Biên Đông 1.4.2 Đặc điểm dân tộc Thái huyện Điện Biên Đông 29 1.4.3 Đặc điểm giáo dục học sinh dân tộc tại trường THCS Thị Trấn, THCS Na Son, THCS Luân Giói 30 Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ NG
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
SƠN LA, NĂM 2016
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Thanh Hoa
SƠN LA, NĂM 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn văn Tăng
Trang 4Xin cảm ơn sự ủng hộ động viên giúp đỡ của Ban giám hiệu, các phòng ban chức năng của trường Đại học Tây Bắc
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Bùi Thanh Hoa,
đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành luận văn này
Trong quá trình học tập và nghiên cứu, bản thân tác giả đã có nhiều cố gắng, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các thầy cô giáo, các bạn bè đồng nghiệp chỉ dẫn và góp ý
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!
Điện Biên Đông, tháng 11 năm 2016 Tác giả
Nguyễn Văn Tăng
Trang 5MỤC LỤC
Chương 1: CHÍNH TẢ TIẾNG VIỆT VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN
1.3.1.2 Đôi nét về ngữ âm tiếng Việt và chữ viết 11 1.3.1.3 Cách hiểu về lỗi chính tả trong tiếng Việt 25 1.3.2 Lỗi chính tả và việc dạy học trong tiếng Việt cấp THCS 27 1.3.2.1 Nhiệm vụ dạy học tiếng Việt cấp THCS 27 1.3.2.2 Nội dung dạy học tiếng Việt cấp THCS 28 1.4 Một số đặc điểm kinh tế - xã hội – giáo dục huyện Điện 28
Trang 6Biên Đông
1.4.2 Đặc điểm dân tộc Thái huyện Điện Biên Đông 29
1.4.3 Đặc điểm giáo dục học sinh dân tộc tại trường THCS Thị
Trấn, THCS Na Son, THCS Luân Giói
30
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN LỖI CHÍNH TẢ CỦA HỌC SINH DÂN TỘC THÁI HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
34
2.1
Thực trạng chung về lỗi chính tả của học sinh dân tộc Thái tại trường THCS Thị Trấn, THCS Na Son, THCS Luân Giói
34
2.2 Phân tích tình trạng lỗi theo nội dung chính tả 49 2.2.1 Quy tắc viết hoa trong tiếng Việt và lỗi viết hoa 49
2.2.1.2 Lỗi viết hoa của học sinh ở trường THCS Thị Trấn,
THCS Na Son, THCS Luân Giói
Trang 72.3.1.1 Nguyên nhân khách quan thứ nhất 58
Chương 3: ĐỀ XUẤT CÁCH CHỮA LỖI CHÍNH
TẢ TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH DÂN TỘC THÁI TẠI HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
72
3.1.1 Giúp học sinh có những hiểu biết đầy đủ về quy tắc
chính tả
72
3.1.1.1 Quy tắc chính tả do một âm có nhiều cách viết 72
3.1.1.4 Quy tắc viết tên riêng tiếng nước ngoài 73 3.1.2 Giúp học sinh được làm quen với cách phát âm đúng 74
3.1.3 Giải pháp liên quan đến quá trình/chương trình học tập
môn Ngữ văn trong nhà trường
75
3.1.4 Giải pháp xuất phát từ kết quả học tập tại trường THCS
Thị Trấn, THCS Na Son, THCS Luân Giói
75
3.1.5 Giải pháp chú ý đến đặc điểm tiếng mẹ đẻ khi khắc phục 78
Trang 8lỗi chính tả cho học sinh dân tộc Thái
3.1.6 Giải pháp tạo môi trường giao tiếp và sử dụng tiếng Việt
cho học sinh dân tộc
79
3.2.1 Khuyến khích học sinh có thói quen sử dụng từ điển 81
3.2.2 Giải pháp về công tác giảng dạy tiếng Việt cho học sinh
Thái
82
3.2.3 Giải pháp về luyện ngữ âm tiếng Việt cho học sinh Thái 83
3.2.4 Giải pháp về luyện viết chính tả tiếng Việt cho học sinh
Thái
84
3.3 Một số hình thức khắc phục lỗi chính tả cho học sinh dân
tộc Thái tại huyện Điện Biên Đông
Trang 9QUY ĐỊNH VIẾT TẮT
BCH Hội khuyến học Ban chấp hành Hội khuyến học
HĐND – UBND Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngôn ngữ là một nét đẹp trường tồn trong văn hóa của người Việt Nam,
là một trong những nhân tố hợp thành quan trọng, góp phần làm nên cái nền tảng về giá trị, bản sắc văn hóa của người Việt Nam Giữ gìn và viết đúng chính tả là giữ gìn và phát huy truyền thống tinh hoa văn hóa dân tộc và là trách nhiệm của mỗi người Việt Nam yêu nước, yêu quý tiếng mẹ đẻ của dân tộc Đặng Thai Mai trong văn bản “Sự giàu đẹp của tiếng Việt”, NXB văn học
Người Việt Nam ngày nay có lí do đầy đủ và vững chắc để tự hào với tiếng nói của mình Và để tin tưởng hơn nữa vào tương lai của nó Đặng Thai Mai đã khẳng định được vai trò, giá trị của tiếng Việt với những phẩm chất bền vững và giàu khả năng sáng tạo trong quá trình phát triển lâu dài trên nhiều phương diện: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp
Điện Biên là một tỉnh thuộc miền núi phía Bắc kinh tế còn gặp nhiều khó khăn do vậy người Thái vốn hiểu biết còn hạn chế, đặc biệt là nữ ít có điều kiện đi học và lấy chồng rất sớm Hiện nay Điện Biên được Đảng, Nhà nước quan tâm, đời sống bà con có phần được nâng cao hơn nhu cầu đi học được đến trường, đến lớp của các em người Thái ngày một tăng Tuy nhiên năng lực nhận thức của học sinh dân tộc Thái về tiếng Việt còn hạn chế, dẫn
Trang 11đến việc khi viết văn các em còn mắc lỗi chính tả
Trước tình hình thực tế trên, tôi thực hiện đề tài “Lỗi chính tả tiếng Việt của học sinh dân tộc Thái tại huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên”
nhằm đóng góp ít nhiều vào quá trình dạy và học tiếng Việt cho học sinh dân tộc Thái các trường có con em người Thái học
2 Lịch sử vấn đề
Vấn đề nghiên cứu tiếng Việt trong nhà trường nói chung và chính tả trong nhà trường nói riêng từ lâu đã thu hút được sự quan tâm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ Các công trình đã bàn về vấn đề này từ nhiều khía cạnh khác nhau Việc biên soạn sách giáo khoa cho phân môn tiếng Việt cũng được đặc biệt chú ý cải thiện và nâng cao chất lượng Hàng loạt sách tham khảo về tiếng Việt làm tài liệu giảng dạy cho giáo viên và tài liệu hướng dẫn cho học sinh đã được xuất bản
Trong quá trình học tập, chính tả có vai trò quan trọng không chỉ với cá nhân mà còn đối với cả cộng đồng xã hội Viết đúng chính tả, phát âm chuẩn chính tả và thực hành tốt kĩ năng tạo lập văn bản sẽ đem lại hiệu quả giao tiếp đồng thời thể hiện năng lực văn hóa của mỗi con người
Nhiều công trình điều tra, khảo sát về thực trạng sử dụng ngôn ngữ của
học sinh phổ thông cũng được trình bày Như Mấy gợi ý về việc phân tích và sửa lỗi ngữ pháp cho học sinh (Nguyễn Minh Thuyết, Ngôn ngữ, số 3.1974) Hay của Phan Ngọc Chữa lỗi chính tả cho học sinh Hà Nội (NXB Giáo dục,
Hà Nội năm 1984); Hồ Lê – Lê Trung Hoa Sửa lỗi ngữ pháp (NXB Giáo dục,
Hà Nội năm 1990) Những công trình này đã giúp cho giáo viên giảng dạy ở trường phổ thông có được những công cụ làm việc hữu ích
Trong thời gian gần đây, vẫn có nhiều tác giả tiếp tục đi sâu nghiên cứu một cách khá toàn diện về lỗi sử dụng ngôn ngữ của học sinh trong nhà
Trang 12trường và đã xuất bản các công trình của mình như: Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng, Lê Phương Nga, Lê A, Đặng Kim Nga, Đỗ Xuân Thảo, Phan Ngọc, Hoàng Phê, Lê Trung Hoa, Hoàng Ngọc Hiển
Tóm lại, các công trình tiêu biểu mà chúng tôi vừa liệt kê ở trên đã phản ánh được tầm quan trọng của dạy học chính tả cũng như thực trạng và giải pháp dạy học chính tả theo vùng phương ngữ và việc dạy học viết cho học sinh dân tộc Tuy nhiên, các công trình trên đa phần còn mang tính định hướng chung cho dạy học chính tả tiếng Việt chứ chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục cho địa bàn cụ thể
là huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên Chính vì vậy, tìm hiểu thực trạng lỗi chính tả của học sinh dân tộc Mông ở địa bàn này và đưa ra một số giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục là vấn đề cấp thiết đối với người làm công tác trong ngành giáo dục như chúng tôi
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các lỗi chính tả tiếng Việt của học sinh tại ba trường THCS trên địa bàn huyện Điện Biên Đông
Phạm vi khảo sát lỗi là các bài kiểm tra học kì môn Ngữ văn cũng như các bài nghe (đọc) – viết chính tả của học sinh từ khối lớp 6 đến khối lớp 9 tại các trường: THCS Thị Trấn; THCS Na Son và THCS Luân Giói
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn hướng tới việc xác định những đặc điểm lỗi chính tả của học sinh dân tộc Thái khi viết tiếng Việt Trên cơ sở mục đích này, luận văn giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa lí thuyết về chính tả tiếng Việt
- Khảo sát thực trạng lỗi chính tả của học sinh ba trường THCS trên địa bàn huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
Trang 13- Phân tích các nguyên nhân dẫn đến lỗi chính tả của học sinh dân tộc Thái
- Đề xuất các giải pháp và tiến hành thực nghiệm khắc phục lỗi chính tả của học sinh dân tộc Thái
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp thống kê
Tập hợp bài kiểm tra học kỳ I kết hợp với hoạt động nghe (đọc) - viết chính tả để khảo sát, phân tích, kết hợp với quan sát, phỏng vấn học sinh để thu thập thông tin về chính tả Trên cơ sở tài liệu thu thập được tiến hành lập bảng các lỗi chính tả
6 Những đóng góp của Luận văn
- Lần đầu tiên, lỗi chính tả của học sinh ba trường huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên được thu thập, khảo sát, phân tích, miêu tả
- Lần đầu tiên, nguyên nhân các lỗi này được chỉ ra
- Từ đó, đề xuất ra giải pháp khắc phục lỗi chính tả của học sinh giúp
Trang 14các em nói và viết tốt hơn, hướng tới chuẩn chính tả chung
7 Cấu trúc Luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn được triển khai
Trang 15Chương 1 CHÍNH TẢ TIẾNG VIỆT VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN VĂN
1 Vấn đề chính tả và chính tả tiếng Việt
Để làm cơ sở cho việc thực hiện nhiệm vụ của luận văn, ở đây chúng
tôi sẽ trình bày những thu nhận của mình về chính tả và chính tả tiếng Việt
1.1 Chính tả
Theo “Từ điển tiếng Việt” chính tả là “cách viết chữ được coi là chuẩn”
[Hoàng Phê, 1992, tr173] Như vậy, theo nghĩa gốc của từ này, chính tả là phép viết đúng, là cách viết hợp với chuẩn và những quy định mang tính quy ước xã hội, được mọi người trong một cộng đồng chấp nhận và tuân thủ Do
đó, chính tả trước hết là sự quy định có tính chất xã hội bắt buộc gần như tuyệt đối, nó không cho phép con người vận dụng quy tắc một cách linh hoạt
Trang 16gồm nhiều vấn đề nhưng cơ bản là những vấn đề: lấy ngữ âm của vùng phương ngữ nào làm chuẩn, xác lập hình thức ngữ âm thống nhất cho một số
hình vị và một số từ còn chưa có sự thống nhất (Ví dụ: nề nếp hay nền nếp, cách mạng hay cách mệnh, tướng lĩnh hay tướng lãnh )
Tiếng Việt là ngôn ngữ thống nhất toàn dân Tiếng Việt nói chung và ngữ âm tiếng Việt nói riêng, vào thời điểm nào cũng vậy, luôn luôn ở trong quá trình chưa thật ổn định nhìn từ góc độ chuẩn hóa
Chuẩn ngữ âm bao gồm chuẩn chính âm và chuẩn chính tả Nhiều ý kiến cho rằng phải có chuẩn chính âm trước rồi mới có chuẩn chính tả, đấy là nguyên lí Nhưng, với tiếng Việt, chuẩn chính âm là sự phát âm, còn chuẩn chính tả đã hình thành và tương đối ổn định trong một thời gian dài Để góp phần cho ngôn ngữ có chính âm, chuẩn chính tả giữ vai trò quan trọng
1.2.2 Chuẩn chính tả
“Chính tả được hiểu là quy tắc viết từ (từ thường, từ hoa, từ vay mượn, từ viết tắt, số từ, con số ngày, giờ, tháng, năm, v.v hay cách thức dùng dấu chấm câu (dấu: chấm, phẩy, than, hỏi, chấm hỏi, chấm lửng, hai chấm, ba chấm (chấm lửng); dấu ngoặc: đơn, kép, vuông; dấu gạch: ngang, dưới, chéo và cách thức ghi dấu thanh như thanh ngang, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng Chuẩn chính tả được hiểu là chuẩn áp dụng cho văn phong quy phạm, được dùng làm thước đo trong ngôn ngữ nhà trường, áp dụng chính thống trong ngôn ngữ truyền thống
và ngôn ngữ của các văn bản quản lí nhà nước” [17, tr.109]
"Chuẩn chính tả bao gồm chuẩn viết các âm (phụ âm, nguyên âm, bán âm) và các thanh; chuẩn viết tên riêng (viết hoa); chuẩn viết phiên âm từ và thuật ngữ vay mượn" [29, tr.125]
Như vậy, có thể hiểu chuẩn chính tả là cách viết đúng, hợp với chuẩn
và những quy tắc về cách viết chuyển từ dạng thức ngôn ngữ nói sang dạng
Trang 17thức ngôn ngữ viết Đó là những quy định mang tính xã hội cao, được mọi người trong cộng đồng chấp nhận và mọi người đều phải tuân theo Những cách viết chữ không đúng so với chuẩn được coi là sai chính tả
a) Quy tắc chữ cái ghi âm vị trong âm tiết
Đó là xác định cách viết đúng cho các âm vị trong âm tiết Trong tiếng
Việt về chữ i/y, có quy tắc như sau:
Khi đứng liền sau phụ âm đầu trong âm tiết mở, âm chính /i/ được viết
là i, trừ trường hợp đứng liền sau các phụ âm h, k, l, m, s, t hoặc trong các tên riêng có thể viết là i hay y tùy theo ý muốn chủ quan của người viết hay người được mang tên riêng đó (Ví dụ: Tiểu Yến Tử; Tống Mỹ Linh hay Tống Mĩ Linh; ) Năm 1980, để đảm bảo thống nhất chính tả trong sách giáo khoa, Bộ
Giáo dục đã phối hợp với Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam quy định các
trường hợp âm chính /i/ đứng liền sau phụ âm đều viết là i Tuy nhiên, quy
định này chỉ áp dụng đối với sách giáo khoa phổ thông Trong các loại văn bản khác (văn bản quy phạm pháp luật, sách báo, ) mỗi người viết một khác
Do thẩm mĩ, có người thích viết y vì cho rằng y đẹp hơn
Có nghiên cứu cho rằng: /i/ viết là i đối với các từ thuần Việt: ỉ lại, ầm ĩ ; viết y đối với các từ gốc Hán (y tế, hội ý, ) Tuy nhiên, các từ Hán Việt như hi hữu, trí tuệ, thống trị, thi vị, hùng vĩ âm /i/ thường chỉ viết là i
b) Quy tắc ghi dấu thanh
Trong tiếng Việt, các dấu huyền, sắc, hỏi, ngã, được đặt trên đầu chữ cái ghi âm chính, còn dấu nặng đặt dưới chữ cái ghi âm chính Căn cứ khoa
học của quy định này là sự gắn bó giữa thanh điệu với phần vần, đặc biệt là với âm chính Điều còn chưa thống nhất là vị trí của dấu thanh trong trường hợp âm chính là nguyên âm đôi, được ghi bằng hai chữ cái
Đối với các kí hiệu ia, ua, ưa tức là trường hợp nguyên âm đôi đứng
Trang 18trong các âm tiết không có âm cuối (âm tiết mở) thì đặt dấu thanh ở chữ cái
thứ nhất ghi âm chính Ví dụ: bìa, lúa, lửa, hứa, đùa,
Đối với các kí hiệu iê, uô, ươ, tức là trường hợp nguyên âm đôi đứng trong
những âm tiết có âm cuối (âm tiết khép hoặc nửa khép) thì đặt dấu thanh ở chữ cái
thứ hai ghi âm chính Ví dụ: liền, hiểu, chuyền, nhuộm, vườn,
c) Quy tắc viết tên riêng
* Quy tắc viết tên riêng Việt Nam:
Trước năm 60 của thế kỉ XX khá phức tạp Chữ cái đầu của họ và tên người được viết hoa, còn tên đệm (nếu có) không viết hoa Đối với họ kép hoặc tên kép thì bộ phận được nối với nhau bằng gạch nối và viết hoa chữ cái
đầu tiên của tiếng đầu tiên Ví dụ: An-đec-xen, Bà Huyện-Thanh quan,,
Chữ cái đầu của tên địa lí được viết hoa, nếu tên gồm hai tiếng trở lên
thì giữa các tiếng có gạch nối, ví dụ: Hà- bắc, Vũng- chùa
Từ những năm 60, người ta đã thống nhất viết hoa chữ cái đầu của mỗi
bộ phận tạo thành tên riêng, kể cả tên người lẫn tên địa lí, đồng thời bỏ gạch nối giữa các bộ phận ấy, trừ tên riêng là tiếng dân tộc thiểu số có các bộ phận
cấu tạo gồm nhiều âm tiết Ví dụ: Nguyễn Quang Sáng, Xinh-mun, Ê- đê,
* Quy tắc viết tên riêng nước ngoài: Trên sách báo và các văn bản nói
chung thường có 4 cách viết tên riêng nước ngoài:
(1) Dịch nghĩa sang tiếng Việt và viết hoa theo quy tắc viết hoa tên
riêng tiếng Việt Ví dụ: Biển Nha Trang, Hồ Gươm, Hội Chữ Thập Đỏ,
(2) Phiên âm qua âm Hán Việt Ví dụ: Đỗ Phủ, Thâm Tâm,
(3) Phiên âm trực tiếp, theo cách phát âm của nguyên ngữ Ví dụ: Vích-
to Hu-gô, Cô-lôm-bô, Pa-ri, Mát-xcơ-va,
(4) Giữ nguyên dạng nếu nguyên ngữ sử dụng chữ La tinh hoặc chuyển tự
nếu nguyên ngữ sử dụng hệ chữ khác Ví dụ: Victor Hugo, UNICEP, ASEAN,
Trang 191.2.3 Đặc điểm của chính tả tiếng Việt
a Chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ âm Nghĩa là mỗi âm vị được ghi
bằng một con chữ Nói cách khác, giữa cách đọc và cách viết về cơ bản thống nhất với nhau Đọc như thế nào sẽ viết như thế ấy Từ việc xác định chính xác
âm thanh của lời nói sẽ giúp viết đúng chính tả Cơ chế của cách viết đúng là xác lập được mối liên hệ giữa âm thanh và chữ viết Vì thế, khi viết chính tả tiếng Việt cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc ngữ âm học Tức là, cách viết của từ phải biểu hiện đúng
ngữ âm của từ: phát âm thế nào thì viết thế ấy Bởi vì tiếng Việt là chữ ghi âm
vị nên nguyên tắc này là nguyên tắc cơ bản nhất Nó thể hiện ở chỗ cách viết của mỗi từ thể hiện đúng âm cần đọc của từ Nguyên tắc ngữ âm học chi phối hầu hết cách viết các chữ trong bộ chữ tiếng Việt Chẳng hạn: /b/ ghi là b, /t/ ghi là t, /d/ ghi là d, /m/ ghi là m
Quan hệ giữa âm và chữ về cơ bản là quan hệ 1 - 1 Để viết đúng chính
tả, thì phải nắm được sự phân tích cấu trúc âm đoạn của âm tiết và thuộc bảng chữ cái theo trật tự của chúng Nên khi dạy học sinh người dân tộc về tiếng Việt, việc dạy phát âm đúng ngữ âm chuẩn tiếng Việt là rất quan trọng
Nguyên tắc truyền thống Có nghĩa là chính tả không thay đổi thói quen
từ lâu đời Trong chữ viết tiếng Việt có những cách viết chấp nhận quy định
từ xa xưa để lại như là cách viết các chữ c, k, q cho một âm đầu /k/ Âm đầu /k/ khi đứng trước các chữ ghi nguyên âm /i, iê, e/ trong âm tiết thì viết là chữ k; nhưng khi đứng trước các chữ ghi nguyên âm /a, ă, o/ vv thì lại viết bằng con chữ c Nguyên tắc truyền thống trong chính tả tiếng Việt khiến cho chữ viết không còn phản ánh ngữ âm đương đại một cách trung thực, tiết kiệm, gây nhiều rắc rối cho việc học chữ, nhất là đối với trẻ em
Trang 20b Chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ nghĩa Trong thực tế, muốn viết
đúng chính tả, việc nắm nghĩa của từ rất quan trọng Hiểu nghĩa của từ là một trong những cơ sở giúp người đọc viết đúng chính tả Ví dụ: giáo viên đọc một từ có hình thức ngữ âm là “sinh” thì học sinh có thể lúng túng trong việc
xác định hình thức của từ này Nhưng nếu đọc xinh đẹp hay sinh con thì học
sinh dễ dàng viết đúng chính tả Từ thực tế đó, chúng tôi nhận thấy chuẩn chính tả có những đặc điểm chính sau đây:
(1) Chuẩn chính tả là tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối, đòi hỏi
người viết bao giờ cũng phải viết đúng chính tả Trong chính tả không có sự phân biệt hợp lí – không hợp lí, hay – dở mà chỉ có sự phân biệt đúng – sai, không lỗi – có lỗi
(2) Do chuẩn chính tả có tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối cho nên
ít bị thay đổi như các chuẩn mực khác của ngôn ngữ (như chuẩn ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) Sự tồn tại nhất nhất hàng thế kỉ của nó đã tạo nên ấn tượng
về một cái gì “bất di bất dịch”, một tâm lí ổn định mang tính bảo thủ, cố hữu
(3) Ngữ âm phát triển, nhưng chính tả không thể giữ mãi tính chất cố hữu của mình Do vậy, nếu không có quy định mang tính chất pháp lệnh kịp
thời chính tả dần dần cũng có một sự biến động nhất định, điều đó được thể
hiện ở chỗ, bên cạnh chuẩn mực chính tả hiện có lại có thể xuất hiện một cách viết mới tồn tại song song với nó, ví dụ “xinh đẹp” bên cạnh “sinh đẹp”,… Với một tình trạng có nhiều cách viết như vậy đòi hỏi chữ viết của một ngôn ngữ phải tiến hành chuẩn hóa
1.3 Lỗi chính tả
1.3.1 Khái niệm lỗi và lỗi chính tả
1.3.1.1 Khái niệm lỗi
Trang 21Do tính chất là luận văn Thạc sĩ, chúng tôi chỉ đưa ra khái niệm “lỗi”
để làm việc Theo đó, chúng tôi sử dụng quan niệm chung về lỗi mà nhiều
“Từ điển ngôn ngữ học ứng dụng và dạy tiếng” đều sử dụng, cụ thể là:
Lỗi mà người học (trong khi nói hoặc viết một ngôn ngữ, có thể là tiếng
mẹ đẻ, ngôn ngữ thứ hai hay một ngoại ngữ) là tình trạng người học sử dụng một đơn vị ngôn ngữ (chẳng hạn viết một từ, cùng một đơn vị ngữ pháp, thực hiện một hoạt động nói năng v.v ) theo cách mà người bản ngữ hoặc người giỏi thứ tiếng đó cho là sai hoặc cho là chưa đầy đủ với chuẩn đã được cộng đồng nói thứ tiếng đó chấp nhận và tôn trọng
1.3.1.2 Đôi nét về ngữ âm tiếng Việt và chữ viết
a) Đặc điểm ngữ âm của tiếng Việt
Trong tiếng Việt, một âm tiết bao giờ cũng được phát ra với một thanh điệu, và tách rời với âm tiết khác Vì vậy, việc nhận ra âm tiết trong tiếng Việt
là dễ dàng hơn nhiều so với các ngôn ngữ Ấn Âu Trên chữ viết, mỗi âm tiết tiếng Việt được ghi thành một “chữ” Âm tiết tiếng Việt có đặc điểm như sau:
Âm tiết tiếng Việt có cấu trúc chặt chẽ rõ ràng Mỗi âm tiết ở dạng tối
đa thường gồm ba phần: phụ âm đầu, vần và thanh điệu Phần vần tối đa lại bao gồm ba âm: âm đệm, âm chính và âm cuối Còn tối thiểu, âm tiết tiếng Việt phải có âm đầu, âm chính và thanh điệu Âm chính luôn luôn phải là một nguyên âm Cấu tạo của âm tiết chia thành hai bậc như sau:
Trang 22ÂM TIẾT
I Âm đầu Vần Thanh điệu
II Âm đệm Âm chính Âm cuối
- Mỗi âm tiết luôn mang một thanh điệu nhất định (có sáu thanh điệu)
Về mặt nghĩa, âm tiết tương ứng với một hình vị, có thể dùng độc lập như một
từ đơn, hoặc được dùng như một thành tố cấu tạo nên từ (hình vị) Trên chữ viết, cách xác định kí hiệu ghi âm tiết như sau:
dưới con chữ thứ hai, ví dụ: liền, xuyến, chuyền Âm tiết gồm các âm vị sau:
(1) Âm vị âm đầu (phụ âm)
Trang 23Trong âm tiết tiếng Việt, âm đầu là âm đứng ở vị trí thứ nhất của âm
tiết Âm đầu được xác định trong các âm tiết sau: hỷ, minh, nhà, bàn, ghế
* Số lượng và phân loại âm vị âm đầu: Phần lớn các nhà nghiên cứu có
quan điểm giống nhau về số lượng âm vị âm đầu là 22 âm vị Có quan điểm
cho rằng âm đầu gồm 23 âm khi thêm phụ âm /p/
Trường hợp phụ âm /p/, có tác giả cho rằng, âm vị này chỉ xuất hiện trong các âm tiết là từ phiên âm (đèn pin) nên không thừa nhận là phụ âm đầu tiếng Việt Tuy nhiên, có thể thấy sự xuất hiện của /p/ trong các từ địa danh, tên riêng (Pắc Bó, Pu Xi, ) Vì vậy /p/ cũng được coi là phụ âm đầu của tiếng
Việt Toàn bộ số lượng âm vị phụ âm đầu được trình bày trong bảng sau:
Thanh hầu Bẹt quặt
Tắc Ồn
Không bật hơi
Thứ nhất, dựa vào phương thức phát âm
Thứ hai, dựa vào bộ phận cấu âm
Trang 24Thứ ba, dựa vào thanh tính, tức là độ rung động của dây thanh
* Chữ viết của âm vị âm đầu (phụ âm)
Các âm vị phụ âm đầu trong tiếng Việt có hình thức chữ viết như sau:
Số TT Âm vị
Trang 2517 /k/ k, c, q kể, cá, cờ, quyển, quanh,
18 /ŋ/ ng, ngh nghĩ, nghe, nghề, nghiệp,
20 /γ/ g, gh ghi, ghế, gà, gỗ,
Trong 22 phụ âm đầu, những âm vị có nhiều hình thức chữ viết là những trường hợp đáng chú ý:
- Âm vị âm đầu được ghi bằng hai chữ cái là 9 /f, t`,ʈ , z, c, ɲ, ŋ, χ, γ /
- 3 âm vị / k, ŋ, γ/ có hai hình thức chữ viết, nhưng không được sử dụng một cách tự do, mà phải sử dụng theo quy tắc ngữ âm Âm vị âm đầu /k/ có lúc viết là “k”, có lúc viết là “c”, lúc khác lại viết là “q” Hoặc như âm vị /γ/ tùy từng trường hợp có thể ghi bằng hai cách là “g”, “gh” Hoặc như âm vị /ŋ/
có lúc ghi “ng”, có lúc ghi “ngh” Quy tắc kết hợp như sau:
q (quả, quê, ) khi đứng trước bán âm /-w-/
/γ/ gh (ghế, ghi ) Khi kết hợp với nguyên âm hàng trước / i, e,
Trang 26- Âm vị /z/ có ba hình thức chữ viết (d, gi, g), nhưng không có một căn
cứ ngữ âm nào cho sự khác biệt này về chữ viết
* Khả năng kết hợp của âm vị âm đầu: Kết hợp với tất cả các nguyên
âm và âm đầu vần Tuy nhiên, có một số trường hợp cần lưu ý như sau:
Nhóm phụ âm môi /p, b, m, f, v/ không kết hợp với âm đầu vần (trường hợp thùng phuy, khăn voan là hãn hữu) Nhóm phụ âm đầu lưỡi /t`, t, d, n, ʈ,
s, z, l, ş, ʐ/ có thể kết hợp với tất cả nguyên âm và âm đầu vần (riêng phụ âm
/n/ và /ʐ/ kết hợp hạn chế với âm đầu vần (trường hợp noãn bào, ruy băng là hãn hữu) Nhóm phụ âm mặt lưỡi /c/ và /ɲ/ kết hợp được với tất cả các
nguyên âm và âm đầu vần Nhóm phụ âm cuối lưỡi /k, ŋ, χ, γ/ có thể kết hợp
với tất cả nguyên âm và âm đầu vần, trừ phụ âm /γ/ kết hợp hạn chế với âm
đầu vần (chỉ có một trường hợp: góa) Nhóm phụ âm thanh hầu /q/, và /h/:
Kết hợp được với các nguyên âm và âm đầu vần
(2) Âm đầu vần (âm đệm)
Trong cấu tạo âm tiết tiếng Việt, âm đệm đứng ở vị trí thứ hai của âm tiết, vị trí thứ nhất của phần vần Âm đệm còn gọi là âm nối, tiền chính âm
Trang 27Không giống như phụ âm đầu, âm đệm có thể khuyết (zêrô)
* Số lượng âm đầu vần: Trong tiếng Việt chỉ có một bán âm /-w-/ làm
âm đệm Âm vị này có đặc điểm gần giống nguyên âm /u/ (nguyên âm hàng sau, tròn môi, có độ há hẹp) nhưng phát âm rất lướt
* Chữ viết của âm vị âm đầu vần: Âm đệm /-w-/ có hai hình thức thể hiện trên chữ viết là o và u
Viết o khi đứng trước các nguyên âm có độ há rộng và hơi rộng /ε, a, ă/ (loan, ngoằn nghoèo, oách, choắt ) Viết u khi đứng trước nguyên âm có độ
há hẹp và hơi hẹp /i, ε, ie/ và sau phụ âm /q/ (huệ, huy, quang, huyền )
* Khả năng kết hợp của âm đầu vần:
Âm đệm /-w-/ không xuất hiện sau phụ âm môi /p, b, m, f, v/ và trước nguyên âm tròn môi /u, o, ɔ, uo/ (ngoại lệ: thùng phuy, khăn voan, xe buýt);
xuất hiện hạn chế sau các phụ âm /n, ʐ/ (noãn bào, ruy băng)
(3) Âm chính (nguyên âm)
Âm chính đứng ở vị trí thứ ba trong âm tiết, vị trí thứ hai trong phần vần
* Số lượng và phân loại âm vị âm chính
Âm vị đảm nhiệm vị trí này là các nguyên âm đơn và nguyên âm đôi,
bao gồm 13 nguyên âm đơn và 3 nguyên âm đôi Cụ thể như sau: Nguyên âm
đơn: /i, e, ε, ɤ, ɤˇ, a, ɯ, ă, u, o, ɔ, ɔˇ, εˇ/ Nguyên âm đôi: /ie, ɯɤ, uo /
13 nguyên âm đơn
9 nguyên âm dài
i ɯ u
e ɤ o
ε a ɔ
4 nguyên âm ngắn ɤˇ
Trang 28εˇ ă ɔˇ
3 nguyên âm đôi ie ɯɤ uo
Âm chính là âm hạt nhân của âm tiết, âm mang “đường nét” cơ bản của thanh điệu Âm chính có mặt trong tất cả các loại âm tiết, từ âm tiết gồm một yếu tố đến âm tiết gồm bốn yếu tố đoạn tính Toàn bộ số lượng âm chính hệ thống nguyên âm tiếng Việt được trình bày trong bảng sau:
Âm sắc
Vị trí của lưỡi, hình dáng môi
Độ mở của miệng
Trước, không tròn môi
Sau
Không tròn môi
- Trường độ của nguyên âm.
* Sự thể hiện của âm vị âm chính bằng chữ viết
Các âm vị nguyên âm làm âm chính trong tiếng Việt có các hình thức
Trang 29thể hiện trên chữ viết như sau:
Những trường hợp mỗi âm vị có một hình thức chữ viết dễ nhận biết,
dễ nhớ Những trường hợp âm vị có hai hay nhiều hơn hai hình thức chữ viết cần lưu ý để tránh nhầm lẫn:
Trang 30- Khi không có âm đệm như: lía, kia, chia, tim, tin …
- Trường hợp viết i/y đều đúng trong trường hợp có âm tiết
mở, khuyến khích học sinh viết i: châu Mĩ/ châu Mỹ, địa lí/ địa lý, bác sĩ/ bác sỹ,…)
+ Căn cứ vào nghĩa: tai + Trường hợp âm tiết có độ cao bằng nhau: ỉ eo, ầm ĩ
y
- Trường hợp âm tiết có một nguyên âm (y trong y tế)
- Âm tiết có âm đệm (đứng sau âm đệm) như: tuy, thúy,…
- Đứng sau nguyên âm ngắn /a/ như (ây)
- Đứng trước ê khi chữ đó không có âm đầu như: yêu, yết, yếm
- Căn cứ vào nghĩa: tay
/ă/ ă Trong các âm tiết ăn, chăn
a Các âm tiết có vần ay và au như tay, hay, cau, cháu
/ie/
iê Khi âm tiết chỉ có phụ âm đầu, âm chính, âm cuối (tiền, tiêu )
ia Khi âm tiết không có âm cuối (chia, bịa, phía )
yê Khi có âm đệm và âm cuối (tuyến, khuyên ) hoặc khi mở đầu
âm tiết (yến, yên )
ya Khi âm tiết có âm đệm, không có âm cuối (khuya)
/ɯɤ/
ươ Khi âm tiết có âm cuối (mượn, tươi, nước, lượng, )
ưa Khi âm tiết không có âm cuối (mưa, tựa )
/uo/ ua Khi âm tiết không có âm cuối (mua, búa )
Trang 31uô Khi âm tiết có âm cuối (tuổi, muộn, suối )
* Khả năng kết hợp của âm vị âm chính
- Khả năng kết hợp của nguyên âm với phụ âm cũng có tính quy luật: Các âm vị nguyên âm tiếng Việt đều có khả năng kết hợp với tất cả các
âm vị phụ âm đầu, trừ nguyên âm đôi /uo/ không kết hợp với phụ âm /p/, /f/
và nguyên âm đôi /ie/ không kết hợp với phụ âm đầu /γ/
- Khả năng kết hợp của nguyên âm với âm đầu vần hạn chế hơn Các
nguyên âm tròn môi /u, o,ɔ,uo/ và các nguyên âm /ɔˇ, ɯɤ/ không kết hợp với
âm đầu vần Các nguyên âm còn lại đều có khả năng kết hợp với âm đầu vần
(trường hợp âm tiết có phụ âm đầu và âm đầu vần, ví dụ: hoa, huyền, uy, )
(4) Âm vị âm cuối
Âm vị âm cuối đứng ở vị trí cuối vần và cũng là vị trí cuối âm tiết Đó
là âm kết thúc âm tiết Âm đảm nhiệm vị trí này là bán nguyên âm cuối hoặc phụ âm cuối Vị trí của âm vị âm cuối có thể khuyết
* Số lượng âm vị âm cuối
Âm vị âm cuối có 8 phụ âm (bốn phụ âm tắc vô thanh và bốn phụ âm
mũi- hữu thanh), hai bán nguyên âm /-w/ và /-j/ Bán nguyên âm cuối /-w/ có cấu âm gần giống nguyên âm /u/ và bán nguyên âm cuối /-j/ có cấu âm gần giống nguyên âm /i/ (là nguyên âm hàng trước, không tròn môi và độ mở hẹp)
Các âm vị âm cuối tiếng Việt được trình bày trong bảng dưới đây:
Trang 32(vô thanh) vang
* Sự thể hiện trên chữ viết của âm vị âm cuối
Tám âm vị phụ âm cuối chỉ có một hình thức thể hiện trên chữ viết Hai
âm vị bán âm cuối đều có hai hình thức thể hiện trên chữ viết Cụ thể:
o Sau nguyên âm rộng và hơi rộng
u Sau nguyên âm hẹp, hơi hẹp, ngắn
i Sau các nguyên âm không ngắn
y Sau các nguyên âm ngắn
* Khả năng kết hợp của âm vị âm cuối
Trang 33Trong tiếng Việt, trên chữ viết, phần lớn các nguyên âm có thể kết hợp
với phụ âm cuối ng và c; chỉ một số ít nguyên âm kết hợp với phụ âm cuối nh
và ch Nhưng nếu các nguyên âm có kết hợp với phụ âm cuối ng và c thì không kết hợp với phụ âm cuối nh và ch; ngược lại, nếu các nguyên âm có sự kết hợp với âm cuối nh và ch thì không kết hợp với phụ âm cuối ng và c, trừ nguyên âm /ε/ Cụ thể các nguyên âm kết hợp với phụ âm cuối ng và c:
(nguyên âm hàng sau, (nguyên âm hàng sau, (nguyên âm hàng trước không tròn môi) tròn môi) không tròn môi)
- Các nguyên âm kết hợp với phụ âm cuối nh và ch: inh ich; ênh êch; anh ach
(5) Âm vị thanh điệu
Thanh điệu là một loại âm vị siêu đoạn tính, có tác dụng làm thay đổi ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ Thanh điệu được thể hiện cùng với toàn bộ
âm tiết, hay đúng hơn là toàn bộ phần thanh tính của âm tiết Âm tiết tiếng Việt được cấu tạo đồng thời bởi hai âm vị âm đoạn và đơn vị siêu âm đoạn Trong âm tiết, hai đơn vị không bao giờ vắng mặt là âm chính và thanh điệu
thanh điệu
* Số lượng và phân loại âm vị thanh điệu
Tiếng Việt có 6 thanh: thanh ngang (thanh không dấu), thanh huyền, thanh hỏi, thanh ngã, thanh sắc, thanh nặng Có thể có 4 cách phân loại thanh điệu: xét về cao độ, xét về đường nét âm điệu, xét về sự biến thiên của thanh
Trang 34điệu và xét về động tác nghẽn thanh hầu Tuy nhiên, đối với việc phân biệt ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ, ta chỉ cần ghi nhớ hai tiêu chí đầu Đó là:
- Tiêu chí cao độ: Thanh điệu tiếng Việt đối lập nhau ở hai cao độ cơ bản: cao độ cao và cao độ thấp Đó là sự đối lập về âm vực
- Tiêu chí âm điệu: Trên mỗi âm vực, các thanh điệu còn khác nhau về quá trình diễn biến của cao độ theo thời gian Đó là sự khác nhau về đường nét âm điệu Về mặt đường nét, thanh điệu tiếng Việt có thể chia ra làm hai loại lớn là thanh điệu đi ngang, bằng phẳng và thanh điệu không bằng phẳng
* Khả năng kết hợp của âm vị thanh điệu
- Thanh ngang: xuất hiện trong tất cả các âm tiết, trừ âm tiết khép Ví
dụ: cây cam, mưa xuân Nhưng không thể có các âm tiết như: lach, bat, oc,
Trang 35- Thanh huyền: có thể xuất hiện trong các âm tiết không phải là âm tiết
khép, ví dụ: là, sàn, hằng, làm
- Thanh ngã: không thể xuất hiện trong các âm tiết khép Ví dụ: xã, vững vàng, sững sờ
- Thanh hỏi: xuất hiện trong tất cả các âm tiết không phải là âm tiết
khép Ví dụ: vả lại, hỏi han, cảm cúm, cảng biển, lủng củng
- Thanh sắc: có thể xuất hiện trong tất cả các kiểu âm tiết Ví dụ: nhất quyết,cố gắng, chính thức, phấn đấu, kế sách
- Thanh nặng: xuất hiện ở tất cả các kiểu âm tiết Ví dụ: đụng
độ, chợ xuân, lợi lộc, lạm dụng, trục trặc, quen thuộc
b) Đặc điểm chữ viết tiếng Việt
Chữ Quốc ngữ được xây dựng trên hệ thống chữ cái La tinh, là chữ ghi
âm, xây dựng theo nguyên tắc ngữ âm học, tức là nói sao viết vậy Chữ Quốc ngữ có ưu điểm và hạn chế sau:
* Về ưu điểm
- Chữ Quốc ngữ là loại chữ tiến bộ nhất trong quá trình sáng tạo chữ viết của nhân loại Chữ Quốc ngữ được xây dựng trên cơ sở bảng chữ cái La tinh được phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới
- Chữ Quốc ngữ sử dụng rất ít kí hiệu nhưng có thể ghi lại tất cả mọi điều chúng ta cần biểu đạt Chữ Quốc ngữ được xây dựng theo nguyên tắc âm
vị học, về căn bản là có sự tương ứng 1-1 giữa âm và chữ viết Mỗi âm do một kí hiệu biểu thị, mỗi kí hiệu luôn luôn có một giá trị, tức biểu thị một âm duy nhất ở mọi vị trí trong từ Cách viết thành âm tiết rời, làm cho sự kết hợp giữa các chữ cái đơn giản, thuận lợi
* Về hạn chế
- Chữ Quốc ngữ không phải do người Việt làm ra mà do tập thể các nhà
Trang 36truyền giáo người châu Âu sáng tạo ra cho nên nó mang theo những hạn chế của chữ viết trong những ngôn ngữ làm tiền đề cho nó do sự biến đổi lịch sử
+ Âm vị /k/ ở vị trí âm đầu được ghi bằng ba con chữ: “k” khi đứng trước các nguyên âm dòng trước không tròn môi /i, e, ie, ε/, “q” khi đứng trước âm đệm, còn lại viết là “c” Âm vị /ŋ-/ được ghi bằng hai tổ hợp con chữ: “ngh” khi đứng trước các nguyên âm dòng trước không tròn môi /i, e,ie, ε/, còn lại viết
“ng” Âm vị /γ/ cũng tương tự như /ŋ-/ ta có “gh” và “g”
Hiện nay, trường hợp âm vị đầu /z/ viết thành 3 con chữ trong đó có tổ hợp con chữ “gi” như trong các từ gia đình, gian nan, giàu có, Nhưng nếu nguyên âm đi sau nó là /i/ thì người ta lại bỏ bớt một con chữ “i” nhưng vẫn phải đọc là “gi”,
Những hạn chế của chữ Quốc ngữ có tính lịch sử này mà người sáng tạo ra chữ Quốc ngữ cố gắng ghi âm càng trung thực bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu Kết quả là họ dùng một số con chữ để ghi cả những biến thể của âm vị
Chẳng hạn: Âm đệm /-w-/ được viết là “o” khi đứng trước các nguyên âm rộng và hơi rộng /a, ă, ε/, còn lại viêt “u” Trừ một ngoại lệ là âm đầu là con chữ “q” thì tất cả đều viết “u”
Vì chữ Quốc ngữ được xây dựng trên nguyên tắc ngữ âm học, nói sao viết vậy nên luôn bị ảnh hưởng bởi cách phát âm vùng miền
1.3.1.3 Cách hiểu về lỗi chính tả trong tiếng Việt
Trong cuốn Chữa lỗi chính tả cho học sinh Hà Nội, (Phan Ngọc, 1984,
NXB Giáo dục) thì lỗi chính tả là lỗi viết sai chuẩn chính tả Lỗi chính tả bao gồm những vấn đề sau đây:
a Lỗi viết hoa: Lỗi viết hoa là một trong những lỗi chính tả xuất hiện rất nhiều trong bài viết của học sinh Lỗi viết hoa bao gồm hai kiểu lỗi nhỏ:
Trang 37Viết hoa sai quy định chính tả: Là viết hoa hay không viết hoa theo
đúng quy định chính tả: Mở đầu bài viết, đoạn văn, không viết hoa sau dấu chấm (.), dấu chấm lửng hết câu (…)… Ví dụ: Lão hạc, cách mạng tháng
10… Đúng chính tả, học sinh phải viết: lão Hạc, Cách mạng tháng Mười,…
Viết hoa tùy tiện: Là viết hoa những đơn vị từ vựng bình thường, không
nằm trong quy định chính tả về viết hoa Ví dụ: quá trình Giác ngộ lý tưởng
Cách mạng của nhà thơ, Chế độ Phong kiến tàn ác, giai cấp Vô sản, …
b Lỗi viết tắt: Lỗi viết tắt xuất hiện trong bài viết của học sinh thấp hơn nhiều so với lỗi viết hoa Thông thường, lỗi viết tắt bao gồm hai kiểu:
Viết tắt sai quy định chính tả: Là viết tắt không theo đúng quy định
chính tả về viết tắt Ví dụ: đ/c, T.N.V.N v.v… Theo quy định chính tả, phải viết: ĐC, TP, TNVN (đồng chí, thanh niên Việt Nam)
Viết tắt tùy tiện: Là dùng các ký hiệu viết tắt mang tính chất cá nhân
vào bài viết chính thức Ví dụ: (ta (người ta), phg pháp (phương pháp), tình thg (tình thương), xlc (xâm lược) v.v… Hiện tượng viết tắt tùy tiện rất dễ
khắc phục, nếu như học sinh có ý thức tránh loại lỗi chính tả này
c Lỗi dùng số và chữ biểu thị số: Kiểu lỗi chính tả này có hai biểu hiện chính: lẫn lộn giữa hai loại số và lẫn lộn giữa số với chữ biểu thị số
Lẫn lộn hai loại số: Trường hợp phải biểu đạt bằng số khi đề cập đến
ngày, tháng, năm, thế kỉ… Theo quy định chính tả, tùy trường hợp mà dùng
số Ả Rập, còn gọi là số thường (1,2,3…), La Mã (I, II, III…) Do không nắm đúng quy định chính tả, nên học sinh thường sử dụng lẫn lộn hai loại số Ví
dụ: thế kỉ 10, theo quy định chính tả phải viết bằng số La Mã: thế kỷ X
Lẫn lộn số và chữ biểu thị số: Theo quy định chính tả, trường hợp phải
viết bằng chữ, khi biểu thị số chỉ số lượng, thứ tự, Do không nắm rõ quy định chính tả và do thói quen, học sinh dễ lẫn lộn giữa số và chữ biểu thị số
Trang 38Ví dụ: Ngày 8, tháng hai; 1 cuộc sống; cuộc gặp gỡ thứ I,… Theo quy định
chính tả, phải viết: Ngày 8, tháng 2; một cuộc sống; cuộc gặp gỡ thứ nhất,…
d Lỗi chính tả âm vị: Là hiện tượng vi phạm diện mạo ngữ âm của từ
thể hiện trên chữ viết Nó là hiện tượng chữ viết ghi sai từ Dựa vào cấu trúc
của âm tiết tiếng Việt, có thể chia lỗi chính tả âm vị thành hai kiểu nhỏ sau:
Lỗi chính tả âm vị siêu đoạn tính: Là loại âm vị không được định vị
trên tuyến thời gian khi phát âm, mà được thể hiện lồng vào các âm vị đoạn tính Ví dụ: Lảng mạng, nỗi bật, (khác) hẵn, vội vả, chán nãn, diển đạt,
Lỗi chính tả âm vị đoạn tính: Là các âm vị được phân bố nối tiếp nhau
trên tuyến thời gian khi phát âm Trong âm tiết tiếng Việt, âm vị đoạn tính gồm có phụ âm đầu, âm đệm, âm chính và âm cuối/bán âm cuối Lỗi chính tả
âm vị đoạn tính là hiện tượng chữ viết ghi sai các âm vị Cụ thể là:
+ Ghi sai phụ âm đầu: Hiện tượng ghi sai phụ âm đầu trong bài viết
của học sinh thường thể hiện ở sự lẫn lộn các chữ cái hay các tổ hợp chữ cái ghi phụ âm đầu Ví dụ: l/đ: long lanh/đong đanh, đung đưa/lung lưa,
+ Ghi sai âm đệm: Trong âm tiết tiếng Việt, âm đệm /-u-/ phân bố sau
phụ âm đầu, được ghi bằng hai chữ cái u và o, tùy trường hợp Trong bài viết của học sinh, hiện tượng ghi sai âm đệm thường có biểu hiện thiếu chữ cái ghi
âm đệm Ví dụ: đấy/đáy, sân trường/sơn trường,
+ Ghi sai âm chính: Lẫn lộn giữa các chữ cái ghi nguyên âm đơn:
/â/ơ/a/: xâm lược/xơm được, Lẫn lộn giữa các chữ cái ghi nguyên âm đơn với các chữ cái ghi nguyên âm đôi, nhất là giữa: iu/êu/ iêu: nâng niu/nâng niêu, tiềm ẩn/tìm ẩn; giữa o/oo - ô/ôô: không thấy khôông tháy,
- Ghi sai phụ âm cuối /bán nguyên âm cuối: Hiện tượng ghi sai âm cuối
trong bài viết của học sinh thường có hai biểu hiện chính:
+ Thứ nhất, các từ kết thúc bằng các phụ âm: /p, t, c, k, i, y/ Ví dụ: tuổi
Trang 39tác/tuổi tát, thân thuộc/thân thuận, mặt chị đỏ lên/mặc chị đỏ đên,
+ Thứ hai, các từ kết thúc bằng các phụ âm: /m, n, ŋ, nh/ Ví dụ: quãng đời/quãnh đời/quáng đời, ghẻ lạnh/ghẻ lạng, Xuân Quỳnh/Xuân Quyền,
Giữa bốn kiểu lỗi chính tả âm vị đoạn tính, trong bài viết của học sinh, hiện tượng ghi sai phụ âm đầu và thanh điệu xuất hiện nhiều hơn Kế đến là ghi sai phần vần Lỗi viết hoa xuất hiện ít nhất
1.3.2 Lỗi chính tả và việc dạy học trong tiếng Việt cấp THCS
1.3.2.1 Nhiệm vụ dạy học tiếng Việt cấp THCS
Trên cơ sở mục tiêu tổng quát của môn Ngữ văn THCS, mục tiêu và nhiệm vụ của dạy học tiếng Việt được sách giáo khoa Ngữ văn cấp THCS cụ thể hóa thành ba phương diện: kiến thức, kĩ năng, thái độ
Về kiến thức: Làm cho học sinh nắm được những đặc điểm, hình thức
và ngữ nghĩa của các loại đơn vị tiêu biểu của từng bộ phận cấu thành tiếng Việt (đơn vị cấu tạo từ, đơn vị từ vựng, từ loại chính, kiểu câu thường dùng); nắm được những tri thức về ngữ cảnh, về mục đích, nắm được các quy tắc sử dụng tiếng Việt để giao tiếp trong nhà trường cũng như ngoài xã hội
Về kĩ năng: Trọng tâm của việc rèn luyện kĩ năng Ngữ văn cho học sinh là làm cho học sinh có kĩ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt khá thành thạo theo các kiểu văn bản và có kĩ năng sơ giản về phân tích tác phẩm văn học, bước đầu có năng lực cảm nhận và bình giá văn học
Về thái độ: Chương trình yêu cầu một cách toàn diện: nâng cao ý thức giữ gìn sự giàu đẹp của tiếng Việt, xây dựng hứng thú và thái độ nghiêm túc, khoa học trong việc học tập tiếng Việt và văn học; có ý thức và biết cách ứng
xử, giao tiếp trong gia đình, nhà trường và ngoài xã hội
1.3.2.2 Nội dung dạy học tiếng Việt cấp THCS
Trang 40Theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cấu trúc nội dung dạy học Tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn cấp THCS được xây dựng theo
quan điểm tích hợp theo chiều dọc và chiều ngang [Chuẩn kiến thức, 2010]
Từ hệ thống nội dung dạy học tiếng Việt hiện hành, chúng ta thấy việc dạy học tiếng Việt ở Ngữ văn 6 tập trung dạy các kiểu câu để phục vụ việc tiếp nhận và tạo lập các văn bản tự sự, miêu tả Lên lớp 7, nội dung dạy học tiếng Việt chọn dạy các kiểu câu phục vụ việc tiếp nhận và tạo lập các văn bản nghị luận Ở lớp 8, 9 chủ yếu dạy lý thuyết hội thoại nhằm giúp học sinh nắm được ngôn ngữ văn bản kịch Như vậy, phần tiếng Việt trong bộ sách giáo khoa Ngữ văn tập trung cho việc học Văn học và Tập làm văn Do đó, nội dung rèn luyện kĩ năng chính tả không phải là yêu cầu bắt buộc Vì vậy, các em ở cấp học này cơ bản phải thành thạo chính tả tiếng Việt
1.4 Một số đặc điểm kinh tế - xã hội - giáo dục huyện Điện Biên Đông 1.4.1 Một số đặc điểm kinh tế - xã hội
Huyện Điện Biên Đông có diện tích tự nhiên là 120.897,85 ha, với gần 62.000 người, phân bố trên địa bàn 13 xã và Thị Trấn Là huyện miền núi nghèo trong tổng số 62 huyện nghèo nhất nước theo Nghị quyết 30a/CP
* Về kinh tế: Trong những năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, đời sống kinh tế của nhân dân các dân tộc trong huyện đã có chuyển biến rõ rệt: bình quân lương thực đầu người năm 2015 đạt 434 kg/người/năm Đến nay, toàn huyện có trên 700 hộ đăng ký kinh doanh, 35 trang trại và hàng trăm mô hình trang trại tổng hợp, đã góp phần khai thác tiềm năng đất đai và giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nhân dân Hệ thống giao thông phát triển khá đồng bộ, đến nay 14/14 xã, Thị Trấn có đường ô tô đến trung tâm
* Về văn hóa - xã hội: Huyện có 14 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các xã: Pu Nhi, Nong U, Keo Lôm, Na Son, Sa Dung, Phì Nhừ, Mường Luân,