Mỹ dùng các biện pháp tăng cường và mở rộng quyền điều hành tác chiến, chỉ huy, yểm trợ của phái đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ MAAG; huấn luyện trang bị cho lực lượng dân vệ để chống l
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THỊ LỢI
BÁO NHÂN DÂN VỚI CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CHỐNG CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT” CỦA MỸ Ở MIỀN NAM VIỆT NAM (1961-1965)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội, 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THỊ LỢI
BÁO NHÂN DÂN VỚI CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CHỐNG CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT” CỦA MỸ Ở MIỀN NAM VIỆT NAM (1961-1965)
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15
LUẬN VĂN THẠC SĨ LịCH Sử
Người hướng dẫn: PGS.TS LÊ VĂN THỊNH
Hà Nội, 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản Luận văn “Báo Nhân Dân với công tác tuyên truyền chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1961-1965)” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Văn Thịnh mà trước đó chưa có bất cứ tác giả nào công bố
Những tư liệu và số liệu sử dụng trong bản luận văn là có tính xác thực và nguồn gốc rõ ràng
Tác giả
Lê Thị Lợi
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành bản luận văn này, ngoài sự nỗ lực và cố gắng của bản thân, tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các quý thầy cô, anh chị công tác tại thư viện khoa Lịch sử, thư viện trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội và Thư viện Quốc gia Việt Nam đã cung cấp những tư liệu, thông tin quý giá Tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy, cô trong bộ môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân Văn, đặc biệt là cảm ơn sự tận tình giúp đỡ, hướng dẫn của PGS.TS Lê Văn Thịnh
Dù đã có nhiều cố gắng nhưng do thời gian có hạn và sự nhận thức của tác giả còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu xót, hạn chế Tác giả rất mong muốn nhận được sự chỉ bảo của quý thầy, cô và những ý kiến quý báu của các bạn
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 8
Chương 1: NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CỦA BÁO NHÂN DÂN THỜI KỲ 1961 - 1965 8
1.1 Tình hình quốc tế, trong nước và âm mưu, thủ đoạn của Mỹ ở miền Nam 8
1.1.1 Tình hình quốc tế, trong nước 8
1.1.2 Âm mưu và thủ đoạn của đế quốc Mỹ 11
1.2 Chủ trương của Đảng về công tác tuyên truyền báo chí 23
Tiểu kết chương 1 29
Chương 2: BÁO NHÂN DÂN VỚI CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CHỐNG CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT” CỦA MỸ Ở MIỀN NAM (1961 – 1965) 31
2.1 Tố cáo âm mưu, thủ đoạn và tội ác chiến tranh của Mỹ ở miền Nam 31
2.1.1 Tố cáo âm mưu và thủ đoạn chiến tranh của Mỹ 31
2.2.2 Tố cáo tội ác chiến tranh của Mỹ ở miền Nam 39
2.2 Tuyên truyền cho đường lối cách mạng của Đảng và những thắng lợi trong chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam 44
2.2.1 Tuyên truyền cho đường lối cách mạng miền Nam của Đảng 44
2.2.2 Tuyên truyền cho những thắng lợi trên chiến trường của quân và dân miền Nam 52
2.3 Tuyên truyền cho giải pháp Giơnevơ 1954 về Đông Dương, đoàn kết, tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới 57
2.3.1 Tuyên truyền cho giải pháp Giơ nevơ 1954 về Đông Dương 57
2.3.2 Đoàn kết, tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ thế giới 64
Tiểu kết chương 2 79
Chương 3: MỘT VÀI NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 81
Trang 63.1 Một vài nhận xét về công tác tuyên truyền chống chiến lược “Chiến tranh
đặc biệt” trên báo Nhân Dân 81
3.1.1 Ưu điểm 81
3.1.2 Hạn chế 89
3.2 Một vài kinh nghiệm lịch sử 91
Tiểu kết chương 3 96
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC 104
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nền báo chí Việt Nam đã có lịch sử lâu đời, ngay từ khi ra đời nó đã cho thấy vai trò của mình là kênh thông tin truyền tải các giá trị quan trọng Sau khi hoàn thành nhiệm vụ của mình trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, báo chí Việt Nam vẫn phải tiếp tục nhiệm vụ cách mạng của mình chống lại kẻ phá hoại Hiệp nghị hòa bình Giơnevơ với sự hậu thuẫn từ can thiệp Mỹ đang dần lộ mặt dưới chiêu bài “chống cộng sản” Trong đó, cần phải nhắc tới những đóng góp của báo Nhân Dân với vai trò cơ quan trung ương, tiếng nói của Đảng, Nhà nước
và Nhân dân Việt Nam Ngay từ số báo đầu tiên năm 1951, báo Nhân Dân đã góp phần nói lên tiếng nói của Đảng, của Nhân dân về sự nghiệp cách mạng, đưa đường lối chủ trương của Đảng đến gần dân hơn, để toàn dân hiểu và thực hiện đúng đường lối đó vì mục tiêu chung của cách mạng là giải phóng miền Nam thống nhất
sự nghiệp đấu tranh cách mạng Phản ánh một cách chuẩn xác nhất những chủ trương đối ngoại của Việt Nam nhằm chống lại những âm mưu chống phá mới của
kẻ thù
Trong giai đoạn từ 1960 – 1965, tình hình quốc tế và trong nước có những biến đổi to lớn Mâu thuẫn Xô – Trung bộc lộ gây ra tình trạng phân liệt trong
Trang 8phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Ở Việt Nam, miền Bắc bước vào giai đoạn thực hiện kế hoạch ba năm phát triển kinh tế, ở miền Nam phong trào Đồng Khởi đang dâng cao cần sự ủng hộ mạnh mẽ hơn nữa từ phe các nước xã hội chủ nghĩa Sau sự thất bại của chiến lược “Chiến tranh đơn phương”, đế quốc Mỹ càng
ra sức ủng hộ chính quyền Ngô Đình Diệm, triển khai chiến lược chiến tranh mới mang tên “Chiến tranh đặc biệt” nhằm bình định miền Nam Việt Nam Trước tình hình mới, Đảng kịp thời đề ra chủ trương đối ngoại phù hợp nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của quốc tế về tinh thần và vật chất, nêu cao thiện chí thi hành Hiệp nghị Giơnevơ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Thực hiện hòa bình thống nhất đất nước chống Mỹ - Diệm phá hoại Hiệp nghị Giơnevơ Đồng thời đề cao vị trí quốc tế của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, vận động dư luận quốc tế chống lại các hành động tăng cường chiến tranh và can thiệp của Mỹ ở miền Nam Việt Nam Báo Nhân Dân luôn góp vai trò to lớn cho sự kịp thời đó, nhanh chóng đưa chủ trương, đường lối của Đảng đến với Nhân dân Việt Nam, cho thấy cuộc kháng chiến của chúng ta nhận được sự ủng hộ to lớn của bạn bè quốc tế
Dù kháng chiến đã kết thúc, hòa bình đã lập lại nhưng hoạt động đối ngoại, tuyên truyền quốc tế vẫn luôn giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách mạng cả nước vì mục điêu đoàn kết với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập và bình đẳng Để thực hiện mục tiêu đó, báo chí vẫn luôn là một phương tiện hết sức hữu ích, báo Nhân Dân chính là một bộ phận như vậy Để có những bài học kinh nghiệm cho hiện tại, chúng ta luôn phải có sự trải nghiệm thực tế, qua 64 năm xây dựng và phát triển từ tờ tuần báo cho tới nhật báo, báo Nhân Dân đã luôn thực hiện tôn chỉ mục đích của mình là phục vụ sự phát triển của đất nước Nổi trội hơn cả trong quá trình hoạt động của báo là giai đoạn tuyên truyền trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược Tìm hiểu về giai đoạn này không chỉ góp phần làm rõ thêm về lịch sử tờ báo Nhân Dân mà còn góp phần làm sáng tỏ vai trò của
Trang 9báo trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Đồng thời thông qua đó, có thể rút ra được những kinh nghiệm quý báu cho sự nghiệp báo chí hiện nay
Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài Báo Nhân Dân với công tác tuyên truyền chống
chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1961 – 1965)
một đề tài có ý nghĩa khoa học thực tiễn làm đề tài luận văn chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay đã có rất nhiều công trình, đề tài khoa học nghiên cứu về báo Nhân Dân và vấn đề tuyên truyền của tờ báo này Có thể kể tới một số công trình nghiên cứu tiêu biểu:
Đó là những đề tài nghiên cứu mang tính chất chung, khái lược về báo chí
như cuốn Báo chí Việt Nam do Hồng chương chủ biên xuất bản năm 1985 Cuốn sách Tổng quan lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam (1925-2010) do Đào Duy
Quát chủ biên xuất bản năm 2010 Trình bày lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam với những điểm khái quát nhất, lịch sử hình thành, phát triển và nhắc tới lịch sử báo Nhân Dân từ những tờ báo tiền thân đầu tiên “Cờ giải phóng, Sự Thật…” Cuốn sách khẳng định báo chí cách mạng Việt Nam là một vũ khí cách mạng vô cùng lợi hại, góp phần quan trọng cho sự thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam
Hay cuốn Báo chí cách mạng Việt Nam 1925-1945 của Nguyễn Thành, do
Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành vào năm 1984 Trong cuốn sách của mình, Nguyễn Thành trình bày thành 4 chương tương ứng với 4 thời kỳ: 1925-1930, 1930-1936, 1936-1939 và 1939-1945 Tác giả nêu ra những đặc điểm hình thành
và phát triển, những nguyên tắc chung và tính lịch sử cụ thể, quy luật của nó Qua
đó, khẳng định rằng mặc dù thời kỳ này báo chí cách mạng bị khủng bố, đàn áp, cấm đoán bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng đội ngũ nhà báo cách mạng xuất
Trang 10hiện ngày một nhiều hơn, đáp ứng cho yêu cầu tuyền truyền cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta
Sách chuyên khảo về báo Nhân Dân có cuốn Sơ thảo lịch sử năm mươi năm
báo Nhân Dân 1951 – 2001 do Hồng Vinh chủ biên, xuất bản năm 2001 Trong
cuốn sách này tác giả đã khái quát cả chặng đường phát triển và đặc điểm của báo Nhân Dân từ khi ra đời đến năm 2001 Tác giả đã thống kê lại toàn bộ những báo tiền thân của báo Nhân Dân như báo Thanh Niên, báo Đấu Tranh, báo Đại Chúng
và chia giai đoạn phát triển của báo Nhân Dân gắn liền với sự nghiệp cách mạng dân tộc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước để thấy được vai trò tuyên truyền của báo Tuy nhiên, cuốn sách mới chỉ dừng lại ở việc trình bày vai trò chung của báo Nhân Dân chứ chưa thống kê được số liệu cụ thể các tin bài có nội dung tuyên truyền chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của
Mỹ Hay cuốn hồi ký Nhớ một thời làm báo Nhân Dân, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia ấn hành năm 1996 là tác phẩm của nhiều tác giả vốn là các phóng viên, cộng tác viên của báo về những kỷ niệm trong thời gian công tác ở báo Qua đó, chúng ta có thể nắm được thông tin cơ bản về hoạt động của báo Nhân Dân và vai trò của nó trong sự nghiệp cách mạng chung của đất nước
Một cuốn sách khác nữa là Nhớ một thời làm báo Nhân Dân do nhà báo Hữu
Thọ chủ biên được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 1996 nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày ra số báo đầu tiên (11/3/1951-11/3/1996) Cuốn sách nhằm tái hiện lại hồi ức của các nhà báo của tòa soạn báo Nhân Dân trong quá trình tác nghiệp của mình, đặc biệt là giai đoạn nước ta tiến hành kháng chiến chống Mỹ Những mẩu chuyện dù rất ngắn và tưởng như đơn giản nhưng lại là những kinh nghiệm quý báu trong cuộc sống và nghề nghiệp đối với những người công tác trong ngành báo nói chung và báo Đảng nói riêng
Trang 11Ngoài ra, cũng có một số khóa luận tốt nghiệp, luận văn, luận án đã tiếp cận
mảng đề tài báo Nhân Dân này Như khóa luận tốt nghiệp Báo Nhân Dân với công
cuộc khôi phục cải tạo và bước đầu phát triển kinh tế, của Lê Thị Lan Anh, Khoa
Lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội) đề cập tới những bài viết về chủ trương xây dựng kinh tế của đất nước của Đảng trên báo Nhân Dân Luận văn của học viên Phạm Nguyễn Quỳnh Linh khoa Lịch sử, trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn với đề tài: Báo Nhân Dân với các vấn đề đối ngoại,
vận động quốc tế, đấu tranh ngoại giao từ 1951 đến năm 1954 Luận văn đã trình
bày cụ thể lịch sử ra đời, sự phát triển của báo Nhân Dân và trực tiếp đề cập tới mảng ngoại giao, tuyên truyền trên báo trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp Năm 2013, với sự hướng dẫn của GS.TS Đỗ Quang Hưng, nghiên cứu sinh Nguyễn
Thị Hảo đã bảo vệ thành công luận án với đề tài Báo Nhân Dân với sự nghiệp
kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ năm 1965 đến năm 1975 Qua đó, luận án góp
phần làm rõ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và hoạt động của báo Nhân Dân theo sự chỉ đạo đó nhằm thúc đẩy sự nghiệp cách mạng nước nhà
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có đề tài nào tập trung nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng với báo Nhân Dân từ năm 1961 đến năm 1965, một giai đoạn phức tạp của quan hệ quốc tế Đặc biệt là nhấn mạnh tới vai trò tuyên truyền của
báo Nhân Dân với sự nghiệp cách mạng nói chung Hay nói cách khác, đề tài Báo
Nhân Dân với công tác tuyên truyền chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của
Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1961 – 1965) là một đề tài mới, còn nhiều vấn đề cần
làm rõ và vẫn còn giá trị lịch sử, kinh nghiệm thiết thực của nó
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích của luận văn: Từ những tin bài trên báo Nhân Dân, luận văn làm
rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với công tác tuyên truyền báo chí, cũng như làm rõ vai trò của báo Nhân Dân trong công tác tuyên truyền nhằm đánh bại
Trang 12âm mưu và thủ đoạn can thiệp vào tình hình miền Nam Việt Nam của Mỹ từ năm
1961 đến năm 1965
- Nhiệm vụ của luận văn: Để đạt được mục đích trên, thông qua các tin bài có
liên quan đăng tải trên báo Nhân Dân từ năm 1961 đến năm 1965, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
+ Làm rõ tình hình quốc tế, âm mưu và thủ đoạn can thiệp vào tình hình miền Nam Việt Nam của đế quốc Mỹ
+ Làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với công tác tuyên truyền trên báo Nhân Dân nhằm đánh bại âm mưu và thủ đoạn can thiệp vào tình hình miền Nam Việt Nam của đế quốc Mỹ
+ Nghiên cứu nội dung và hình thức các tin, bài trên báo Nhân Dân
+ Trên cơ sở kết quả khảo sát, nghiên cứu các tin, bài đó, luận văn đưa ra một số nhận xét và kinh nghiệm lịch sử phục vụ hiện tại
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những tin, bài trên báo Nhân Dân có nội dung
tuyền truyền nhằm đánh bại âm mưu và thủ đoạn can thiệp vào miền Nam Việt Nam của Mỹ từ năm 1961 đến năm 1965
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về thời gian: Từ tháng 1 năm 1961 đến tháng 3 năm 1965, thời kỳ Mỹ tiến
hành chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nam
+ Nội dung: Công tác tuyên truyền là một mảng đề tài khá rộng lớn, trong
khuôn khổ một luận văn thạc sỹ, chúng tôi tập trung làm rõ âm mưu, thủ đoạn can thiệp và tội ác chiến tranh của Mỹ ở miền Nam Việt Nam; làm rõ chủ trương, giải pháp của Đảng với công tác tuyên truyền trên báo Nhân Dân, nhằm đánh bại cuộc
Trang 13“Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ tại miền Nam Việt Nam và sự thể hiện của vấn đề này trong các tin, bài trên báo Nhân Dân
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
- Nguồn tài liệu: Trong quá trình thực hiện, tác giả sử dụng một số nguồn
tài liệu chính:
+ Báo Nhân Dân các số ra từ tháng 1 năm 1961 đến tháng 3 năm 1965 Đây
là nguồn tài liệu chính của đề tài
+ Các Chỉ thị, Nghị quyết, văn kiện chỉ đạo của Đảng về công tác báo chí nói chung và báo Nhân dân nói riêng
+ Các công trình nghiên cứu lịch sử, các chuyên khảo về công tác đối ngoại của các nhà nghiên cứu nói chung
- Phương pháp nghiên cứu: Ngoài phương pháp lịch sử, phương pháp
logich là hai phương pháp nghiên cứu chủ yếu, luận văn sử dụng các phương pháp khác, như: phương pháp thống kê, phương pháp phân loại, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh,… và sự phối kết hợp các phương pháp đó phù hợp với từng vấn đề mà luận văn đặt ra
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày theo bố cục ba chương:
Chương 1 Những yếu tố tác động đến công tác tuyên truyền của báo Nhân
Dân thời kỳ 1961-1965
Chương 2 Báo Nhân Dân với công tác tuyên truyền chống chiến lược
“Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở miền Nam (1961 – 1965)
Chương 3 Một vài nhận xét và kinh nghiệm
Trang 14NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN
CỦA BÁO NHÂN DÂN THỜI KỲ 1961 - 1965
1.1 Tình hình quốc tế, trong nước và âm mưu, thủ đoạn của Mỹ ở miền Nam
1.1.1 Tình hình quốc tế, trong nước
Đầu những năm 60, nền kinh tế thế giới có nhiều chuyển biến, sự hình thành hai cực đối lập được biểu hiện rõ ràng Nền kinh tế của Mỹ đang trong thời kỳ phục hồi sau những khủng hoảng cục bộ Mỹ đã bước đầu kiềm chế được các đồng minh phương Tây, lôi kéo họ và nhiều nước ở các khu vực khác nhau lập ra các liên minh quân sự để đàn áp cách mạng và ngăn chặn “xu hướng cộng sản” ở Đông Nam Á và các khu vực kế cận Mỹ cùng Anh và Pháp lập ra khối quân sự SEATO
và ANZUS để hỗ trợ cho các biện pháp quân sự của mình Nền kinh tế của Liên Xô
và các nước Đông Âu có nhiều bước tiến, phát triển ổn định Tuy nhiên, các nước trong khối xã hội chủ nghĩa nảy sinh các bất đồng, mâu thuẫn về đường lối đặc biệt
là mâu thuẫn Xô – Trung dù cả hai đều đang có xu hướng hòa hoãn với phương Tây Liên Xô dưới thời Tổng bí thư Khơrutxốp đang thực hiện chính sách tam hòa
là: quá độ hòa bình, thi đua hòa bình và cùng tồn tại hòa bình Trung Quốc đang
tiến hành hội đàm Trung – Mỹ hướng tới việc giảm căng thẳng trong mối quan hệ với Mỹ và phương Tây Điều mà các nhà chiến lược Mỹ quan tâm là thời điểm đó giữa Liên Xô và Trung Quốc với Việt Nam chưa có sự thống nhất về đường lối chống Mỹ ở miền Nam Việt Nam Mỹ thấy rằng Việt Nam chỉ nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ các nước xã hội chủ nghĩa trong phạm vi xây dựng lại đất nước về kinh
tế, quốc phòng Vì vậy, Mỹ cho rằng các nước xã hội chủ nghĩa, Liên Xô, Trung Quốc và Bắc Việt Nam khó có những phản ứng kịp thời, tích cực, nhanh chóng và hiệu quả chống lại chiến lược chiến tranh mới của mình ở miền Nam Việt Nam
Trang 15Hơn nữa, tình hình chính trị nước Mỹ tương đối ổn định nên Mỹ cho rằng nhân dân trong nước sẽ không có phản ứng tiêu cực chống lại chiến lược chiến tranh mới
Năm 1960, sự thắng lợi của phong trào Đồng Khởi đã chuyển cách mạng miền Nam Việt Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công, giáng một đòn nặng nề vào chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ Đây là mốc rất quan trọng của cách mạng ở Nam Bộ, tạo dựng cơ sở vững chắc để nhân dân ta đánh thắng chiến lược quân sự mới của Mỹ Trên đà thắng lợi đó và thực hiện Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng về việc thành lập một mặt trận dân tộc thống nhất chống Mỹ - Diệm, ngày 20-12-1960 tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam, bao gồm đại biểu các giai cấp, các dân tộc, các tôn giáo
và đảng phái đã họp và tuyên bố thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam Sự ra đời của Mặt trận đánh dấu sự trưởng thành, lớn mạnh của phong trào cách mạng miền Nam và đáp ứng kịp thời yêu cầu của cách mạng, mong đợi của nhân dân “Những chuyển biến to lớn của phong trào cách mạng ở Nam Bộ nói riêng và miền Nam nói chung trong năm 1960 đánh dấu thời kỳ tạm ổn định của chế độ Mỹ - Diệm đã qua và thời kỳ khủng hoảng liên tiếp, suy sụp nghiêm trọng bắt đầu” [37, tr 145]
Những thắng lợi của cách mạng Việt Nam đã góp phần cổ vũ các dân tộc thuộc địa, nửa thuộc địa vùng lên đấu tranh để tự giải phóng Việt Nam trở thành ngọn cờ đầu của phong trào giải phóng dân tộc, tiêu biểu cho sự kết hợp các trào lưu cách mạng của thời đại Bởi vậy, đầu những năm 60, thế giới cũng được chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc châu Á, Phi, Mỹ - Latinh với nòng cốt là phong trào công nhân, tiến bộ và dân chủ Châu Phi vốn được biết đến với tên gọi là lục địa đen nay có hàng loạt các nước vùng lên lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ nên được gọi là châu
Trang 16Phi rực lửa Từ đó, nhân dân toàn thế giới thường nhớ đến năm 1960 với tên gọi
“Năm châu Phi”
Trong khi đó, chiến tranh lạnh vẫn tiếp diễn với các cuộc xung đột xảy ra lẻ
tẻ ở các khu vực trên thế giới Cuộc chạy đua vũ trang diễn ra gay gắt, Liên Xô vượt Mỹ về chế tạo vũ khí hạt nhân, tên lửa đạn đạo, tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân Ở Lào, ngày 9-8-1960, Đại úy Coongle chỉ huy quân nhảy dù làm đảo chính lật đổ chính quyền Phuminôxavẳn thân Mỹ Vì vậy, theo yêu cầu của bạn Lào, tháng 9-1960 Việt Nam đưa quân sang giúp đỡ lực lượng Pathet Lào giải phóng một số tỉnh như: Sầm Nưa, Cánh đồng chum, Xiêng Khoảng, Nặm Bạc…Sau đó, chính quyền liên hiệp Lào nhận được sự ủng hộ của Liên Xô và Trung Quốc khiến Mỹ rất lo lắng về sự lan rộng của chủ nghĩa Cộng sản ở khu vực Đông Nam Á
Phong trào giải phóng dân tộc dâng lên mạnh mẽ ở châu Á, châu Phi, châu
Mỹ Latinh và sự lớn mạnh của Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đặt
Mỹ trước một tình thế khó khăn Các nhà chiến lược Mỹ nhận định rằng chỉ có đè bẹp được cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, Mỹ mới có thể đẩy lùi được phong trào đấu tranh của các dân tộc chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân
Vì vậy, Việt Nam trở thành trọng điểm trong chính sách ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản của Mỹ Trong sáu năm từ 1954 – 1960, đế quốc Mỹ đã dựng lên ở miền Nam Việt Nam chính quyền Ngô Đình Diệm và viện trợ cho chính quyền ấy khoảng 2 tỷ USD, trung bình mỗi năm 300 triệu USD nhằm nuôi sống bộ máy quân đội và chính quyền Sài Gòn để đàn áp cuộc đấu tranh hòa bình yêu nước của nhân dân ta
ở miền Nam [6, tr 8] Tuy nhiên, chiến lược quân sự toàn cầu “Trả đũa ồ ạt” tượng trưng cho sức mạnh của đế quốc Mỹ cùng với những chính sách và biện pháp để thực hiện chiến lược đó đã không ngăn chặn được sự lớn mạnh của các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là Liên Xô, Trung Quốc và phong trào giải phóng dân tộc trên thế
Trang 17giới Giữa tình thế khó khăn đó, J Kennơđi được bầu làm Tổng thống nước Mỹ thay cho D.Aixenhao đã đề ra nhiều biện pháp mới nhằm giải quyết tình hình chiến tranh ở Việt Nam Đế quốc Mỹ phải lựa chọn một trong hai con đường hoặc là từ
bỏ việc ủng hộ chính quyền Diệm, thực thi Hiệp nghị Giơnevơ hoặc tiếp tục can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam bằng chiến tranh để củng cố chế độ tay sai, áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới
1.1.2 Âm mưu và thủ đoạn của đế quốc Mỹ
Sau khi xem xét và đánh giá lại toàn bộ tình hình thế giới và trong nước, tổng thống Mỹ J Kennơđi quyết định loại bỏ chiến lược “Trả đũa ồ ạt” vì không còn đủ sức ngăn chặn sức mạnh của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thay bằng chiến lược “Phản ứng linh hoạt” Theo đó, Mỹ quyết định giữ vững cam kết với Ngô Đình Diệm, biến miền Nam Việt Nam thành tuyến đầu của đế quốc Mỹ chống Liên Xô, Trung Quốc “bành trướng” xuống Đông Nam Á Tổng thống Kennơđi cho thành lập một lực lượng đặc nhiệm do ông Roswell Gilpatric, Thứ trưởng Bộ quốc phòng Mỹ lãnh đạo nhằm nghiên cứu và thăm dò các hướng hành động để đối phó với tình hình mới ở Việt Nam và trên thế giới
Tổng thống Mỹ J Kennơđi quyết định chỉ cho phép đưa vào Việt Nam khoảng 100 - 400 quân thuộc lực lượng đặc biệt làm cố vấn để huấn luyện quân đội Sài Gòn, đồng thời chấp nhận phương hướng chiến lược toàn cầu mới là “Phản ứng linh hoạt” Đế quốc Mỹ sẽ vẫn duy trì lực lượng hạt nhân chiến lược đồng thời để tiến hành các cuộc chiến tranh hạn chế
Chiến tranh hạn chế của Mỹ gồm hai hình thức là: Chiến tranh đặc biệt và Chiến tranh cục bộ Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” được tiến hành bằng quân đội tay sai dưới sự chỉ huy của hệ thống cố vấn Mỹ, dựa vào vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện chiến tranh của Mỹ nhằm chống lại phong trào cách mạng ở miền Nam Việt Nam Mỹ coi “Chiến tranh đặc biệt” là cuộc thí nghiệm đầu tiên
Trang 18của cuộc Chiến tranh hạn chế Âm mưu chính của đế quốc Mỹ là “dùng người Việt đánh người Việt” Để thực hiện âm mưu đó, Mỹ - Diệm đề ra nhiều biện pháp thực hiện khác nhau như tăng cường cố vấn Mỹ, phương tiện chiến tranh hiện đại để thực hiện các chiến thuật “trực thăng vận” và “thiết xa vận”, chiến lược dồn dân lập “ấp chiến lược” được coi là xương sống của toàn bộ chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” “Cả hai hình thức Chiến tranh hạn chế là một bộ phận quan trọng hợp thành chiến lược quân sự toàn cầu phản ứng linh hoạt, được các nhà quân sự Lầu Năm Góc đánh giá là “lưỡi kiếm” tiến công sắc bén vào những nơi nguy hiểm nhất đối với thế giới tự do” [6, tr 12] Theo đánh giá của nhiều nhà quân sự Mỹ thì chiến tranh hạn chế có thể tránh được đụng độ với các nước lớn trong phe xã hội chủ nghĩa và có thể giành được thắng lợi ở các nơi khác bằng cách chủ động tạo ra
sự ưu thế trong từng cuộc chiến tranh cụ thể do đế quốc Mỹ lựa chọn như cuộc chiến tranh Việt Nam
Ngày 29-4-1961, Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ nhóm họp đề ra chính sách, biện pháp và các bước tiến hành “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nam Ngày 11-5-1961, Tổng thống Mỹ Kennơđi chính thức phê chuẩn các quyết định
của Hội đồng an ninh quốc gia mang tên Bị vong lục về hành động an ninh quốc
gia số 52 Trong đó, xác định mục tiêu và hành động của đế quốc Mỹ là ngăn chặn
cộng sản thống trị Nam Việt Nam, để xúc tiến với nhịp độ ngày càng nhanh một loạt những hoạt động hỗ trợ lẫn nhau có tính chất quân sự, chính trị, kinh tế, tâm lý
và không công khai nhằm ngăn chặn sức mạnh của cộng sản ở Nam Việt Nam Mỹ dùng các biện pháp tăng cường và mở rộng quyền điều hành tác chiến, chỉ huy, yểm trợ của phái đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ (MAAG); huấn luyện trang bị cho lực lượng dân vệ để chống lại chiến tranh du kích; khẩn trương triển khai kế hoạch bình định, lấy việc dồn dân lập ấp chiến lược làm trọng tâm; tiến hành các chương trình kinh tế để gây ảnh hưởng ngắn hạn và góp phần vào sự tồn tại lâu dài
về kinh tế miền Nam Việt Nam; phong tỏa vùng biển, bịt chặt biên giới nhằm
Trang 19chống việc xâm nhập từ miền Bắc vào miền Nam, tiến hành các hoạt động phá hoại miền Bắc Việt Nam; ra sức củng cố hệ thống chính quyền Sài Gòn các cấp; cải thiện quan hệ giữa Chính phủ Sài Gòn với các nước khác, đặc biệt chính phủ Campuchia
Đồng thời với việc chuẩn y các biện pháp trên đây, để tranh thủ sự ủng hộ của các đồng minh châu Á và làm cho chính quyền, quân đội Sài Gòn yên tâm về chính sách chiến tranh của đế quốc Mỹ, thăm dò khả năng triển khai quân Mỹ vào miền Nam Việt Nam, Kennơđi cử Phó Tổng thống Mỹ L.B Giônxơn sang thăm các nước Philippin, Đài Loan, Thái Lan, Ấn Độ, Pakixtan và miền Nam Việt Nam Tại Sài Gòn, Giônxơn và Ngô Đình Diệm đã ra thông cáo chung thỏa thuận về việc
Mỹ tăng thêm viện trợ quân sự, kinh tế, cố vấn cho Nam Việt Nam, tăng cường mở rộng lực lượng vũ trang, bán vũ trang của Sài Gòn gồm quân chủ lực, bảo an và dân vệ; lập nhóm chuyên viên kinh tế, tài chính, quân sự cao cấp của hai bên để xây dựng kế hoạch hành động chung giữa chính phủ Mỹ và chính phủ Sài Gòn; Mỹ hoan nghênh các nước khác viện trợ và hợp tác với chính phủ Ngô Đình Diệm; triển khai mạnh mẽ chương trình lập ấp chiến lược Mỹ còn nhấn mạnh rằng
“những biện pháp hai bên thỏa thuận có thể được tiếp nối bằng những biện pháp rộng lớn hơn nữa” [27, tr 33]
Thực hiện thỏa thuận đó, ngày 19-6-1961, Kennơđi phái một “phái đoàn kinh tế đặc biệt” do E Xtalây thuộc Viện Nghiên cứu quốc tế của Đại học Stanford dẫn đầu sang Nam Việt Nam giúp Diệm xây dựng chương trình bình định Sau gần một tháng tìm hiểu tình hình tại chỗ và gặp gỡ một số nhân vật phụ trách về bình định trong chính quyền Sài Gòn, hội đàm với Diệm, cuối tháng 7-1961, phái đoàn Xtalây trình lên Kennơđi bản báo cáo trong đó yêu cầu Chính phủ Mỹ tăng thêm viện trợ về quân sự và kinh tế để phục vụ cho kế hoạch bình định Kế hoạch gồm 3 giai đoạn:
Trang 20- Giai đoạn 1: Dự định trong vòng 18 tháng (kể từ giữa năm 1961 đến cuối năm 1962), cơ bản “bình định” xong miền Nam bằng cách triển khai mạnh mẽ việc dồn dân lập ấp chiến lược để triệt phá cơ sở cách mạng ở nông thôn; phát triển quân đội Sài Gòn gồm quân chính quy, bảo an, dân vệ, đồng thời tăng cường lực lượng yểm trợ Mỹ nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam; thiết lập hệ thống cứ điểm chốt chặn ở biên giới và giới tuyến quân sự tạm thời, tăng cường tuần tra, kiểm soát vùng biển để ngăn chặn chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam; đẩy mạnh các hoạt động tình báo, gián điệp, biệt kích, chiến tranh tâm lý… chống phá miền Bắc, hỗ trợ cho nỗ lực bình định ở miền Nam
- Giai đoạn 2: Dự kiến trong năm 1963 củng cố những kết quả đạt được trong giai đoạn 1 bằng cách tập trung vào khôi phục kinh tế, hoàn tất chương trình bình định, tiếp tục tăng cường quân đội Sài Gòn, đẩy mạnh các hoạt động chống phá miền Bắc
- Giai đoạn 3: Dự kiến trong hai năm 1964 và 1965, hoàn tất các mục tiêu của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” bằng việc chuyển hẳn trọng tâm sang phát triển kinh tế trong khi vẫn tiếp tục tăng cường quân đội Sài Gòn nhằm làm cho miền Nam trở thành một quốc gia mạnh về quân sự, phồn vinh về kinh tế của “thế giới tự do”
Dựa trên kế hoạch này, Mỹ - Diệm gấp rút tăng cường lực lượng vũ trang, tổ chức và kiện toàn bộ máy chỉ đạo bình định từ trung ương xuống các tỉnh, liên tiếp
mở các cuộc hành quân càn quét, đánh phá ác liệt cơ sở cách mạng miền Nam, triển khai thí điểm dồn dân lập ấp chiến lược ở các địa phương thuộc các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Biên Hòa, Quảng Ngãi và áp dụng rộng rãi ở một số tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long Từ giữa năm 1961, đế quốc Mỹ công khai thiết lập phái đoàn cố vấn và viện trợ quân sự (MAAG) cho phái thân Mỹ ở Lào, gồm 16.000 nhân viên; phát triển quân ngụy Lào từ 30.000 tên lên tới 50.000 tên; thúc đẩy quân
Trang 21ngụy Lào mở các cuộc hành quân quy mô tương đối lớn đánh vào vùng giải phóng của Pathet Lào ở khu vực đường 9, đường số 12, Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng, Mương Nủi, Nặm Thà; lập phòng tuyến sông Nậm Hu – Mương Khoa; củng cố địa bàn chiến lược của chúng ở khu vực Luông Phabang – Nậm Thà; đẩy mạnh công việc bình định ở những vùng chúng kiểm soát…
Đối với Campuchia, đế quốc Mỹ dùng nhiều thủ đoạn, biện pháp gây sức ép buộc nước này phải từ bỏ chính sách tập trung, ngấm ngầm chi tiền của, viện trợ vũ khí cho bọn Khơme thân Mỹ, Lon Non – Xirich Matac xúi giục và tổ chức cho chúng chống phá, tiến tới lật đổ Chính phủ Xihanuc hòng đưa Campuchia vào ảnh hưởng của Mỹ, cô lập cách mạng Việt Nam
Đồng thời, Mỹ - Diệm còn mời Thompson, một chuyên gia của quân đội Anh dày dạn về kinh nghiệm chống chiến tranh du kích ở Malaixia sang Việt Nam làm cố vấn bình định cho Bộ Chỉ huy cố vấn viện trợ Mỹ (MAAG) và cho chính quyền, quân đội Sài Gòn Diệm còn cử các phái đoàn và gửi nhiều cán bộ sang Malaixia, Philippin để tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm chống du kích, dồn dân, lập các khu tập trung của những nước này nhằm áp dụng vào miền Nam Việt Nam…
Ngoài ra, ngay từ tháng 4-1961 để tăng cường khả năng chỉ huy và tận dụng lực lượng quân đội Sài Gòn trong công tác bình định, hệ thống tổ chức chiến trường theo quân khu được Mỹ - Diệm thay thế bằng vùng chiến thuật Mỗi vùng chiến thuật do một quân đoàn chủ lực đảm nhiệm với đủ thành phần quân địa phương và các quân binh chủng yểm trợ như pháo binh, công binh, thiết giáp, biệt động, biệt kích, không quân, hải quân, tiếp vận… Dưới vùng chiến thuật là khu chiến thuật Tiếp đó là các tiểu khu (tỉnh), chi khu (quận, huyện) Riêng Sài Gòn – Gia Định được tổ chức thành “Biệt khu thủ đô” Lực lượng yểm trợ Mỹ được bố trí xuống từng vùng chiến thuật, nhất là các đơn vị máy bay trực thăng và vận tải đường không Cố vấn quân sự Mỹ có mặt khắp các vùng chiến thuật, khu chiến
Trang 22thuật và các trung tâm huấn luyện, các cơ quan điều hành tác chiến, chỉ huy, các trại lực lượng đặc biệt, các chi khu trọng yếu…
Năm 1961, sau sự gia tăng những cuộc tiến công quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị của quân và dân miền Nam ở các vùng nông thôn, đô thị và rừng núi quân đội Sài Gòn đã mất thế chủ động Vì vậy, ngày 18-10-1961 chính phủ Mỹ cử hai thành viên Hội đồng an ninh quốc gia là Taylo và Rostow dẫn đầu một phái đoàn gồm các chuyên gia về quân sự, dân sự sang miền Nam Việt Nam để nghiên cứu, đánh giá lại tình hình cụ thể và kết luận tại chỗ, đề ra các phương án đối phó Phái đoàn này đề ra ba phương án hành động của Mỹ: Phương án một là đưa vào miền Nam Việt Nam ba sư đoàn quân Mỹ để đánh bại Việt cộng; Phương án hai là đưa tượng trưng một số quân chiến đấu Mỹ nhằm mục đích xác lập sự có mặt của
Mỹ ở Nam Việt Nam Qua đó, góp phần nâng đỡ tinh thần quân đội và chính quyền Sài Gòn đang sa sút mạnh, cũng để tạo điều kiện cho việc tăng viện trợ quân Mỹ khi cần; hoặc thực hiện phương án 3 là tăng thêm viện trợ, vũ khí, trang bị chiến tranh và đẩy mạnh công tác huấn luyện cho lực lượng vũ trang Sài Gòn để nâng cao sức chiến đấu
Ngày 3-11-1961, phái đoàn Taylo gửi báo cáo về Oasinhtơn và kiến nghị một loạt các biện pháp để cứu vãn tình hình Đó là cử các cố vấn hành chính sang tham gia vào bộ máy chính quyền Sài Gòn cùng họ tiến hành các biện pháp cần thiết để cải tạo mạng lưới tình báo quân sự, chính trị trong chính quyền và quân đội; mở các cuộc điều tra rộng lớn ở các tỉnh trên khắp miền Nam để định lượng các nhân tố xã hội, chính trị, kinh tế, tình báo, quân sự, tâm lý có liên quan tới công tác chống nổi loạn để có thêm cơ sở cho việc đề ra các biện pháp hiệu quả hơn; tăng cường viện trợ vũ khí, trang bị và huấn luyện cho lực lượng bảo an, dân vệ để lực lượng này đủ sức thay thế các đơn vị chính quy làm nhiệm vụ giữ đất, tạo điều kiện cho các đơn vị chính quy đẩy mạnh các cuộc hành quân cơ động, có tính tiến
Trang 23quân; giúp đỡ chính quyền Sài Gòn giám sát và kiểm soát vùng biển và các đường thủy nội địa bằng cách cung cấp cố vấn, nhân viên điều hành và phương tiện cần thiết cho nhiệm vụ này; tổ chức lại và tăng biên chế phái đoàn cố vấn viện trợ quân
sự Mỹ; đưa vào miền Nam Việt Nam một lực lượng quân sự đặc nhiệm gồm 6000 – 8000 quân hoạt động dưới sự chỉ đạo, chỉ huy của Mỹ để xác lập sự có mặt về quân sự, hỗ trợ cho các hoạt động quân sự và khi cần có thể mở các cuộc hành quân mang tính chất tiến công Ngoài ra, lực lượng đặc nhiệm này còn đóng vai trò như một bộ phận đi trước của lực lượng Mỹ sẽ được đưa vào nếu như dùng đến các
kế hoạch khẩn cấp của Tổng tư lệnh Thái Bình Dương hoặc khối SEATO; tăng thêm viện trợ để hỗ trợ thích đáng chương trình “chống nổi loạn mở rộng”
Ngoài những biện pháp chung trên đây, phái đoàn Taylo còn kiến nghị một
Chương trình tham gia có giới hạn của đế quốc Mỹ trong lĩnh vực quân sự: cử
sang Nam Việt Nam cố vấn cấp cao tham gia vào các cơ quan chính phủ và các bộ chủ chốt; thành lập ban thanh tra quân sự hỗn hợp từ trung ương xuống quân khu
và các tỉnh; tăng cường một cách cơ bản nhân viên huấn luyện Mỹ ở mọi cấp và trên mọi lĩnh vực quân sự, hành chính, kinh tế, văn hóa, xã hội; triển khai vào Nam Việt Nam các đơn vị công binh hậu cần, máy bay lên thẳng nằm trong khuôn khổ lực lượng quân sự đặc nhiệm Mỹ đã được đề nghị trước đây; đưa thêm các đội lực lượng đặc biệt Mỹ để cùng lực lượng đặc nhiệm Sài Gòn tăng cường cho vùng biên giới; đẩy mạnh các hoạt động tiến công bí mật ra miền Bắc Việt Nam và Lào, kể cả những hoạt động biệt kích bằng không quân nếu tình hình Nam Việt Nam tiếp tục xấu đi, đế quốc Mỹ sẽ ném bom miền Bắc để gây áp lực
Để thực hiện Chương trình tham gia có giới hạn, phái đoàn Taylo cho rằng
cần có sự thay đổi trong quy chế tinh thần và tổ chức của phái đoàn cố vấn viện trợ quân sự ở Nam Việt Nam Phái đoàn này cần phải được chuyển từ một tổ chức cố vấn thành một tổ chức gần giống như một sở chỉ huy tác chiến tại một nơi có chiến
Trang 24tranh Hơn thế nữa, để giành thắng lợi Mỹ phải trở thành một người tham gia có giới hạn vào cuộc chiến tranh một mặt phải tránh câu nệ, nghi thức trong việc làm
cố vấn, mặt khác phải tránh tự mình tiến hành chiến tranh Đúng lúc đó, ở miền Nam xảy ra một trận lụt lớn, Taylo xem đây là một thời cơ để đưa quân Mỹ vào dưới chiêu bài “giúp đỡ nhân đạo” sau đó số quân này sẽ ở lại hỗ trợ cho quân đội Sài Gòn Đây là biện pháp hiệu nghiệm nhất để đưa quân Mỹ vào tham chiến nhằm trấn an Diệm và đối phó được với dư luận thế giới, làm giảm bớt sự dè dặt của Kennedy
Theo Bộ quốc Phòng Mỹ, Chương trình tham gia có giới hạn do phái đoàn
Taylo – Rostow đề xuất là “quan điểm tổng quát của Mỹ về vai trò mới của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam” Với vai trò mới này, tuy bề ngoài đế quốc Mỹ vẫn cố giấu mặt, trá hình nhưng thực chất họ đang cố giành quyền chỉ huy, điều hành cuộc chiến tranh này Những kiến nghị này chính là sự bổ sung vào những chủ trương do phái đoàn Xtalây đưa ra từ tháng 7-1961 để trở thành một kế hoạch hành động tương đối hoàn chỉnh của đế quốc Mỹ trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nam mà chúng ta quen gọi là kế hoạch Xtalây – Taylo Toàn bộ kế hoạch đã được Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ và Kennedy chấp thuận, trừ việc đưa lực lượng đặc nhiệm Mỹ vào miền Nam và dùng không quân ném bom miền Bắc tạm gác lại Ngày 22-11-1961, Kennơđi nêu ra bản Bị vong lục về hành
động an ninh quốc gia số 111 nhan đề: Giai đoạn đầu của chương trình Việt Nam
đã thể hiện quyết định của ông trong cuộc chiến tranh Việt Nam
Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện kế hoạch Xtalây – Taylo, Mỹ còn tạm thời rút lại yêu cầu đòi Diệm cải tổ chính phủ trước đây Từ đó, chứng tỏ khía cạnh quân sự của cuộc chiến tranh được Mỹ ưu tiên hơn khía cạnh chính trị Như vậy, quyền điều hành chiến tranh hoàn toàn trong tay đế quốc Mỹ, thực chất là
Trang 25cuộc chiến tranh của đế quốc Mỹ, do Mỹ khởi xướng và chỉ huy, không phải là cuộc nội chiến ở Việt Nam
Sau một năm thăm dò, thử nghiệm đế quốc Mỹ từng bước hoàn chỉnh kế hoạch chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” và triển khai mạnh mẽ các biện pháp nhằm trước hết, cơ bản bình định xong miền Nam Việt Nam trong 18 tháng
Theo đề xuất của kế hoạch Taylo, ngày 8-2-1962, phái đoàn cố vấn và viện trợ quân sự Mỹ (MAAG) được chuyển thành Bộ Chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ (MACV) do Đại tướng Hackin thay Macga làm tư lệnh Dưới quyền chỉ huy và điều hành của MACV, số lượng cố vấn và các đơn vị yểm trợ Mỹ không ngừng tăng lên “Nếu năm 1960, lực lượng yểm trợ và cố vấn Mỹ mới chỉ có 1.077 tên thì năm 1962 con số đó lên tới 10.640 tên gồm hai bộ phận: Cố vấn 2.360 người và 8.280 người thuộc lĩnh vực yểm trợ, đơn vị kỹ thuật” [6, tr 23] Cố vấn Mỹ không chỉ nắm được lực lượng quân đội, bảo an và dân vệ mà còn len vào tất cả các ngành, các cấp trong bộ máy chính quyền Diệm Ngoài số cố vấn và các đơn vị yểm trợ chiến đấu Mỹ, đế quốc Mỹ còn đưa vào miền Nam một khối lượng lớn vũ khí, thiết bị chiến tranh, tăng thêm viện trợ quân sự và viện trợ kinh tế cho quân đội
và chính quyền Sài Gòn Từ năm 1961 trở đi, số viện trợ quân sự bắt đầu vượt qua viện trợ kinh tế chứng tỏ trong việc thực hiện chiến lược chiến tranh đặc biệt, biện pháp quân sự được Mỹ - Diệm ưu tiên hàng đầu
Như vậy, với sự tăng viện trợ của đế quốc Mỹ về vũ khí, thiết bị chiến tranh, đội ngũ cố vấn thì quân đội Sài Gòn nhanh chóng phát triển về số lượng, cải tiến về biên chế, tổ chức, hệ thống chỉ đạo, chỉ huy, đổi mới công tác huấn luyện theo phương hướng nhằm đối phó có hiệu quả với chiến tranh du kích và phong trào nổi dậy của nhân dân Quân chính quy của quân đội Sài Gòn “từ 7 sư đoàn bộ binh năm 1960, quân chính quy ngụy tăng tới 9 sư đoàn bộ binh, một số tiểu đoàn nhảy
dù, tiểu đoàn lính thủy đánh bộ với tổng số 206.000 tên vào năm 1963” [37, tr
Trang 26175] Bên cạnh đó, lực lượng bảo an, dân vệ cũng được tăng nhanh về số lượng, trang bị thêm các loại vũ khí mới, từng bước thay thế các đơn vị chủ lực làm nhiệm
vụ giữ đất Ngoài ra, dưới sự huấn luyện của CIA, chương trình thanh niên chiến đấu cũng được xúc tiến nhằm tăng thêm lực lượng bảo vệ các dinh điền, ấp chiến lược và bổ sung cho mạng lưới tình báo trải rộng khắp các vùng nông thôn
Tháng 4-1962, sau một thời gian làm thí điểm ở một số địa phương, Mỹ - Diệm đã triển khai thực hiện rộng rãi trên toàn miền Nam chương trình dồn dân lập
ấp chiến lược và coi đây là “quốc sách”, là “xương sống” của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” nhằm giành giật nông dân và địa bàn nông thôn với phía cách mạng; triệt phá tận gốc cơ sở của chiến tranh du kích để hoàn tất kế hoạch bình định trong vòng 18 tháng
Thực hiện kế hoạch đó, một bộ máy chỉ đạo bình định của chính quyền Sài Gòn có hệ thống cố vấn Mỹ lồng xen được thiết lập từ trung ương xuống các tỉnh
Mỹ - Diệm dự tính gom 10 triệu nông dân vào 16.000 ấp chiến lược Tiền của, phương tiện, lực lượng, cán bộ chỉ đạo, chỉ huy…được Mỹ - Diệm ưu tiên cho công tác này Kế hoạch bình định tiến triển vững chắc, liên tục, có hiệu quả, Mỹ - Diệm chia miền Nam thành ba vùng bình định khác nhau để tập trung nỗ lực vào từng vùng, đặc biệt là những vùng ưu tiên quốc gia Một là, vùng do đối phương kiểm soát, chúng dùng sức mạnh của bộ máy chính quyền Sài Gòn kết hợp với lực lượng quân sự tại chỗ và bộ máy chiến tranh tâm lý vừa cưỡng bức vừa dụ dỗ nhân dân, trước hết là những khu vực xung quanh đô thị, dọc theo các tuyến giao thông huyết mạch, rời bỏ nhà cửa, ruộng vườn, quê cha, đất tổ vào sống trong những trại tập trung ấp chiến lược Hai là, vùng tranh chấp, đối phương chủ yếu sử dụng lực lượng quân sự mở các cuộc càn quét, đánh phá quyết liệt hòng làm cho nhân dân ta nhụt chí, nản lòng buộc phải để chúng dồn, gom vào các ấp chiến lược Ba là, vùng giải phóng, đối phương sử dụng các đơn vị chính quy kết hợp với không quân,
Trang 27pháo binh, xe tăng đánh phá ác liệt các khu dân cư, các căn cứ kháng chiến, đường hành lang, kho tàng hòng buộc nhân dân ở các nơi này chạy sang vùng do chúng kiểm soát, vào các ấp chiến lược do chúng lập ra
Mỹ - Diệm liên tục mở khoảng 6780 cuộc hành quân càn quét, bình định với quy mô lớn nhỏ và thời gian dài, ngắn khác nhau nhằm tiêu diệt cơ sở chính trị và lực lượng vũ trang của cách mạng, hỗ trợ cho nỗ lực gom dân, lập ấp chiến lược Trong các cuộc hành quân đó, quân Mỹ và quân Sài Gòn dùng những phương tiện chiến tranh hiện đại như máy bay lên thẳng, xe tăng, xe bọc thép để thực hiện các chiến thuật “bủa lưới phóng lao”, “phượng hoàng vồ mồi”, “trên đe dưới búa”…đánh vào những người dân thường không có vũ khí Đó là những chiến thuật điển hình gây nhiều thiệt hại đối với nhân dân mà đế quốc Mỹ áp dụng ở miền Nam Việt Nam trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” Đế quốc Mỹ còn dùng một khối lượng lớn bom đạn, chất độc khai quang đánh vào vùng giải phóng, vùng căn cứ kháng chiến, các hành lang vận chuyển, khu giới tuyến quân sự tạm thời phía nam sông Bến Hải, san phẳng nhiều làng, phá nát từng khu rừng
Từ cuối năm 1962, các đơn vị hoàn chỉnh thuộc “lực lượng đặc biệt” Mỹ được công khai đưa vào miền Nam Việt Nam Đầu năm 1963, với tư cách là một binh chủng trong thành phần lực lượng vũ trang quân đội Sài Gòn, “lực lượng đặc biệt” được chính thức thành lập Đây là lực lượng nòng cốt trong hệ thống các đồn trại dân sự chiến đấu được thiết lập ở những vùng tranh chấp trên các tuyến hành lang, dọc theo đường biên giới Lào và Campuchia Hệ thống đồn trại này, một mặt
hỗ trợ cho công tác bình định, nới rộng vùng kiểm soát; mặt khác chống xâm nhập
và tạo thế bao vây, chia cắt vùng căn cứ, các tuyến hành lang vận chuyển của ta Ngoài ra, nó còn có nhiệm vụ thu thập tin tức tình báo, phá rối hậu phương tại chỗ của cách mạng
Trang 28Phục vụ cho chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ còn bỏ tiền thuê hàng chục cơ quan nghiên cứu, trường đại học, tổ hợp công nghiệp… nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, đưa vào sản xuất nhiều loại vũ khí, thiết bị chiến tranh mới; nghiên cứu, thử nghiệm các chiến thuật chống du kích, chống nổi dậy Đế quốc Mỹ còn thiết lập Cơ quan phát triển khả năng tác chiến nhằm ứng dụng kịp thời những phát minh, sáng chế mới trong lĩnh vực kỹ thuật quân sự vào cuộc chiến tranh Việt Nam
Đồng thời, để hỗ trợ cho nỗ lực bình định, Mỹ - Diệm còn triển khai các hoạt động phong tỏa vùng biển, bịt kín biên giới nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc, cô lập cách mạng miền Nam Chúng thiết lập hơn 70 căn cứ, đồn bốt, trại “lực lượng đặc biệt” của Mỹ, quân đội Sài Gòn dọc các tuyến hành lang xung quanh vùng căn cứ của ta, đối phương tổ chức hệ thống radar, tình báo mặt đất, thực hiện các chuyến bay trinh sát đường không…hòng phát hiện quy luật hoạt động của ta trong việc đưa người, vũ khí, phương tiện, vật chất vào miền Nam để chúng tổ chức các cuộc hành quân, đánh phá, ngăn chặn Ở vùng ven biển, cửa sông ngoài
hệ thống đồn, bốt, trạm tuần tra, kiểm soát, đối phương sử dụng từ 30 – 40% lực lượng hải thuyền, 100% lực lượng giang thuyền…ngày đêm cảnh giới, khám xét tàu thuyền ra vào, phá hệ thống vận chuyển đường thủy của ta
Từ tháng 11-1961, đế quốc Mỹ và tay sai bắt đầu cuộc chiến tranh hóa học, tiến hành rải chất độc hóa học xuống những căn cứ của ta ở vùng Đông Nam Bộ
Đối với miền Bắc, đối phương tăng cường cuộc chiến tranh bí mật, tung hơn
100 toán biệt kích, gián điệp ra các tỉnh bằng đường không, đường biển hoạt động móc nối với bọn phản động nội địa, phá hoại công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta Đế quốc Mỹ còn dùng máy bay U2 trinh sát vùng biên giới Việt – Lào, chuẩn bị, nếu có điều kiện thì leo thang chiến tranh chống phá cách mạng Lào
và miền Bắc Việt Nam
Trang 29Toàn bộ những nỗ lực chiến tranh trên đây của đế quốc Mỹ nhằm tiếp tục duy trì chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam, phá hoại miền Bắc, đặt nhân dân Việt Nam vào tình thế phải tiến hành cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước
1.2 Chủ trương của Đảng về công tác tuyên truyền báo chí
Trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, Đảng luôn có chủ trương kết hợp đấu tranh trên mặt trận quân sự và ngoại giao, trong đó, công tác tuyên truyền giữ một vai trò đặc biệt quan trọng Bước vào mỗi thời kỳ khác nhau, Đảng lại đề ra những nhiệm vụ thiết thực cho báo chí, đặc biệt là báo Nhân Dân nhằm phục vụ cho sự nghiệp cách mạng nước nhà
Báo Nhân Dân với tư cách là cơ quan ngôn luận của Đảng Lao động Việt Nam không chỉ có chức năng tuyên truyền, cổ động, tổ chức tập thể mà còn có nhiệm vụ hướng dẫn quần chúng trong đấu tranh cách mạng Bởi vậy, ngay từ khi
ra đời, báo Nhân Dân luôn nhận được sự chỉ đạo sát sao của chủ tịch Hồ Chí Minh
và Đảng, Nhà nước
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm hướng dẫn cho cán bộ của báo Nhân Dân từ nội dung tuyên truyền cho tới hình thức trình bày bài báo của mình như thế nào cho hấp dẫn độc giả Thậm chí, Người còn thường xuyên viết bài cho báo với nhiều bút danh khác nhau như: CB, Chiến Sĩ, Chiến Đấu, CS, K.C, Trần Lực, Tuyết Lan, Việt Hồng, T.L,
Đồng thời, Đảng cũng ra nhiều Nghị quyết đối với báo Nhân Dân Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai, Đảng Lao động Việt Nam đã quyết định xuất bản tờ báo Nhân Dân kế tục sự nghiệp của báo Sự Thật Đảng chỉ rõ: “Để tuyên truyền chủ nghĩa và động viên đảng viên và quần chúng nhân dân thực hành chính sách của Đảng Đại hội quyết định Đảng Lao động Việt Nam xuất bản một tờ báo lấy tên là “Nhân Dân”, cơ quan ngôn luận của Đảng Báo Nhân Dân ra hàng tuần,
Trang 30khi nào có điều kiện sẽ ra hàng ngày Đối tượng chính của Nhân Dân là đảng viên các chi bộ và quần chúng nhân dân Trong thời kỳ kháng chiến, vì sự giao thông liên lạc khó khăn, ngoài báo trung ương sẽ có hai tờ báo Đảng ở Liên khu V và Nam bộ lấy tên là Nhân Dân Liên khu V và Nhân dân Nam Bộ” Sau đó, Nghị quyết số 26/NQ/TW ngày 20-7-1951 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng chỉ định ban biên tập đầu tiên của báo Nhân Dân do đồng chí Trường Chinh làm Chủ nhiệm
và đồng chí Trần Quang Huy phụ trách chức vụ Thư ký Ban biên tập
Năm 1955, trải qua 4 năm hoạt động, bên cạnh những thành tựu đạt được báo Nhân Dân còn tồn tại nhiều hạn chế Bởi vậy, ngày 1-11-1955, Bộ Chính trị đã
ra Chỉ thị số 43/CT/TW đánh giá những mặt đã làm được và chưa làm được của báo Nhân Dân nhằm đề ra phương hướng khắc phục cho báo
Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, đất nước tạm thời bị chia cắt thành hai miền chờ ngày Tổng tuyển cử thống nhất (tháng 7-1956) Tuy nhiên, cái hẹn 2 năm đã bị kéo dài hơn dự định do sự can thiệp của đế quốc Mỹ với âm mưu biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới Đứng trước tình hình mới của đất nước, báo Nhân Dân cũng mang trên mình nhiệm vụ cách mạng mới Vì vậy, ngày 20-2-1957, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra nghị quyết số 31/NQ/TW nhằm cải tiến báo Nhân Dân cho phù hợp với tình hình mới Trong Nghị quyết, dựa trên cơ
sở phân tích những điểm làm được và chưa làm được của báo Nhân Dân, Ban Bí thư đề ra những phương hướng cải tiến mới để đáp ứng với hoàn cảnh và nhiệm vụ mới của cách mạng là chống lại đế quốc Mỹ xâm lược Đến năm 1958, Ban Bí thư trung ương Đảng ra nghị quyết về việc “Nâng cao chất lượng chính trị và tư tưởng của báo Nhân Dân” nhằm đề ra phương hướng để báo hoạt động hiệu quả hơn nữa
Đầu những năm 1960, miền Bắc đang bước vào thời kỳ mới của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện kế hoạch nhà nước 5 năm, miền Nam đang đấu tranh chống lại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ nhằm đẩy
Trang 31mạnh cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà Bên cạnh việc tuyên truyền giáo dục cho nhân dân và cán bộ quán triệt những nghị quyết của Đại hội Đảng về đường lối chung xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, báo chí cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho cách mạng miền Nam Việt Nam Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đã vạch ra: “Báo chí phải thật sự trở thành vũ khí ngày càng sắc bén của giai cấp công nhân trên mặt trận tư tưởng và chính trị, ra sức nâng cao tính tư tưởng, tính chiến đấu, tính quần chúng…phải thật sự trở thành món ăn tinh thần của đông đảo quần chúng Báo chí thực hiện nhiệm vụ chính trị của công tác tư tưởng” [17, tr 142]
Thêm vào đó, báo chí cần quán triệt những vấn đề cơ bản trong bản tuyên ngôn của Hội nghị các Đảng Cộng sản và Công nhân họp ở Moskva, Liên Xô năm 1960 để tuyên truyền giáo dục cho nhân dân và cán bộ hiểu rõ lực lượng hòa bình mạnh hơn lực lượng chiến tranh, lực lượng xã hội chủ nghĩa mạnh hơn lực lượng đế quốc; hiểu rõ bản chất và dã tâm của bọn đế quốc không bao giờ tự nguyện từ bỏ âm mưu phá hoại và xâm lược của chúng; hiểu rõ đường lối sách lược đấu tranh cách mạng của phe ta Đặc biệt, “báo chí phải luôn luôn chỉ cho nhân dân thấy kẻ thù chính của nhân dân Việt Nam là đế quốc Mỹ, chúng ta cần
đề cao cảnh giác chống đế quốc; tích cực ủng hộ phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân giành độc lập dân tộc; tích cực góp phần đấu tranh bảo vệ hòa bình; tích cực góp phần tăng cường sự đoàn kết nhất trí và lực lượng trong phe xã hội chủ nghĩa; nâng cao tinh thần quốc tế vô sản của nhân dân ta” [17, tr 142] Năm 1961, Ban Bí thư trung ương Đảng ra nghị quyết về công tác báo chí khẳng định nhiệm vụ của báo chí là: “Tuyên truyền giáo dục cho nhân dân và cán
bộ nhiệm vụ đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà và cách mạng giải phóng miền Nam; phản ánh kịp thời và sinh động phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam; vạch trần và tố cáo sắc bén những âm mưu và thủ đoạn của đế
Trang 32quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng; tranh thủ và động viên dư luận thế giới đồng tình ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta nhằm thực hiện thống nhất nước nhà” [17, tr 141-142] Công tác tuyên truyền giữ vai trò là đội quân thường trực, xung kích trên mặt trận tư tưởng, kịp thời truyền bá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước đến quần chúng nhân dân Báo chí là một công cụ để thực hiện công tác này
Trong Nghị quyết của Ban Bí thư trung ương năm 1961 đã nhấn mạnh về phương hướng hoạt động của báo Nhân Dân: “Trong năm nay, hàng ngày báo vẫn ra 4 trang, chủ nhật ra 6 trang Chúng ta cần cổ động cho nhiều người đọc để
tăng số phát hành báo lên độ 15% Báo Nhân dân nông thôn đầu năm 1961 sẽ
đình bản Ban công tác nông thôn của Đảng và Đảng đoàn Bộ Nông nghiệp sẽ nghiên cứu tập trung lực lượng cán bộ báo chí của hai bộ phận, cùng chung xuất
bản tờ báo Nông nghiệp để chỉ đạo sản xuất và hợp tác hóa nông nghiệp” [17, tr
142]
Tại Đại hội III Hội Báo chí, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra nhiệm vụ của báo chí cách mạng là phục vụ nhân dân phục vụ sự nghiệp cách mạng của đất nước Nhiệm vụ của chúng ta ở miền Bắc là phát triển kinh tế và văn hóa, nâng cao đời sống của nhân dân, củng cố quốc phòng, xây dựng chủ nghĩa xã hội Đối với miền Nam, chúng ta có nhiệm vụ ủng hộ đồng bào ruột thịt đang đoàn kết chặt chẽ, anh dũng đấu tranh chống bọn Mỹ xâm lược và bọn Diệm bán nước; đấu tranh giành cơm áo, tự do và hòa bình thống nhất Tổ quốc Trên thế giới, nhiệm
vụ của chúng ta là tăng cường đoàn kết trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa, ra sức ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh, đấu tranh cho hòa bình thế giới, cấm vũ khí nguyên tử và giải trừ quân bị
Đó là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân ta, cũng là nhiệm vụ của báo chí
Trang 33ta” [15, tr 11-12] Chúng ta cần nâng cao hơn nữa chất lượng của báo chí để nó làm tròn nhiệm vụ cao cả của mình
Về vấn đề đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, hòa bình lập lại đã được 8 năm mà nước nhà vẫn bị chia cắt Báo chí cần làm cho mọi người hiểu rõ phương châm đấu tranh lâu dài để thực hiện hòa bình thống nhất Tổ quốc của Đảng Cần đem những thắng lợi của cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam mà động viên miền Bắc thi đua thực hiện kế hoạch nhà nước và đem những thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc mà cổ vũ đồng bào miền Nam kiên quyết đấu tranh chống Mỹ - Diệm
Đế quốc Mỹ đang thi hành một kế hoạch rất thâm độc là thí nghiệm chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam nhằm tiêu diệt chiến tranh du kích cách mạng của nhân dân, tiêu diệt phong trào giải phóng dân tộc Đồng bào yêu nước ở miền Nam đang hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình là đoàn kết chiến đấu, quyết làm thất bại cuộc thí nghiệm đầy tội ác đó của kẻ địch Bởi vậy, báo chí cần giới thiệu về những thắng lợi của nhân dân ta ở miền Nam để cổ vũ các dân tộc bị
áp bức vùng dậy đấu tranh để tiêu diệt chủ nghĩa thực dân cũ và mới Các dân tộc
bị áp bức ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh đang hướng về miền Nam Việt Nam, theo dõi từng giờ từng phút cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam để tìm ở đấy những kinh nghiệm có ích cho cuộc đấu tranh giải phóng của mình Những người làm làm công tác tuyên truyền, báo chí của ta cần thấy rõ tính chất quan trọng của cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam để tìm mọi cách tuyên truyền, phổ biến những gương đấu tranh anh dũng của đồng bào miền Nam ra thế giới Như vậy, “không những chúng ta góp phần đẩy mạnh phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh, mà còn thiết thực vận động nhân dân thế giới đồng tình và ủng hộ tích cực cuộc đấu tranh
Trang 34yêu nước của đồng Bào miền Nam và cuộc đấu tranh của toàn dân Việt Nam chống Mỹ - Diệm, giành hòa bình thống nhất Tổ quốc” [15, tr 23-24]
Về công tác đối ngoại, cần nghiên cứu kỹ hai bản tuyên bố của những cuộc Hội nghị các Đảng Cộng sản và Công nhân ở Matxcơva năm 1957 và 1960, để chung sức với nhân dân thế giới đấu tranh giành những thắng lợi mới cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội Muốn thế phải ra sức tăng cường đoàn kết nhất trí trong phong trào cộng sản quốc tế và trong phe xã hội chủ nghĩa trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, lập mặt trận chống chủ nghĩa đế quốc gây chiến do đế quốc Mỹ cầm đầu, tích cực ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, phong trào đấu tranh vì dân chủ và hòa bình của nhân dân các nước trên thế giới [15, tr 24]
Báo chí tuyên truyền về cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam Việt Nam; góp phần vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, dân chủ, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên thế giới báo chí phải góp phần tăng cường sự đoàn kết quốc
tế giữa tất cả các nước trong phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô làm trung tâm, ủng
hộ những vấn đề của các nước xã hội chủ nghĩa và các nước anh em, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc của các nước, tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh bảo vệ hòa bình thế giới, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân, tập trung mũi nhọn chống chủ nghĩa đế quốc Mỹ
Ngày 20-7-1961, Ban Bí thư ra chỉ thị về việc mở đợt đấu tranh chính trị rộng lớn nhân dịp Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đang ra sức phá hoại Hiệp nghị Giơnevơ Trong khi đó, đại biểu Ấn Độ và Canađa trong Ủy ban quốc tế đã thông qua quyết nghị cho rằng Ủy ban quốc tế có thẩm quyền xét về cái gọi là
“hoạt động lật đổ” ở miền Nam Việt Nam, tạo điều kiện cho Mỹ và tay sai công khai đưa lực lượng quân sự vào miền nam chống lại công cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam, hoàn toàn trái ngược với nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban quốc
Trang 35tế Ban Bí thư quyết định mở một đợt đấu tranh chính trị rộng lớn nhằm: Một là,
tố cáo sâu sắc và có hệ thống mọi âm mưu và hành động của Mỹ - Diệm vi phạm trắng trợn Hiệp định Giơnevơ, tăng cường quân sự chuẩn bị chiến tranh, khủng bố tàn sát dã man đồng bào ta ở miền Nam, vạch mặt và cô lập chúng thêm một bước nữa trước dư luận trong nước và trên thế giới Hai là nêu cao phong trào đấu tranh yêu nước và chính nghĩa của đồng bào miền Nam, nêu cao thiện chí đấu tranh đòi thi hành nghiêm chỉnh hiệp định Giơnevơ, hòa bình thống nhất tổ quốc của chính phủ và nhân dân ta, tích cực tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của dư luận thế giới rộng rãi hơn nữa
Như vậy, trong bản chỉ thị của Ban bí thư về phát động đấu tranh chống mọi âm mưu đế quốc Mỹ định đưa quân vào miền Nam Việt Nam (11-5-1961) và Chỉ thị của Ban Bí thư về mở đợt đấu tranh chính trị rộng lớn nhân dịp 20-7-1961 Đảng luôn khẳng định vai trò của báo chí trong việc có những bài xã luận, bình luận vạch trần những âm mưu của Mỹ - Diệm và phản ánh kịp thời dư luận đấu tranh của quần chúng Báo Nhân Dân là cơ quan ngôn luận của Đảng Lao động Việt Nam nên luôn luôn kịp thời cập nhật, chấp hành và thực hiện chỉ thị của Đảng
Đảng nhấn mạnh: “Báo chí và đài phát thanh liên tục có xã luận, bình luận
và bài chuyên đề về những vấn đề theo nội dung và yêu cầu trên, đồng thời phản ánh kịp thời dư luận và đấu tranh của quần chúng trong nước cũng như dư luận đồng tình và ủng hộ của nhân dân các nước ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân ta” [17, tr 369]
Tiểu kết chương 1
Bước vào đầu những năm 60 của thế kỷ XX, sau những thất bại nặng nề trong chiến lược “Chiến tranh đơn phương”, đế quốc Mỹ tiếp tục thực hiện âm mưu can thiệp vào miền Nam Việt Nam với việc đưa vào áp dụng chiến lược mới
Trang 36là “Chiến tranh đặc biệt” Chiến lược này được tiến hành bằng lực lượng quân đội tay sai dưới sự chỉ huy của hệ thống cố vấn Mỹ, dựa vào vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện chiến tranh của Mỹ nhằm chống lại phong trào cách mạng ở miền Nam Việt Nam Mỹ coi “Chiến tranh đặc biệt” là cuộc thí nghiệm đầu tiên của cuộc Chiến tranh hạn chế với âm mưu chính là “dùng người Việt đánh người Việt”
Đế quốc Mỹ và tay sai đã sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để thi hành chiến lược này như: lập “ấp chiến lược”, “trực thăng vận”, “thiết xa vận” và tích cực tiến hành các cuộc càn quét, bình định
Nhằm chống lại những hành động xâm lược, phá hoại Hiệp định Giơnevơ một cách trắng trợn như vậy của đế quốc Mỹ và tay sai, bên cạnh công tác đấu tranh quân sự, Đảng luôn chú trọng công tác tuyên truyền, đấu tranh trên mặt trận
tư tưởng, ngoại giao Thực hiện chủ trương này, Đảng chỉ đạo sát sao đối với hệ thống các tờ báo như: Quân đội nhân dân, Đài tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Truyền hình Việt Nam và đặc biệt là cơ quan ngôn luận của mình – báo Nhân Dân tích cực truyền bá, cổ vũ, động viên toàn dân, toàn quân đấu tranh vì sự nghiệp thống nhất nước nhà Đồng thời qua đó, tranh thủ rộng rãi sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, lực lượng tiến bộ và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới
Trang 37Chương 2
BÁO NHÂN DÂN VỚI CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CHỐNG CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT” CỦA MỸ Ở MIỀN NAM (1961 – 1965)
2.1 Tố cáo âm mưu, thủ đoạn và tội ác chiến tranh của Mỹ ở miền Nam
2.1.1 Tố cáo âm mưu và thủ đoạn chiến tranh của Mỹ
Từ giữa năm 1961, đế quốc Mỹ đưa ra kế hoạch Xtalây-Taylo, “là sự tổng hợp những kinh nghiệm chống phá, đàn áp phong trào cách mạng và chiến tranh du kích của Anh ở Malaixia, của Pháp ở Việt Nam, của Ixraen ở Trung Đông, của Mỹ
ở Philippin” [37; tr173] Mục đích của kế hoạch này là nhằm nhanh chóng bình định miền Nam, cứu vãn sự suy sụp nghiêm trọng của chế độ Ngô Đình Diệm và đánh bại mọi lực lượng cách mạng, khắc phục những nhược điểm của ngụy quân
về số lượng, chỉ huy, trang bị và về tính cơ động, giành lại thế chủ động trên chiến trường
Báo Nhân Dân với tư cách là cơ quan ngôn luận của Đảng luôn kịp thời cập nhật tình hình cách mạng miền Nam Việc kế hoạch quân sự mới của Mỹ - Diệm được đưa vào thực thi cũng không phải ngoại lệ Trên các số báo mới ra, một loạt bài được đăng để tố cáo âm mưu mới của Mỹ Trong số báo ra ngày 18-7-1961, tác
giả Hùng Lý đã viết bài Chính sách Mỹ - Diệm ở miền Nam: Bước mới của âm
mưu cũ khẳng định: “Đầu tháng 5-1961, Phó tổng thống Mỹ L.Giônxơn đã đến Sài
Gòn và đã cùng Diệm ký một bản “thông cáo chung” mà thực chất là một bản hiệp ước liên minh quân sự Bản “thông cáo chung” đó đã thể hiện hết sức rõ ràng những “biện pháp cần thiết” của Kennơđi đối với miền Nam Việt Nam: gia tăng viện trợ quân sự và kinh tế, tăng thêm quân đội của Diệm, đảm nhiệm tất cả việc trang bị các lực lượng bảo an, sử dụng các chuyên viên quân sự ở những phạm vi
mà quân đội Diệm hoạt động Theo hướng đó, Mỹ giúp Diệm tăng thêm hai vạn quân, trực tiếp trả lương cho số quân đó, tăng thêm 1.000 nhân viên quân sự, nắm
Trang 38chặt lấy quân đội miền Nam (cứ khoảng 100 lính miền Nam thì có một cố vấn Mỹ),
và trực tiếp chỉ huy các cuộc càn quét khủng bố Đó là một đặc điểm của bước mới của sự can thiệp Mỹ ở miền Nam trong tình hình hiện nay” [4]
Theo Việt Nam thông tấn xã, báo Nhân Dân số ra ngày 6-8-1961 đăng tin
Mỹ trắng trợn đặt kế hoạch xâm lược và gây chiến ở miền Nam Việt Nam dẫn lời
của Oai-tơ, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Mỹ trong cuộc họp báo ở Oasinhtơn ngày 2-8 cho thấy: “Kennơđi đang căn cứ vào bản báo cáo mật của Xtalây, tên cầm đầu đoàn chuyên viên Mỹ sang nghiên cứu tại chỗ tình hình mọi mặt ở miền Nam Việt Nam, để đề ra các biện pháp nhằm “tăng mọi khả năng chiến đấu của quân đội miền Nam Việt Nam” Kế hoạch xâm lược và gây chiến của Xtalây đang được Kennơđi nghiên cứu một cách khẩn trương và kỹ càng” [4] Sau
đó, ngày 17-8-1961, báo Nhân Dân tiếp tục đăng tin Mỹ tiếp tục can thiệp sâu vào
miền Nam Việt Nam vạch rõ âm mưu của chúng: “Theo hãng thông tin Mỹ UPI, tờ
tuần báo Mỹ Tin hàng tuần, số ra ngày 14-8-1961, cho biết Bộ Quốc phòng Mỹ đã quyết định dùng loại “đạn tên lửa cực nhỏ” dài khoảng 2 phân rưỡi bọc trong bộc phá có thể nổ tung ra xa hàng mấy trăm thước và loại “hơi nổ” chôn ngầm dưới đất
có thể bùng nổ khi gặp bất kỳ một tia lửa nào vào việc đàn áp phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân miền Nam Việt Nam Việc bọn xâm lược Mỹ quyết định đưa các loại vũ khí nói trên vào miền Nam Việt Nam là một hành động câu kết trắng trợn giữa đế quốc Mỹ và tay sai Ngô Đình Diệm nhằm đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam ngày càng lên mạnh Cùng với đợt bắt lính lớn hiện nay, đây là một hành động can thiệp thô bạo hơn nữa của đế quốc Mỹ vào miền Nam Việt Nam và là một sự khiêu khích đối với nhân dân ta và dư luận yêu chuộng hòa bình ở Đông Nam Á và trên thế giới” [4]
Tháng 11-1961, kế hoạch Xtalây-Taylo được Hội đồng An ninh Mỹ thông qua và được chia làm ba bước nhưng thực tế kế hoạch đã bắt đầu thực hiện từ
Trang 39tháng 7-1961 và dự kiến hoàn thành bước 1 vào cuối năm 1962 Sau đó sẽ chuyển sang bước khôi phục và phát triển kinh tế ở miền Nam, hoàn thành chương trình bình định và phát triển xây dựng quân ngụy, tiến hành các hoạt động phá hoại miền Bắc Dự kiến hai bước này hoàn thành vào cuối năm 1965, lúc đó, miền Nam Việt Nam sẽ trở thành một quốc gia giàu mạnh của “thế giới tự do”
Nhằm thực hiện mục tiêu nói trên, Mỹ tập trung cố gắng tăng cường cao độ lực lượng quân đội tay sai cả về số lượng, trang bị và khả năng cơ động Chúng ráo riết tăng quân, bắt lính, thành lập các đơn vị vũ trang chủ lực và hàng nghìn đơn vị bán vũ trang ở cơ sở làm nhiệm vụ bình định nông thôn hòng chiếm lại các vùng giải phóng của ta Chúng tăng cường xây dựng bộ máy ngụy quyền, cảnh sát; tăng cường viện trợ, cố vấn và lực lượng yểm trợ Mỹ bằng các phương tiện hiện đại như trực thăng, xe cơ giới, xe thiết giáp “Nếu như năm 1960, lực lượng yểm trợ và cố vấn Mỹ mới chỉ có 1.077 người thì đến năm 1962, con số đó lên tới 10.640 người gồm hai bộ phận: cố vấn 2.360 người và 8.280 người thuộc lực lượng yểm trợ, đơn
vị kỹ thuật Cố vấn Mỹ không chỉ nắm lực lượng quân đội, lực lượng bảo an và lực lượng dân vệ mà con len vào tất cả các ngành, các cấp trong bộ máy chính quyền Sài Gòn” [37, tr 174-175] Ngoài số cố vấn và các đơn vị yểm trợ chiến đấu, Mỹ còn đưa vào miền Nam một khối lượng lớn vũ khí, thiết bị chiến tranh, tăng thêm viện trợ quân sự và viện trợ kinh tế cho quân đội và chính quyền Sài Gòn Từ năm
1961 trở đi, số viện trợ quân sự bắt đầu vượt viện trợ kinh tế, chứng tỏ trong việc thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, biện pháp quân sự được Mỹ - Diệm ưu tiên hàng đầu Báo Nhân Dân số ra ngày 17-1-1962 tố cáo Mỹ tiếp tục tăng cường
viện trợ vũ khí với tin Mỹ lại đưa thêm máy bay quân sự vào Miền Nam: “Theo các
nguồn tin nước ngoài từ Sài Gòn, hàng không mẫu hạm Mỹ “Bơ-ri-tân” chở máy bay phản lực chiến đấu, máy bay do thám và máy bay lên thẳng đã cập bến Sài Gòn ngày 15-1-1962 Ngay ngày 15-1, tàu “Bơ-ri-tân” đã đưa lên bờ 10 máy bay
do thám loại L.20 và hai máy bay lên thẳng Cũng theo các nguồn tin trên thì
Trang 40trong khoảng vài tuần nữa, Mỹ sẽ đưa vào miền Nam Việt Nam đại đội máy bay lên thẳng thứ ba sau hai địa đội thứ 8 và thứ 50 đã vào hồi tháng 12-1961 Hai đại đội máy bay lên thẳng trước gồm ngót 40 máy bay và gần 400 binh sĩ không quân” [4]
Với sự tăng viện của Mỹ về đôla, vũ khí, thiết bị chiến tranh và đội ngũ cố vấn, quân đội Sài Gòn nhanh chóng phát triển cả về số lượng và cách tổ chức, hệ thống chỉ đạo Để đông đảo các tầng lớp nhân dân cũng như bạn bè quốc tế biết được âm mưu xâm lược của Mỹ - Diệm, báo Nhân Dân vẫn liên tục đăng tin, bài
cập nhật tình hình miền Nam Việt Nam Trên số ra ngày 14-3-1961 có bài Phái
đoàn liên lạc ta tố cáo đế quốc Mỹ vào Miền Nam Việt Nam tố cáo: “Gần đây bọn
Mỹ - Diệm lại đưa trên năm vạn vũ khí các loại và gần 800 xe bọc sắt và xe quân
sự khác từ Mã Lai vào miền Nam đế quốc Mỹ đã tổ chức cuộc thao diễn không quân của các nước Mỹ, Anh, Pháp, Úc, Thái Lan trong khối đó và cả bọn Tưởng Giới Thạch tại Sài Gòn từ 7 đến 12-3-1961 nhân cái gọi là “ngày không quân” của miền Nam Việt Nam, một ngày kỷ niệm hoàn toàn giả tạo” [4] Số ra ngày 24-3-
1961 trong bài luận Ai hay Ken đế quốc Mỹ vẫn là trùm xâm lược gây chiến, tác giả
Hồng Chuyên khẳng định: “Lợi dụng thái độ thiếu kiên quyết và một số nghị quyết sai lầm của đa số trong Ủy ban quốc tế ở Việt Nam, đế quốc Mỹ đã trắng trợn đưa thêm nhiều vũ khí vào miền Nam Việt Nam Những căn cứ quân sự, sân bay, quân cảng, đường chiến lược ở miền Nam được bè lũ Mỹ - Diệm gấp rút xây dựng Bè
lũ Mỹ - Diệm còn nhập trái phép vũ khí từ Mã Lai nhằm tăng cường tàn sát khủng
bố nhân dân miền Nam” [4]
Cuối năm 1962, bị thất bại trong việc thực hiện kế hoạch “bình định” miền Nam trong 18 tháng, đế quốc Mỹ phải điều chỉnh kế hoạch, kéo dài thời hạn của
“Chiến tranh đặc biệt”, nhưng chủ yếu là cố giành thắng lợi trong năm 1965, trong
đó quyết định nhất là năm 1963 Chủ trương xuyên suốt của Mỹ và chính quyền