Đề cương ôn tập môn Triết học Mác – Lênin giúp bạn nắm được nội dung định nghĩa vật chất của V.I. Lênin, ý nghĩa khoa học của nó; nguồn gốc, bản chất, vai trò của ý thức, ý nghĩa của nó; mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, ý nghĩa phương pháp luận;...Mời bạn cùng tham khảo.
Trang 1CÂU HỎI ÔN TẬP TRIẾT HỌC
(THI GIỮA KỲ)
1 Trình bày khái quát và đánh giá các hình thức lịch sử cơ bản của chủ nghĩa duy
vật: 21b Anh chị hãy trình bày những đặc trưng cơ bản của tri thức triết học Mối quan
hệ của triết ho
môn khoa học khác 6
2 Trình bày khái quát và đánh giá các hình thức lịch sử của phép biện chứng 8
4 Triết học Mác - Lênin trong thời đại ngày nay 33
3 Anh chị hãy trình bày những chức năng cơ bản của triết học và vai trò của triết
học đối với
hội 36
4 Anh chị hãy trình bày những đặc trưng cơ bản của triết học Phương Đông cổ -
trung đại và nêu l
ảnh hưởng của nó đối với xã hội Việt Nam giai đoạn hiện nay 39
5 Anh chị hãy trình bày quan điểm về “nhân-quả” của triết học Phật giáo trong
8 Anh chị hãy trình bày quan điểm “chính danh” của triết học Nho gia và nêu lên
một số ảnh hưở
Trang 2đối với đời sống xã hội Việt Nam hiện nay 56
9 Anh chị hãy trình bày quan điểm của mình về thuyết “Chính danh” của Nho gia
59
10 Anh chị hãy trình bày nội dung về “lễ” trong “ngũ thường” của Nho gia và ảnh
hưởng của nó
sống xã hội Việt Nam giai đoạn hiện tại 63
11 Anh chị hãy trình bày nội dung cơ bản về “lễ” trong “ngũ thường” của Nho gia
và quan điểm c
về vai trò của “lễ” đối với đời sống xã hội 66
12 Anh chị hãy trình bày đặc trưng cơ bản của triết học phương Tây cổ đại và nêu
lên một số ản
nó đối với sự phát triển của khoa học Phương Tây .hiện nay 71
13 Anh chị hãy trình bày đặc trưng cơ bản của triết học thời phục hưng và ảnh
hưởng của nó đ
triển của xã hội Tây Âu từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX 72Câu 13b: Trình bày những tiền đề ra đời của triết học Mác-Lênin 7414.Anh chị hãy trình bày ảnh hưởng của triết học Hêghen đối với sự ra đời
của triếthọc77Mác
15.Anh chị hãy trình bày ảnh hưởng của triết học Phoiơbác đối với sự ra
đời củatriếthọc80 Ma
16.Anh chị hãy trình bày ảnh hưởng của triết học Hêghen và Phoiơbác đối với sự
ra đời 83của tri
17.Anh chị hãy trình bày ảnh hưởng của những thành tựu của khoa học tự nhiên
thế kỷ thứ XI
ra đời của triết học Mác 87
18 Anh chị hãy trình bày những đặc trưng cơ bản của tri thức triết học Mối quan
hệ của triết ho
môn khoa học khác 89
Trang 319.Anh chị hãy trình bày những đặc điểm chủ yếu của lịch sử tư tưởng
triết họcViệtNam91
20 Triết học có ý nghĩa gì đối với cuộc sống và học tập, công tác của bạn ?
21 Tại sao đến nay thế kỷ XXI vẫn còn đấu tranh giữa CNDV & CNDT ?
Trang 41 Trình bày khái quát và đánh giá các hình thứ c lị ch sử cơ bả n củ a chủ nghĩa duy vật:
Cũng như tất cả các ngành khoa học khác, chủ nghĩa duy vật triết học đã có quá trình rađời và phát triển qua các giai đoạn khác nhau mà biểu hiện tập trung nhất của nó là việc giảiquyết vấn đề cơ bản của triết học theo lập trường duy vật - mối quan hệ giữa vật chất và ýthức Với việc giải quyết theo lập trường duy vật biện chứng mối quan hệ giữa vật chất và ýthức, chủ nghĩa duy vật đã được nâng lên một tầm cao mới về chất, đặt nền tảng thế giớiquan khoa học để giải quyết tất cả những vấn đề của nhận thức khoa học và hoạt động thựctiễn
Từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản của triết học Phạm trù vật chất vàmối liên hệ giữa vật chất và ý thức đã được các nhà triết học trước Mác quan tâm với nhiềuquan điểm khác nhau và luôn diển ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩaduy vật trong suốt lịch sử của triết học
Quan điểm Mácxit cho rằng chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất.Thế giới vật chất tồn tại khách quan có trước và độc lập với ý thức con người
-Theo Lênin "Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lạicho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh vàtồn tại không lệ thuộc vào cảm giác"
Ý thức: là một thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao của bộ não người, là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người
Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức:
Vật chất quyết định sự hình thành và phát triển của ý thức Vật chất là cái có trước nó sinh
Sự tác động trở lại của ý thức:
Trang 5Y thức do vật chất sinh ra và quy định nhưng ý thức lại có tính độc lập tương đối của nó.Hơn nữa sự phản ánh của ý thức đối với vật chất là sự phản ánh tinh thần, phản ánh sáng tạo
và chủ động chứ không thụ động, máy móc, nguyên xi thế giới vật chất vì vậy nó có tác độngtrở lại đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người
Dựa trên các tri thức về quy luật khách quan, con người đề ra mục tiêu, phương hướng,xác định phương pháp, dùng ý chí để thực hiện mục tiêu ấy Vì vậy ý thức tác động trực tiếpđến vật chất theo hai hướng chủ yếu: Nếu ý thức phản ánh đúng đắn điều kiện vật chất, hoàncảnh khách quan thì sẽ thúc đẩy hoặc tạo sự thuận lợi cho sự phát triển của đặc trưng vậtchất Ngược lại nếu ý thức phản ánh sai lệch hiện thực sẽ làm cho hoạt động của con ngườikhông phù hợp với qluật khách quan do đó sẽ kìm hãm sự ptriển của vật chất
Tuy vậy sự tác động của ý thức đối với vật chất cũng chỉ với một mức độ nhất định chứ nókhông thể sinh ra hay tiêu diệt các quy luật vận động của vật chất được Và suy cho cùng dùở mức độ nào nó vẫn phải dựa trên cơ sở sự phản ánh thế giới vật chất
Biểu hiện của mối quan hệ giữa ý thức và vật chất trong đời sống xã hội là quan hệ tồn tạixã hội và ý thức xã hội trong đó tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội đồng thời ý thức xãhội có tính độc lập tương đối và tác động trở lại tồn tại xã hội Ngoài ra, mối quan hệ giữa vậtchất và ý thức còn là
Trang 6cơ sở để nghiên cứu, xem xét các mối quan hệ khác như: lý luận và thực tiễn, khách thể vàchủ thể, vấn đề chân lý
* Từ mối quan hệ này ta đánh giá và rút ra được Quan điểm khách quan như sau:
Nguyên tắc khách quan trong xem xét là hệ quả tất yếu của quan điểm DVBC về mối quanhệ giữa vật chất và ý thức Vật chất quyết định ý thức là sự phản ánh vật chất cho nên trongnhận thức và hành động phải đảm bảo tính khách quan, trong hoạt động thực tiễn phải luônluôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo các quy luật khách quan
Nguyên tắc này đòi hỏi chúng ta trong nhận thức và hành động phải xuất phát từ bản thânSVHT, từ thực tế khách quan, không được xuất phát từ ý thức chủ quan, không lấy ý muốnchủ quan của mình làm chính sách, không lấy ý chí áp đặt thực tế Nắm vững nguyên tắckhách quan đòi hỏi phải tôn trọng sự thật, tránh thái độ chủ quan, nóng vội, định kiến, khôngtrung thực
Nói như vậy không có nghĩa là quan điểm khách quan coi nhẹ tính năng động của ý thức.Quan điểm khách quan không những không loại trừ mà còn đòi hỏi phát huy tính năng động
và sáng tạo của ý thức trong quá trình phản ánh sự vật Bởi vì quá trình đạt tới tính kháchquan đòi hỏi chủ thể phải phát huy tính năng động chủ quan trong việc tìm ra những conđường, những biện pháp để từng bước thâm nhập sâu vào bản chất của sự vật Điều đó phânbiệt quan điểm khách quan với chủ nghĩa khách quan Nguyên tắc khách quan có ý nghĩangăn ngừa tư duy khỏi những sai lầm do việc chủ thể nhận thức đưa vào sự vật (khách thểnhận thức) một số yếu tố chủ quan vốn không có trong bản thân sự vật Tuân theo quan điểmkhách quan góp phần ngăn ngừa bệnh chủ quan, duy ý chí
Yêu cầu của nguyên tắc khách quan đòi hỏi phải tôn trọng quy luật khách quan và hànhđộng theo quy luật khách quan
Từ những cơ sở lý luận trên chúng ta nhận thấy Bệnh chủ quan duy ý chí trong quá trình xây dựng CNXH thời kỳ trước đổi mới:
Bệnh chủ quan duy ý chí là một sai lầm khá phổ biến ở nước ta và ở nhiều nước XHCNtrước đây, gây tác hại nghiêm trọng đối với sự nghiệp xây dựng CNXH
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vo bộ ĩc nguời một cách sáng tạo, l ci thực tạichủ quan tồn tại ở trong óc người dưới dạng hình ảnh tinh thần của sự vật khch quan Vì vậynếu cường điệu tính sáng tạo của ý thức sẽ rơi vào bệnh chủ quan, duy ý chí Bệnh chủ quanduy ý chí là khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò của nhân tố chủ quan, cường điệu tính sángtạo của ý thức, của ý chí, xa thời hiện thực khách quan, bất chấp quy luật khách quan lấynhiệt tình Cách mạng thay cho sự yếu kém về tri thức khoa học
Trang 7Sai lầm của bệnh chủ quan, duy ý chí là lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạytheo nguyện vọng chủ quan, sai lầm đó thể hiện rõ trong khi định ra chủ trương chính sách vàlựa chọn phương pháp tổ chức hoạt động thực tiễn theo hướng áp đặt, rơi vào ảo tưởng, chủquan.
Bệnh chủ quan duy ý chí có nguồn gốc từ nhận thức, sự yếu kém về tri thức khoa học, trithức lý luận không đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn Bệnh chủ quan duy ý chí còn donguồn gốc lịch sử, xã hội, giai cấp, tâm lý của người sản xuất nhỏ chi phối Cơ chế quan liêubao cấp cũng tạo điều kiện cho sự ra đời của bệnh chủ quan, duy ý chí
Trước thời kỳ đổi mới (ĐH6), Đảng ta đã mắc bệnh chủ quan, duy ý chí trong việc xâydựng mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất kỷ thuật, cải tạo XHCN và quản lý kinhtế, Đảng ta đã nóng vội muốn xóa bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần, muốn sau khi cảitạo XHCN chỉ còn lại hai thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể hay có lúc đẩy mạnh quámức việc xây dựng công nghiệp nặng mà không chú ý phát triển công nghiệp nhẹ, chúng tađã duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung bao cấp mang tính quan liêu, cơ chế xincho, có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả, tiền lương, tiền tệ
Trang 8Để khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí, phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp Trước hếtphải đổi mới tư duy lý luận, nâng cao năng lực trí tuệ, trình độ lý luận của Đảng, trong hoạtđộng thực tiễn phải tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan Phải đổi mới cơ chếquản lý kinh tế, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chí trị, chống bảothủ, trì trệ, quan liêu.
Bài học kinh nghiệm của Đảng:
Trong quá trình xác định đường lối Cách mạng và chỉ đạo thực tiễn Đảng Cộng Sản ViệtNam luôn luôn quán triệt mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức Đảng cộng sảnViệt Nam "luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự dẫn đầu đúng đắncủa Đảng" là một bài học kinh nghiệm lớn rút ra từ thực tiễn Cách mạng nước ta Đó chính làbiểu hiện coi quan điểm vật chất, các quy luật khách quan có vai trò quyết định được ý thứcđối với nhận thức
Đảng ta thừa nhận đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan,muốn nhanh chống thực hiện nhiều mục tiêu của CNXH trong điều kiện mới ở chặng đườngđầu tiên Chúng ta đã có những thành kiến không đúng trên thực tế chưa thật sự thừa nhậnnhững quy luật của sản xuất hàng hóa đang tồn tại khách quan (quy luật cung cầu, cạnhtranh, giá trị) do đó không chú ý vận dụng chúng vào việc chế định các chủ trương chínhsách kinh tế làm cho nền kinh tế trì trệ, khủng hoảng trầm trọng
Để khắc phục được khuyết điểm, chuyển biến tình hình, Đảng ta trước hết phải thay đổinhận thức, đổi mới tư duy Phải nhận thức đúng đắn và hành động phù hợp với hệ thống quyluật khách quan, trong đó các quy luật đặc thù của CNXH ngày càng chi phối mạnh mẽphương hướng phát triển chung của xã hội
Tiêu chuẩn đánh giá sự vận dụng đúng đắn các quy luật thông qua chủ trương chính sáchcủa Đảng và Nhà nước là sản xuất phát triển, lưu thông thông suốt, đời sống vật chất và tinhthần của nhân dân từng bước được ổn định và nâng cao, con người mới XHCN ngày cànghình thành rõ nét, xã hội ngày càng lành mạnh, chế độ XHCN ngày càng được cũng cố Điềuđó là điều kiện đảm bảo sự dẫn dắt đúng đắn của Đảng Mọi chủ trương chính sách gây tácđộng ngược lại là biểu hiện sự vận dụng không đúng quy luật khách quan, phải được sữa đổihay bãi bỏ
Trên cơ sở quán triệt mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, rút kinh nghiệm từnhững sai lầm do chủ quan duy ý chí, từ Đại hội VI của Đảng (1986) Đảng đã chỉ rõ bài họckinh nghiệm và đề ra phương hướng, biện pháp khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí và bệnhbảo thủ, trì trệ nhằm từng bước sửa chữa những sai lầm Những phương hướng biện pháp đólà:
- Một là phải tiến hành đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để với những hình thức, bước
đi, cách làm phù hợp, trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm mà trước hết là đổi mới tư
Trang 9duy kinh tế, nâng cao trình độ tri thức, năng lực nhận thức và vận dụng quy luật cho đội ngũcán bộ Đảng viên Đây là cuộc cách mạng triệt để, sâu sắc và đồng bộ trên tất cả các lĩnh vựccủa đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…), từ đổi mới quan niệm, tư duy lýluận đến đổi mới cơ chế chính sách, tổ chức cán bộ, phong cách và lề lối làm việc.
Để đảm bảo sự lãnh đạo thành công trong công cuộc đổi mới này thì Văn kiện Đại hộiĐảng lần VI đã xác định: “Đảng phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theoquy luật là điều kiện đảm bảo sự dẫn đầu của Đảng Năng lực nhận thức theo quy luật là điềukiện đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng” Trên cơ sở hiểu rõ mối quan hệ biện chứnggiữa kinh tế và tình hình chính trị, ổn định xã hội, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổimới về tập trung trước hết vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới kinh tế, khắc phụckhủng hoảng KT-XH, tạo tiền đề cần thiết về vật chất và tinh thần để giữ vững ổn định chínhtrị, xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân, tạo thuận lợi để đổi mới các mặt khác củađời sống XH Bên cạnh đó, với quan điểm tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan,trong các chủ trương, chính sách kinh tế từ sau Đại hội Đảng
lần VI đến nay đã có nhiều chuyển biến tích cực Cụ thể như: Đại hội VI xác định xây dựng
quan hệ Lớp M12CQDT01-N Page 4
Trang 10sản xuất mới xã hội chủ nghĩa là một công việc to lớn, không thể làm xong trong một thờigian ngắn, không thể nóng vội làm trái quy luật Văn kiện Đại hội xác định: "Nay phải sửa lạicho đúng như sau: Đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ thường xuyên, liên tụctrong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với những hình thức và bước đi thích hợp, làmcho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, luôn có tácdụng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất" Đại hội cũng phát hiện một vấn đề lớncó tính lý luận, hoàn toàn mới mẻ: " Kinh nghiệm thực tiễn chỉ rõ: lực lượng sản xuất bị kìmhãm không chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất pháttriển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất" Trên cơ sở đó, Đại hội xác định: "Nền kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng củathời kỳ quá độ".Trong cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư, tôn trọng nguyên tắc quan hệ SXphải phù hợp với lực lượng SX, Đại hội VI đã xác định phải điều chỉnh lại các cơ cấu nàytheo hướng "không bố trí xây dựng công nghiệp nặng vượt quá điều kiện và khả năng thựctế", tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện ba chương trình mục tiêu: sản xuất lươngthực-thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu Đây là những chươngtrình chẳng những đáp ứng được nhu cầu bức xúc nhất lúc bấy giờ mà còn là điều kiện thúcđẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa, là cái gốc tạo ra sphẩm hàng hóa
- Hai là trong điều kiện ngày nay khi thế giới đang đi vào nền kinh tế tri thức thì chúng ta phải “nâng cao hàm lượng tri thức trong các nhân tố phát triển KTXH, từng bước phát triển
kinh tế tri thức ở nước ta”(VKĐH IX) và VKĐH X tiếp tục phát triển tư tưởng đó trong điềukiện đất nuớc ta đã hội nhập với cộng đồng quốc tế và nhấn mạnh phải: “phát triển kinh tế trithức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước” Đây là biện pháp nhằm khắc phục nguyên nhân sâu xa của bệnh chủ quan duy
ý chí và bệnh bảo thủ là sự yếu kém về lý luận, lạc hậu về trình độ, tri thức KH công nghệ.Văn kiện ĐH Đảng lần VIII đã nhấn mạnh: “phải lấy việc phát huy nguồn lực con người làmyếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” Để thực hiện được điều đó, Đảng tacũng đã đề ra phương hướng trong VK ĐH X là “phát huy tối đa khả năng về vật chất, trí tuệ
và tinh thần của mọi người dân”, đặc biệt phải chú ý: “trọng dụng nhân tài, các nhà khoa họcđầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân có taynghề cao Có chính sách thu hút các nhà khoa học, công nghệ giỏi ở trong nước và ngòainước, trong cộng đồng người VN ở nước ngòai”
Để đảm bảo công cuộc đổi mới đi đúng hướng và ngày càng đạt kết quả cao, Đảng ta đẽ đề
ra biện pháp: “nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng…”(VKĐH X), đồngthời phải: “tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của Đảng, của dân tộc, nêu cao tinh thầnyêu nước, ý chí tự cường, ra sức thi đua thực hiện thắng lợi nghị quyết của ĐH, sớm đưanuớc ta ra khỏi tình trạng kém phát triển và tiến mạnh trên con đường công nghiệp hóa, hiệnđại hóa vì mục tiêu dân giàu, nuớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Từ những kinh nghiệm thời gian qua, tại Đại hội XI của Đảng (tháng 1-2011), Đảng
ta đã rút ra những bài học kinh nghiệm sau:
- Một là, trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Đổi mới toàn diện,đồng bộ với những bước đi thích hợp Tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế phải gắn
Trang 11với chú trọng xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, giữ vững truyền thống và bản sắc văn hoádân tộc Mở rộng, phát huy dân chủ phải gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương và ý thứctrách nhiệm của mỗi công dân, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và cả cộng đồng.
- Hai là, phải thực sự coi trọng chất lượng, hiệu quả tăng trưởng và phát triển bền vững, nâng cao chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế, đồng thời duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý,
giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô Tăng cường huy động các nguồn lực trong và ngoài nước, sửdụng tiết kiệm và hiệu quả các nguồn lực để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế Phát triểnlực lượng sản xuất phải đồng
Trang 12thời xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp; củng cố và tăng cường các yếu tố bảo
đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế
- Ba là, phải coi trọng việc kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân, nhất là đối với người nghèo, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là trong tình hìnhkinh tế khó khăn, suy giảm; gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, củng cố quốcphòng, an ninh, tăng cường quan hệ đối ngoại, thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược xâydựng và bảo vệ Tổ quốc
- Bốn là, đặc biệt chăm lo củng cố, xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức Thật sự phát huy dân chủ, giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương, đoàn kết thống nhất, gắn
bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhândân để xây dựng Đảng Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vững vàng về chính trị, tưtưởng, trong sáng về đạo đức, lối sống, có sức chiến đấu cao, thành thạo về chuyên môn,nghiệp vụ; phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, tính tích cực, chủ động, sángtạo của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân
- Năm là, trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo phải rất nhạy bén, kiên quyết, sáng tạo, bám sát thực tiễn đất nước; chú trọng công tác dự báo, kịp thời đề ra các giải pháp phù hợp với
tình hình mới; tăng cường công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận cao, phát huy sức mạnhcủa cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội
Trên đây là phần trình bày khái quát và đánh giá các hình thức lịch sử cơ bản của Chủnghĩa duy vật gắn liền với tình hình KT-XH thực tiễn của Việt Nam thời gian qua
1b Anh chi ̣hãy trình bày như ̃ng̣đăc ưtr ngơc ban̉ cuả tri th ức triết hoc̣ Mối quan hệ c triết hoc̣ vơ ́i các môn khoa hoc̣ khác
Hiện nay, vấn đề tri thức đang được quan tâm nghiên cứu sâu sắc cả về phương diện triếthọc lẫn nhận thức khoa học nói chung Điều đó không chỉ do yêu cầu của kinh tế tri thức, màcòn do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin.Trong nghiên cứu tri thức, một khía cạnh nổi lên, đó là xác định bản chất tri thức hay địnhnghĩa khái niệm tri thức
Tri thức là một thành phần của nhận thức, của toàn bộ đời sống tinh thần, ý thức con ngườinói chung Tri thức liên quan đến mọi tồn tại, hoạt động của con người, xã hội và có những
cơ sở tự nhiên nhất định của nó Mỗi đặc trưng của tri thức sẽ được vạch ra dựa trên mộthoặc những quan điểm xem xét nhất định, trong đó có quan điểm cơ bản, làm nền tảng củatoàn bộ sự xem xét Việc chỉ ra những đặc trưng của tri thức dưới đây sẽ mang nội dung và ýnghĩa như vậy Phải thấy ngay rằng việc nhận thức bản chất của tri thức sẽ trở nên hỗn độn,khó xác định, nếu trước hết không thừa nhận tri thức là một dạng thái nhất định của tinh thần,
là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan” Một trong những luận điểm tiêu biểu củatriết học Mác về ý thức: “ý niệm chẳng qua chỉ là vật chất được di chuyển vào trong đầu óccon người và được cải biến đi ở trong đó” Luận điểm đó thể hiện rõ quan điểm duy vật khoa
Trang 13học về ý thức, cho thấy rõ ý thức là sự phản ánh hiện thực vật chất khách quan vào bộ ócngười Do đó, tri thức với tư cách thành phần của nhận thức và của ý thức, tất nhiên cũngđược xem là cái phản ánh, cái tồn tại trong bộ óc người - chủ thể tri thức, phân biệt, đối lậpvới cái được phản ánh là hiện thực vật chất khách quan Như vậy, tri thức là cái tinh thần, là
“hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan” Với tư cách là cái tinh thần, tri thức phản ánhcác đối tượng vật chất không phải bằng cách tái hiện đối tượng đó bằng những đặc tính vậtchất như những phản ánh vô cơ, vật lý, mà bằng những đặc tính tự nhiên - xã hội tổng hợp,đặc trưng cho hoạt động và chức năng phản ánh của bộ não người
Tri thức là hình thức cao nhất của sự tiến hoá các hình thức phản ánh Cùng với việc hiểutri thức theo quan điểm phản ánh luận duy vật mácxít, thì việc hiểu nó với tư cách một hìnhthức của sự tiến hoá của các hình thức phản ánh, lại là một góc nhìn khác, góc nhìn tiến hoáluận về tri thức
Trang 14Tri thức là kết quả của nhận thức Việc xem xét tri thức theo quan điểm phản ánh luậnkhông tách rời tiếp cận tri thức theo quan điểm hoạt động Nhận thức của con người dù dướibất kỳ hình thức nào với mức độ nào, cũng đều là quá trình hoạt động Theo cơ cấu chung,thì hoạt động nào cũng có yếu tố cuối cùng mang ý nghĩa “khép lại” một chu trình, đó là sảnphẩm hay kết quả của nó Không thể đồng nhất kết quả với quá trình tạo ra nó trong bất kỳhoạt động nào của con người Thí dụ, việc người ta đặt ra câu hỏi: “Trái đất có hình gì?”,việc người ta đi tìm câu trả lời cho câu hỏi đó và việc người ta đưa ra được câu trả lời rằng
“Trái đất hình cầu”, rõ ràng là hai thành tố khác nhau của hoạt động nhận thức Cái sau là kếtquả và cái trước là quá trình đạt đến cái sau Tất nhiên, trong quá trình đi đến kết luận “Tráiđất hình cầu”, người ta phải vận dụng nhiều tri thức khác như những hiểu biết (tri thức) về
“trái”, “đất”, “trái đất”, về “hình”, “cầu” và “hình cầu” v.v Những tri thức này cấu thànhquá trình nhận thức, sáng tạo ra những tri thức mới, giúp người ta hiểu ra điều là “Trái đấthình cầu” Nhưng những tri thức ấy khi tách riêng ra, chúng vẫn là kết quả của những quátrình nhận thức đã diễn ra trước đó, còn trong quá trình nhận thức để đạt đến tri thức mới(nhận ra “Trái đất hình cầu”), chúng là những yếu tố cấu thành quá trình ấy, là phương tiện,chứ không phải mục đích
Tri thức với tư cách là thông tin Quan niệm tri thức, sự phản ánh ở giới tự nhiên hữu sinhnói chung, là thông tin Như mọi vật mang thông tin, bộ não con người mang, lưu giữ tri thứckhông phải để cố định chúng trong trạng thái đã xong xuôi, kết thúc, hoặc thậm chí trongtrạng thái chết, mà là để chuẩn bị, đem lại, cung cấp cho những yêu cầu, hoạt động mới củacon người Chỉ với ý nghĩa ấy, tri thức mới tồn tại với nghĩa là thông tin và cũng chỉ nhờ vậy,bộ óc con người mới trở thành vật mang thông tin là tri thức Tuy nhiên, với tư cách là thôngtin, tri thức khác với những hình thức thông tin tinh thần, vật chất khác Tri thức không đemlại những thông tin về các cảm xúc, ý chí, niềm tin và khát vọng của con người Mặt khác,những xúc cảm của con người cũng là những thông tin, nhưng chúng không trực tiếp đem lạitri thức Tuy vậy, thông tin tri thức và thông tin tình cảm không tách rời nhau Thí dụ, nhìnthấy một người gặp cảnh ngộ bi đát, đau thương, chúng ta cũng cảm thấy đau đớn Nhưng trithức không đem lại chính sự đau đớn ấy, mà chỉ cho chúng ta biết những “dấu hiệu” của sựđau thương, như sự buồn bã trên nét mặt, sự quằn quại, kêu rên… của người có cảnh ngộ ấy.Còn sự đau đớn của chúng ta không bắt nguồn chủ yếu từ sự nhận ra những dấu hiệu ấy, mà
là từ chính cái tình cảnh của đối tượng mà những dấu hiệu nói trên đã đụng chạm đến và làmrung động cái lương năng bên trong của chúng ta Thông tin - tri thức là thông tin sống, cókhả năng sinh sôi không ngừng Một mặt, nó không ngừng được nạp thêm, làm đầy thêm vềkhối lượng, loại hình, dung lượng từ môi trường; mặt khác, không ngừng truyền vào môitrường Trong cả hai quá trình ấy, thông tin tri thức vẫn có thể vừa là sự nạp thêm, vừa là sựmất đi, vừa cung cấp và vừa sửa chữa, điều chỉnh Đây là quá trình đặc biệt của thông tin trithức
Tri thức là sự biểu hiện, khẳng định bản chất con người Đây là sự tiếp cận con người, tiếpcận văn hóa về tri thức Vì thế, câu hỏi trước tiên phải được đặt ra và giải đáp là: “Con người
là gì?” Sự giải đáp là toàn bộ những luận giải về tri thức phù hợp với nhận thức khoa học
Mối quan hệ của triết học với các môn khoa học khác:
Trang 15Triết học là một hình thái ý thức xã hội; là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của conngười về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.
Với quan niệm đó, triết học cổ đại không có đối tượng nghiên cứu riêng của mình, màđược xem là"khoa học của mọi khoa học"
Quan niệm macxit cho rằng:"Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội, là họcthuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức, của thái độ con người đốivới thế giới; là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy"
Sự hình thành, phát triển của triết học không thể tách rời sự phát triển của khoa ho khái quát cácthành tựu của khoa học cụ thể Tuy nhiên, triết học cụ thể, nó là thế phương pháp luận cho khoahọc cụ thể, nó là thế giới quan và phương pháp luận cho kh
Trang 16thể, là cơ sở lý luận cho các khoa học cụ thể trong việc đánh giá các thành tựu đã đạt vạch ra phương hướng, phương pháp cho quá trình nghiên cứu khoa học cụ thể Khác với các học cụ thể chỉ đi vào nghiên cứu từng lĩnh vực riêng biệt của thế giới, triết học xem xét thế giới như một chỉnh thể và đem lại một hệ thống các quan niệm về chỉnh thể đó Triết học là sự diễn tả thế giới quan bằng lý luận Mặc dù có sự khác nhau giữa các hệ thống triết học, nhưng điểm chung của chúng là đều nghiên cứu những vấn đề chung nhất của tự nhiên, xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy nói riêng với thế giới.
Trong lịch sử triết học, chủ nghĩa duy vật đóng vai trò tích cực đối với sự phát triển ngượclại chủ nghĩa duy tâm thường được sử dụng làm công cụ biện hộ cho tôn giáo và học pháttriển Sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng luôn gắn liền với các thàn học hiện đại, làsự khái quát các thành tựu khoa học đồng thời nó đóng vai trò to lớn hình phát triển của khoahọc hiện đại Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng không th các khoa học khác Theo yêucầu của sự phát triển đòi hỏi phải có sự liên minh chặt c học với các khoa học khác
Như vậy, có thể kết luận:
- Kết luận của các khoa học là những tư liệu để từ đó triết học rút ra những kết luậ
- Những kết luận chung nhất của triết học quay lại phục vụ cho các khoa học cụ thể định hướng để các khoa học cụ thể có thể đạt được kết quả tối ưu
2 Trình bày khái quát và đánh giá các hình thứ c lị ch sử củ a phép biệ n chứng
Ngay từ rất sớm trong triết học xuất hiện hai phương pháp đối lập nhau trong việc xem xét thế
giới: Phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình
Trong thời kỳ cổ đại, phép biện chứng chất phác, ngây thơ, mà đỉnh cao của nó làphép biện chứng cổ đại Hy Lạp, chiếm vị trí ưu trội Theo quan điểm biện chứng đó, thếgiới là một chỉnh thể thống nhất; giữa các bộ phận của nó có mối liên hệ qua lại, thâmnhập vào nhau, tác động và ảnh hưởng lẫn nhau; thế giới và các bộ phận cấu thành thếgiới ấy không ngừng vận động và phát triển
Trang 17học duy vật của trường phái Milê tuy còn mộc mạc, thô sơ nhưng có ý nghĩa vô thầnchống lại thế giới quan thần thoại đương thời và đã chứa đựng những yếu tố biện chứngchất phác.
Trường phái Hêraclít: Trường phái duy vật đơn nguyên do Hêraclít xây dựng, thể hiện rõ các tư tưởng biện chứng chất phác thời cổ Hi Lạp thông qua các phỏng đoán
thiên tài về quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Dù chưa trình bày cácquan niệm biện chứng như một hệ thống, nhưng hầu hết các luận điểm cốt lõi của phépbiện chứng đều đã được ông đề cập đến dưới dạng danh ngôn, tỷ dụ, hay những phátbiểu mang tính chất triết lý sâu sắc Phép biện chứng duy vật chất phác là đóng góp củatriết học Hêraclít vào kho tàng tư tưởng của nhân loại
Trường phái đa nguyên Empêđốc - Anaxago: Để lý giải tính đa dạng của vạn vật trong thế giới theo tinh thần duy vật, Empêđốc và Anaxago cố vượt qua quan niệm đơn
nguyên sơ khai của trường phái Milê và trường phái Hêraclít, xây dựng quan niệm đanguyên về bản chất của thế giới vật chất đa dạng
Trường phái nguyên tử luận Lơxíp - Đêmôcrít: Trường phái này là đỉnh cao của triết học duy vật Hi Lạp cổ đại trong giai đoạn cực thịnh với các đại biểu Lơxíp,
Đêmôcrít; trong đó, Lơxíp là
người đầu tiên nêu lên các quan niệm về nguyên tử, Đêmôcrít là người phát triển cácquan niệm này thành một hệ thống chặt chẽ và có sức thuyết phục Mặc dù vẫn cònnhiều hạn chế nhưng với những thành tựu đạt được, Đêmôcrít đã nâng chủ nghĩa duyvật Hi Lạp lên đỉnh cao, làm cho nó đủ sức đương đầu chống lại các trào lưu duy tâmđang thịnh hành bấy giờ, mà trước hết là trào lưu duy tâm nổi tiếng của Platon Sangthời kỳ suy tàn của triết học Hi Lạp cổ đại (Hi Lạp hóa) Êpicua (Epicure) đã củng cố vàbảo vệ và phát triển thêm học thuyết nguyên tử…
Ta nhận thấy rằng triết học thời này có những đặc điểm sau:
- Một là, triết học Hy Lạp cổ đại thể hiện thế giới quan, ý thức hệ và phương pháp luận của giai cấp chủ nô thống trị Nó là công cụ lý luận để giai cấp này duy trì trật tự xã hội, củng
cố vai trò thống trị của mình
- Hai là, trong nền triết học Hy Lạp cổ đại có sự phân chia và đối lập rõ ràng giữa các trào lưu, trường phái duy vật - duy tâm, vô thần - hữu thần và gắn liền với cuộc đấu tranh chính
Trang 18trị - tư tưởng; trong đó, điển hình là cuộc đấu tranh giữa trào lưu duy vật của Đêmôcrít vàtrào lưu duy tâm của Platông…
- Ba là, trong nền triết học Hy Lạp cổ đại đã xuất hiện phép biện chứng chất phác Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại là “những nhà biện chứng bẩm sinh” Họ nghiên cứu và sử dụng phép
biện chứng để nâng cao nghệ thuật hùng biện, để bảo vệ quan điểm triết học của mình, để tìm
ra chân lý Họ đã phát hiện ra nhiều yếu tố của phép biện chứng, nhưng chưa trình bày chúngnhư một hệ thống lý luận chặt chẽ
- Bốn là, triết học Hy Lạp cổ đại gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau nhằm xây dựng bức tranh về thế giới như một hình ảnh
chỉnh thể thống nhất mọi sự vật, hiện tượng xảy ra trong nó Do trình độ tư duy lý luận cònthấp, nên khoa học tự nhiên chưa đạt tới trình độ mổ xẻ, phân tích tự nhiên để đi sâu vào bảnchất sự vật, mà nó mới nghiên cứu tự nhiên trong tổng thể để dựng nên bức tranh tổng quátvề thế giới Vì vậy, các nhà triết học đồng thời là các nhà khoa học tự nhiên, họ quan sát trựctiếp các hiện tượng tự nhiên để rút ra những kết luận triết học
- Năm là, triết học Hy Lạp coi trọng vấn đề con người Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về con người, cố lí giải vấn đề quan hệ giữa linh hồn và
thể xác, về đời sống đạo đức - chính trị - xã hội của họ Dù còn có nhiều bất đồng, song nhìnchung các triết gia đều khẳng định con người là tinh hoa cao quí nhất của tạo hóa
Đánh giá mặt tích cực và sự hạn chế của quan điểm biện chứng chất phác thời cổ đại,Ph.Ăngghen cho rằng trong quan điểm đó, chúng ta thấy một bức tranh về sự chằng chịt vôtận của những mối liên hệ và những sự tác động qua lại, sự vận động và phát triển, nhưngchưa làm rõ được cái gì đang liên hệ cũng như những quy luật nội tại của sự vận động vàphát triển
Nhằm khắc phục những hạn chế trên đây, để đáp ứng nhu cầu hoạt động thực tiễn của conngười và cũng nhờ sự tiến bộ của nhận thức, con người đã tiến hành nghiên cứu các bộ phậnkhác nhau của thế giới Trong quá trình nghiên cứu, người ta tạm thời không chú ý tới mốiliên hệ giữa khách thể đang nghiên cứu với các khách thể khác cũng như với thế giới nóichung, tạm thời cố định sự vật ở trạng thái hiện có mà không xem xét nó trong quá trình vậnđộng và phát triển Nhờ vậy tri thức con người về các bộ phận riêng rẽ của thế giới trongtrạng thái tĩnh tại của chúng ngày càng trở nên sâu sắc hơn Trước những thành quả to lớntrong việc nhận thức các bộ phận cấu thành thế giới do việc áp dụng phương pháp phân tíchmang lại, một số nhà triết học đã tuyệt đối hóa phương pháp phân tích, và xem đó là phươngpháp duy nhất để nhận thức thế giới Từ đó ra đời phương pháp tư duy siêu hình - mộtphương pháp mang “tính hạn chế đặc thù của những thế kỷ gần đây”
Từ giữa thế kỷ XVIII trở đi, khoa học tự nhiên chuyển dần trọng tâm sang việc nghiên cứucác quá trình trong sự liên hệ, vận động và phát triển của chúng Những thành quả do khoahọc tự nhiên mang lại đã chứng minh rằng, tự bản thân thế giới tồn tại một cách biện chứng.Quan điểm siêu hình
Trang 19bị chính khoa học tự nhiên làm mất đi cơ sở tồn tại của nó Nhưng việc phủ định quan điểmsiêu hình lúc này dẫn đến tới việc xác lập vị trí ưu trội của phép biện chứng duy tâm kháchquan mà định cao là ở triết học Hêghen.
Nhà triết học Ph.Hêghen, bộ óc bách khoa toàn thư vĩ đại nhất trong lịch sử triết học củanhân loại đã xây dựng hệ thống triết học duy tâm khách quan biện chứng nổi tiếng TrongHiện tượng luận tinh thần, ông nêu lên những nền tảng của một triết học mới, qua tác phẩmnày Hêghen đã thoát ra khỏi sự ràng buộc mình với tư tưởng của Senlinh; Còn trong Báchkhoa toàn thư các khoa học triết học, ông trình bày một cách chi tiết toàn bộ nội dung Hệthống triết học mới của mình
Theo Hêghen, giới tự nhiên và xã hội loài người chỉ là sự tồn tại khác của “ý niệm”, do sựtha hóa của ý niệm mà thành Ý niệm nằm trong quá trình vận động và phát triển khôngngừng Việc nghiên cứu tính biện chứng của ý niệm đã dẫn Hêghen đến chỗ đưa ra một hệthống các khái niệm, các phạm trù và các quy luật cơ bản của phép biện chứng Đây thực sự
là công lao lớn của Hêghen Song do bị chi phối bởi chủ nghĩa duy tâm khách quan, Hêghenđã rút ra kết luận hoàn toàn sai lầm: Biện chứng của ý niệm quy định tính biện chứng của cácsự vật và hiện tượng
Theo Hêghen: Hiện tượng luận tinh thần với 4 nền tảng của triết học mới
Một là, thừa nhận tồn tại ý niệm tuyệt đối: Theo Hêghen, ý niệm tuyệt đối chứ không phảicái Tuyệt đối (Senlinh) là nền tảng của hiện thực Ý niệm tuyệt đối là sự hợp nhất giữa thựcthể - giới tự nhiên (Xpinôda) và cái Tôi tuyệt đối (Phíchtơ), là sự đồng nhất giữa tư duy vàtồn tại, giữa tinh thần và vật chất, là Đấng tối cao sáng tạo ra giới tự nhiên, con người và lịch
sử nhân loại Con người chỉ là một sản phẩm của quá trình vận động phát triển tự thân của ýniệm tuyệt đối Hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới của con người, tức lịch sử nhân loạichỉ là giai đoạn phát triển cao của ý niệm tuyệt đối, là công cụ để nó nhận thức chính bảnthân mình và quay trở về với chính mình Theo Hêghen, tư duy lôgích chứ không phải trựcgiác nghệ thuật (Senlinh) là hình thức thể hiện cao nhất của ý niệm tuyệt đối
Hai là, thừa nhận sự phát triển của ý niệm tuyệt đối: Phát triển được Hêghen hiểu như mộtchuỗi các hành động phủ định biện chứng, trong đó, cái mới liên tục thay thế cái cũ, nhưngđồng thời kế thừa những yếu tố hợp lý của cái cũ Quá trình phát triển của ý niệm tuyệt đốidiễn ra theo tam đoạn thức “chính đề - phản đề - hợp đề” Đó cũng là quá trình phát sinh vàgiải quyết mâu thuẫn giữa cái vật chất và cái tinh thần, giữa khách thể và chủ thể trong bảnthân ý niệm tuyệt đối
Ba là, thừa nhận ý thức con người là sản phẩm của lịch sử: Hêghen coi lịch sử là hiện thâncủa ý niệm tuyệt đối, là đỉnh cao của sự phát triển ý niệm tuyệt đối trên trần gian Lịch sửnhân loại có được nhờ vào hoạt động có ý thức của những cá nhân cụ thể, nhưng nó lại là nềntảng quy định ý thức của mỗi cá nhân Ý thức cá nhân chỉ là sự khái quát, sự “đi tắt” toàn bộlịch sử mà ý thức nhân loại đã trải qua Ý thức nhân loại là sự tái hiện lại toàn bộ tiến trìnhcủa lịch sử nhân loại, là sản phẩm của lịch sử, là hiện thân của ý niệm tuyệt đối
Trang 20Bốn là, triết học là học thuyết về ý niệm tuyệt đối: Hêghen thừa nhận có 3 hình thức thểhiện ý niệm tuyệt đối trên trần gian là nghệ thuật, tôn giáo và triết học, trong đó, triết học làhình thức thể hiện cao nhất, trọn vẹn và đầy đủ nhất ý niệm tuyệt đối Theo Hêghen, triết học
là khoa học của mọi khoa học, là khoa học vạn năng đóng vai trò nền tảng cho toàn bộ thếgiới quan và tư tưởng con người Nhưng mỗi thời đại lại có một học thuyết triết học của riêngmình Học thuyết này là tinh hoa tinh thần của thời đại đó, là thời đại được thể hiện dướidạng tư tưởng Mỗi hệ thống triết học của một thời đại nào đó đều là sự chắt lọc, kết tinh,khái quát lại toàn bộ lịch sử tư tưởng trước đó, đặc biệt là tư tưởng triết học Triết học và lịch
sử triết học thống nhất với nhau như là sự thống nhất giữa cái lôgích và cái lịch sử; vì vậy,triết học phải bao trùm toàn bộ lịch sử phát triển của ý niệm tuyệt đối Theo quan điểm nàythì triết học Hêghen, - khoa học về ý niệm tuyệt đối -, được chia thành 3 bộ phận là khoa họclôgích, triết học tự nhiên, triết học tinh thần; ứng với 3 giai đoạn phát triển của ý
niệm tuyệt đối là ý niệm tuyệt đối trong chính nó, ý niệm tuyệt đối trong sự tồn tại khác củanó (tự tha hóa), ý niệm tuyệt đối khắc phục sự tự tha hóa quay về với no
Khoa học lôgích: Là tác phẩm quan trọng nhất của Hệ thống triết học Hêghen, Khoa họclôgích nghiên cứu ý niệm tuyệt đối ở giai đoạn sơ khai, nhưng lại là xuất phát điểm của hệthống Khi vạch ra những hạn chế của lôgích học cũ là chỉ nghiên cứu tư duy chủ quan trongphạm vi ý thức cá nhân mà không chỉ ra được ranh giới giữa lôgích học với các ngành khoahọc khác cùng nghiên cứu tư duy, là chỉ dựa trên những phạm trù bất động, tách rời hình thức
ra khỏi nội dung của nó , Hêghen khởi thảo một lôgích học mới giúp vạch ra bản chất đíchthực của tư duy, và đóng vai trò như một phương pháp luận triết học làm cơ sở cho mọi khoahọc
Triết học tự nhiên: Đây là học thuyết về giới tự nhiên với tính cách là một dạng tồn tạikhác của ý niệm tuyệt đối dưới dạng các sự vật vật chất Hêghen không giải thích ý niệmtuyệt đối chuyển từ chính nó sang giới tự nhiên như thế nào và khi nào, mà chỉ nói rằng ýniệm tuyệt đối tồn tại bên ngoài thời gian, và giới tự nhiên cũng không có khởi đầu trong thờigian Hêghen cho rằng, quá trình hình thành giới tự nhiên từ ý niệm tuyệt đối đồng thời cũng
là quá trình ý niệm tuyệt đối ngày càng biểu hiện ra thành giới tự nhiên Thế giới đã được tạo
ra, hiện đang được tạo ra và sẽ vĩnh viễn được tạo ra
Triết học tinh thần: Trong tác phẩm này, Hêghen xem xét ý niệm tuyệt đối ở giai đoạn cuốicùng trên con đường diễu hành nơi trần gian, từ bỏ giới tự nhiên, khắc phục sự tha hóa, quayvề lại chính mình như thế nào
Nhận xét chung về Hệ thống triết học Hêghen
Một là, thế giới quan duy tâm là thế giới quan xuyên suốt toàn bộ nội dung triết họcHêghen: Mọi sự vật, quá trình dù là vật chất hay tinh thần đều là hiện thân của ý niệm tuyệtđối Ý niệm tuyệt đối chi phối mọi sự sinh thành, tồn tại và tiêu vong của hết thảy mọi cáitrong thế giới Vật chất, giới tự nhiên chỉ là sự tự tha hóa, một sự tồn tại khác, một sản phẩm
sơ cứng bất động của ý niệm tuyệt đối mà thôi Đề cao cái tinh thần, khẳng định tính quyết
Trang 21định của nó trong việc đưa ra các phương thức giải quyết cho các vấn đề thuộc về lý luậncũng như thực tiễn là tư tưởng chủ đạo được trình bày trong toàn bộ nội dung triết họcHêghen.
Hai là, phép biện chứng là linh hồn sống động của hệ thống triết học Hêghen: Tư tưởng vềmối liên hệ phổ biến (mọi cái đều là hiện thân, là các giai đoạn khác nhau nhưng liên hệ lẫnnhau của ý niệm tuyệt đối) và tư tưởng về sự phát triển (quá trình phủ định biện chứng của ýniệm tuyệt đối) là những tư tưởng cơ bản xuyên suốt, là mạch suối ngầm thấm chảy qua toànbộ hệ thống của Hêghen
Phát triển là một quá trình thay đổi từ thấp lên cao, bằng cách chuyển hóa qua lại giữalượng và chất, do sự giải quyết những mâu thuẫn nội tại trong các hình thức cụ thể của ýniệm tuyệt đối tạo nên Trên cơ sở mổ xẻ quá trình tự vận động của ý niệm tuyệt đối, Hêghenđã phát hiện ra các quy luật cơ bản của phép biện chứng và các quy luật không cơ bản - cáccặp phạm trù
Hêghen còn xây dựng các nguyên tắc của lôgích biện chứng, các quan điểm biện chứng vềnhận thức, ông đã đặt nền móng cho sự thống nhất giữa phép biện chứng, lôgích học và nhậnthức luận Theo Hêghen, nhận thức phải đi từ trừu tượng đến cụ thể, nhận thức lý thuyết phảithống nhất với hoạt động thực tiễn Chân lý phải mang tính cụ thể, tính quá trình và là sự phùhợp của khái niệm với thực tiễn Tuy nhiên, đối với Hêghen, nhận thức là khám phá ra ýniệm tuyệt đối chứ không phải khám phá ra giới tự nhiên vật chất; và thực tiễn không phải làhoạt động vật chất mà chỉ là những hoạt động tinh thần của chủ thể sáng tạo ra tư tưởng màthôi
Phép biện chứng của Hêghen không chỉ là lý luận biện chứng về sự phát triển của thế giới
ý niệm, mà còn là phương pháp biện chứng nghiên cứu thế giới ý niệm Thông qua phép biệnchứng của ý niệm, Hêghen đã đoán được phép biện chứng của sự vật, vì vậy, nó là phép biệnchứng duy tâm
Phép biện chứng của Hêghen, về thực chất, là tích cực và cách mạng, nhưng nó lại bị giamhãm trong hệ thống triết học duy tâm thần bí của ông; vì vậy, trong triết học của Hêghen, bêncạnh những nội dung biện chứng, tiến bộ, vạch thời đại, khoa học và cách mạng lại có khôngít quan điểm siêu hình, phản động, phản khoa học và bảo thủ, tư biện; nghĩa là trong nó chứađựng nhiều mâu thuẫn
+ Hêghen đã phủ nhận sự phát triển trong giới tự nhiên, ông bất chấp hay phủ nhận nhiều thành tựu của khoa học tự nhiên bấy giờ nếu chúng không dung hợp với ý niệm tuyệt đối.+ Hêghen coi nhà nước Đức, văn minh Đức là đỉnh cao của hiện thân tinh thần tuyệt đối trên trần gian, là chuẩn mực cuối cùng mà mọi dân tộc trên thế giới phải vươn đến
+ Hêghen coi, trong triết học Đức - triết học Hêghen, ý niệm tuyệt đối đã khám phá rachính mình từ cái không phải là mình để quay về với mình; do đó, tại đây, mọi sự phát triểntiếp tục đều chấm dứt…
Trang 22Dù có nhiều hạn chế không nhỏ nhưng thành tựu mà triết học Hêghen mang lại - phép biệnchứng tư duy là một cống hiến vĩ đại cho kho tàng tư tưởng của nhân loại Triết học Hêghen
là một cội nguồn của triết học Mác Cứu lấy phép biện chứng, giải phóng hạt nhân biệnchứng ra khỏi lớp vỏ duy tâm thần bí của Hệ thống Hêghen là một yêu cầu cấp bách của triếthọc mà sau này Mác đã thực hiện Khi cải tạo phép biện chứng duy tâm Hêghen theo tinhthần duy vật của triết học Phoiơbắc, Mác đã xây dựng phép biện chứng duy vật - phép biệnchứng của sự vật - thế giới khách quan, mà phép biện chứng của ý niệm chỉ là hình ảnh biệnchứng trong bộ óc con người phản ánh phép biện chứng của sự vật - thế giới khách quan
Tóm lại, với một hệ thống triết học tương đối hoàn chỉnh, với tri thức bách khoa, kiến thứcuyên bác và thiên tài của mình, Hêghen trở thành nhà triết học lớn nhất thời bấy giờ Họcthuyết của ông khép lại một giai đoạn phát triển triết học đầy sôi động, đồng thời mở ra mộtgiai đoạn cách mạng mới trong lịch sử triết học - giai đoạn gắn tư tưởng triết học với thựctiễn cách mạng
Xuất phát từ quan điểm coi triết học mới phải là triết học về chính con người, có sứ mạngmang lại cho con người một cuộc sống hạnh phúc thật sự trên trần gian mà Phoiơbắc lấy conngười làm đối tượng nghiên cứu của triết học Ông cho rằng, xưa nay triết học nghiên cứuvấn đề về quan hệ giữa tư duy và tồn tại, nhưng quan hệ này thuộc về bản chất của conngười; bởi vì, chỉ có con người đang sống, đang tồn tại mới có tư duy Theo ông, chỉ khi nàoxuất phát từ con người thì vấn đề về quan hệ giữa tư duy và tồn tại mới được giải quyết mộtcách đúng đắn và có ý nghĩa thật sự Do con người là đối tượng của triết học mới, và khoahọc nghiên cứu bản chất của con người là nhân bản học, nên triết học mới đó phải là triết họcnhân bản hay nhân bản học phải là khoa học cơ sở và chung nhất cho mọi ngành khoa học.Triết học mới mà Phoiơbắc đã xây dựng là triết học duy vật nhân bản
Triết học Phoiơbắc đã khôi phục được truyền thống duy vật thế kỷ XVIII trong hoàn cảnhchủ nghĩa duy tâm thống trị đời sống tinh thần ở Phương Tây, và phát triển chủ nghĩa duy vậtthêm một bước Ông đã trình bày sáng rõ nhiều quan điểm duy vật; ông phê phán mạnh mẽchủ nghĩa duy tâm và Cơ đốc giáo; ông biết đặt con người vào đúng tâm điểm phân tích triếthọc Triết học của ông chất chứa đầy tính duy vật khả tri và nhân bản, nó là một cội nguồn tưtưởng của triết học Mác
Triết học của Phoiơbắc không sâu, còn nhiều quan niệm siêu hình, phiếm diện trong lý giảiđối tượng triết học, trong việc phân tích bản chất con người, trong việc tìm hiểu thực tiễn vàxác định vai trò của nó trong nhận thức và cuộc sống…; Đặc biệt, trong việc xác định nguồngốc, động lực phát triển và phương tiện cải tạo xã hội, quan điểm của Phoiơbắc còn đầy tínhduy tâm; Thái độ đối với tôn giáo của ông không nhất quán… Điều này thể hiện như sau:
- Một là, do phủ nhận hệ thống duy tâm của triết học Hêghen nên ông phủ nhận luôn phépbiện chứng; hơn nữa, ông hiểu biện chứng rất hời hợt, - phép biện chứng không phải là sựđộc thoại của một nhà tư tưởng với bản thân mình mà là sự đối thoại giữa Tôi và Anh…
- Hai là, do đứng trên quan điểm nhân đạo chung chung mà quan niệm về con người rấttrừu tượng, phi lịch sử; ông chỉ quan tâm đến mặt tự nhiên - sinh học mà không chú ý mặt xã
Trang 23hội và điều kiện chính trị - xã hội của con người; tuyệt đối hóa và coi tình yêu là bản chất conngười.
- Ba là, do bỏ qua hoạt động thực tiễn nên Phoiơbắc coi nhận thức là một quá trình tĩnh tại,thụ động của chủ thể tiếp nhận hình ảnh của khách thể mà không phải là quá trình mang tínhthực tiễn năng động, sáng tạo thế giới của con người - chủ thể nhận thức; Phoiơbắc không chỉkhông thấy được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức mà ông cũng không thấy được vai trò
to lớn của thực tiễn đối với sự hoàn thiện con người, thúc đẩy phát triển sản xuất nói riêng,xã hội nói chung Vì không thấy trong thực tiễn động lực phát triển xã hội nên ông cố đi tìmnó trong tình yêu Do không xuất phát từ quan điểm thực tiễn mà trong lĩnh vực xã hội,Phoiơbắc cũng như mọi nhà tư tưởng trước Mác đều sa vào chủ nghĩa duy tâm, quá đề caosức mạnh tinh thần, trước hết là giáo dục, đạo đức, pháp luật… mà không thấy được vai tròcủa nền sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội
Phép biện chứng duy vật được C.Mác và Ph Ăngghen xâydựng vào giữa thế kỷ XIX, sauđó được Lênin phát triển Sự ra đời của phép biện chứng duy vật được chuẩn bị bằng toàn bộsự phát triển xã hội, triết học và khoa học tự nhiên trứơc đó mà trực tiếp nhất là phép biệnchứng của Hêghen và quan điểm duy vật của Phoiơbắc Trong phép biện chứng duy vật luônluôn có sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp biệnchứng duy vật
Phép biện chứng duy vật đã khái quát một cách đúng đắn những quy luật vận động và pháttriển chung nhất của thế giới Nhờ vậy, C.Mác và Ph Ănghen khắc phục được những hạn chếvốn có của phép biện chứng tự phát thời cổ đại và những sai lầm của phép biện chứng duytâm khách quan thời cận đại, làm cho phép biện chứng duy vật trở thành một khoa học
Với tư cách là một khoa học, phép biện chứng duy vật được tạo thành từ một loạt nhữngphạm trù, những nguyên lý, những quy luật được khái quát từ hiện thực Cho nên nó có khảnăng phản ánh đúng sự liên hệ, sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy.Đúng như Ph Ăngghen đã định nghĩa “phép biện chứng là môn khoa học về những quyluật phổ biến của sự vận động sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và tư duy”.Lênin đã gọi phép biện chứng duy vật là linh hồn của chủ nghĩa Mác
Quá trình chuyển biến tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen từ chủ nghĩa duy tâm và chủnghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản (trước năm 1844)
Trong bước đầu hoạt động khoa học và chính trị, C.Mác và Ph.Ăngghen đứng trên lậptrường của chủ nghĩa duy tâm và quan điểm dân chủ cách mạng
Các Mác (5/5/1818 - 14/3/1883) được sinh ra và lớn lên tại thành phố Tơrivơ, vùng Ranhcủa nước Đức Ngay từ khi còn học trung học, C.Mác đã thể hiện là một thanh niên tài năng,yêu quê hương, đất nước và gắn hạnh phúc cá nhân với hạnh phúc chung của mọi người…Trong thời gian học tập và nghiên cứu tại Đại học Bon và Đại học Béclin, ông là người rấtsay mê nghiên cứu triết học, vì theo C.Mác, chỉ có triết học mới đem đến cho con người sựhiểu biết và khả năng cải tạo thế giới nhằm giải phóng con người… Từ năm 1837, C.Mác bắt
Trang 24đầu nghiên cứu triết học Hêghen, tham gia phái Hêghen trẻ Nét nổi bật mà C.Mác nhận thấyở Hêghen là phương pháp nhận thức, phương pháp tư duy biện chứng… Từ năm 1839,C.Mác bắt đầu nghiên cứu triết học Hy Lạp cổ đại và triết học cận đại Trong Luận án tiến sĩSự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Đêmôcrít và triết học tự nhiên của Êpiquya, bảo vệnăm 1841, C.Mác vẫn đứng trên lập trường triết học duy tâm của Hêghen, coi sự vận động vàphát triển của tự ý thức là động lực của sự phát triển xã hội Tuy nhiên, ông vẫn đánh giá caovai trò của Êpiquia trong lịch sử triết học, đã làm phong phú và đóng góp vào sự phát triểncủa học thuyết nguyên tử của Đêmôcrít, chống tư tưởng tôn giáo, ủng hộ chủ nghĩa vô thần.Trong luận án này, C.Mác đã phê phán phái Hêghen trẻ, đề cao vai trò của phép biện chứngtrong quá trình nhận thức và cải tạo xã hội, phục vụ cho cuộc đấu tranh chính trị, hướng đếnhạnh phúc của con người.
Phriđrích Ăngghen (28/11/1820 - 5/8/1895) sinh ra trong một gia đình chủ xưởng dệt.Mong muốn của gia đình là ông sớm trở thành một nhà kinh doanh… Từ năm 1839, vừa làmviệc và tự học, ông bắt đầu nghiên cứu triết học Đức, nhất là nghiên cứu triết học Hêghen.Đứng trên lập trường dân chủ cách mạng, đối lập với chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, tháng 3năm 1839, Ph.Ăngghen viết bài báo đầu tiên Những bức thư từ Vesphali đả kích bộ mặt thậtcủa bọn chủ xưởng, ủng hộ những người lao động… Năm 1841, Ph.Ăngghen tới Béclin làmnghĩa vụ quân sự và dự nghe các bài giảng triết học tại Đại học Béclin, đồng thời tham giavào nhóm Hêghen trẻ Trong thời gian này, ông đã viết một số tác phẩm nhằm mục đích phêphán các quan điểm phản động của nhà triết học Sêlinh Các tác phẩm Sêlinh và Hêghen,Sêlinh - nhà triết học nơi Chúa Kitô, và đặc biệt là tác phẩm Sêlinh và sự linh báo (1842) đãthể hiện tư tưởng dân chủ cách mạng, thấy được mâu thuẫn giữa mặt tiến bộ và mặt bảo thủtrong triết học Hêghen Dù vẫn chưa thoát khỏi ảnh hưởng của chủ nghĩa duy tâm,Ph.Ăngghen vẫn đánh giá cao triết học Phoiơbắc, vì ông nhận thấy thế giới quan duy vật củaPhoiơbắc triệt để hơn các nguyên lý triết học duy tâm Hêghen… Cuối năm 1842,Ph.Ăngghen sang Mantrextơ, làm việc trong một xưởng sợi, bắt đầu tìm hiểu phong trào côngnhân và nghiên cứu kinh tế chính trị học cổ điển Anh Hoạt động này có ý nghĩa quan trọnggiúp ông thấy rõ mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn trong cuộc đấu tranh xã hội, tạo bướcchuyển biến về quan điểm chính trị của ông
Sự chuyển biến tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen từ chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩadân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản
Sự chuyển biến tư tưởng của C.Mác bắt đầu từ quá trình hoạt động báo chí và qua sự phêphán triết học Hêghen về nhà nước, pháp quyền, tôn giáo và vai trò của triết học: Thông quabáo Sông Ranh (1842 - 1843), C.Mác viết bài bảo vệ lợi ích của những con người lao độngnghèo khổ, cổ vũ cuộc đấu tranh vì tự do và dân chủ; phê phán sâu sắc các tệ nạn bóc lột, ápbức người lao động, về sự bần cùng của nông dân Hoạt động này giúp C.Mác nhận thức đầy
đủ hơn về những mặt hạn chế của triết học Hêghen, tính chất phản động, bảo thủ của Nhànước Phổ, và qua đó, quan điểm của C.Mác chuyển dần từ khuynh hướng duy tâm và lậptrường dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa cộng sản…Trong tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen (1943), C.Mác phủnhận mệnh đề “tồn tại là hợp lý” của Hêghen, kiên quyết bác bỏ các hình thức đang tồn tạicủa nền chính trị nước Đức lúc bấy giờ là ý thức pháp quyền và nhà nước, đồng thời trìnhbày các vấn đề nhà nước, pháp quyền, triết học, tôn giáo trên nền tảng thế giới quan duy vậtbiện chứng; C.Mác coi triết học là vũ khí để cải tạo thế giới, là động lực cải tạo xã hội: Xuất
Trang 25phát từ tư tưởng “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán củavũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng
sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”, C.Mác coi triết học
là vũ khí tinh thần của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh cải tạo xã hội: “Giống như triếthọc thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy triết học là vũkhí tinh thần của mình” Khi chỉ ra tôn giáo cũng là sản phẩm của các điều kiện kinh tế - xãhội trong từng thời kỳ lịch sử, C.Mác vạch ra nguồn gốc và bản chất của tôn giáo trong mốiquan hệ với đời sống hiện thực và nhu cầu tinh thần, tình cảm của con người C.Mác viết:
“Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phảnkháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức,
là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tựkhông có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”
Lúc bấy giờ, thông qua Niên giám Pháp - Đức, Ph.Ăngghen cũng đã đăng tải một số tácphẩm phê phán chế độ tư hữu và phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, phê phán các tưtưởng kinh tế chính trị học của A.Xmít và Đ.Ricácđô trên tinh thần biện chứng; đồng thờiqua đó khẳng định vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản…Tháng 8/1844, trên đường từAnh về Đức, Ph.Ăngghen đã gặp C.Mác tại Pari Và từ đây, giữa hai ông đã bắt đầu một tìnhbạn, tình đồng chí vĩ đại và cảm động trong suốt cả cuộc đời để sáng tạo nên chủ nghĩa duyvật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Như vậy, cho đến thời điểm này, C.Mác vàPh.Ăngghen đã có bước chuyển hoàn toàn từ thế giới quan duy tâm sang thế giới quan duyvật biện chứng, từ lập trường chính trị dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa xã hội khoa học.Đó là một quá trình phức tạp, vừa cải biến phép biện chứng duy tâm của Hêghen thành phépbiện chứng duy vật, vừa vận dụng phép biện chứng duy vật vào việc nhận thức xã hội C.Mác
và Ph.Ăngghen đã đặt nền móng vững chắc cho một cuộc cách mạng trong triết học, để từngbước hoàn chỉnh hệ thống triết học của mình cả về thế giới quan và phương pháp luận
Thời kỳ C.Mác và Ph.Ăngghen đề xuất những nguyên lý triết học duy vật biện chứng vàduy vật lịch sử (1844 - 1848): Hai ông đã trình bày một cách toàn diện những vấn đề về triếthọc, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học trên nền tảng thế giới quan duy vậttriệt để và cách mạng, làm rõ những quy luật cơ bản của xã hội Triết học Mác trở thành thếgiới quan và phương pháp luận để nhận thức và cải tạo thực tiễn
Với tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học (1844), C.Mác trình bày những nghiên cứu vềkinh tế học để rút ra những kết luận về triết học
Từ việc nghiên cứu kinh tế chính trị học Anh, nghiên cứu quá trình sản xuất tư bản chủnghĩa, từ việc phân tích các phạm trù kinh tế cụ thể (tiền công, lợi nhuận, tư bản, địa tô, sứclao động ), C.Mác đã phát hiện ra bản chất của xã hội tư bản - xã hội đối kháng giữa ngườicông nhân và nhà tư bản C.Mác viết: “Tư bản là quyền chỉ huy lao động và sản phẩm của laođộng Nhà tư bản có được quyền đó không phải nhờ những phẩm chất cá nhân hay phẩm chấtcon người của hắn, mà chỉ có được với tư cách là người sở hữu tư bản Sức mạnh của hắn làsức mua của tư bản của hắn, sức mua mà không có gì có thể chống lại nỗi” …
Trang 26Từ chỗ coi sức lao động của người công nhân là hàng hóa, được đem ra mua bán, trao đổi,nhằm mục đích duy trì sự tồn tại mang tính động vật của con người, C.Mác xem xét vấn đềlao động bị tha hóa, và ông kết luận: lao động bị tha hóa là sản phẩm tất yếu của nền sản xuấtxã hội trong chủ nghĩa tư bản Nếu Hêghen coi sự tha hóa chỉ diễn ra trong ý thức, tinh thần;còn Phoiơbắc chỉ nhấn mạnh sự tha hóa của bản chất con người trong tôn giáo; thì C.Mác đã
đi tới tận nguồn của sự tha hóa, đó là sự tha hóa của lao động, của bản chất con người, sựđánh mất bản chất người trong chính quá trình sản xuất vật chất C.Mác viết: “Sự tha hóa thểhiện ở chỗ tư liệu sinh hoạt của tôi thuộc về người khác, ở chỗ đối tượng mong muốn của tôi
là vật sở hữu của người khác mà tôi không với tới được, cũng như ở chỗ bản thân mỗi vật hóa
ra là một cái khác với bản thân nó, ở chỗ hoạt động của tôi hóa ra là một cái khác nào đó vàcuối cùng, điều này cũng đúng cả đối với nhà tư bản, lực lượng không phải người nói chungthống trị tất cả” Vì vậy, quan hệ tha hóa đối lập ấy được biểu hiện như một sự kết tội bảnchất xã hội tư bản chủ nghĩa: “Cái vốn có của súc vật trở thành chức phận của con người, còncái có tính người thì trở thành cái vốn có của súc vật” Kết luận tất yếu được rút ra là, muốngiải phóng con người ra khỏi sự tha hóa thì phải xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủnghĩa, có như vậy mới trả con người trở về với chính bản chất của nó…
Với tinh thần phê phán, C.Mác đã đánh giá phép biện chứng trong triết học Hêghen, cũngnhư chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc, làm rõ những đóng góp và hạn chế của họ, từ đó khẳngđịnh vai trò và tính chất cách mạng của phép biện chứng duy vật
Năm 1845, C.Mác đã phác thảo Luận cương về Phoiơbắc chỉ ra những khuyết điểm cơ bảncủa chủ nghĩa duy vật trước đây trong việc nhận thức về con người, lịch sử và phương phápnhận thức
C.Mác cũng nêu lên sự khác nhau căn bản giữa triết học của ông với các học thuyết triếthọc khác trong lịch sử C.Mác viết: “Khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩa duy vật từtrước đến nay, - kể cả chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc, - là sự vật, hiện thực, cái cảm giácđược, chỉ được nhận thức
dưới hình thức khách thể hay hình thức trực quan, chứ không được nhận thức la hoạt độngcảm giác của con người, là thực tiễn, không được nhận thức về mặt chủ quan” …
Thông qua vai trò thực tiễn, C.Mác đã chứng minh tính lịch sử - xã hội quy định bản chấtcon người: “Phoiơbắc hòa tan bản chất tôn giáo vào bản chất con người Nhưng bản chất conngười không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thựccủa nó, bản chất con người là tổng hòa của những quan hệ xã hội” Luận đề này thể hiện tínhchất duy vật triệt để trong quan niệm của C.Mác về con người và lịch sử, chống lại những tưtưởng duy tâm siêu hình về xã hội và con người trong các hệ thống triết học khác trong lịch
sử, nhất là triết học của Phoiơbắc
Từ năm 1945 - 1846, C.Mác và Ph.Ăngghen đã cộng tác với nhau để hoàn thành một tácphẩm quan trọng Hệ tư tưởng Đức Trong tác phẩm này, hai ông đã kết hợp một cách khoahọc giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng; vận dụng phép biện chứng duy vật vào nhậnthức lịch sử xã hội và phát hiện ra các quy luật của lịch sử, từ đó sáng tạo ra chủ nghĩa duy
Trang 27vật lịch sử, làm sáng tỏ sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, đặt cơ sở khoa học cho lý luậncách mạng của triết học Mác.
Xuất phát từ hiện thực lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “tiền đề đầu tiên của mọi sựtồn tại của con người, và do đó là tiền đề của mọi lịch sử, đó là: người ta phải có khả năngsống đã rồi mới có thể làm ra lịch sử” Tuy nhiên, “muốn sống được thì trước hết cần phải cóthức ăn, thức uống… Hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất trong những tư liệu để thỏamãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất” Như vậy, việc sản xuất
ra đời sống vật chất là cơ sở quyết định sự tồn tại, mà yếu tố quan trọng nhất là lực lượng sảnxuất, sẽ quyết định mọi trạng thái của lịch sử - xã hội Quan niệm trên biểu hiện tư tưởng duyvật của C.Mác và Ph.Ăngghen về lịch sử Từ đó, hai ông đã phê phán những sai lầm của chủnghĩa duy tâm Hêghen và chủ nghĩa duy vật siêu hình Phoiơbắc trong việc nhận thức lịch sử
- xã hội
C.Mác và Ph.Ăngghen nêu lên các hình thức sở hữu và sự thay thế của các phương thứcsản xuất khác nhau trong lịch sử xã hội loài người Khi trình bày các hình thức sở hữu tronglịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã trình bày quá trình phát triển của lịch sử dưới dạng vắn tắt
mà hạt nhân của nó là sở hữu về tư liệu sản xuất; xét về thực chất, đó chỉ là biểu hiện của quyluật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, - mộtquy luật chung chi phối sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội
C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xãhội: “Ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức, và tồn tại củacon người là quá trình đời sống hiện thực của con người”, vì thế, “không phải ý thức quyếtđịnh đời sống mà chính đời sống quyết định ý thức” Sự phát triển của toàn bộ lịch sử - xãhội là sự chứng minh vai trò quyết định của tồn tại xã hội, trong đó, phương thức sản xuất có
ý nghĩa cơ bản nhất “Ngay từ đầu, ý thức đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn là như vậychừng nào con người còn tồn tại”
C.Mác và Ph.Ăngghen vạch ra bản chất nhà nước bị quy định bởi quan hệ lợi ích vật chất;nhà nước của giai cấp thống trị “chẳng phải là cái gì khác mà chỉ là hình thức tổ chức mànhững người tư sản buộc phải dùng đến để đảm bảo lẫn cho nhau sở hữu và lợi ích của họ, ởngoài nước cũng như ở trong nước” Từ đây, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, “trong mọithời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị Điều đó có nghĩa
là giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thầnthống trị trong xã hội” Vì vậy, nhiệm vụ của giai cấp vô sản là phải xóa bỏ trạng thái hiệntồn, xóa sự thống trị của giai cấp tư sản cả trong cơ sở hạ tầng lẫn trong kiến trúc thượngtầng, để xác lập sự thống trị của giai cấp vô sản, - giai cấp tiên tiến và cách mạng nhất củathời đại “Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sángtạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo Chúng ta gọi chủ nghĩacộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay” Mặc dù, phong tràocông nhân trong giai đoạn này chưa biểu hiện tính tự giác của nó, tức là chưa ý thức được vaitrò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp mình một cách hoàn toàn đầy đủ Song, sự phát triển tất yếucủa lịch sử,
Trang 28địa vị khách quan của giai cấp vô sản cho phép họ giành lấy chính quyền về tay mình, “bằngmột cuộc cách mạng, cuộc cách mạng này một mặt lật đổ thế lực của phương thức sản xuất
và của sự giao tiếp trước đó và cả của cơ cấu xã hội cũ và mặt khác, phát triển tính phổ biếncủa giai cấp vô sản và nghị lực mà giai cấp vô sản cần có” Điều đó, có nghĩa là giai cấp vôsản, - người đại diện cho lực lượng sản xuất mới trong xã hội, - phải thực hiện sứ mệnh lịch
sử của mình bằng việc phải giành lấy quyền lực chính trị
Tháng 2 năm 1848, C.Mác và Ph.Ăngghen viết tác phẩm nổi tiếng Tuyên ngôn của ĐảngCộng sản Đây là tác phẩm tuyên truyền cho tổ chức “Đồng minh những người cộng sản”, làcương lĩnh đầu tiên của Đảng Cộng sản về chủ nghĩa xã hội khoa học, vận dụng chủ nghĩaduy vật biện chứng, phép biện chứng duy vật vào lý luận đấu tranh giai cấp và vai trò sứmệnh lịch sử của giai cấp vô sản Tác phẩm này đánh dấu sự hoàn thành giai đoạn khởi thảonhững nguyên lý cơ bản của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, thể hiện rõ thếgiới quan mới của triết học Mác Ngày nay, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản vẫn còn có ýnghĩa lý luận và thực tiễn to lớn Dù lịch sử đang vận động, biến đổi với nhiều bước ngoặtquanh co, gập ghềnh; dù chủ nghĩa xã hội đang tạm thời thoái trào, song mục tiêu mà tácphẩm đặt ra đang cổ vũ nhân loại đấu tranh vì hạnh phúc của con người - xóa bỏ chế độ tưhữu tư bản chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa cộng sản
Trong Chương 1 Tư sản và vô sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã làm sáng tỏ những quy luậtchi phối sự phát triển của xã hội, tức thay thế các phương thức sản xuất trong lao động Vạch
ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản: “Cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, chính cáinền tảng trên đó giai cấp tư sản đã sản xuất và chiếm hữu sản phẩm của nó, đã bị phá sậpdưới chân giai cấp tư sản Trước hết, giai cấp tư sản sản sinh ra những người đào huyệt chônchính nó Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu nhưnhau”
Trong Chương 2 Những người vô sản và những người cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đãlàm sáng tỏ vai trò của Đảng Cộng sản là đội tiên phong của giai cấp vô sản, lãnh đạo cuộcđấu tranh chính trị của giai cấp vô sản: “Về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phậnkiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩyphong trào tiến lên; về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họhiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản” Mục tiêu trướcmắt là tổ chức cuộc đấu tranh chính trị để lật đổ giai cấp tư sản, giành chính quyền về taymình, và mục tiêu cuối cùng là xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản “Thay cho xã hội tưsản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đósự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”
Trang 29Trong chương 3 Văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, C.Mác và Ph.Ăngghenđã phê phán sâu sắc các trào lưu tư tưởng tiểu tư sản và tư sản đang ảnh hưởng đến sự pháttriển của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân như “Chủ nghĩa xã hội phản động”,
“Chủ nghĩa xã hội bảo thủ hay chủ nghĩa xã hội tư sản”, “Chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộngsản không tưởng phê phán”
Trong chương 4 Thái độ của những người cộng sản đối với các đảng đối lập, C.Mác vàPh.Ăngghen trình bày chiến lược, sách lược, phương pháp và mục tiêu cách mạng: “Nhữngngười cộng sản… công khai tuyên bố rằng mục đích của họ chỉ có thể đạt được bằng cáchdùng bạo lực lật đổ toàn bộ trật tự xã hội hiện hành Mặc cho các giai cấp thống trị run sợtrước một cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa! Trong cuộc cách mạng ấy, những người vôsản chẳng mất gì hết, ngoài những xiềng xích trói buộc họ Họ sẽ giành được cả thế giới”
Giai đoạn C.Mác và Ph.Ăngghen bổ sung và phát triển những quan điểm triết học: Từ năm
1848, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở Châu Âu chống ápbức, bóc lột, đòi dân chủ tự do đã phát triển và trở thành một làn sóng mạnh mẽ, nhưng gặpphải thất bại thảm hại Sau thất bại này, các phong trào đấu tranh cách mạng ở Châu Âu bịgiai cấp phong kiến, có sự tiếp tay của giai cấp tư sản và tiểu tư sản phản bội, đàn áp và bópnghẹt Từ sự thất bại của phong trào đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động, C.Mác
và Ph.Ăngghen đã rút ra bài học là: Đảng
Cộng sản phải hành động một cách tự giác và có tổ chức, phải hết sức thống nhất và độc lậpđể lãnh đạo phong trào đấu tranh vì lợi ích của quần chúng lao khổ Dựa trên những kinhnghiệm chua xót này của thực tiễn cách mạng, bằng tư duy lý luận sâu sắc, C.Mác vàPh.Ăngghen đã cho ra đời những tác phẩm làm sáng tỏ những nguyên lý căn bản của chủnghĩa duy vật lịch sử
Tư bản - bộ sách đồ sộ trình bày những nghiên cứu của C.Mác về quá trình vận động, pháttriển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, trên tinh thần duy vật lịch sử Đây cũng là bộ tácphẩm thể hiện tuyệt vời phong cách tư duy biện chứng của C.Mác, tức thể hiện sự vận dụngtài tình phương pháp biện chứng vào nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Xuất phát từ phương thức sản xuất, tức là từ hai mặt của một quá trình sản xuất vật chấttrong đời sống xã hội là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, C.Mác đã khẳng định sựphát triển của “hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên” Ông chỉ rõ sự tácđộng của các quy luật khách quan đến quá trình sản xuất vật chất đã làm cho các hình tháikinh tế - xã hội thay thế nhau
Trang 30+ C.Mác đánh giá cao quá trình lao động; ông coi lao động là hành động lịch sử vĩ đại mànhờ đó, con người tạo nên sự khác biệt căn bẳn giữa mình với loài vật, là động lực thúc đẩysự phát triển của xã hội.
+ Lao động sản xuất ra của cải vật chất là quá trình lịch sử; nó biểu hiện quan hệ biệnchứng giữa con người với tự nhiên và giữa con người với con người trong xã hội TheoC.Mác, lực lượng sản xuất là sự tổng hợp của hai yếu tố tư liệu sản xuất và người lao động,trong đó, con người lao động đóng vai trò quyết định; nó biểu hiện mối quan hệ giữa conngười với tự nhiên Quan hệ sản xuất là biểu hiện mặt xã hội của quá trình sản xuất; nó thểhiện qua các mối quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất, về tổ chức quản lý sản xuất và về phânphối sản phẩm lao động; nó là đặc trưng của sự phát triển xã hội trong mỗi giai đoạn lịch sửnhất định, là tiêu chuẩn để phân biệt các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau Với vai trò lànội dung vật chất của quá trình sản xuất, lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định đối với quanhệ sản xuất, tức là hình thức kinh tế của quá trình sản xuất ấy Quan hệ sản xuất tác độngtheo hướng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Điều đó tùy thuộcvào sự phù hợp hay không phù hợp của mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất vàquan hệ sản xuất
+ Trong chế độ tư bản chủ nghĩa, tính chất xã hội hóa của quá trình sản xuất ngày càngmâu thuẫn với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa Đó là cơ sở về kinh tế để dẫn tớicuộc cách mạng xã hội thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa cộng sản “Sự độc quyềncủa tư bản trở thành những xiềng xích ràng buộc cái phương thức sản xuất đã thịnh vượng lêncùng với độc quyền đó và dưới độc quyền đó Sự tập trung tư liệu sản xuất và xã hội hóa laođộng đạt đến cái điểm mà chúng không còn thích hợp với cái vỏ tư bản chủ nghĩa của chúngnữa… Phương thức chiếm hữu tư bản chủ nghĩa do phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đẻ
ra, và do đó cả chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa nữa đều là sự phủ định đầu tiên đối với chế độ
tư hữu cá nhân dựa trên lao động của bản thân Nhưng nền sản xuất tư bản chủ nghĩa lại đẻ rasự phủ định bản thân nó, với tính tất yếu của một quá trình tự nhiên Đó là sự phủ định cáiphủ định” Dù biện chứng của quá trình phát triển giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sảnxuất đã được C.Mác phân tích trong điều kiện lịch sử - xã hội tư bản chủ nghĩa, nhưng nó ýnghĩa phổ biến cho tiến trình vận động của lịch sử xã hội loài người
+ Qua bộ Tư bản, chúng ta có thể khẳng định rằng, toàn bộ quan niệm duy vật lịch sử củaC.Mác trong Tư bản được biểu hiện ở phạm trù khoa học “hình thái kinh tế - xã hội” C.Mácviết: “Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tựnhiên” Bản chất của phạm trù hình thái kinh tế - xã hội chính là quy luật vận động, phát triểncủa lịch sử xã hội loài người bị quy định bởi các yếu tố cơ bản: lực lượng sản xuất, quan hệsản xuất và kiến trúc thượng tầng Đồng thời, các yếu tố khác trong lịch sử xã hội cũng có vaitrò chi phối, tác động, nhưng trên cơ sở các yếu tố cơ bản đó Tính lịch sử - tự nhiên của sựphát triển xã hội được chứng minh bởi sự phát triển vừa tuần tự vừa nhảy vọt, vừa đa dạngphong phú, phức tạp vừa thể hiện những quy luật phổ biến có ý nghĩa xuyên suốt toàn bộ tiếntrình lịch sử xã hội loài người
Trang 31Xuất phát từ việc nghiên cứu hàng hóa với tư cách là tế bào kinh tế của chủ nghĩa tư bản,bằng phương pháp thống nhất giữa lịch sử và lôgíc, giữa trừu tượng và cụ thể, C.Mác đã từngbước vạch ra bản chất của chủ nghĩa tư bản.
+ C.Mác chỉ ra quá trình vận động và phát triển tất yếu của phương thức sản xuất tư bảnchủ nghĩa biểu hiện thông qua tính đa dạng, phong phú, phức tạp của lịch sử của nó Cho nên,lịch sử là bản thân quá trình sản xuất, lôgíc là bản chất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, làbóc lột giá trị thặng dư C.Mác viết: “Phương pháp của chúng ta… phải bao gồm việc xemxét đối tượng về mặt lịch sử, nghĩa là những mục trong đó khoa kinh tế tư sản - khoa này chỉ
là hình thức lịch sử của quá trình sản xuất - có những chỉ dẫn, vượt ra khỏi phạm vi của khoakinh tế tư sản, về những phương thức sản xuất lịch sử đã tồn tại sớm hơn Vì thế, muốn vạch
rõ những quy luật của khoa kinh tế tư sản thì không cần thiết phải viết lịch sử thực sự về quanhệ sản xuất”
+ C.Mác cũng phân tích rõ mối quan hệ biện chứng giữa cái trừu tượng và cái cụ thể Cáitrừu tượng chỉ là sự phản ánh một mặt, một yếu tố của quá trình nhận thức đối tượng Cái cụthể lý tính, về bản chất, là sự phản ánh khái quát các thuộc tính của đối tượng trong tư duy.Bởi vậy, nền sản xuất xã hội biểu hiện từ sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng đến bản chấtcủa nền kinh tế tư bản chủ nghĩa cũng chính là con đường đi từ trừu tượng đến cụ thể trong tưduy C.Mác viết rằng: “Cái cụ thể sở dĩ là cụ thể vì nó là sự tổng hợp của nhiều tính quy định,
do đó, nó là sự thống nhất của cái đa dạng Cho nên trong tư duy, nó biểu hiện ra là một quátrình tổng hợp, là kết quả, chứ không phải là điểm xuất phát, mặc dù nó là điểm xuất phátthực sự và do đó cũng là điểm xuất phát của trực quan và của biểu tượng”
Các quy luật của phép biện chứng như quy luật lượng chất, quy luật phủ định của phủđịnh, quy luật mâu thuẫn đều được C.Mác vận dụng vào quá trình phân tích bản chất của chếđộ tư bản chủ nghĩa Phương pháp biện chứng của C.Mác là một biểu hiện thống nhất giữanội dung và phương pháp, là phương pháp nhận thức thông qua sự vận động của nội dung Vìvậy, Lênin đã nhận xét: “Mác không để lại cho chúng ta “lôgíc học” (với chữ Loại viết hoa),nhưng đã để lại cho chúng ta lôgíc của “Tư bản”… trong Tư bản, C.Mác áp dụng lôgíc, phépbiện chứng và lý luận nhận thức… của chủ nghĩa duy vật vào một khoa học duy nhất” Nhậnxét này chứng tỏ rằng, phương pháp biện chứng của C.Mác là hạt nhân xuyên suốt toàn bộnội dung của Tư bản C.Mác đã tự đánh giá: “Phương pháp biện chứng của tôi không nhữngkhác với phương pháp của Hêghen về cơ bản, mà còn đối lập hẳn với phương pháp ấy nữa.Đối với Hêghen, quá trình tư duy - mà ông ta thậm chí còn biến thành một chủ thể độc lậpdưới cái tên gọi ý niệm - chính là vị thần sáng tạo ra hiện thực, và hiện thực này chẳng quachỉ là biểu hiện bên ngoài của tư duy mà thôi Đối với tôi thì trái lại, ý niệm chẳng qua là vậtchất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó”
Tác phẩm Tư bản là một cống hiến vĩ đại của C.Mác Bằng phương pháp triết học, phépbiện chứng duy vật, C.Mác đã làm rõ quy luật vận động, phát triển của lịch sử xã hội loàingười thông qua việc phân tích nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Mặc dù hiện nay, có nhữngquan điểm tiếp cận lịch sử xã hội khác nhau, nhưng phương pháp tiếp cận từ giác độ hình tháikinh tế - xã hội của C.Mác vẫn là một mẫu mực của việc nhận thức các quy luật xã hội Vìvậy, bộ tác phẩm Tư bản thể hiện rõ vai trò nền tảng về mặt thế giới quan và phương phápluận của triết học Mác
Trang 32Với tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gôta (1875), C.Mác phát triển đầy đủ học thuyết duyvật lịch sử, đặt cơ sở khoa học cho lý luận cách mạng của giai cấp vô sản để hướng đến xãhội tương lai Trên cơ sở phương pháp biện chứng duy vật, C.Mác trình bày lý luận về hìnhthái kinh tế - xã hội, về cách mạng vô sản và nhà nước chuyên chính vô sản, về thời kỳ quáđộ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, về hai giai đoạn của hình thái kinh tế - xã hộicộng sản chủ nghĩa,… C.Mác viết: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủnghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia Thích ứng với thời kỳ
ấy là một thời kỳ quá độ chính trị và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn lànền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản” Trong giai đoạn đầu của xã hội mới,C.Mác cho rằng “thoát thai từ chính xã hội tư bản chủ nghĩa, và do đó về mọi
phương diện, kinh tế, đạo đức, tinh thần - còn mang dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lòngra” Đồng thời, trong chủ nghĩa xã hội, nguyên tắc giữa cống hiến và hưởng thụ là “làm theonăng lực, hưởng theo số lượng và chất lượng lao động’ Trong chủ nghĩa cộng sản, mối quanhệ đó là “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”
Chống Đuyrinh (1876 - 1878) là một tác phẩm thể hiện thế giới quan duy vật biện chứngvề triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học Với phương pháp biện chứngduy vật, dựa trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng, Ph.Ăngghen đã tổng kết toàn diệnchủ nghĩa Mác, để đấu tranh chống lại các quan điểm đối lập Tác phẩm này đã trở thành vũkhí lý luận sắc bén trong phong trào cách mạng của giai cấp vô sản thế giới Lênin đã đánhgiá cao tác phẩm này: “Đó là một cuốn sách có nội dung đặc biệt phong phú và bổ ích” vì đã
“phân tích những vấn đề quan trọng nhất của triết học, của khoa học tự nhiên và khoa học xãhội” Nội dung cơ bản của tác phẩm có thể khái quát trong một số chủ đề sau đây:
Về thế giới quan duy vật: Từ lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, Ph.Ăngghen đãphê phán quan điểm duy tâm của Đuyrinh, từ đó ông cho rằng, nhận thức của con người vềvũ trụ không phải được rút ra từ bộ óc mà từ thế giới hiện thực Vạch ra sai lầm duy tâm củaông Đuyrinh về vấn đề tồn tại, Ph.Ăngghen khẳng định rằng: “Tính thống nhất của thế giớikhông phải ở sự tồn tại của nó, mặc dù tồn tại là tiền đề của tính thống nhất của nó, vì trướckhi thế giới có thể là một thể thống nhất thì trước hết thế giới phải tồn tại đã… Tính thốngnhất thực sự của thế giới là ở tính vật chất của nó, và tính vật chất này được chứng minhkhông phải bằng vài ba lời lẽ khéo léo của kẻ làm trò ảo thuật, mà bằng một sự phát triển lâudài và khó khăn của triết học và khoa học tự nhiên” Cũng trong tác phẩm này, Ph.Ăngghenđề cập đến vận động và mối quan hệ giữa vận động và vật chất Vận động của vật chất baohàm mọi quá trình, mọi thay đổi diễn ra trong vũ trụ, là sự biến đổi nói chung Không có vậtchất không vận động, cũng như không có sự vận động nào mà lại không phải là sự vận độngcủa vật chất Ph.Ăngghen cũng khái quát các hình thức vận động trong thế giới: vận động cơhọc, vận động vật lý, vận động hóa học, vận động sinh học và vận động xã hội Tất cả cáchình thức vận động đó không phải tách rời, mà liên hệ, chuyển hóa lẫn nhau, trong khônggian và thời gian Từ đó, nguyên lý mà chúng ta rút ra biểu hiện thế giới quan duy vật triệt đểlà: Trong thế giới không có gì ngoài vật chất đang vận động, và vật chất vận động chỉ vậnđộng trong không gian và thời gian
Về phép biện chứng duy vật: Khi coi “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học vềnhững quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và
Trang 33của tư duy”, là công cụ để nhận thức thế giới tự nhiên và lịch sử, Ph.Ăngghen khẳng định từtrong giới tự nhiên và lịch sử mà tư duy biện chứng hình thành và phát triển.
+ Phép biện chứng là khoa học của phương pháp nhận thức, phương pháp tư duy xem xétsự vật hiện tượng trong mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, trong tính hệ thống, trong quátrình vận động theo khuynh hướng tiến lên Về bản chất, tư duy biện chứng đối lập với tư duysiêu hình; phép biện chứng trong triết học Mác khác với phép biện chứng trong triết học cổđiển Đức, tức là phép biện chứng trong triết học Mác không được rút ra từ tư duy chủ quancủa con người và không có mối liên hệ nào với thực tại khách quan, mà ngược lại, là sự phảnánh của giới tự nhiên và lịch sử vào tư duy: “Không thể đưa những quy luật biện chứng từbên ngoài vào giới tự nhiên, mà là phát hiện ra chúng trong giới tự nhiên và rút chúng ra từgiới tự nhiên”, thông qua sự phát triển của khoa học tự nhiên, của lịch sử xã hội và kinh tếchính trị
+ Sự phát triển của tư duy phản ánh thế giới khách quan được Ph.Ăngghen trình bày tronghệ thống các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật Ph.Ăngghen đã chứng minh tínhkhách quan và tính phổ biến của mâu thuẫn với ý nghĩa là quy luật tồn tại trong mọi sự vật,hiện tượng, trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy; qua đó, ông nhấn mạnh rằng, với
tư duy biện chứng thì việc nhận thức và giải quyết mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của sựphát triển Thông qua sự phát triển của khoa học và trong đời sống xã hội Ph.Ăngghen chứngminh đã quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại.Bản chất của quy luật chính là mối quan hệ biện
chứng giữa chất và lượng trong thế giới khách quan Lượng biến đổi để dẫn tới chuyển hóavề chất, đồng thời, chất tác động đến lượng để tạo nên sự chuyển hóa về lượng Quá trình liêntục diễn ra, tạo thành cách thức của sự phát triển vừa tuần tự vừa nhảy vọt, hình thành quyluật phổ biến của thế giới khách quan Tính khách quan và phổ biến của quy luật phủ địnhcủa phủ định được Ph.Angghen làm sáng tỏ trong mọi lĩnh vực của thế giới khách quan và tưduy con người; quy luật này vạch ra khuynh hướng chung của sự phát triển, thể hiện tính kếthừa và tiến lên, hình thành một quá trình liên tục trong sự vận động của sự vật, hiện tượng từthấp đến cao Phát triển cũng không phải là một quá trình giản đơn, theo đường thẳng, mà làmột quá trình phức tạp, lặp lại cái cũ nhưng không phải trùng khớp mà ở một trình độ mớicao hơn, thể hiện tính xoáy ốc của sự phát triển Với bản chất như vậy, cái mới, theo quy luật,bao giờ cũng cao hơn và tiến bộ hơn so với cái cũ Ph.Ăngghen cũng đòi hỏi cần phải có sựphân biệt giữa phủ định biện chứng và phủ định siêu hình: “Phủ định, trong phép biện chứng,không phải chỉ có ý nghĩa giản đơn là nói: không, hoặc giả là tuyên bố rằng một sự vật khôngtồn tại, hay phá hủy sự vật ấy theo một cách nào đó”, mà nó là sự tự phủ định để hướng tới sựphát triển
Về lý luận nhận thức: Ph.Ăngghen đã làm sáng tỏ quan điểm duy vật biện chứng về bảnchất của tư duy, về khả năng nhận thức chân lý, về tính cụ thể của chân lý, v.v
+ Theo Ph.Angghen, tư duy con người không phải là sự nhận thức chân lý tuyệt đối nhưquan niệm của Đuyrinh, mà là sự phản ánh của thế giới khách quan vào bộ não con người, làhình ảnh chủ quan về thế giới khách quan Nó là một quá trình vừa tương đối, vừa tuyệt đối;nó “vừa là tối cao vừa là không tối cao, và khả năng nhận thức của con người vừa là vô hạn,vừa là có hạn Tối cao và vô hạn là xét theo bản tính, sứ mệnh khả năng và mục đích lịch sử
Trang 34cuối cùng; không tối cao và có hạn là xét theo sự thực hiện riêng biệt và thực tế trong mỗimột thời điểm nhất định”.
+ Nhận thức chân lý là một quá trình lịch sử; vì vậy, không thể có chân lý bất biến, tuyệtđích cuối cùng như Đuyrinh quan niệm mà chân lý là một quá trình nhận thức từ thấp đếncao, phụ thuộc vào nhiều mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể nhận thức Tuyệt đối hóatính tuyệt đối, tính vĩnh cửu của chân lý như Đuyrinh thì chỉ dẫn đến chủ nghĩa duy tâm vàsiêu hình về nhận thức Ph.Ăngghen coi tính lịch sử của chân lý cũng giống như tính lịch sửcủa các quan hệ đạo đức: “Từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đạikhác, những quan niệm về thiện và ác đã biến đổi nhiều đến mức chúng thường trái ngượchẳn nhau” Hơn nữa, “chân lý và sai lầm, cũng giống như tất cả những phạm trù lôgíc họcvận động trong những cực đối lập, chỉ có giá trị tuyệt đối trong một phạm vi cực kỳ hạn chế”
Về chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa xã hội
+ Khi bác bỏ quan điểm của Đuyrinh xem bạo lực và chiến tranh (nguồn gốc quân sự) là
cơ sở để hình thành các giai cấp trong xã hội, Ph.Ăngghen cho rằng, điều kiện kinh tế xã hội,sự phát triển của lực lượng sản xuất, chế độ sở hữu là cơ sở có ý nghĩa quyết định trong việchình thành các giai cấp khác nhau (nguồn gốc kinh tế) “… những cuộc xung đột không chỉgiữa những giai cấp do đại công nghiệp sinh ra, mà còn giữa lực lượng sản xuất và nhữngphương thức trao đổi do nó tạo ra nữa
- và mặt khác, đại công nghiệp ấy, thông qua sự phát triển lớn lao của chính lực lượng sản xuất ấy, cũng cung cấp những phương tiện để giải quyết những sự xung đột đó”
+ Angghen chỉ rõ, y thức xã hội, lịch sử và pháp quyền chỉ có thể có được trên cơ sở tồntại xã hội; không có chân lý đạo đức và pháp quyền vĩnh cửu vượt qua mọi giai đoạn lịch sửcủa mỗi dân tộc và thời đại khác nhau, như Đuyrinh quan niệm, mà ngược lại, tư tưởng vềđạo đức và pháp quyền chỉ có thể dựa trên những quan hệ về kinh tế, xã hội và giai cấp nhấtđịnh trong mỗi giai đoạn lịch sử Từ đây, Ph.Ăngghen chỉ ra hạn chế của chủ nghĩa xã hộikhông tưởng của Xanh Ximông, Phuriê, mặc dù ý tưởng của họ tốt đẹp, nhưng họ đã khôngdựa trên những tiền đề tất yếu của điều kiện kinh tế - xã hội Về điều này, Angghen viết: “Tưtưởng với một trạng thái chưa trưởng thành của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, với nhữngquan hệ giai cấp chưa trưởng thành là những lý luận chưa trưởng thành”
+ Để hiểu và vận dụng quy luật vào đời sống xã hội, Ph.Ăngghen đã nêu lên quan niệm vềtất yếu và tự do “Tự do không phải là sự độc lập tưởng tượng đối với các quy luật của tựnhiên, mà là ở sự nhận thức được những quy luật đó và ở cái khả năng - có được nhờ sự nhậnthức này - buộc những quy luật đó tác động một cách có kế hoạch nhằm những mục đíchnhất định… Như vậy, tự do của ý chí không phải là cái gì khác hơn là cái năng lực quyếtđịnh một cách hiểu biết công việc Do đó, sự phán đoán của một người về một vấn đề nhấtđịnh, càng tự do bao nhiêu thì nội dung của sự phán đoán đó sẽ được quyết định với một tínhtất yếu càng lớn bấy nhiêu”
+ Ph.Ăngghen coi sự phát triển của triết học trong lịch sử, từ triết học cổ đại tới chủ nghĩaduy vật hiện đại là quá trình biểu hiện sự liên hệ thống nhất giữa triết học và khoa học: “Nóichung, đây không còn là một triết học nữa, mà là một thế giới quan, nó không cần phải đượcchứng thực và biểu hiện thành một khoa học đặc biệt nào đó của các khoa học, mà đượcchứng thực và biểu hiện trong các khoa học hiện thực”
Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghen đã vận dụng phương pháp biệnchứng duy vật vào việc giải quyết những vấn đề của tự nhiên và lịch sử; ông đã trình bày một
Trang 35cách khoa học về tính biện chứng khách quan của giới tự nhiên, về sự phát triển của khoa họctự nhiên trong mối quan hệ với triết học, về vật chất vận động, về nguồn gốc loài người vàlịch sử xã hội
Về quan niệm vật chất và vận động: Trước hết, Ph.Ăngghen chỉ ra tính đa dạng (khác biệtvề chất và về lượng) của sự thống nhất vật chất của thế giới, biểu hiện trong sự liên hệ,chuyển hóa, luôn vận động và phát triển theo một quá trình ngày càng đi lên, với sự phongphú và đa dạng trong tính hệ thống, tính chỉnh thể Quan niệm về tính thống nhất vật chất củathế giới là kết quả khái quát quá trình phát triển lâu dài của nhận thức triết học duy vật vàdựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên Sau đó, Ph.Ăngghen trình bày các quanniệm về sự vận động của vật chất Ông viết: “Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất, tứcđược hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, thìbao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị tríđơn giản cho đến tư duy” Như vậy, vận động là sự biến đổi nói chung, bao hàm tất cả mọitính chất, mọi kết cấu, mọi khuynh hướng…, với bản chất là phương thức tồn tại, là thuộctính hữu cơ của vật chất
+ Ông cũng chỉ ra các hình thức vận động cơ bản của vật chất như vận động cơ giới cáccủa khối lượng, vận động vật lý của các phân tử, vận động hóa học của các nguyên tử, và tiênđoán về sự vận
động của trường điện từ và khẳng định giữa các hình thức vận động luôn có sự liên hệ,
chuyển hóa lẫn nhau
+ Ph.Ăngghen đã đối lập quan niệm duy vật biện chứng với các quan niệm duy tâm, cơgiới máy móc, siêu hình về vận động, cho dù các quan niệm này cũng đã chứa đựng một sốthành tựu của khoa học tự nhiên Ông phê phán thuyết “cái chết nhiệt” của Clauđiuxơ vàkhẳng định tính bất diệt của vận động, cũng như của sự sống: “Khoa học tự nhiên hiện đại đãphải vay mượn của triết học luận điểm về tính không thể tiêu diệt được của vận động, khôngcó luận điểm này thì khoa học tự nhiên không thể tồn tại được”
+ Như vậy, dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên, Ph.Ăngghen đã nêu lên tính chỉnh thể, tính đa dạng của quá trình vận động, chuyển hóa của thế giới vật chất vô tận và vĩnh viễn
Về phép biện chứng: Bàn về phép biện chứng trong lịch sử, Ph.Ăngghen đề cập đến phép biện chứng của triết học Arixtốt, Đềcáctơ, Cantơ và Hêghen
+ Trên tinh thần phê phán, Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh hạt nhân hợp lý trong phép biệnchứng duy tâm của Hêghen Theo quan niệm của C.Mác: “Tính chất thần bí mà phép biệnchứng đã mắc phải ở trong tay Hêghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở thành ngườiđầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung của phépbiện chứng Ở Hêghen, phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất Chỉ cần dựng nó lại là
sẽ phát hiện được cái nhân hợp lý của nó ở đằng sau cái vỏ thần bí của nó” Tư tưởng đó đãkhẳng định rằng, biện chứng khách quan của thế giới tự nhiên đóng vai trò quyết định đối vớibiện chứng chủ quan trong tư duy con người Những quy luật cơ bản của phép biện chứng
Trang 36như “quy luật về sự chuyển hóa từ số lượng thành chất lượng và ngược lại, quy luật về sựxâm nhập lẫn nhau của các mặt đối lập, quy luật về sự phủ định của phủ định” là sự phản ánhnhững mối liên hệ cơ bản và phổ biến trong giới tự nhiên và lịch sử “Vậy là từ trong lịch sửcủa giới tự nhiên và lịch sử của xã hội loài người mà người ta đã rút ra được các quy luật củaphép biện chứng… Những quy luật biện chứng là những quy luật thật sự của sự phát triểncủa giới tự nhiên…”.
+ Ph.Ăngghen khẳng định: “Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối trong toàn bộ giớitự nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan, tức là tư duy biện chứng, thì chỉ là sự phản ánh sựchi phối, trong toàn bộ giới tự nhiên, của sự vận động thông qua những mặt đối lập, tức lànhững mặt, thông qua sự đấu tranh thường xuyên của chúng và sự chuyển hóa cuối cùng củachúng từ mặt đối lập này thành mặt đối lập kia” Bản chất của quá trình biện chứng đó chính
là sự bất diệt và vĩnh viễn của vật chất vận động
+ Ph.Ăngghen khẳng định, tư duy biện chứng là chìa khóa, là con đường để dẫn tới sự pháttriển của khoa học, để khoa học làm tròn sứ mệnh cao cả của nó “… một dân tộc muốn đứngvững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận … chỉ có phép biệnchứng mới có thể giúp cho khoa học tự nhiên vượt khỏi những khó khăn về lý luận … Trênthực tế, ở đây, ngày nay không còn một lối thoát, không còn một khả năng nào để có thể nhìnthấy ánh sáng nếu không từ bỏ tư duy siêu hình mà quay trở lại với tư duy biện chứng, bằngcách này hay cách khác” Bởi vậy, “Trong thực tế, khinh miệt phép biện chứng thì không thểkhông bị trừng phạt … sự khinh thường phép biện chứng theo kiểu kinh nghiệm chủ nghĩa sẽ
bị trừng phạt như sau: nó đưa một số người thực nghiệm chủ nghĩa tỉnh táo nhất sa vào chỗ dịđoan ngu xuẩn nhất, sa vào thần linh học cận đại”
+ Ph.Ăngghen cho rằng chính phép biện chứng đòi hỏi phải thống nhất giữa triết học vàkhoa học tự nhiên Khoa học tự nhiên đặt cơ sở cho những khái quát phổ biến của triết học,còn những khái quát triết học lại trở thành phương pháp luận cho khoa học tự nhiên đi sâuvào nghiên cứu thế giới khách quan Ph.Ăngghen viết: “Những nhà khoa học tự nhiên tưởngrằng họ thoát khỏi triết học bằng cách không để ý đến nó hoặc phỉ báng nó Nhưng vì khôngcó tư duy thì họ không thể tiến lên được một bước nào… Những ai phỉ báng triết học nhiềunhất lại chính là những kẻ nô lệ của những tàn tích thông tục hóa, tồi tệ nhất của những họcthuyết triết học tồi tệ nhất Dù những nhà khoa học
Trang 37tự nhiên có làm gì đi nữa thì họ cũng vẫn bị triết học chi phối Vấn đề chỉ ở chỗ họ muốn bịchi phối bởi một thứ triết học tồi tệ hợp mốt hay họ muốn được hướng dẫn bởi một hình thức
tư duy lý luận dựa trên sự hiểu biết về lịch sử tư tưởng và những thành tựu của nó”
Về sự sống và nguồn gốc con người: Dựa trên những thành tựu khoa học tự nhiên vĩ đạicủa thời kỳ này, Ph.Ăngghen đã chỉ ra quá trình phát triển của thế giới tự nhiên là nguồn gốccủa sự sống, nguồn gốc của sự hình thành con người và lịch sử xã hội Ph.Ăngghen cũngchứng minh nguồn gốc của sự sống xuất phát từ những điều kiện tất yếu của các quá trìnhhóa học, sinh học, phủ định vai trò sáng tạo của Thượng đế hoặc du nhập sự sống từ khônggian vũ trụ; từ đó, ông chỉ ra vai trò của lao động và ngôn ngữ trong việc hình thành conngười Ông chỉ ra vai trò quyết định của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượn thànhngười “Đem so sánh con người với các loài vật, người ta sẽ thấy rõ rằng ngôn ngữ bắt nguồntừ lao động và cùng phát triển với lao động, đó là cách giải thích duy nhất đúng về nguồn gốccủa ngôn ngữ” Từ đó, Ph.Ăngghen kết luận: “Trước hết là lao động, sau lao động và đồngthời với lao động là ngôn ngữ, đó là hai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc củacon vượn, làm cho bộ óc đó dần dần biến chuyển thành bộ óc của con người”; đồng thời,thông qua quá trình phát triển của lao động và ngôn ngữ mà các giác quan của con ngườingày càng hoàn thiện, các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội ra đời và phát triển Bằnglao động, thông qua lao động, con người trở thành chủ thể của tự nhiên - xã hội, con ngườicải biến thế giới tự nhiên và xã hội phục vụ cho chính mình
Trong tác phẩm Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức (1886 1888), Ph.Ăngghen đề cập đến vấn đề cơ bản của triết học, đánh giá về triết học cổ điển Đức,bàn về phương pháp luận triết học duy vật biện chứng, vạch ra thực chất của cuộc cách mạngtrong lịch sử triết học do C.Mác và Ph.Angghen thực hiện
-Về vấn đề cơ bản của triết học: Ph.Ăngghen đã xác định “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triếthọc, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại” và chỉ ra haimặt của nó: Mặt thứ nhất là: “Vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh thần với tựnhiên, một vấn đề tối cao của toàn bộ triết học … xem cái nào có trước, tinh thần hay tựnhiên? Vấn đề đó bất chấp giáo hội, lại mang một hình thức gay gắt: thế giới là do Chúa Trờisáng tạo ra, hay nó vẫn tồn tại từ trước đến nay?” và “cách giải đáp vấn đề ấy đã chia các nhàtriết học thành hai phe lớn Những người quả quyết rằng tinh thần có trước tự nhiên … thuộcphe chủ nghĩa duy tâm Còn những người cho rằng tự nhiên là cái có trước thì thuộc các họcphái khác nhau của chủ nghĩa duy vật” Mặt thứ hai là: “Tư duy của chúng ta có thể nhậnthức được thế giới hiện thực không? Trong các quan niệm và các khái niệm của chúng ta vềthế giới hiện thực, chúng ta có thể phản ánh được một hình ảnh đúng đắn của hiện thựckhông?” Ph.Ăngghen cho rằng phần lớn các nhà triết học thừa nhận con người có thể nhậnthức được thế giới, còn một số nhà triết học như Hium và Cantơ lại phủ nhận khả năng nhậnthức của con người Theo Ph.Ăngghen thì sự phát triển của lịch sử triết học là cuộc đấu tranhgiữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm xung quanh vấn đề cơ bản của triết học
Về đánh giá triết học Hêghen: Ph.Ăngghen cho rằng không nên dừng lại ở những mâuthuẫn của hệ thống triết học này mà phải vạch ra được hạt nhân hợp lý của nó là phép biệnchứng Ông viết: “Nhưng tất cả những điều đó không ngăn trở hệ thống Hêghen bao trùmmột lĩnh vực hết sức rộng hơn bất cứ hệ thống nào trước kia, và phát triển, trong lĩnh vực đó,
Trang 38một sự phong phú về tư tưởng mà ngày nay người ta vẫn còn ngạc nhiên Hiện tượng họctinh thần…, lôgíc học, triết học tự nhiên, triết học tinh thần…, triết học lịch sử, triết học phápquyền, triết học tôn giáo, lịch sử triết học, mỹ học, v.v trong từng lĩnh vực lịch sử khác nhau
ấy Hêghen cố gắng phát hiện ra và chỉ rõ sợi chỉ đỏ của sự phát triển xuyên suốt lĩnh vực ấy
Vì Hêghen không những chỉ là một thiên tài sáng tạo, mà còn là một nhà bác học có tri thứcbách khoa, nên những phát biểu của ông tạo thành thời đại” Phương pháp biện chứng củatriết học Hêghen thể hiện quá trình liên hệ, tác động, chuyển hóa và phát triển không ngừngcủa thế giới, vì vậy, nó có ý nghĩa cách mạng, “ý nghĩa thực sự và tính chất cách mạng củatriết học Hêghen… chính là ở chỗ nó đã vĩnh viễn kết liễu tính tối hậu của những hệ quả củatư
tưởng và của hành động con người” “Đối với triết học biện chứng đó thì không có gì là tốihậu, là tuyệt đối, là thiêng liêng cả Nó chỉ ra - trên mọi sự vật và trong mọi sự vật - dấu ấncủa sự suy tàn tất yếu, và đối với nó, không có gì tồn tại ngoài quá trình không ngừng của sựhình thành và sự tiêu vong, của sự tiến triển vô cùng tận từ thấp lên cao” Do tính chất mâuthuẫn giữa hệ thống và phương pháp của triết học Hêghen mà hình thành các trường pháitriết học khác nhau: “toàn bộ học thuyết của Hêghen đã để một khoảng rất rộng cho các quanđiểm đảng phái thực tiễn hết sức khác nhau Và trong giới lý luận Đức hồi ấy, trước hết cóhai việc có ý nghĩa thực tiễn: tôn giáo và chính trị Người nào chủ yếu coi trọng hệ thống củaHêghen, thì người đó có thể là khá bảo thủ trong hai lĩnh vực đó; còn người nào cho phươngpháp biện chứng là chủ yếu thì người đó, về chính trị cũng như về tôn giáo, có thể thuộc vàophái đối lập cực đoan nhất”
Về đánh giá triết học Phoiơbắc: Ph.Ăngghen đánh giá cao thế giới quan duy vật củaPhoiơbắc là đã đưa “chủ nghĩa duy vật trở lại ngôi vua…”, đồng thời cũng chỉ ra nguyênnhân dẫn đến những hạn chế - tính chất máy móc, siêu hình và duy tâm về mặt lịch sử củatriết học này… Do chưa vượt qua được hạn chế của thời đại mình và chịu ảnh hưởng bởiphương pháp tư duy siêu hình mà Phoiơbắc không chỉ phê phán thế giới quan duy tâm màcòn phủ định hạt nhân hợp lý và phép biện chứng trong triết học Hêghen Ph.Ăngghen viết:
“Lời khẳng định của Phoiơbắc cho rằng “các thời đại của loài người chỉ khác nhau bởi nhữngthay đổi về phương diện tôn giáo” là hoàn toàn sai Chỉ có thể nói đến những bước ngoặt lịch
sử lớn có kèm theo những sự thay đổi về tôn giáo” Khi phê phán cách hiểu trừu tượng vềcon người của Phoiơbắc, Ph.Angghen viết: “Về hình thức, ông là một người hiện thực chủnghĩa, ông lấy con người làm xuất phát điểm, song ông hoàn toàn không nói đến thế giớitrong đó con người ấy sống, vì vậy, con người mà ông nói, luôn luôn là con người trừutượng” Về đạo đức con người, Phoiơbắc đồng nhất quan hệ đạo đức trong mọi giai đoạn lịch
sử, mọi thời đại khác nhau Ph.Ăngghen cho rằng: “những vết tích cuối cùng của tính chấtcách mạng trong triết học của ông đều biến mất hết và chỉ còn lại cái điệp khúc cũ kỹ: Hãyyêu nhau đi, hãy ôm nhau đi, không cần phân biệt nam nữ và đẳng cấp Thật là giấc mơ thiên
hạ thuận hòa… Học thuyết của Phoiơbắc về đạo đức thì cũng giống như tất cả những họcthuyết trước đó Nó được gọt giũa cho thích hợp với mọi thời kỳ, mọi dân tộc, mọi hoàncảnh, và chính vì thế mà không bao giờ nó có thể đem áp dụng được ở đâu cả”
Về bước ngoặt cách mạng trong triết học: Một là, khi chỉ ra tính không triệt để về thế giớiquan và phương pháp biện chứng mà các nhà triết học Đức mắc phải, Ph.Ăngghen cho rằngtriết học duy vật biện chứng là kết quả của sự cải tạo triệt để chủ nghĩa duy vật nhân bản củaPhoiơbắc và phép biện chứng duy tâm của Hêghen Hai là, khi bàn về mối quan hệ giữa
Trang 39những thành tựu của khoa học tự nhiên với những kết luận triết học, Ph.Ăngghen khẳng địnhkhoa học tự nhiên (đặc biệt là ba phát minh vĩ đại - thuyết tế bào, định luật chuyển hóa nănglượng và thuyết tiến hóa) đã đóng vai trò là tiền đề cho sự hình thành và phát triển củaphương pháp biện chứng duy vật Ba là, vận dụng triết học duy vật biện chứng vào nhận thứclịch sử là biểu hiện tính duy vật triệt để của triết học Mác (cho dù có sự khác nhau giữa quyluật tự nhiên và quy luật lịch sử - quy luật tự nhiên tự nó diễn ra, còn quy luật của lịch sử thìphải thông qua hoạt động tự giác, có mục đích của con người); Hơn nữa Ph.Angghen còn chỉ
ra một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển của lịch sử xã hội là cuộc đấu tranh giữacác giai cấp có lợi ích của mình, mà trước hết là lợi ích kinh tế đối lập nhau; và suy đến cùng,các quan hệ về chính trị, nhà nước, pháp quyền, tôn giáo đều xuất phát từ nguồn gốc sâu xa làquan hệ về kinh tế Từ đây, Ph.Angghen kết luận, quy luật của lịch sử chỉ được rút ra từ bảnthân lịch sử, chứ không phải từ đầu óc chủ quan của con người: “Bằng chứng phải được rút ratừ bản thân lịch sử… Bây giờ thì bất cứ ở đâu, vấn đề không còn là tưởng tượng ra nhữngmối liên hệ từ trong đầu óc, mà là phát hiện ra chúng từ những sự thật”
Ph.Ăngghen đánh giá vai trò của C.Mác trong việc sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biệnchứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, và nói chung là toàn bộ chủ nghĩa Mác Ph.Ăngghen viết:
“Phần đóng góp của tôi - không kể có thể ngoại trừ một vài lĩnh vực chuyên môn - thì khôngcó tôi, Mác vẫn có thể làm
được Nhưng điều mà Mác đã làm thì tôi không thể làm được Mác đứng cao hơn, nhìn xahơn, rộng hơn và nhanh hơn tất cả chúng tôi Mác là một thiên tài Còn chúng tôi may lắmcũng chỉ là những tài năng thôi Nếu không có Mác thì lý luận thật khó mà được như ngàynay Vì vậy, lý luận đó mang tên của Mác là điều chính đáng”
Tóm lại, từ năm 1848 đến năm 1895, C.Mác và Ph.Ăngghen đã bổ sung và phát triển toàndiện những vấn đề của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Giai đoạn 1893 - 1907: Từ những năm 80 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa Mác được truyền vàonước Nga thông qua nhóm “Giải phóng lao động” do Plêkhanốp đứng đầu Do không đứngtrên lập trường của giai cấp vô sản nên Plêkhanốp không thấy được vai trò lịch sử của giaicấp công nhân và liên minh công - nông, vì vậy, ông đã xem giai cấp tư sản tự do chủ nghĩa
là giai cấp cách mạng Sai lầm này đã đưa Plêkhanốp xa rời lập trường mácxít và chuyểnsang lập trường của nhóm cơ hội mensêvích Trước tình hình đó, Lênin đã viết nhiều tácphẩm quan trọng để đấu tranh chống lại phái dân túy, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác
Tác phẩm Những người bạn dân là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ xã hội ra sao (1894) là bản cương lĩnh của một chính đảng mới ra đời ở nước Nga Lêninvạch trần cơ sở triết học duy tâm chủ quan và phương pháp luận siêu hình của giai cấp tư sảntự do thể hiện trong cương lĩnh về kinh tế và chính trị của chúng Người chỉ ra những mâuthuẫn trong xã hội Nga và con đường phát triển tất yếu của nước Nga, vai trò giai cấp vô sản
Trang 40-trong sự liên minh với giai cấp nông dân nhằm lật đổ chế độ Nga hoàng, thiết lập chế độ mớixã hội chủ nghĩa.
+ Khẳng định những quy luật khách quan quyết định sự vận động của lịch sử xã hội trảiqua các hình thái kinh tế - xã hội, Lênin viết: “Chỉ có đem quy những quan hệ xã hội vàonhững quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lựclượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển củanhững hình thái xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên Và dĩ nhiên là không có một quanđiểm như thế thì không thể có một khoa học xã hội được”
+ Vận dụng phương pháp biện chứng của triết học Mác vào nhận thức quá trình vận động,phát triển của lịch sử để phát hiện ra các quy luật chi phối đời sống xã hội, Lênin đã làm chophép biện chứng duy vật trở thành một khoa học chân chính Người viết: “Không bao giờ cómột người mácxít nào đã xây dựng những quan điểm dân chủ - xã hội của mình trên một cơsở nào khác, ngoài cái cơ sở là sự phù hợp của những quan điểm ấy với hiện thực và với lịch
sử những quan hệ kinh tế - xã hội nhất định… Vì về mặt lý luận thì sự đòi hỏi đó đã đượcchính bản thân Mác, người sáng lập ra “chủ nghĩa Mác”, nêu lên một cách hoàn toàn rõ ràng
và chính xác, coi đó là cơ sở của toàn bộ học thuyết của mình”
+ Chỉ ra vai trò nhân tố chủ quan trong cách mạng xã hội, vai trò quần chúng nhân dân và
cá nhân trong lịch sử… Tất cả những nội dung trên đều nhằm khẳng định một chân lý màLênin chỉ rõ: “Người ta không thể có một lý luận cách mạng nào ngoài chủ nghĩa Mác cả, họcàng mau chóng dồn hết tâm sức của mình ra để vận dụng lý luận đó vào nước Nga, cả vềmặt lý luận lẫn về mặt thực tiễn, thì thắng lợi của công tác cách mạng sẽ càng chắc chắn vàmau chóng” “Sức hấp dẫn không gì cưỡng nỗi đã lôi cuốn những người xã hội chủ nghĩa củatất cả các nước đi theo lý luận đó, chính là
ở chỗ nó kết hợp tính chất khoa học chặt chẽ và cao độ (đó là đỉnh cao nhất của khoa học xã hội) với tinh thần cách mạng… Một sự kết hợp nội tại và khăng khít”
Với tác phẩm Làm gì? (1902), Lênin đã làm sáng tỏ các hình thức đấu tranh giai cấp củagiai cấp vô sản trước khi giành chính quyền: đấu tranh kinh tế, đấu tranh tư tưởng, đấu tranhchính trị, trong đó, đấu tranh chính trị có ý nghĩa quyết định để lật đổ giai cấp thống trị, giànhlấy chính quyền cách mạng; chỉ ra vai trò rất quan trọng của hệ tư tưởng lý luận trong cuộcđấu tranh cách mạng Hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác không hình thành một cách tự pháttrong phong trào công nhân, mà nó được truyền bá, giáo dục một cách tự giác trong phongtrào đó; vì vậy, tuyên truyền lý luận cách mạng là một nội dung quan trọng để hướng tới mụctiêu đấu tranh chính trị trong cách mạng vô sản
Trong tác phẩm Hai sách lược của Đảng dân chủ - xã hội trong cách mạng dân chủ (1905),Lênin nêu lên những nội dung của cách mạng tư sản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, chỉ rõvai trò của quần chúng nhân dân, của nhân tố chủ quan, của các đảng chính trị trong cuộc đấutranh cách mạng để giành thắng lợi Lênin đã bác bỏ quan điểm của phái Mensêvích và pháixét lại Tây Âu lúc bấy giờ, đồng thời chỉ rõ tính chất của cuộc cách mạng Nga lần thứ nhất làcuộc cách mạng tư sản, nhưng do giai cấp vô sản lãnh đạo trong mối quan hệ liên minh vớigiai cấp nông dân; vì vậy, cách mạng dân chủ tư sản sẽ chuyển thành cách mạng xã hội chủnghĩa Lênin cũng bác bỏ quan điểm của các lãnh tụ cơ hội trong Quốc tế II, để khẳng địnhrằng thắng lợi của cách mạng dân chủ là tiền đề cho cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa