A.S Makarenco đã nói về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục học sinh ngoài giờ lên lớp, các vấn đề giáo dục, phương pháp giáo dục không thể hạn chế trong các vấn đề giáo dục, lại càng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ TUYẾT
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO HỌC SINH TIỂU HỌC TRONG CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC VÀ TR NG HỌC C S H ỆN
YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 814.01.14
LUẬN VĂN THẠC SỸ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐỖ THỊ THÚY HẰNG
HÀ NỘI - 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ TUYẾT
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO HỌC SINH TIỂU HỌC TRONG CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC VÀ TR NG HỌC C S H ỆN
YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 8 14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐỖ THỊ THÚY HẰNG
HÀ NỘI - 2018
Trang 3Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.TS Đỗ
Thị Thúy Hằng - người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho em trong suốt quá trình
lập đề cương, nghiên cứu và hoàn chỉnh luận văn
Em xin chân thành cảm ơn Phòng Giáo dục - Đào tạo Huyện Yên Bình cùng toàn thể các cán bộ quản lý Ban giám hiệu, tổ chuyên môn, giáo viên và học sinh 6 trường TH&THCS Huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái đã tạo điều kiện thuận lợi, cung cấp thông tin, đóng góp ý kiến, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Dù đã có nhiều cố gắng song luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 04 tháng 7 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Thị Tuyết
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó
Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình
Hà Nội, ngày 04 tháng 7 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Thị Tuyết
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 5
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5
1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 9
1.3.Trường tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân 14
1.5 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học 22
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho HS tiểu học 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO HỌC SINH TIỂU HỌC TRONG CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN YÊN BÌNH , TỈNH YÊN BÁI 31
2.1 Khái quát về giáo dục huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái 31
2.2 Tình hình giáo dục tiểu học huyện Yên Bình 31
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho HS tiểu học trong các trường TH& THCS huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái 37
2.4 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh tiểu học trong các trường TH&THCS huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái 49
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO HỌC SINH TIỂU HỌC TRONG CÁC TRƯỜNG TH&THCS HUYỆN YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI 54
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 54
3.2 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh tiểu học trong các trường TH&THCS huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái 56
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 69
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi các biện pháp 71
3.5 Mối tương quan giữa các biện pháp 77
Kết luận chương 3 78
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT Chữ viết tắt Tên đầy đủ
4 GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
5 GDNGLL Giáo dục ngoài giờ lên lớp
7 GVCN Giáo viên chủ nhiệm
8 HĐGDNGLL Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
9 HĐNK Hoạt động ngoại khóa
Trang 7DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH
Thứ
tự
Tên bảng và hình Trang
1 Bảng 2.1 Quy mô trường, lớp, học sinh cấp tiểu học 40
2 Bảng 2.2 Quy mô đội ngũ CBQL, GV và CSVC cấp tiểu học 42
3 Bảng 2.3 Kết quả các mặt hoạt động trong trường tiểu học 43
4 Bảng 2.4 Kết quả đánh giá việc xây dựng kế hoạch hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp
45
5 Bảng 2.5 Kết quả tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục ngoài
giờ lên lớp
48
6 Bảng 2.6 Kết quả thực trạng công tác chỉ đạo thực hiện hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp
9 Bảng 3.1 Kết quả đánh giá tính cần thiết của các biện pháp 82
10 Bảng 3.2 Kết quả đánh giá tính khả thi của 6 biện pháp 85
11 Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả khảo sát tính cần thiết và khả thi
của các biện pháp quản lý HĐ GDNGLL
87
HÌNH
1 Hình 3.1 Kết quả đánh giá tính cần thiết của 6 biện pháp 84
2 Hình 3.2 Kết quả đánh giá tính khả thi của 6 biện pháp 86
Trang 8M ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong điều kiện đất nước đang thực hiện CNH, HĐH và phát triển kinh tế thị trường, giáo dục sẽ phải đương đầu với nhiều thách thức to lớn để đáp ứng những yêu cầu của xã hội Do vậy, dạy học không chỉ đơn thuần là cung cấp tri thức, rèn luyện kỹ năng môn học mà bản chất của dạy học hiện đại là: học để biết, học để làm việc, học để chung sống và học để làm người Có nghĩa là phải trang bị cho người học kỹ năng sống và năng lực hoạt động xã hội để họ có thể thích nghi với mọi hoàn cảnh luôn biến động
Trong nhà trường có các hoạt động giáo dục trong hệ thống các môn học cơ bản, và hoạt động giáo dục ngoài hệ thống các môn học Giáo dục của nhà trường chỉ thực sự có hiệu quả khi có sự phối hợp hài hoà cả hai hệ thống giáo dục trên
Ở trường phổ thông, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là một trong những hoạt động đặc trưng, nó là nơi thể nghiệm, vận dụng và củng cố tri thức trên lớp, là
cơ hội để HS tự bộc lộ nhân cách và tự khẳng định vị trí của mình, là môi trường nuôi dưỡng và phát triển tính tự chủ và sáng tạo của HS
Lứa tuổi học sinh tiểu học là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi ấu thơ sang tuổi nhi đồng, và từ tuổi nhi đồng sang tuổi thiếu niên Ở lứa tuổi này, có sự phát triển mạnh
mẽ nhưng thiếu cân đối về các mặt sinh lý và tâm lí Hoạt động giao tiếp của học sinh đã bắt đầu phát triển, các em có nhu cầu cao về giao tiếp với bạn bè, có nguyện vọng được sống và hoạt động trong tập thể HĐGDNGLL sẽ làm thỏa mãn được các nhu cầu này của các em học sinh
Đối với học sinh TH trong các trường TH&THCS huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái còn có những đặc điểm riêng: phần lớn các em còn rụt rè, nhút nhát, ngại hoạt động, hạn chế về giao tiếp, thiếu kỹ năng sống và cách ứng xử với mọi người Vì vậy, HĐGDNGLL lại trở nên cần thiết ở khu vực này đối với các học sinh Hơn nữa, trong thực tế, chất lượng tổ chức HĐGDNGLL cho HS TH trong các trường TH& THCS huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái còn nhiều hạn chế Do vậy cần phải có những cải tiến để nâng cao chất lượng của hoạt động này Đó chính là lý do
Trang 9lựa chọn đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho HS tiểu học trong các trường TH&THCS huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái” nhằm góp phần
nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động GDNGLL cho HS TH trong các trường TH&THCS trên địa bàn Huyện còn nhiều khó khăn hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đề xuất một số biện pháp quản lý HĐGDNGLL cho HS TH trong các trường TH& THCS trên địa bàn huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh tiểu học
- Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho HS TH trong các trường TH&THCS huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái
- Đề xuất một số biện pháp QL GDNGLL cho HS TH trong các trường TH&THCS huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh tiểu học
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh tiểu học trong các trường TH&THCS huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái
5 Giả thuyết khoa học
Việc thực hiện HĐGDNGLL cho HSTH trong các trường TH&THCS, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái trong những năm qua đã thu được những kết quả nhất định Tuy nhiên trong quá trình thực hiện đã bộc lộ một số hạn chế như: việc tổ chức thực hiện còn đơn điệu, hiệu quả không cao; nội dung còn nghèo nàn; cách thức quản lý còn lỏng lẻo Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý HĐGDNGLL phù hợp với
Trang 10các trường thì sẽ nâng cao hiệu quả các hoạt động giáo dục bên ngoài giờ học chính khóa, góp phần giáo dục toàn diện HS
6 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và QLHĐGDNGLL cho HS
TH ở 6 trường TH&THCS huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái
Khách thể khảo sát là CBQL, chuyên viên phòng GD&ĐT huyện Yên Bình; CBQL, GV và PHHS 6 trường TH&THCS có số lớp từ 13 đến 15 lớp thuộc huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa những vấn đề lý luận trong các văn bản, tài liệu, sách báo, thông tin trên mạng iternet có liên quan
đến vấn đề nghiên cứu, từ đó xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Mục đích sử dụng phương pháp này nhằm thu thập những thông tin từ
CBQL, giáo viên, PHHS về thực trạng QLHĐGDNGLL cho HS TH ở 6 trường TH& THCS huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái Nội dung khảo sát là thực trạng QLHĐGDNGLL cho HS TH ở 6 trường TH& THCS huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, khảo sát tính cần thiết, khả thi của hệ thống biện pháp đề xuất Đối tượng khảo sát là CBQL, giáo viên, PHHS Công cụ khảo sát sử dụng 2 mẫu phiếu hỏi dành cho CBQL, GV và PHHS
7.3 Phương pháp toán thống kê
Mục đích sử dụng phương pháp này nhằm để xử lý kết quả khảo sát và các số liệu thu được để định lượng kết quả nghiên cứu
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho
HS tiểu học
Trang 11Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho HS
tiểu học trong các trường TH& THCS huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho HS
tiểu học trong các trường TH& THCS huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái
Trang 12CHƯ NG 1
C S LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO
HỌC SINH TIỂU HỌC 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp từ lâu được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm trong việc hình thành và phát triển toàn diện của con người nói chung cũng như vai trò bổ trợ cho các môn học cơ bản nói riêng Chính vì vậy, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là một phần quan trọng trong chương trình giáo dục ở hầu hết các nước trên thế giới A.S Makarenco đã nói về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục học sinh ngoài giờ lên lớp, các vấn đề giáo dục, phương pháp giáo dục không thể hạn chế trong các vấn đề giáo dục, lại càng không thể để cho quá trình giáo dục chỉ thực hiện trên lớp học, mà cần phải thực hiện trên các hoạt động bên ngoài lớp học,trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không được quan niệm rằng công tác giáo dục chỉ được tiến hành trong lớp mà công tác giáo dục chỉ đạo toàn bộ cuộc sống của trẻ [1]
Mác nhấn mạnh: Học tập kết hợp với lao động sản xuất là phương pháp tổng quát của sản xuất xã hội và là phương pháp duy nhất để hình thành con người toàn diện Lao động tạo ra nhân cách con người Nhà trường phải giáo dục, đào tạo ra những con người lao động chân chính và có nhân cách tốt Mục tiêu tổng quát của giáo dục là phải phát triển con người toàn diện; đối với xã hội, phát triển con người toàn diện để phát triển kinh tế xã hội, đối với từng người – để có năng lực nghề nghiệp, để sống và đóng góp cho gia đình, cho cộng đồng
Nghiên cứu về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, của các nhà giáo trong cả nước bắt đầu từ những năm 80 của của thế kỷ XX đến nay Song, từ năm 1979 trở về trước đã có một số tài liệu đề cập đến Ở giai đoạn này mô tả tên gọi và nội dung khái niệm “hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” chưa được định hình, nhưng nội hàm cơ bản của khái niệm đã được đề cập trong “ Thư gửi HS” nhân ngày khai trường tháng 9/1945 của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, Người viết: Nhưng các em cũng nên, ngoài giờ học ở trường, tham
Trang 13gia vào các Hội cứu quốc để tập luyện thêm cho quen với đời sống chiến sĩ và để giúp đỡ một vài việc nhẹ nhàng trong cuộc phòng thủ đất nước Trong thư gửi Hội nghị các cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc” Hồ Chủ tịch nhắc tới một khía cạnh khác của nội hàm khái niệm khi Người viết:Trong lúc học, cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học Ở trong nhà, trong trường, trong xã hội chúng đều vui học
Những vấn đề mà một số tác giả quan tâm khẳng định vị trí và vai trò của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong việc hình thành nhân cách cho HS ngay từ khi bắt đầu đến trường Trong đó nhấn mạnh đến vấn đề học phải được đi đôi với hành.Học sinh được học gì trong sách vở thì phải thực hành điều ấy, củng cố tri thức đã học không chỉ bằng cách ôn luyện trong sách vở mà phải bằng việc làm, gắn việc học tập với sinh hoạt, với đời sống của tự nhiên và xã hội Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cần phải được đa dạng về hình thức, trong đó việc cho học sinh được biểu diễn trên sân khấu để hình thành sự tự tin, rèn khả năng diễn đạt cũng được các tác giả đề cập đến Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp còn làm giàu chương trình học, tạo dựng niềm tin và củng cố kỹ năng cho học sinh Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học nói chung đặc biệt là mở rộng không gian ngoài lớp học đã khơi dậy và phát huy những khả năng tiềm ẩn, nhằm rèn luyện cá tính cho học sinh Các nghiên cứu trong nước cũng đã có rất nhiều công trình đề cập đến hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp với các khía cạnh khác nhau về vai trò, phương pháp, hình thức tổ chức trong và ngoài nhà trường ở các bậc học khác nhau
Phạm Minh Hạc đề cập đến nội dung: Toàn bộ công tác giáo dục nhằm xây dựng và phát triển toàn diện nhân cách của con người Việt Nam sống và làm việc trong thời kỳ đổi mới Đó là nhân cách của người lao động sáng tạo năng động, có tay nghề, có tâm hồn, chứ không phải là con người sống chỉ thích nghi với xã hội Nhân cách hình thành và phát triển bằng các hoạt động đã nêu ở trên, trong đó có một hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách con người là hoạt động giao tiếp, vì tất cả các mối quan hệ có ở con người đều gắn
bó bằng cách này hay cách khác với quan hệ người - người.[9]
Trang 14Bùi Thị Lâm với nghiên cứu: Một số biện pháp nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động ngoài giờ cho trẻ mẫu giáo bé (3 - 4 tuổi) làm quen với môi trường xung quanh, tác giả đã chỉ ra vai trò của hoạt động ngoài trời trong việc nâng cao chất lượng giáo dục mầm non từ đó chỉ ra những biên pháp tổ chức hiệu quả.[13]
Đỗ Nguyên Hạnh đã đưa ra một số hình thức như: bình thơ, trưng bày tranh ảnh, thăm quan có tác dụng tốt cho việc củng cố, bổ sung kiến thức, giáo dục tình cảm, ý thức tập thể cho học sinh Tác giả đề cập tới vấn đề liên quan đến các hình thức của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong quá trình tổ chức thực hiện để giáo dục toàn diện cho học sinh .[10]
Ngoài ra, cũng có một số nghiên cứu về QL HĐGDNGLL ở các trường phổ thông như:
"Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội”, của Nguyễn Kim Oanh Nội dung chính của luận văn đã đề xuất 5 biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo tiếp cận chức năng quản lý có thể áp dụng cho các trường TH nói chung và các trường TH trên địa bàn huyện Hoài Đức, Hà Nội nói riêng [17]
Nguyễn Thành Tân (2012), với đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường THPT Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội”, lựa chọn tiếp cận chức năng quản lý trong nghiên cứu, có đánh giá những yếu tố chủ quan và khách quan có liên quan đến quản lý hoạt động GD NGLL ở trường THPT [21]
Ngày nay với xu hướng đổi mới giáo dục, với xu thế toàn cầu hóa và sự phát triển của cách mạng công nghệ 4.0 Hệ thống giáo dục của chúng ta được cải cách theo hướng đào tạo học sinh phổ thông thành người “năng động, sáng tạo, có sức khỏe và hiểu biết xã hội
Hoạt động trải nghiệm đã được tiến hành trước đây và ngày nay trở thành một môn học trong chương trình GDPT mới có khả năng tạo cơ hội cho học sinh huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của các môn học và lĩnh vực giáo dục khác nhau để trải nghiệm thực tiễn đời sống gia đình, nhà trường và xã hội; tham gia vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động, từ thiết kế hoạt động đến chuẩn bị, thực
Trang 15hiện và đánh giá kết quả hoạt động; trải nghiệm, bày tỏ quan điểm, ý tưởng sáng tạo, lựa chọn ý tưởng hoạt động; thể hiện và tự khẳng định bản thân, đánh giá và tự đánh giá kết quả hoạt động của bản thân, của nhóm và của các bạn dưới sự hướng dẫn, tổ chức của nhà giáo dục, qua đó hình thành và phát triển những phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi được tuyên bố trong chương trình tổng thể và các năng lực đặc thù của Hoạt động trải nghiệm
Chương trình Hoạt động trải nghiệm mang tính linh hoạt, mềm dẻo Các cơ
sở giáo dục có thể căn cứ vào bốn nội dung hoạt động chính là Hoạt động phát triển
cá nhân, Hoạt động lao động, Hoạt động xã hội và phục vụ cộng đồng, Hoạt động giáo dục hướng nghiệp để thiết kế thành các chủ đề hoạt động phù hợp với nhu cầu, đặc điểm học sinh, điều kiện của nhà trường, địa phương Một số nội dung sinh hoạt Sao Nhi đồng, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam được tích hợp trong nội dung các hoạt động trên
Hoạt động trải nghiệm được thực hiện dưới bốn loại hoạt động chủ yếu: Sinh hoạt dưới cờ, Sinh hoạt lớp, Hoạt động giáo dục theo chủ đề và Hoạt động câu lạc
bộ và thông qua bốn nhóm hình thức tổ chức: Hình thức có tính khám phá; Hình thức có tính thể nghiệm, tương tác; Hình thức có tính cống hiến; Hình thức có tính nghiên cứu, phân hoá Hoạt động trải nghiệm có thể được tổ chức trong và ngoài lớp học, trong và ngoài trường học theo quy mô cá nhân, nhóm, lớp học, khối lớp hoặc quy mô trường Hoạt động trải nghiệm huy động sự tham gia, phối hợp, liên kết của nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường như: GV chủ nhiệm lớp,
GV bộ môn, Cán bộ Đoàn, Tổng phụ trách Đội, Ban Giám hiệu nhà trường, cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương, các tổ chức, cá nhân và đoàn thể trong xã hội
Qua nghiên cứu và thu thập thông tin về HĐGDNGLL đã có một số nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau Hầu hết đã chỉ ra được vai trò, hình thức tổ chức, các biện pháp quản lý Tuy nhiên, mới chỉ dừng lại ở một phạm vi, một trường, một
số khía cạnh nào đó, chưa có công trình nào nghiên cứu về quản lý HĐGDNGLL ở các trường tiểu học huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái
Trang 161.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.2.1 Quản lý
Quản lý là một khái niệm rộng lớn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau Những nhà xã hội học nghiên cứu hoạt động quản lý trên cơ sở mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, các nhà hoạt động kinh tế nghiên cứu hoạt động quản lý trên cơ sở hiệu quả kinh tế… Chính vì thế khái niệm quản lý đã được các nhà khoa học định nghĩa một cách khác nhau:
Theo Đặng Quốc Bảo: Hoạt động quản lý là hoạt động bao gồm hai quá trình
“quản” và “lý” tích hợp vào nhau; trong đó, “quản” có nghĩa là duy trì và ổn định
hệ, “lý” có nghĩa là đổi mới hệ [2]
Quản lý là một quá trình tác động có định hướng (có chủ đích), có tổ chức, lựa chọn trong các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về thực trạng của đối tượng
và môi trường, nhằm cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định
Theo Đặng Vũ Hoạt, quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu Quản lý một hệ thống là một quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý [11]
Như vậy, Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý
đến khách thể quản lý nhằm làm cho tổ chức hoạt động có hiệu quả cao
(1) Lập kế hoạch: là chức năng cơ bản, quan trọng nhất nhằm xác định mục
đích, lựa chọn mục tiêu, khái quát các công việc phải làm, xác định khối lượng công việc, đề ra những quy định, xây dựng chương trình hành động, từ đó đề ra các biện
Trang 17pháp phù hợp với các nguồn lực của hệ thống, góp phần giảm thiểu rủi ro, hạn chế phát sinh, lãng phí Lập kế hoạch là dự kiến những vấn đề có thể xẩy ra, những ý tưởng của chủ thể quản lý để đạt được mục đích và đi đến mục tiêu Đây là bước cơ
sở cho việc thực hiện các chức năng tiếp theo của quản lý
(2) Tổ chức thực hiện: là bước xác định một cơ cấu chủ định về vai trò nhiệm
vụ Tổ chức là xây dựng quy chế, qui định rõ mối quan hệ trong bộ máy tổ chức Xác định có tính định tính và định lượng chức năng nhiệm vụ giữa các thành viên, giữa các bộ phận để thông qua đó chủ thể quản lý tác động đến các khâu, các mắt xích trong tổ chức và đối tượng quản lý để đạt hiệu quả cao nhất Tổ chức giúp thực hiện được những chủ trương, định hướng của kế hoạch
(3) Chỉ đạo: là công việc thường xuyên của người quản lý nhằm tác động
đến đối tượng quản lý bằng các mệnh lệnh, đặt tất cả mọi hoạt động của bộ máy trong tầm kiểm soát nhằm làm cho người bị quản lý luôn phục tùng, phát huy tính
tự giác và tính kỷ luật để làm việc đúng theo kế hoạch, đúng với chức năng, nhiệm
vụ đã phân công Nói cách khác, đây là quá trình tác động, động viên, tạo động lực, gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu
đã định
(4) Kiểm tra - đánh giá: là nhiệm vụ quan trọng có liên quan đến mọi cấp
quản lý nhằm thu thập thông tin ngược của người quản lý để kiểm soát hoạt động của bộ máy nhằm đo lường, phát hiện các sai sót để điều chỉnh kịp thời giúp bộ máy đạt được mục tiêu Có thể nói, kiểm tra là tai mắt của quản lý Trong công tác lãnh
đạo, quản lý và chỉ huy, Hồ Chí Minh đã từng nói:“Không có kiểm tra - đánh giá coi như không có lãnh đạo” Qua đó, đủ thấy vai trò kiểm tra đánh giá, rút ra bài
học điều chỉnh mọi hoạt động của khách thể quản lý là việc làm không thể thiếu của chủ thể quản lý
Các chức năng quản lý phải tạo thành một chu trình thống nhất Trong đó, mỗi chức năng vừa có tính độc lập tương đối, vừa có mối quan hệ phụ thuộc với các chức năng khác Quá trình ra các quyết định quản lý là quá trình thực hiện các chức năng theo một trình tự nhất định Nhà quản lý không được bỏ qua hay coi nhẹ bất
cứ chức năng nào Bên cạnh bốn chức năng cơ bản nêu trên, trong quá trình quản lý
Trang 18cần quan tâm thêm hai vấn đề quan trọng là: thông tin quản lý và quyết định quản
lý [12]
1,2,2 Quản lý giáo dục,
Theo Phạm Minh Hạc: QLGD là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo dục tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thế hệ trẻ và với từng HS [9]
Theo Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ thống giáo dục) nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất [19] Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các cấp quản lý giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt được mục tiêu của nó
Như vậy, quản lý giáo dục được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý đến
khách thể quản lý trong lĩnh vực giáo dục, nói một cách rõ ràng đầy đủ hơn, quản lý
là hệ thống những tác động có mục đính, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản
lý trong hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển của xã hội
1.2.3 Quản lí nhà trường
TheoTrần Kiểm, quản lý trường học là quản lý giáo dục tại cấp cơ sở trong
đó chủ thể quản lý là các cấp chính quyền và quản lý chuyên môn, các nhà quản lý trong trường do hiệu trưởng đứng đầu, đối tượng quản lý chính là nhà trường như một tổ chức chuyên môn- nghiệp vụ, nguồn lực quản lý là con người, cơ sở vật chất
kỹ thuật, tài chính, đầu tư khoa học-công nghệ và thông tin bên trong trường và
Trang 19được huy động từ bên ngoài trường dựa vào luật, chính sách, cơ chế và chuẩn hiện
có
Theo Phạm Minh Hạc, quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với thế hệ trẻ và với từng học sinh [9]
Theo Nguyễn Ngọc Quang, quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối
ưu của chủ thể quản lý đến tập thể GV, học sinh và cán bộ khác nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có, hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng, mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới [19]
Như vậy, quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng, đưa
nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh Quản lý nhà trường là hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời có những nét riêng đặc thù của nó Quản lý nhà trường phải là quản lý toàn diện nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả
1.2.4 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là những hoạt động được tổ chức
ngoài giờ học của các môn học ở trên lớp Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là
sự tiếp nối hoạt động dạy – học trên lớp, là con đường gắn lí thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức với hành động của học sinh
Điều 29 của Điều lệ trường tiểu học: Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao
gồm hoạt động ngoại khoá, hoạt động vui chơi, thể dục thể thao, tham quan du lịch, giao lưu văn hoá; hoạt động bảo vệ môi trường; lao động công ích và các hoạt động
xã hội khác.[3]
Theo Đặng Vũ Hoạt, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là việc tổ chức giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của học sinh về khoa học-kĩ thuật, lao động công
Trang 20ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn hóa văn nghệ, thẩm mĩ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí, v v để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách (đạo đức, năng lực, sở trường) [11]
Như vậy, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là hoạt động giáo dục được tổ
chức ngoài thời gian học tập trên lớp Đây là một trong hai hoạt động giáo dục cơ bản, được thực hiện một cách có tổ chức, có mục đích theo kế hoạch của nhà trường; là hoạt động tiếp nối và thống nhất hữu cơ với hoạt động học tập trên lớp, nhằm góp phần hình thành và phát triển nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo, đáp ứng những yêu cầu đa dạng của xã hội đối với thế hệ trẻ
1.2.5 Quản lí hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp do nhà trường tổ chức và quản lý với
sự tham gia của các lực lượng xã hội Nó được tiến hành tiếp nối hoặc xen kẽ hoạt động dạy học trong nhà trường hoặc trong phạm vi cộng đồng Hoạt động này diễn
ra trong suốt năm học và cả thời gian nghỉ hè để khép kín quá trình giáo dục, làm cho quá trình này được thực hiện mọi nơi, mọi lúc và tác dụng giáo dục được xuyên suốt.[7]
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường TH là một trong hai hoạt động giáo dục cơ bản trong nhà trường có tính giáo dục cao, được thực hiện có mục đích, có kế hoach, có tổ chức, góp phần cùng hoạt động giáo dục trong lớp học củng
cố kiến thức, trau dồi phẩm chất đạo đức, phát huy năng lực sở trường, từng bước hoàn thiện nhân cách cho HS, góp phần phát triển chất lượng giáo dục toàn diện [18]
Như vậy, quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là quá trình tác động
có mục đích của chủ thể quản lý (CBQL) đến tập thể cán bộ GV, nhân viên và HS, được tiến hành ngoài giờ lên lớp, theo kế hoạch cụ thể, chi tiết, nhằm định hướng hoạt động giáo dục đạt mục tiêu, kế hoạch chung của nhà trường Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của CBQL nhà trường thực chất là quản lý mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trên cơ
sở quản lý lập kế hoạch, quản lý chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của cán
Trang 21bộ GV, nhân viên và HS cũng như các điều kiện CSVC môi trường, công tác phối kết hợp của các đoàn thể, lực lượng xã hội, ban ngành địa phương đối với việc thực hiện hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
1.3.Trường tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân
Trường tiểu học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân
có tư cách pháp nhân, có tài khoản hệ thống giáo dục [3]
Nhiệm vụ của trường tiểu học là:
Tổ chức giảng dạy, học tập và hoạt động giáo dục đào tạo theo chương trình giáo dục phổ thông ; Huy động trẻ em đi học đúng độ tuổi, vận động trẻ em khuyết tật, trẻ em đã bỏ học đến trường, trẻ em khuyết tật mù chữ trong cộng đồng; Xây dựng, phát triển nhà trường; Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục; Quản lí cán
bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh; Quản lí, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất,trang thiết bị và tài chính theo; Phối hợp với gia đình, các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực hiện hoạt động giáo dục; Tổ chức cho cán bộ quản lí, giáo viên,nhân viên
và học sinh tham gia các hoạt động xã hội trong cộng đồng
1.3.2 Đặc điểm của học sinh tiểu học
Các em đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên rất thích các trò chơi vận động như chạy, nhảy, nô đùa, Vì vậy mà các nhà giáo dục nên đưa các em vào các trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp và đảm bảo sự an toàn cho trẻ
Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư duy trừu tượng Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố vui trí tuệ, các cuộc thi trí tuệ, Dựa vào cơ sinh lý này mà các nhà giáo dục nên cuốn hút các em với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các em.[14]
Chiều cao mỗi năm tăng thêm khoảng 4 cm; trọng lượng cơ thể mỗi năm tăng khoảng 2kg Nếu trẻ vào lớp 1 đúng 6 tuổi thì có chiều cao khoảng 106 cm (nam) 104 cm (nữ) cân nặng đạt 15,7 kg (nam) và 15,1 kg (nữ)
Trang 22Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thì đến tuổi tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập Tuy nhiên, song song với hoạt động học tập ở các
em còn diễn ra các hoạt động khác như: Hoạt động vui chơi; hoạt động lao động; hoạt động xã hội
Ngoài ra còn có những thay đổi kèm theo như các em luôn cố gắng là một thành viên tích cực trong gia đình, thay đổi về phương pháp, hình thức, thái độ học tập Các em đã bắt đầu tập trung chú ý và có ý thức học tập tốt, các em đã tham gia vào một số các hoạt động xã hội mang tính tập thể
Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích,
có phương hướng rõ ràng
Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát
Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học
Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn Tuy
nhiên, ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và
dễ thay đổi, ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, tưởng
tượng sáng tạo tương đối phát triển trẻ bắt đầu có khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh, Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em
Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu
Trang 23hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ
có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính
và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ
Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định của các em còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định, sự tập trung chú ý của các em còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập
Ở cuối tuổi tiểu học, các em dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic
Giai đoạn lớp 1,2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế
hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu
Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường
Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em
Ở đầu tuổi tiểu học hành vi mà các em thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào yêu cầu của người lớn Đến cuối tuổi tiểu học các em đã có khả năng biến yêu cầu
của người lớn thành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hứng thú nhất thời
Sự phát triển tình cảm của học sinh tiểu học: Tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền với các sự vật hiện tượng sinh động, rực
Trang 24rỡ, Lúc này khả năng kiềm chế cảm xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện cụ thể là trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên
vô tư
Trong quá trình hình thành và phát triển tình cảm của học sinh tiểu học luôn luôn kèm theo sự phát triển năng khiếu: Trẻ nhi đồng có thể xuất hiện các năng khiếu như thơ, ca, hội họa, kĩ thuật, khoa học, khi đó cần phát hiện và bồi dưỡng kịp thời cho trẻ sao cho vẫn đảm bảo kết quả học tập mà không làm thui chột năng khiếu của trẻ
Chính vì thế, việc giáo dục tình cảm cho học sinh tiểu học cần sự khéo léo, tế nhị khi tác động đến các em; nên dẫn dắt các em đi từ hình ảnh trực quan sinh động, hấp dẫn và đặc biệt phải luôn chú ý củng cố tình cảm cho các em thông qua các hoạt động cụ thể như trò chơi nhập vai, đóng các tình huống cụ thể, các hoạt động tập thể
ở trường lớp, khu dân cư,
Sự phát triển nhân cách dần được hình thành, đặc biệt trong môi trường nhà
trường còn mới lạ, các em có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sôi nổi, mạnh dạn Sau 5 năm học, "tính cách học đường" mới dần ổn định và bền vững ở các em
Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, trong quá trình
phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng; nhân cách của các em lúc này còn
mang tính tiềm ẩn, những năng lực, tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt,
nếu có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển; và đặc biệt nhân cách
của các em còn mang tính đang hình thành, việc hình thành nhân cách không thể
diễn ra một sớm một chiều, với học sinh tiểu học còn đang trong quá trình phát triển toàn diện về mọi mặt vì thế mà nhân cách của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình
1.4 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học
1.4.1 Vị trí của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Nhà trường có nhiệm vụ dạy chữ và dạy người Nếu nhà trường chỉ thực
hiện hoạt động dạy - học các bộ môn văn hóa trên lớp thì nhiệm vụ dạy người sẽ
Trang 25không hoàn thành, vì học sinh sẽ thiếu môi trường hoạt động và giao tiếp, hạn chế
về tình huống thực tế, hạn chế về thời gian…các em hầu như không có điều kiện để trải nghiệm những kiến thức đã học vào hoạt động thực tế Vì vậy, việc nhà trường
tổ chức các hoạt động, các mối quan hệ khác nhau vào thời gian ngoài giờ lên lớp là điều kiện quan trọng để hình thành thái độ, rèn luyện hành vi, kĩ năng xã hội cho học sinh Nói cách khác, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có vị trí rất quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ dạy người trong các nhà trường hiện nay Dưới góc độ chỉ đạo chung, vị trí của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp được khẳng định tại điều 27 Điều lệ trường tiểu học là một trong hai hoạt động giáo dục trong nhà trường: - Hoạt động giáo dục trên lớp được tiến hành thông qua các môn bắt buộc và tự chọn… - Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp do nhà trường phối hợp với các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường tổ chức,… Như vậy, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp không phải là hoạt động “phụ”, hoạt động “bề nổi” mà giữ một vị trí rất quan trọng trong các hoạt động giáo dục của các nhà trường Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là cầu nối tạo ra mối liên hệ hai chiều giữa nhà trường và xã hội - Thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nhà trường có điều kiện phát huy vai trò tích cực của mình đối với xã hội , mở ra khả năng thuận lợi để gắn học với hành, nhà trường với xã hội thông qua việc đưa thầy và trò tham gia các hoạt động cộng đồng.[23]
1.4.2 Vai trò của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Theo Nguyễn Dục Quang thì hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có những vai trò sau:
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp giúp học sinh củng cố tri thức đã học ở trên lớp, biến tri thức thành niềm tin Thông qua các hình thức hoạt động cụ thể, học sinh có dịp để đối chiếu, để kiểm nghiệm tri thức đã học, làm cho những tri thức đó trở thành của chính các em
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là sự tiếp nối hoạt động dạy học, do đó tạo nên sự hài hòa, cân đối của quá trình sư phạm tổng thể nhằm hiện thực hóa mục tiêu giáo dục của cấp học
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp vừa củng cố, vừa phát triển quan hệ giao tiếp giữa các lớp trong trường và với cộng đồng xã hội
Trang 26Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp thu hút và phát huy được tiềm năng của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để nâng cao hiệu quả giáo dục học sinh
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp phát huy cao độ tính chủ thể, tính chủ động, tích cực của học sinh Dưới sụ cố vấn, giúp đỡ của giáo viên, học sinh cùng nhau tổ chức các hoạt động tập thể khác nhau trong đời sống hàng ngày ở nhà trường, ngoài xã hội Từ đó giúp hình thành những kinh nghiệm giao tiếp, ứng xử
có văn hóa, giúp cho việc hình thành và phát triển nhân cách ở các em [18]
1.4.3 Mục tiêu của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường Tiểu học nhằm:
- Củng cố và khắc sâu kiến thức của các môn học trên lớp; mở rộng hiểu biết cho học sinh về các lĩnh vực của đời sống cộng đồng, bước đầu hình thành kinh nghiệm hoạt động tập thể của học sinh
- Bước đầu rèn luyện và hình thành cho học sinh các kĩ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi học sinh tiểu học như: kĩ năng giao tiếp ứng xử có văn hóa; kĩ năng tổ chức và tham gia các hoạt động tập thể với tư cách là chủ thể của hoạt động; kĩ năng tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập, rèn luyện; hình thành các hành vi, thói quen tốt trong học tập, lao động tự phục vụ và hoạt động tập thể
- Bồi dưỡng thái độ tự giác tham gia các hoạt động tập thể; hình thành tình cảm chân thành, niềm tin trong sáng với cuộc sống, với quê hương đất nước; có thái
độ đúng đắn đối với các hiện tượng tự nhiên và xã hội
1.4.4 Nhiệm vụ của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở tiểu học là một môn học có nhiệm vụ góp phần củng cố, khắc sâu và phát triển những kiến thức đã học trên lớp qua các hoạt động vui chơi Phát triển sự hiểu biết trong các lĩnh vực đời sống, xã hội, từng bước làm phong phú hơn vốn tri thức của học sinh, tạo nên sự cân đối hài hòa của quá trình giáo dục toàn diện Phát triển ở học sinh các kỹ năng cần thiết, phù hợp với sự phát triển lứa tuổi (kỹ năng giao tiếp, kỹ năng sống, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng hợp tác, và sẵn sàng tham gia các hoạt động của tập thể ) Tạo cho học sinh lòng ham thích, hứng thú trong hoạt động từ đó bồi dưỡng tình cảm yêu trường, yêu lớp, yêu quý thầy cô, bạn bè,
yêu quê hương, đất nước
1.4.5 Nội dung và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Trang 271.4.5.1 Nội dung hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Nội dung hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp rất đa dạng và phong phú, thể hiện tập trung ở các loại hình hoạt động sau đây:
- Hoạt động chính trị - xã hội và nhân văn;
- Hoạt động văn hóa nghệ thuật;
- Hoạt động thể dục thể thao;
- Hoạt động lao động, khoa học, kĩ thuật, hướng nghiệp;
- Hoạt động vui chơi giải trí
1.4.5.2 Một số hình thức tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông rất đa dạng và phong phú, song do những yêu cầu thực tiễn mà hoạt động này được thực hiện chủ yếu thông qua 3 hình thức tổ chức cơ bản (đã được qui định và dành thời gian trong kế hoạch dạy học) sau đây:
(1) Tiết chào cờ đầu tuần;
(2) Tiết hoạt động ngoài giờ lên lớp hàng tuần, tiết hoạt động tập thể lớp cuối tuần;
(3) Hoạt động giáo dục theo chủ điểm hàng tháng
1.4.6 Quy trình tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Theo Đặng Vũ Hoạt, quy trình chung tổ chức một hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh (qui mô lớp hoặc qui mô trường) nên tiến hành theo các bước sau: [11]
Bước 1: Đặt tên chủ đề hoạt động và xác định các yêu cầu giáo dục cần phải đạt được
Trước hết, các nhà giáo dục cần xác định chủ đề của hoạt động, vì chủ đề chứa đựng nội dung hoạt động và định hướng cho việc lựa chọn hình thức hoạt động phù hợp với lứa tuổi và điều kiện cụ thể của nhà trường
Sau khi lựa chọn chủ đề, cần xác định rõ mục tiêu giáo dục để chỉ đạo triển khai hoạt động đúng hướng và có hiệu quả Việc xác định mục tiêu hoạt động phải căn cứ vào các nhiệm vụ của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, chú ý vào 3 yêu cầu giáo dục:
(1) Yêu cầu giáo dục về nhận thức: hoạt động sẽ cung cấp cho học sinh những
Trang 28hiểu biết, những thông tin gì? củng cố hoặc nâng cao những hiểu biết gì cho học sinh?
(2) Yêu cầu giáo dục về thái độ: qua hoạt động sẽ giáo dục học sinh về mặt tình cảm, thái độ gì ? (yêu ghét, hứng thú, tích cực…)
(3) Yêu cầu giáo dục về kĩ năng: qua hoạt động sẽ hình thành ở học sinh những kĩ năng gì ? (kĩ năng giao tiếp, ứng xử; kĩ năng tự phục vụ; kĩ năng tự quản…)
Bước 2: Chuẩn bị cho hoạt động
Sau khi đã xác định chủ đề và mục tiêu hoạt động, hiệu quả của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp phụ thuộc phần lớn vào việc chuẩn bị cho hoạt động, cụ thể là: (1) Vạch kế hoạch bao gồm: dự kiến thời gian chuẩn bị, thời gian tiến hành hoạt động; dự kiến nội dung và hình thức hoạt động; dự kiến những điều kiện về kinh phí, phương tiện hoạt động và cơ sở vât chất cho hoạt động;
(2) Dự kiến những công việc phải chuẩn bị và phân công lực lượng tham gia chuẩn bị Lực lượng tham gia chuẩn bị chủ yếu là học sinh; nhưng trong nhiều hoạt động cần có sự tham gia chuẩn bị của giáo viên bộ môn, cha mẹ học sinh, đòan – đội, các lực lượng ngoài xã hội …;
(3) Xây dựng chương trình thực hiện hoạt động;
(4) Bồi dưỡng đội ngũ cốt cán học sinh về kĩ năng tự quản, kĩ năng điều khiển hoạt động …;
(5) Đôn đốc, kiểm tra việc chuẩn bị Trong quá trình chuẩn bị hoạt động, nhà giáo dục phải khuyến khích và lôi cuốn học sinh tham gia vào các công việc chuẩn
bị, để học sinh là chủ thể tích cực hoạt động
Bước 3: Tiến hành hoạt động
Ở bước này, học sinh sẽ điều khiển hoạt động theo chương trình đã được xây dựng từ trước Nhà giáo dục tham gia như một đại biểu và chỉ xuất hiện khi thật cần thiết để giúp học sinh giải quyết những tình huống bất ngờ trong quá trình hoạt động
Bước 4: Đánh giá kết quả hoạt động và tổ chức rút kinh nghiệm
Việc đánh giá kết quả hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có liên quan tới kết quả giáo dục toàn diện của nhà trường, của lớp; vì vậy, cần phải tổ chức đánh giá kết
Trang 29quả từng hoạt động cũng như đánh giá sau một thời kì (học kì, năm học) để từ đó rút
kinh nghiệm cho việc tổ chức các hoạt động tiếp theo
1.5 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học
1.5.1 Xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Xây dựng kế hoạch là điểm khởi đầu cho một chu trình quản lý khoa học mà người quản lý nào cũng phải thực hiện Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cũng bắt đầu từ việc lập kế hoạch Kế hoạch hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là trình tự những nội dung hoạt động, các hình thức tổ chức hoạt động được bố
trí sắp xếp theo thứ tự thời gian của năm học
Ngay đầu năm học CBQL chỉ đạo các tổ ban, đoàn thể trong nhà trường lập
kế hoạch hoạt động năm học, có kế hoạch hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Trong đó kế hoạch của ban chỉ đạo hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, kế hoạch của các tổ chuyên môn, tổ chủ nhiệm, tổ văn phòng, kế hoạch của các đoàn thể như: Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Đội thiếu niên
Trên cơ sở kế hoạch chung của nhà trường, các tổ ban, các đoàn thể lập kế hoạch năm, kế hoạch tháng, kế hoạch tuần Kế hoạch của nhà trường cũng như kế hoạch các tổ ban, đoàn thể được hội đồng trường, hội đồng sư phạm thảo luận, góp
ý và hoàn chỉnh trong hội nghị viên chức đầu năm học
Yêu cầu kế hoạch hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp phải được xây dựng phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường, của địa phương, đáp ứng nhiệm vụ
trọng tâm của năm học
Trong kế hoạch cần chọn lọc các hoạt động phù hợp, xác định chủ điểm cho từng thời gian Phải có kế hoạch và lịch hoạt động cho toàn trường và từng khối lớp, cho từng thời điểm Cần phân công kế hoạch cụ thể cho các tiểu ban phụ trách triển khai kế hoạch hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Có kế hoạch tuyên truyền cho cán bộ GV, cha mẹ HS HS nhận thức đúng đắn về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Xây dựng kế hoạch tham gia tập huấn hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp do phòng GD&ĐT, sở GD&ĐT chỉ đạo Xây dựng kế hoạch triển khai huấn luyện kỹ
Trang 30năng tổ chức hoạt động tập thể cho cán sự lớp và GV chủ nhiệm Xây dựng kế hoạch kiểm tra, đánh giá rút kinh nghiệm hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Xây dựng kế hoạch tham dự một số hoạt động hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Xây dựng kế hoạch sử dụng kinh phí trang thiết bị cho hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Kế hoạch phối kết hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường như: Chi bộ Đảng; Đoàn Thanh niên, Đội thiếu niên, PHHS, chính quyền địa phương…
1.5.2 Tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Tổ chức thực hiện kế hoạch là sự xếp đặt những hoạt động, những con người một cách khoa học, hợp lý, phối hợp các bộ phận để tạo ra tác động tích hợp Người CBQL phải thông báo kế hoạch, chương trình hành động đến các thành viên trong nhà trường sao cho mỗi thành viên hiểu và thực hiện đúng kế hoạch, phải quy định đúng chức năng, quyền hạn cho từng thành viên và phải tính đến năng lực, hiệu quả cho từng hoạt động, xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận và các thành viên liên quan
Trong quá trình quản lý nhà trường nói chung và quản lý việc tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nói riêng thì người CBQL trong nhà trường phải tổ chức, phân công thực hiện nhiệm vụ là rất quan trọng, nó quyết định đến thành bại của công tác quản lý nhà trường Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, người CBQL cần xây dựng mối quan hệ giữa BGH với Đoàn Thanh niên nhà trường, với đội ngũ GV chủ nhiệm, GV bộ môn, cha mẹ HS và các lực lượng giáo dục ở địa phương cho phù hợp CBQL cần phải tổ chức, bố trí sắp xếp cán bộ GV một cách hợp lý, đúng người đúng việc sao cho mỗi cá nhân phát huy hết khả năng
và tính sáng tạo của mình Cần phân cấp rõ ràng tạo ra quyền hạn và ý thức trách nhiệm của những lực lượng tham gia giúp cho CBQL hoàn thành nhiệm vụ
Để tổ chức thực hiện tốt hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, thì nhà trường TH phải thành lập Ban chỉ đạo hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, phân công nhiệm vụ cho đội ngũ GV chủ nhiệm, GV bộ môn, các đơn vị trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Nhiệm vụ của Ban chỉ đạo hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là giúp GV chủ nhiệm trong việc lập kế hoạch hoạt động theo
Trang 31tháng, tuần và chỉ đạo thực hiện chương trình, kế hoạch đó Tổ chức những hoạt động lớn, quy mô trường và thực hiện sự phối hợp chặt chẽ với các tổ chức đoàn thể
và các lực lượng giáo dục khác ngoài nhà trường Tổ chức hướng dẫn GV chủ nhiệm, Đoàn Thanh niên , Đội thiếu niên, giáo viên các môn học tiến hành hoạt động ở đơn vị mình có hiệu quả Ngoài ra, nhà trường cần tranh thủ sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương, của cha mẹ phụ huynh HS các tổ chức quần chúng vào các hoạt động trên của HS Chú trọng công tác tổ chức các phong trào thi đua trong nhà trường, tổ chức sơ, tổng kết, rút kinh nghiệm từng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho HS
1.5.3 Chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Chỉ đạo là những hành động xác lập quyền chỉ huy và sự can thiệp của người lãnh đạo trong toàn bộ quá trình quản lý, là huy động mọi nguồn lực vào việc thực hiện kế hoạch và điều hành nhằm đảm bảo cho việc thực hiện có hiệu quả kế hoạch Điều hành các tổ chức, bộ phận và cá nhân để đảm bảo cho mọi hoạt động diễn ra đúng như kế hoạch đã đề ra Nội dung chủ yếu của chức năng này là lãnh đạo, chỉ huy để đạt được mục tiêu mong muốn, thường xuyên theo dõi, giám sát để kịp thời
ra những quyết định đúng đắn
Chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong trường TH là công việc của người CBQL nhằm tiến hành chỉ huy ra lệnh làm cho các bộ phận trong nhà trường cũng như các hoạt động diễn ra thuận lợi theo đúng chương trình
và nội dung hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, từ đó đạt được mục tiêu mong muốn Đồng thời người CBQL cần động viên khuyến khích thường xuyên, kịp thời bằng những lời khen, những câu khích lệ khi họ gặp khó khăn, có sự khen thưởng vật chất, theo dõi đánh giá, uốn nắn kịp thời nhằm thực hiện kế hoạch
Sau công tác tổ chức thực hiện thì người CBQL cần chỉ đạo các hoạt động theo chủ điểm Thường được tiến hành qua các phong trào thi đua kế tiếp nhau, khép kín các hoạt động ngoài giờ lên lớp trong suốt năm học Tuy nhiên, có tập trung cao điểm vào những ngày lễ kỷ niệm lớn Chính vì thế, việc chỉ đạo hoạt động
Trang 32này cần được thực hiện theo hướng xây dựng chuẩn mực, đánh giá chung cho cả đợt thi đua và theo dõi đánh giá tính điểm trong từng giai đoạn và cả đợt
Chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cần phải lưu ý việc yêu cầu GV cải tiến nội dung, phương pháp hoạt động cho phù hợp với tâm lý, đáp ứng nhu cầu nguyện vọng của HS Đổi mới hình thức hoạt động để HS hứng thú, tự nguyện tham gia Phát huy tính tích cực chủ động của HS, xây dựng đội ngũ cán bộ
tự quản của HS, phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của Đoàn Thanh niên, Đội thiếu niên trong việc tham gia hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bên cạnh đó cần có những động viên mọi thành viên tham gia Có sự phối hợp với gia đình, các lực lượng ngoài nhà trường để phát huy những thế mạnh của
họ Xây dựng quỹ hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Chuẩn bị tốt cơ sở vật chất
để tiến hành các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp như: sân bãi, loa đài, dụng cụ thể thao, nhạc cụ
Nội dung chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp chủ yếu gồm: Hướng dẫn GV xây dựng kế hoạch, triển khai kế hoạch hoạt động, liên kết nội dung hoạt động trong và ngoài nhà trường Chỉ đạo việc tổ chức hoạt động đội cờ
đỏ và lực lượng tự quản Tiến hành theo dõi việc thực hiện nền nếp của HS;
- Chỉ đạo GV chủ nhiệm, Đoàn, Đội báo cáo tình hình HĐGDNGLL của HS hàng tuần, tháng;
1.5.4 Kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Kiểm tra, đánh giá là khâu không thể thiếu của người quản lý, tất cả các hoạt động giáo dục khi tổ chức thực hiện người CBQL phải kiểm tra để đánh giá chất lượng, hiệu quả giáo dục, rút ra ưu điểm, nhược điểm để điều chỉnh, tổ chức hoạt
động nhằm đạt hiệu quả như mong muốn
CBQL kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp qua việc thực hiện kế hoạch của các bộ phận của lớp học và kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục thông qua hoạt động giáo dục của HS Kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của CBQL bao gồm: kiểm tra việc thực hiện hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và kiểm tra việc tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục về quyền trẻ em, giáo dục phòng chống ma túy và các tệ nạn xã hội, giáo dục môi trường, giáo dục an
Trang 33toàn giao thông, những hoạt động giáo dục phục vụ chính trị xã hội của địa phương, đất nước vào một số môn học ở trên lớp
Qua việc CBQL tham dự một số hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của các khối lớp, theo dõi tiến trình hoạt động theo chủ điểm hàng tháng, việc sinh hoạt lớp cuối tuần, tổ chức chào cờ đầu tuần, kiểm tra hồ sơ cá nhân, các sổ biên bản chi đội, liên đội, biên bản sinh hoạt tổ chuyên môn, kiểm tra các sản phẩm của HS như: Báo tường, đồ dùng học tập tự làm, tranh vẽ hoặc có thể CBQL dạo một vòng quanh trường dừng lại vài phút trò chuyện cùng HS đó là những kênh thông tin để CBQL kiểm tra công việc xây dựng kế hoạch của các bộ phận trong nhà trường Qua đó CBQL chỉ ra những mặt đã làm được, những mặt chưa làm được, những nguyên nhân chủ quan, khách quan, so sánh hiệu quả đạt được so với yêu cầu, mục tiêu của hoạt hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đa dạng và phong phú không có chuẩn chung cho mỗi hoạt động trên chủ điểm, CBQL phải chỉ đạo các tổ ban, các bộ phận xây dựng tiêu chí để đánh giá kết quả giáo dục của mỗi hoạt động, căn cứ vào mục đích, yêu cầu của mỗi hoạt động để xây dựng chuẩn đánh giá, làm cơ sở cho việc
kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm, điều chỉnh kịp thời
Nội dung của quản lý việc kiểm tra, đánh giá HĐGDNGLL trong các trường
TH bao gồm: Kiểm tra việc xây dựng việc thực hiện kế hoạch, Xây dựng tiêu chí đánh giá , kiểm tra hồ sơ, sổ sách của GV, HS Đánh giá kết qủa thông qua việc tham dự một số hoạt động, dự một số tiết sinh hoạt cuối tuần, kiểm tra sản phẩm hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của HS, kiểm tra việc phối hợp các lực lượng, kiểm tra việc sử dụng trang thiết bị, kinh phí phục vụ hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho HS tiểu học
1.6.1 Yếu tố khách quan
Thời đại ngày nay, như là sự mở đầu của một kỷ nguyên mới Kỷ nguyên mới này được đặc trưng cuộc cách mạng thông tin và nó kéo theo bao đổi thay trong mọi
Trang 34mặt hoạt động của xã hội và con người đặc biệt là luôn phải đổi mới tư duy, nhất là
tư duy kinh tế, tư duy giáo dục Thời đại mới mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng nhiều thách thức Đảng ta đã chỉ ra rằng, phải đấu tranh, hợp tác để tồn tại và phát triển Muốn vậy, chúng ta cần một chiến lược phát triển đất nước mà chiến lược phát triển con người Việt Nam là một bộ phận- phần cốt lõi, quyết định sự thành bại của toàn
bộ chiến lược chung của đất nước đi vào thế kỷ XXI
Giáo dục Việt Nam cần có những chuyển hướng mạnh mẽ vừa phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc đồng thời phù hợp với xu thế phát triển của thể giới nhằm tạo ra con người phát triển toàn diện đáp ứng sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Một
số định hướng đổi mới giáo dục hiện nay như:
- Giáo dục tập trung phát triển, khai thác nguồn nhân lực của mỗi con người nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục
- Đổi mới phải tạo cơ hội phát huy tối đa vai trò chủ thể giáo dục (người học)
- Khai thác tối đa tiềm năng xã hội, xây dựng môi trường giáo dục xã hội lành mạnh
- Đổi mới tổng thể, toàn diện, đồng bộ các yếu tố (dạy học, giáo dục)
Với định hướng đổi mới giáo dục Việt Nam, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp phải được đổi mới, được quan tâm đầu tư thích đáng, có như vậy hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp mới phát huy tác dụng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đáp ứng yêu cầu thới đại mới Để phù hợp với xu thế giáo dục thế giới, giáo dục phổ thông phải đổi mới căn bản và toàn diện về: mục tiêu, nội dung, phương pháp, kiểm tra, đánh giá
Đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình theo chuẩn hóa, tiếp cận với trình
độ tiến tiến của khu vực và thế giới, đồng thời thích ứng với nhu cầu nguồn nhân lực cho các lĩnh vực kinh tế-xã hội của đất nước, của từng vùng và từng địa phương, thực hiện nguyên lý học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp giáo dục gia đình và giáo dục xã hội Chú trọng giáo dục thể chất và bồi dưỡng nhân cách của người học Hiện đại hóa trang thiết bị giảng dạy và học
Trang 35tập, phòng thí nghiệm, cơ sở thực hành Nhanh chóng áp dụng công nghệ thông tin vào giáo dục để đổi mới phương pháp giáo dục và quản lý
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là một trong những con đường để thực hiện giáo dục toàn diện đáp ứng với mục tiêu đổi mới giáo dục phổ thông nói chung và giáo dục TH nói riêng đồng thời hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cũng là con đường để gắn lý thuyết với thực hành, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội Do vậy, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đã trở thành hoạt động bắt buộc đối với các trường TH
CSVC, trang thiết bị dạy học là một phần không thể thiếu trong quá trình quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường THPT CSVC và thiết bị dạy học là yếu tố tác động trực tiếp đến quá trình quản lý giáo dục, góp phần quyết định đến chất chất lượng giáo dục trong nhà trường Việc khai thác, sử dụng đồ dùng, trang thiết bị, không gian và kĩ thuật phục vụ cho hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
có tác dụng rất quan trọng trong việc rèn luyện kỹ năng cho HS Trong bối cảnh và sức ảnh hưởng của công nghệ thông tin và truyền thông thì sự hiện đại của CSVC
và thiết bị có ý nghĩa và tác động to lớn tới hiệu quả hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lên lớp, làm cho hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp diễn ra thuận lợi, quản lý hoạt động này cũng hiện đại và khoa học hơn
1.6.2 Yếu tố chủ quan
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nó được diễn ra trong và ngoài nhà trường, để thực hiện chương trình hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đạt hiệu quả thì nhận thức của lực lượng giáo dục có ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình tổ chức Lực lượng giáo dục bao gồm: các đoàn thể, tổ chức xã hội trong và ngoài nhà trường, phụ huynh, GV, GBQL
Trong quá trình tổ chức để thực hiện chương trình, người tổ chức và chủ thể
HS có mối quan hệ hợp tác, tác động qua lại với nhau Người tổ chức không những phải là người có uy tín, có năng lực cố vấn, điều hành mà còn phải có nhận thức đúng và am hiểu về lĩnh vực mình tổ chức
Trang 36Nhận thức của các lực lượng giáo dục nó sẽ trở thành yếu tố tích cực thúc đẩy việc xác định mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức phù hợp mang lại hiệu quả giáo dục Ngược lại nếu nhận thức của các lực lượng giáo dục không đúng nó sẽ dẫn tới việc xác định mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức sai lầm hay việc thực hiện qua loa, hình thức, hiệu quả giáo dục thấp
Năng lực của người thực hiện chương trình là yếu tố quan trọng cho thành công của mỗi hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Đú chính là năng lực thực hiện của GV và HS hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đa dạng và phong phú với nhiều chủ đề khác nhau và luôn ở trạng thái động từ nội dung đến hình thức, do đó đòi hỏi người thực hiện phải có năng lực đặc trưng: hiểu biết nhiều lĩnh vực, năng lực thiết kế bài giảng (lựa chọn nội dung, hình thức, phương pháp), tìm kiếm các biện pháp thực hiện chương trình, năng lực tổ chức các hoạt động, tiếp cận và huy động các lực lượng giáo dục cùng tham gia, khả năng diễn đạt tốt, năng động, sáng tạo luôn có ý thức tìm kiếm cái mới
Với đặc trưng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là các giờ học “lồng ghép”, “tích hợp” nên đòi hỏi người thực hiện ngoài việc thực hiện đúng chương trình còn phải biết vận dụng linh hoạt kiến thức của nhiều môn học để tạo cho tiết
HS động, phong phú cuốn hút các thành viên Muốn làm được điều đó người thực hiện cần phải có năng lực, kinh nghiệm và uy tín
Tính tích cực và chủ động của HS có tác động rất lớn tới việc thực hiện chương trình hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Chủ thể HS vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của hoạt động do vậy họ cần có sự hiểu biết về chương trình hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, năng lực tổ chức, kinh nghiệm, uy tín đối với tập thể và đặc biệt là tính tích cực của HS HS-chủ thể của hoạt động có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thực hiện chương trình hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Nếu bản thân chủ thể nhận thức không đúng, tham gia chương trình một cách thụ động,
gò bó và mang tính hình thức Do vậy, để thực hiện chương trình đạt hiệu quả cao nhất cần giúp HS nhận thức rõ mục tiêu của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là mục tiêu phát triển con người từ đó các em phát triển được kiến thức, kỹ năng, thái
độ và hoàn thiện nhân cách của mình
Trang 37Kết luận chương 1
Trong chương này đã hệ thống được các vấn đề lí luận, làm rõ được các khái niệm liên quan đến hoạt động và quản lí HĐGDNGLL Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là hoạt động giáo dục có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức được thực hiện trong các hoạt động thực tiễn về khoa học - kỹ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, văn hóa nghệ thuật, hoạt động thể thao, vui chơi giải trí,…được thực hiện ngoài giờ lên lớp, nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách HS
Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến tập thể cán bộ GV, nhân viên và HS, được tiến hành ngoài giờ lên lớp, theo kế hoạch cụ thể, chi tiết, nhằm định hướng hoạt động giáo dục đạt mục tiêu, kế hoạch chung của nhà trường Thực chất đó là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Hoạt động GDNGLL chịu ảnh hưởng của định hướng phát triển giáo dục, của chương trình giáo dục, của điều kinh tế văn hóa, giáo dục địa phương, điều kiện
cơ sở vật chất của nhà trường, trình độ nhận thức và khả năng tổ chức hoạt động của các lực lượng giáo dục, sự tích cực chủ động của học sinh
Trang 38CHƯ NG 2 THỰC TRẠNG Q ẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO HỌC SINH TIỂ HỌC TRONG CÁC TRƯỜNG TIỂ HỌC VÀ
TR NG HỌC C S H ỆN ÊN BÌNH , TỈNH ÊN BÁI
2.1 Khái quát về giáo dục huyện ên Bình, tỉnh ên Bái
Yên bình là một huyện miền núi của tỉnh Yên Bái Giáo dục Yên Bình có 4
trường tiểu học, 4 trường THCS độc lập và 23 trường liên cấp Tiểu học và trung học cơ sở, theo đề án sắp xếp quy mô mạng lưới trường lớp học của tỉnh Yên Bái từ năm 2016 tiến hành sáp nhập phần lớp trường tiểu học và trường THCS thành trường tiểu học và THCS Các trường liên cấp còn đang ở trạng thái cần ổn định tổ chức và ổn định các hoạt động, số học sinh tiểu học là 9962 số học sinh THCS là
6963 trong đó phần lớn số học sinh tiểu học và THCS là học sinh thuộc các trường liên cấp
Trong những năm gần đây quy mô học sinh tăng lên, số lượng học sinh bỏ học giảm đi, việc giảng dạy học tập dần đi vào nề nếp, Giáo dục của Yên Bình nhiều năm liền được đánh giá xếp thứ hai về kết quả và chất lượng của tỉnh
Phòng Giáo dục và Đào tạo Yên Bình đang tích cực tham mưu cho lãnh đạo huyện Yên Bình và sở GD&ĐT Yên Bái về việc phổ cập giáo dục tiểu học và THCS, công tác xóa mù chữ, việc huy động trẻ ra lớp đúng độ tuổi, việc thực hiện chính sách với đội ngũ nhà giáo, việc sắp xếp và phát triển quy mô trường lớp, việc đảm bảo các điều kiện cho dạy và học, việc tuyển dụng và sử dụng công chức, viên chức
2.2 Tình hình giáo dục tiểu học huyện Yên Bình
2.2.1 Quy mô trường, lớp và học sinh tiểu học huyện Yên Bình
Trang 39Bảng 2.1 Quy mô trường, lớp, học sinh cấp tiểu học
h Số lớp
Số
HS
Học sinh
DT thiể
u số
Học sinh khu yết tật
Học
2 buổi/
ngày
Học 7-8 buổi/
tuần)
Học 5-6 buổi/tuần ) Côn
g lập
Số lớp
Số lớ
p
Số
HS
Số lớ
p
Số
HS
1 Tiểu học Kim Đồng
1
15 517
64
3
15
2
Tiểu học Nguyễn Viết Xuân
1
20 640
88
2
20
3 Tiểu học xã Bảo Ái
1
27 724
510
7
21
4 Tiểu học Yên Thành
1
20 579
567
6
10
5 TH&THCS xã Tân Nguyên
1
18 524
414
7
4
6 TH&THCS Cảm Ân
1
12 352
180
3
12
7 TH&THCS Mông Sơn
1
15 465
56
1
3
8 TH&THCS Tân Hương
1
23 500
339
4
5
9 TH&THCS Đại Đồng
1
10 203
22
7
10
11 TH&THCS Văn Lãng
1
17
5
3
12 TH&THCS Thịnh Hưng
1
10 239
18
2
10
13 TH&THCS Đại Minh
1
18
6
10
14 TH&THCS Hán Đà
1
10 322
14
1
10
Trang 4015 TH&THCS TT Thác Bà
1
13 399
38
3
13
16 TH&THCS Yên Bình
1
11 301
152
8
7
17 TH&THCS Bạch Hà
1
13 354
262
1
13
18 TH&THCS Vĩnh Kiên
1
14 437
264
12
1
3
20 TH&THCS Phúc An
1
11 343
267
1
6
21 TH&THCS Xuân Lai
1
12 306
288
3
2
1
23 TH&THCS Cảm Nhân
1
529
15
18
24 TH&THCS Tích Cốc
1
190
6
1
240
3
(Nguồn: Phòng GD&ĐT Yên Bình, tháng 6/2018)
Số liệu trong bảng 2.1 cho thấy Huyện Yên Bình có 04 trường tiểu học độc lập, 23 trường liên cấp TH&THCS, với 354 lớp, 9962 học sinh (trong đó có 113 học sinh khuyết tật học hòa nhập Dạy học 2 buổi /ngày có 286 lớp (đạt 80,79%), 7096 học sinh (đạt 76,14%), trong đó có: 7580 học sinh được tổ chức nấu ăn tại trường có thuê người nấu ăn; Tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 100%