1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tư tưởng nhân văn của nguyễn trãi trong tác phẩm quân trung từ mệnh tập

81 402 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh xã hội Việt Nam hiện nay, kinh tế phát triển, hội nhập quốc tế sâu rộng thì cũng chính là lúc nảy sinh nhiều vấn đề đáng lo ngại như đạo đức con người băng hoại; giá trị t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VŨ VĂN CÔNG

TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN CỦA NGUYỄN TRÃI TRONG TÁC PHẨM

“QUÂN TRUNG TỪ MỆNH TẬP”

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: TRIẾT HỌC

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy (cô) trong Khoa triết học- Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn cao học

Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Thị Lan, người đã tận tình dành nhiều thời gian quý báu để giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình tiến hành nghiên cứu và đóng góp những ý kiến quan trọng giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn cao học này

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến những người bạn và người thân trong gia đình tôi, những người đã ủng hộ tôi về mặt tinh thần và tạo mọi điều kiện giúp tôi có thể hoàn thành luận văn của mình

Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã rất cố gắng nhưng luận văn của tôi vẫn còn nhiều thiếu sót, tôi kính mong nhận được sự bổ sung, đóng góp ý kiến quý giá của các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp và độc giả để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn

Hà Nội ngày 24 tháng 01 năm 2018

Tác giả luận văn

Vũ Văn Công

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 8

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 12

6 Đóng góp của luận văn 12

7 Kết cấu luận văn 12

CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH VÀ TIỀN ĐÊ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN CỦA NGUYỄN TRÃI 13

1.1 Khái niệm tư tưởng nhân văn 13

1.2 Những nhân tố hình thành và phát triển tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi 21

1.2.1 Điều kiện kinh tế- chính trị- xã hội 21

1.2.2 Tiền đề văn hóa- tư tưởng 27

1.3 Cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Trãi và tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” 33

1.3.1 Cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Trãi 33

1.3.2 Tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” 37

CHƯƠNG 2 TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN CỦA NGUYỄN TRÃI TRONG TÁC PHẨM “QUÂN TRUNG TỪ MỆNH TẬP”- NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ Ý NGHĨA 40

2.1 Những nội dung cơ bản trong tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi qua tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” 40

2.1.1 Tư tưởng về quyền được sống trong một quốc gia độc lập, tự chủ với phong kiến phương Bắc 40

Trang 5

2.1.2 Tư tưởng coi trọng sinh mệnh của con người 47

2.1.3 Tư tưởng coi trọng nhân nghĩa trong đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc và trị nước 52

2.2 Ý nghĩa tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi qua tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” 61

2.2.1 Ý nghĩa trong bối cảnh đương thời 61

2.2.2 Ý nghĩa trong thời đại ngày nay 65

KẾT LUẬN 73

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là cuộc đấu tranh bền bỉ, không mỏi mệt trước các thế lực ngoại xâm hùng mạnh, nhiều dã tâm và thủ đoạn, hiếu chiến Lần theo những trang sử vàng đó, vào thế kỉ XV cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược hơn 20 năm (1406-1427) của nhân dân ta kết thúc thắng lợi trọn vẹn là một trong những chiến thắng vĩ đại và hào hùng nhất lịch sử dân tộc

Dưới sự lãnh đạo của Bình Định Vương Lê Lợi, nghĩa quân Lam Sơn và nhân dân ta đã đánh đuổi hoàn toàn giặc Minh ra khỏi bờ cõi Đất nước sạch bóng quân thù, nỗi nhục ngàn năm được gột rửa, nền thái bình ngày càng vững chắc Đóng góp vào những chiến công oanh liệt: Ninh Kiều, Tốt Động- Chúc Động, Chi Lăng, Xương Giang…có sự cống hiến âm thầm của một con người tài năng trí dũng song toàn- Nguyễn Trãi Là “Trương Lương- Tử Phòng trong màn trướng của Lê Lợi”- Nguyễn Trãi chính là vị quân sư kiệt xuất tham mưu, đề ra những đường lối, chủ trương hợp thời, giúp Bình Định Vương có những quyết sách đúng đắn cho những trận chiến tạo bước ngoặt Nguyễn Trãi được Lê Lợi giao cho nhiệm vụ soạn thư từ cho các tướng địch và giấy tờ giao thiệp với triều đình nhà Minh Đó là một trọng trách nặng

nề Bởi mục đích to lớn của nó là đánh vào “ý chí xâm lược của kẻ thù” buộc chúng phải rút binh, tôn trọng nền độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ của Đại Việt, tạo điều kiện bình thường hóa quan hệ hai nước Các công văn giấy tờ

đó được gom lại thành “Quân trung từ mệnh tập” Với kiến thức uyên thâm, hiểu biết thời thế, biết địch biết ta, cùng tài văn chương cái thế, những lời lẽ mềm dẻo nhưng cũng đầy đanh thép, Nguyễn Trãi đã buộc những tên tướng

Trang 7

hiếu chiến, lỳ lợm nhà Minh phải từng bước đầu hàng và chấp nhận rút quân

về nước trong danh dự, buộc phải công nhận nền độc lập của Đại Việt

Đằng sau văn tài xuất chúng ấy, “Quân trung từ mệnh tập” còn biểu hiện tinh thần nhiệt huyết được cống hiến sức mình cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, mong muốn binh đao loạn lạc chấm dứt để xây dựng một đất nước Đại Việt thái bình thịnh trị của Ức Trai Mọi hành động của Nguyễn Trãi đều xuất phát từ tư tưởng yêu nước, tấm lòng vị tha, yêu thương con người, quý trọng sinh mệnh con người, mong muốn xây dựng mối quan hệ giữa con người một cách hài hòa, bao dung của ông Đó chính là biểu hiện giá trị nhân văn trong tư tưởng của ông

Tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi trong tác phẩm này biểu hiện hết sức linh hoạt, quyền biến qua các chính sách quân sự, ngoại giao, nội chính…đã giúp đẩy lùi được nhiều cuộc chiến đẫm máu không cần thiết giữa hai bên (nghĩa quân Lam Sơn và giặc Minh- tác giả) làm nhụt nhuệ khí của kẻ thù, làm cho kẻ thù thấy được tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến dân tộc, buộc kẻ thù phải buông vũ khí đầu hàng, biến mọi thù hằn dân tộc trở thành hòa khí giữa hai quốc gia- dân tộc Tư tưởng đó không chỉ có ý nghĩa lịch sử trong thời đại của ông

mà nó còn là di sản quý báu của dân tộc Việt Nam

Trong bối cảnh xã hội Việt Nam hiện nay, kinh tế phát triển, hội nhập quốc tế sâu rộng thì cũng chính là lúc nảy sinh nhiều vấn đề đáng lo ngại như đạo đức con người băng hoại; giá trị truyền thống dân tộc bị mai một; nguy cơ chiến tranh khu vực, xung đột sắc tộc- tôn giáo, khủng bố…Cho nên, việc nghiên cứu tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi để quay trở về tìm hiểu, giữ gìn và phát huy những giá trị nhân văn, bản sắc văn hóa, những đạo đức truyền thống dân tộc là yêu cầu cấp thiết cần tiếp tục khai thác và kế thừa

Trang 8

Vì những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: Tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi trong tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” là đề tài luận văn tốt

nghiệp thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong lịch sử Việt Nam, Nguyễn Trãi là một trong những anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, một nhà tư tưởng lớn ở thế kỷ XV Tư tưởng Nguyễn Trãi đã phản ánh nhiều mặt của xã hội Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIV đến đầu thế kỉ XV như chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hoá; về vai trò của nhân dân, về lý tưởng xã hội, v.v Những tư tưởng ấy của Nguyễn Trãi không chỉ có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn đối với xã hội đương thời,

mà còn có ảnh hưởng sâu sắc trong toàn bộ lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung

Hàng trăm năm qua, ở nước ta việc nghiên cứu tư tưởng triết học- chính trị của Nguyễn Trãi luôn thu hút được sự quan tâm rộng rãi của giới nghiên cứu Chúng tôi xin đề cập đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về những nhân tố hình thành nguồn gốc hình thành tư tưởng của Nguyễn Trãi, ảnh hưởng của Nho giáo trong tư tưởng Nguyễn Trãi

Công trình nghiên cứu: “Tư tưởng Nguyễn Trãi trong tiến trình lịch sử Việt Nam” của tác giả Võ Xuân Đàn, (Nxb Văn hoá thông tin, năm 1996) Trong đó, tác giả có giới thiệu về nguồn gốc và các giai đoạn hình thành toàn

bộ tư tưởng của Nguyễn Trãi trong tiến trình lịch sử Việt Nam

Các công trình “Nguyễn Trãi một vĩ nhân vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam” (Nxb Sử học, Hà Nội, 1962), “Nguyễn Trãi cuộc đời và sự nghiệp” (Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2000) của Trần Huy Liệu đã chỉ rõ nguồn gốc gia đình, quê hương và con đường cứu nước với vai trò mưu thần

Trang 9

chiến lược của khởi nghĩa Lam Sơn và nhà thiết kế cho sự nghiệp xây dựng đất nước sau khi giành được độc lập của nhà Lê Sơ Trong đó lý giải về nguồn gốc tư tưởng nhân nghĩa, tư tưởng thân dân, lòng tự hào dân tộc của Nguyễn Trãi được tác giả phân tích từ nhiều khía cạnh rất sâu sắc

Công trình: Tư tưởng nhân văn của Nho giáo và ảnh hưởng của nó trong

tư tưởng của Nguyễn Trãi (Triệu Quang Minh, Viện hàn lầm khoa học xã hội

Việt Nam, Học viện Khoa học- xã hội, Hà Nội, 2014) Trong luận án tiến sĩ này tác giả đã đi sâu nghiên cứu những ảnh hưởng tư tưởng nhân văn của Nho giáo đến tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi, thấy được những đặc sắc trong việc kế thừa tư tưởng nhân văn Nho giáo cũng như đóng góp mới mẻ tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi

Các bài viết của PGS TS Trần Nguyên Việt như “Tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi trong Quân trung từ mệnh tập” đăng trên Tạp chí Triết học, số 8, năm 2002 đã nêu bật: tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi dựa trên những nguyên lý cơ bản của học thuyết chính trị - đạo đức Nho giáo để phản bác lại tư tưởng Hoa Hạ và chính sách xâm lược tàn bạo của nhà Minh Đề cao nhân nghĩa mong muốn chấm dứt chiến tranh loạn lạc, tránh thêm cảnh đầu rơi máu chảy, nhân dân hai nước lầm than Hay trong bài viết: “Tư tưởng khoan dung của Khổng Tử và sự thể hiện nó ở Nguyễn Trãi” đăng trên Tạp chí Triết học,

số 2, năm 2011 Trên cơ sở phân tích khái niệm khoan dung, tư tưởng khoan dung của Khổng Tử, khoan dung trong tư tưởng Nguyễn Trãi, tác giả kết luận:

“Tư tưởng khoan dung của Nguyễn Trãi thấm đậm đạo đức nhân nghĩa của Nho giáo, nhờ đó ở ông chủ nghĩa nhân văn được biểu hiện một cách rõ nét,

đó là tình thương yêu con người Lòng trắc ẩn của ông đã vượt ra khỏi phạm

vi yêu thương con người thân tộc, ruột thịt của Khổng Tử để cứu dân binh hai nước thoát khỏi chiến tranh đẫm máu, thực hiện mục đích “Hồ Việt nhất gia”” [68, tr.16]

Trang 10

Thứ hai, các công trình nghiên cứu về tư tưởng triết học- chính trị của Nguyễn Trãi

Tác phẩm “Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học Nguyễn Trãi” do Doãn Chính chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, 2015 Trong đó, tác giả đã chỉ rõ những giá trị của truyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại đối với sự hình thành tư tưởng triết học Nguyễn Trãi Tinh thần yêu nước, đoàn kết nhân dân và ý chí độc lập dân tộc là truyền thống vẻ vang, cao đẹp nhất của các thế hệ người Việt đã được Nguyễn Trãi tiếp thu và phát triển một cách toàn diện, sâu sắc

Công trình “Nguyễn Trãi - Nhà tư tưởng vĩ đại của thế kỷ XV và của

lịch sử tư tưởng dân tộc”, in trong công trình “Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập

1” của GS Nguyễn Tài Thư trong (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993) đã phân tích tư tưởng yêu nước và tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi, đặc biệt là tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc Đồng thời, tác giả cũng trình bày một cách sâu sắc về đạo làm người trong tư tưởng của ông với đạo

lý “cương, thường” làm gốc rễ

Công trình nghiên cứu của PGS Trần Đình Hượu: “Nguyễn Trãi và nho giáo, Nguyễn Trãi và văn hóa Việt Nam trung cận đại”, (Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1998) Nhất là công trình nghiên cứu của Phạm Văn Đồng - Võ Nguyên Giáp: “Nguyễn Trãi người anh hùng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất” (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1982) đã phân tích sâu sắc về tư tưởng yêu nước, thương dân, tư tưởng văn hóa của ông Nhìn chung các công trình này đều tập trung phân tích tư tưởng cốt lõi của Nguyễn Trãi đó là tư tưởng về dân, tư tưởng nhân nghĩa và tư tưởng về quốc gia dân tộc

Bài viết “Về tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi” của hai tác giả

Lương Minh Cừ và Nguyễn Thị Hương đăng trên Tạp chí Triết học, số 11,

tháng 11- 2007khẳng định: tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là một triết

Trang 11

lý sâu sắc, cốt lõi, bao trùm toàn bộ cuộc đời ông Bài viết đã phân tích tư tưởng nhân nghĩa trên nhiều khía cạnh: nhân nghĩa là thương dân, vì dân, an dân; nhân nghĩa là sự khoan dung, độ lượng; nhân nghĩa là lý tưởng xây dựng đất nước thái bình…Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi kế thừa quan điểm nhân nghĩa Nho giáo, nhưng đã được mở rộng, phát triển hơn, tạo nên dấu ấn đặc sắc trong lịch sử tư tưởng Việt Nam

Các công trình trên đây chủ yếu nghiên cứu tư tưởng triết học- chính trị của Nguyễn Trãi nói chung, mà chưa đề cập đến tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi trong tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” nói riêng Những kết quả nghiên cứu của các học giả đi trước là tài liệu quan trọng, hữu ích được tác giả tiếp tục đi sâu nghiên cứu tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi trong tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: phân tích và làm sáng tỏ những nội dung cơ bản

trong tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi trong tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” và ý nghĩa của nó

Để đạt được mục đích đó tác giả xác định nhiệm vụ nghiên cứu sau:

Thứ nhất, nghiên cứu điều kiện, tiền đề hình thành tư tưởng nhân văn

của Nguyễn Trãi trong tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập”

Thứ hai, làm sáng tỏ những nội dung cơ bản và chỉ ra những ý nghĩa tư

tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi trong tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập”

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi

Phạm vi nghiên cứu: tác giả xác định nghiên cứu tư tưởng nhân văn của

Nguyễn Trãi thông qua các văn kiện do Nguyễn Trãi được lệnh soạn thảo, nhân danh Bình Định Vương Lê Lợi gửi các tướng lĩnh nhà Minh, ngụy quan người Việt làm tay sai cho giặc cũng như quân dân cả nước trong thời kì

Trang 12

kháng chiến chống giặc Minh (1423- 1427) được tập hợp lại với tên gọi

“Quân trung từ mệnh tập” Tác giả sử dụng văn bản “Quân trung từ mệnh tập” trích trong “Nguyễn Trãi toàn tập, tân biên”, tập 1 do Mai Quốc Liên chủ biên (Nxb Văn học, Hà Nội, 2001) làm tài liệu để nghiên cứu

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: Tác giả nghiên cứu tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi trong tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” trên cơ sở chủ nghĩa Mác- Lênin, phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về chính trị, xã hội, con người, nhân văn

Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, tổng hợp, lịch sử - logic, khái quát hóa, so sánh, phương pháp liên ngành: nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học với sử học, văn học, chính trị học…trong quá trình thực hiện luận văn

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn góp phần làm rõ nội dung và khẳng định giá trị tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi nói chung và trong tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” nói riêng, đóng góp thêm một cách hiểu vào phần nhận thức chung về tư tưởng của Nguyễn Trãi

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu giảng dạy về lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung, tư tưởng Nguyễn Trãi nói riêng

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 2 chương và 5 tiết

Trang 13

CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH VÀ TIỀN ĐÊ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG

NHÂN VĂN CỦA NGUYỄN TRÃI 1.1 Khái niệm tư tưởng nhân văn

Ở phương Tây, thuật ngữ “nhân văn” có gốc tiếng Latinh là “homo” tức

con người, gắn liền với nó là một loạt thuật ngữ mang tính dịch nghĩa, bổ trợ: Humanus tức thuộc về con người, hay bản tính, bản chất người hoặc coi trọng con người; Humanitas tức khoa học nghiên cứu về con người (bản chất, cá tính, vị trí, giá trị… của con người) và tự nhiên; Humanism được dùng phổ biến hơn cả và được dịch là chủ nghĩa nhân văn, chủ nghĩa nhân đạo…

Khởi nguyên của “humanism” như là một chương trình giáo dục- văn hóa được các nhà triết học Hy Lạp cổ đại vào khoảng thế kỉ V - IV TCN xây dựng nên thông qua các bài học, lí luận triết học, đạo đức học về đạo làm người Chương trình này nhằm phát triển một cách toàn diện tài năng và sự sáng tạo cao nhất những năng lực bản chất của con người Mặc dù vậy, ngôn ngữ Hy Lạp không có từ Humanism Tuy nhiên, mối quan tâm đối với con người và những chân giá trị của họ luôn là tâm điểm trong tư duy của người

Hy Lạp Sự quan tâm này đã được thể hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau như triết học, nghệ thuật, lịch sử

Cuối thời Trung cổ, ở châu Âu xuất hiện “phong trào văn hóa Phục

hưng” (tiếng Pháp: Renaissance có nghĩa là tái sinh) nhằm khôi phục nền văn

hóa cổ điển, trở về với tinh thần nhân văn của nền văn minh Hy- La Thời kì Phục hưng, những tư tưởng nhân văn đã đơm hoa kết trái, là trào lưu tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt, trở thành chủ nghĩa nhân văn Nội dung cơ bản của nó là đặt con người vào vị trí trung tâm để đấu tranh chống lại sự thống trị của giáo

Trang 14

lý Cơ đốc giáo lấy thần làm trung tâm Do đó, nó thể hiện sự phản ứng mạnh

mẽ chống lại thần quyền và tôn giáo; đòi quyền sống tự do, quyền hưởng thụ

tự nhiên cho con người; khẳng định vẻ đẹp của con người trần thế với những khả năng vô tận Từ đó, những khát vọng muôn thuở của con người như tình yêu, hạnh phúc, cái đẹp, tự do, khoái lạc Chính những tư tưởng mới này đã làm xuất hiện những lí tưởng mới về công bằng xã hội, hình thành quan điểm đạo đức mới và nhấn mạnh, đề cao các giá trị phổ quát của con người như tự

do, công lí, phẩm giá, hạnh phúc, quyền con người

Chủ nghĩa nhân văn là sản phẩm của thời kỳ Phục hưng thế kỷ XV, nhưng đến tận thế kỷ XIX thuật ngữ “chủ nghĩa nhân văn” mới xuất hiện Năm 1808, Friedrich Immanuel Niethammer ủy viên giáo dục xứ Bavarian

đề xuất thuật ngữ Humanismus để miêu tả chương trình giáo dục các phẩm

chất Người của con người trong các trường trung học Đức Vào năm 1836 từ

“humanism” được đưa vào tiếng Anh Năm 1856, nhà ngữ văn và lịch sử người Đức Georg Voigt sử dụng từ “Humanism” để miêu tả về phong trào nhân văn Phục hưng ở phương Tây (thế kỉ XIV - XVI) khởi nguồn từ nước Ý sau đó lan rộng ra các nước Tây Âu

Ngày nay, nội hàm của khái niệm humanism rất rộng và đa nghĩa Thông thường, nó được hiểu theo hai nghĩa cơ bản là nghĩa hẹp và nghĩa rộng Theo nghĩa hẹp, khái niệm Humanism được dùng để chỉ trào lưu triết học, văn hóa, nghệ thuật tiến bộ thời kì Phục hưng ở châu Âu (thế kỉ XIV- XVI) hướng đến việc giải phóng cá tính con người khỏi những ràng buộc và sự trì trệ của tư tưởng phong kiến, chủ nghĩa kinh viện và thần học Cơ đốc giáo Theo nghĩa

rộng, khái niệm Humanism dùng để chỉ bất kì học thuyết, trào lưu tư tưởng,

văn hóa, nghệ thuật nào công nhận và lấy “con người là thực thể cao nhất đối với con người”

Trang 15

Ở phương Đông mà cụ thể là Trung Quốc, vào thế kỉ VI TCN, trong khi

phương Tây dần bước vào giai đoạn phát triển cực thịnh với nền văn minh Hy

La rực rỡ thì tại xã hội Trung Quốc cổ đại cũng có những chuyển biến căn bản từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang phong kiến Giai đoạn xã hội loạn lạc này

đã này sinh rất nhiều các trào lưu tư tưởng lớn có ảnh hưởng suốt chiều dài lịch sử các nước phương Đông: Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo…Trong điều kiện chiến tranh liên miên giữa các quốc gia (Xuân Thu- Chiến Quốc), mạng sống con người bị coi rẻ dưới con mắt những kẻ cầm quyền thì việc đề cao con người, đặt con người vào vị trí trung tâm trong học thuyết của các nhà tư tưởng là điều dễ hiểu

Nhân văn theo Hán tự thì “nhân” là người, giống khôn nhất trong các

loài động vật, “văn” là cái dấu vết do đạo đức lễ nhạc giáo hoá mà có Theo

Hán Việt từ điển trích dẫn thì “Nhân văn là: “chỉ lễ nhạc giáo hoá, phiếm chỉ các hiện tượng văn hoá trong xã hội loài người, việc đời, nhân sự, tập tục, phong tục” [75] Nhân văn xuất hiện khá sớm trong các tư liệu Hán cổ của

Trung Quốc Trong Thoán truyện Kinh Dịch có câu: “Thoán viết: Bí hanh, nhu lai nhi văn cương, cố hanh; phân cương thượng nhi văn nhu, cố tiểu lợi hữu du vãng Thiên văn dã, văn minh dĩ chỉ, nhân văn dã Quán hồ thiên văn,

dĩ sát thời biến; quán hồ nhân văn Dĩ hóa thành thiên hạ” (“Thoán truyện” nói: Văn sức, hanh thông, ví như âm mềm đến văn sức cho dương cứng, âm dương văn sức cho nhau, bởi vậy nên hanh thông; lại phân cho dương cứng đi lên văn sức cho âm mềm, cho nên kẻ mềm nhỏ lợi về sự đi (Đẹp của cứng về đẹp của mềm xen lẫn vào nhau) đó là văn thái của trời; vẻ sáng sủa ngưng tụ lại trong lễ nghi, đó là văn thái của nhân loại Quan sát văn thái của trời, có thể biết được quy luật chuyển đổi bốn mùa; quan sát văn thái của nhân loại, có thể đẩy sự giáo hóa nhanh chóng lan tỏa trong thiên hạ”) [21, tr.497- 498] Tư tưởng khá tiêu biểu về quan trắc thiên văn, nắm vững biến hóa của thời gian; quan sát

Trang 16

nhân tình thế thái, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, thi hành giáo hóa, cải tạo

xã hội nhân luân của Kinh Dịch, cho thấy thuật ngữ “nhân văn” được xem xét với nghĩa văn hóa, lễ nghĩa, phong tục … của loài người

Do điều kiện lịch sử cụ thể khác với phương Tây cổ đại, chính vì vậy mà khái niệm “nhân văn” của phương Đông có nội dung cũng không trùng khít với “humanism” mà Phương Tây vẫn sử dụng Tư tưởng nhân văn xuất hiện trong lịch sử tư tưởng Phương Đông khá sớm và thể hiện tập trung trong giáo

lý của các tôn giáo lớn như Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo nhưng hiếm khi nào người ta đặt vấn đề định nghĩa xem cụ thể nhân văn là gì Chính vì đặt con người vào các vị trí trang trọng cho nên các trào lưu tư tưởng và các tôn giáo lớn ở Phương Đông bên cạnh những hạn chế, đều mang tính tích cực từ khởi nguyên với các tư tưởng nhân văn Ở phương Đông, đặc biệt là Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng của Tam giáo: Nho giáo, Phật giáo và Lão giáo, buổi đầu, tư tưởng nhân văn là tổng hòa các tư tưởng thời cổ đại, học thuyết nhân nghĩa của Nho giáo, tư tưởng “từ bi bác ái” của Phật giáo, những yếu tố giải phóng tư duy con người trong tư tưởng Lão- Trang Tư tưởng nhân văn phương Đông thường chú trọng đến sự hài hòa giữa con người với tự nhiên

Nhân văn là một giá trị phổ biến của nhân loại nhưng cái phổ biến đó

được tạo nên bởi các đặc thù của từng quốc gia, dân tộc, từng thời kì lịch sử

khác nhau Qua đó có thể thấy rằng nghĩa của thuật ngữ nhân văn ở phương Đông không giống như Humanism của Phương Tây Tuy mỗi nền văn hóa,

mỗi thời đại có cách tiếp cận, thể hiện, cách thực hiện thuật ngữ “Nhân văn” khác nhau Nhưng đều có điểm chung là hướng đến con người, vì cuộc sống hạnh phúc của con người và vì sự phát triển toàn diện của con người

Hiện nay, có nhiều quan niệm mới về chủ nghĩa nhân văn Đặc biệt là Tuyên ngôn Amsterdam 2002 về chủ nghĩa nhân văn mới, hiện đại Chiều

ngày 6-7-2002, Hội thảo quốc tế: Tính đa dạng của con người, quyền con

Trang 17

người và chủ nghĩa nhân văn tại Amstersdam, Hà Lan đã ra tuyên bố về chủ

nghĩa nhân văn (Tuyên ngôn Amsterdam 2002) với nội dung sau đây: “Chủ nghĩa nhân văn là sản phẩm truyền thống lâu dài của tư tưởng tự do đã được nhiều nhà tư tưởng lớn và nhiều nhà sáng tạo nghệ thuật thế giới nêu ra và tự

nó đã phát triển thành một khoa học Chủ nghĩa nhân văn hiện đại bao gồm các yếu tố cơ bản sau:

1- Chủ nghĩa nhân văn mang tính đạo đức Nó khẳng định giá trị, sự tôn nghiêm và tính tự chủ của cá nhân, khẳng định quyền của mọi người đối với

tự do lớn nhất có thể khi quyền đó tương hợp (không mâu thuẫn) với quyền lợi người khác Nhà nhân văn có nhiệm vụ chăm lo cho toàn nhân loại kể cả thế hệ tương lai Nhà nhân văn tin tưởng rằng đạo đức là một phần cố hữu của bản tính con người dựa trên sự hiểu biết và quan tâm đến người khác không cần đến tác động (thưởng phạt) từ bên ngoài

2- Chủ nghĩa nhân văn mang tính chất lý tính Nó tìm cách sử dụng khoa học một cách sáng tạo chứ không phá hoại Nhà nhân văn tin tưởng rằng con đường giải quyết các vấn đề của thế giới nằm trong tư tưởng và hành động của con người hơn là sự can thiệp của thần thánh Chủ nghĩa nhân văn tán thành việc áp dụng các phương pháp khoa học và tự do chất vấn những vấn đề phúc lợi cho con người Nhưng nhà nhân văn cũng tin rằng việc ứng dụng khoa học kỹ thuật phải tuân theo những giá trị của con người Khoa học cho con người phương tiện nhưng những giá trị con người phải quyết định mục đích

3- Chủ nghĩa nhân văn ủng hộ dân chủ và quyền con người Mục tiêu của chủ nghĩa nhân văn là sự phát triển đầy đủ nhất theo khả năng mỗi người Chủ nghĩa nhân văn luôn chủ trương rằng dân chủ và phát triển con người là bản chất của quyền con người Nguyên tắc của dân chủ và quyền con người

Trang 18

có thể áp dụng cho nhiều mối quan hệ giữa người và người và không đi ngược lại với chính sách của Chính phủ

4- Chủ nghĩa nhân văn chủ trương tự do cá nhân phải đi đôi với trách nhiệm xã hội Chủ nghĩa nhân văn nỗ lực xây dựng một thế giới dựa trên cơ

sở ý tưởng về con người tự do có trách nhiệm xã hội, con người chấp nhận sự

lệ thuộc và trách nhiệm của mình đối với thế giới tự nhiên Chủ nghĩa nhân văn không giáo điều, cũng không áp đặt giáo điều cho những người tin theo Chủ nghĩa nhân văn Vì thế Chủ nghĩa nhân văn đặt toàn tâm vào một nền giáo dục tự do không giáo hóa

5- Chủ nghĩa nhân văn là một đáp ứng đối với yêu cầu rộng rãi nhằm thay thế cho những tôn giáo giáo điều Những tôn giáo lớn trên thế giới đều khẳng định là được đặt nền tảng của những chân lý vĩnh hằng và luôn tìm cách áp đặt thế giới quan của mình lên tất cả mọi người Chủ nghĩa nhân văn nhìn nhận rằng những hiểu biết chân thực về thế giới và bản thân con người

có được và từ quá trình liên tục quan sát, đánh giá và rà soát điều chỉnh

6- Chủ nghĩa nhân văn coi trọng sáng tạo nghệ thuật và trí tưởng tượng, thừa nhận sự chuyển đổi sức mạnh nghệ thuật Chủ nghĩa nhân văn khẳng định tầm quan trọng của văn học, âm nhạc và nghệ thuật hình ảnh, sân khấu đối với sự phát triển và thành đạt của con người

7- Chủ nghĩa nhân văn là cách sống nhằm đến sự thành đạt lớn nhất trong khả năng có thể bằng cách trau dồi một cuộc sống đạo đức và sáng tạo, cung cấp những phương tiện đạo đức và hợp lý đối với những thử thách của thời đại chúng ta Chủ nghĩa nhân văn có thể là một cách sống cho tất cả mọi người cho tất cả mọi nơi” [3, tr 72]

Chủ nghĩa nhân văn mới, theo chúng tôi, là đảm bảo hài hòa giữa đạo đức và lý trí, tình cảm tinh thần và pháp lý, giữa dân chủ và quyền con người, giữa tự do cá nhân và cộng đồng, giữa khoa học, lý tưởng tôn giáo và nghệ

Trang 19

thuật, giữa giáo dục và cuộc sống, giữa truyền thống và hiện đại, giữa giá trị phương Đông và phương Tây Tức chủ nghĩa nhân văn như là sự tổng hợp các giá trị người

Việc nghiên cứu khái niệm nhân văn sẽ không đạt được tính khoa học thực sự nếu tách rời, độc lập không đặt trong mối tương quan với các khái niệm nhân bản và nhân đạo Bởi cả ba khái niệm này có vừa có sự tương đồng vừa có sự khác biệt Việc đặt khái niệm nhân văn trong mối tương quan khái niệm nhân bản và nhân đạo nhằm nhận diện chính xác bản chất khoa học khái niệm nhân văn

Theo Từ điển Tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Từ điển

Bách Khoa, Hà Nội năm 2012 thì “Nhân văn: thuộc về văn hóa của lời

người” [59, tr 916] Và cũng trong Từ điển Tiếng Việt này có phân biệt như

sau:

“Chủ nghĩa nhân văn: trào lưu tư tưởng và văn hóa thời phục hưng ở

châu Âu nhằm giải phóng cá nhân con người khỏi sự đè nén tinh thần của chế

độ phong kiến, chủ nghĩa kinh viện và giáo hội

Chủ nghĩa nhân đạo: hệ thống quan điểm coi trọng nhân phẩm, thương

yêu con người, coi trọng quyền của con người được phát triển tự do, coi lợi ích của con người là tiêu chuẩn đánh giá các quan hệ xã hội

Chủ nghĩa nhân bản: quan niệm triết học coi con người chủ yếu chỉ là

một thực thể sinh vật học, giải thích các hiện tượng của đời sống xã hội bằng những thuộc tính và nhu cầu của những con người riêng lẻ, chứ không dựa trên những quy luật lịch sử của sự phát triển xã hội” [59, tr.238-239]

Như vậy, nhân văn đặt trong mối tương quan với nhân bản và nhân đạo có điểm chung là đều đặt trọng tâm ở vấn đề đối xử với con người, mong

con người được tự do và phát triển toàn diện Nhân văn, nhân bản, nhân đạo tuy đồng nghĩa nhưng không đồng nhất

Trang 20

Về cơ bản, “Nhân bản (chủ nghĩa nhân bản) cho rằng con người là một

bộ phận và là sản phẩm cao nhất của tự nhiên và giải thích những đặc điểm và tính chất của con người bằng nguồn gốc tự nhiên của nó… Chủ nghĩa nhân bản nhấn mạnh sự thống nhất giữa con người với tự nhiên, phê phán những quan điểm duy tâm, huyền bí về con người… Tuy có hạn chế là không thấy bản chất xã hội của con người, quan niệm “con người chung chung” với bản tính tự nhiên tách khỏi quá trình phát triển của nó trong xã hội, chưa vượt ra khỏi quan niệm duy tâm về xã hội nhưng đó là một bước tiến lớn trong cách đặt vấn đề và nghiên cứu về con người, là thái độ khoa học đối với con người, con người như một thực thể của cõi sống

“Nhân đạo” hay “chủ nghĩa nhân đạo” là nói đến lòng thương người, đến sự mẫn cảm trước nỗi đau khổ, bất hạnh của đồng loại, không phân biệt dân tộc, giai cấp, tôn giáo, chủng tộc… mong muốn những điều tốt lành, những niềm hạnh phúc đến với mỗi người

Tư tưởng nhân văn đặt con ngưởi ở vị trí trung tâm, đề cập đến số phận, vai trò, bản chất của con người, phản ánh tâm tư, nguyện vọng, ước muốn giải phóng bản thân của con người Xét về thực chất, nhân văn là một giá trị mang tính phổ quát, tổ hợp các yếu tố Chân- Thiện- Mỹ Nó thuộc bản chất người

và là hiện thân của thiên hướng vươn lên và hoàn thiện không ngừng của chính con người Vì thế, nhân văn bao giờ cũng là lý tưởng và mục tiêu mà loài người hằng vươn tới; nó tồn tại và biến thiên, ngày càng thể hiện sức sống mãnh liệt của mình trong suốt tiến trình đi lên của xã hội loài người

Tóm lại, Tư tưởng nhân văn là các quan niệm tích cực về con người, xã

hội loài người, lấy con người làm trung tâm Tư tưởng nhân văn đề cao vai trò,

vị trí, bản chất tốt đẹp của con người; yêu thương, tôn trọng con người, ủng

hộ, đấu tranh vì sự tự do, bình đẳng, sự phát triển, phong phú, toàn diện của loài người không phân biệt chủng tộc, dân tộc, tôn giáo, giai cấp…và ước

Trang 21

vọng xây dựng một xã hội tốt đẹp vì con người trên cơ sở hòa bình, tôn trọng lẫn nhau

1.2 Những nhân tố hình thành và phát triển tư tưởng nhân văn của

Nguyễn Trãi

1.2.1 Điều kiện kinh tế- chính trị- xã hội

Nhà Trần lâm vào khủng hoảng

Nước Đại Việt, từ nửa sau thế kỉ XIV, những dấu hiệu của cuộc khủng hoảng trong xã hội dần xuất hiện Nhà nước không còn quan tâm đến sản xuất nông nghiệp, đê điều dẫn đến mùa màng thất bát Ruộng đất công bị xâm lấn, thu hẹp, nông dân thiếu ruộng cày, đời sống ngày càng bần cùng, khốn khó Cuối thời Trần, vua quan, quý tộc, địa chủ sống xa hoa, xây dựng nhiều dinh thự, chùa chiền kỉ cương phép nước rối loạn, quyền thần lũng đoạn( Chu Văn An dâng sớ xin vua chém 7 tên nịnh thần nhưng không được vua chấp nhận phải cáo quan), nông dân nổi dậy khởi nghĩa khắp nơi Đầu năm

1344, Ngô Bệ hô hào nông dân ở Yên Phụ (Hải Dương) đứng lên khởi nghĩa,

bị triều đình đàn áp nên thất bại Đầu năm 1390, nhà sư Phạm Sư Ôn hô hào nông dân ở Quốc Oai (Sơn Tây, Hà Nội) nổi dậy Nghĩa quân đã chiếm được kinh thành Thăng Long trong 3 ngày Sau đó, triều đình đã huy động một lực lượng lớn đàn áp nên cuộc khởi nghĩa nhanh chóng thất bại

Trong quan hệ với bên ngoài, Champa nổi dậy không chịu thuần phục, liên tục gây hấn với triều đình nhà Trần Tính từ năm 1361 đến 1391 đã có tới

14 lần xung đột quân sự diễn ra giữa quân Chiêm Thành và Đại Việt Trong suốt 31 năm xung đột Đại Việt- Chiêm Thành (1361- 1390) chỉ đến trận cuối cùng (cuối 1389 đầu 1390) khi vua Chiêm- Chế Bồng Nga- người khởi xướng

và chỉ huy các cuộc tấn công Đại Việt tử trận thì xung đột giữa Đại Việt với Chiêm Thành mới chấm dứt

Trang 22

Mặt khác, ở phía Bắc, năm 1388 nhà Minh sai sứ sang đòi Đại Việt phải cống nộp lương thực và các loại trái cây đặc sản và những báu vật, sản vật quý hiếm Nhà Trần buộc phải cống nộp 5000 thạch lương Năm 1395, nhà Minh vờ cho người sang Đại Việt xin giúp 50 con voi 50 vạn hộc lương Những việc làm trên nhằm thăm dò nhà Trần và chuẩn bị tiến hành âm mưu xâm lược đã được vạch ra từ trước của nhà Minh

Tóm lại, Đại Việt cuối thế kỉ XIV đã lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu

sắc và toàn diện Điều đó thể hiện ở những điểm như chính quyền suy yếu, nịnh thần chuyên quyền, dòng họ thống trị (quý tộc họ Trần- tác giả) sa đọa, nông nghiệp giảm sút nghiêm trọng, dẫn đến nông dân nghèo, nô tì nổi dậy chống đối, hay bỏ trốn Trong lúc đó, những cuộc tấn công đánh phá của Chămpa lại liên tục diễn ra, càng khiến cho cuộc sống của dân chúng thêm khổ cực, triều chính thêm rối ren, tài chính kiệt quệ Thêm vào đó, Đại Việt đứng trước nguy một cuộc xâm lược ngày càng đến gần của quân Minh.Giữa lúc khủng hoảng đó xuất hiện một nhân vật đặc biệt, đó là Hồ Quý Ly Từ quan hệ ngoại thích, Hồ Quý Ly dần được Trần Nghệ Tông tin dùng, Năm

1395, làm chức Nhập nội phụ chính Thái sư, Bình chương quân quốc trọng sự, Tuyên trung vệ quốc đại vương, đeo lân phù bằng vàng thao túng cả triều đình Ngay từ khi còn là một đại thần, đặc biệt sau khi lên ngôi vua (năm 1400), Hồ Quý Ly đã thực hiện những cải cách trên nhiều lĩnh vực

Cuộc cải cách của Hồ Quý Ly

Về chính trị, Hồ Quý Ly cải tổ hàng ngũ võ quan, thay thế dần các võ

quan cao cấp do quý tộc tôn thất nhà Trần nắm giữ bằng những người không phải họ Trần nhưng có tài năng và thân cận với mình Hồ Quý Ly cho đổi tên một số đơn vị hành chính cấp trấn và quy định cụ thể, rõ ràng cách làm việc của bộ máy chính quyền các cấp Hồ Quý Ly đặt lệ cử các quan ở triều đình

Trang 23

về các lộ thăm hỏi đời sống nhân dân và tìm hiểu tình hình làm việc của quan lại để thăng hay giáng chức

Về kinh tế tài chính, Hồ Quý Ly cho phát hành tiền giấy thay thế tiền

đồng, ban hành chính sách hạn điền, quy định lại biểu thuế đinh, thuế ruộng

Về xã hội, Hồ Quý Ly ban hành chính sách hạn chế số nô tì được nuôi

của các vương hầu, quý tộc, quan lại Những năm có nạn đói, nhà Hồ lệnh cho các quan địa phương đi khám xét, bắt nhà giàu thừa thóc phải bán cho dân đói

và tổ chức nơi chữa bệnh cho dân

Về văn hoá, giáo dục, Hồ Quý Ly bắt các nhà sư chưa đến 50 tuổi phải

hoàn tục, cho dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm để dạy cho vua Trần và phi tần, cung nữ Ông cũng sửa đổi cả chế độ thi cử, học tập

Về quân sự, để đề phòng giặc ngoại xâm, Hồ Quý Ly đã thực hiện một

số biện pháp nhằm tăng cường củng cố quân sự và quốc phòng: làm lại sổ hộ

để tăng quân số, sản xuất vũ khí, năm 1397 dời đô vào Thanh Hóa, cho xây thành Tây Đô ở An Tôn- Vĩnh Lộc- Thanh Hóa, thành Đa Bang ở Ba Vì- Hà Nội, sản xuất vũ khí, bố trí phòng thủ nơi hiểm yếu, thể hiện kiên quyết bảo

vệ Tổ quốc

Cuộc khủng hoảng xã hội nhà Trần vào nửa sau thế kỷ XIV đã thể hiện tính chất lỗi thời của cấu trúc nhà nước đương thời Trong bối cảnh đó Hồ Quý Ly là người đã từng bước tiến lên nắm mọi quyền hành trong triều đình Ông đã mong muốn cứu vãn tình thế đặc biệt khó khăn và phức tạp đó Hồ Quý Ly đã kiên quyết thực hiện cải cách Có thể thấy rằng đó là một cuộc cải cách toàn diện, từ kinh tế- chính trị, đến tài chính, văn hoá, giáo dục, xã hội Thông qua cuộc cải cách, Hồ Quý Ly đã xoá bỏ đặc quyền và thế lực của tầng lớp quý tộc họ Trần, xây dựng nhà nước quan liêu, quyền lực tập trung, để giải quyết khó khăn trong nước và chống giặc Minh xâm lược từ bên ngoài

Trang 24

Tuy nhiên Hồ Qúy Ly cũng là một con người có nhiều thủ đoạn độc đoán mất lòng dân, duy ý chí Sau khi củng cố được thế lực, Hồ Quý Ly tiến hành các âm mưu sát hại các quan lại và quý tộc tôn thất triều Trần Trong hội thề Đồn Sơn (1399), 370 quý tộc nhà Trần, đứng đầu là Trần Khát Chân đã

âm mưu giết Hồ Quý Ly nhưng âm mưu không thành tất cả bị Hồ Quý Ly giết hại đã gây ra sự mất đoàn kết nghiêm trọng trong nội bộ giới cầm quyền Mặt khác cuộc cải cách có chỗ quá mạnh so với thời điểm lúc đó (phép hạn điền), chưa triệt để (gia nô và nô tì không được giải phóng), chính sách tiền tệ nhằm thu lại và hạn chế việc sử dụng tiền đồng để tập trung lượng đồng cần thiết phục vụ quốc phòng là nhu cầu bức thiết nhưng lưu hành tiền giấy là việc làm không đáp ứng đúng thực tiễn phát triển của lịch sử xã hội Cải cách văn hoá, giáo dục có ý nghĩa tiến bộ và đầy đủ hơn…

Như vậy, công cuộc cải cách của Hồ Quý Ly không giải quyết được căn bản những khủng hoảng trầm trọng của xã hội lúc bấy giờ, mà còn gây ra những chia rẽ nội bộ sâu sắc, xung đột lợi ích với nhóm quý tộc họ Trần hình thành thế thù trong giặc ngoài, càng tạo điều kiện cho quyết tâm xâm lược Đại Ngu của giặc Minh

Giặc Minh xâm lược Đại Ngu

Năm 1406, lấy cớ nhà Hồ cướp ngôi của nhà Trần, nhà Minh huy động một lực lượng lớn gồm 20 vạn bộ binh và thuỷ binh cùng với hàng chục vạn dân phu vận chuyển, dưới quyền chỉ huy của Chu Năng, Trương Phụ, Mộc Thạnh, Lý Bân, Trần Húc kéo vào xâm lược Đại Ngu Chỉ sau sáu tháng, do đường lối chiến lược và chiến thuật sai lầm, cuộc kháng chiến của nhà Hồ đã

bị thất bại thảm hại Sự thất bại đó còn do triều đại nhà Hồ thiếu một cơ sở chính trị vững chắc, mâu thuẫn nội bộ cũng như mâu thuẫn xã hội đang gay gắt, không xây dựng được khối đoàn kết, thống nhất lực lượng toàn dân tộc để

Trang 25

cả nước cùng đánh giặc Từ đó, nước ta rơi vào ách đô hộ tàn bạo của phong kiến nhà Minh trong hơn 20 năm (1406-1427)

Sau khi chiếm được nước ta, quan lại nhà Minh theo lệnh của Minh Thành Tổ- Chu Đệ thi hành triệt để chính sách cướp bóc tài sản, vơ vét của cải của nhân dân ta… chúng cưỡng bức dân ta đi khai thác vàng, bạc, mò ngọc trai dưới biển, khai thác lâm thổ sản, các hương liệu quý, đi lao dịch Nhiều người còn bị bắt làm nô tỳ, hoặc bị bắt đưa về Trung Quốc, phục dịch bọn quan lại nhà Minh Quân Minh còn cướp ruộng đất của nhân dân chung quanh trại của chúng, biến thành đồn điền giao cho quân lính cày cấy

Đồng thời, các quan lại nhà Minh còn ráo riết thi hành chính sách ngu dân, đồng hoá dân tộc, thực hiện nhiều chính sách và biện pháp từ tinh vi đến trắng trợn nhằm xoá bỏ quá khứ đấu tranh, dựng nước và giữ nước bất khuất của dân tộc ta, thủ tiêu những di sản văn hoá truyền thống tốt đẹp của nhân dân Đại Việt để chiếm đóng vĩnh viễn đất nước ta Nhà Minh nhiều lần đốt sách vở, kể cả sách học của trẻ em, phá huỷ các bia đá

Chúng còn thực hiện chính sách chia rẽ dân tộc và đàn áp tàn bạo Sau khi đặt được nền đô hộ ở Đại Việt, nhà Minh đã xoá bỏ tên nước ta, đặt làm quận Giao Chỉ và tổ chức chính quyền đô hộ trên đất nước ta Bên cạnh các

cơ quan hành chính và tư pháp, có một hệ thống tổ chức quân sự đồ sộ nhằm sẵn sàng đàn áp các cuộc nổi dậy chống chính quyền đô hộ Chính quyền đô

hộ còn tuyển lựa một số người làm tay sai cho chúng và xây dựng một đội ngụy quân Đối với nhân dân, chúng thi hành biện pháp kiểm soát chặt chẽ, dùng hình phạt tàn bạo để khủng bố, tiêu diệt tinh thần chống chính quyền đô

hộ

Khởi nghĩa Lam Sơn (1418- 1427)

Quân Minh chiếm đóng cai trị nước ta với chính sách cực kỳ tàn bạo Bị

áp bức nặng nề, nhân dân ta nổi dậy khắp nơi, liên tiếp chống lại giặc Minh

Trang 26

(tiêu biểu là khởi nghĩa của tôn thất nhà Trần: Trần Ngỗi, Trần Quý Khoáng…) nhưng tất cả đều nhanh chóng bị giặc Minh đàn áp Mùa xuân năm Bính Tuất (7-2-1418) Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, xưng là Bình Định Vương quy tụ được nhiều nhân tài, hào kiệt tham gia cùng nhân dân ủng hộ

Những năm đầu khởi nghĩa, lực lượng nghĩa quân còn yếu nên gặp nhiều bất lợi, khó khăn Trước sự tấn công quyết liệt của quân Minh, nghĩa quân Lam Sơn đã phải ba lần rút lên núi Chí Linh (Thanh Hóa) để bảo toàn lực lượng và liên tiếp phải chống trả các cuộc hành quân truy quét của địch Nhiều tấm gương chiến đấu đã anh dũng hy sinh trong đó tiêu biểu là Lê Lai Trước sự tấn công quyết liệt của địch và bị thất bại liên tiếp, năm 1423, Lê Lợi đã chủ động cầu hòa giặc Minh để bảo toàn lực lượng và được quân Minh chấp nhận Năm 1424, thế hòa hoãn bị phá vỡ, quân Minh tấn công nghĩa quân, Lê Lợi theo kế của Nguyễn Chích, chuyển địa bàn hoạt động vào Nghệ

An

Việc chuyển quân vào Nghệ An đã tạo ra bước ngoặt căn bản của cuộc kháng chiến, đưa cuộc kháng chiến đến những thắng lợi quan trọng (giải

phóng Nghệ An năm 1424, giải phóng Tân Bình, Thuận Hóa cuối năm 1425,

chiến thắng Tốt Động- Chúc Động cuối 1426, chiến thắng Chi Lăng- Xương Giang năm 1427) Trải qua 10 năm (1418- 1427) nằm gai nếm mật, trải bao gian khó cuối cùng nghĩa quân Lam Sơn dưới sự lãnh đạo của chủ tướng Bình Định Vương đã giành thắng lợi trọn vẹn, buộc kẻ thù phải rút quân về nước, đất nước sạch bóng quân thù

Bối cảnh của đất nước lúc bấy giờ đã tác động mạnh tới nhận thức, tư tưởng của Nguyễn Trãi

Sự khủng hoảng toàn diện đến sự sụp đổ của triều đại nhà Trần, cho thấy chính sách cai trị đất nước đã bộc lộ nhiều hạn chế, chế độ quý tộc nhà Trần

Trang 27

tỏ ra lỗi thời Đời sống dân chúng thì khổ cực trong khi tầng lớp trên lại hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi, bỏ bê chính sự Bối cảnh lịch sử đó, thôi thúc Nguyễn Trãi theo đuổi đường lối trị nước phù hợp: lấy dân làm gốc, khoan thư sức dân, xây dựng xã hội trên nền tảng nhân nghĩa của dân tộc

Sự thất bại nhanh chóng của triều Hồ trước cuộc chiến chống nhà Minh xâm lược, giúp Nguyễn Trãi nhận thức sâu sắc hơn về đoàn kết dân tộc, gắn kết chặt chẽ quyền lợi của nhân dân, không bao giờ được rời xa dân Chính sách cai trị hà khắc, tàn bạo của giặc Minh thôi thúc Nguyễn Trãi tìm một vị minh chủ có đủ phẩm chất yêu nước, thương dân để cống hiến sức mình cho cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, đem lại hòa bình cho đất nước, ấm no cho muôn dân

Quá trình phục vụ dưới quyền chủ tướng Lê Lợi trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã tạo điều kiện cho Nguyễn Trãi phát huy sở trường, sở học của bản thân, dần thực hiện những mơ ước và hoài bão cứu nước, cứu dân của ông, xây dựng xã hội trên nền tảng quan hệ hài hòa, yêu thương giữa con người với con người

1.2.2 Tiền đề văn hóa- tư tưởng

Tư tưởng nhân văn truyền thống dân tộc

Việt Nam là một quốc gia nhỏ với nền sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, thêm vào đó lại nằm cạnh quốc gia phương Bắc- Trung Quốc khổng lồ chưa bao giờ từ bỏ ý đồ xâm chiếm mình đã tạo nên mối quan hệ giữa người với người trong cộng đồng gắn bó bền chặt để chống thiên tai, địch họa Đây là mảnh đất màu mỡ để làm nảy sinh và nuôi dưỡng lòng yêu thương, tinh thần nhân ái, đoàn kết, sự bao dung…Đó chính là những mầm mống của tư tưởng nhân văn Việt Nam Những tư tưởng nhân văn ở Việt Nam biểu hiện dưới các dạng thức như truyền thống dân tộc, ca dao- dân ca, truyện cổ, thơ văn bác học và bình dân, thần tích…chứ chưa

Trang 28

được định hình thành một chủ nghĩa nhân văn theo đúng nghĩa là một hệ thống lý luận về con người và vị trí của con người Có thể nói, tư tưởng nhân văn truyền thống Việt Nam tập trung ở một số nội dung chính sau:

Thứ nhất, tư tưởng về quyền được sống trong một quốc gia độc lập, tự

chủ với phương Bắc

Tư tưởng về quyền được sống trong một quốc gia độc lập, tự chủ với

phương Bắc gắn chặt với chủ nghĩa yêu nước, tinh thần độc lập dân tộc Chủ

nghĩa yêu nước là một giá trị tinh thần cao quý, kết tinh những tư tưởng, tình cảm thiêng liêng nhất, là hệ chuẩn mực cao nhất trong bảng giá trị tinh thần truyền thống dân tộc Chủ nghĩa yêu nước là dòng chủ lưu chảy xuyên suốt lịch sử tư tưởng dân tộc ta

Trong hơn một ngàn năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc đã có nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra nhằm lật đổ chế độ thống trị của phong kiến phương Bắc, tiêu biểu như khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40-43), khởi nghĩa Bà Triệu (năm 248), cuộc khởi nghĩa Lý Bí (năm 542- 602), cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan (năm 722), cuộc khởi nghĩa Phùng Hưng trong khoảng những (năm 776- 791), cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ giành quyền tự chủ năm

905

Chiến thắng trên sông Bạch Đằng năm 938 do Ngô Quyền lãnh đạo có ý nghĩa vô cũng to lớn nó đã giúp chấm dứt hơn một nghìn năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc trong lịch sử Việt Nam, mở ra một thời kỳ độc lập tự chủ cho Việt Nam Chiến thắng Bạch Đằng có thể coi là trận chung kết toàn thắng của dân tộc Việt Nam trên con đường đấu tranh chống Bắc thuộc, chống đồng hóa, đấu tranh giành lại độc lập dân tộc

Chủ nghĩa yêu nước truyền thống đã phát huy sức mạnh vô địch của nó trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm Từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XIV, dân tộc Việt Nam, với sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, đã làm nên những

Trang 29

đại chiến công chống ngoại xâm như Lê Hoàn phá Tống lần thứ nhất năm 981,

Lý Thường Kiệt phá Tống lần thứ hai năm 1075-1077, vua tôi nhà Trần ba lần đại thắng quân Nguyên- Mông năm 1258, 1285, 1288 Truyền thống dân tộc đã hun đúc lên tinh thần yêu nước, chống ngoại xâm, tinh thần tự hào tự tôn dân tộc, tư tưởng độc lập ngang hàng với các triều đại phong kiến phương Bắc trong con người Nguyễn Trãi

Thứ hai, tư tưởng yêu thương, quý trọng tính mạng con người, đấu

tranh vì cuộc sống hạnh phúc của con người

Lịch sử hàng ngàn năm, dựng nước và giữ nước của dân tộc đã hình thành ý thức thương yêu đoàn kết lẫn nhau, cùng nhau bảo vệ tính mạng và của cải mỗi khi có thiên tai, địch họa của mỗi người dân Việt Chính trong gian khó, người Việt lại càng cố kết lại với nhau để vượt qua khó khăn Tư tưởng yêu thương, quý trọng tính mạng của con người là một trong những nét tiêu biểu trong giá trị nhân văn truyền thống dân tộc Truyền thống yêu thương, quý trọng tính mạng con người, đấu tranh vì cuộc sống hạnh phúc của con người ấy của người Việt đã buộc những người lãnh đạo phải có thái độ, thi hành đường lối cai trị: khoan dung độ lượng, chăm so đến đời sống nhân dân

Sau gần năm trăm năm (938- 1406) độc lập tự chủ, nhân dân ta đã dần xây dựng nền tảng văn hóa vững chắc với tinh thần khoan dung độ lượng, bác

ái của Phật giáo, quan tâm đến đời sống của dân Trong Thiên đô chiếu, vua

Lý Thái Tổ tỏ ra đau lòng trước nỗi khổ của dân khi định đô ở Hoa Lư, Ninh Bình: “Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp Trẫm rất đau đớn, không thể không dời” [62, tr.229-230] Nên đã quyết định rời đô ra Đại La để nhân dân bớt khổ cực bởi thành Đại La: “Địa thế rộng mà bằng; đất

Trang 30

đai cao mà thoáng Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi” [62, tr.230] Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn trước lúc lâm chung trả lời vua Trần Anh Tông về kế sách giữ nước đã khẳng định nhân dân là nguồn lực, là động lực của việc xây dựng và bảo vệ

đất nước: “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy” [20, tr.211]

Tinh thần thân dân, lấy dân làm gốc, lo lắng cho vận mệnh cũng như đời sống của dân, coi trọng sinh mạng con người, phản đối chiến tranh phi nghĩa, của các bậc tiền nhân đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi

Tư tưởng nhân văn của Nho giáo

Nguyễn Trãi xuất thân từ gia đình có truyền thống Nho học, bản thân ông cũng đỗ đạt làm quan nhờ được học chữ Thánh hiền, cho nên những đạo

lý của Nho giáo cũng đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng của ông Sự ảnh hưởng của tư tưởng nhân văn Nho giáo đến tư tưởng của Nguyễn Trãi khá rõ nét, đặc biệt là giai đoạn tuổi trẻ Nguyễn Trãi đã tiếp thu và kế thừa tư tưởng nhân văn của Nho giáo ở những khía cạnh cơ bản như:

Thứ nhất, tư tưởng coi trọng sinh mệnh, sự sống của con người, phản đối

các hình thức giết người, cướp đoạt mạng sống của con người, đặc biệt là chiến tranh

Có thể nói, Nho giáo là một học thuyết về chính trị xã hội và đạo đức con người Trong học thuyết Nho giáo con người luôn ở vị trí trung tâm Theo Khổng Tử con người không thể tránh khỏi cái chết, song không thể

vì thế mà tự quyết định sinh mệnh của mình, càng không được phép lạm dụng mạo phạm sinh mệnh của người khác Khổng Tử phản đối tất cả mọi hình thức phản sự sống, bao gồm bệnh tật, giết người, hay lối sống

sa đọa, đặc biệt là chiến tranh Ông chán ghét chiến tranh và khuyên các

Trang 31

nhà chính trị nên từ bỏ bạo lực: “Tử Cống hỏi về chính trị Đức Khổng Tử nói: “Đủ lương thực, đủ binh lính, được dân tin.” Tử Cống nói: “Nếu bất đắc

dĩ phải bỏ, trong ba thứ đó, bỏ thứ nào trước?” Đáp: “Bỏ binh lính.” Tử Cống lại nói: “Nếu bất đắc dĩ phải bỏ, trong hai thứ [còn lại] đó, bỏ thứ nào trước?” Đáp: “ Bỏ lương thực Từ xưa đều có người chết; dân mà mất niềm tin thì không thành tựu được đâu.” [57, tr.327]

Tư tưởng này cũng xuất hiện trong Mạnh Tử, khi ông coi trọng sự sống, luôn phản đối chiến tranh, cực lực lên án các cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau giữa các tập đoàn quý đương thời Ông thất vọng than rằng: “Lương Huệ Vương bất nhân thay! Người nhân toan tính từ chỗ thân yêu đến chỗ chẳng thân yêu Kẻ bất nhân toan tính từ chỗ chẳng thân yêu đến chỗ thân yêu.” Công Tôn Sửu nói: “Làm sao lại nói vậy?” “Lương Huệ Vương lấy cớ đất đai, đem dân mình đi chiến đấu đến tàn hại Thất bại lớn, muốn đánh nữa,

sợ không thể thắng, nên đã xua con em thân yêu của mình liều thân đến chết Như thế gọi là toan tính từ chỗ chẳng thân yêu đến chỗ thân yêu vậy.” [57, tr.1074]

Tư tưởng coi trọng sinh mệnh, phản đối chiến tranh, binh đao, coi chiến tranh là vô nghĩa thể hiện sâu sắc tinh thần nhân văn của Khổng Tử, Mạnh Tử

đã ảnh hưởng sâu đậm đến tư tưởng của Nguyễn Trãi Đặc biệt trong giai đoạn Nguyễn Trãi tham gia đấu tranh chống quân Minh đô hộ, giải phóng dân tộc Ông cực lực lên án chiến tranh phi nghĩa xâm lược Đại Việt của giặc Minh và những chính sách tàn bạo của giặc Minh trong thời gian cai trị nhân dân Đại Việt

Thứ hai, tư tưởng nhân nghĩa của Nho giáo

Trong Luận ngữ, Khổng Tử nhắc nhiều lần đến “nhân” Nhưng ông lại

giải thích “Nhân” cho học trò của mình theo những cách khác nhau tùy thuộc

vào hoàn cảnh và người hỏi Nhan Uyên hỏi về Nhân Khổng Tử trả lời:

Trang 32

“Khắc chế lấy mình, trở lại theo khuôn phép là làm điều nhân Một ngày khắc chế lấy mình, trở lại theo khuôn phép, mọi người sẽ trở về điều nhân Làm điều nhân do mình, chứ do người ư?”[57, tr 319] Trọng Cung hỏi về “Nhân”, Khổng Tử cho rằng: “Ra cửa như thấy khách lớn; sai khiến dân như đảm đương lễ lớn, điều gì mình không muốn chớ đem cho người Trong nước không có điều oán giận, trong nhà không có điều oán giận” [57, tr.321] Còn khi Phàn Trì hỏi về “Nhân”, Khổng Tử trả lời là “yêu người” và giảng giải rằng “Tại nhà thì ở khiêm cung, tiếp nhận công việc thì kính cẩn, giao tiếp với người thì thật lòng Tuy ở chốn mọi rợ, cũng không thể bỏ được.” [57, tr.366]

Đối với người, nguyên tắc suốt đời của người có Nhân phải theo là “ái

nhân” Khổng Tử lấy “trung thứ” để thông suốt đạo của mình Điều đó có nghĩa là, mình muốn đứng vững, mình muốn công việc của mình thành đạt thì cũng làm cho công việc của người khác thành đạt Con người phải hết lòng, hết dạ, thành tâm, thành ý sống theo nguyên tắc ấy Ở đây, “Trung” không chỉ yêu người (ái nhân), mà còn phải giúp đỡ, tạo lập cho người thành đạt “Thứ”

là suy mình ra người, cái gì không có lợi cho mình, mình không muốn, mình ghét thì đừng đem cái đó cho người khác Qua đây ta thấy, quan niệm “trung thứ” biểu hiện tính nhân văn sâu sắc, một lẽ sống, sống sao cho ra người Vì thế, nhân là đức tính hoàn thiện, là cái gốc đạo đức của con người Đó là đạo làm người mà cốt lõi là vừa yêu thương, vừa phải giúp đỡ lẫn nhau để tạo dựng cuộc sống cộng đồng hòa bình, hạnh phúc

Kế tục những tư tưởng của Khổng Tử về nhân nghĩa với tư cách là thực

hiện lẽ công bằng thể hiện ở mối quan hệ của lòng nhân bên trong hướng ra thực hiện việc nghĩa nơi ngoài, Mạnh Tử đã đưa ra tư tưởng đầy đủ hơn về sự

gắn liền giữa nhân và nghĩa, hay đó cũng chính là tư tưởng “nhân nghĩa” Với

quan niệm ấy, Mạnh Tử đã nhấn mạnh chủ yếu đến sức mạnh của nhân nghĩa nhằm vào mục tiêu việc gạt bỏ được chiến tranh bạo tàn, củng cố ổn định trật

Trang 33

tự xã hội “Vương Tử Điếm hỏi rằng: “Kẻ sĩ làm việc gì?” Mạnh Tử đáp: “Đề cao chí hướng.” Hỏi: “Thế nào là đề cao chí hướng?” Đáp: “Nhân, nghĩa mà thôi Giết một người vô tội, chẳng phải là nhân Chẳng phải mình có mà lấy, chẳng phải là nghĩa Mình ở nơi nào? Ở đức nhân vậy Mình đi đường nào?

Đi đường nghĩa vậy Sống ở đức nhân, noi theo đường nghĩa, công việc của bậc đại nhân đã đầy đủ rồi.” [57, tr 1055]

Tư tưởng nhân nghĩa của Nho giáo từ Khổng Tử tới Mạnh Tử thể hiện

được những quan điểm nhân văn khá sâu sắc Những tư tưởng này có ảnh

hưởng rất lớn đến tư tưởng và hành động của Nguyễn Trãi Mặt khác, nó cũng cho thấy sự kế thừa và phát triển lên một cấp độ cao hơn của Nguyễn Trãi đối với các tư tưởng nhân văn mang giá trị toàn nhân loại của Nho giáo

Tóm lại, tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi ra đời trên cơ sở tiếp thu

tinh thần nhân văn của dân tộc: tư tưởng yêu nước, khoan dung độ lượng, chăm lo đến đời sống nhân dân, kế thừa được tinh thần nhân văn Nho giáo với

các giá trị to lớn như tư tưởng coi trọng sinh mệnh, sự sống của con người,

phản đối các hình thức giết người, cướp đoạt mạng sống của con người, tư tưởng nhân nghĩa Đây chính là tiền đề tư tưởng cơ bản hình thành và phát triển tư tưởng nhân văn Nguyễn Trãi

1.3 Cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Trãi và tác phẩm “Quân trung từ

mệnh tập”

1.3.1 Cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Trãi

Nguyễn Trãi hiệu Ức Trai, sinh năm 1380 (có sách cho rằng ông sinh năm 1374), quê quán làng Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương sau dời

về làng Ngọc Ổi (Nhị Khê) huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội Ông là con thứ của Nguyễn Phi Khanh (có sách nói là con trưởng) Năm Nguyễn Trãi tròn 6 tuổi, mẹ ông mất, ông phải về Côn Sơn ở với ông ngoại là quan Tư đồ Trần Nguyên Đán Năm 1390, quan Tư đồ cũng mất, Nguyễn Trãi theo cha

Trang 34

trở về sống ở làng Nhị Khê Những năm tháng sống cùng và được sự dạy dỗ của ông ngoại và cha đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự hình thành tư tưởng và nhân cách của Nguyễn Trãi

Cha của Nguyễn Trãi là Nguyễn Ứng Long (1336- 1408) là người rất thông minh, ham học, nổi tiếng hay chữ, nhưng lại gặp nhiều trắc trở trên đường công danh, sự nghiệp Ông thi đỗ nhị giáp tiến sĩ đời Trần Duệ Tông (Năm Long Khánh thứ 3, 1374) nhưng không được nhà Trần tuyển dụng phải trở về quê làm nghề dạy học Sau khi Hồ Quý Ly lên ngôi, Nguyễn Ứng Long đổi tên thành Nguyễn Phi Khanh ra phục vụ triều đình nhà Hồ, giữ chức Hàn lâm học sĩ kiêm Tư nghiệp quốc tử giám Giặc Minh sang xâm lược Đại Ngu, cuộc kháng chiến chống giặc Minh của nhà Hồ nhanh chóng thất bại Cả vua tôi triều thần, trong đó có Nguyễn Phi Khanh đều bị bắt về Trung Quốc Sinh thời sống trong cảnh tao loạn, Nguyễn Phi Khanh chứng kiến đời sống nhân dân cơ cực nên ông thấu hiểu và cảm thông sâu sắc với cuộc sống của nhân dân Ông đau xót trước những mất mát của nhân dân: “Mênh mông đồng lúa

đỏ như thiêu, Ngoài nội kêu than xiết nỗi sầu, Dải đất non sông khô đến thế, Từng trời mưa móc vắng làm sao! Lưới tham quan lại vơ hầu kiệt, Mạch sống nhân gian cạn mỡ dầu…” [64, tr 436] Ông ao ước có thể mang lại cuộc sống

ấm no cho dân chúng: “An đắc thử thân như thác thược Hòa phong hư biến cửu chân tâm” (Mong sao thân này được như cái ống bễ Thổi ngọn gió hòa vào lòng người khắp chín châu) [64, tr 401]

Tư tưởng vì dân, vì nước đó của người cha Nguyễn Trãi đã ảnh hưởng không nhỏ đến ông sau này Gặp thời loạn lạc, gia đình Nguyễn Trãi cũng có thời giai đoạn phải về quê sống lam lũ cùng nông dân nên ông đã thấu hiểu nỗi khổ của nhân dân lao động Và khi nước mất thì tình thương ấy càng trở lên tha thiết hơn bao giờ hết, nó thôi thúc Nguyễn Trãi phải tìm ra một con đường đúng đắn cứu nước cứu dân

Trang 35

Ông ngoại của Nguyễn Trãi là Trần Nguyên Ðán Ông là người thuộc dòng hoàng tộc (Cháu 4 đời của Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải), tính tình điềm đạm, khẳng khái, có công lật đổ Dương Nhật Lễ nên ông được vua Trần Nghệ Tông giao cho chức vụ Tư đồ, quyền ngang Tể tướng Tuy nhiên, khi ông lên nắm quyền, cơ nghiệp nhà Trần đã suy vi Chán nản thời thế, ông xin về ở ẩn tại Côn Sơn năm 1385 (Xương Phù thứ 9) và mất năm 1390 Trần Nguyên Đán tuy là tôn thất nhà Trần nhưng ông lại có tư tưởng tiến bộ Ông

đã sẵn sàng bỏ qua lễ giáo phong kiến cho phép mối tình của cha mẹ Nguyễn Trãi được toại nguyện Trần Nguyên Đán là một trí thức Nho học rất mực thương dân nhưng ông cũng bất lực trước thời thế, tấm lòng của ông gửi gắm trong thơ: “Năm nay hạ hạn lại thu mưa, Đau nỗi mùa màng những thiệt thua,

Ba vạn sách dày đành xếp xó, Yêu dân còn nợ, mái đầu phơ” [64, tr 209] Từ nhỏ Nguyễn Trãi sớm được dạy dỗ chỉ bảo ân cần của ông ngoại Nên đã tiếp thu từ ông ngoại mình tinh thần thương dân, tấm lòng khoan dung, độ lượng

Từ truyền thống của gia đình của dòng họ, từ trải nghiệm cuộc sống của gia đình đã để lại trong Nguyễn Trãi nỗi cảm thông, sâu sắc, yêu nước thương dân, mạch cảm xúc chủ đạo chi phối cuộc đời hoạt động chính trị của Nguyễn Trãi Cuộc sống gần gũi với người lao động giúp Nguyễn Trãi sớm thấu hiểu nỗi cực nhọc và thông cảm với họ; sớm nhận ra khả năng sức mạnh đoàn kết sức dân “ đẩy thuyền là dân, lật thuyền là dân”, đó là cơ sở để tạo nên ở ông gắn tổ quốc với nhân dân Từ đó lòng yêu nước thương dân trở thành động cơ chi phối toàn bộ tư tưởng và hành động của Nguyễn Trãi

Trong những tiền đề hình thành tư tưởng nhân văn Nguyễn Trãi, chúng

ta không thể không đề cập tới nhân tố chủ quan của nhân tài Nguyễn Trãi- nhân tố giữ vai trò quyết định trong việc hình thành tư tưởng của ông Nguyễn Trãi sinh trưởng trong một gia đình nhà Nho, ông ngoại và cha của ông là những trí thức uyên bác, nên ông sớm chịu ảnh hưởng những tư tưởng của

Trang 36

cha và ông ngoại mình Ông cũng tiếp thu những nhân tố tích cực trong tư tưởng nhân văn của Nho giáo “coi trọng sinh mệnh”, “nhân nghĩa” Tài năng của Nguyễn Trãi được phát triển trong hành động, “Tri hành hợp nhất” Nguyễn Trãi khác với những nhà Nho cùng thời là nhận thức và hành động theo lẽ phải, đã biết dấn thân cho sự nghiệp cao cả vì nước, vì dân

Năm 1400 thi đỗ Thái học sinh triều Hồ, được trao chức Ngự sử đài Chính chưởng Năm 1406, giặc Minh sang xâm lược, Hồ Quý Ly thất bại, Nguyễn Trãi nghe lời cha trở về tìm đường cứu nước nhưng bị giặc giam nơi thành Ðông Quan suốt mười năm dài Năm 1416, ông tìm đến cuộc khời

nghĩa Lam Sơn, dâng cho Lê Lợi tác phẩm Bình Ngô sách Từ đó, ông gắn bó

với phong trào khởi nghĩa Lam Sơn, tham gia xây dựng đường lối quân sự, chính trị phù hợp và đảm đương những nhiệm vụ quan trọng như soạn thảo thư từ địch vận, tham mưu, vạch ra chiến lược chiến thuật cho nghĩa quân

Năm 1428, kháng chiến thành công, ông được Lê Lợi giao cho soạn Bình Ngô đại cáo nổi tiếng Ðược ban quốc tính, phong chức vị cao trong triều đình và

trở thành người năng nổ bậc nhất trong công cuộc xây dựng đất nước

Tuy nhiên, tài năng và đức độ của ông cũng bắt đầu bị bọn quyền thần ganh ghét Ðặc biệt, sau vụ Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo bị bức tử, Nguyễn Trãi bị bắt giam một thời gian ngắn Sau đó, ông được tha nhưng không còn được tin dùng Năm 1433, Lê Thái Tổ mất Ông chán nản xin về ở

ẩn ở Côn Sơn Khi Lê Thái Tông lớn lên, hiểu rõ Nguyễn Trãi, nhà vua đã cho vời ông trở lại làm quan, giữ chức Tả gián nghị đại phu Rất mừng rỡ,

ông viết bài Biểu tạ ơn hết sức xúc động và lại hăng hái ra giúp nước, chỉnh

đốn kỷ cương, đào tạo nhân tài Năm 1442, vụ án Lệ Chi viên xảy ra Nguyễn Trãi bị can tội giết vua, bị tru di tam tộc Sau này, khi lên ngôi, vào năm 1464 vua Lê Thánh Tông đã tiến hành minh oan, phục hồi chức tước và sai Trần Khắc Kiệm tìm lại những trước tác của Nguyễn Trãi

Trang 37

Suốt cuộc đời Nguyễn Trãi hoạt động không ngừng nghỉ- đấu tranh chống xâm lược và chống gian tà, một lòng tận tụy với sự hưng vong của quốc gia- xã tắc Nói đến thiên tài Nguyễn Trãi là nói đến một nhà yêu nước, nhà thơ, nhà chiến lược, nhà tư tưởng kiệt xuất

1.3.2 Tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập”

Sau khi minh oan cho Nguyễn Trãi năm 1464, vua Lê Thánh Tông cũng

ra lệnh tìm kiếm các di văn còn sót lại của ông Theo lệnh của vua thì Trần Khắc Kiệm đã sưu tầm và biên tập hai tác phẩm là “Ức Trai thi tập” và “Quân

trung từ mệnh tập” vào năm 1467

“Quân trung từ mệnh tập” (chữ Hán: 軍中詞命集) không phải là tên vốn

có của tác phẩm, mà là tên gọi một tập hợp những văn kiện do Nguyễn Trãi được lệnh soạn thảo, nhân danh Lê Lợi, để giao thiệp với các tướng nhà Minh, các ngụy quan người Việt làm tay sai cho giặc cũng như quân dân ta trong suốt thời kỳ kháng chiến chống giặc Minh xâm lược (1418- 1427), do người sưu tập là Trần Khắc Kiệm đặt

Đến thế kỉ XIX, Dương Bá Cung người cùng huyện với Nguyễn Trãi đã dày công sưu tầm các tác phẩm của Nguyễn Trãi trong hàng chục năm, lại mời Nguyễn Năng Tĩnh, Ngô Thế Vinh tham gia biên tập, hiệu đính và đề tựa Mùa thu năm Mậu Thìn (1868) niên hiệu Tự Đức thứ 21, bộ sách “Ức

Trai thi tập” do ông sưu tầm mới được khắc in, Phúc Khê tàng bản, gồm 7

quyển, trong đó quyển 4 là “Quân trung từ mệnh tập” gồm 42 văn kiện

“Quân trung từ mệnh” tập do nhà xuất bản Sử học ấn hành năm 1961,

Phan Duy Tiếp và Đinh Gia Khánh đưa thêm 4 bài (Lệnh gửi các tướng hiệu quân nhân ở Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa; Thư gửi Vương Thông; Chiếu khuyến dụ hào kiệt; Tờ tâu về việc tìm con cháu họ Trần), lấy từ “Văn loại” (quyển 3) trong “Ức Trai thi tập” nâng số văn kiện lên thành 46

Năm 1966 nhà nghiên cứu Trần Văn Giáp đã phát hiện thêm 30 bài văn của Nguyễn Trãi thuộc loại “Quân trung từ mệnh tập” Những bài này tìm

thấy trong các sách “Hoàng Lê hoàng các di văn”, “Ức Trai di” tập bản chép

Trang 38

tay năm 1856 và “Hoàng triều dữ Minh nhân vãng phục thư tập” của Thư viện Khoa học xã hội Sau khi đã nghiên cứu, xác minh, ông Trần Văn Giáp tập hợp những bài văn đó, biên tập thành “Ức Trai quân trung từ mệnh tập bổ biên”

Trong 30 bài mới phát hiện thì có 7 bài gần như trùng, chỉ khác đôi câu, đôi chữ Nhưng chỗ khác nhau có lẽ là do sao chép, chứ không phải xuất phát

từ những bài văn khác Những văn kiện tìm thấy đã đưa số bài trong quân trung từ mệnh tập từ 46 bài lên thành 69 bài

Công trình “Những vấn đề văn bản học trong Quân trung từ mệnh tập

của Nguyễn Trãi” (Viện viễn Đông Bác cổ- Viện Nghiên cứu Hán Nôm- Nhà

xuất bản Văn học, Hà Nội, 1998) của Nguyễn Văn Nguyên là kết quả quá trình đối chiếu và xử lý nguyên văn tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” Ông

đã hiệu chính những bản dịch đã có của Phan Duy Tiếp và Trần Văn Giáp cho phù hợp với nguyên văn chữ Hán mà ông đã hiệu đính chứ không dịch lại Công trình “Những vấn đề văn bản học trong Quân trung từ mệnh tập của

Nguyễn Trãi” của Nguyễn Văn Nguyên thực sự rất công phu, nghiêm túc và

có tính khoa học, có nhiều phát hiện mới, là một đóng góp quan trọng cho việc nghiên cứu “Quân trung từ mệnh tập” của Nguyễn Trãi

Trong lần biên soạn “Quân trung từ mệnh tập” trong tác phẩm “Nguyễn

Trãi toàn tập tân biên”, do Mai Quốc Liên chủ biên, các học giả đã kế thừa

được nhiều thành tựu trong những công trình của các bậc tiền bối đi trước, chủ yếu là các bản dịch của Phan Duy Tiếp, của Trần Văn Giáp cũng những chú thích về các sự kiện lịch sử trong các văn kiện của Giáo sư Phan Huy Lê,

công trình văn bản học Quân trung từ mệnh tập của Nguyễn Văn Nguyên Theo sách “Nguyễn Trãi toàn tập tân biên” năm 2001, thì “Quân trung từ

mệnh tập” gồm 68 văn kiện bắt đầu bằng lá thư vua Lê Thái Tổ gửi cho quan tổng binh nhà Minh là Trần Trí vào ngày 6 tháng 5, năm Quý Mão (1423) Đây chính là tài liệu “Quân trung từ mệnh tập” tác giả sử dụng để nghiên cứu làm luận văn của mình

Trang 39

Tiểu kết chương 1

1 Tư tưởng nhân văn là thành tố cấu tạo nên chủ nghĩa nhân văn Tư tưởng nhân văn, một cách khái quát nhất, được dùng để chỉ các quan niệm tích cực về con người, cách sống của con người, xã hội loài người, với nội dung nổi bật là quý trọng sinh mệnh con người, yêu thương, tôn trọng phẩm giá con người và ước vọng xây dựng một xã hội tốt đẹp vì con người

2 Tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi ra đời phản ánh trực tiếp thực trạng nước Đại Việt nửa cuối thế kỉ XIV đến đầu thế kỉ XV với những chuyển biến sâu sắc và toàn diện cả kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội Tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi giai đoạn này được hình thành và phát triển trên cơ

sở kế thừa tinh thần nhân văn dân tộc và tinh thần nhân văn của Nho giáo

3 Nguyễn Trãi (1380- 1442) sinh trưởng trong gia đình Nho giáo chịu sự giáo dục chu đáo của cha Nguyễn Phi Khanh và ông ngoại Tư đồ Trần Nguyên Đán Cuộc đời ông trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử và cuối cùng phải chết trong vụ án oan khiên (bị tru di tam tộc năm 1442) Năm 1464, Vua

Lê Thánh Tông minh oan cho ông và cho sưu tầm lại những văn thơ thất lạc của ông Tác phẩm “ Quân trung từ mệnh tập” của ông được Trần Khắc Kiệm

đã sưu tầm và biên tập vào năm 1467 Trải qua nhiều thế kỉ dày công tìm tòi, đến nay “Quân trung từ mệnh tập” in trong “Nguyễn Trãi toàn tập, tân biên” tập 1, do Mai Quốc Liên chủ biên (Nxb Văn học, 2001) gồm 68 bức thư, văn bản do Nguyễn Trãi trực tiếp soạn thảo thay mặt Lê Lợi giao dịch với tướng giặc nhà Minh và bọn tay sai được xem là công trình nghiên cứu công phu nhất được tác giả lựa chọn làm tài liệu nghiên cứu

Trang 40

CHƯƠNG 2 TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN CỦA NGUYỄN TRÃI TRONG TÁC PHẨM “QUÂN TRUNG TỪ MỆNH TẬP”- NỘI DUNG CƠ BẢN

VÀ Ý NGHĨA 2.1 Những nội dung cơ bản trong tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi qua tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập”

Sống trong cảnh đất nước loạn lạc, đời sống dân chúng lầm than dưới sự thống trị tàn bạo của giặc Minh, Nguyễn Trãi luôn đau đáu nỗi niềm mang sức mình ra cứu nước, cứu đời Với tư tưởng nhất quán và xuyên suốt lấy con người, dân tộc làm trung tâm lý tưởng phục vụ, Nguyễn Trãi đã cống hiến hết mình cho công cuộc giải phóng dân tộc Lấy con người, dân tộc làm trung tâm

lý tưởng phục vụ cũng chính là tư tưởng nhân văn cao cả của Nguyễn Trãi

Tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi trong tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” thể hiện tập trung ở một số nội dung sau:

2.1.1 Tư tưởng về quyền được sống trong một quốc gia độc lập, tự chủ với phong kiến phương Bắc

Tư tưởng về quyền được sống trong một quốc gia độc lập, tự chủ với

phong kiến phương Bắc của Nguyễn Trãi xuất phát từ những điều kiện khách quan và chủ quan Sinh thời, Nguyễn Trãi lớn lên trong hoàn cảnh đất nước

có những biến đổi sâu sắc và liên tục (nhà Trần suy vong, nhà Hồ lên cai trị, đất nước loạn lạc giặc Minh xâm lược) lại là con dân của một quốc gia với bề dày lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã đặt nền tảng cho một tư tưởng yêu nước truyền thống, lối giáo dục Nho giáo truyền thống dưới sự rèn giũa trực tiếp từ ông ngoại (Trần Nguyên Đán) và cha (Nguyễn Phi Khanh)- những danh Nho lúc bấy giờ, cùng sự thông minh mẫn tiệp của bản thân đã hun đúc và làm nên một Nguyễn Trãi với tinh thần yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc sâu sắc Đây là nhân tố cơ bản tác động để sự phát triển tư tưởng

Ngày đăng: 07/01/2019, 15:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w