tiến bộ hơn bởi tư tưởng dùng pháp luật đê quản lý xã hội một cách thống nhất trong cả nước và trong mọi thời điểm chứ không phải quản lý xã hội một cách tùy hứng, nhưng nó vẫn là thứ pháp luật riêng do giai cấp thống trị (Vua) ban hành, không phải là ý chí của nhân dân Đe cai trị xã hội theo mục đích của mình, pháp luật trong Nhà nước pháp trị rất hà khắc, chủ yểu là các hình phạt để trừng trị, răn đe, không có quyền bình đẳng giữa con người với con người Nó được dùng để bảo vệ giai cấp thống trị mà thôi
"Tính chất pháp quyền" trong Nhà nước pháp quyền không chỉ thuần túy là "có pháp luật" hay đơn thuần là có "pháp chế", tuân thủ nghiêm minh pháp luật không thôi, mà tính pháp quyền còn thể hiện rõ trong nội dung ghi nhận của pháp luật đảm bảo các giá trị công bằng, nhân đạo, vì con người, phù hợp với đạo đức xã hội, bình đẳng giữa mọi cá nhân trong xã hội, giữa cá nhân
13
Trang 14với Nhà nước, công khai, minh bạch, có cơ chế kiểm soát mọi hoạt động của chủ thể Nhà nước 6.
Khác với pháp luật của các Nhà nước đã nêu trên, pháp luật trong Nhà nước pháp quyền trước hết là pháp luật của mọi công dân trong xã hội Nó chính
là ý chí, quyền lợi và nghĩa vụ của công dân được luật hóa, là bản khế ước có sự đồng thuận giữa nhân dân và Nhà nước Nhân dân ủy quyền cho Nhà nước thực hiện các điều khoản đã được thỏa thuận Tuy nhiên, khi Nhà nước nắm quyền, nguy cơ lạm dụng quyền lực nhà nước để mưu cầu lợi ích cá nhân, đi ngược lại các điều khoản đã cam kết có thể xảy ra, quyền và tự do của nhân dân sẽ bị xâm phạm Vì vậy, Hiến pháp chính là bản văn hạn chế quyền lực nhà nước Neu như không có vấn đề bảo vệ nhân quyền, quyền con người thì có lẽ nhân loại cũng không cần có một bản Hiến pháp cho mỗi quốc gia Hiến pháp ra đời cùng với cuộc cách mạng dân chủ tư sản, đánh dấu một bước tiến vượt bậc của chế độ dân chủ Hiến pháp là bản khế ước của toàn xã hội ghi nhận tất cả các quyền tự
do dân chủ của nhân dân, các quyền cơ bản của con người, ghi nhận quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Đó là bản văn quy định về cách thức tổ chức quyền lực nhà nước với những biện pháp tối ưu đảm bảo sự hạn chế quyền lực nhà nước trước các nguy cơ lạm quyền Hiến pháp chính là chuẩn mực, khuôn thước cho mọi hành vi của Nhà nước và công dân Hiến pháp có quyền tối thượng trong hệ thống pháp luật quốc gia Các hành vi vi phạm Hiến pháp của các quan chức cũng như nhân viên của Nhà nước đều bị truy tố trước pháp luật Mọi đạo luật mâu thuẫn với Hiến pháp đều vô hiệu, ngành Tư pháp có thẩm quyền và nhiệm vụ tuyên bố luật áp dụng đó có hợp hiến hay không và quyết định áp dụng luật nào
Nhà nước pháp quyền quản lý xã hội bằng pháp luật là quản lý bằng lý trí phổ biến của nhân dân được luật hóa chứ không phải bàng mệnh lệnh, luật của cá nhân tùy tiện, chuyên quyền, độc đoán Nhờ pháp luật mà những giá trị vốn chỉ thuộc về giai cấp cầm quyền lại trở thành của toàn xã hội Nhà nước và
(' Hoàng Thị Kim Quế (2002), Góp phần nghiên círu nhũng vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nước pháp quyền, Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế - Luật T.XVIII, (2).
14
Trang 15công dân tuân thủ pháp luật là tuân thủ những "quy tắc chính đáng và vững
chắc, biết đối xử với con người như con người."7 Sự bảo vệ của pháp luật trở
thành định chế đáng chú trọng trong lịch sử nhân loại
Tuy vậy, nên nhó rằng Nhà nước pháp quyền chỉ dựa vào pháp luật thôi
thì chưa đủ mà đó phải là Nhà nước được xây dựng trên nền tảng đạo đức và
tinh thần của một xã hội công dân Đó là một Nhà nước hợp hiến, hoà bình và là
một Nhà nước công bằng với mục đích duy nhất là bảo đảm sự an toàn và phát
triển cho con người
- Nhà nước pháp quyên là một Nhà nước dân chủ, được thành lập một cách chính đáng
Trước hết, cần tìm hiểu quyền lực nhà nước bắt nguồn từ đâu và quyền lực
nhà nước là của ai Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, đã từng có quan điểm cho
răng quyền lực nhà nước bắt nguồn từ một lực lượng siêu nhân (Chúa Trời), nó
được trao cho Vua thay Trời trị vì hạ giới và chăn dắt dân lành Quyền lực nhà
nước là tài sản riêng của Vua và tồn tại vĩnh viễn như một thiên mệnh Quyền
lực nhà nước là từ bên trên, bên ngoài nhân dân Quyền lực cá nhân và hoàng
tộc là cái chi phôi vua chứ không phải quyền lực của nhân dân
Có quan điểm cho rằng quyền lực nhà nước bắt nguồn từ đạo đức hay từ
lý trí tối cao áp đặt cho con người và xã hội, quyền lực nhà nước thuộc về một
hay một nhóm người trong xã hội Những người cai trị này tự cho mình là
những bậc tài trí, anh minh hơn người, thuộc một đẳng cấp khác với mọi công
dân khác trong xã hội nên có quyền được đứng trên mọi người
Ngược lại, có quan điểm cho rằng quyền lực nhà nước là của nhân dân,
chỉ có nhân dân mới là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực đó Chỉ có
nhân dân với ý chí chung của mình liên hiệp lại và lập nên Nhà nước Tính cách
mạng của quan điểm này là nhân dân có quyền lựa chọn Nhà nước, lựa chọn các
đại biếu của mình tham gia công việc của Nhà nước Thực hiện khế ước xã hội
là phương thức mới tạo lập nên Nhà nước Khi Nhà nước không đáp ứng được
7 Nguyễn Đăng Dung (2005), Sự hạn chế quyền Im nhà nước, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
15
Trang 16yêu cầu của nhân dân, thì nhân dân có quyền thay thế Nhà nước ấy bằng một Nhà nước khác Nhà nước pháp quyền là Nhà nước dân chủ, trong đó mỗi thành viên đều đạt được mục đích sống của mình và được bảo vệ chắc chắn nhất Nói một cách khác, trong Nhà nước pháp quyền, nhân dân đều có quyền quyết định, tham gia một cách thực chất vào quy trình ra quyết định hay thiết kế chính sách của Nhà nước.
Khái niệm dân chủ tuy xuất hiện rất sớm từ thời Hy Lạp cổ đại, nhưng
nó là một thứ dân chủ còn rất nhiều khiếm khuyết Đó là nền dân chủ Hy Lạp được tạo ra bởi các thành bang với số dân cư ít, nền dân chủ La Mã cổ đại mà đại diện là những tầng lóp giàu có, dựa chủ yếu vào chế độ nô lệ và cướp bóc thuộc địa Sau cuộc cách mạng Tư sản, xuất hiện nền dân chủ tư sản và dân chủ XHCN Tuy nhiên, trên thực tế đó mới chỉ là nền dân chủ hạn chế, hỉnh thức Đê
có một nền dân chủ thực sự, lâu nay người ta vẫn đang mải miết tìm ra các cơ chế bảo đảm thực hiện Trong đó, vấn đề cốt lõi chính là vấn đề tổ chức quyền lực nhà nước
Nhà nước là rất cần thiết cho cuộc sống của con người Cho đến nay và tương lai sau này, con người không thể sống thiếu Nhà nước Nếu không có Nhà
nước, con người rơi vào trạng thái hỗn loạn "cuộc chiến con người chổng lại con
người" Vì mục đích an toàn hơn, con người phải thành lập ra Nhà nước, trao
quyền tự do của mình cho Nhà nước để nhận được sự an toàn và mệnh lệnh từ Nhà nước8 Nhưng Nhà nước phải được thành lập một cách hợp hiến, hợp pháp Bởi quyền lực nhà nước dù thuộc về nhân dân, nhưng không có nghĩa mọi việc đều
do nhân dân trực tiếp thực hiện Trong một xã hội đông dân cư, có cơ cấu phức tạp,
đa sắc tộc với một nền kinh tế lớn, phát triển hoặc quan hệ quốc tế đa dạng, cần phải có các quyết định nhanh chóng, kịp thời, xác đáng và bảo đảm được lợi ích của cá nhân và thiểu số, việc cai trị trực tiếp của nhân dân là rất khó thực hiện9 Do
đó, tuy quyền lực vẫn thuộc về nhân dân nhưng nhân dân có thể ủy quyền cho các đại diện của mình trong chính quyền Điều này đòi hỏi nhân dân phải có cơ
8 Nguyễn Đăng Dung (2005), Sự hạn chế quyền lực nhà nước, N xb Đại học Quốc gia Hà Nội.
9 Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2001), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật,
NXB Đại học quốc gia Hà Nội.
16
Trang 17chê kiêm tra, giám sát đối với những người thay mình nẳm quyền lực nhà nước nhăm hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước, bởi đại diện không thế thích hợp mãi và luôn có khuynh hướng xa rời dần xã hội, đúng trên xã hội Chính yếu tô này tạo nên đặc trưng thứ hai của Nhà nước pháp quyền là Nhà nước phải
bị hạn chế quyền lực
Các chức danh quan trọng của Nhà nước phải được nhân dân tín nhiệm, mọi quyết sách của Nhà nước phải được công khai, minh bạch Nhà nước pháp quyền của thời hiện đại phải là nước dân chủ, tức là nhà nước của dân, do dân và
vi dân Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thuộc về mình bằng hai hình thức cơ bản trực tiếp và gián tiếp/đại diện Trong điều kiện hiện nay dân chủ gián tiếp /đại diện vẫn có những ưu thế hơn Bầu cử là một trong những biện pháp quan trọng nhất thê hiện sự tín nhiệm của nhân dân trong việc thành lập ra
bộ máy nhà nước, cho phép nhân dân tham gia vào việc điều hành đất nước, nó phải được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật Quyền lực của Nhà nước chỉ xuất phát từ sự bỏ phiếu đồng ý của nhân dân Qua hình thức bầu cử, nhân dân
có thê chọn người đại diện mà mình tín nhiệm tham gia vào bộ máy nhà nước để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Do đó, bầu cử chính là hình thức thể hiện nguồn gốc và bản chất dân chủ của Nhà nước, thể hiện quyền lực nhà nước thuộc vê nhân dân Ớ bất cứ nền dân chủ nào khác, sự đảm bảo quan trọng nhất
về trách nhiệm của quyền là các công dân có quyền kiểm soát Chính phủ của mình thông qua bầu cử
Bỏ phiếu tín nhiệm, bãi nhiệm đại biểu và các chức danh khác của cơ quan Nhà nước chính là sự hạn chế quyền lực nhà nước Khi các đại biểu và những người đảm nhiệm các chức danh khác trong cơ quan Nhà nước được nhân dân bầu ra luôn phải chịu sự giám sát của nhân dân, bị nhân dân bãi miễn nếu không được nhân dân tín nhiệm
Tuy nhiên, đê nhân dân có thể chọn được người xứng đáng và tin cậy giao trọng trách nắm giữ quyền lực nhà nước thì tất cả các chức danh quan trọng của Nhà nước phải được công khai, minh bạch Không chỉ công khai về nộidung mà còn phải công khai về quy trình, thủ tục Tham nhũng là sự kết hợp của
1 ĐẠi HỌC Q U Ố C G IA HẢ N ộY !
TRUNG TẦM THÒ N G TIN THƯ V IỆ N ị
Trang 18ba yếu tố cơ bản: quyền lực độc quyền, quyền hạn tùy tiện và mức độ trách nhiệm không thỏa đáng khi thực hiện quyền hạn Muốn chống tham nhũng phải nhắm vào cả ba điểm trên Công khai, minh bạch là yếu tố hàng đầu của cuộc chiến chống tham nhũng.10
Công khai là mọi hoạt động, mọi quyết sách của Nhà nước phải được công bố hoặc phổ biến, truyền tin trên các phương tiện đại chúng, làm cho mọi người dân được tiếp cận với các quyết định của Nhà nước một cách dễ dàng Minh bạch là không những phải công khai mà phải trong sáng, không khuất tất, không rắc rối, không gây khó khăn cho người dân, không làm cho người dân nhầm tưởng, có những định hướng sai lầm cho tương lai
Do vậy, sự công khai, minh bạch của chính quyền chính là quyền được nam bắt thông tin của công chúng Việc được tiếp cận với các thông tin cho phép công dân chất vấn, chỉ trích và cản trở các hành động của chính quyền mà
họ không đồng tình, cũng như cho phép họ tìm cách uốn nắn những hành vi sai trái của các quan chức Trách nhiệm của chính quyền là phải báo cáo về các hoạt động của họ cho công dân biết, quyền của công dân là được hành động chống lại các quan chức có hành vi mà các công dân coi là không chuẩn mực Đó chính là một yếu tố thiết yếu của nền dân chủ
Cách thức để người dân nắm bắt thông tin là quyền tự do truyền thông,
tự do ngôn luận, là quyền được bỏ phiếu trưng cầu dân ý Qua phương tiện thông tin đại chúng người dân có thể theo dõi một vụ án, góp ý cho một dự luật hay kiểm tra các dự án của Chính phủ C ông dân có thể dựa vào báo chí để phát giác tham nhũng, vạch trần việc thực thi công lý, những hành động sai phạm hay thiếu hiệu quả của quan chức Nhà nước Như vậy quyền được thông tin, đưọ'c tư do báo chí, được trưng cầu dân ý cũng là những cách thức hạn chế quyền lực nhà nước từ bên ngoài Trong Nhà nước pháp quyền, những quyền này phải được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật
- Nhà nước pháp quyền là Nhà nước bị giới hạn quyền lực
! 0 Nguyễn Đăng Đung (2005), Sự hạn chế quyền ÌỊtc nhà nước, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
18
Trang 19Con người là một động vật cao cấp, khác các loài động vật khác ở chỗ con người không sống ngoài xã hội, tức là phải liên kết và quan hệ với nhau Trong một điều kiện như vậy, xã hội phải có to chức Một trong những tố chức không thế thiếu được đó là Nhà nước Sự xuất hiện Nhà nước như là một bước tiến vượt bậc của nhân loại, cho phép con người từ một xã hội mông muội bước sang thời kỳ của văn minh.
Nhà nước là rất cần thiết cho cuộc sống của con người Cho đến hiện nay
và một tương lai cho cả sau này con người không thể sống thiếu Nhà nước, trong một trạng thái vô Chính phủ, ít nhất là cho đến khi xây dựng xong chủ nghĩa cộng sản Neu như: "Nhà nước sụp đổ từ bên trong, để mặc cho những công dân của nó mất cả những điều kiện cơ bản của cuộc sống ổn định: luật pháp và an ninh, sự tin cậy trong các hợp đồng và những phương tiện trao đổi lành mạnh Những cuộc khủng hoảng này làm chúng ta nhớ lại sự hiểu biết sâu sắc của Thomas Hobbes cách đây gần một nửa thiên niên kỷ trong luận văn
Leviathan vào năm 1651, rằng cuộc sống mà không có một Nhà nước hiệu lực
để duy trì trật tự thì rất "đơn độc, nghèo nàn, đồi bại, tàn bạo và ngắn ngủi"11
Bên cạnh sự cần thiết như vậy, chúng ta cũng cần phải nhận ra rằng Nhà nước luôn luôn có xu hướng lạm quyền, mà vi phạm đến quyền lợi của cá nhân
Từ những thời xa xưa nhất, con người đã họp lại với nhau thành các phường hội lớn hơn, bắt đầu bằng hộ gia đình, rồi đến các nhóm quan hệ huyết thống và rồi đến các Nhà nước hiện đại Đe các Nhà nước có thể tồn tại, các cá nhân và các nhóm phải nhượng lại quyền lực trong những lĩnh vực then chốt, như quốc phòng, cho một cơ quan cộng đồng Cơ quan đó phải nắm giữ quyền lực cưỡng chế đối với tất cả những hình thức khác trong một phạm vi lãnh thổ xác định nào đó
Các Nhà nước phát triển muôn hình, muôn cỡ, tùy thuộc vào sự tổng hòa các nhân tố như văn hóa, như tài nguyên thiên nhiên, những cơ hội buôn bán và
sự phân phôi quyền lực Nhà nước Athen co đại, chang hạn dựa chủ yếu vào chế
1 I N g â n h àng thế giới (1 9 9 8 ) , N hà nước trong m ột thế g iới đang chuyển đổi / B áo cáo về tìn h hình thế giới năm 1997, N x b C h ín h trị Q u ố c g ia Hà nội, tr 33.
19
Trang 20độ nô lệ và những cướp bóc thuộc địa Xa hơn về phía Đông những cơ cấu Nhà nước chặt chẽ được xây dựng từ xa xưa dựa trên cơ sở sở hữu Nhà nước về đất đai với bộ máy quan liêu phức tạp đã cản trở rất lâu sự xuất hiện những nền kinh
tế hiện đại, dựa trên cơ sở thị trường và nhà nước pháp quyền
Tuy nhiên, bất chấp sự đa dạng về xuất xứ, Nhà nước theo thời gian vẫn phát triển Các Nhà nước hiện đại có lãnh thô và dân số xác định vững chắc và trong đó Nhà nước đóng vai trò tập trung và phối hợp Quyền lực nhà nước tối cao thường bao gồm ba chức năng riêng rẽ là lập pháp, tư pháp và hành pháp
Kẻ từ thế kỷ thứ XVIII, thông qua việc chinh phục và xâm lấn thuộc địa, các quốc gia dân tộc đã sáp nhập phần lớn thế giới vào những vùng lãnh thổ riêng của các đế chế loại trừ lẫn nhau Khi mà các đế chế tan rã, các nhóm thiểu số thiết lập các quốc gia riêng làm cho số lượng các quốc gia trên thế giới tăng lên một cách đáng kể số thành viên của Liên quốc đã tăng vọt từ 50 nước độc lập vào năm 1945 lên tới 200 nước vào 2005 về cơ bản các Nhà nước trên thế giới
đã đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống của nhân dân, khắc phục được những khuyết tật của nền kinh tế thị trường như: Thiết lập cơ sở pháp luật; duy trì trật tự an toàn xã hội; bảo vệ môi trường; đảm bảo các dịch vụ cơ bản cho xã hội,
Ngay từ khi thảo luận thông qua Hiến pháp thành văn đầu tiên của thế giới, những người được mệnh danh là "cha đẻ" của bản hiến pháp này đã có những suy nghĩ như vậy Khi quyền lực được giao cho những người đại diện của chúng ta nắm giữ và cai trị thì quyền lực đó rất dễ bị lạm dụng vì bản tính của con người là lòng đam mê quyền lực Chúng ta biết rằng ở trạng thái hoàn thiện nhất con người luôn luôn có lý trí, có kỷ luật, có công bằng và cả lòng vị tha, nhưng khi ở trạng thái bị tổn thương, con người không những có đam mê, lòng không dung thứ, sự vô liêm sỉ, sự tùy tiện mà còn có cả lòng tham Điều đó là lẽ đương nhiên, vì con người không phải là thiên thần, nếu như con người chúng ta
là những thiên thần thì khỏi cần đến bộ máy nhà nước và điều ngược lại, nếu Chính phủ là thần thánh, thì cũng khỏi cần phải quy định các cách thức phai
20
Trang 21hoạt động theo một thể thức nhất định tức là bản Hiến pháp như ngày nay.12 Nhà nước pháp quyền thể hiện tính dân chủ, tính quy luật cần phải tiến tới của nhân loại, chính sự giới hạn quyền lực nhà nước là một trong những đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền.
Những cơ chế này chính là những quy định chế ước quyền lực được quy định trong hệ thống pháp luật mỗi quốc gia, mà trước hết là phải nói đến hiến pháp."Sự tha hóa" của Nhà nước theo cách gọi của Mác không chỉ xảy ra đối với hàng ngũ công chức mà còn có cả giới lãnh đạo cao cấp của Nhà nước Đòi hỏi trong một Nhà nước pháp quyền, chính bản thân Nhà nước phải bị giới hạn
Tôn trọng và bảo vệ các quyền công dân, quyền con người là giá trị của mọi giá trị trong tư tưởng về Nhà nước pháp quyền Một trong những yêu cầu đâu tiên của Nhà nước pháp quyền là sự bảo đảm các quyền cơ bản của con người như: Tự do, bình đẳng, phẩm giá con người, những hình thức thể hiện khác nhau của việc bảo đảm nhân quyền và bảo đảm những yếu tố truyền thống của Nhà nước pháp quyền 13
Với sự ra đời của học thuyết về Nhà nước pháp quyền và Nhà nước pháp quyên tư sản trong hiện thực, iân đâu tiên trong lịch sử loài người đã bước từ địa
vị nô lệ trong xã hội thần dân sang địa vị công dân trong xã hội công dân Công dân trong mối quan hệ với Nhà nước pháp quyền là con người mà các quyền cơ bản, thiêng liêng như quyền sống, tự do, bình đẳng, mưu cầu hành phúc, sở hữu tài sản được Nhà nước bảo vệ bằng pháp luật Mỗi cá nhân có thể phát triển bình đẳng và tự do trước pháp luật, có đủ cơ hội pháp lý để phát huy mọi khả năng của mình
Phương thức hạn chế quyền lực nhà nước là quyền con người được quy định và đảm bảo trong Hiến pháp để có thể bất cứ lúc nào mọi hành động của quyền lực nhà nước (Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp) cũng phải đổi chiếu với thê chê chính trị đó và được tôn trọng hơn, tránh việc thi hành quyền lực nhà
1 2 Phạm Hồng Hải (2001), "Vấn đề hoàn thiện các quan hệ tố tụng và nâng cao năng lực xét xử của
T òa án cấp luiyện hiện nay", Tạp chí Tòa án nhân dân, (9).
I 3 Josef Thesing (2002), Nhà nước pháp quyền, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
21
Trang 22nước một cách tùy tiện, độc đoán và chuyên quyền Nó trở thành những nguyên tắc đơn giản không thể chối cãi nhằm bảo đảm hạnh phúc cho mọi công dân trong xã hội.
Con người chúng ta tồn tại không phải để phục vụ Chính phủ như trong các xã hội chuyên chế và độc tài đã từng tuyên bố, mà chính các Chính phủ tồn tại để bảo vệ người dân, bảo vệ các quyền của họ và có vai trò thúc đẩy sự phát triển của xã hội thông qua sự phát triển của mọi người.Pháp quyền có lien quan đến hang loạt các lĩnh vực chính sách trên các phương diện chính trị, hiến páhp
và pháp luật, cũng như quyền con người Bất kỳ một xẫ hội nào tán thành dân chủ đều phải thừa nhận quyền con người như là nguyên tắc cần phải được bảo đảm thi hành
Quyền con người được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước Hiến pháp và pháp luật đặt Nhà nước vào vị trí thấp hơn quyền con người
và tuyên bố quyền con người là bất khả xâm phạm Những quyền đó suy đến cùng cũng chỉ Nhà nước mới có khả năng bảo vệ Tuy vậy, chính Nhà nước cũng đồng thời là chủ thể có khả năng lạm dụng quyền lực nhiều nhất trong việc
vi phạm nhân quyền Nên nhân quyền phải được ghi nhận trong Hiến pháp để hạn chế quyền lực nhà nước.14
Tất nhiên, bảo vệ nhân quyền không chỉ dừng lại ở việc bảo đảm nhân quyền không bị vi phạm mà còn tiến tới chỗ tạo ra những điều kiện để người dân tham gia vào công việc của Nhà nước và kiểm soát quyền lực nhà nước Khi nhân quyền được bảo đảm thực hiện, công dân có thể giám sát, phê bình, chỉ trích Nhà nước một cách công khai, dân chủ mà không sợ bị trù úm, trả thủ Công dân có quyền và nghĩa vụ chống lại mọi sự xâm phạm hay can thiệp một cách tùy tiện trái pháp luật của Nhà nước Nguyên tắc công dân có quyền làm tất
cả những gì pháp luật không cấm đã tạo ra cơ sở pháp lý cho sự phát triển và hoàn thiện cá nhân Công dân được sở hữu tất cả những gì thuộc về mình, chỉ dành cho Nhà nước những cái tối thiểu cần thiết Với sự ra đời của Nhà nước
14 Montesquieu S.L (1967), Tinh thần Pháp luật, N xb Sài Gòn 1967, Sài Gòn.
22
Trang 23pháp quyền, con người đã được giải thoát khỏi chế độ phong kiến độc đoán chuyên quyền.
Những người sáng lập tư tưởng Nhà nước pháp quyền đều nhấn mạnh rằng Nhà nước pháp quyền chính là Nhà nước mà quyền lực của nó bị giới hạn
để đảm bảo các quyền và tự do của công dân Đe đảm bảo được sự giới hạn quyền lực nhà nước, các nhà tư tưởng lập hiến đều coi trọng đến việc phân quyền và kiểm soát quyền lực nhà nước và coi đó là một trong những nhân tô không thế thiếu của Nhà nước pháp quyền
Theo học thuyết phân quyền, quyền lực nhà nước được phân chia thành quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Quyền lập pháp được trao cho Quốc hội, quyền hành pháp được trao cho Chính phủ và quyền tư pháp được trao cho Tòa
án Quyền lập pháp là quyền thế hiện ý chí chung của mọi công dân trong xã hội, được thể hiện qua chế độ làm việc và quyết định theo đa số của tập thể Quốc hội Quyền hành pháp là quyền thực hiện ý chí chung của Quốc hội hay nói một cách khác chức năng của Chính phủ là thực hiện pháp luật trong quản lý quốc gia Quyền này đòi hỏi sự quyết đoán, nhanh nhạy và tập trung cao Quyền xét xử thuộc về Tòa án Chức năng của cơ quan này là xét xử các hành vi vi phạm Hiến pháp, pháp luật từ phía công dân và Nhà nước, bảo vệ công lý, tự do công dân và trật tự - an toàn xã hội
Trong các ngành quyền lực nhà nước, lập pháp được coi là một ngành có nguy cơ xâm phạm đến quyền tự do của con người nhiều nhất, bởi cơ quan này vừa có quyền điều chỉnh lại vừa có quyền kiểm soát hành vi của rất nhiều người trong xã hội thông qua việc ban hành luật Còn ngành hành pháp không những
có quyền phân phối các vinh dự mà lại có quyền sử dụng vũ lực, có thê xâm phạm đến tài sản và tự do của công dân, giam cầm, đánh đập, lưu đày, tịch thu tài sản của người khác mà không có lý do chính đáng Ket quả của việc đảm bảo quyền con người sẽ được thực hiện khi có những hoạt động xét xử công bằng và vô tư của tư pháp Muốn vậy, Tòa án phải thực sự độc lập với lập pháp
và hành pháp
23
Trang 24Cơ chế kiểm soát, kìm chế đối trọng không chỉ thể hiện ở mối quan hệ giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp mà còn thể hiện thông qua nhiều quan hệ ngang, dọc, chéo giữa các cơ quan Nhà nước ở trung ương và các cơ quan địa phương Nguyên tắc kìm chế đối trọng được áp dụng rõ nét nhất ở Nhà nước Mỹ thông qua Hiến pháp 1787 và nó được sử dụng ở chừng mực nào đấy tại các Nhà nước khác trên thế giới.
Phân quyền là để đảm bảo cho Nhà nước và nền dân chủ không bị tiêu diệt, chứ không phải là để thỏa hiệp hay chia quyền giữa các lực lượng xã hội đối lập nhau và khi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân thì phân quyền chính
là sự phân công thực hiện quyền lực nhà nước Trong Nhà nước pháp quyên, các
cơ quan quyền lực nhà nước không chỉ phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật mà còn bị giới hạn bởi pháp luật Pháp luật không chỉ là cái mà các cơ quan quyền lực nhà nước phải tuân thủ mà còn là phương tiện đế hạn chế chính quyền Do đó, Nhà nước pháp quyền là Nhà nước mà quyền lực của nó được giới hạn để tránh việc xâm phạm các quyền và tự do của công dân
- Nhà nước pháp quyển phải ỉà nhà nước có nền tư pháp độc lập
Ngay từ thời cổ Hy Lạp, La Mã người ta đã khẳng định: ở đâu có pháp luật, thì ở đó phải có một hệ thống bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm chỉnh Sự bảo đảm đó trước hết phải bằng hoạt động của các cơ quan trong hệ thống các cơ quan nhà nước Các cơ quan nhà nước này có chức năng xét xử các hành vi, vi phạm các quy định của pháp luật nhà nước Đó là hệ thống các cơ quan tư pháp, trong chế độ chiếm hữu nô lệ và phong kiến, hoạt động tư pháp (xét xử) cũng như các hoạt động lập pháp và hành pháp đều tập trung vào trong tay giai cấp phong kiến mà đại diện là nhà Vua Nhà Vua vừa ban hành các văn bản pháp luật, vừa tổ chức thực hiện pháp luật, lại vừa xét xử các hoạt động vi phạm các văn bản pháp luật do nhà Vua ban hành Vì vậy nhằm mục đích hạn chế quyền lực vô hạn định của Nhà Vua, đồng thời cũng là mục tiêu của cuộc cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến đã lỗi thời, các nhà khoa học giả tư sản đề nghị hãy tách hoạt động thực hiện các văn bản pháp luật, và hoạt động xét xử các hành vi vi phạm các quy định của pháp luật ra khỏi hoạt
24
Trang 25động ban hành các văn bản pháp luật Đó là tư tưởng của các nhà triết học, xã hội học và luật học của thế kỷ 17-18, mà đại diện là John Locke và s
Montesquieu
Thể chế Tòa án là một thể chế rất đặc biệt trong hệ thống các cơ quan Nhà nước Không những nó được hưởng quy chế phân quyền như các cơ quan lập pháp và hành pháp, mà còn phải độc lập hoàn toàn trước hai cơ quan này Mặc dù nhiều Nhà nước dân chủ tư sản được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phân quyền giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhưng trên thực tế hành pháp và lập pháp vẫn có sự phối kết hợp với nhau ở một mức độ nhất định, mà còn chí có tư pháp do nhu cầu chức năng xét xử, bao giờ cũng được độc lập Sức mạnh của Nhà nước pháp quyền tùy thuộc nhiều vào niềm tin của người dân vào
hệ thống tư pháp Thể chế Tòa án đã cung cấp cho xã hội một phương pháp xác định sự thật và sự công bằng trong các hành động của tư nhân và Nhà nước bằng
3 lĩnh vực cơ bản:
Thứ nhất, trách nhiệm chính của hệ thống thể chế này có tác dụng đảm bảo
sự bình ổn cho xã hội, góp phần tránh các cuộc trả thù một cách dã man trong quan hệ giữa con người với con người.15
Thứ hai, sự phát triển kinh tế với mục đích làm cho xã hội trở nên phồn
thịnh cũng cần có những thể chế để giải quyết những tranh chấp giữa các doanh nghiệp, các công dân và các cơ quan của Chính phủ, để làm sáng tỏ những điều còn mơ hồ của luật pháp và những quy định để buộc phải phục tùng, các xã hội khác nhau đã nghĩ ra cả một loạt những cơ chế chính thức và không chính thức Nhưng cũng chẳng có cơ chế nào quan trọng hơn hệ thống tư pháp nêu trên
Thứ ba, chỉ có riêng ngành này mới có quyền chính thức phán quyết sự
họp pháp của những hoạt động của các ngành hành pháp và lập pháp Yiệc quyết định cho tư pháp có quyền xét xử lại các hành vi, quyết định của chính bộ phận, các cơ quan Nhà nước là một bước tiến vượt bậc của dân chủ và văn minh
1 5 Ngân hàng thế giới (2002) Xây dim ọ; Thế chế hỗ trợ thị trường. Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội,
tr 153.
25
Trang 26nhân loại, làm cho Nhà nước bước sang một giai đoạn hoàn toàn khác với trước
đây, Tòa án chỉ được quyền xét xử các hành vi của công dân
Tóm lại, Nhà nước pháp quyền là Nhà nước ưu việt với nhiều đặc trưng
cơ bản: khẳng định nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, tôn
trọng và bảo đảm các quyền tự do của công dân, quyền con người, đảm bảo
nguyên tắc tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật, đề cao vai trò tư pháp Đó là
con người đều phải đứng dưới pháp luật, pháp luật là phương tiện giới hạn và
kiểm soát quyền lực nhà nước nhằm bảo vệ con người, sự độc lập của các cơ
quan tư pháp như là một yếu tố quan trọng trong Nhà nước pháp quyền để đảm
quyền xét xử công bằng của Tòa án đối với mọi hành vi vi phạm pháp luật trong
đó có cả của các quan chức và tô chức Nhà nước
1.2 ĐẶC TRƯNG CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN VÀ CÁC YÊU CẦU ĐỐI VỚI TÒA ÁN TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYÈN
1.2.1 Tư pháp trong Nhà nước pháp quyền - một nhánh quyền lực nhà nước cần phải độc lập
ở các nước trên thế giới, nhất là ở Phương Tây, Tư pháp được hiểu là
một nhánh quyền lực độc lập trong cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước Đó là
nhánh quyền lực thứ ba - quyền tư pháp trong cơ chế phân quyền giữa các nhánh
quyền lực Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp Khái niệm Tư pháp thuộc nội hàm
của khái niệm quyền lực nhà nước Chủ thể thực hiện quyền lực này không phải
bất kỳ cơ quan Nhà nước nào mà chỉ là Tòa án - cơ quan có khả năng và năng
lực vốn có của mình để tác động đến hành vi của con người và thông qua đó tác
động đến quá trình diễn ra trong xã hội Tòa án là một thể chế tư pháp độc lập
trong hệ thống bộ máy nhà nước "Quyền tư pháp là khả năng và năng lực riêng
của các cơ quan Tòa án, chiếm vị trí đặc biệt trong bộ máy nhà nước thực hiện
để tác động đến hành vi con người, đến quá trình xã hội" l6 Khi đề cập đến tư
pháp, hoạt động tư pháp có nghĩa là đê cập đên một trong ba quyên cơ bản nhât
của hệ thống quyền lực nhà nước và Tòa án chính là một hệ thống cơ quan độc
16 Võ Khánh Vinh (2003), "Quyền tư pháp trong N hà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do
dân và vì dân ỏ' Việt Nam", Nhà nước và Pháp luật, (8).
Trang 27lập của Nhà nước thực hiện quyền tư pháp Đe thống nhất cách hiểu khái niệm,
Tư pháp trong phạm vi nghiên cứu này được đề cập với tư cách là hệ thông Tòa
và Chính phủ - hành pháp đều do đảng cầm quyền quyết định Quốc hội chỉ còn lại là kiểm soát Chính phủ và sẵn sàng thay đổi Chính phủ đang cầm quyền của đảng đoi lập
Như vậy, rõ ràng là nhu cầu lập pháp nằm trong tay hành pháp chứ không phải hoàn toàn nằm trong tay lập pháp Trên thực tế ở đây hầu như không
có một chút nào gọi là phân quyền giữa lập pháp và hành pháp Thuở ban đầu, khi Nhà nước dân chủ tư sản Anh mới ra đời người ta cũng quan niệm rằng quyền lập pháp nằm trong tay Nghị viện Nhưng sau đó, với sự vận động của tiến trình dân chủ, quyền trình dự án luật rơi dần về tay của Chính phủ - hành pháp Thông qua việc trình dự án luật, Chính phủ thể hiện rõ những quan điểm chủ trương chính sách của mình Việc chấp nhận chính sách cũng đồng thời hình thành dần dần trên cùng một cấp độ và cùng một lúc với việc thành lập ra Chính
27
Trang 28phủ Mãi đến nhũng năm đầu của thế kỷ XX, mới thống nhất được quan điếm
Chế định chịu trách nhiệm của Chính phủ được hình thành ra trong lịch
sử của Anh, mà không bằng một đạo luật nào của họ ghi nhận Mãi về sau này chế định quan trọng nói trên mới được các Hiến pháp của nhiều nước đại nghị ghi nhận, sau nhiều thập kỷ cố gắng của thực tế và chính nó trở thành một nguyên tắc quan trọng bậc nhất của mô hình chính thể đại nghị, kể cả của các nền cộng hòa và quân chủ lập hiến
Sự can thiệp hay là sự chủ động đề xuất các hoạt động lập pháp của hành pháp không chỉ được thể hiện ở các nước mà bộ máy được tổ chức theo thế chế đại nghị, còn cũng được thể hiện trong Nhà nước, mà bộ máy nhà nước được tố chức theo chế độ tổng thống như Mỹ quốc Điều cần phải chú ý ở đây là nếu như ở chế độ đại nghị, mà mô hình của nó quy kết từ nước Anh, với mô hình của Hiến pháp bất thành văn, sự can thiệp của hành pháp vào lập pháp, được Hiến pháp của họ lờ đi, chỉ được hình thành trong thực tế, thì ở các nước theo thể chế tổng thống sự can thiệp này ngay từ thuở ban đầu đã được ngăn cấm trong các quy định của Hiến pháp thành văn của họ Một trong những biểu hiện này là việc qui định hành pháp, Tổng thống không được quyền trình dự án luật trước Quốc hội - lập pháp Quyền lập pháp của Hiến pháp được qui định dành riêng cho cơ quan lập pháp ngay từ khi có sáng quyền lập pháp Chỉ các nghị sĩ thượng và hạ nghị viện mới có quyền này Nhưng bằng các con đường không chính thức, tổng thống - người đứng đầu hành pháp can thiệp rất sâu vào quá trình lập pháp của Quốc hội Ví dụ như việc thông điệp đọc hàng năm trước Quốc hội Mỹ (khoảng tháng Giêng), Tổng thống đã gửi yêu cầu lập pháp của mình sang cho Quốc hội - Lập pháp Hoặc bằng con đường yêu cầu trình dự án luật của các đảng viên cùng đảng của mình, mà Tổng thống hành pháp can thiệp đên chương trình lập pháp của Quốc hội Hơn thế nữa bằng quyền phủ quyêt Tông thông Mỹ không cho phép thi hành hoặc chí ít là phải chỉnh lí theo ý chí của mình các dự thảo iuật đã được Nghị viện thông qua
28
Trang 29Như vậy, cho dù được tổ chức theo mô hình đại nghị, hay được tô chức theo mô hình của chế độ tong thống, thì lập pháp và hành pháp vẫn không có sự phân chia tuyệt đối với nhau, và hành pháp vẫn can thiệp sang lĩnh vực lập pháp, thậm chí các hoạt động lập pháp lại còn là nhu cầu của hành pháp Bản thân Quốc hội không có nhu cầu của lập pháp Sự hợp lý của nhu cầu lập pháp của hành pháp còn thể hiện ở chỗ, chính thông qua các đề xuất lập pháp mà hành pháp có khả năng trien khai các chủ trương chính sách của mình nằm trong chương trình tranh cử của họ đã được nhân dân đa số bỏ phiếu thông qua.
Lập luận trên cho thấy quan hệ khăng khít giữa cai trị hợp pháp và lập pháp dân chủ Tuy nhiên, xét số lượng quá tải chức năng lập pháp mà bất cứ Nhà nước hiện đại nào cũng phải thực hiện, thì các bản Hiến pháp của các quốc gia dân chủ đều cho phép Chính phủ - hành pháp được ban hành các văn bản pháp quy dưới luật Nhà nước sẽ bị quá căng thẳng và cuối cùng sẽ tê liệt nếu mọi qui định pháp lí đều phải được Quốc hội ban hành dưới dạng luật, một quá trình rất tốn kém thời gian và sức lực Vì lẽ đó theo qui định hiện hành của nhiều Nhà nước dân chủ, Chính phủ có thể được ủy quyền ban hành các mệnh lệnh pháp định (pháp quy)
Tuy nhiên, sự ủy quyền này phải được qui định trong luật của Quốc hội Hầu hết các đạo luật của Quốc hội thời nay đều có các điều khoản ủy quyền cho Chính phủ ban hành các qui định chung hoặc cụ thể để hướng dẫn việc thi hành Nhiều Hiến pháp của các nước nói trên qui định rõ: "Nội dung, mục đích và phạm vi của quyền được ủy quyền phải do luật định." Điều này có ý nghĩa là các vấn đề được qui định trong luật của Quốc hội, có thể được giải thích được bổ sung một cách cụ thể bằng các văn bản pháp qui của Chính phủ, nhưng không được làm thay đổi hay biến dạng các điều khoản của luật Quốc hội
Khái niệm về một Tổng thống có quyền lập pháp đã được phổ biến kế từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai Từ đó đến nay vai trò này đã được thể chế hóa, được thê hiện không chỉ vì cá tính độc đáo của một vị Tổng thống, một hoàn cảnh đặc biệt nào, mà chính là vì mọi người, trong đó có Quốc hội, báo chí, và công chúng trông đợi điều này Một số người cho rằng sự trông đợi này có thế là
29
Trang 30kết quả của việc thay đổi cách thức điều hành ở cấp độ quốc gia - hình mẫu m à trước đây trong thế kỷ XIX vẫn là một Quốc hội mạnh, một Tổng thống yếu, sang một mối quan hệ khác, một Tổng thống mạnh, hay chí ít là được cân bằng giữa Quốc hội và Chính phủ.
Trong lịch sử của nước Mỹ, các Tổng thống, Quốc hội và Tòa án đã có những nhượng bộ lẫn nhau để áp dụng các quyền lực chung Như Thẩm phán Joseph Story đã từng viết, các tác giả của Hiến pháp muốn "chứng minh việc
áp dụng triệt để cứng nhắc (cơ chế tam quyền phân lập) trong mọi trường hợp
sẽ phá vỡ tính hiệu quả của Chính phủ và dẫn đến sự phá hoại các quyền tự do
công cộng." Thẩm phán Robert Jackson còn cho rằng: "Mặc dù Hiến pháp
phân tản quyền lực chủ yếu đ ế đảm bảo tự do, song nó cũng dự liệu rang việc
áp dụng phải được tiến hành sao cho hòa nhập các quyên phân tán thành một Chính phủ hoạt động tốt." 17
Trong một Nhà nước dân chủ hiện nay, kể cả của phương Tây và của các nước xã hội chủ nghĩa đang trên con đường chuyển đổi, Chính phủ của Đảng cầm quyền luôn luôn có quyền trình ra các chính sách thông qua việc trình các dự' án luật trước Quốc hội, có thể gọi là nhu cầu lập pháp của hành pháp.18 Mặc
dù mọi Nhà nước dân chủ đều được tuyên bố là Nhà nước của nhân dân, nhưng với bộ máy làm việc chuyên nghiệp gắn với mục tiêu của đảng cầm quyền, các
dự án của chính quyền đều có xu hướng thoát ly cuộc sống đầy sôi động của thực
tế Với tư cách là cơ quan đại diện của nhân dân, Quốc hội phải phản ánh ý chí của người dân vào các quyết định của các cơ quan Nhà nước Vai trò lập pháp của Quốc hội không phải nằm ở chỗ quyết định và thông qua các dự án luật từ khâu chuẩn bị cho đến khâu cuối cùng là biểu quyết thông qua, mà theo thời gian chỉ còn lại là chỉnh lí và chính thức hóa các quyết sách của các cơ quan hành pháp
Từ những điều trên chúng ta có thể nhận xét rằng, cho dù Nhà nước có thế được tổ chức theo kiếu này hay kiểu kia, theo chế độ đại nghị hay là theo chê
17 Joseph Story, Những bình luận về Hiến pháp, tái bản lần thứ 5 (Boston: Little, Brown, 1905), 1: p.396: v ề bình luận của Jackson; Xem, Youngstown Sheet and Tube Co kiện Sawyer, 343 u , s 579,
635 (1972).
18 Nguyễn Đăng Dung, "Nhu cầu lập pháp cùa Hành pháp", Hiển kế lập pháp, Văn phòng Quốc hội,
số 12 năm 2005.
30
Trang 31độ tổng thống, thì chỉ phụ thuộc vào mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp,
còn tư pháp thì kiêu gì cũng phải là độc lập Tòa án phải độc lập trở thành một
nguyên tắc quan trọng được mọi hiến pháp của các Nhà nước dân chủ quy định
Tòa án có hai nhiệm vụ gắn kết với nhau là giải thích hay làm dễ hiếu
luật và áp dụng pháp luật cho các tranh chấp pháp lý cụ thể Các tranh chấp này
bao gôm: tranh chấp giữa công dân với công dân; tranh chấp giữa công dân với
chính quyền; tranh chấp giữa cơ quan này với cơ quan khác trong chính
quyền Tòa án không chỉ là nơi hoạt động xét xử các tranh chấp, kiện tụng,
phạm pháp trong nhân dân mà còn là nơi thực hiện quyền tư pháp "bảo vệ những
gì đúng đắn, công bằng hay hợp pháp" ngay cả đối với các ngành quyền lực nhà
nước Thông qua hoạt động xét xử, Tòa án còn có các nhiệm vụ: i- Kiểm tra tính
hợp hiến, hợp pháp của các quyết định và hoạt động của các cơ quan Nhà nước
và những người có thấm quyền; ii- Giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật hiện
hành về những vấn đề thực tiễn xét xử;
Tòa án là một trong ba nhánh quyền lực tạo nên chỉnh thể thống nhất của
bộ máy nhà nước Bên cạnh những đặc điểm chung của các bộ phận cấu thành
nên nhà nước dân chủ như quyền lực công cộng, phải thể hiện ý chí của quốc
dân , nhưng do bản chất đặc thù của hoạt động tư pháp, Tòa án có những đặc
trưng riêng dưới đây
1.2.2 Đặc trưng hoạt động Tòa án trong Nhà nước pháp quyền
1) Hoạt động của Tòa án ỉ à hoạt động phán xử công lỷ
So với các Tòa án trong một nhà nước không có chủ trương xây dựng một nhà nước pháp quyền, thì trong một xã hội pháp quyền, Tòa án có một vị trí
vai trò hơn hắn, có thể nói là vượt trội Trong một Nhà nước pháp quyền , chỉ có
Tòa án mới có quyền nhân danh Nhà nước phán xét một người là có tội hay
không có tội Không một cơ quan, một tổ chức hay một cá nhân nào có quyền
kêt tội một công dân, ngoại trừ Tòa án Nhà nước cũng không cho phép công
dân tự xử mình Một nguyên tắc được thừa nhận chung của nền văn minh pháp
lý nhân loại là: không có ai bị coi là có tội cũng như phải chịu hình phạt, khi
31
Trang 32chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Ngoài lĩnh vực tội phạm, các lĩnh vực khác cũng gần như tương tự: sự tước bỏ Sự giới hạn quyên
là lợi ích của bất kỳ cá nhân cũng nhưn của bất kỳ tổ chức nào trong nhà nước pháp quyền đều phải bằng con đương hoặc bằng thủ tục của tư pháp Tòa án có quyền xét xử mọi hành vi phạm pháp và mọi tranh chấp phát sinh trong xã hội từ những vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động kinh tế, hành chính cho đến các lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật Đặc trưng này không giống với hoạt động phán quyết, hòa giải của các cơ quan, tổ chức xã hội khác Nó không phải là sự phán quyết của cấp trên đối với cấp dưới trong quản lý hành chính và càng không phải là hoạt động trung gian hòa giải và dàn xếp là đặc trưng trong lĩnh vực quan hệ hợp đồng kinh tế Hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động nhân danh Nhà nước áp dụng pháp luật vào việc giải quyết các tranh chấp, xét
xử các vi phạm pháp luật cụ thể Hoạt động xét xử có thể dẫn đến chỗ công dân, pháp nhân, các tổ chức được hưởng các quyền, lợi ích hoặc phải gánh chịu các nghĩa vụ nhất định, cho nên hoạt động xét xử của Tòa án có tính tố chức rất chặt chẽ Tòa án khi xét xử một vụ việc cụ thể phải tuân theo những trình tự, thủ tục luật định một cách nghiêm ngặt, không được tùy tiện bỏ qua một thủ tục nào Chính vì vậy, phán quyết của Tòa án có hiệu lực bắt buộc, bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân tôn trọng Mọi chủ thể liên quan phải nghiêm chỉnh chấp hành phán quyết của Tòa án Không một cơ quan, tổ chức hay một cá nhân nào
có quyền sửa phán quyết đó Bởi tính hiệu lực cao của bản án và quyết định của
cơ quan Tòa án như vậy nên pháp luật tố tụng quy định việc sửa đổi, hủy bỏ các văn bản đó không phải như các văn bản hành chính đơn thuần mà phải thông qua trình tự tố tụng nghiêm ngặt bằng thủ tục kháng cáo hoặc kháng nghị
Quan niệm rộng về các cơ quan tư pháp và hoạt động tư pháp sẽ dẫn đên
sự thiếu chuấn xác trong việc đặt ra yêu cầu và nhiệm vụ đối với việc thực hiện các các chức năng trong quá trình tổ tụng cũng như bảo đảm vị trí pháp lý đây
đủ cho cơ quan khác nhau Rõ ràng là, chẳng hạn, trong tố tụng hình sự luôn luôn tồn tại ít nhất là ba chức năng cơ bản và khác nhau về mục đích thực hiện,
32
Trang 33chủ thê thực hiện các chức năng đó: chức năng xét xử, chức năng buộc tội và chức năng bào chữa.
Tòa án là một nhánh quyền lực có vị trí đặc biệt quan trọng trong Nhà nước pháp quyền, nhưng đây lại là nhánh quyền lực yếu hơn so với hai nhánh quyền lực còn lại lập pháp và hành pháp Lập pháp là cơ quan có chức năng làm luật Lập pháp có quyền ấn định cách hành xử của cả xã hội Hành pháp là cơ quan thi hành, thực hiện pháp luật nên hàng ngày, hàng giờ tác động vào đời
sống của con người Còn ngành tư pháp "trái lại, không có quyền sử dụng vũ lực
hoặc quyên kiêm soát tài chính, không có quyền chỉ phoi tài sản lân sức mạnh của xã hội, và cũng không cỏ một quyên quyêt định tích cực nào cả c ỏ thê nói răng ngành tư pháp vừa không có lực lượng, lại không có ỷ chí, mà chỉ có phản đoán mà thôi, và cân phải dựa trên sự trợ tá của ngành hành pháp mới có thê thi hành được quyết định của trí phán đoán của mình
Nói như vậy không có nghĩa Tòa án là một ngành quyền lực vô hại trong bộ máy nhà nước Ngược lại, Tòa án vẫn có khả năng gây tổn hại cho nền công lý quốc gia khi họ lạm dụng chính quyền lực của mình để mưu cầu lợi ích
cá nhân Tuy đối tượng xâm phạm chỉ là một bộ phận đặc biệt trong xã hội, đó
là những đương sự, bị can, bị cáo ra trước công đường nhưng hậu quả của việc lạm dụng quyền lực này lại vô cùng nghiêm trọng, bởi lẽ nó sẽ làm trật tự xã hội suy giảm, công chúng sẽ đánh mất niềm tin vào công lý, vào bộ máy nhà nước
Do vậy, từ trước tới nay, người ta đã nghiên cứu tìm ra nhiều biện pháp đảm bảo cho Tòa án được hoạt động đúng với mục đích bảo vệ quyền con người, an ninh, trật tự của xã hội Trong đó, luật thủ tục là một trong những biện pháp tốt nhất nhằm giới hạn sự lạm quyền của những người nắm quyền tư pháp
Khác với cơ quan thực hiện quyền lập pháp và hành pháp, Tòa án là cơ quan bảo vệ pháp luật trước những hành vi vi phạm pháp luật, góp phần bảo vệ tính thiêng liêng, hiệu lực và sức mạnh của luật pháp Với chức năng này, Tòa
án cũng chính là cơ quan có khả năng cao nhất trong việc giới hạn quyền lực nhà nước, bảo vệ nhân quyền
33
Trang 34Công lý là các chuẩn mực đạo đức xã hội mà pháp luật có nhiệm vụ duy
trì và bảo vệ Hoạt động xét xử là hoạt động trực tiếp bảo vệ công lý Tòa án
không chỉ phán xét tính hợp pháp mà còn cả tính đúng đắn của hành vi Vì vậy,
ngoài căn cử vào pháp luật, khi xét xử, Tòa án còn căn cứ vào công lý Biểu hiện
của công lý chính là sự công bằng, khách quan, vô tư và tình người Ở Anh
quốc, một quốc gia theo luật common law, ngoài hệ thống luật án lệ thì họ còn
xét xử theo luật công bình (equity) Nguyên tắc xét xử là mọi phán quyết đều
phải nhân danh công lý Với những quốc gia theo luật Châu âu lục địa, tuy xét
xử theo hệ thống luật thực định nhưng công lý vẫn phải được đảm bảo với mục
đích mọi phán quyết đều dẫn đến sự công bằng, khách quan, vô tư Quy phạm
pháp luật có thể là cứng nhắc, máy móc và không thể quy định hết cho mọi
trường hợp cụ thể Tòa án nhân danh công lý, áp dụng pháp luật linh hoạt để sao
cho công bằng không bị bóp méo theo điều cứng nhắc, đóng khung của pháp
luật Đây cũng chính là lý do Tòa án cần được trao thẩm quyền giải thích luật
trong việc áp dụng các điều luật cho từng trường hợp cụ thể Pháp luật và công
bằng là hai khái niệm không hoàn toàn đồng nhất Pháp luật đôi khi chưa phải là
công bàng nhưng trong xét xử phải đảm bảo công bằng Công bằng là một trong
những yêu cầu của Nhà nước pháp quyền
2) Hoạt động tư pháp là đưa ra được những đánh giả về mặt pháp lý cho các sự kiện
Đối với hoạt động xét xử, trước hết là việc xác định sự kiện Hoạt động
tư pháp phải tìm kiếm, xác định và minh định cho được sự kiện xảy ra Trên cơ
sở xác định sự kiện đó của thực tiễn khách quan xảy ra trong mối quan hệ giữa
các chủ thế của các quan hệ pháp luật, chủ thể của hoạt động tư pháp phải đưa ra
được những đánh giá về mặt pháp lý cho các sự kiện đó Như vậy, đặc thù của
hoạt động tư pháp mà trung tâm là hoạt động xét xử là xác định sự kiện Không
phải chỉ đơn thuần áp dụng pháp luật mà trước khi áp dụng pháp luật phải xác
định cho được sự kiện Sự kiện đó xảy ra như thế nào trong quan hệ khách quan
thì phải xác định được đúng như vậy Đạt được chân lý khách quan - một trong
những mục tiêu của hoại động tư pháp.
34
Trang 35Nhưng muôn đánh giá vê mặt pháp lý thì phải vận dụng pháp luật và huy
động toàn bộ trí tuệ của người đánh giá Trong cả hai nội dung, hoạt động đó
đều phải huy động tối đa nỗ lực của thẩm phán Việc đưa ra được đánh giá về
pháp lý cho các sự kiện là một hoạt động sáng tạo của con người Hoạt động tư
pháp là một loại hoạt động sáng tạo, một loại hoạt động đòi hỏi huy động trí tuệ
rât cao và trách nhiệm rất lớn của các chủ thế áp dụng pháp luật, vì đây là những
vấn đề liên quan đến con người, liên quan đến lợi ích của các bên Ở đây luôn
xảy ra quan hệ giữa các bên với nhau, trong mối quan hệ này bao giờ cũng có
các bên Lợi ích của các bên có thể trái với nhau hoặc khác nhau hoặc là mâu
thuẫn với nhau thông qua các sự kiện pháp lý đưa tranh chấp ra giải quyết Tòa
án phải độc lập, phải khách quan, vô tư, trong sáng, tôn trọng sự thật thì mới có
thể làm trọng tài cho các bên tranh chấp
3) Hoạt động của Tòa án có tính hình thức, thê hiện ở những thủ tục pháp lý chặt chẽ
Neu so với các hoạt động áp dụng pháp luật khác, thì trong hoạt động tư
pháp có sự đòi hỏi về tính hình thức rất cao, tức là phải theo một thủ tục rất chặt
chẽ ở đây có sự kết hợp không thể thiếu được giữa yêu cầu về nội dung và hình
thức, tức là việc tìm kiếm, xác nhận sự thật khách quan phải đwocj đưa ra những
đánh giá về mặt pháp lý rõ ràng và minh bạch, theo một thủ tục nhất định Đây
là một yêu cầu mang tính pháp quyền của nguyên tắc tố tụng chuẩn (Due
Process of Law)
Lĩnh vực hoạt động tư pháp có nét đặc trưng là có hai bên và có nguời
phán xử Vì vậy, nguyên tắc tranh tụng trở thành một nguyên tắc quan trọng,
đặc trưng của hoạt động tư pháp Xét xử là xử lý mối quan hệ giữa một bên
công tô và bên kia bị cáo và luật sư, ở giữa là vai trò của tòa án Sự chủ động,
sáng tạo, trách nhiệm của Tòa án đến đâu chính là biểu hiện của nguyên tắc
tranh tụng, c ố t lõi vấn đề ở đây là vai trò điều khiển phiên toà của Thẩm phán chủ
toạ phiên Tòa án.19 Tòa án phải thể hiện vai trò như một người trọng tài đích
19 Đào Trí Uc, Chuyên đề: Quyển tư pháp - Vị trí, vai trò của nổ trong hệ thống quyền lực nhà nước
và trong đời sống xã hội trong điển kiện xây dim g x ã hội chù nghĩa.
Trang 36thực giữa luật sư của hai bên, không khác một trận đấu bóng đá đang diễn ra
Một trận đấu bóng đá hay phải do tài sức của hai đội, nhưng vai trò của ông
trọng tài trận đấu, tức là của Thẩm phán là không thể thiếu trong một trận cầu
Trong Nhà nước pháp quyền, người ta chú trọng đến sự phát triển các
thủ tục pháp lý nhằm bảo vệ pháp luật, bảo vệ nhân quyền trước sự tùy tiện của
các cơ quan công quyền Với đặc thù là phải tranh tụng với sự hiện diện của các
bên có quyền lợi tranh chấp hoặc mâu thuẫn nhau dưới sự điều khiển của Thẩm
phán ở vai trò trọng tài, nhiều hoạt động của các cơ quan nhà nước, thậm chí cả
ngoài xã hội đều có xu hướng kế thừa và áp dụng Tuy nhiên, với sự đẩy mạnh
vai trò của tư pháp cùng với những quy định chặt chẽ về thủ tục, người ta e ngại
rằng tình trạng "thủ tục trị" trong Nhà nước pháp quyền sẽ dẫn đến hậu quả của
sự chậm trễ và tốn kém đáng kể cho các hoạt động của nhà nước, mà nhất là
hoạt động của hành pháp; rằng sự kiểm soát của Tòa án đối với hành động hành
chính chủ yếu chỉ liên quan đến việc tuân thủ các quy trình thủ tục đã được định
sẵn sẽ mở đường cho việc vạch lá tìm sâu, ngăn cản sáng kiến của các chủ thể
thay mặt cho nhà nước thực thi công vụ, nhất là của giới công chức
Việc quy định về thủ tục và cơ chế chính là nhằm kiểm soát Chính phủ,
chống lại sự chuyên chế, lạm quyền của các cơ quan nhà nước Hành động của
Chính quyền phải luôn luôn chịu sự ràng buộc của pháp luật và công lý Những
thủ tục pháp lý chặt chẽ của Nhà nước pháp quyền có một ý nghĩa vô cùng quan
trọng, nó có tác dụng như một chiếc barie giữa kẻ mạnh và người yếu, giữa
người thống trị và kẻ bị thống trị để ngăn cản sự xâm phạm của kẻ có quyền và
sức mạnh đối với những cá nhân thụ động và yếu ớt, bảo đảm sự phát triển một
cách bền vững cho mọi quốc gia
1.2.3 CÁC YÊU CẦU ĐÓI VỚI TÒA ÁN TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYÈN
Sự xuât hiện của nhà nước trong đời sống xã hội hiện nay là không thể
thiêu, nhưng thuở ban đầu của sự xuất hiện nhà nước phải gắn liền với nhu cầu,
mà sau này chúng ta gọi là chức năng bảo đảm an ninh cho con người, bằng
nhiêu biện pháp khác nhau của bạo lực, của vũ khí, nhưng chẳng bao lâu xét xử
36
Trang 37một cách hoà bình lại trở thành một trong những biện pháp tốt nhất Vì vậy hoạt động của Nhà nước, sự tồn tại của Nhà nước gắn liền với chức năng xét xử của Nhà nước Ngay từ thời cổ Hy Lạp, La Mã người ta đã khẳng định: Ở đâu có pháp luật thì ở đó có một hệ thống bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm túc Sự bảo đảm đó trước hết phải bằng hoạt động của các cơ quan trong hệ thống các cơ quan Nhà nước Đó là hệ thống các cơ quan tư pháp có chức năng xét xử những hành vi vi phạm pháp luật Nhà nước.
Chính vì vậy, khi đưa ra các tiêu chí về Nhà nước pháp quyền, vai trò của Tòa án được đặt ra như điều kiện tiên quyết không thể thiếu trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Bởi vì, Tòa án là thiết chế có khả năng nhất đảm bảo cho các đặc trưng, bản chất của Nhà nước pháp quyền được thực hiện Xét cho đên cùng, mục đích của Nhà nước pháp quyền là bảo vệ nhân quyền và Tòa án chính là thế chế thực hiện mục đích ấy
Tòa án đã cung cấp cho xã hội một phương pháp xác định sự thật và sự công bằng trong các hành động của tư nhân và Nhà nước trên ba phương diện:
một là, đảm bảo sự bình on cho xã hội, tránh sự trả thù dã man giữa con người
với con người; hai là, cùng với sự phát triển của kinh tế và sự phồn thịnh của xã
hội, chẳng có cơ chế nào quan trọng hơn hệ thống tư pháp để giải quyết các tranh chấp giữa các doanh nghiệp, các công dân và các cơ quan Nhà nước, làm sáng tỏ những điều còn mơ hồ của luật pháp và những quy định buộc phải phục
tùng; ba là, chỉ có hệ thống tư pháp mới có quyền chính thức phán quyết sự hợp
pháp của các hoạt động của hành pháp và lập pháp cũng như hành vi của công dân Tư pháp cũng chính là một trong những biện pháp giới hạn quyền lực nhà nước bảo vệ nhân quyền 20
Thực tế cho thấy khi người ta có quyền lực trong tay, người ta luôn có
xu hướng lạm dụng quyền lực, vi phạm nhân quyền Đe chống lại mọi hành vi cưỡng bức của công quyền, người ta nghĩ ra rất nhiều phương thức, trong đó có phương thức trao cho Tòa án những quyền năng đặc biệt Dù ngành lập pháp ban hành những quy tắc hiến định và thủ tục cho Tòa án, ngành hành pháp có
20 Nsuvễn Đãnạ Dung (2005), Sựhcm chế quyền lục nhà nước, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 560
37
Trang 38quyền chỉ định các Thẩm phán nhưng không một cá nhân, tổ chức nào kể cả Chính phủ và Quốc hội có quyền chỉ thị cho Thẩm phán hoặc bãi chức, miễn chức của Thẩm phán vì lý do bất đồng quan điểm Trên tất cả điều đó, nguyên tắc ngự trị vẫn là tính độc lập của Tòa án Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của nền tư pháp trong Nhà nước pháp quyền Tư pháp có độc lập thì mới đảm bảo được tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật, đảm bảo được nguyên tắc phân quyền và có khả năng kiểm soát, giới hạn quyền lực nhà nước
và cũng để đảm bảo các quyền con người
1) Tòa án trong Nhà nước pháp quyền - thiết chế độc lập.
Trong Nhà nước hiện đại, nguyên tắc độc lập của Tòa án có nguồn gốc
từ học thuyết phân quyền, theo đó quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp tạo thành 3 nhánh độc lập của Nhà nước, đặc biệt hơn là hình thành một cơ chế chế ước và cân bằng lẫn nhau, nhằm ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực làm tốn hại đến xã hội tự do Sự độc lập này có nghĩa là cả hệ thống Tòa án với tư cách là một thiết chế, cũng như từng Thẩm phán giải quyết các vụ việc phải có khả năng thực hiện trách nhiệm nghề nghiệp của mình mà không chịu ảnh hưởng của các cành quyền lực lập pháp, và hành pháp Dựa trên nguyên tắc phân quyền, quyền lực của Tòa án phải được tách rời khỏi sự ảnh hưởng của quyền lực lập pháp và
tư pháp Sự tách quyền tư pháp ra khỏi quyền lập pháp và nhất là hành pháp là một thành công rất lớn của cách mạng dân chủ tư sản
Khi phân biệt các loại hình chính thể, người ta chỉ căn cứ vào mối quan
hệ giữa hai nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp Tuy nhiên, khi nói đến dân chủ và Nhà nước pháp quyền là người ta nói đến sự độc lập của Tư pháp Tư tưởng này xuất hiện từ sớm trong tổ chức quyền lực nhà nước nhưng không phải được chấp thuận ngay bởi các cơ quan quyền lực khác Nó chỉ trở thành yêu cầu tất yếu trong một xã hội dân chủ thông qua quá trình lịch sử phát triển của thực tiễn chính trị - pháp lý và tư duy pháp lý của nhân loại
Hệ thống Tòa án với tư cách là một thể thống nhất được giao chức năng xét xử các tranh chấp giữa người dân vó’i nhau, hoặc giữa người dân với các cơquan Nhà nước Đương nhiên là có nhiều cách thức để giải quyết tranh chấp
38
Trang 39khác nhau, đặc biệt khi tranh chấp không mang bản chất hình sự, và các bên trong tranh chấp có thế không chọn Tòa án là cơ quan phân xử đầu tiên Họ có thê gặp gõ' nhau đế thỏa thuận về một biện pháp giải quyết được chấp nhận bởi
cả hai bên; hay họ có thể yêu cầu một bên thứ ba, ví dụ như trọng tài hoặc hòa giải viên đế giúp họ giải quyết tranh chấp Những cách thức này thường được ưa chuộng vì đỡ tốn kém Chính quyền cũng thường khuyến khích cách giải quyết này mỗi khi có thể Tuy nhiên khi cách thức giải quyết bằng con đường Nhà nước được lựa chọn thi chính Tòa án là cơ quan Nhà nước được giao quyền xét
xử vụ việc Phán quyết của Tòa án đối với vụ việc được bảo đảm bằng sự cưỡng chê của Nhà nước Điều này chính là đặc trưng của hoạt động xét xử của Tòa án
Trong ba nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp, thì chỉ tư pháp với vai trò của mình mới có quyền năng buộc hai ngành kia phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và thi hành các điều khoản của Hiến pháp Điều này dẫn đên việc các ngành lập pháp và hành pháp luôn tìm các biện pháp và hình thức khác nhau đế kìm hãm ngành tư pháp, như chỉ định các quan tòa lâm thời với nhiệm kỳ ngắn hạn, không có khả năng cương quyết cho việc thi hành chức năng xét xử của Tòa án
Tính độc lập của Tòa án chính là một điều kiện không thể thiếu để bảo đảm cho sự duy trì nguyên tắc Nhà nước pháp quyền trong một hệ thống pháp
lý Tính độc lập của Tòa án có địa vị như là một điều kiện của Nhà nước pháp quyền: không có cái thứ nhất thì cái thứ hai sẽ không thể tồn tại được.21
Các Tòa án ở nhiều nước trên thế giới đang từng bước thoát khỏi sự kiêm soát của cơ quan hành pháp và lập pháp Lịch sử của các nước phát triển cho thấy rằng quá trình này có thể mất hàng thập kỷ Khi vai trò của các nhà lập pháp, hành pháp và quan tòa được trao cho ba cơ quan khác nhau, sự quản lý tùy tiện sẽ lchông còn hoặc ít nhất là có cơ sở cho việc bị hạn chế Tính độc lập của
Tư pháp cho phép các quan tòa đưa ra những phán quyết đúng đắn, không những chông lại số đông của đa số nhân dân vì không kịp nhận ra, mà còn có thể
21 Georg Heinrich Hội thảo "JLidical Independence and Incompatibilities o f the Office o f Judge with Other Activities" do Hội đồng châu Âu phối họp với Tòa án Tối cao Kyrgyzstan vào ngày 20 -
2 1 /4 /1 9 9 8
39
Trang 40chống lại quyền lợi của các cành quyền lực nhà nước khác Hệ thống tư pháp cần phải đưa ra những đối trọng đối với những hành động tùy tiện của Nhà nước Việc buộc các nhà cầm quyền phải tuân theo luật pháp là mong muôn tôn tại rất lâu trong một nền dân chủ Khi các nhà cai trị chấp nhận nguyên lý này, thì vấn đề đặt ngay ra là phải có những thể chế cụ thể quyết định trong trường hợp nào các cơ quan Nhà nước vi phạm pháp luật và các biện pháp trừng phạt hợp lý kèm theo.22 Tòa án chính là một thể chế được giao trọng trách này Vậy, làm thế nào đảm bảo được tính độc lập thực sự của Tòa án trước hai cơ quan quyền lực lập pháp và hành pháp?
Để tăng cường sức mạnh cho Tòa án, Nhà nước phát triển đã nghĩ ra rất nhiều phương thức bảo đảm cho sự độc lập của Tòa án Đó là cách thức tổ chức
và hoạt động của Tòa án (Tòa án phải thực sự độc lập cả về tố chức lẫn hoạt động chứ không phải chỉ khi xét xử); nhiệm kỳ bền vững và chế độ lương bổng cao, tăng cường trách nhiệm của Thẩm phán, thẩm quyền xét xử theo lương tâm Nguyên tắc Tòa án độc lập chỉ tuân theo pháp luật phải được ghi nhận trong Hiến pháp - bản khế ước của toàn xã hội để chính bản thân các ngành quyền lực còn lại cũng không được xâm phạm
Từ góc độ lý thuyết, vấn đề bảo vệ quyền con người và tính độc lập của Tòa án có mối liên hệ mật thiết với nhau Hệ thống Tòa án thường được giao nhiệm vụ bảo vệ quyền con người Tính độc lập của Tòa án như là một điều kiện không thể thiếu để Tòa án có thể thực hiện được nhiệm vụ nói trên Trong số 3 nhánh quyền lực, thì chỉ có hệ thống Tòa án độc lập, khách quan, với tư cách là công cụ kiềm chế cần thiết đối với sự lạm quyền tiềm tàng từ phía lập pháp và hành pháp, mới có thể bảo vệ được quyền con người.23 Trong 3 nhánh quyền lực, thì hệ thống tư pháp - Tòa án được giao quyền tối cao trong việc giải quyết các mâu thuẫn cá nhân với cá nhân và cá nhân với Nhà nước Nhu cầu bảo vệ quyền con người thường phát sinh trong những vụ việc mà thương là cá nhân kiện các cơ quan Nhà nước Môi khi có những vụ việc như vậy, Tòa án có thê
22.Nguyễn Đăng Dung (2005), Sự hạn chế qiiyền ỉụ-c nhà nước, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr213.
23 Monica Macovei, Protection o f Human Rights by the Judiciary in Romania, in Judicial Protectbn of Hiunan Rights: M.yth or Reality (1999) edt Mark Gibney and Stanislavv Frankowski, p 6
40