Quá trình triển khai đề tài, nghiên cứu sinh đã tiến hành khảo cứu báo cáocủa các tỉnh ở Tây Nguyên và Ban Chỉ đạo Tây Nguyên qua 10 năm thực hiện Nghị quyết số 17-NQ/TƯ, Hội nghị lần th
Trang 1T«i xin cam ®oan ®©y
lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c sè liÖu, kÕt qu¶ nªu trong luËn ¸n lµ trung thùc vµ cã xuÊt xø râ rµng!
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Phan Sỹ Thanh
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
sở vững mạnh trên địa bàn Tây Nguyên 48
Chương 2 THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ MỘT SỐ KINH
NGHIỆM XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ
2.1 Thực trạng xây dựng hệ thống chính trị cơ sở trên địa
2.2 Nguyên nhân và một số kinh nghiệm xây dựng hệ thống
chính trị cơ sở vững mạnh trên địa bàn Tây Nguyên 100
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG, YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI
PHÁP TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ VỮNG MẠNH TRÊN ĐỊA BÀN
3.1 Sự phát triển của tình hình nhiệm vụ và phương hướng, yêu
cầu xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh trên địa bàn
3.2 Những giải pháp tăng cường xây dựng hệ thống chính trị
cơ sở vững mạnh trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay 122
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ
Trang 3Stt Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt
01 Ban chấp hành Trung ương BCHTW
02 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH,HĐH
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Giới thiệu khái quát về công trình nghiên cứu
Xây dựng HTCTCS là một nội dung trọng yếu của đổi mới chính trị ở nước
ta hiện nay, tuy nhiên hiện nay đang có rất nhiều vấn đề mới đặt ra, đòi hỏi phảiđẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn làm sáng tỏ những vấn đề về xâydựng HTCT nói chung và HTCTCS xã, phường, thị trấn trên địa bàn Tây Nguyênnói riêng Nghiên cứu sinh là một sĩ quan quân đội đã có thời gian công tác ở TâyNguyên gần 20 năm, trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn đơn vị tiến hành công tác dânvận, tham gia xây dựng HTCTCS, cùng với các lực lượng xử lý “điểm nóng” năm
2001 và năm 2004 tại tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông nhận thấy, một trong nhữngnguyên nhân cơ bản dẫn đến những diễn biến phức tạp, bạo loạn chính trị ở TâyNguyên trong thời gian vừa qua bắt nguồn từ sự yếu kém của HTCTCS Vấn đềcấp thiết đặt ra là làm thế nào để khắc phục được sự yếu kém đó? Điều này luônlàm cho tác giả suy nghĩ, trăn trở, ấp ủ, hình thành ý tưởng nghiên cứu trong nhiều
năm Vì vậy, nghiên cứu sinh lựa chọn vấn đề: “Xây dựng hệ thống chính trị cơ
sở vững mạnh trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay” làm đề tài luận án
Quá trình triển khai đề tài, nghiên cứu sinh đã tiến hành khảo cứu báo cáocủa các tỉnh ở Tây Nguyên và Ban Chỉ đạo Tây Nguyên qua 10 năm thực hiện
Nghị quyết số 17-NQ/TƯ, Hội nghị lần thứ năm BCHTW Đảng khoá IX “Về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn”; tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh
tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001-2010;
cùng với hệ thống tư liệu, số liệu do nghiên cứu sinh trực tiếp điều tra, khảo sátthực tiễn hoạt động xây dựng HTCTCS trên địa bàn Tây Nguyên từ năm 2001đến nay; đồng thời tham khảo kết quả nghiên cứu của các công trình khoa họcnước ngoài, trong nước có liên quan đến xây dựng và hoạt động của HTCT
Trang 5Đề tài tập trung luận giải những vấn đề cơ bản về HTCTCS và xây dựng
HTCTCS vững mạnh trên địa bàn Tây Nguyên; đánh giá thực trạng, chỉ rõ nguyên
nhân và rút ra một số kinh nghiệm xây dựng HTCTCS trên địa bàn Tây Nguyên
những năm vừa qua; xác định phương hướng, yêu cầu và đề xuất những giải pháp
cơ bản xây dựng HTCTCS vững mạnh trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay Kết cấucủa luận án gồm phần mở đầu, tổng quan vấn đề nghiên cứu, 3 chương (6 tiết), kếtluận, danh mục các công trình khoa học của tác giả đã được công bố liên quan đến
đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
2 Lý do lựa chọn đề tài
Hệ thống chính trị cơ sở là cấp chấp hành, trực tiếp tổ chức thực hiệnđường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoànkết toàn dân, phát huy quyền làm chủ, huy động mọi nguồn lực của nhân dântrong phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốcphòng, an ninh ở cơ sở HTCTCS trên địa bàn Tây Nguyên có trách nhiệm tolớn trong phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, chăm lo đờisống cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên
Quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm, BCHTW Đảng khoá IX
“Về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn”, các tỉnh Tây Nguyên đã thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây
dựng và phát huy vai trò của HTCTCS TCCSĐ ở nhiều nơi được củng cố vàtăng cường; chính quyền cấp xã được kiện toàn, hoạt động khá hiệu quả;MTTQ và các đoàn thể hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ Tuy nhiên,trước yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới, HTCTCS trên địa bàn Tây Nguyên đã bộc
Trang 6lộ không ít hạn chế, khuyết điểm, một số xã, phường, thị trấn, vai trò lãnh đạocủa tổ chức đảng bị hạ thấp, các đoàn thể tồn tại một cách hình thức; hiệu lực,hiệu quả quản lý điều hành của bộ máy chính quyền còn yếu Trình độ, năng lựccủa phần lớn cán bộ cấp xã còn hạn chế, nhất là cán bộ cấp xã người DTTS; cơchế và chất lượng hoạt động của HTCTCS còn bất cập; điều kiện, phương tiệnlàm việc còn thiếu thốn; một số vấn đề về chính sách cán bộ ở cơ sở chưa đượcquan tâm đúng mức; kinh tế - xã hội phát triển chưa vững chắc, tỷ lệ hộ đóinghèo cao, việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống và xây dựngđời sống văn hoá mới cho đồng bào Tây Nguyên chưa được quan tâm đúngmức; các vụ việc khiếu kiện tập thể liên quan đến quyền lợi đất đai của đồngbào, tình trạng quan liêu, tham nhũng, mất đoàn kết nội bộ của đội ngũ cán bộ cơ
sở, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân còn xẩy ra nghiêm trọng ở nhiều địaphương cơ sở Những yếu kém của HTCTCS ở một số nơi đã và đang làm giảmsút lòng tin của nhân dân, dẫn đến gây hậu quả xấu về kinh tế, chính trị - xã hội
Trong những năm tới, hoạt động của HTCTCS trên địa bàn Tây Nguyênbên cạnh những thuận lợi, phải đối mặt với không ít những khó khăn tháchthức: kinh tế – xã hội ở Tây Nguyên vẫn trong tình trạng kém phát triển, tìnhhình an ninh - chính trị còn nhiều diễn biến phức tạp do điều kiện lịch sử, địa
lý, những hạn chế, khuyết điểm chủ quan và các thế lực thù địch đang ráo riếtthực hiện âm mưu, thủ đoạn “DBHB”, bạo loạn lật đổ gây mất ổn định chínhtrị, mưu toan thành lập “Nhà nước Đê Ga tự trị” Điều đó đặt ra yêu cầu khách
Trang 7quan, cấp bách phải quan tâm xây dựng HTCTCS trên địa bàn Tây Nguyên
thực sự vững mạnh Vì vậy, nghiên cứu sinh lựa chọn vấn đề “Xây dựng hệ
thống chính trị cơ sở vững mạnh trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay” làm đề
tài luận án là vấn đề cơ bản, cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
Đề tài luận án không trùng lặp về nội dung với các công trình nghiên cứu đãcông bố trong những năm gần đây
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Xây dựng HTCTCS vững mạnh trên địa bàn Tây Nguyên là đốitượng nghiên cứu của luận án
* Phạm vi nghiên cứu
Những vấn đề lý luận, thực tiễn, yêu cầu, giải pháp xây dựngHTCTCS vững mạnh bao gồm HTCTCS xã, phường, thị trấn ở các tỉnhGia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng Nghiên cứu, tổng kếtthực tiễn, điều tra, khảo sát điểm một số xã, phường, thị trấn thuộc cáctỉnh Tây Nguyên từ năm 2001 đến năm 2014, thời gian ứng dụng các giảipháp đến năm 2020 và những năm tiếp theo
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
* Đóng góp mới về khoa học
Trang 8- Làm rõ tính đặc thù của HTCTCS trên địa bàn Tây Nguyên và quanniệm xây dựng HTCTCS vững mạnh trên địa bàn Tây Nguyên.
- Tổng kết một số kinh nghiệm xây dựng HTCTCS vững mạnh trênđịa bàn Tây Nguyên
- Đề xuất giải pháp xây dựng TCCSĐ, chính quyền, MTTQ, các đoànthể nhân dân và đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ người dân tộc bản địatrên địa bàn Tây Nguyên
* Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Góp phần làm rõ thêm những vấn đề cơ bản về HTCTCS và xây dựngHTCTCS các xã, phường, thị trấn trên địa bàn Tây Nguyên
Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp thêm những luận cứ khoa họcgiúp cấp uỷ, chính quyền, ban ngành đoàn thể các tỉnh Tây Nguyên xác định chủtrương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, tiến hành xây dựng HTCTCS vững mạnh
Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, giảng dạytrong hệ thống các học viện, nhà trường, nhất là ở các trường chính trị tỉnh,trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, quận, thành phố thuộc các tỉnh TâyNguyên và các học viện, nhà trường quân đội
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về hệ thống chính trị
Một số sách viết về nền chính trị các nước tư bản: Chính trị so sánh - về các nền dân chủ Đức, Mỹ, Pháp, Anh, Ý (1991), Yves Meny [165]; American Government Freedom and Power (sự tự do và quyền lực của chính phủ Mỹ) (1992), Theodore j.Lowi, Benjamin Ginsberg; Chính trị học so sánh (1998), Rolf H.W Thee và Frank L.Wilson [118]; British Politics (Nền chính trị Anh)
Trang 9(1998), Dennis Kavanagh; Comparative Politics- Aglobal introduction (so sánh các thể chế chính trị trên thế giới) (2000), Michael j.Sodaro; Từ điển về chính quyền và chính trị Hoa Kỳ (2002), Jay M.Shafritz [91]; Understanding democracy – An introduction to public choice (nhận thức về dân chủ, một sự lựa
chọn công khai) (2003), F.Patrick Gunning Các học giả trên đều cố gắng luậngiải rằng đa nguyên chính trị là đặc trưng của thể chế chính trị tư sản và HTCT
tư bản chủ nghĩa Ở hầu hết các nước tư bản, ngoài các đảng tư sản còn có cácđảng cộng sản và các đảng của các tầng lớp xã hội khác Các đảng phái chính trị,
tổ chức quần chúng hoàn toàn độc lập với chính quyền, trong đó, đảng cộng sảnđược quyền tồn tại hợp pháp với tư cách là tổ chức chính trị đối lập, đối khángvới các đảng tư sản Bên cạnh đó, quyền lực của các tổ chức chính trị - xã hội, tổchức xã hội cũng ngày càng tăng lên Hoạt động của các tổ chức đó trên một sốphương diện đã làm tăng thêm quyền lực chính trị cho nhân dân
Các công trình trên đã làm rõ những vấn đề về hệ thống chính quyềnnhà nước ở các nước tư bản; mối quan hệ giữa đảng phái chính trị và cơ quannhà nước ở các nước tư bản, chức năng quản lý địa phương do cơ quan hànhchính hoặc cơ quan tự quản thực hiện Ở các nước tư bản cho dù chính quyềnđịa phương được tổ chức theo mô hình tự quản và xã hội công dân được xemnhư là độc lập đối với nhà nước nhưng hoạt động của nó vẫn phải nằm trongkhuôn khổ hiến pháp và pháp luật Các chính trị gia tư sản cho rằng cơ cấuquyền lực chính trị ở các nước tư bản có sự tham gia của nhân dân, có cácđảng chính trị cạnh tranh, nhờ đó mà tăng quyền lực chính trị cho nhân dân.Nhưng về thực chất, sự ra đời của HTCT tư bản chủ nghĩa là nhằm bảo vệquyền lực chính trị của giai cấp tư sản, bản chất của HTCT tư bản chủ nghĩavẫn là sự thống trị của giai cấp tư sản đối với toàn bộ đời sống xã hội, nhànước ấy là nhà nước của giai cấp tư sản, hiến pháp, pháp luật là thể hiện ý chícủa giai cấp tư sản cầm quyền, nền dân chủ tư sản thực chất chỉ là dân chủ vớithiểu số giai cấp tư sản và vì giai cấp tư sản
Trang 10Ở Liên Xô có công trình bàn về Đảng Cộng sản Liên Xô trong hệ thống chính trị của xã hội Xô Viết (những vấn đề phương pháp luận nghiên cứu)
(1986) của V.Ia.Bôn-đa-rơ [161] đã phân tích rõ mối quan hệ giữa Đảng Cộngsản Liên Xô và những bộ phận cấu thành khác trong HTCT; luận giải vai tròcủa Đảng Cộng sản Liên Xô thực hiện quyền lực chính trị trong xã hộiXHCN, lãnh đạo xã hội; phân tích tác động qua lại của quyền lực nhà nước vàcác tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống quản lý nhà nước gồm Xô Viếttối cao Liên Xô, 15 Xô Viết tối cao của các nước cộng hòa liên bang, 20 XôViết tối cao của các nước cộng hòa tự trị, hơn 50 nghìn Xô Viết địa phươnghợp thành hệ thống thống nhất của các cơ quan quyền lực nhà nước Mặc dù
hệ thống XHCN ở Liên Xô và Đông Âu đã sụp đổ năm 1991 nhưng thành quảxây dựng CNXH hơn 70 năm của Đảng Cộng sản Liên Xô là những bài họcquí giá về xây dựng HTCT xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
Ở Trung Quốc có công trình Cải cách chính phủ cơn lốc chính trị cuối thế
kỷ XX (2002) của Tinh Tinh [131] đã trích dẫn, tổng hợp quan điểm của nhiều lãnh
tụ Đảng Cộng sản Trung Quốc trong công cuộc cải cách cơ cấu nền hành chính,xem đó là một cuộc cách mạng Cuộc cải cách cơ cấu là cơn lốc chính trị cuối thế
kỷ XX, dựa trên các nguyên tắc: theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường XHCN,chuyển đổi chức năng của chính quyền, thực hiện chính quyền tách khỏi xí nghiệp;tinh giảm, thống nhất, hiệu quả, điều chỉnh cơ cấu tổ chức chính quyền, thực hiệntinh giảm biên chế; thống nhất quyền hạn và trách nhiệm, xác định chức trách vàquyền hạn của các ngành trong bộ máy chính phủ, phân công rõ ràng quyền hạn vàtrách nhiệm của từng bộ, ngành, hoàn thiện cơ chế vận hành, hành chính; quản lýnhà nước bằng pháp luật, tăng cường xây dựng pháp chế cho hệ thống hành chính;trọng điểm cải cách là các bộ, ngành thành viên của Quốc Vụ viện Ngoài vănphòng Quốc Vụ viện, sẽ tinh giảm từ 40 bộ, ngành xuống còn 29 bộ, ngành Có hơn
4 triệu cán bộ các cấp “rời cương vị”, nguyên nhân của “rời cương vị” là “ điều tiết
vô tình và sắp xếp có tình” [131, tr.23]
Trang 11Các bài viết: “Không ngừng nâng cao trình độ lãnh đạo và trình độ thẩm quyền, tăng cường năng lực chống tha hóa, phòng chống biến chất và chống rủi ro” của Hạ Quốc Cường; “Thực tiễn và sự tìm tòi về xây dựng tổ chức cơ sở đảng và xây dựng đội ngũ đảng viên của Đảng Cộng sản Trung Quốc” của Lý Bội Nguyên; “Kiên trì phương châm quản lý đảng nghiêm minh, triển khai cuộc xây dựng đảng phong liêm chính và đấu tranh chống tham nhũng” của Chu Húc Đông; “Kiên trì xây dựng lý luận tư tưởng là nhiệm vụ hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng” của Trần Tuấn Hồng
(2004) in trong kỷ yếu Hội thảo lý luận giữa Đảng Cộng sản Việt Nam vàĐảng Cộng sản Trung Quốc [75] Các tác giả thống nhất cho rằng TrungQuốc là nước nông nghiệp lớn, vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân làvấn đề trọng đại, liên quan đến toàn cục của cải cách mở cửa và xây dựnghiện đại hóa nông thôn mới XHCN đặc sắc Trung Quốc, điều then chốt làtăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với vùng nông thôn, phát huy đầy đủvai trò của đảng viên và tổ chức đảng ở nông thôn Vì vậy, Đảng phải luônkiên trì vũ trang lý luận khoa học, giáo dục truyền thống, kiên trì vũ trang lýluận Đặng Tiểu Bình và tư tưởng quan trọng “ ba đại diện”, bồi dưỡng trithức, văn hóa để thúc đẩy tính tiền phong gương mẫu của đội ngũ đảng viên;kết hợp xây dựng tư tưởng, tổ chức với xây dựng tác phong; phương châm làđảng ủy lãnh đạo thống nhất, bộ ngành cơ quan cùng nắm, cùng quản, trêndưới cùng tiến hành và nắm chắc thường xuyên, không lơi lỏng, bình xét đảngviên một cách dân chủ, xử lý nghiêm đảng viên vi phạm tư cách Lấy “kiên trìtiêu chuẩn, bảo đảm chất lượng, cải thiện cơ cấu, thận trọng phát triển” làmphương châm, trọng điểm là phát triển đảng viên mới trong nông dân….Vậndụng nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác –Lênin, nghiêm chỉnh tổng kết kinhnghiệm thực tiễn, học tập kinh nghiệm mới mẻ của các đảng cộng sản khác, tiếpthu thành quả bổ ích của văn minh đương đại thì mới có thể quản lý Đảngnghiêm minh, thúc đẩy Đảng tiên phong liêm chính có hiệu quả
Trang 12Bài viết “Thúc đẩy xây dựng chính trị dân chủ cơ sở nông thôn, thực hiện quản lý của chính quyền cơ sở và tự trị của quần chúng thúc đẩy lẫn nhau một cách tích cực” (2009) của Vương Tề Ngạn [164] Theo tác giả, kể từ cải cách
mở cửa đến nay, Trung Quốc xây dựng tổ chức chính quyền cơ sở cấp xã, thịtrấn, thiết lập thôn hành chính dưới xã, thị trấn, thôn hành chính bầu ra ủy ban
dân làng theo “Luật tổ chức ủy ban dân làng nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”, thực hiện dân làng tự trị Hiện nay, Trung Quốc có hơn 40 nghìn tổ chức
chính quyền cơ sở, hơn 613 nghìn ủy ban dân làng, kết hợp giữa xây dựng chínhquyền xã, thị trấn với phát triển tự trị dân làng góp phần củng cố nền tảng cầmquyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc, thúc đẩy kinh tế, xã hội nông thôn pháttriển, tăng cường quản lý xã hội ở cơ sở Theo tác giả, thúc đẩy hơn nữa xâydựng chính trị dân chủ cơ sở nông thôn, bảo đảm dịch vụ công cộng khôngngừng tăng lên của đông đảo nông dân; cải thiện dân sinh, phát triển dân chủ,phục vụ xã hội là nội dung quan trọng của xây dựng nông thôn mới XHCN Đểđạt được mục tiêu đó tác giả đề xuất các giải pháp như: khơi thông quan hệ xã,thôn, thực hiện quản lý của chính quyền và tự trị của dân làng thúc đẩy lẫn nhaumột cách tích cực; cải tiến phương thức quản lý hành chính cơ sở, xây dựngchính quyền kiểu phục vụ, một mặt cần xác định rõ chức năng, vị trí của xã, thịtrấn, thúc đẩy chuyển biến chức năng chính quyền xã, thị trấn, mặt khác cần thayđổi tư duy quản lý và dịch vụ hiệu quả cao hơn, nâng cao hiệu quả quản lý vàdịch vụ của chính quyền xã, thị trấn; phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo củaTCCSĐ, nắm bắt phương hướng phát triển của tự trị quần chúng cơ sở
1.1.2 Công trình nghiên cứu của nước ngoài về Tây Nguyên
Tây Nguyên là địa bàn chiến lược cực kỳ quan trọng luôn thu hút sự quan tâmcủa nhiều nhà nghiên cứu ở nước ngoài, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.Trong thời kỳ thực dân Pháp xâm lược, một số công trình của các tác giả người
Pháp nghiên cứu về các dân tộc ở Tây Nguyên như: Về người M’nông Ga của G.Condominas; Về người Mạ của Bulbe; Les Jungles mois nghĩa là Rừng người
Trang 13Thượng (1912) của Henri Maitre viết về vùng rừng núi cao nguyên miền Trung Việt Nam được xuất bản lần đầu vào năm 1912 tại Pháp [70] Các tác phẩm Về người Gia Rai; Rừng, Đàn bà và Điên loạn (2002); Miền đất huyền ảo (2003) của Jacques.Dournes [90] Trong các công trình trên, các tác giả đã khảo cứu về địa lý,
nguồn gốc, văn hoá, tín ngưỡng, phong tục của một số dân tộc đã sinh sống lâu đời
ở Tây Nguyên Kết quả nghiên cứu của các công trình này tuy đề cập được một vàinét về đặc điểm văn hóa của đồng bào Tây Nguyên, nhưng chưa toàn diện và banđầu chỉ nhằm phục vụ cho công cuộc xâm lược của thực dân Pháp đối với nước ta Trong thời kỳ 1954 - 1975, người Mỹ đã tăng cường nghiên cứu về các dântộc Tây Nguyên nhằm duy trì ách cai trị của chủ nghĩa thực dân mới trên vùng đất
có vị trí chiến lược quan trọng này Tài liệu “Tự do trong rừng thẳm”, “Lịch sử các sắc tộc vùng Tây Nguyên Việt Nam từ năm 1954 đến 1976” của Gerald Lormon G.Hickey [65]; “Những nhóm thiểu số ở Cộng hòa Nam Việt Nam”
Westmoreland người Mỹ - chủ biên Trong đó, các tác giả đã phân tích khá sâusắc đặc điểm tự nhiên, văn hoá, dân tộc ở vùng Nam Trung bộ, đặc biệt là TâyNguyên, nhưng mới chỉ nhấn mạnh vấn đề sắc tộc, làm cho người đọc hiểu sailệch về quan hệ dân tộc ở Tây Nguyên Đây là vấn đề cấp thiết cần tiếp tục nghiêncứu làm rõ đặc điểm địa lý, tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trên địabàn Tây Nguyên và những giải pháp góp phần phát triển Tây Nguyên bền vững
1.2 Công trình nghiên cứu ở trong nước
1.2.1 Các công trình nghiên cứu về hệ thống chính trị và hệ thống chính trị cơ sở Cuốn sách: Xây Dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền (1992) của PGS.PTS Đỗ Nguyên Phương và PTS Trần Ngọc Đường
[113] Công trình này đã đưa ra khái niệm về HTCT xã hội chủ nghĩa là tổngthể các lực lượng chính trị bao gồm đảng cộng sản, nhà nước, các đoàn thểnhân dân mang tính chất chính trị - xã hội hoạt động theo một cơ chế thốngnhất phù hợp với quy luật phát triển của xã hội, thực hiện đường lối, mục tiêuxây dựng CNXH Cơ chế đó bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân do
Trang 14đảng cộng sản lãnh đạo Đồng thời, công trình đã phân tích luận giải khá sâusắc quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong HTCT nước ta.
Quán triệt và thực hiện Nghị quyết 17/NQTW, Hội nghị lần thứ năm,
BCHTW Đảng khóa IX (3/2002) về “Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn” [40] đã có các công trình khoa học
“Hệ thống chính trị cơ sở - đặc điểm, xu hướng và giải pháp” (2002) của TS
Vũ Hoàng Công [34]; Sách “Các giải pháp đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị ở các tỉnh miền núi nước ta hiện nay”(2003) PGS.TS Tô Huy Rứa,
PGS.TS Nguyễn Cúc, PGS.TS Trần Khắc Việt (đồng chủ biên) [119]; Sách
“Hệ thống chính trị cơ sở - thực trạng và một số giải pháp đổi mới” (2004)
TS Chu Văn Thành - chủ biên [123]; Sách “Hệ thống chính trị cơ sở ở nông thôn nước ta hiện nay” (2004) của GS.TS Hoàng Chí Bảo - chủ biên [20] dựa trên cơ sở đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu một số vấn đề nhằm củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở trong sự nghiệp đổi mới và phát triển ở nước ta hiện nay” Các công trình nghiên cứu trên đã làm rõ các vấn đề lý luận về HTCT,
HTCTCS ở nước ta như: khái niệm, cấu trúc, bản chất, mục tiêu, cơ sở chínhtrị - xã hội của HTCT trong quá trình hình thành và phát triển; chức năng,nhiệm vụ của từng tổ chức thành viên và mối quan hệ giữa các tổ chức trongHTCT Luận giải, làm rõ khái niệm HTCTCS, phân tích đặc điểm và tìnhhình hoạt động của HTCTCS; đồng thời, dự báo những xu hướng biến đổi,phát triển của HTCTCS trong thời gian tới dưới tác động của sự biến đổi kinh
tế - xã hội, dân số; yêu cầu xây dựng và thực thi nền dân chủ XHCN; yêu cầutiếp tục đổi mới chính trị trong thời kỳ CNH,HĐH Các công trình đều khẳngđịnh bản chất, mục tiêu của đổi mới và nâng cao chất lượng của HTCT lànhằm thực hiện và phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân Cần tậptrung giải quyết tốt mối quan hệ giữa HTCTCS với quần chúng nhân dân Tuynhiên, các tác giả mới nghiên cứu HTCTCS ở nông thôn vùng đồng bằng Bắc
Trang 15Bộ, còn đối với loại hình HTCTCS các xã, phường, thị trấn trên địa bàn TâyNguyên có những đặc thù riêng mà các tác giả chưa đi sâu nghiên cứu
Cuốn sách “Quan điểm và nguyên tắc đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam giai đoạn 2005- 2020” (2008) của PGS.TS Trần Đình Hoan, nguyên Ủy
viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng làm Chủ nhiệmcùng với sự tham gia của nhiều nhà khoa học, từ kết quả nghiên cứu của đề tài
khoa học cấp Nhà nước KX.10-02 “Các quan điểm và nguyên tắc đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta giai đoạn 2005-2020” thuộc chương trình KX.10
“Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” [73] Trên cơ sở lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp với tổng kết thực tiễn đổi mới ở Việt Nam tronghơn 20 năm qua, các tác giả đã tập trung phân tích, làm rõ tính tất yếu kháchquan của việc đổi mới HTCT ở nước ta hiện nay, nêu ra các mục tiêu, quanđiểm và nguyên tắc đổi mới HTCT; đề xuất phương hướng và các giải phápđổi mới HTCT ở Việt Nam giai đoạn 2005-2020 Theo đó, đổi mới HTCTkhông nhằm mục tiêu tạo ra một HTCT mới hay thay đổi bản chất của HTCThiện nay, mà thực hiện đổi mới theo hướng hoàn thiện để khắc phục các bấtcập, yếu kém, tạo nên sự phù hợp của HTCT với các yêu cầu của kinh tế thịtrường định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân,
do dân, vì dân và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Đổi mới HTCT nhằmgiữ vững ổn định chính trị, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chống lại mọi
âm mưu “DBHB” Đổi mới HTCT để củng cố, tăng cường, mở rộng nền tảng
xã hội của HTCT, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, tạo ra sự đồngthuận xã hội để thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển Đổi mới HTCTluôn phải đảm bảo và nâng cao vị trí, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sảnViệt Nam, nâng cao sức chiến đấu của Đảng, trong đó, đổi mới, chỉnh đốnĐảng là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới HTCT
Trang 16Cuốn sách “Đổi mới và phát triển ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”(2008) của GS.TS Nguyễn Phú Trọng - làm chủ nhiệm với sự tham
gia của nhiều nhà khoa học [148], khi bàn về đổi mới HTCT, phát huy dân chủXHCN, các tác giả đã phân tích khá sâu sắc tư duy lý luận của Đảng ta vềHTCT đất nước Theo các tác giả, trải qua 20 năm đổi mới, HTCT nước ta đãtập trung từng bước làm rõ các vấn đề: dân chủ XHCN; tất cả quyền lực thuộc
về nhân dân; xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN do nhân dân làm chủ.Mục tiêu cao nhất trong hoạt động của HTCT nước ta là giữ vững định hướngXHCN, gắn độc lập dân tộc với CNXH, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh
Cuốn sách chuyên khảo của các tác giả GS.TS Lê Hữu Nghĩa, GS.TS
Hoàng Chí Bảo, PGS.TS Bùi Đình Bôn (đồng chủ biên) (2008) “Đổi mới quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị ở Việt Nam” [107]; PGS.TS Lê Hữu Nghĩa có bài báo khoa học
(2013) “Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay một số vấn đề lý luận và thực tiễn” [108] Các tác giả khảng định đổi mớiquan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội là nội dung chủyếu và căn bản của đổi mới HTCT ở nước ta hiện nay Đề cập cơ sở lý luận,thực tiễn, những nhân tố tác động và yêu cầu đổi mới quan hệ giữa Đảng, Nhànước và các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta hiện nay; sơ lược quá trìnhhình thành và phát triển quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị
xã hội ở nước ta; chỉ ra những ưu điểm, những hạn chế, yếu kém cùng vớinhững nguyên nhân và bài học kinh nghiệm, trên cơ sở đó rút ra bản chất, xácđịnh những quan điểm, nguyên tắc và đề xuất những nội dung, giải pháp chủyếu của đổi mới quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xãhội ở nước ta hiện nay, như: đổi mới về nhận thức, về tổ chức cán bộ; đổi mớithể chế, cơ chế và qui chế hoạt động của các tổ chức trong HTCT; đổi mới nộidung, phương pháp, cách thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; đổi mới công tác
Trang 17giáo dục tuyên truyền trong Đảng và trong xã hội; đẩy mạnh nghiên cứu lýluận, tổng kết thực tiễn và dự báo khoa học các vấn đề chính trị, xã hội phục
vụ cho yêu cầu lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và thực hành dânchủ của nhân dân Các tác giả cho rằng: đổi mới HTCT ở nước ta không cómục đích tự thân mà mục đích sâu xa, bản chất, quan trọng nhất của nó làhướng vào xây dựng nền dân chủ XHCN, bảo đảm thực hiện dân chủ, pháthuy quyền làm chủ và vai trò làm chủ thực sự của người dân
1.2.2 Những công trình nghiên cứu về Tây Nguyên và hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn Tây Nguyên
Một số công trình chuyên khảo về dân tộc, quan hệ dân tộc ở Tây Nguyên
trong những năm cuối thế kỷ XX như: Đề tài cấp Bộ “Xu hướng vận động của quan hệ dân tộc khu vực Tây Nguyên và đặc điểm chính sách dân tộc đối với
Tây Nguyên” (1994 - 1995) do TS Nguyễn Văn Nam - chủ nhiệm [106]; cuốn
sách “Vấn đề giao đất, giao rừng và định canh, định cư vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên” ( 2010) của PGS.TS Nguyễn Văn Nam [105] Sách
“Tây Nguyên – nơi hội tụ văn hóa truyền thống và tình đoàn kết các dân tộc”
(2006) của các tác giả Đậu Xuân Luận, Nguyễn Kim Ninh, Nguyễn Văn Chính,
Nguyễn Văn Lượng [98] Sách “Tây Nguyên – vùng đất, con người” (2006) của
các tác giả Đinh Văn Thiên, Lê Quang Lợi, Nguyễn Trường Sơn [126] Cáccông trình trên đã nghiên cứu, khái quát về điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế -
xã hội và truyền thống trong đấu tranh cách mạng kháng chiến chống thực dânPháp, đế quốc Mỹ; nêu bật những thành tựu chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hộitrong thời kỳ đổi mới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Tây Nguyên Sưutầm, biên soạn những đặc điểm văn hóa cộng đồng, phong tục tập quán, lễ hộitruyền thống, các công trình kiến trúc của các dân tộc Tây Nguyên Từ việcnghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về xu hướng vận động quan hệ dân tộc ởTây Nguyên, các tác giả đã xác định phương hướng, giải pháp xây dựng và thựchiện chính sách dân tộc phù hợp với đặc điểm Tây Nguyên như: đẩy mạnh phát
Trang 18triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnhcủa điều kiện tự nhiên ở Tây Nguyên; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữaphát triển kinh tế và vấn đề dân tộc, xây dựng quan hệ dân tộc bình đẳng, đoànkết, giúp đỡ lẫn nhau; tích cực củng cố, đổi mới, xây dựng và nâng cao hiệu quảhoạt động của HTCT các cấp, đặc biệt là cơ sở; kiên quyết đấu tranh chống lại
âm mưu "DBHB" chia rẽ dân tộc của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch.Tuy đã nhấn mạnh đến xu hướng xích lại gần nhau giữa các dân tộc, nhưngnhóm nghiên cứu chưa đề cập những mầm mống, nguyên nhân làm rạn nứt khốiđoàn kết dân tộc từ tình trạng bất bình đẳng giữa các dân tộc ở Tây Nguyên
Cùng với các công trình trên, cuốn sách: “ Tổ chức và hoạt động buôn làng trong phát triển bền vững vùng Tây Nguyên” (2010) của TS Bùi Minh Đạo [47]
đã đề cập nhiều đặc trưng văn hóa, xã hội, con người Tây Nguyên hình thành từnhững tác động của điều kiện tự nhiên - xã hội Trong đó, yếu tố quan trọngđược tác giả luận giải sâu sắc về hình thái tổ chức xã hội cổ truyền “làng” (plei,plơi, buôn, bon…) là đơn vị xã hội độc lập và duy nhất, mỗi buôn làng TâyNguyên đều tồn tại thiết chế xã hội tự quản, làm nhiệm vụ quản lý và điều tiếtcác mối quan hệ giữa con người với nhau và các mối quan hệ giữa con người với
tự nhiên, thông qua luật tục và phong tục tập quán có sẵn tự ngàn xưa Tuynhiên, hiện nay làng của các DTTS Tây Nguyên không còn là một thực thể đơnnhất, mà bao trùm lên nó là hệ thống thiết chế chính trị của Nhà nước Vì vậy,buôn làng trở thành “cánh tay nối dài” của chính quyền cơ sở đến các hộ giađình và từng người dân Đặc trưng xã hội này là cơ sở xác định yếu tố tác độngđến xây dựng HTCTCS vững mạnh trên địa bàn Tây Nguyên
Luận án tiến sĩ triết học “Phát huy vai trò bộ đội địa phương trong xây dựng hệ thống chính trị cơ sở làm thất bại chiến lược “diễn biến hoà bình” của địch trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay” ( 2009) của Nguyễn Trường Sơn [121].
Trong đó, tác giả đã làm rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn chống phá Tây Nguyêncủa các thế lực thù địch và phân tích vai trò HTCTCS ở Tây Nguyên trong
Trang 19phòng, chống “DBHB” trên địa bàn Đồng thời, tác giả chỉ ra thực trạng và đềxuất những nhóm giải pháp gồm: Xây dựng bộ đội địa phương các tỉnh TâyNguyên vững mạnh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong điều kiện mới; Cơ chếphối hợp và bảo đảm tài chính trong hoạt động xây dựng HTCTCS; Nâng caohiệu quả hoạt động của bộ đội địa phương trong kết hợp phát triển kinh tế - xãhội với bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn Tây Nguyên Tuy nhiên, tácgiả chưa đề cập sâu sắc và toàn diện về đặc điểm, vai trò và các giải pháp xâydựng HTCTCS vững mạnh trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay.
Luận án tiến sĩ lịch sử “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo kết hợp phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng trên địa bàn Tây Nguyên từ năm 1996 đến
năm 2006” (2012) của Lê Nhị Hòa [72] đã nghiên cứu làm sáng tỏ cả trên
phương diện lý luận, tổng kết thực tiễn, hệ thống quan điểm, chủ trương củaĐảng, chính sách của Nhà nước về kết hợp phát triển kinh tế với bảo đảm quốcphòng trên địa bàn Tây Nguyên qua hai giai đoạn 1996 – 2000 và 2001 – 2006.Tác giả làm rõ kết hợp phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng ở Tây Nguyêndiễn ra theo 3 tuyến: kết hợp ngay trong mỗi lĩnh vực; kết hợp giữa hai lĩnh vựcvới nhau, kết hợp gián tiếp thông qua các lĩnh vực khác làm trung gian như: chínhtrị, văn hóa, xã hội, giáo dục - đào tạo, đối ngoại… kết hợp phát triển kinh tế vớibảo đảm quốc phòng tiến hành đồng thời và gắn bó chặt chẽ với nhau, trong đóphát triển kinh tế là trọng tâm, bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu Tác giảcũng làm rõ một số hạn chế và đưa ra một số kinh nghiệm như: giữ vững và tăngcường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, giữvững ổn định chính trị - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng thế trậnlòng dân, đấu tranh chống những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc và hoạt độngchống phá của các thế lực thù địch, phản động Tuy nhiên, luận án chưa đề cậpsâu sắc vấn đề vai trò của HTCT trong kết hợp phát triển kinh tế với bảo đảmquốc phòng và vấn đề xây dựng HTCTCS trên địa bàn Tây Nguyên
Trang 20Luận án tiến sĩ chính trị học “Tính tiền phong của đảng viên nông thôn các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn hiện nay” (2012) của Nguyễn Văn Hào [66] đã
luận giải khá rõ đặc điểm nông thôn Tây Nguyên, đưa ra khái niệm về tính tiềnphong của đảng viên nông thôn ở địa bàn Tây Nguyên, đánh giá thực trạng, rút
ra nguyên nhân và khái quát những kinh nghiệm, dự báo những nhân tố tác động
và những giải pháp chủ yếu nâng cao tính tiền phong của đảng viên nông thôn ởTây Nguyên Tuy nhiên, tác giả chưa luận giải rõ đặc trưng bản chất tính tiềnphong của đảng viên chính là bản chất giai cấp công nhân, và tính tiên phongtrong xây dựng tổ chức đảng, xây dựng HTCTCS (tr.65); trong chăm lo đờisống, vật chất, tinh thần của nhân dân
Luận án tiến sĩ chính trị học “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở các tỉnh Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay” (2012) của
Nguyễn Thành Dũng [62] đã phản ánh và luận giải về đặc điểm, địa lý, kinh
tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, lịch sử văn hóa, dân tộc và đời sống củađồng bào Tây Nguyên; Phân tích chức năng, nhiệm vụ của Đảng ủy,HĐND,UBND cấp huyện ở Tây Nguyên; Đánh giá thực trạng, nguyên nhân
và đúc rút bốn kinh nghiệm về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốtcấp huyện ở Tây Nguyên; trên cơ sở những dự báo khoa học về tình hìnhquốc tế, trong nước và Tây Nguyên, tác giả đề ra hệ giải pháp nâng cao nhậnthức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân; cụthể hóa tiêu chuẩn, chức danh cán bộ cấp huyện Tuy nhiên, nội dung luận ánchưa tập trung làm rõ vị trí, vai trò cấp huyện với tính cách là một đơn vịhành chính nhà nước chứ không phải chỉ là cầu nối giữa cấp tỉnh và cấp xã(tr.27-32), chưa đề cập đến đặc điểm quốc phòng, an ninh, truyền thống cáchmạng của các dân tộc Tây Nguyên (tr.32-39), chưa phân tích rõ chức trách,nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở Tây Nguyên Tổng quantình hình nghiên cứu về những giá trị của luận án là cơ sở để xây dựngHTCTCS vững mạnh trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay
Trang 21Các bài báo: “Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh trên địa bàn chiến lược các tỉnh Tây Nguyên ” (2004) của Nguyễn Phúc Thanh, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 6 [124]. “Binh đoàn Tây Nguyên tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn” (2005)
của Trung tướng, PGS.TS Nguyễn Tuấn Dũng, Tạp chí Quốc phòng toàn dân,
số 3 [64] “Binh đoàn 15 đoàn kết gắn bó mật thiết với đồng bào Tây Nguyên, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
(2004) của Nguyễn Xuân Sang, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 6 [120]
“Lực lượng vũ trang Quân khu 5 – tham gia xây dựng cơ sở chính trị địa phương trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên” (2007) của Thiếu tướng Nguyễn
Văn Thảng, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 6 [122] Nội dung các bài báo
đã phân tích làm rõ vị trí chiến lược về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninhcủa các tỉnh Tây Nguyên cả trong chiến tranh giải phóng và trong công cuộcxây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay; khẳng định tham gia xây dựng cơ sởchính trị - xã hội trên địa bàn công tác là một nhiệm vụ, một nội dung công tácdân vận của các đơn vị quân đội Đánh giá khái quát những thành tích vànhững hạn chế của các đơn vị quân đội thuộc Binh đoàn Tây Nguyên và Quânkhu 5 đóng quân trên địa bàn Tây Nguyên trong những năm qua đã tham giacông tác dân vận, xây dựng cơ sở chính trị trên địa bàn một cách chủ động,tích cực và đạt hiệu quả cao, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân các dântộc Tây Nguyên với Đảng, Nhà nước, Quân đội; qua đó làm cho hình ảnh “bộđội cụ Hồ” càng được khắc sâu trong lòng nhân dân các dân tộc Tây Nguyên.Các tác giả đã rút ra một số kinh nghiệm và xác định các giải pháp lãnh đạo,chỉ đạo của cấp uỷ, chỉ huy các đơn vị quân đội nhằm thực hiện tốt nhiệm vụtham gia xây dựng cơ sở chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốcphòng, an ninh trên địa bàn chiến lược các tỉnh Tây Nguyên, phù hợp với đặcđiểm nhiệm vụ, tổ chức và hoạt động của đơn vị
Trang 222 Những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết
Kết quả khảo cứu các công trình khoa học có liên quan đến đề tài luận
án: “Xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay” cho thấy, bên cạnh những vấn đề đã được luận bàn thấu đáo còn
những vấn đề đặt ra tác giả luận án cần phải tiếp tục giải quyết là:
Thứ nhất, về mặt lý luận, các tác giả chưa đề cập sâu sắc những vấn đề cơ
bản về HTCTCS và xây dựng HTCTCS vững mạnh trên địa bàn Tây Nguyên
Thứ hai, về mặt thực tiễn, chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu
đánh giá thực trạng xây dựng HTCTCS vững mạnh trên địa bàn Tây Nguyên
Thứ ba, các công trình đã công bố, chỉ đặt ra giải pháp xây dựng
HTCTCS chung của cả nước, hoặc chỉ đề cập xây dựng từng thành tố trongHTCTCS trên địa bàn Tây Nguyên
Do đó, luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu luận giải làm sáng tỏ quan niệm,đặc điểm, vai trò, mối quan hệ và phương thức hoạt động của HTCTCS, xácđịnh tiêu chí đánh giá, luận giải những vấn đề có tính nguyên tắc xây dựngHTCTCS vững mạnh; khảo sát, phân tích, đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõnguyên nhân và kinh nghiệm xây dựng HTCTCS; đề xuất những giải phápđồng bộ, khả thi, tăng cường xây dựng HTCTCS vững mạnh trên địa bàn TâyNguyên hiện nay
3 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn về HTCTCS và đềxuất những giải pháp tăng cường xây dựng HTCTCS vững mạnh trên địa bànTây Nguyên đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới
4 Nội dung nghiên cứu
- Những vấn đề cơ bản về HTCTCS và xây dựng HTCTCS vững mạnhtrên địa bàn Tây Nguyên
- Thực trạng, nguyên nhân và một số kinh nghiệm xây dựng HTCTCSvững mạnh trên địa bàn Tây Nguyên
Trang 23- Phương hướng, yêu cầu và những giải pháp tăng cường xây dựngHTCTCS vững mạnh trên địa bàn Tây Nguyên đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụtrong thời kỳ mới.
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, luận án sửdụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học chuyên ngành và liên ngành,chủ yếu là các phương pháp kết hợp logic và lịch sử, phân tích, tổng hợp, tổngkết thực tiễn, điều tra xã hội học, so sánh, thống kê và phương pháp chuyên gia
Trang 24Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ
VÀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ VỮNG MẠNH
TRÊN ĐỊA BÀN TÂY NGUYÊN 1.1 Hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn Tây Nguyên
1.1.1 Khái quát một số nét về Tây Nguyên
- Tình hình địa lý – dân cư: Tây Nguyên gồm 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai,
Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng có 61 đơn vị hành chính cấp huyện, 722 đơn vịhành chính cấp xã, 7.616 thôn, buôn, bon, tổ dân phố [14] Phía Bắc giáp tỉnhQuảng Nam; phía Đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, KhánhHòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai; phía Nam giáp tỉnh Bình Phước; phíaTây giáp Lào và Campuchia và có tuyến biên giới dài 591 Km, trong đó có 150
km tiếp giáp với tỉnh Atôpơ của Lào và 441 km tiếp giáp với hai tỉnh Muldulkiri,Ratanakiri của Campuchia, với 4 cửa khẩu quốc tế Diện tích toàn khu vực54.474 km2, chiếm 16,3% diện tích cả nước; dân số đến đầu năm 2013 có hơn5.282000 người, có 47 dân tộc anh em sinh sống, có 13 dân tộc bản địa với hơn 2triệu người, chiếm 28,2% dân số toàn vùng [109] Tây Nguyên có nhiều đồi núi,đường sá nhiều đèo dốc, nhiều sông suối, chia cắt về địa hình gây khó khăn choviệc đi lại và qui hoạch sản xuất hàng hóa nông sản với qui mô lớn và nằm trongvùng khí hậu khắc nghiệt chia thành hai mùa rõ rệt, mùa khô và mùa mưa, chịuảnh hưởng của thiên tai, bão lụt, lũ quét, hạn hán, dịch bệnh xẩy ra thường xuyêngây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân địa phương
- Tình hình chính trị: Tây nguyên là vùng đất giàu truyền thống yêu
nước, là căn cứ địa cách mạng; trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đếquốc Mỹ, đồng bào Tây Nguyên luôn tin theo Đảng và Bác Hồ, đoàn kết đứnglên tiến hành chiến tranh du kích, đùm bọc, nuôi dấu cán bộ, cùng bộ độichiến đấu chống kẻ thù Trong công cuộc đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạocủa Đảng, đồng bào Tây Nguyên phát huy truyền thống kiên cường, bất khuất,
Trang 25đoàn kết một lòng quyết tâm chiến thắng đói nghèo, lạc hậu, thực hiện mụctiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Tuy nhiên,trong những năm gần đây tình hình Tây Nguyên có nhiều diễn biến phức tạp,những mâu thuẫn bất bình trong nhân dân chưa được giải quyết triệt để;những yếu kém, tiêu cực của chính quyền trong việc buông lỏng quản lý đất,rừng, di dân tự do; đời sống của đồng bào DTTS còn gặp nhiều khó khăn; lựclượng FULRO vẫn tìm cách móc nối với bọn phản động nước ngoài để chốngphá; việc truyền đạo trái phép, đặc biệt là đạo “tin lành Đêga” đang gây mất
ổn định chính trị ở Tây Nguyên Tình hình buôn lậu, tội phạm, vượt biên tráiphép còn tiếp tục diễn biến phức tạp, nguy cơ gây mất ổn định chính trị xã hộitrên địa bàn vẫn đang tiềm ẩn, Tây Nguyên “tuy yên nhưng chưa ổn”
- Tình hình kinh tế - xã hội: Tây Nguyên là vùng đất rộng lớn có nhiều
tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội, nổi bật là tài nguyên đất và tài nguyênrừng có giá trị kinh tế cao Tây Nguyên còn là vùng giàu về khoáng sản, tàinguyên nước và năng lượng thuỷ điện, đồng thời là vùng có huyết mạch giaothông quan trọng nối liền các tỉnh duyên hải miền Trung với thành phố Hồ ChíMinh, đồng bằng Nam Bộ, giữa các tỉnh phía Bắc với các tỉnh phía Nam Hệthống trục đường tỉnh lộ thuộc các tỉnh luôn được sửa chữa, làm mới dễ cơđộng và tuyến đường Hồ Chí Minh có ý nghĩa lớn về kinh tế, dân sinh, quân sự[phụ lục 2; 3] Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế vùng Tây Nguyên còn chậm sovới tốc độ phát triển chung của cả nước, chủ yếu là kinh tế nông – lâm nghiệpphụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên Nhiều dự án kinh tế ở Tây Nguyênđang khai thác, tàn phá cạn kiệt dần tài nguyên, đặt ra nhiều vấn đề về kinh tế -
xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường Đời sống đồng bào TâyNguyên nhìn chung còn khó khăn, nhất là đồng bào DTTS tại chỗ, đồng bào di
cư tự do Số lượng người mù chữ còn cao, tỷ lệ hộ được dùng nước sạch cònquá ít GDP bình quân đầu người của vùng thấp chỉ đạt trên 66,98% GDP bìnhquân đầu người toàn quốc [phụ lục 27, 33]
Trang 26- Tình hình văn hóa: Nền văn hóa Tây Nguyên rất phong phú, đa dạng,
được kết tinh từ truyền thống lâu đời trong sản xuất, chinh phục thiên nhiên,chiến đấu chống ngoại xâm với những truyền thuyết, trường ca mang tinh thần
thượng võ, tính cộng đồng, tinh thần dũng cảm Những đặc điểm này được thể
hiện trong các hệ thống lễ hội đâm trâu, hội đua voi, tục uống rượu cần…cùng nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể như: không gian văn hóa cồng
chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là “Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại” đã tạo nên yếu tố độc đáo của văn hóa Tây Nguyên,
“Văn hóa Tây Nguyên xét về bản chất là văn hóa rừng” [129,tr.34] Từ bao đời
nay, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên gắn bó với núi rừng, dựa vào núi rừng để
sinh tồn và phát triển, có đời sống tâm linh sâu sắc với núi rừng,“Tây Nguyên được coi là vùng sử thi duy nhất ở nước ta và là vùng sử thi quí hiếm trên thế giới” [129,tr.35] Hình ảnh “bóng cây Kơ Nia” trở thành biểu tượng về tấm lòng
đồng bào Tây Nguyên đối với Tổ quốc, với Đảng, Bác Hồ Tuy nhiên, hiện nayđời sống văn hoá, tinh thần của đồng bào Tây Nguyên vẫn còn nghèo Việc bảotồn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống và xây dựng đời sống văn hoá mớicho đồng bào chưa được quan tâm đúng mức, nhiều nơi chưa có nhà Rông, nhàvăn hoá cộng đồng; nhiều giá trị văn hoá truyền thống đã bị mai một Tình trạngtrộm cắp, cờ bạc, mại dâm… xuất hiện ở không ít nơi Nạn “chảy máu” cồngchiêng vẫn diễn ra, mất dần trang phục dân tộc, hệ thống nhà rông, nhà dài, kể cảthờ cúng tổ tiên, lễ hội dân gian ở Tây Nguyên đang xuống cấp Xuất hiện sựgiao thoa, xung đột văn hóa giữa các dân tộc, nhất là giữa đồng bào DTTS tạichỗ với người kinh và đồng bào di cư tự do Đời sống văn hóa tâm linh còn nặng
nề, còn nhiều hủ tục lạc hậu chưa thay đổi
- Tình hình quốc phòng – an ninh: Tây Nguyên nằm ở ngã ba biên giới
Việt Nam – Lào – Campuchia, là địa bàn chiến lược quan trọng cả trong chiếntranh giải phóng cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay Với địathế hiểm yếu, có những hành lang tự nhiên thông với Nam Lào, Đông BắcCamPuchia và duyên hải Trung Bộ, địa hình với nhiều điểm cao khống chế so
Trang 27với khu vực xung quanh, được coi là “nóc nhà Đông Dương”, là địa bàn có ưu
thế lớn cả trong tiến công và phòng thủ Chính người Pháp và người Mỹ đềucho rằng ai chiếm được Tây Nguyên, người đó thống trị cả Đông Dương Đồngthời, Tây Nguyên là một trong những địa bàn trọng yếu để đối phó với đòntiến công bằng vũ khí công nghệ cao của địch, là an toàn khu cho các cơ quanTrung ương ở phía Nam Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX
xác định: “Tây Nguyên là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế
-xã hội và quốc phòng, an ninh của cả nước”[3] Hiện nay, tình hình an ninh,
chính trị ở các tỉnh Tây Nguyên tiếp tục có những diễn biến phức tạp Các thếlực phản động ở nước ngoài vẫn tiếp tục thủ đoạn lợi dụng vấn đề tôn giáo,dân tộc, nhân quyền, kích động người DTTS biểu tình, vượt biên trái phép gâymất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
1.1.2 Quan niệm hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn Tây Nguyên
Thứ nhất, quan niệm chung về hệ thống chính trị.
Để tìm hiểu HTCTCS trên địa bàn Tây Nguyên, trước hết cần nghiêncứu HTCT Hệ thống chính trị xuất hiện khi có nhà nước; trong chế độchiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến đã có nhà nước nhưng không tồn tạiHTCT mà chỉ có cơ quan quyền lực do giai cấp chủ nô, phong kiến nắm giữvới bản chất là bộ máy quyền lực, tập trung quyền lực vào giai cấp bóc lột.Khái niệm HTCT xuất hiện với đầy đủ ý nghĩa của nó cùng với sự ra đờicủa nhà nước tư sản Trong chế độ XHCN, HTCT ra đời khi giai cấp côngnhân giành được chính quyền, đảng cộng sản trở thành đảng cầm quyền
Chính trị học hiện đại quan niệm: Hệ thống chính trị là tổ hợp có tính chỉnh thể các thiết chế chính trị (nhà nước, các đảng chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp…), được xây dựng trên các quyền và các chuẩn mực xã hội, phân bố theo một kết cấu chức năng nhất định, vận hành theo những nguyên tắc, cơ chế và quan
hệ cụ thể nhằm thực thi quyền lực chính trị.
Trang 28Ở Việt Nam, khái niệm HTCT được Đảng ta nêu ra từ Hội nghị lần thứsáu, BCHTW Đảng khoá VI (tháng 3-1989) và chính thức sử dụng trong Văn
kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991) Hệ thống chính trị trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một chỉnh thể gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng với các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp, hoạt động theo một cơ chế nhất định nhằm từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân và thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Quan niệm HTCT theo quan điểm của Đảng ta thể hiện trên hai vấn đề
cơ bản: Một là, HTCT có cấu trúc gồm các tổ chức thành viên và mối quan hệ giữa các tổ chức đó Hai là, khẳng định quyền lực chính trị thuộc về nhân dân
là bản chất cốt lõi, là mục đích của việc tổ chức và vận hành của HTCT Xét theo cấu trúc ngang, HTCT gồm có Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng
hòa XHCN Việt Nam, MTTQ Việt Nam và các đoàn thể nhân dân là: ĐoànThanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nôngdân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Tổng Liên đoàn lao động Việt
Nam Xét theo cấu trúc dọc, HTCT nước ta được tổ chức theo 4 cấp tương
đương với phân cấp hành chính – lãnh thổ hiện nay: Trung ương, tỉnh (và thànhphố trực thuộc Trung ương), huyện (quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh), xã(phường, thị trấn) Theo đó, mỗi tổ chức trong HTCT là một hệ thống dọc từTrung ương xuống cơ sở, song căn cứ vào chức năng và tính chất hoạt động củatừng tổ chức để xác định mô hình tổ chức riêng cho phù hợp
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, HTCT được xây dựng trênnền tảng kinh tế thị trường, định hướng XHCN, được tổ chức và vận hành theomột cơ chế bảo đảm đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân dưới sự lãnh đạo củaĐảng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “nước ta là nước dân chủ Bao nhiêu lợi
ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công việc đổi mới, xây
Trang 29dựng là trách nhiệm của dân Sự việc kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” [101,tr.232-234] Đảng ta đã khẳng định: “Nhân dân thực hiện
quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị vàcác hình thức dân chủ tực tiếp, dân chủ đại diện” [37,tr.85]
Thứ hai, khái niệm hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn Tây Nguyên.
Điều 110 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hoà XHCN Việt Namquy định: “Các đơn vị hành chính của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đượcphân định như sau: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;Tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố trực thuộc tỉnh; thành phố trựcthuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tươngđương; Huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chiathành phường và xã; quận chia thành phường” [71, tr.58] Theo đó, trong bộmáy hành chính 4 cấp, xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) được coi làđơn vị hành chính cấp cơ sở, ở trên một khu vực lãnh thổ nhất định với mộtcộng đồng dân cư sinh sống cố định liên kết với nhau trong sinh hoạt vật chất
và đời sống tinh thần và một HTCT ổn định theo quy định của Hiến phápnước Cộng hoà XHCN Việt Nam Hiện nay, trên địa bàn cả nước có 9.048 xã,1.443 phường, 621 thị trấn [93, tr.12] Ở Tây Nguyên có 597 xã, 77 phường,
47 thị trấn [14]
Mỗi xã, phường, thị trấn là một cộng đồng xã hội, ở đó diễn ra các hoạt độngkinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của nhân dân HTCTCS được tổ chức và hoạt độngtheo quy định của Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, nhằm phát triển kinh
tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và tổ chức đời sống của nhân dân Hệ thống chính trị cơ sở là toàn bộ các thiết chế chính trị hợp pháp gồm tổ chức cơ sở đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở xã, phường, thị trấn, tạo thành một chỉnh thể, có tính hệ thống, tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc
Trang 30nhất định; để bảo đảm và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng xã, phường, thị trấn giàu, mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.
Từ quan niệm chung HTCT và HTCTCS có thể quan niệm: Hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn Tây Nguyên là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị của cả nước được tổ chức ở các xã, phường, thị trấn trên địa bàn Tây Nguyên; là hệ thống các tổ chức và các thiết chế hợp pháp, gồm tổ chức
cơ sở đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, được tổ chức, vận hành theo những nguyên tắc và
cơ chế tổ chức nhất định, để thực hiện quyền lực và đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân ở xã, phường, thị trấn HTCTCS trên địa bàn Tây Nguyên
là một chỉnh thể thống nhất, bao gồm các tổ chức, các thiết chế chính trị hợppháp được pháp luật thừa nhận, được tổ chức ở cấp xã gồm TCCSĐ (đảng bộhoặc chi bộ), chính quyền cơ sở (gồm HĐND, UBND cấp xã), MTTQ và các
đoàn thể nhân dân cấp xã (Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên
hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh ViệtNam, Công đoàn cơ sở)
Thứ ba, chức năng, nhiệm vụ của hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn Tây Nguyên.
Hệ thống chính trị Việt Nam mang bản chất của HTCT xã hội chủ nghĩa,hoạt động theo một cơ chế xác định, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý củaNhà nước nhằm thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân để xây dựng đấtnước giàu, mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh HTCTCS trên địa bàn Tây
Nguyên có các chức năng, nhiệm vụ: Tổ chức và vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các mục tiêu kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh ở cơ sở; tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư; xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở trong sạch vững mạnh Chức năng đó
Trang 31bảo đảm mối liên hệ chung và sự thống nhất hoạt động của các tổ chức trongHTCT với tư cách là một chỉnh thể Tuy nhiên, mỗi tổ chức trong HTCTCS lại
có vị trí, vai trò khác nhau và có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong thực hiệnchức năng, nhiệm vụ của HTCTCS Vì thế, mỗi tổ chức trong HTCTCS cóchức năng, nhiệm vụ cụ thể:
- Chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng trong hệ thống chính trị cơ sở
Đảng bộ cơ sở (chi bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở
cơ sở, trực tiếp lãnh đạo HTCTCS và lãnh đạo mọi mặt đời sống chính trị, xã hội
ở cơ sở thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nângcao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; xây dựng HTCTCS vững mạnh.Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định TCCSĐ có các nhiệm vụ:
“1 Chấp hành đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
ở cơ sở; đề ra chủ trương nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, chi bộ và lãnh đạo
thực hiện có hiệu quả
2 Xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch vững mạnh về chính trị, tưtưởng và tổ chức; thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; nâng cao chấtlượng sinh hoạt đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật vàtăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng; thường xuyên giáo dục, rènluyện, quản lý cán bộ, đảng viên, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cáchmạng, trình độ kiến thức, năng lực công tác cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở;làm công tác phát triển đảng viên
3 Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính,quốc phòng, an ninh và các đoàn thể chính trị - xã hội trong sạch, vững mạnh;chấp hành đúng pháp luật và phát huy quyền làm chủ của nhân dân
4 Liên hệ mật thiết với nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần
và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; lãnh đạo nhân dân tham gia xâydựng và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
Trang 325 Kiểm tra, giám sát việc thực hiện, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thịcủa Đảng và pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh; kiểm tra,giám sát tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng” [51, tr.39-40].
- Chức năng, nhiệm vụ của hệ thống chính quyền cơ sở (HĐND,UBND)
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở cơ sở đại diện cho
ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phươngbầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấptrên Căn cứ vào Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên,HĐND ra nghị quyết về các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiếnpháp và pháp luật ở cơ sở; về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốcphòng, an ninh, chăm lo phát triển giáo dục, y tế, xã hội và đời sống, văn hoá,xây dựng chính quyền địa phương; không ngừng cải thiện đời sống vật chất vàtinh thần của nhân dân địa phương; làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với
cả nước; giám sát đối với việc thực hiện các nghị quyết của HĐND; giám sátviệc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội,đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương
Hội đồng nhân dân phường có chức năng, nhiệm vụ như HĐND xã,thị trấn, ngoài ra còn có chức năng, nhiệm vụ quyết định biện pháp thựchiện thống nhất kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch đô thị;thực hiện nhiệm vụ giải phóng mặt bằng; bảo đảm trật tự giao thông đô thị,trật tự xây dựng trên địa bàn phường Quyết định biện pháp xây dựng nếpsống văn minh đô thị; biện pháp phòng, chống cháy, nổ, giữ gìn vệ sinh;bảo vệ môi trường, trật tự công cộng và cảnh quan đô thị trong phạm viquản lý Quyết định biện pháp quản lý dân cư và tổ chức đời sống nhân dântrên địa bàn phường [116, tr.10-12]
Ủy ban nhân dân do HĐND cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước
HĐND và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên UBND tổ chức việc thihành Hiến pháp, luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của HĐND
Trang 33cùng cấp và thực hiện nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao Trongphạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật qui định, UBND xã, thị trấn raquyết định và tổ chức thực hiện, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó.UBND cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương trong cáclĩnh vực chính trị, tổ chức và quản lý kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, khoahọc, công nghệ - môi trường, thể dục, thể thao, báo chí, phát thanh, truyềnhình; thực hiện chính sách xã hội, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninhchính trị, trật tự, an toàn xã hội và thi hành pháp luật ở địa phương, góp phầnbảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từtrung ương đến cơ sở [71, tr.60]
Ủy ban nhân dân phường thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của UBND
xã, thị trấn, ngoài ra còn tổ chức thực hiện các nghị quyết của HĐND phường
về bảo đảm thực hiện thống nhất kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quyhoạch, quản lý đô thị, xây dựng nếp sống văn minh đô thị Thanh tra việc sửdụng đất đai của tổ chức, cá nhân trên địa bàn phường theo quy định của phápluật Quản lý và bảo vệ cơ sở hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn phường theo phâncấp; ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm đối với các cơ sở hạ tầng kỹ thuậttheo quy định của pháp luật Kiểm tra giấy phép xây dựng của tổ chức, cá nhântrên địa bàn phường; lập biên bản, đình chỉ những công trình xây dựng, sửachữa, cải tạo không phép, trái phép và báo cáo cơ quan nhà nước có thẩmquyền xem xét, quyết định [116, tr.38-40]
- Chức năng, nhiệm vụ của ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn Tây Nguyên.
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn là tổ chức tập hợp
khối đại đoàn kết toàn dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng của các tầnglớp nhân dân, thống nhất hành động của các tổ chức thành viên, tham giavới chính quyền trong việc quản lý Nhà nước; chăm lo bảo vệ lợi ích hợppháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân Điều 2 Luật Mặt trận Tổ quốc
Trang 34Việt Nam quy định nhiệm vụ của MTTQ Việt Nam là: Tập hợp, xây dựngkhối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thầntrong nhân dân Tuyên truyền, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ,thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thihành Hiến pháp và pháp luật Giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước,đại biểu dân cử, cán bộ công chức nhà nước; tập hợp ý kiến, kiến nghị củanhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước Tham gia xây dựng
và củng cố chính quyền nhân dân Cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền
và lợi ích chính đáng của nhân dân Tham gia phát triển tình hữu nghị hợptác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trong khu vực và trênthế giới Từ nhiệm vụ chung của MTTQ và căn cứ vào Quy chế thực hiệndân chủ ở cơ sở, các quy định hướng dẫn của cấp trên, ủy ban MTTQ xã,phường, thị trấn đề ra nhiệm vụ cụ thể của cấp mình trong mỗi nhiệm kỳđại hội và từng năm một cách phù hợp và có tính khả thi [57],[114]
Các đoàn thể nhân dân trong HTCTCS bao gồm Đoàn Thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh [52], Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam [54], HộiNông dân Việt Nam [56], Hội Cựu chiến binh Việt Nam [53], Công đoàn cơ
sở các xã, phường, thị trấn trên địa bàn Tây Nguyên [50] Các tổ chức nàyđều có chức năng, nhiệm vụ chăm lo và bảo vệ lợi ích thiết thực và chínhđáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân Giáo dục và nâng cao trình độmọi mặt cho đoàn viên, hội viên và nhân dân Tổ chức động viên nhân dântham gia xây dựng các chính sách, pháp luật, tham gia quản lý Nhà nước,xây dựng chính quyền và giám sát hoạt động của chính quyền Các chứcnăng trên có quan hệ mật thiết với nhau, không thể coi nhẹ chức năng nào.Tuy nhiên, mỗi tổ chức có tôn chỉ, mục đích và điều lệ riêng, hoạt độngtrong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Chức năng, nhiệm vụ cụ thể củacác tổ chức đã được xác định rõ trong các luật, pháp lệnh của Nhà nước và
Trang 35điều lệ của các tổ chức đó Vì vậy, cần căn cứ vào các đạo luật và điều lệ củatừng tổ chức để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mỗi đoàn thể nhân.
1.1.3 Mối quan hệ và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị
cơ sở trên địa bàn Tây Nguyên
Thứ nhất, m ối quan hệ của HTCTCS trên địa bàn Tây Nguyên HTCTCS
có nhiều mối quan hệ đan xen, đa dạng, nhiều tầng, nhiều chiều, trực tiếp và giántiếp Những mối quan hệ trực tiếp duy trì sự tồn tại và hoạt động của HTCTCS:
Một là, mối quan hệ giữa các tổ chức trong HTCTCS.
Quan hệ giữa TCCSĐ với HĐND, UBND cấp xã Đây là quan hệ giữa
lãnh đạo và chịu sự lãnh đạo, TCCSĐ vừa là tổ chức lãnh đạo, vừa là tổ chứcthành viên của HTCTCS; luôn tôn trọng và phát huy tính chủ động, sáng tạocủa HĐND, UBND cấp xã; hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luậtcủa Nhà nước, tôn trọng Luật tổ chức HĐND, UBND Sự lãnh đạo của TCCSĐđối với HĐND, UBND cấp xã là điều kiện bảo đảm cho HĐND, UBND cấp xãhoạt động đúng Hiến pháp, pháp luật HĐND, UBND cấp xã là tổ chức côngquyền thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.TCCSĐ không thực hiện quyền lực của HĐND, UBND, không bao biện, làmthay công việc của HĐND, UBND HĐND, UBND cấp xã thực hiện phâncông, phối hợp và kiểm soát lẫn nhau theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thốngnhất quyền lực trong quản lý kinh tế - xã hội ở cơ sở trong khuôn khổ của luậtpháp Hiện nay, ở địa bàn Tây Nguyên phần lớn cấp xã đều thực hiện mô hình
bí thư kiêm chủ tịch HĐND Do vậy, bí thư là người chủ trì hoạt động củaHĐND, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho gắn bó chặt chẽ ý Đảng với lòngdân Bí thư Đảng ủy có quyền yêu cầu chủ tịch báo cáo, có quyền chỉ thị, chỉđạo, đôn đốc chủ tịch thực hiện chức trách của mình Quan hệ giữa người đứngđầu tổ chức đảng, với người đứng đầu chính quyền là quan hệ thường xuyên,hàng ngày nhằm giải quyết những công việc phát triển kinh tế - xã hội, bảođảm quốc phòng, an ninh ở địa phương
Trang 36Quan hệ giữa TCCSĐ với ủy ban MTTQ và các đoàn thể nhân dân ở cơ
sở TCCSĐ cấp xã vừa là thành viên của HTCTCS, vừa là tổ chức thành viên
của MTTQ cấp xã, đồng thời cũng là lực lượng lãnh đạo MTTQ Vì vậy,TCCSĐ có nhiệm vụ lãnh đạo, tạo điều kiện cho ủy ban MTTQ và các đoànthể nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ TCSSĐ lãnh đạo bằng nghịquyết, thông qua các hoạt động của ban chấp hành, thường vụ đảng ủy, bí thưđảng ủy, các đảng ủy viên, người đứng đầu ủy ban MTTQ và các đoàn thểnhân dân Đảng ủy, thường vụ đảng ủy có quyền chỉ đạo hoạt động của banchấp hành, hoặc tỏ thái độ đồng tình hay không đồng tình với các biện pháp,chủ trương của ban chấp hành các đoàn thể Bí thư đảng ủy thay mặt đảng ủy,thường vụ chỉ đạo, đôn đốc đảng ủy viên, người đứng đầu các đoàn thể nhândân TCCSĐ lãnh đạo MTTQ và các đoàn thể nhân dân bằng chủ trương,quan điểm; bằng công tác cán bộ; bằng phát huy vai trò tiên phong gươngmẫu của đội ngũ đảng viên; bằng công các chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, không
áp đặt, quan liêu, mệnh lệnh Trên cơ sở nghị quyết, chủ trương của đảng ủycấp xã, ủy ban MTTQ và các đoàn thể nhân dân quán triệt, triển khai sâu rộng
và thực hiện có hiệu quả nghị quyết của TCCSĐ; đồng thời, các đoàn thể nhândân ở cơ sở có những ý kiến, nguyện vọng, sáng kiến đóng góp để bổ sung chonghị quyết của đảng ủy được đúng đắn, kịp thời Đảng ủy cơ sở không ra lệnh,
áp đặt, mà phát huy vai trò hạt nhân chính trị để hiệp thương, thuyết phục chothấu tình đạt lý để Mặt trận và các đoàn thể thực hiện
Quan hệ giữa HĐND, UBND với ủy ban MTTQ và các đoàn thể nhân dân ở cơ sở Đây là mối quan hệ giữa quản lý điều hành bằng pháp luật, kế
hoạch với chấp hành; quan hệ hiệp thương phối hợp công tác, tạo điều kiện đểcùng thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, anninh MTTQ tập hợp lực lượng, động viên các tầng lớp nhân dân xây dựngchính quyền và thực hiện các chương trình, mục tiêu mà đại hội đảng bộ vàHĐND đề ra MTTQ chủ trì hiệp thương để lập danh sách những ứng cử viên
Trang 37bầu vào HĐND MTTQ là một thành phần của hội đồng bầu cử, tham gia tổchức và giám sát cuộc bầu cử HĐND cấp xã Mỗi năm hai lần, Chủ tịchHĐND phải thông báo bằng văn bản đến MTTQ xã về tình hình hoạt động củaHĐND và nêu những kiến nghị với MTTQ Ngược lại, trong kỳ họp HĐND,người đứng đầu ủy ban MTTQ và các đoàn thể nhân dân báo cáo về hoạt độngcủa MTTQ và các đoàn thể trong việc xây dựng chính quyền Người đứng đầu
ủy ban MTTQ và các đoàn thể nhân dân ở cơ sở được tham dự các cuộc họpthường lệ của HĐND cấp xã về những vấn đề có liên quan [71, tr.61-62]
Mối quan hệ giữa HĐND, UBND với MTTQ và các đoàn thể là mối quan
hệ hiệp thương phối hợp công tác Hai bên có quyền kiến nghị với nhau MTTQ,các đoàn thể nhân dân tập hợp, động viên các giới, các tầng lớp thực hiện phápluật và các quy định của chính quyền, giúp chính quyền hoàn thành chức năng,nhiệm vụ Nếu coi nhân dân là đối tượng chung thì chính quyền (HĐND,UBND) và MTTQ cùng các đoàn thể tác động vào đối tượng đó bằng cácphương thức khác nhau, song có tác dụng hỗ trợ cho nhau Một bên bằng biệnpháp hành chính, một bên bằng biện pháp tuyên truyền, vận động, thuyết phục,giáo dục các đối tượng thi hành chính sách Để đạt được các mục tiêu đề ra, giữachính quyền và MTTQ, các đoàn thể nhân dân cần phải cộng tác, phối hợp vớinhau, không bên nào được ép buộc, ra lệnh hoặc chỉ đạo, chỉ thị cho bên nào
Q uan hệ giữa MTTQ ở cơ sở với các tổ chức thành viên và cá nhân tiêu biểu Đây là mối quan hệ hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động
theo các nguyên tắc thương lượng, dân chủ, thống nhất hành động, tôn trọng tínhđộc lập của tổ chức thành viên, thân ái giúp đỡ nhau cùng hoạt động Ở cơ sở, các
tổ chức thành viên của MTTQ phối hợp thống nhất hành động luôn có quan hệmật thiết với nhau; đồng thời, giữ tính độc lập của mình, có hình thức tổ chức vàhoạt động riêng nhằm phát huy thế mạnh của mỗi tổ chức, tạo nên sức mạnh tổnghợp của cả HTCTCS Các tổ chức thành viên cần tôn trọng và thực hiện phươnghướng và chương trình, mục tiêu chung do MTTQ đề ra, vì lợi ích của toàn dân,trong đó có lợi ích của từng tổ chức thành viên
Trang 38MTTQ thực hiện chức năng tập hợp và đoàn kết liên minh, liên hiệp các tổchức thành viên Không có sự liên minh, liên hiệp ấy, MTTQ không thể hìnhthành, tồn tại và phát triển, trong đó vai trò chủ trì là ủy ban MTTQ ở cơ sở Cánhân tiêu biểu là những người đứng đầu trong các tổ chức, tầng lớp, dân tộc, tôngiáo Dựa vào đó, MTTQ tập hợp lực lượng, phát huy trí tuệ của các tầng lớpnhân dân MTTQ tập hợp và đoàn kết toàn dân, gồm công nhân, nông dân, thanhniên, phụ nữ, cựu chiến binh, dân tộc, tôn giáo…., các tổ chức đó nằm trongMTTQ, phối hợp cùng hành động với mục đích xây dựng, củng cố, đoàn kết toàndân
Hai là, mối quan hệ giữa HTCTCS với các tổ chức, các lực lượng.
Q uan hệ giữa HTCTCS với HTCT cấp trên Đây là quan hệ giữa lãnh đạo,chỉ đạo, hướng dẫn với phục tùng theo chiều dọc từ Trung ương xuống tỉnh(thành phố trực thuộc Trung ương), đến huyện (quận, thị xã, thành phố thuộctỉnh), đến xã (phường, thị trấn); HTCTCS phải luôn quan hệ chặt chẽ, mậtthiết, phục tùng sự lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của HTCT cấp trên Quá trìnhthực hiện chức năng, nhiệm vụ HTCTCS phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo và sựgiúp đỡ, tạo điều kiện của HTCT cấp trên một cách cụ thể, thiết thực và thườngxuyên HTCT cấp trên phải chỉ đạo, giúp đỡ, kiểm tra HTCTCS thực hiện đúngchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, đôn đốc, nhắc nhở, chấn chỉnh HTCTCS hoạtđộng đúng thẩm quyền, trách nhiệm
Q uan hệ giữa HTCTCS với nhân dân Đây là mối quan hệ giữa cơ quan
đại diện cho quyền làm chủ với nhân dân là người làm chủ ở cơ sở HTCTCSlãnh đạo, tuyên truyền, giáo dục, giác ngộ cho nhân dân nâng cao nhận thức vàthực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước, nhiệm vụ của địa phương HTCTCS đại diện và bảo đảm quyềnlàm chủ, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, lợi ích thiết thực và nguyện vọngchính đáng của nhân dân Nhân dân chấp hành nghiêm túc sự lãnh đạo củađảng ủy cấp xã, sự quản lý điều hành của chính quyền, tham gia các phong
Trang 39trào, các chương trình hành động cách mạng ở địa phương, tham gia xây dựngHTCTCS vững mạnh
Quan hệ giữa HTCTCS với các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, LLVT trên địa bàn Tây Nguyên Đây là mối quan hệ phối hợp công tác, phát huy sức
mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, các cơ quan, đơn vị và khối đại đoàn kếttoàn dân trong phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh ở cơ sở.Các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, LLVT, tổ chức xã hội, tuy có chức năng,nhiệm vụ cụ thể, nhưng đều có trách nhiệm chung là tham gia xây dựngHTCTCS, thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng,
an ninh Căn cứ vào tình hình, nhiệm vụ, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp,LLVT chủ động phối hợp với cấp uỷ, chính quyền địa phương để xây dựngHTCTCS vững mạnh
Thứ hai, p hương thức hoạt động của HTCTCS trên địa bàn Tây Nguyên
là tổng thể các cách thức, phương pháp hoạt động theo nguyên tắc Đảng lãnhđạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ nhằm thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của HTCTCS Theo đó, hoạt động của HTCTCS trên địa bàn Tây Nguyênbao gồm tổng thể các phương thức hoạt động của các tổ chức sau:
Một là, phương thức lãnh đạo của TCCSĐ đối với HTCTCS và nhân
dân bằng việc đề ra nghị quyết, chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, củng
cố quốc phòng, an ninh cho các tổ chức trong HTCTCS và nhân dân thựchiện Lãnh đạo xây dựng các tổ chức và đội ngũ cán bộ của các tổ chứctrong HTCTCS; Lãnh đạo thông qua các tổ chức đảng và đảng viên làmviệc trong các tổ chức của HTCTCS Lãnh đạo thông qua việc kiểm tra,giám sát hoạt động của các tổ chức trong HTCTCS trong việc thực hiệnquan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.Phương pháp lãnh đạo của TCCSĐ là dân chủ, nêu gương, thuyết phục vậnđộng nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, phápluật Nhà nước, qui chế, qui ước cộng đồng dân cư và các phong trào thi
Trang 40đua yêu nước; tiên phong trong đấu tranh phòng chống các hiện tượng tiêucực trong Đảng và ngoài xã hội.
Hai là, phương thức hoạt động của chính quyền cơ sở trên địa bàn Tây Nguyên Hội đồng nhân dân cấp xã do nhân dân trong xã bầu ra theo Điều 9, Luật
bầu cử đại biểu HĐND năm 2003 và khoản 3 Điều 12, Qui chế hoạt động củaHĐND Phương thức hoạt động của HĐND cấp xã là thông qua các kỳ họp đểquán triệt nghị quyết của TCCSĐ, ra nghị quyết về các vấn đề kinh tế - xã hội, quốcphòng, an ninh cho UBND và nhân dân thực hiện; nghe UBND báo cáo việc chấphành các nghị quyết của HĐND; thông qua kế hoạch quản lý, điều hành củaUBND, xem xét, đánh giá kết quả, ưu khuyết điểm trong hoạt động của UBND vànhững đề nghị của UBND kết hợp với ý kiến của cử tri để ra nghị quyết, quyết địnhcác biện pháp thực hiện các lĩnh vực sát đúng Bầu và phê duyệt các chức danhhành chính ở xã theo luật định Thực hiện chế độ tiếp xúc cử tri và tiếp công dâncủa đại biểu HĐND, qua đó tổng hợp ý kiến, kiến nghị, đơn thư khiếu nại, tố cáocủa công dân để HĐND xem xét giải quyết kịp thời và đúng qui định của pháp luật.Nhân dân (cử tri) có quyền phê bình, chất vấn HĐND và đại biểu HĐND Đồngthời, HĐND và đại biểu HĐND được phê bình, chất vấn phải trả lời trước dânnhững vấn đề dân yêu cầu với tinh thần cầu thị và tôn trọng cử tri Thực hiện chứcnăng giám sát của HĐND, thường trực HĐND, các ban của HĐND và đại biểuHĐND Thực hiện nghiêm túc qui chế phối hợp hoạt động giữa HĐND và UBNDtrong tổ chức các kỳ họp, trong việc tiếp xúc cử tri [116, tr.10-12]
Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện quản lý nhà nước ở địa phương theo
chức năng, nhiệm vụ được pháp luật qui định, thông qua hệ thống tổ chức, công
vụ, các hoạt động tập thể của UBND, chủ tịch, các phó chủ tịch UBND, cácthành viên UBND và các chức danh chuyên môn thuộc UBND UBND cấp xãhoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách,
đề cao trách nhiệm cá nhân và tinh thần chủ động sáng tạo của chủ tịch, các phóchủ tịch UBND, các thành viên UBND Mỗi thành viên UBND cấp xã chịu trách