1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi tại cộng đồng (nghiên cứu trường hợp xã vĩnh ngọc, thành phố nha trang, tỉnh khánh hòa)

165 234 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 165
Dung lượng 2,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nghiên cứu về tình hình trợ giúp xã hội đối với NCT tại Việt Nam Trong cuốn “ Người cao tuổi và các mô hình chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam” một công trình nghiên cứu phối hợp

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐOÀN THỊ HUỆ

TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI

TẠI CỘNG ĐỒNG (Nghiên cứu trường hợp xã Vĩnh Ngọc, thành phố Nha Trang,

tỉnh Khánh Hòa)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Hà Nội – 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐOÀN THỊ HUỆ

TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI

TẠI CỘNG ĐỒNG (Nghiên cứu trường hợp xã Vĩnh Ngọc, thành phố Nha Trang,

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

Các thầy, cô giáo đã tham gia giảng dạy lớp Cao học Công tác xã hội khóa

2015 – 2017, những người thầy, người cô đã cho tôi trí thức và kinh nghiệm quý báu trong lĩnh vực Công tác xã hội

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô ở Phòng sau Đại học, Khoa Xã hội học Trường Khoa học xã hội Nhân văn Hà Nội, Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Ngọc, các bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Thu

Hà đã tận tâm hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Sau cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu ra trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ một công trình nào khác

Tác giả

Đoàn Thị Huệ

Trang 5

MỤC LỤC Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục hình ảnh

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 8

3 Ý nghĩa của nghiên cứu 17

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 18

5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 19

6 Câu hỏi nghiên cứu 20

7 Giả thuyết nghiên cứu 20

8 Phương pháp nghiên cứu 21

9 Cấu trúc luận văn 27

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 28

1.1 Các khái niệm công cụ 28

1.1.1 Chính sách xã hội 28

1.1.2 Trợ giúp, trợ giúp xã hội 28

1.1.3 Công tác xã hội, nhân viên công tác xã hội 29

1.1.4 Người cao tuổi 32

1.1.5 Cộng đồng 33

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 33

1.2.1 Lý thuyết về nhu cầu 33

1.2.2 Tiếp cận dựa trên lý thuyết về hệ thống 36

1.2.3 Tiếp cận dựa trên hệ thống về Nhận thức hành vi 37

Trang 6

1.3 Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực chăm

sóc NCT 40

1.4 Khái quát chung về các mô hình trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi ở nước ta 45

1.5 Đặc điểm về địa bàn nghiên cứu 50

Tiểu kết chương 1 54

Chương 2: THỰC TRẠNG TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TẠI XÃ VĨNH NGỌC, THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA 55

2.1 Khái quát chung về Người cao tuổi 55

2.1.1 Khái quát chung về người cao tuổi tại Việt Nam hiện nay 55

2.1.2 Khái quát chung về tình hình người cao tuổi tại xã Vĩnh Ngọc, Nha Trang, Khánh Hòa 58

2.2 Trợ giúp về chăm sóc sức khỏe 62

2.2.1 Hoạt động cấp phát thẻ bảo hiểm y tế và vận động mua thẻ bảo hiểm y tế của chính quyền đối với NCT 62

2.2.2 Trợ giúp của chính quyền nhà nước trong chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi 65

2.2.3 Hoạt động thăm hỏi khi ốm đau và phục hồi chức năng cho NCT 68

2.3 Trợ giúp về vật chất 71

2.3.1 Tình hình trợ cấp chính sách thường xuyên của Chính quyền đối người cao tuổi 71 2.3.2 Hoạt động hỗ trợ vật chất từ phía cộng đồng đối với người cao tuổi

73

2.4 Trợ giúp trong sinh hoạt hằng ngày 76

2.4.1 Chăm sóc sinh hoạt tại nhà 76

2.4.2 Hỗ trợ đi lại cho NCT 80

2.5 Trợ giúp về tinh thần, giao lưu văn hóa và giải trí 82

2.5.1 Hỗ trợ trò chuyện hàng ngày của cộng đồng với NCT 82

2.5.2 Hỗ trợ tham gia các CLB của chính quyền dành cho NCT 85

Trang 7

2.6 Trợ giúp về tiếp cận các kiến thức, thông tin 88

2.5.3 Truyền thông kiến thức từ phía chính quyền cho NCT 88

2.5.4 Cung cấp thông tin xã hội cho NCT 91

Tiểu kết chương 2 94

Chương 3: MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NCT VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CÔNG TÁC TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NCT TẠI XÃ VĨNH NGỌC, NHA TRANG, KHÁNH HÒA 96

3.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động trợ giúp xã hội đối với NCT tại xã Vĩnh Ngọc 96

3.2 Mong muốn tiếp theo của Người cao tuổi về hoạt động trợ giúp 104

3.3 Các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động trợ giúp xã hội đối với NCT tại xã Vĩnh Ngọc, Nha Trang, Khánh Hòa 109

3.3.1 Quan tâm chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi nhằm tăng cường sức khỏe và tuổi thọ cho NCT 109

3.3.2 Hỗ trợ vật chất, tinh thần nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho NCT. 111 3.3.3 Tạo điều kiện tối đa để NCT được tiếp cận với các thông tin, kiến thức

113

3.4 Ứng dụng Công tác xã hội cá nhân vào trợ giúp thân chủ tham CLB dưỡng sinh 115

3.4.1 Xác định và mô tả trường hợp 118

3.4.2 Xác định lý do chưa tham gia CLB dưỡng sinh 119

3.4.3 Mục tiêu trợ giúp 121

3.4.4 Kế hoạch trợ giúp 121

3.4.5 Triển khai thực hiện kế hoạch hỗ trợ thân chủ 124

3.4.6 Lượng giá 131

Tiểu kết chương 3 133

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 135

1 Kết luận 135

Trang 8

2 Khuyến nghị 137

2.1 Đối với nhà nước 137

2.2 Đối với chính quyền, tổ chức, đoàn thể, địa phương 138

2.3 Đối với gia đình 139

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 141

PHỤ LỤC 144

Phụ lục 1 144

Phụ lục 2: 151

Phụ lục 3: 152

Trang 9

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 10

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Độ tuổi của NCT trong mẫu nghiên cứu 25

Bảng 1.2 Tình trạng hôn nhân của NCT trong mẫu NC 25

Bảng 1.3 Trình độ học vấn của NCT trong mẫu NC 25

Bảng 1.4 Nghề nghiệp của NCT trong mẫu NC 26

Bảng 1.5 Thu nhập của NCT trong mẫu NC 26

Biểu đồ 2.1 Đánh giá tình trạng sức khỏe hiện nay của NCT 62

Biểu đồ 2.2 Hoạt động cấp và vận động mua thẻ BHYT cho NCT 63

Bảng 2.3 Đánh giá mức độ sử dụng thẻ BHYT của NCT 64

Biểu đồ 2.4 Hình thức khám chữa bệnh của NCT lựa chọn 65

Biểu đồ 2.5 Sự quan tâm của chính quyền đối trong CSSK đối với NCT 67

Biểu đồ 2.6 Thực trạng giúp đỡ NCT khi bị ốm đau 68

Bảng 2.7 Sự quan tâm của chình quyền địa phương khi NCT ốm đau 70

Biểu đồ 2.8 Các nguồn thu nhập của NCT hiện nay 74

Bảng 2.9 Nguồn trợ giúp tiền và các vật dụng trong gia đình 75

Biểu đồ 2.10 Tình hình giúp đỡ NCT khi họ gặp khó khăn 77

Bảng 2.11 Sự trợ giúp sinh hoạt cho NCT của chính quyền, đoàn thể 79

Biểu đồ 2.12 Tình hình đi lại của người cao tuổi 81

Biểu đồ 2.13 Người thường xuyên trò chuyện với NCT 84

Biểu đồ 2.14 Mức độ tham gia các câu lạc bộ của NCT 86

Bảng 2.15 Sự hỗ trợ của chính quyền, đoàn thể, CLB đối với NCT 87

Biểu đồ 2.16 Mức độ hiểu biết về các CS của NN đối với NCT 88

Biểu đồ 2.17 Mức độ hiểu biết kiến thức CSSK của NCT 90

Biểu đồ 2.18 Các nguồn tiếp cận thông tin của NCT 92

Hình 3.1 Cây cầu Gỗ trên sông Cái 99

Bảng 2.16 Nguồn trợ giúp tiền và các vật dụng trong gia đình 160

Danh mục các hình ảnh

Hình 1.1: Sạt lở bên bờ Sông Cái

Hình 1.2: Chiếc Cầu Gỗ bắc qua sông Cái

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xã hội phát triển, đời sống con người tăng lên, chất lượng cuộc sống của con người được nâng cao, con người có điều kiện chăm sóc sức khỏe và đáp ứng tối đa nhu cầu cơ bản của mình Cùng với chủ trương của Nhà nước trong việc hạn chế sinh đẻ đã làm cho số lượng người cao tuổi ở nước ta tăng lên đáng kể

Ở nước ta, theo dự báo dân số của Tổng cục Thống kê (2010) thì tỷ lệ người cao tuổi so với tổng dân số ở Việt Nam sẽ đạt đến con số 10% vào năm 2017, hay dân số Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn “già hóa” từ năm 2017

Việt Nam đang bước vào thời kỳ già hóa dân số với số người từ 60 tuổi trở lên là 9.016.604 người, chiếm tỷ lệ 10.2% (năm 2012) và đang gia tăng nhanh chóng ( Vụ bảo hiểm y tế, Bộ y tế) Cùng với sự phát triển về kinh tế, xã hội của đất nước, phần lớn người cao tuổi ( NCT) có cuộc sốn ổn định về vật chất, tinh thần Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận NCT đang phải lao động kiếm sống, sống cô đơn

và đối mặt với nhiều nguy cơ bất lợi cho sức khỏe Người cao tuổi Việt Nam hiện nay có tỷ lệ ốm đâu, tình trạng khỏe mạnh thấp Trung bình mỗi người phải chịu 14 năm bệnh tật trong tổng số 73 năm trong cuộc sống (Tổng cục thống kê 2012, kết quả điều tra biến động dân số và nhà ở năm 2012, Hà Nội) Người cao tuổi được xem như vốn quý của xã hội bởi những đóng góp của họ về kinh nghiệm, kiến thức cho sự phát triển Đồng thời là động lực tinh thần cho các thế hệ mai sau và là niềm hạnh phúc của mỗi gia đình Người cao tuổi cũng cần nhận được sự quan tâm, hỗ trợ từ gia đình, cộng đồng, Nhà nước trong việc đáp ứng về kinh tế, sự tham gia xã hội, đặc biệt là chăm sóc sức khỏe để đảm bảo chất lượng cuộc sống

Ở Khánh Hòa, người cao tuổi tuy tuổi cao, sức khỏe yếu nhưng NCT vẫn luôn có nhiều đóng góp thiết thực cho sự phát trển của toàn tỉnh và cho đất nước Trải qua một thời kỳ bom đạn, NCT Khánh Hòa là những nhân chứng trong từng giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc Trong thời bình, họ tiếp tục cống hiến , đóng góp cho sự nghiệp quê hương, đất nước Hòa trong dòng chảy của nhiệt huyết

Trang 12

và cống hiến ấy, NCT Khánh Hòa cũng phát huy “nguồn nội sinh” của mình bằng việc tham gia các hoạt động văn hóa, xã hội, góp công sức trong sự nghiệp phát triển địa phương Nhận thức được tầm quan trọng của người cao tuổi, các cấp, các ban ngành, và đặc biệt là các cấp hội NCT đã rất quan tâm và chăm lo đến đời sống, sức khỏe của hội viên Nhiều hoạt động thiết thực nhằm tạo điều kiện để các cụ hưởng thụ văn hóa, được thông tin, sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc, đồng thời phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống, lao động, chiến đấu của NCT trong gia đình và

xã hội Tuy vậy, hiện nay công tác chăm sóc, hỗ trợ xã hội của Nhà nước đối với người cao tuổi tại cộng đồng còn rất khó khăn NCT vẫn chịu nhiều thiệt thòi ngay

cả khi họ có sự trợ giúp từ phía xã hội Mặc dù tuổi đã cao song họ vẫn phải đi làm

tự kiếm sống, nhiều người không được con cháu tôn trọng, nuôi dưỡng nên sống trong cô đơn, các cụ phải đối mắt với nhiều mối đe dọa từ thiên tai, thời tiết khi trái gió trở trời, các cụ thường ốm đau nhưng chưa được quan tâm một cách chu đáo dẫn đến khi phát hiện ra bệnh đã quá muộn Trước thực trạng đó, cần hơn bao giờ hết những sự quan tâm về một mặt từ phía xã hội, gia đình để NCT tại Khánh Hòa

Với những vấn đề thực tế trên, rõ ràng NCT cần được quan tâm, được chăm sóc, được bảo vệ để họ hưởng thụ những ngày cuối đời đẹp đẽ, để họ cống hiến chút kinh nghiệm quý báu của mình cho xã hội Vì vậy, tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài:

“Trợ giúp xã hội đối với Người cao tuổi tại cộng đồng ( Nghiên cứu trường hợp

Trang 13

Xã Vĩnh Ngọc, Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa)” Với nghiên cứu này,

tác giả mong muốn được tìm hiểu những chính sách mà NCT được hưởng trên địa bàn, từ đó tìm ra những hạn chế và đồng thời đưa ra những giải pháp mới nhằm khác phục những hạn chế trong công tác trợ giúp xã hội đối với NCT trên địa bàn nghiên cứu

2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

2.1 Nghiên cứu kinh nghiệm chăm sóc người cao tuổi trên thế giới

Đề tài đã phân tích kinh nghiệm nghiên cứu của các nước trên thế giới thông

qua báo cáo hội thảo “Nghiên cứu tổng quan về vai trò gia đình và Nhà nước trong chăm sóc Người cao tuổi: Những vấn đề thực tiễn và chính sách” của tác

giả Trần Thị Minh Thi (2014) Vì lý do không có điều kiện để tiếp cận cụ thể các nghiên cứu của các tác giả trên thế giới, đề tài đã dựa vào những khái quát của tác giả Trần Thị Minh Thi những hoạt động chăm sóc NCT tại một số quốc gia, cụ thể như sau:

Tại Hàn Quốc: triển khai hệ thống bảo hiểm chăm sóc suốt đời (long – term

care insurance) Ở Hàn Quốc có một hình thức chăm sóc, trợ giúp NCT đó là “ Bảo hiểm chăm sóc trọn đời” cụ thể như sau: Dành cho NCT từ 65 tuổi trở lên phải nhờ

sự trợ giúp trong hoạt động sinh hoạt hằng ngày Bao gồm dịch vụ tại nhà, tại cơ sở chăm sóc, và trợ cấp tiền mặt ( giúp NCT và gia đình chi phí chăm sóc y tế tại những vùng xa ít có các dịch vụ chăm sóc suốt đời; và giúp NCT không thể /không phù hợp sinh hoạt ở các cơ sở chăm sóc suốt đời do các điều kiện sức khỏe, tinh thần hay tâm lý; chi phí một phần cho các dịch vụ chăm sóc không đăng ký tại nhà hay tại các cơ sở Các cơ sở chăm sóc bao gồm: trung tâm chăm sóc suốt đời, y tá tại nhà, nhà dưỡng lão Các dịch vụ bao gồm: y tá chăm sóc tại nhà, chăm sóc ngày

và đêm,chăm sóc ngắn hạn, dịch vụ chăm sóc tại nhà hoặc di động)

Tại Thái Lan: Theo truyền thống, chăm sóc NCT là trách nhiệm của gia

đình Hiện nay, gia đình vẫn đóng vai trò chính Người chăm sóc chính là thành viên gia đình, chủ yếu là phụ nữ Cộng đồng cũng đóng vai trò quan trọng, cộng đồng bao gồm hàng xóm, bạn bè, các hội tự nguyện, các câu lạc bộ tự nguyện, các

Trang 14

mạng lưới theo nhóm hay vùng dân cư, các tổ chức tình nguyện và phi lợi nhuận Dịch vụ công của Nhà nước: nhà ở công của chính phủ cho người cao tuổi (National Government Admnistrated Public Elderly Home), cho người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa Nhà ở công của địa phương Hệ thống miễn thuế thu nhập cá nhân: cho người làm việc phải nuôi dưỡng, chăm sóc cha mẹ: qua hai kênh miễn giảm; miễn giảm chi phí chăm sóc cha mẹ; và chi phí bảo hiểm sức khỏe cho cha mẹ ( trẻ

em cũng tương tự)

Tại Nhật Bản: Hệ thống chăm sóc cho NCT nhận phúc lợi rất thấp Thành

viên trong gia đình chăm sóc cho người cao tuổi Gánh nặng chăm sóc Người cao tuổi rất lớn Năm 1989, chính phủ xây dựng kế hoạch vàng cho NCT Nhà nước chăm sóc cải thiện phúc lợi cho NCT.Thay đổi trong phân công lao động giới trong gia đình: người chịu chăm sóc chính vẫn là phụ nữ nhưng tỷ lệ giảm dần Trước kia, phụ nữ là người chăm sóc chính về mọi mặt, hiện nay vai trò chăm sóc chuyển dần cho các tổ chức chuyên nghiệp Truyền thống tại Nhật Bản là vợ hoặc con cái chăm sóc (con dâu cả) Nhưng ngày nay tập tục truyền thống và thực tiễn xã hội đã có sự thay đổi đó là sự thừa kế bình đẳng

Tại Mỹ: theo các nghiên cứu, phần lớn người cao tuổi đều muốn sống độc

lập đến một lúc nào họ không tự phục vụ được bản thân Trong khi nhiều người chỉ yêu cầu dịch vụ tối thiểu để đảm bảo sự độc lập của mình thì những người nhiều tuổi hơn khác lại phụ thuộc vào những hàn hóa và dịch vụ đặc biệt cho phép họ tồn tại trong cộng đồng Những dịch vụ này trợ giúp việc chăm sóc cá nhân, cung cấp thuốc, các hoạt động thường ngày và các hoạt động duy trì sức khỏe Ngoài ra, các dịch vụ khác được cung cấp cho NCTđể duy trì hoặc quay trở về cuộc sống độc lập như các bữa ăn, trông coi nhà cửa, giúp đỡ vệ sinh cá nhân và đi lại

Tại Trung Quốc: hệ thống phúc lợi xã hội được thiết lập bởi chính phủ, cung

cấp các quỹ nhằm đảm bảo cuộc sống cho những người cao tuổi, trẻ em mồ côi cả cha lẫn mẹ và những người có hoàn cảnh túng quẫn Để đảm bảo quyền lợi cho những đối tượng đặc biệt này chính phủ đã ban hành về quyền và lợi ích của người cao tuổi Bộ luật quy định rằng tại các thành phố, người cao tuổi góa không có con

Trang 15

cái, không có sự giúp đỡ và sống cô đơn sẽ được giúp đỡ và sinh sống trong những ngôi nhà tập trung đặc biệt

Tại Hồng Kông: các dịch vụ phúc lợi cung cấp cho người cao tuổi ở Hồng

Kông đều được điều hành bởi các tổ chức phi chính phủ với sự tài trợ phần lớn từ chính phủ Chính phủ điều hành một kế hoạch an sinh xã hội, cung cấp khoản trợ cấp cho những người từ 60 tuổi trở lên và sự giúp đỡ cộng đồng cho những người cao tuổi thuộc diện nghèo

Ở các nước phát triển: già hóa dân số diễn ra từ từ, nhưng các nước này

cũng đã vấp phải những thách thức nảy sinh từ mối quan hệ giữa quy mô dân số già ngày càng tăng, quy mô dân số lao động giảm dần tạo thêm áp lực cho quốc gia và người lao động khi phải cân đối nguồn lực cho tiết kiệm bảo hiểm tuổi già thông qua hệ thống an sinh xã hội Các nước đang phát triển cũng phải đương đầu với hai thách thức: đầu tư cho phát triển và thích ứng với sự già hóa dân số Mối quan tâm hàng đầu ở các nước phát triển về sức khỏe là phòng ngừa và điều trị các bệnh không lây nhiễm, chủ yếu là các bệnh mãn tính như ( tim mạch, ung thư, rối loạn chuyển hóa, Alzheimer…trong đó các bệnh mãn tính trở thành nguyên nhân hàng đầu ngây bệnh tật và giảm chất lượng cuộc sống) Trong khi các quốc gia đang phát triển vừa phải đối mặt với các bệnh lây nhiễm, suy dinh dưỡng và cả sự gia tăng nhanh chóng của các bệnh không lây truyền trong điều kiện hệ thống chăm sóc sức khỏe còn thiếu thốn

Ở các nước có thu nhập trung bình và thấp: hàng triệu người cao tuổi

sống dưới mức nghèo đói, phần lớn họ không có nghỉ hưu Họ không có cả lương hưu tối thiểu, phải làm việc để đảm bảo cuộc sống và thường làm những công việc không an toàn, được trả công thấp đến khi họ không thể làm việc được nữa hoặc bệnh tật, ốm đau Những người không làm việc được phải sống trong cảnh bần cùng Khủng hoảng kinh tế thế giới, dẫn đến sự gia tăng giá cả sinh hoạt, thức ăn, giao thông và nhà ở…làm tồi tệ thêm cuộc sống của họ Các hộ gia đình nghèo ảnh hưởng nhiều nhất đến người già và trẻ em trong gia đình Những người cao tuổi trong gia đình phải chăm sóc trẻ em mà cha mẹ các em di cư ra thành thị kiếm tiền

Trang 16

Những NCT ở các nước có thu nhập trung bình và thấp không có cơ hội cải thiện cuộc sống Vai trò của họ đối với gia đình và cộng đồng thường không được biết đến và đánh giá đúng mức Đặc biệt, đối với những người sống ở các địa phương nghèo hoặc bị tác động xấu của môi trường thường có nguy cơ cao chịu ảnh hưởng của các cuộc xung đột hoặc các nguyên nhân khác về chính trị, môi trường không

ổn định tạo ra sự thiếu an toàn cho họ

Tuy vậy, NCT trên toàn cầu vẫn đang thể hiện các cơ hội về tiềm năng, kinh

nghiệm, khả năng sâu rộng của họ Thu nhập và sức khỏe ở tuổi già là mục tiêu, kể

cả đối với các nước nghèo, để đảm bảo cho sự tham gia của NCT đối với xã hội

Tóm lại, với những kinh nghiệm nghiên cứu của các tác giả trên trên thế giới, chúng ta nhận thấy rằng NCT đã và đang được quan tâm đặc biết với nhiều các chính sách, các kế hoạch cụ thể nhằm đảm bảo cho NCT có một cuộc sống thoải mái Các nước đã quan tâm đến chính sách chăm sóc sức khỏe cho NCT với những hoạt động thiết thực và phong phú Trong sinh hoạt hàng ngày NCT được các thành viên trong gia đình và cộng đồng chăm sóc và giúp đỡ nhiệt tình, chu đáo Các phúc lợi và an sinh sinh xã hội cho NCT được đảm bảo một cách tối đa nhất giúp người cao tuổi được tiếp cận với các dịch vụ phúc lợi xã hội và an sinh xã hội tốt nhất

Tại một số quốc gia phát triển, điển hình như Mỹ đã thực hiện quyền tự do cho NCT, để cho NCT được thoải mái tự phục vụ mình dưới sự hỗ trợ của người thân và cộng đồng Các nước phát triển quan tâm đến vấn đề bệnh tật và có những biện pháp phòng chống bệnh tật cho NCT tránh tình trạng lây nhiễm bệnh trong cộng đồng

Bên cạnh đó, nghiên cứu ở các nước nghèo và đang phát triển thì NCT đang phải đối mặt với nhiều thách thức và khó khăn, họ chưa được quan tâm đúng mực, NCT còn phải lao động để tự kiếm sống Việt Nam là nước đang nằm trong thực trạng này cùng với các nước nghèo và đang phát triển trên thế giới

Trang 17

2.2 Những nghiên cứu về đời sống của người cao tuổi tại Việt Nam

Có rất nhiều tài liệu về NCT Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn chỉ nói đến việc trợ giúp xã hội cho NCT và việc tiếp cận các dịch vụ, các chính sách Nhà nước của NCT Chủ yếu các tài liệu nói lên vấn đề sau: bức tranh tổng quát về NCT, thực trạng chăm sóc NCT, thực trạng trợ giúp NCT, những nhu cầu mong muốn của NCT, các giải pháp nhằm trợ giúp xã hội cho NCT

Theo kết quả điều tra của Bộ lao động – Thương binh và xã hội đã cho ra rằng số NCT trong độ tuổi từ 60 – 70 tuổi còn phải lao động để kiếm sống, chiếm

tỷ lệ rất cao trong số đó nhiều NCT còn phải đóng vai trò chính trong kinh tế gia đình ( Bế Quỳnh Nga, 2001) Đa số các cụ phải lao động kinh tế ở khu vực nông thôn, cuộc sống khó khăn, thiếu thốn về cái ăn, cái mặc, đời sống tinh thần không được thỏa mãn (Báo cáo kết quả điều tra cơ bản điều kiện sống của NCT ở Việt Nam, 1999)

Theo số liệu của cuộc điều tra, những người cao tuổi không tham gia hoạt động kinh tế chỉ có 4,32% là nghỉ ngơi, tỷ lệ này ở khu vực thành thị là 11,27% và nông thôn là 1,13% Có tới 51,62% NCT còn giúp đỡ việc nhà; 15,82% trông nom, dạy dỗ con cháu học hành ( Kỷ yếu hội thảo về người cao tuổi, 1998)

Ở Việt Nam NCT tập trung chủ yếu ở nông thôn, làm nông nghiệp, lao động đơn giản, nhiều người cao tuổi còn phải tiếp tục lao động kiếm sống Do hậu quả của chế độ cũ, chiến tranh nên hầu hết trình độ học vấn của NCT rất thấp, NCT có

tỷ lệ thất học cao, chỉ có 0.21% có trình độ trung học trở lên, những hiểu biết về ngành y học thường thức, các biện pháp luyện tập, dự phòng và điều trị các bệnh thông thương của NCT còn tất nhiều hạn chế Việc chăm sóc NCT tại các gia đình đang gặp nhiều khó khăn do điều kiện kinh tế, công việc của con cái, quan hệ truyền thống giữa các thế hệ đang có sự sa sút ( Mai Hoàng Lan, 2007)

Theo Lê Văn Khảm trong nghiên cứu “ Vấn đề người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay ; Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 7 (80)- 2014” đã chỉ ra rằng,

hiện nay có trên 59% số người từ 60 – 69 tuổi và khoảng 41% người trên 70 tuổi

Trang 18

vẫn đang làm việc, 56,8% trong lĩnh vực nông nghiệp Đáng chú ý là, có rất nhiều người cao tuổi, đặc biệt là người từ 60 – 69 tuổi có nhu cầu làm việc, nhưng không

có việc làm do không tìm được công việc phù hợp, do phải làm việc nhà và điều kiện về sức khỏe Do điều kiện lịch sử và những khó khăn hiện tại, khả năng tích lũy vật chất của NCT còn hạn chế Có tới 70% số NCT không có tích lũy vật chất, 18% số người thuộc hộ gia đình nghèo Người cao tuổi cũng đang chịu tác động của

sự thay đổi cấu trúc gia đình khi tỷ lệ hộ gia đình có cha mẹ sống chung với các con

đã giảm đi rõ rệt, từ 80% năm 1993 theo điều tra về mức sống cư dân xuống còn 69,5% năm 2011 ( theo VNAS) Thay vào đó là sự gia tăng số hộ gia đình chỉ có ông bà sống với con cháu ( gọi là gia đình khuyết thế hệ có nguyên nhân từ sự di cư của người lao động trẻ từ nông thôn ra thành thị) từ 6.8% ( Báo cáo điều tra mức sống dân cư năm 2010) đến 7,1% ( Báo cáo VNAS) Thực trạng này có thể làm cho cuộc sống của NCT càng thêm khó khăn, kể cả về kinh tế, xã hội và tâm lý

Do chưa có điều kiện để tiếp cận với các nghiên cứu cụ thể, tuy nhiên, nhìn tổng quan chung các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào bức tranh tổng quan chung

về đời sống, hoàn cảnh của người cao tuổi ở nước ta hiện nay Từ các kết quả nghiên cứu nhận thấy NCT còn gặp rất nhiều khó khăn trong đời sống hàng ngày,

họ phải sống và đối mặt với nghèo đói, bệnh tật, thiếu việc làm, nguy cơ rủi ro cao đặc biệt là NCT ở khu vực nông thôn, miền núi Công tác chăm sóc NCT tại các gia đình còn sơ sài, do thiếu diều kiện kinh tế ở mỗi gia đình NCT phải làm việc nhà phụ giúp con cháu, họ không có thời gian nghỉ ngơi tuổi gia đã gây ảnh hưởng đến sức khỏe của NCT

2.3 Những nghiên cứu về tình hình trợ giúp xã hội đối với NCT tại Việt Nam

Trong cuốn “ Người cao tuổi và các mô hình chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam” một công trình nghiên cứu phối hợp giữa Ủy ban dân số, Gia đình và

Trẻ em với Viện nghiên cứu Truyền thông và phát triển năm 2008 – 2009 Đây là tập hợp nghiên cứu được thực hiện trên 3 thành phố Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố

Hồ Chí Minh, với các nhóm đối tượng như sau: nhóm người cung cấp dịch vụ chăm sóc người cao tuổi, người sử dụng dịch vụ chăm sóc NCT, cán bộ địa phương và

Trang 19

cộng đồng Bên cạnh đó Viện Nghiên cứu Truyền thông và Phát triển còn tiếp tục triển khai nghiên cứu sâu hơn thông qua quá trình khảo sát các mô hình chăm sóc NCT tại Huế và Hà Nội, trong đó đặc biệt đã có tổ chức nhiều cuộc gặp gỡ, trao đổi

và tọa đàm với đại diện các nhóm xã hội khác nhau, nhằm hoàn thành tốt nhất cho cuộc nghiên cứu Theo các tác giả của công trình nghiên cứu, NCT không còn là một vấn đề mới, tuy nhiên trong bối cảnh toàn cầu hóa và mở rộng giao lưu văn hóa thì quan tâm và nghiên cứu NCT là một nhu cầu không thể thiếu Đặc biệt trong những năm gần đây nhiều loại hình dịch vụ chăm sóc NCT được hình thành và hoạt động, đặc biệt là các mô hình tư nhân, liên kết…đang phát triển khá mạnh, tuy nhiên chưa có sự đầu tư và chưa có sự quan tâm của các cấp

Trong Báo cáo tổng quan về chính sách chăm sóc Người già thích ứng với

sự thay đổi cơ cấu tuổi tại Việt Nam ( 2009) cho thấy: Nhu cầu chăm sóc y tế và xã

hội của NCT Việt Nam còn có những đặc trưng rất hạn chế Ví dụ: tỷ lệ người cao tuổi sống độc thân tương đối cao ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam – 14,2% dẫn đến sự hạn chế cả về hỗ trợ kinh tế, tinh thần từ phía gia đình, người thân và không có người trợ giúp trong sinh hoạt hằng ngày Về tình trạng kinh tế, thu nhập của NCT còn rất thấp, hầu như không vó nguồn tiết kiệm tích lũy từ lúc còn trẻ Thực trạng này còn đặc biệt khó khăn hơn đó là ở khu vực nông thôn và miền núi

Năm 2011, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phối hợp cùng trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam, Viện nghiên cứu Y – Xã hội học và Công ty

Nghiên cứu và tư vấn Đông Dương tổ chức “Điều tra quốc gia về người cao tuổi Việt Nam”, đây là một phần của dự án “ Tăng cường các quyền của Người cao tuổi

thiệt thòi tại Việt Nam” được triển khai bởi Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam Kết quả điều tra quốc gia về Người cao tuổi Việt Nam lần đầu tiên được công bố là một cơ

sở quan trọng cho các hoạt động nghiên cứu và vận động chính sách đối với NCT Việt Nam VNAS thu thập số liệu từ tháng 10 – 12/2011 tại 12 tỉnh, thành phố đại diện cho 6 vùng sinh thái của Việt Nam ( bao gồm Thái Nguyên, Hưng Yên, Thanh Hóa, Hà Nội, Nam Định, Huế, Đắk Lắk, Đồng Nai, Sóc Trăng, Tiền Giang và Thành phố Hồ Chí Minh) Hơn 4.000 người đại diện cho nhóm dân số cận cao tuổi

Trang 20

và cao tuổi ( từ 50 tuổi trở lên) đã được phỏng vấn trong cuộc điều tra này Số liệu điều tra mô tả các đặc điểm kinh tế, xã hội, tình hình sức khỏe, xu hướng bệnh tật, đời sống vật chất, tinh thần, nhu cầu chăm sóc và được chăm sóc cũng như việc tiếp cận các chế độ an sinh xã hội và dịch vụ y tế của Người cao tuổi

Một cuộc điều tra khảo sát về “ Hoạt động nhận thức và sự thoải mái tình cảm của NCT ở Đà nẵng” (Nguyễn Huỳnh Ngọc và cộng sự, 2011) với mẫu 600

người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên được chọn từ 3 phường của Quận Hải Châu (khu vực thành thị) và 3 xã của Huyện Hòa Vang (khu vực nông thôn) Kết quả nghiên cứu cho thấy các triệu chứng về nhận thức khá phổ biến ở NCT Việt Nam Tỷ lệ cao

có thể là kết quả của các vấn đề: kinh tế khó khăn và trải nghiệm thời cuộc của lớp người già đã sống qua chến tranh và chịu các biến động xã hội thời trẻ Mức độ nhận thức thấp phản ánh một phần trình độ học vấn ở NCT Dịch vụ hỗ trợ và dịch

vụ y tế cho người già cao tuổi cần tập trung vào cả hai mặt: thể lực và sức khỏe tâm thần để có được kết quả tốt nhất Nghiên cứu cũng chỉ ra một số khuyến nghị mới là cần thực hiện chuẩn hóa công cụ kiểm tra sức khỏe tâm thần cho người Việt Nam,

và định mức bình quân xem xét các yếu tố văn hóa có thể sử dụng để xác định đối tượng cần can thiệp Nghiên cứu này có một vài hạn chế Do đây là nghiên cứu cắt ngang nên không xác định được nguyên nhân Tập hợp dữ liệu không bao gồm danh mục mở rộng các điều kiện cũng như đo lường mức độ nặng của bệnh kèm theo

Tiến sĩ Hoàng Mộc Lan (Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn) có

bài viết “ Đời sống tình thần của người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay” đứng trên

gốc độ phân tích của một nhà tâm lý học Theo tác giả, đối với NCT ở Việt Nam hiện nay vấn đề được cho là đáng quan tâm ở khía cạnh đời sống tinh thần là: việc làm, thu nhập và lao động; sức khỏe và nhu cầu được chăm sóc sức khỏe; quan hệ

xã hội và nhu cầu được quan tâm, tôn trọng Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng phân tích về thu nhập của của NCT neo đơn không nơi nương tựa Tác giả cho biết, những nguồn thu nhập của đối tượng này thường thu nhập tư việc bán hàng rong, hưởng các chế độ chính sách, trợ cấp cho người già hoặc từ chính quyền địa phương, các cơ sở, các tổ chức xã hội Phân bố NCT không đồng đều, về nguyện

Trang 21

vọng lớn nhất của NCT là được quan tâm, chăm sóc Bên cạnh đó, bài viết còn phân tích về mặt sức khỏe của người cao tuổi, những chứng bệnh NCT hay mắc phải Đề cập đến mối quan hệ xã hội và nhu cầu quan tâm, tôn trọng Tác giả đã làm những khảo sát tại các vùng thuộc các tỉnh phía Bắc và rút ra kết luận: “ Hoạt động xã hội của NCT hiện nay co lại trong phạm vi gia đình, thân tộc nhiều hơn Các hoạt động

xã hội rộng lớn, mang tính cộng đồng làng xã còn rất nghèo nàn Nếu tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến lạc hậu về thời cuộc và cô đơn trong cuộc sống của NCT.”

Công trình “ Nhu cầu trợ giúp của người cao tuổi tại cộng đồng” (Hoàng

Mai Hương, 2013) với địa bàn nghiên cứu tại quận Hoàng Mai và Đống Đa, Hà Nội

đi sâu vào vấn đề nhu cầu của người cao tuổi trong cuộc sống hàng ngày theo hướng tiếp cận quyền sống, lợi ích của con người, truyền thống tôn trọng người già của dân tộc và hệ thống lý thuyết nhu cầu của Maslow Nghiên cứu đi sâu tìm hiểu

5 nhu cầu chính trong rất nhiều các nhu cầu khác nhau của NCT Những phát hiện trong nghiên cứu cho thấy, về cơ bản, người cao tuổi đều có nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, nhu cầu tình cảm, nhu cầu vật chất, nhu cầu giao lưu và mở rộng hiểu biết Trong đó nhu cầu chăm sóc sức khỏe và tình cảm là hai nhu cầu quan trọng nhất Nhu cầu mở rộng hiểu biết cũng được nhiều người cao tuổi quan tâm, nhưng không phải là nhu cầu bức thiết của NCT, sự mong đợi của họ hướng vào chính sách bảo hiểm y tế và tăng lương hưu, các khoản trợ cấp Đó là kỳ vọng của NCT đối với chính sách của Nhà nước, vì vậy, công tác xã hội ngoài việc tăng cường trợ giúp NCT theo hướng huy động nguồn lực, kết nối, tăng cường năng lực thì việc vận động hoàn thiện chính sách cũng là một nhiệm vụ hết sức quan trọng Đề tài khẳng định nhu cầu trợ giúp của NCT là nguyện vọng chính đáng của NCT để họ có một cuộc sống an toàn hơn

Với những nghiên cứu trên, các tác giả tập trung nghiên cứu các mô hình chăm sóc người cao tuổi trong các lĩnh vực; thực trạng chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi còn thấp; NCT còn dối mặt với nhiều nguy cơ về nghèo đói, bệnh tật

và sa sút tinh thần; điều tra về các quyền mà NCT được hưởng trong tất cả các lĩnh vực; khảo sát về mức độ nhận thức và sự thoải mái về mặt tình cảm của NCT cho

Trang 22

thấy nhận thức, học vấn của NCT còn thấp, cần có các công cụ để kiểm tra sức khỏe tinh thần cho NCT; nghiên cứu về đời sống tinh thần của NCT thể hiện trên các phương diện khác nhau như sự tôn trọng, sự quan tâm, chăm sóc, việc làm và thu nhập có ảnh hưởng trực tiếp hay gán tiếp đến đời sống tinh thần; nghiên cứu về nhu cầu cần được trợ giúp của người cao tuổ cho thấy về cơ bản NCT đều có các nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, nhu cầu tình cảm, nhu cầu được giao lưu, mở rộng…

Như vậy, đã có nhiều các công trình nghiên cứu về người cao tuổi và sự trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi Tuy nhiên, các nghiên cứu mới tập chủ yếu về tình hình đời sống và nhu cầu của NCT chứ chưa nghiên cứu sâu về thực trạng trợ giúp xã hội đối với NCT diễn ra như thế nào, đã làm được hay chưa, đã làm đến đâu…Hơn nữa, địa điểm nghiên cứu chủ yếu ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung, trong khi đó ở miền Nam thì còn hạn chế các công trình nghiên cứu về sự trợ giúp

xã hội đối với người cao tuổi Vì lẽ đó, tác giả mạnh dạn nghiên cứu vấn đề trợ giúp

xã hội đối với người cao tuổi tại Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Tác giả mong muốn với nghiên cứu của mình, sẽ giúp làm rõ hơn nữa các hoạt động trợ giúp xã hội đối với NCT trên địa bàn thành phố mà cụ thể là tại địa phương tác giả sinh sống Từ đó, phân tích những mong muốn của NCT sau khi được thu hưởng các hoạt động trợ giúp từ phía xã hội

3 Ý nghĩa của nghiên cứu

2.4 Ý nghĩa lý luận

Nghiên cứu đã vận dụng một số lý thuyết xã hội học trong việc giải thích những nhu cầu cơ bản cần đáp ứng của NCT; giải thích những hệ thống hỗ trợ NCT trong gia đình, cộng đồng và xã hội, đồng thời chỉ ra được những nhận thức của người làm công tác chính sách đối với NCT

Luận văn nghiên cứu những hoạt động trợ giúp chính sách đối với người cao tuổi tại cộng đồng Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là nguồn tài liệu học tập cho những người nghiên cứu lĩnh vực người cao tuổi Những thông tin thu thập được từ nghiên cứu sẽ là nguồn tư liệu tham khảo trong quá trình phân tích các khía cạnh về lĩnh vực trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

Trang 23

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là một nguồn tư liệu tham khảo đóng góp cho khoa, cho trường nhằm phục vụ các công trình nghiên cứu sau này trong lĩnh vực NCT ở khía cạnh trợ giúp xã hội

2.5 Ý nghĩa thực tiễn

Với tình hình hiện nay, xu hướng già hóa dân số đang ngày càng gia tăng Người cao tuổi chính là kho kinh nghiệm quý báu, nguồn tri thức vô giá, là sự cống hiến không mệt mỏi cho đất nước từ bao đời nay Chính vì thế, cần quan tâm đến NCT, chăm sóc, động viên NCT để họ có một cuộc sống an sinh, an toàn nhất Giúp

họ có khả năng và điều kiện phát huy hết năng lực, kinh nghiệm vốn quý của họ

Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần cung cấp thêm những thông tin về NCT, hiểu thêm về những mong muốn hiện tại của NCT, từ đó tác động vào việc thực hiện các chính sách trợ giúp xã hội đối với NCT tại xã Vĩnh Ngọc, Nha Trang, Khánh Hòa

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu nhằm hướng tới việc tìm hiểu thực trạng hoạt động trợ giúp xã hội đối với NCT trên địa bàn xã Vĩnh Ngọc; tìm hiểu hiệu quả của hoạt động trợ giúp xã hội và các yếu tố tác động đến hoạt động trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi Trên cơ sở đó đưa ra hệ thống các giải pháp nhằm thực hiện hợp lý các chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi trên địa bàn xã Vĩnh Ngọc

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Mô tả các đặc điểm chung của người cao tuổi tại xã Vĩnh Ngọc, Nha Trang, Khánh Hòa

Tìm hiểu thực trạng trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi trên địa bàn nghiên cứu

Phân tích các yêú tố tác động đến hoạt động trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi tại xã Vĩnh Ngọc, Nha Trang, Khánh Hòa

Trang 24

Phân tích những mong muốn hiện nay của người cao tuổi sau khi thực hiện hoạt động trợ giúp xã hội tại xã Vĩnh Ngọc, Nha Trang, Khánh Hòa

Đề xuất một số khuyến nghị về giải pháp nhằm thực hiện tốt hoạt động trợ giúp xã hội đối với NCT

5 Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi tại xã Vĩnh Ngọc, Nha Trang, Khánh Hòa

5.2 Khách thể nghiên cứu

Người cao tuổi sống trên địa bàn nghiên cứu

Chính quyền địa phương xã Vĩnh Ngọc

Cán bộ chính sách xã hội đối với NCT xã Vĩnh Ngọc

5.3 Phạm vi nghiên cứu

Thời gian: 1/2017 – 8/2017

Không gian: Địa bàn xã Vĩnh Ngọc, Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Giớ hạn nội dung nghiên cứu: đề tài nghiên cứu việc trợ giúp xã hội đối với NCT tại xã Vĩnh Ngọc, trong đó bao gồm các lĩnh vực trợ giúp xã hội chính thức từ phía chính quyền, nhà nước và trợ giúp xã hội phi chính thức từ phía gia đình, người thân, cộng đồng

Trợ giúp chính thức từ phía chính quyền gồm các đối tượng như sau:

Trợ giúp chính sách thường xuyên đối với đối tượng NCT từ 80 tuổi trở lên, đối với đối tượng NCT từ 80 tuổi trở lên thuộc diện hộ nghèo, với đối tượng NCT là gia đình chính sách, hộ NCT khuyết tật, không nơi nương tựa Và Chính quyền trọ giúp không thường xuyên đối với NCT về các phương diện sức khỏe, vật chất, sinh hoạt hàng ngày, giao lưu văn hóa, tiếp cận các kiến thức thông tin

Trợ giúp phi chính thức từ phía cộng đồng, xã hội đối với NCT bao gồm các nội dung sau:

Trang 25

Trợ giúp về chăm sóc sức khỏe

Trợ giúp về vật chất: Việc làm, thu nhập

Trợ giúp về sinh hoạt hàng ngày

Trợ giúp về tinh thần, vui chơi, giải trí

Trợ giúp về cung cấp thông tin, kiến thức

Những nội dung này được khảo sát và tìm hiểu dựa trên lý thuyết bậc thang 5 nhu cầu của Maslow, quá trình nghiên cứu sẽ xem xét mức độ đáp ứng các nhu cầu trong thang bậc nhu cầu từ phía cộng đồng, xã hội, các tổ chức, cá nhân, chính quyền địa phương đối với NCT như thế nào

6 Câu hỏi nghiên cứu

Người cao tuổi tại xã Vĩnh Ngọc có những đặc điểm chung gì?

Những yếu tố nào nào tác động đến hoạt động trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi tại xã Vĩnh Ngọc?

Công tác trợ giúp xã hội đối với NCT tại xã Vĩnh Ngọc được diễn ra như thế nào? Hiện tại Người cao tuổi tại xã Vĩnh Ngọc có những mong muốn gì?

Đã có những biện pháp gì để khắc phục những khó khăn hạn chế trong công tác trợ giúp xã hội đối với NCT tại xã Vĩnh Ngọc?

7 Giả thuyết nghiên cứu

Hiện nay, người cao tuổi ở xã Vĩnh Ngọc, Nha Trang , Khánh Hòa đang sống trong hoàn cảnh khó khăn Họ phải đối mặt với những nguy cơ và rủi ro cao về nghèo đói, bệnh tật, chăm sóc hàng ngày, hạn chế tiếp cận các thông tin kiến thức

và hạn chế giao lưu

Thực hiện theo chủ trương, chính sách của Nhà nước, các hoạt động trợ giúp

xã hội đối với người cao tuổi đã được triển khai, với các mô hình, các chương trình hoạt động cụ thể Tuy nhiên, NCT vẫn chưa đáp ứng được các nhu cầu hiện tại của

họ Họ còn gặp nhiều khó khăn cần được quan tâm hỗ trợ để NCT có một cuộc sống tốt hơn

Trang 26

Có rất nhiều các yếu tố tác động gây cản trở đến việc thực thi các hoạt động trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi tại xã Vĩnh Ngọc Các yếu tố này đã trực tiếp hay gián tiếp là sự cản trở tới quá trình trợ gúp xã hội cho NCT Vì thế, các hoạt động trợ giúp gặp nhiều khó khăn và kết quả chưa cao

Các chính sách đã được thực hiện nhưng chưa đáp ứng tối thiểu những nhu cầu cơ bản của NCT, vì thế, Người cao tuổi tại đây đang có rất nhiều các mong muốn sau khi thụ hưởng các chính sách Cần quan tâm hơn nữa đến các mong muốn tiếp theo của NCT để có những giải pháp thiết thực, cụ thể hơn đối với NCT giúp

họ thỏa mãn với cuộc sống của mình

Chính vì vậy, nếu nghiên cứu sâu các hoạt động trợ giúp xã hội đối với NCT

để tìm ra những yếu tố tác động gây hạn chế cho quá trình trợ giúp sẽ giải quyết tốt hơn nữa các hoạt động trợ giúp, nâng cao chất lượng cuộc sống đối với người cao tuổi tại xã Vĩnh Ngọc, thành phố Nha Trang, Khánh Hòa

8 Phương pháp nghiên cứu

 Phương pháp phân tích tài liệu:

Sử dụng phương pháp Phân tích tài liệu nhằm thu thập các tài liệu một cách

có hệ thống, lo gíc và thuận tiện trong việc vận dụng nghiên cứu

Phương pháp này được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu từ khi bắt đầu nghiên cứu cho đến kết thúc cuộc nghiên cứu Tác đi phân tích các tài liệu của người đi trước nhằm tiếp thu những kinh nghiệm của họ vận dụng vào luận văn Sử dụng những tài liệu làm thông tin cho đề tài của tác giả được đầy đủ và hoàn thiện hơn Ngoài ra, những tài liệu cần phân tích khi sử dụng phương pháp này còn bao gồm: Báo cáo về tình hình người cao tuổi trên địa bàn xã, các thông tin phỏng vấn được từ khách thể nghiên cứu, các kết quả thu được từ bảng điều tra khách thể nghiên cứu, những thông tin thông qua quan sát, vãng gia, thăm hỏi Những thông tin này sẽ được phân tích, cụ thể hóa số liệu để chứng mình cho các luận điểm trong nghiên cứu

Trang 27

Phương pháp này hết sức quan trọng trong nghiên cứu, việc thu thập số liệu chưa có tính quyết định, mà điều cốt lõi chính là các số liệu đó phản ánh điều gì Chính việc phân tích tài liệu sẽ cung cấp những cơ sở và luận cứ khoa học cho nghiên cứu đang tiến hành

 Phương pháp phỏng vấn sâu:

Phương pháp phỏng vấn sâu nhằm tập trung thu thập những thông tin đa chiều và sâu hơn về vấn đề nghiên cứu ở khách thể nghiên cứu, từ đó hiểu sâu hơn

về bản chất của đối tượng được nghiên cứu nhằm phục vụ cho đề tài nghiên cứu

Đề tài đã tiến hành 15 cuộc vấn sâu đối với người cao tuổi và chính quyền địa phương Trước hết tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 10 người cao tuổi ( độ tuổi

từ 60 tuổi trở lên) trên địa bàn xã Vĩnh Ngọc Trong đó, có 03 người từ độ tuổi 70; 03 người từ độ tuổi 70-80; và 04 người từ độ tuổi trên 80 Các đối tượng phỏng vấn sâu sẽ có sự khác nhau về tuổi tác, giới tính, hoàn cảnh sống, từ đó nhằm hiểu rõ hơn về bản chất của đối tượng được nghiên cứu , đồng thời phát huy những khía cạnh mới mẻ và sâu sắc về vấn đề nghiên cứu

Sau đó, tác giả tiến hành phỏng vấn những người cán bộ nằm trong tổ chức hành chính của Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Ngọc Bao gồm 5 người chủ chốt (01 Chủ tịch xã, 01 Phó chủ tích xã mảng văn hóa xã hội, 01 Chủ tịch hội NCT, 01 cán

bộ chính sách, 01 Chi hội trưởng Hội NCT thôn Hòn Nghê 2) Như vậy, phiếu phỏng vấn sâu gồm 2 loại:

 Phiếu phỏng vấn sâu dành cho người cao tuổi ( Phụ lục 2, tr128)

 Phiếu phỏng vấn sâu dành cho cán bộ quản lý ( Phụ lục 3, tr129)

Phỏng vấn sâu là phương pháp nghiên cứu quan trọng Với phương pháp này, người nghiên cứu sẽ có được những thông tin chính xác, đa chiều từ chính phía khách thể nghiên cứu Từ đó, để so sánh với những thông tin thu thập được từ các phương pháp khác để đưa ra các kết luận cho vấn đề nghiên cứu

 Phương pháp quan sát:

Trang 28

Sử dụng phương pháp quan sát nhằm có được những thông tin mang tính trực quan, thực tế sinh động Làm cho nghiên cứu có tính thực tế và độ chính xác cao hơn Nhằm để thu thập thông tin liên quan đến những chiều cạnh khác nhau của đề tài trợ giúp xã hội đối với NCT như sự tham gia các mạng lưới xã hội, tính tích cực trong các sinh hoạt cộng đồng, các mối quan hệ của người cao tuổi tại cộng đồng

Đề tài đã tiến hành quan sát 10 người cao tuổi được chọn làm đối tượng phỏng vấn, tức là vừa phỏng vấn vừa quan sát Trong quá trình phỏng vấn người nghiên cứu quan sát thái độ, hành vi, cử chỉ, môi trường sống xung quanh đối tượng để tìm hiểu các đặc điểm riêng biệt từ NCT Đặc biệt, tác giả quan sát thân chủ khi làm công tác xã hội cá nhân để thân chủ tự nguyên tham gia vào CLB, quan sát xem những thái độ, biểu hiện của thân chủ như thế nào trong quá trình nhân viên công tác xã hội tiếp cận thu thập thông tin

Sau khi quan sát, tiến hành phân tích các thông tin thu được ứng dụng vào vấn đề nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu

 Phương pháp thảo luận nhóm:

Đề tài thực hiện 02 cuộc thảo luận nhóm đối với 02 nhóm đối tượng khác nhau Cuộc thảo luận nhóm thứ nhất là đối với những người lãnh đạo và cán bộ làm công tác chính sách xã hội Bao gồm: chủ tịch xã, chủ tịch hội người cao tuổi, cán bộ làm công tác chính sách, hội trưởng chi hội NCT các thôn Cuộc thảo luận nhóm bàn

về công tác trợ giúp và thực hiện các chính sách xã hội đối với NCT tại địa phương

Cuộc thảo luận thứ hai là đối với những người cao tuổi bao gồm những NCT đứng đầu các chi hội NCT thôn, bao gồm 10 người của 10 thôn Thảo luận về công tác trợ giúp của chính quyền, cộng đồng đối với NCT, thảo luận về mức độ hài lòng, quan điểm của NCT về công tác trợ giúp xã hội đối với họ

 Phương pháp trưng cầu ý kiến:

Người cao tuổi tại xã Vĩnh Ngọc theo báo cáo tình hình hoạt động của chủ tịch Hội NCT xã thì có 1.259 người, trong đó có 354 NCT không tham gia vào Hội NCT xã Những người cao tuổi ở đây theo quy định của Luật NCT là đều từ 60 tuổi

Trang 29

trở lên Tuy nhiên, với tính chất và khả năng tiếp cận, đề tài đã thực hiện trưng cầu

ý kiến với 120 người đại diện cho NCT xã Vĩnh Ngọc Việc lựa chọn 120 người để trưng cầu ý kiến đảm bảo tính đại diện cho toàn thể NCT về các đặc điểm về độ tuổi, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, nghề nghiệp và thu nhập Những đặc điểm của NCT trong mẫu nghiên cứu được tác giả khảo sát cụ thể như sau

Trang 30

Bảng 1.1 Độ tuổi của NCT trong mẫu nghiên cứu

Trang 31

Bảng 1.4 Nghề nghiệp của NCT trong mẫu NC

Số lƣợng

Tỷ lệ (%)

Số lƣợng

Tỷ lệ (%)

Số lƣợng

Tỷ lệ (%)

Trang 32

Phương pháp công tác xã hội cá nhân là phương pháp can thiệp để giúp một

cá nhân thoát khỏi những khó khăn trong đời sống vật chất và tinh thần; chữa trị, phục hồi sự vận hành các chức năng xã hội của họ; giúp họ tự nhận thức và giải quyết vấn đề xã hội bằng khả năng của chính mình

Trong luận văn, tác giả sử dụng phương pháp công tác xã hộ cá nhân nhằm giúp đỡ một thân chủ tham gia vào CLB dưỡng sinh một cách tự nguyện Bằng các vai trò của nhân viên CTXH, bằng các kỹ năn của nhân viên CTXH, tác giả giúp cá nhân NCT hiểu rõ hơn về CLB dưỡng sinh, biết được tầm quan trọng của CLB dưỡng sinh Từ đó, cá nhân NCT thay đổi nhận thức, suy nghĩ để tiếp cận với CLB dững sinh và dần dần Thân chủ tham gia vào CLB dưỡng sinh một cách tự nguyện

9 Cấu trúc luận văn

Luận văn có kết cấu gồm 3 phần:

Phần mở đầu: Tổng quan về các nội dung làm cơ sở cho việc nghiên cứu Phần nội dung nghiên cứu chính, bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Thực trạng trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi tại xã Vĩnh

Ngọc, Nha Trang, Khánh Hòa

Chương 3: Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động trợ giúp xã hội đối

người cao tuổi và giải pháp nhằm nâng cao hoạt động trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi tại xã Vĩnh Ngọc

Phần Kết luận và khuyến nghị

Trang 33

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHÍNH Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 1.1 Các khái niệm công cụ

1.1.1 Chính sách xã hội

Chính sách xã hội (CSXH) là sự thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối, chủ trương giải quyết các vấn đề xã hội dựa trên những tư tưởng, quan điểm của chủ thể lãnh đạo, phù hợp với bản chất chế độ chính trị - xã hội, phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói chung và của từng nhóm xã hội nói riêng nhằm tác động trực tiếp vào con người với xã hội, hướng tới những mục đích cao nhất là thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng về đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân [20; tr8]

Như vậy, theo quan điểm của tác giả trong luận văn này, chính sách xã hội chính là cụ thể hóa những quan điểm của chính quyền địa phương, của các cơ quan đoàn thể thành những hoạt động cụ thể nhằm trợ giúp xã hội cho NCT tại cộng đồng Những chính sách đó bao gồm chính sách trong chăm sóc sức khỏe, chính sách trong trợ giúp về thu nhập và việc làm Chính sách trợ giúp trong sinh hoạt hàng ngày, chính sách trợ giúp trong giao lưu giải trí, và cuối cùng là chính sách trợ giúp trong việc tiếp cận các thông tin, kiến thức

1.1.2 Trợ giúp, trợ giúp xã hội

Theo từ điển Tiếng Việt: Trợ giúp có nghĩa là giúp đỡ về vật chất và tinh thần cho các nhóm, cá nhân trong cộng đồng đỡ bớt khó khăn, thiếu thốn [24]

Nguyễn Văn Định ( 2008): Trợ giúp xã hội là sự trợ giúp của xã hội bằng nguồn tài chính của nhà nước và cộng đồng đối với các thành viên gặp khó khăn, bất hạnh hoặc gặp rủi ro trong cuộc sống như thiên tai, hỏa hoạn, bệnh tật, già yếu…dẫn đến mức sống quá thấp, lâm vào cảnh neo đơn túng quẫn nhằm giúp họ đảm bảo mức sống tối thiểu, vượt qua cơn nghèo khó và vươn lên cuộc sống bình thường [16]

Trợ giúp xã hội đó là:

Trang 34

Sự trợ giúp của Nhà nước và xã hội về thu nhập và các điều kiện sống thiết yếu khác đối với mọi thành viên của xã hội trong những trường hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng để lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình

Trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ của cộng đồng và xã hội bằng tiền hoặc bằng các điều kiện và phương tiện thích hợp để đối tượng được giúp đỡ có thể phát huy khả năng tự lo liệu cuộc sống cho mình và gia đình, sớm hòa nhập trở lại với cuộc sống của cộng đồng

Như vậy, có thể hiểu TGXH là: Trợ giúp xã hội là hệ thống các chính sách, chế độ, hoạt động của Nhà nước, chính quyền các cấp và hoạt động của cộng đồng

xã hội dưới các hình thức và biện pháp khác nhau nhằm giúp các đối tượng yếu thế

và dễ bị tổn thương có điều kiện ổn định cuộc sống và có cơ hội hòa nhập tốt hơn với cộng đồng để cùng phát triển

Ở luận văn này, hướng nghiên cứu của tác giả tập trung vào hai hướng trợ giúp khác nhau đối với NCT Bao gồm, trợ giúp xã hội đối với NCT từ phía Nhà nước và trợ giúp xã hội đối với NCT từ phía cộng đồng địa phương

Trợ giúp xã hội đối với NCT tại cộng đồng chính là sự trợ giúp từ phía gia đình, người thân, hàng xóm, xã hội…Sự trợ giúp này mang tính cá nhân, nhóm, cộng đồng; mang tính tự nguyện nhằm hỗ trợ, giúp đỡ NCT vượt qua khó khăn về sức khỏe, vật chất, tinh thần, sinh hoạt hàng ngày, giao lưu giải trí và cung cấp các kiến thức, thông tin

1.1.3 Công tác xã hội, nhân viên công tác xã hội

Chuyên gia Unicef (2006) định nghĩa: “Công tác xã hội là sự thúc đẩy, thay đổi trong xã hội, thúc đẩy việc giải quyết các vấn đề trong quan hệ giữa con người, trao quyền và giải phóng con người đem lại sự bình yên cho xã hội Vận dụng lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp vào các mặt mà ở đó con người tác động trực tiếp vào môi trường sống của họ Nguyên tắc về quyền con người và công bằng xã hội là cốt lõi của công tác xã hội” [26]

Trang 35

Như vậy, công tác xã hội là một ngành trợ giúp những đối tượng yếu thế, những cộng đồng yếu thế nhằm làm cho họ được tiếp cận với các dịch vụ xã hội, giúp họ có cơ hội và điều kiện để vươn lên, vượt qua khó khăn

Nhân viên công tác xã hội là những người được đào tạo và trang bị kiến thức,

kỹ năng trong công tác xã hội, có nhiệm vụ trợ giúp các đối tượng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với vấn đề trong cuộc sống, tạo cơ hội để các thân chủ tiếp cận được nguồn lực cần thiết thúc đẩy sự tương tác giữa các cá nhân, giữa cá nhân với môi trường, vận động chính sách xã hội vì lợi ích của cá nhân, nhóm, cộng đồng thông qua hoạt động nghiên cứu và thực tiễn [10; tr14]

Nhân viên công tác xã hội rất cần thiết đối với những đối tượng yếu thế, trong đó có người cao tuổi, tại địa phương xã Vĩnh Ngọc, hiện tại có 02 cán bộ làm công tác xã hội không chuyên trách Trong đó, có một người làm công tác chính sách thì thuộc chuyên ngành tài chính ngân hàng, còn một cộng tác viên công tác xã hội được tuyển vào làm bán thời gian nhằm hỗ trợ cán bộ chính sách làm công tác

xã hội với cộng đồng mặc dù họ làm việc chưa chuyên trách, tuy nhiên với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của xã Vĩnh Ngọc thì họ tham gia với vai trò như là một nhân viên công tác xã hội chuyên trách

Vai trò của nhân viên công tác xã hội: Với đặc thù nghề trợ giúp xã hội, công tác xã hội hướng trọng tâm nghề nghiệp đến việc giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộng đồng phục hồi, phát triển các chức năng và đạt được những giá trị phù hợp trong xã hội Các chức năng của công tác xã hội được thể hiện thông qua việc thực hiện các vai trò của nhân viên công tác xã hội trong tiến trình làm việc với các thân chủ Mỗi đối tượng khác nhau lại có những vấn đề cụ thể của bản thân Vì thế vai trò của nhân viên công tác xã hội trong tiến trình trợ giúp mỗi đối tượng cụ thể cũng có sự khác nhau Nhân viên công tác xã hội có những vai trò chủ yếu sau đây [10; tr29-33]:

(1) Người tạo khả năng

Trọng tâm nghề nghiệp của công tác xã hội hướng đến việc trợ giúp các đối tượng khai thác những tiềm năng của bản thân để tự lực vươn lên, giải quyết các vấn đề cụ thể của bản thân Nhân viên công tác xã hội không làm hộ, la,f thay thân

Trang 36

chủ mà chỉ giúp thân chủ nhận thức được những khả năng của mình, phát huy những khả năng đó để giải quyết vấn đề của mình

(2) Người điều phối, kết nối dịch vụ:

Nhân viên công tác xã hội thông qua đánh giá, chẩn đoán các vấn đề và nguồn lực của thân chủ để điều phối, cung cấp các dịch vụ phù hợp

(3) Người giáo dục:

Thân chủ của CTXH là những đối tượng dễ bị tổn thương từ những thay đổi trong gia đình, xã hội Những nhóm đối tượng yếu thế như người khuyết tật, người cao tuổi, trẻ em…phải đối mặt với rất nhiều khó khăn về vật chất, tinh thần, họ bị suy giảm các chức năng xã hội Do đó, để thích ứng với cuộc sống, thân chủ cần phải có thêm nhiều kiến thức, kỹ năng chăm sóc, bảo vệ bản thân, các kỹ năng xã hội…

(4) Người biện hộ:

Khi làm việc với thân chủ, nhân viên công tác xã hội cần đánh giá, phân tích những nhu cầu, mong muốn cũng như các nguồn lực của thân chủ Nhân viên công tác xã hội phải bảo vệ những nhu cầu chính đáng của thân chủ

(5) Người tạo môi trường thuận lợi:

Mỗi cá nhân là một hệ thống chịu sự tác động từ những hệ thống xung quanh Công tác xã hội chú ý đến mối quan hệ gữa con người với các hệ thống xung quanh Tạo môi trường thuận lợi trong công tác xã hội được thực hiện thông qua việc cải thiện và nâng cao chất lượng trong mối quan hệ giữa con người với hệ thống xum quanh Đối tượng yếu thế cũng tương tác và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ gia đình, các tổ chức xã hội Vì thế, trong tiến trình CXTH cần chú ý đến các hệ thống xung quanh như: gia đình, bạn bè, chính quyền, các tổ chức bảo vệ và trợ giúp đối tượng cụ thể

(6) Người đánh giá và giám sát:

Nhân viên CTXH là ngườ trực tiếp giám sát, chấn đoán những vấn đề của thân chủ trong cuộc sống hàng ngày Những vấn đề của thân chủ rất đa dạng: có thể

về sinh lý, tâm lý, lao động – thu nhập hay các vấn đề về quan hệ xã hội Trong tiến trình trợ giúp, nhân viên xã hội cần căn cứ vào đối tượng thực tế để có các kế hoạch

Trang 37

can thiệp phù hợp Nhân viên CTXH cần thực hiện việc đánh giá và giám sát các hoạt động của thân chủ, kết quả của tiến trình Sự đánh giá va giám sát của nhân viên CTXH một cách thường xuyên, liên tục sẽ góp phần vào việc phát hiện sớm, nâng cao hiệu quả can thiệp…trong công tác xã hội với các đối tượng yếu thế

Theo đề án 32 của Thủ tướng chính phủ về việc phát triển nghề công tác xã hội, mỗi xã phải có ít nhất 02 cán bộ làm công tác xã hội chuyên trách Tuy nhiên, hiện tại, xã Vĩnh Ngọc chỉ 01 cán bộ làm công tác chính sách có trình độ trung cấp tài chính – ngân hàng, 01 cán bộ làm cộng tác viên công tác xã hội bán chuyên trách

đó là chị Lê Thu Thắm Cộng tác viên công tác xã hội, làm việc bán chuyên trách, hưởng lương theo hệ số 1.0 Do vậy, việc làm việc với tinh thần và trách nhiệm đối với đối tượng cũng vô cùng khó khăn Tuy nhiên, với khó khăn hiện tại của xã chị Thắm cũng đã đảm nhận vai trò như là một nhân viên công tác xã hội chuyên trách nhằm đảm bảo cho các đối tượng yếu thế có quyền lợi và cơ hội

1.1.4 Người cao tuổi

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về NCT Trước đây người ta thường dùng thuật ngữ người già để chỉ những người có tuổi, hiện nay thuật ngữ “người cao tuổi” thường được sử dụng nhiều hơn Hai thuật ngữ này tuy không khác nhau về mặt khoa học song về mặt tâm lý, “người cao tuổi” là thuật ngữ mang tính tích cực

và thể hiện thái độ tôn trọng

Theo quan điểm y học: Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắn liền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể

Luật NCT ở Việt Nam số 30/2009/QH12 ngày 23 tháng 11 năm 2009, Điều 2 quy định: Người cao tuổi là tất cả các công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổ trở lên [13]

Theo tổ chức y tế thế giới ( WHO): Người cao tuổi phải từ 70 tuổi trở lên [13] Theo quan điểm của công tác xã hội: Với các đặc thù về nghề trợ giúp xã hội, công tác xã hội nhìn nhận người cao tuổi như sau: Người cao tuổi với những thay đổi về tâm sinh lý, lao động – thu nhập, quan hệ xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn,

Trang 38

vấn đề trong cuộc sống do đó, người cao tuổi là một số đối tượng yếu thế, đối tượng cần sự trợ giúp của công tác xã hội [2]

Trong nghiên cứu, người cao tuổi tại địa phương là những người từ 60 tuổi trở lên, được quản lý trong danh sách của Hội NCT xã Những NCT tại địa phương

đều có những vấn đề khó khăn cần được đáp ứng

1.1.5 Cộng đồng

Theo Trung tâm nghiên cứu và tập huấn phát triển cộng đồng: Cộng đồng là một tập thể có tổ chức , bao gồm các cá nhân con người sống chung ở một địa bàn nhất định, có chung một đặc tính xã hội hoặc sinh học nào đó và cùng chia sẻ với nhau một lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào đấy [12; tr7-8]

Có thể phân ra làm hai loại cộng đồng:

Cộng đồng địa lý: bao gồm những người dân cư trú trên cùng một địa bàn có thể có chung các đặc đểm văn hóa xã hội và có thể có mối quan hệ ràng buộc với nhau Họ cùng được áp dụng chính sách chung

Cộng đồng chức năng gồm những người có thể cư trú gần nhau hoặc không gần nhau nhưng có lợi ích chung Họ liên kết với nhau trên cơ sở nghề nghiệp, sở thích, hợp tác hay hiệp hội có tổ chức ( NGO Training Project)

Các yếu tố cấu thành một cộng đồng gồm: yếu tố con người, yếu tố môi trường và yếu tố các tương tác

Tóm lại, khái niệm cộng đồng trong nghiên cứu là toàn bộ người dân tại xã Vĩnh Ngọc Cộng đồng được cấu thành bởi các hệ thống gia đình, xã hội, người cao tuổi, hàng xóm, chính quyền, lãnh đạo tại địa phương Các hệ thống này luôn có chung những đặc điểm về địa lý, ngôn ngữ, sắc tộc, yếu tố văn hóa…Các hệ thống trong cộng đồng có mối liên hệ và hỗ trợ lẫn nhau Những người cao tuổi luôn cần

sự hỗ trợ của gia đình, bạn bè, hàng xóm, chính quyền địa phương

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu

1.2.1 Lý thuyết về nhu cầu

Abraham Maslow (1908 - 1970), nhà tâm lý học người Mỹ, được thế giới biết đến như là nhà tiên phong trong trường phái tâm lý học nhân văn bởi hệ thống

Trang 39

lý thuyết về Thang bậc nhu cầu của con người Ngay từ sau khi ra đời, lý thuyết này có tầm ảnh hưởng khá rộng rãi và được ứng dụng ở rất nhiều lĩnh vực khoa học [10; tr83]

Vào thời điểm đầu tiên của lý thuyết, Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc:

Nhu cầu cơ bản: Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người

như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục

Là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được Đặc biệt là với trẻ em vì chúng phụ thuộc rất nhiều vào người lớn để được cung cấp đầy

đủ các nhu cầu cơ bản này Ông quan niệm rằng, khi những nhu cầu này chưa được thoả mãn tới mức độ cần thiết để duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác của con người sẽ không thể tiến thêm nữa

Nhu cầu về an toàn:

An ninh và an toàn có nghĩa là một môi trường không nguy hiểm, có lợi cho

sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người

Nội dung của nhu cầu an ninh: An toàn sinh mạng là nhu cầu cơ bản nhất, là tiền đề cho các nội dung khác như an toàn lao động, an toàn môi trường, an toàn nghề nghiệp, an toàn kinh tế, an toàn ở và đi lại, an toàn tâm lý, an toàn nhân sự,…

Đây là những nhu cầu khá cơ bản và phổ biến của con người Để sinh tồn con người tất yếu phải xây dựng trên cơ sở nhu cầu về sự an toàn Nhu cầu an toàn nếu không được đảm bảo thì công việc của mọi người sẽ không tiến hành bình thường được và các nhu cầu khác sẽ không thực hiện được Do đó chúng ta có thể hiểu vì sao những người phạm pháp và vi phạm các quy tắc bị mọi người căm ghét

vì đã xâm phạm vào nhu cầu an toàn của người khác

Những nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận (tình yêu và sự chấp nhận)

Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần nằm trong xã hội và được người khác thừa nhận

Nhu cầu này bắt nguồn từ những tình cảm của con người đối với sự lo sợ bị

cô độc, bị coi thường, bị buồn chán, mong muốn được hòa nhập, lòng tin, lòng

Trang 40

trung thành giữa con người với nhau

Nội dung của nhu cầu này phong phú, tế nhị, phức tạp hơn Bao gồm các vấn

đề tâm lý như: Được dư luận xã hội thừa nhận, sự gần gũi, thân cận, tán thưởng, ủng hộ, mong muốn được hòa nhập, lòng thương, tình yêu, tình bạn, tình thân ái là nội dung cao nhất của nhu cầu này Lòng thương, tình bạn, tình yêu, tình thân ái là nội dung lý lưởng mà nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận luôn theo đuổi Nó thể hiện tầm quan trọng của tình cảm con người trong quá trình phát triển của nhân loại

Nhu cầu được tôn trọng

Nội dung của nhu cầu này gồm hai loại: Lòng tự trọng và được người khác tôn trọng

Lòng tự trọng bao gồm nguyện vọng muồn giành được lòng tin, có năng lực,

có bản lĩnh, có thành tích, độc lập, tự tin, tự do, tự trưởng thành, tự biểu hiện và tự hoàn thiện

Nhu cầu được người khác tôn trọng gồm khả năng giành được uy tín, được thừa nhận, được tiếp nhận, có địa vị, có danh dự,… Tôn trọng là được người khác coi trọng, ngưỡng mộ Khi được người khác tôn trọng cá nhân sẽ tìm mọi cách để làm tốt công việc được giao Do đó nhu cầu được tôn trọng là điều không thể thiếu đối với mỗi con người

Nhu cầu phát huy bản ngã: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong

cách phân cấp về nhu cầu của ông Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó

Nội dung nhu cầu bao gồm nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết, nghiên cứu,…) nhu cầu thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài,…), nhu cầu thực hiện mục đích của mình bằng khả năng của cá nhân

Trong hệ thống thứ bậc nhu cầu của A.Maslow, ông cho rằng mỗi nhu cầu của con người đều phụ thuộc vào nhu cầu trước đó Nhu cầu ở bậc càng thấp thì càng quan trọng đối với con người Nếu một nhu cầu ở bậc thấp không được đáp ứng, cá nhân sẽ gặp cản trở trong việc theo đuổi những nhu cầu cao hơn Với vấn đề nghiên cứu trong luận văn, tác giả vận dụng lý thuyết này nhằm giải thích những

Ngày đăng: 07/01/2019, 10:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w