Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Việt Hà
Trang 1Danh môc c¸c tõ viÕt t¾t trong luËn v¨n
BCTC : B¸o c¸o tµi chÝnh BHXH : B¶o hiÓm x· héi
CP NVLTT : Chi phÝ nguyªn vËt liÖu trùc tiÕp
CP NCTT : Chi phÝ nh©n c«ng trùc tiÕp
CP SXC : Chi phÝ s¶n xuÊt chung
CP SXKD DD : Chi phÝ s¶n xuÊt kinh doanh dë dang CBCNV : C¸n bé c«ng nh©n viªn
Trang 2Lời mở đầu
Nền kinh tế thị trờng với sự tự do cạnh tranh, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, mở ra cho các doanh nghiệp nhiều cơ hội để vơn lên tự khẳng định mình Tuy nhiên nó cũng đặt ra cho các doanh nghiệp không ít khó khăn thách thức phải giải quyết Với lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu, Công ty Việt Hà đã không ngừng hoàn thiện công tác quản lí doanh nghiệp của mình, trong đó chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai chỉ tiêu quan trọng mà Công ty luôn quan tâm.
Để tồn tại và đứng vững trong nền kinh tế thị trờng, tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm là động lực chính của Công ty Các nhà quản trị muốn đa ra đợc quyết định đúng đắn về việc nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí hay
để điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh, thì các thông tin kế toán đa ra phải thật sát thực Điều đó đòi hỏi công việc hạch toán chi phí cần phải chính xác, giá thành sản phẩm cần đợc tính đúng và tính đủ
Nhận thức đợc tầm quan trọng của việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm, em đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Việt Hà” cho luận văn tốt nghiệp của mình.
Luận văn gồm ba nội dung chính sau:
Phần 1 Những vấn đề lí luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất.
Phần 2 Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Việt Hà.
Phần 3 Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Việt Hà.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Trần Văn Thuận cùng các anh chị phòng kế toán Công ty Việt Hà đã tận tình hớng dẫn, giúp em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Trang 3Phần 1 Những vấn đề lí luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất
1.1 Sự cần thiết của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất
Sự phát sinh và phát triển của xã hội loài ngời gắn liền với quá trình sản xuất Nền sản xuất xã hội của bất kì phơng thức sản xuất nào cũng gắn liền với sự vận động và tiêu hao các yếu tố cơ bản tạo nên quá trình sản xuất Nói cách khác, quá trình sản xuất hàng hoá là quá trình kết hợp ba yếu tố: T liệu lao động, đối tợng lao động và sức lao động Quá trình sản xuất hàng hoá cũng chính là quá trình tiêu hao của chính bản thân các yếu tố trên Nh vậy, để tiến hành sản xuất hàng hoá, ng-
ời sản xuất phải bỏ chi phí về thù lao lao động, về t liệu lao động, đối tợng lao động Vì thế, sự hình thành nên các chi phí sản xuất để tạo ra giá trị sản phẩm sản xuất là tất yếu khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của ngời sản xuất.
1.1.1 Chi phí sản xuất
1.1.1.1 Khái niệm chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất - kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí
về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp bỏ ra liên quan đến hoạt
động sản xuất - kinh doanh trong một thời kì nhất định (tháng, quý, năm).
Thực chất, chi phí là sự dịch chuyển vốn - chuyển dịch giá trị của các yếu tố sản xuất vào các đối tợng tính giá (sản phẩm, lao vụ, dịch vụ), là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí mà doanh nghiệp phải tiêu dùng trong một kì để thực hiện quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Để hiểu rõ hơn về chi phí cần phân biệt chi phí
và chi tiêu:
Chi phí là sự biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao
động vật hoá cần thiết cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp phải chi ra trong một kì kinh doanh Nh vậy, chỉ đợc tính là chi phí của một kì hạch toán những hao phí về tài sản liên quan đến khối lợng sản phẩm sản xuất trong kì chứ không phải mọi khoản chi ra trong kì hạch toán.
Chi tiêu là sự giảm đi đơn thuần các loại vật t, tài sản, tiền vốn của doanh nghiệp, bất kể nó đợc dùng vào mục đích gì Tổng số chi tiêu trong kì của doanh nghiệp bao gồm chi tiêu cho quá trình cung cấp (mua sắm vật t, hàng hoá …), chi ), chi
Nguyễn Thị Ngọc Tú -Kế toán 41A
Trang 4tiêu cho quá trình sản xuất kinh doanh (chi cho sản xuất, chế tạo sản phẩm …), chi ) và chi cho quá trình tiêu thụ (chi vận chuyển, bốc dỡ, quảng cáo).
Nh vậy chi tiêu là cơ sở phát sinh của chi phí, không có chi tiêu thì không có chi phí Tổng số chi phí phát sinh trong kì của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ giá trị tài sản hao phí hoặc tiêu dùng hết cho quá trình sản xuất kinh doanh tính vào kì này Chi phí và chi tiêu còn khác nhau về thời gian, có những khoản chi tiêu kì này nhng cha đợc tính vào chi phí (chi mua nguyên vật liệu về nhập kho nhng cha đợc sử dụng …), chi ) và có những khoản tính vào chi phí kì này nh ng thực tế cha chi tiêu (chi phí trích trớc) Sở dĩ có sự khác biệt giữa chi tiêu và chi phí nh vậy là do đặc điểm, tính chất vận động và phơng thức dịch chuyển giá trị của từng loại tài sản vào quá trình sản xuất và yêu cầu kĩ thuật hạch toán chúng
Khác với khái niệm chi phí sản xuất của kế toán Việt Nam, đối với kế toán
Mỹ, chi phí sản xuất đợc hiểu là khoản hao phí bỏ ra để thu đợc một số của cải vật chất hay dịch vụ Khoản hao phí này có thể là tiền mặt chi ra, tài sản chuyển nh ợng hay dịch vụ hoàn thành …), chi ợc đánh giá trên căn cứ tiền mặt Còn theo quan điểm của đ
kế toán Pháp, chi phí sản xuất là toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp bỏ ra để phục vụ cho quá trình sản xuất Chi phí bao gồm: chi phí mua nguyên vật liệu, hàng hoá và các khoản dự trữ khác.
1.1.1.2 Phân loại chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất kinh doanh có rất nhiều loại, nhiều khoản khác nhau cả về nội dung, tính chất, công dụng, vai trò, vị trí …), chi đối với quá trình kinh doanh Để thuận lợi cho công tác quản lí và hạch toán, cần phải tiến hành phân loại chi phí sản xuất Hiện nay Công ty Việt Hà đang áp dụng cách phân loại chi phí theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm.
Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm và để thuận tiện cho việc tính giá thành toàn bộ, chi phí đợc phân chia theo khoản mục Theo quy định hiện hành, giá thành sản phẩm ở Việt Nam bao gồm 5 khoản mục chi phí:
- Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp: phản ánh toàn bộ chi phí nguyên vật liệu chính, phụ, nhiên liệu …), chi tham gia trực tiếp vào việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ
Trang 5- Chi phí sản xuất chung: là những chi phí phát sinh trong phạm vi phân xởng sản xuất (trừ chi phí vật liệu và chi phí nhân công trực tiếp).
- Chi phí bán hàng: bao gồm toàn bộ những chi phí phát sinh liên quan đến tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, lao vụ.
- Chi phí quản lí doanh nghiệp: bao gồm những chi phí phát sinh liên quan đến quản trị kinh doanh và quản lí hành chính trong doanh nghiệp.
Theo Thông t 89/2002/TT-BTC ngày 9/10/2002 hớng dẫn kế toán thực hiện
04 chuẩn mực kế toán ban hành theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC, ngày 31/12/2001 của Bộ trởng Bộ Tài chính, chi phí sản xuất chung đợc phân loại theo mối quan hệ với sản lợng sản phẩm sản xuất ra Cụ thể nh sau:
- Chi phí sản xuất chung cố định: là chi phí sản xuất gián tiếp không thay đổi theo sản lợng sản phẩm sản xuất ra nh chi phí khấu hao TSCĐ và chi phí bảo dỡng máy móc thiết bị, chi phí hành chính trong phân xởng.
- Chi phí sản xuất chung biến đổi: là chi phí sản xuất gián tiếp thay đổi trực tiếp hoặc gần nh trực tiếp theo số lợng sản phẩm dở dang Ví dụ nh: Chi phí ngyên vật liệu trực tiếp, Chi phí nhân công trực tiếp, chi phí dịch vụ mua ngoài.
Ngoài cách phân loại chi phí theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm Chi phí còn có thể đợc phân loại theo những cách sau:
- Phân loại theo yếu tố chi phí.
- Phân loại theo quan hệ giữa chi phí sản xuất và khối lợng công việc sản phẩm hoàn thành.
- Phân loại theo lĩnh vực hoạt động kinh doanh.
1.1.2 Giá thành sản phẩm
1.1.2.1 Khái niệm giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lợng công tác, sản phẩm lao vụ đã hoàn thành.
Chỉ tiêu giá thành phải gắn liền với từng loại sản phẩm, đợc tính đối với số ợng sản phẩm đã hoàn thành khi kết thúc toàn bộ quy trình sản xuất, hay một giai
Nguyễn Thị Ngọc Tú -Kế toán 41A
Trang 6đoạn sản xuất (bán thành phẩm) chứ không tính cho thành phẩm còn nằm trên dây chuyền sản xuất.
Giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hoá, phản ánh l ợng giá trị của những hao phí lao động sống và lao động vật hoá đã thực sự chi ra cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất, tiêu thụ phải đợc bồi hoàn
để tái sản xuất ở doanh nghiệp mà không bao gồm những chi phí phát sinh trong kì kinh doanh của doanh nghiệp Những chi phí đa vào giá thành sản phẩm phải phản
ánh đợc giá trị thực của các t liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất, tiêu thụ và các khoản chi tiêu khác có liên quan tới việc bù đắp giản đơn hao phí lao động sống Mọi cách tính toán chủ quan, không phản ánh đúng các yếu tố giá trị trong giá thành
đều có thể dẫn đến việc phá vỡ các quan hệ hàng - tiền tệ, không xác định đ ợc hiệu quả kinh doanh và không thực hiện đợc tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng
1.1.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm
Để đáp ứng yêu cầu của quản lí, hạch toán và kế hoạch hoá giá thành cũng
nh yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành đợc xem xét dới nhiều góc độ, nhiều phạm vi tính toán khác nhau Theo phạm vi phát sinh chi phí, giá thành đợc phân loại nh sau:
- Giá thành sản xuất (còn gọi là giá thành công xởng) là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm
vi phân xởng sản xuất.
- Giá thành tiêu thụ (còn gọi là giá thành toàn bộ hay giá thành đầy đủ) là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm Giá thành tiêu thụ đợc tính theo công thức:
Giá thành toàn bộ
của sản phẩm =
Giá thành sản xuất của sản phẩm +
Chi phí quản lí doanh nghiệp +
Chi phí bán hàng Cách phân loại này có tác dụng giúp cho nhà quản lí biết đợc kết quả kinh doanh (lãi, lỗ) của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh Ngoài ra, giá thành còn có thể đợc phân loại theo thời điểm tính và nguồn số liệu để
Trang 7A C
c c
b d
1.1.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Quá trình sản xuất là một quá trình thống nhất bao gồm hai mặt: Mặt hao phí sản xuất và mặt kết quả sản xuất Tất cả những khoản chi phí (phát sinh trong kì, kì trớc chuyển sang) và các chi phí trích trớc liên quan đến khối lợng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ, đã hoàn thành trong kì sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm Nói cách khác, giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra bất kì ở kì nào nhng có liên quan đến khối lợng công việc, sản phẩm đã hoàn thành trong kì.
Có thể phản ánh mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm thông qua sơ đồ sau:
Chi phí sản xuất dở dang
đầu kì
+
Chi phí sản xuất phát sinh trong kì
-Chi phí sản xuất dở dang cuối kì Khi giá trị sản phẩm dở dang (chi phí sản xuất dở dang) đầu kì và cuối kì bằng nhau, hoặc các ngành sản xuất không có sản phẩm dở dang thì tổng giá thành sản phẩm bằng tổng chi phí phát sinh trong kì Trong mối quan hệ chặt chẽ đó, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cũng có những điểm khác nhau cơ bản sau:
Về thời gian: giá thành sản phẩm chỉ gắn với một thời kì nhất định còn chi phí sản xuất thì liên quan đến nhiều kì nh chi phí kì trớc chuyển sang, chi phí kì này phát sinh không bao gồm các chi phí chuyển sang kì sau.
Về sản phẩm: chi phí sản xuất không gắn trực tiếp với số lợng sản phẩm hoàn thành trong kì, còn giá thành đợc tính trên số lợng bán thành phẩm hay sản phẩm hoàn thành.
Về giá trị: Tổng giá thành sản phẩm không bao gồm những chi phí sản xuất
đã chi ra trong kì (chi phí chờ phân bổ ở kì sau) song giá thành sản phẩm lại tính cả chi phí đã chi ở kì trớc đợc phân bổ cho kì này Tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kì khác với tổng giá thành sản phẩm của các sản phẩm hoàn thành trong kì.
Nguyễn Thị Ngọc Tú -Kế toán 41A
Trang 81.1.4 ý nghĩa và nhiệm vụ của kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai chỉ tiêu kinh tế cơ bản phản
ánh chất lợng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Quản lí tốt chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là yêu cầu quan trọng đối với các doanh nghiệp trong môi trờng kinh tế cạnh tranh hiện nay Việc tính đúng, đủ giá thành giúp cho phản ánh đúng tình hình thực hiện và kết quả thực hiện giá thành của doanh nghiệp, xác định đúng đắn kết quả kinh doanh trong kì.
Trong một phạm vi nhất định giá thành vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan Cần phải xem xét giá thành trên nhiều góc độ khác nhau để sử dụng chỉ tiêu giá thành một cách hiệu quả nhất.Tính khách quan của giá thành chính là tính tất yếu của sự di chuyển và kết tinh giá trị t liệu sản xuất và sức lao động trong sản phẩm Nhng giá thành lại là một đại lợng đợc tính toán trên cơ sở chi phí sản xuất chi ra trong kì nên nó mang những yếu tố chủ quan nhất định Từ đó cho thấy, giá thành sản phẩm là chỉ tiêu chất lợng tổng hợp phản ánh những tiêu hao trong quá trình sản xuất sản phẩm nhng cũng đồng thời là thớc đo năng lực và trình độ quản lí kinh tế của doanh nghiệp
Từ những ý nghĩa đó, nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là phải ghi chép và phản ánh một cách đầy đủ, trung thực về mặt lợng chi phí sản xuất đồng thời phải tính toán chi phí theo đúng nguyên tắc, xác định đúng
đối tợng tập hợp chi phí, phản ánh chi phí theo đúng thời điểm, địa điểm phát sinh.
Để tính đúng và tính đủ giá thành, kế toán phải dựa trên cơ sở của việc tính chính xác chi phí sản xuất và tính đủ mọi hao phí bỏ ra theo đúng chế độ quy định Tính
đủ giá thành cũng đồng nghĩa với việc loại bỏ những chi phí không liên quan đến giá thành sản phẩm.
1.2 Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất
1.2.1 Kế toán chi phí sản xuất
1.2.1.1 Đối tợng và phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất
Trang 9thành sản phẩm, chi tiết sản phẩm, sản phẩm theo đơn đặt hàng đã hoàn thành …), chi theo
đơn vị tính giá thành quy định Việc phân chia này xuất phát từ yêu cầu quản lí, kiểm tra và phân tích chi phí, yêu cầu hạch toán kinh doanh nội bộ, theo đặc điểm quy trình công nghệ của từng doanh nghiệp và yêu cầu tính giá thành sản phẩm theo
đơn vị tính giá thành quy định Có thể nói, việc phân chia quá trình hạch toán thành hai giai đoạn là do sự khác nhau cơ bản về giới hạn tập hợp chi phí trong hạch toán chi phí sản xuất - tức là đối tợng hạch toán chi phí sản xuất - và sản phẩm hoàn thành cần phải tính giá thành một đơn vị - tức là đối tợng tính giá thành Nh vậy, xác
định đối tợng hạch toán chi phí sản xuất chính là việc xác định giới hạn tập hợp chi phí mà thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí.
Phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất là một phơng pháp hay hệ thống các phơng pháp đợc sử dụng để tập hợp và phân loại các chi phí sản xuất trong phạm vi giới hạn của đối tợng hạch toán chi phí Về cơ bản, phơng pháp hạch toán chi phí bao gồm các phơng pháp hạch toán chi phí theo sản phẩm, theo đơn đặt hàng, theo giai đoạn công nghệ, theo phân xởng, theo nhóm sản phẩm v.v Nội dung chủ yếu là
kế toán mở thẻ (hoặc sổ) chi tiết hạch toán chi phí sản xuất theo từng đối t ợng đã xác định, phản ánh các đối tợng liên quan đến từng đối tợng, hàng tháng tổng hợp chi phí theo từng đối tợng
Tuỳ theo phơng pháp hạch toán hàng tồn kho áp dụng trong doanh nghiệp mà công tác hạch toán chi phí sản xuất đợc thực hiện theo một trong hai phơng pháp sau: Hạch toán chi phí sản xuất theo phơng pháp kê khai thờng xuyên (KKTX) và hạch toán chi phí sản xuất theo phơng pháp kiểm kê định kì (KKĐK).
1.2.1.2 Chứng từ kế toán
Các loại chứng từ sử dụng để kế toán chi phí sản xuất bao gồm:
- Chứng từ phản ánh chi phí lao động: Bảng phân bổ tiền lơng và các khoản trích theo lơng: BHYT, BHXH, KPCĐ.
- Chứng từ phản ánh chi phí vật t: Bảng phân bổ vật liệu, công cụ, dụng cụ Bảng kê, hoá đơn chứng từ mua vật liệu công cụ, dụng cụ không nhập kho mà sử dụng ngay cho kinh doanh.
- Chứng từ phản ánh chi phí khấu hao TSCĐ: Bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ.
- Chứng từ phản ánh dịch vụ mua ngoài nh hoá đơn mua hàng, chứng từ chi tiền mặt.
Nguyễn Thị Ngọc Tú -Kế toán 41A
Trang 10- Chứng từ phản ánh thuế, phí và lệ phí doanh nghiệp phải nộp, đã nộp.
- Chứng từ phản ánh các khoản chi bằng tiền khác.
Việc tập hợp chi phí sản xuất phải đợc tiến hành theo một trình tự hợp lí, khoa học thì mới có thể tính giá thành sản phẩm một cách chính xác, kịp thời Trình
tự này phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất của từng ngành, từng doanh nghiệp, mối quan hệ của hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp và trình độ công tác quản lí Thông thờng trình tự hạch toán chi phí sản xuất nh sau:
Bớc 1: Tập hợp các chi phí cơ bản liên quan đến đối tợng sử dụng.
Bớc 2: Tính toán và phân bổ chi phí cho từng đối tợng sử dụng.
Bớc 3: Xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kì.
Bớc 4: Tính tổng giá thành và giá thành đơn vị sản phẩm hoàn thành.
1.2.1.3 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp bao gồm giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu …), chi ợc xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm đ
Đối với những vật liệu khi xuất dùng có liên quan đến từng đối tợng tập hợp chi phí riêng biệt (phân xởng, bộ phận sản xuất, hoặc sản phẩm, loại sản phẩm, lao
vụ …), chi ) thì hạch toán trực tiếp cho đối t ợng đó Trờng hợp vật liệu xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tợng tập hợp chi phí, không thể tổ chức hạch toán riêng đợc thì phải áp dụng gián tiếp để phân bổ chi phí cho các đối tợng có liên quan Tiêu thức phân bổ thờng đợc sử dụng là phân bổ theo định mức tiêu hao, theo hệ số, theo trọng lợng, số lợng sản phẩm …), chi
Để theo dõi các khoản chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo phơng pháp kê khai thờng xuyên, kế toán sử dụng TK 621 “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp” Tài khoản này đợc mở chi tiết theo từng đối tợng tập hợp chi phí (phân xởng, bộ phận sản xuất) với kết cấu nh sau:
Bên Nợ: Tập hợp chi phí nguyên vật liệu xuất dùng trực tiếp cho chế tạo sản phẩm hay thực hiện các lao vụ, dịch vụ.
Bên Có:
- Giá trị vật liệu xuất dùng không hết.
- Kết chuyển chi phí vật liệu trực tiếp.
Trang 11Sơ đồ 1: Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
1.2.1.4 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản thù lao phải trả cho nhân công trực tiếp sản xuất sản phẩm, trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ nh tiền lơng chính, lơng phụ và các khoản phụ cấp có tính chất lơng (phụ cấp khu vực, độc hại, phụ cấp làm đêm, thêm giờ …), chi ) Ngoài ra, chi phí nhân công trực tiếp còn bao gồm các khoản đóng góp cho các quỹ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Kinh phí công
đoàn do doanh nghiệp chịu và đợc tính vào chi phí kinh doanh theo một tỉ lệ nhất
định với số tiền lơng phát sinh của công nhân trực tiếp sản xuất.
Để theo dõi chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng TK 622 “Chi phí nhân công trực tiếp” Tài khoản này đợc mở chi tiết theo từng đối tợng tập hợp chi phí giống nh TK 621.
Bên Nợ: Tập hợp chi phí nhân công trực tiếp sản xuất sản phẩm thực hiện lao
Trang 12Sơ đồ 2: Sơ đồ kế toán chi phí nhân công trực tiếp
1.2.1.5 Kế toán chi phí trả trớc
Chi phí trả trớc (còn gọi là chi phí chờ phân bổ) là các khoản chi phí thực tế
đã phát sinh nhng cha tính hết vào chi phí sản xuất - kinh doanh của kì này mà đợc tính cho hai hay nhiều kì hạch toán sau đó Đây là những khoản chi phí phát một lần quá lớn hoặc do bản thân chi phí phát sinh có tác dụng tới kết quả hoạt động của nhiều kì hạch toán Kế toán sử dụng TK 142 để phản ánh các khoản chi phí trả tr ớc phân bổ hết cho các đối tợng chịu chi phí trong năm tài chính Nội dung phản ánh của tài khoản này nh sau:
Bên Nợ: Tập hợp các khoản chi phí trả trớc thực tế phát sinh.
Bên Có: Các khoản chi phí trả trớc đã phân bổ vào chi phí sản xuất kinh doanh.
D Nợ: Các khoản chi phí trả trớc thực tế đã phát sinh nhng cha phân bổ vào chi phí sản xuất kinh doanh
T K 6 2 2 T K 1 5 4
Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp
L ơng và phụ cấp phải trả cho nhân công trực tiếp
Trang 13Chi phí trả trớc thuộc đối tợng chịu chi phí trong năm tài chính bao gồm:
- Giá trị công cụ, dụng cụ nhỏ xuất dùng thuộc loại phân bổ nhiều lần (từ 2 lần trở lên).
- Giá trị sữa chữa lớn TSCĐ ngoài kế hoạch.
- Tiền thuê TSCĐ, phơng tiện kinh doanh trả tr …), chi ớc.
- Giá trị bao bì luân chuyển, đồ dùng cho thuê.
- Dịch vụ mua ngoài trả trớc (điện, điện thoại, vệ sinh, nớc ) …), chi
- Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp (với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài).
- Chi phí mua bảo hiểm tài sản, bảo hiểm kinh doanh, lệ phí giao thông, bến bãi…), chi
- Chi phí nghiên cứu, thí nghiệm, phát minh, sáng chế (giá trị ch …), chi a tính vào TSCĐ vô hình).
Theo thông t số 89/2002/TT-BTC ngày 9/10/2002, các chi phí thực tế đã phát sinh nhng có liên quan đến kết quả hoạt động SXKD của nhiều niên độ kế toán và việc kết chuyển các khoản chi phí này vào chi phí SXKD của các niên độ kế toán sau đợc phản ánh vào TK 242 Tơng tự nh TK 142 kết cấu của TK 242 nh sau:
Bên Nợ: Chi phí trả trớc dài hạn phát sinh trong kì.
Bên Có: Các khoản chi phí trả trớc dài hạn phân bổ vào chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh trong kì.
D Nợ: Các khoản chi phí trả trớc dài hạn cha tính vào chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh của năm tài chính.
Chi phí trả trớc dài hạn bao gồm:
- Chi phí trả trớc về thuê hoạt động TSCĐ (quyền sử dụng đất, nhà xởng, kho tàng, văn phòng làm việc, cửa hàng và TSCĐ khác) phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhiều năm tài chính.
- Tiền thuê cơ sở hạ tầng cho nhiều năm và phục vụ cho kinh doanh nhiều kì.
- Chi phí trả trớc phục vụ cho hoạt động kinh doanh của nhiều năm tài chính.
- Chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí quảng cáo phát sinh trong giai đoạn trớc khi hoạt động.
- Chi phí nghiên cứu có giá trị lớn.
- Chi phí cho giai đoạn triển khai không đủ tiêu chuẩn ghi nhận là TSCĐ vô hình.
Nguyễn Thị Ngọc Tú -Kế toán 41A
Trang 14- Chi phí đào tạo cán bộ quản lí và công nhân kĩ thuật.
- Chi phí di chuyển địa điểm kinh doanh, hoặc tổ chức lại doanh nghiệp.
- Lợi thế thơng mại trong trờng hợp mua lại doanh nghiệp, sáp nhập doanh nghiệp có tính chất mua lại.
- Chi phí mua các loại bảo hiểm (bảo hiểm cháy, nổ, bảo hiểm tài sản ) và …), chi các loại lệ phí mà doanh nghiệp mua và trả một lần cho nhiều niên độ kế toán.
- Công cụ, dụng cụ xuất dùng một lần với giá trị lớn và bản thân công cụ, dụng
cụ tham gia vào hoạt động kinh doanh trên một năm tài chính phải phân bổ dần vào
đối tợng chịu chi phí trong nhiều năm.
- Các khoản khác.
Trang 15Sơ đồ 3: Sơ đồ kế toán chi phí trả trớc.
1.2.1.6 Kế toán chi phí phải trả
Chi phí phải trả (còn gọi là chi phí trích trớc) là những khoản chi phí thực tế cha phát sinh nhng đợc ghi nhận là chi phí của kì hạch toán Đây là những khoản chi phí trong kế hoạch của đơn vị mà do tính chất hoặc yêu cầu quản lí nên đợc tính trớc vào chi phí kinh doanh cho các đối tợng chịu chi phí nhằm đảm bảo cho giá thành sản phẩm, lao vụ, chi phí bán hàng, chi phí quản lí khỏi đột biến tăng khi những khoản chi phí này phát sinh Các khoản chi phí phải trả đợc theo dõi, phản ánh trên
TK 335 “Chi phí phải trả” Nội dung phản ánh của tài khoản này nh sau:
Bên Nợ: Tập hợp chi phí phải trả thực tế phát sinh.
Bên Có: Các khoản chi phí phải trả đợc ghi nhận (đã trích trớc ) vào chi phí trong kì theo kế hoạch.
D Có: Các khoản chi phí phải trả đã tính vào chi phí kinh doanh nhng thực tế cha phát sinh.
Chi phí phải trả trong doanh nghiệp thờng bao gồm:
Nguyễn Thị Ngọc Tú -Kế toán 41A
T K 1 4 2 , 2 4 2 T K 6 2 7 , 6 4 1 , 6 4 2 , 2 4 1 , 6 3 5
Phân bổ dần chi phí trả tr
ớc vào các kì hạch toán
Chi phí trả tr ớc thực tế Thực tế phát sinh
Giá trị công cụ dụng cụ, bao bì luân chuyển cho thuê xuất dùng
T K 111 , 11 2 , 3 3 1 , 3 3 4 …
T K 1 5 3
T K 9 11
Kết chuyển dần chi phí bán hàng, chi phí quản lí vào TK xác định kết quả
D Đ K x x x
T K 6 4 1 , 6 4 2
Kết chuyển chi phí bán hàng, chi phí quản lí
Trang 16- Tiền lơng phép theo kế hoạch của công nhân sản xuất.
- Chi phí sữa chữa TSCĐ trong kế hoạch.
- Thiệt hại ngừng sản xuất trong kế hoạch.
- Chi phí bảo hành sản phẩm trong kế hoạch.
- Lãi tiền vay cha đến hạn trả.
- Tiền thuê TSCĐ, mặt bằng kinh doanh, dụng cụ, công cụ ch …), chi a trả.
- Các dịch vụ mua ngoài sẽ cung cấp.
Sơ đồ 4: Sơ đồ kế toán chi phí phải trả
1.2.1.5 Kế toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là những chi phí cần thiết còn lại để sản xuất sản phẩm Đây là những chi phí phát sinh trong phạm vi các phân xởng, bộ phận sản xuất của doanh nghiệp.
Để theo dõi và phản ánh các khoản chi phí sản xuất chung, kế toán sử dụng
TK 627 “Chi phí sản xuất chung” Tài khoản này đợc mở theo từng phân xởng, bộ phận sản xuất TK 627 có kết cấu nh sau:
T K 3 3 5 T K 6 2 2
Tiền l ơng phép, l ơng ngừng việc của công nhân sản xuất
Tiền l ơng phép, l ơng ngừng việc thực tế phải trả
thực tế nhỏ hơn chi phí phải trả kế hoạch
Trang 17TK 627 cuối kì không có số d do đã kết chuyển hay phân bổ hết cho các loại sản phẩm, dịch vụ, lao vụ và đợc chi tiết thành 6 tài khoản cấp 2:
TK 6271 - Chi phí nhân viên phân xởng
TK 6272 - Chi phí vật liệu
TK 6273 - Chi phí dụng cụ sản xuất
TK 6274 - Chi phí khấu hao TSCĐ
TK 6277 - Chi phí dịch vụ mua ngoài
T K 1 3 3
Thuế GTGT
đầu vào
Trang 18Sơ đồ 5: Kế toán chi phí sản xuất chung.
1.2.1.6 Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất
Để phản ánh quá trình tổng hợp chi phí sản xuất phát sinh trong kì theo
ph-ơng pháp kê khai thờng xuyên, kế toán sử dụng TK 154 - “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang” TK 154 đợc mở chi tiết cho từng ngành sản xuất, từng nơi phát sinh chi phí hay từng loại sản phẩm, nhóm sản phẩm, chi tiết sản phẩm, từng loại lao vụ, dịch vụ …), chi của các bộ phận sản xuất - kinh doanh chính, sản xuất kinh - doanh phụ (kể cả thuê ngoài gia công chế biến)
T K 1 5 4
Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất Kết chuyển chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp
Kết chuyển (hoặc phân bổ) chi phí sản xuất chung
Tổng giá
thành thực tế sản phẩm hoàn thành
Nhập kho
Tiêu thụ thẳng Chờ chấp nhận
T K 1 5 7
Trang 19Sơ đồ 6: Tổng hợp chi phí sản xuất theo phơng pháp kê khai thờng xuyên.
1.2.2 Kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang cuối kì
1.2.2.1 ý nghĩa của việc đánh giá sản phẩm dở dang
Sản phẩm dở dang là những sản phẩm cha kết thúc giai đoạn chế biến, còn nằm trong quá trình sản xuất Để tính đợc giá thành sản phẩm doanh nghiệp cần phải tiến hành kiểm kê đánh giá sản phẩm dở dang Giá thành sản phẩm có đợc tính
đúng tính đủ hay không phụ thuộc vào việc giá trị sản phẩm dở dang có đợc tính chính xác hay không Chính vì thế doanh nghiệp cần phải lựa chọn phơng pháp đánh giá sản phẩm dở dang phù hợp nhất với đặc điểm tổ chức sản xuất, quy trình công nghệ sản xuất và tính chất sản phẩm của doanh nghiệp.
1.2.2.2 Kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang
Doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong các phơng pháp đánh giá sản phẩm
dở dang nh sau:
- Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu chính.
- Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo sản lợng ớc tính tơng đơng.
- Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo 50% chi phí chế biến.
- Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo chi phí phí nguyên vật liệu trực tiếp hoặc theo chi phí trực tiếp.
- Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo chi phí định mức hoặc kế hoạch.
Trong đó xác định giá trị sản phẩm dở dang theo sản lợng ớc tính tơng đơng
đợc tính nh sau:
Kế toán dựa theo mức độ hoàn thành và số lợng sản phẩm dở dang để quy đổi sản phẩm dở dang thành sản phẩm hoàn thành Tiêu chuẩn quy đổi thờng dựa vào giờ công hoặc tiền lơng định mức Để đảm bảo tính chính xác của việc đánh giá, ph-
ơng pháp này chỉ nên áp dụng để tính các chi phí chế biến, còn các chi phí nguyên vật liệu chính phải đợc xác định theo số thực tế đã dùng.
Giá trị vật liệu
chính nằm trong = Số lợng sản phẩm dở dang cuối kì x
Toàn bộ giá trị vật liệu chính
Nguyễn Thị Ngọc Tú -Kế toán 41A
Trang 20Số lợng thành phẩm +
Số lợng sản phẩm dở dang (quy đổi ra thành phẩm)
Chi phí chế biến ở đây bao gồm: Giá trị vật liệu phụ tiêu hao cho sản xuất, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.
1.2.3 Tính giá thành sản phẩm
1.2.3.1 Đối tợng tính giá thành sản phẩm
Xác định đối tợng tính giá thành chính là việc xác định sản phẩm, bán thành phẩm, công việc, lao vụ nhất định đòi hỏi phải tính giá thành một đơn vị Đối tợng
đó có thể là sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất hay là sản phẩm của một giai
đoạn sản xuất, tuỳ theo yêu cầu của chế độ kế toán mà doanh nghiệp áp dụng.
Việc xác định rõ mối quan hệ và sự khác nhau giữa đối tợng hạch toán chi phí sản xuất và đối tợng tính giá thành là vấn đề có ý nghĩa lớn, mang tính định h- ớng cho tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Để phân biệt
đợc đối tợng hạch toán chi phí sản xuất và đối tợng tính giá thành ngay cả khi chúng
đồng nhất là một, cần dựa vào các cơ sở sau:
- Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất: (sản xuất giản đơn hay phức tạp)
Với sản xuất giản đơn, đối tợng hạch toán chi phí sản xuất có thể là sản phẩm hay toàn bộ quá trình sản xuất (nếu sản xuất một thứ sản phẩm) hoặc có thể là nhóm sản phẩm (nếu sản xuất nhiều loại sản phẩm) Đối tợng tính giá thành ở đây là sản phẩm cuối cùng.
Với sản xuất phức tạp, đối tợng hạch toán chi phí sản xuất có thể là bộ phận, chi tiết sản phẩm, các giai đoạn chế biến, phân xởng sản xuất hoặc nhóm chi tiết, bộ phận sản phẩm …), chi Còn đối t ợng tính giá thành lại là thành phẩm ở bớc chế tạo cuối cùng hay bán thành phẩm ở từng bớc chế tạo.
Trang 21Với sản xuất đơn chiếc và sản xuất hàng loạt nhỏ, đối tợng hạch toán chi phí
là các đơn đặt hàng riêng biệt, còn đối tợng tính giá thành là sản phẩm của từng đơn
- Yêu cầu và trình độ quản lí, tổ chức sản xuất kinh doanh:
Dựa trên cơ sở trình độ, yêu cầu và tổ chức quản lí để xác định đối tợng hạch toán chi phí sản xuất và đối tợng tính giá thành Với trình độ cao, có thể chi tiết đối tợng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành ở các góc độ khác nhau Ng ợc lại, nếu trình độ thấp thì đối tợng đó có thể bị hạn chế và bị thu hẹp lại.
1.2.3.2 Đơn vị tính giá thành và kì tính giá thành
Đơn vị tính giá thành là căn cứ tính đợc thừa nhận phổ biến trong nền kinh tế quốc dân và phải phù hợp với tính chất hoá lí của sản phẩm Đơn vị tính giá thành phải tơng ứng với đơn vị tính đã ghi trong kế hoạch của doanh nghiệp
Trên cơ sở đối tợng tính giá thành đã xác định, căn cứ vào chu kì sản xuất sản phẩm, đặc điểm tổ chức sản xuất, tính chất sản phẩm, để xác định kì tính giá thành nhằm cung cấp số liệu về giá thành sản phẩm một cách kịp thời phục vụ cho công tác quản lí doanh nghiệp Thông thờng, những doanh nghiệp sản xuất với khối lợng lớn, chu kì sản xuất ngắn thì kì tính giá thành thích hợp là hàng tháng Còn đối với những doanh nghiệp sản xuất đơn chiếc hoặc theo từng đơn đặt hàng, có chu kì sản xuất dài, sản phẩm hay nhóm sản phẩm hoàn thành khi kết thúc chu kì sản xuất của sản phẩm hay nhóm sản phẩm đó thì kì tính giá thành là thời điểm hoàn thành Kì tính giá thành ở đây không trùng với thời điểm báo cáo.
Trang 22- Phơng pháp tỉ lệ.
- Phơng pháp loại trừ giá trị sản phẩm phụ.
- Phơng pháp liên hợp.
Phơng pháp trực tiếp (còn gọi là phơng pháp giản đơn): phơng pháp này đợc
áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất giản đơn, số lợng mặt hàng
ít, sản xuất với khối lợng lớn và chu kì sản xuất ngắn nh các nhà máy điện, nớc, các doanh nghiệp khai thác (quặng, than, gỗ …), chi )
Giá thành sản phẩm =
Tổng chi phí sản xuất
+ -
định kì hàng tháng phù hợp với kì báo cáo, đối tợng tính giá thành tơng ứng với đối tợng tập hợp chi phí sản xuất; thì công việc tính giá thành thờng đợc tiến hành vào cuối tháng theo phơng pháp trực tiếp (giản đơn) hoặc phơng pháp liên hợp.
1.2.4 Sổ kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Trớc hết, kế toán mở sổ (hoặc thẻ) hạch toán chi phí sản xuất theo từng đối t ợng tập hợp chi phí (phân xởng, bộ phân sản xuất sản phẩm, nhóm sản phẩm …), chi ) Sổ
-đợc mở riêng cho từng TK 621, 622, 627, 154, 142, 335 Căn cứ để ghi vào sổ là sổ chi tiết các TK tháng trớc và các chứng từ gốc, các bảng phân bổ (tiền lơng, BHXH, vật liệu, dụng cụ, khấu hao …), chi ), bảng kê chi phí theo dự toán Sổ có thể mở riêng theo từng đối tợng hoặc mở chung cho nhiều đối tợng Tiếp theo đó, kế toán tập hợp chi phí phát sinh trong kì có liên quan đến từng đối tợng hạch toán Sau đó, kế toán tổng hợp toàn bộ chi phí phát sinh theo từng nội dung thuộc từng đối tợng hạch toán vào cuối kì làm cơ sở cho việc tính giá thành Đồng thời lập thẻ tính giá thành sản phẩm dịch vụ theo từng loại Căn cứ để lập thẻ tính giá thành từng loại sản phẩm, dịch vụ là các thẻ tính giá thành sản phẩm kì trớc, sổ hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh kì này và biên bản kiểm kê, đánh giá sản phẩm dở dang cuối kì cùng với bảng
kê khối lợng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành trong kì Các doanh nghiệp đang sử dụng
Trang 23- Hình thức Chứng từ ghi sổ.
- Hình thức Nhật kí - Chứng từ.
Hiện nay, Công ty Việt Hà đang sử dụng hình thức sổ Nhật kí - Chứng từ để hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Đây là hình thức sổ phù hợp với những doanh nghiệp có quy mô lớn, loại hình kinh doanh phức tạp, có trình độ quản lí cũng nh trình độ kế toán cao Hình thức sổ Nhật kí - Chứng từ dùng để tập hợp và hệ thống hoá các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo bên Có của các tài khoản kết hợp với việc phân tích các nghiệp vụ đó theo bên Nợ của các tài khoản đối ứng.
Để theo dõi chi phí sản xuất kinh doanh, kế toán sử dụng các sổ chi tiết, Bảng phân
Theo kế toán Pháp, chi phí sản xuất đợc hiểu là số tiền bỏ ra để mua các yếu
tố cần thiết để tạo ra sản phẩm mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Nguyễn Thị Ngọc Tú -Kế toán 41A
Chứng từ về chi phí sản xuất kinh doanh
Trang 24Chi phÝ gåm hai bé phËn:
- Chi phÝ mua hµng ho¸, vËt t, c¸c lo¹i dù tr÷ cho s¶n xuÊt.
- C¸c phÝ tæn ph¸t sinh trong qu¸ tr×nh s¶n xuÊt kinh doanh.
Trang 25- Không tính vào chi phí những số tiền bỏ ra nh mua sắm TSCĐ hữu hình, vô hình, mua chứng khoán …), chi Nh ng đợc tính vào chi phí một số khoản doanh nghiệp không phải trả.
Giá thành sản phẩm bao gồm giá phí sản xuất và giá phí phân phối
Nguyễn Thị Ngọc Tú -Kế toán 41A
Trang 26Giá phí sản xuất bao gồm những giá phí vật liệu sử dụng trong sản xuất và các chi phí về sản xuất nh chi phí nhân công, tu bổ sữa chữa, khấu hao.
Giá phí phân phối bao gồm các chi phí về tiêu thụ sản phẩm, chi phí vận chuyển bao bì, đóng gói, thuế bảo hiểm …), chi
Trang 27Đối với kế toán Việt Nam, Giá thành sản xuất sản phẩm đợc tính dựa vào chi phí sản xuất sản phẩm.
Còn đối với kế toán Pháp thì:
Giá thành sản xuất sản phẩm = Giá phí sản xuất + Giá phí phân phối
Nguyễn Thị Ngọc Tú -Kế toán 41A
Trang 28Nh vậy, giá thành sản phẩm của kế toán Pháp có thêm chỉ tiêu giá phí phân phối Trong đó giá phí phân phối của kế toán Pháp thực chất là Chi phí bán hàng Xuất phát từ quan điểm giá thành là toàn bộ hao phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
đợc bù đắp bằng doanh thu bán hàng nên nội dung cấu thành giá thành sản phẩm của kế toán Pháp phản ánh đầy đủ lợng hao phí mà doanh nghiệp phải bù đắp.
Trang 29Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm: Kế toán Pháp
sử dụng phơng pháp kiểm kê định kì để hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Nguyễn Thị Ngọc Tú -Kế toán 41A
Trang 30TK chi phí quản lí thông th ờng
Giảm giá, bớt giá, hồi khấu kết chuyển vào cuối năm
Kết chuyển tồn đầu năm
TK thuế, đảm phụ và các khoản phải nộp
TK dịch vụ mua ngoài
TK mua hàng
TK chênh lệch tồn kho NVL,
TK chênh lệch tồn kho các loại dự trữ sản xuất khác
Trang 31Sơ đồ 8: Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của kế toán Pháp
Giá thành sản phẩm (hay giá phí sản xuất): là các chi phí liên quan quá trình sản xuất sản phẩm.
Giá thành (hay giá phí) chung cho kì kế toán: là các giá phí liên quan các hoạt động chung cho kì kế toán Nh vậy, giá thành chung bao gồm chi phí bán hàng
và chi phí quản lí doanh nghiệp.
Khi xuất dùng nguyên vật liệu, kế toán Mỹ hạch toán thẳng giá trị nguyên vật liệu vào chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
tự kế toán Việt Nam
Kế toán Mỹ và kế toán Việt Nam thờng hạch toán chi phí sản xuất theo
ph-ơng pháp kê khai thờng xuyên Phph-ơng pháp hạch toán chi phí theo kiểm kê định kì ít
Chi phí dịch vụ mua ngoài dùng cho sản xuất
Chi phí nhân công trực tiếp
Giá vốn thành phẩm tiêu thụ
Trang 32Sơ đồ 9: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo phơng pháp kiểm kê định kì của kế toán Mỹ
Phần 2 Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Việt Hà
2.1 Những đặc điểm kinh tế - kĩ thuật của Công ty Việt Hà ảnh ởng đến kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
h-2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Cho đến nay Công ty Việt Hà đã có đợc 37 năm hoạt động Do yêu cầu của Nhà
Trang 33Năm 1966 theo quyết định của UBND Thành phố Hà Nội, hợp tác xã Ba Nhất
đổi tên thành “Xí nghiệp nớc chấm chuyên sản xuất nớc chấm, dấm, tơng” Xínghiệp nớc chấm này trực thuộc Sở Công nghiệp Hà nội Các sản phẩm sản xuất
đều theo chỉ tiêu, kế hoạch và pháp lệnh
Sau khi Nghị quyết hội nghị Trung ơng VI và Nghị quyết 25, 26 CP ngày21/10/1981 của Chính phủ cho phép các xí nghiệp tự lập kế hoạch, một phần tựkhai thác vật t nguyên liệu và tự tiêu thụ, Xí nghiệp đã áp dụng cơ chế đa dạnghóa sản phẩm với nhiều chủng loại mặt hàng nh: rợu, mỳ sợi, dầu ăn, bánh phồngtôm, kẹo các loại…), chiphù hợp với thị hiếu ngời tiêu dùng Với thành tích đó ngày4/5/1982 Xí nghiệp đợc đổi tên thành Nhà máy thực phẩm Hà Nội theo quyết
định 1652 QĐUB của UBND Thành phố Hà Nội Lúc này Nhà máy có khoảng
500 công nhân, sản xuất vẫn mang tính thủ công
Quyết định số 217/HĐBT ngày 14/11/1987 ra đời, quyền tự chủ trong sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp đợc phát huy Với chính sách này nhà máy đợcquyền huy động mọi nguồn vốn và quỹ, tự chủ trong việc xác định phơng án sảnxuất kinh doanh.Vì vậy, thời kì này Nhà máy đã mạnh dạn đầu t sản xuất sảnphẩm để xuất khẩu sang Liên Xô cũ và một số nớc Đông Âu Cho đến năm 1989
- 1990 khi biến động chính trị ở Liên Xô và một số nớc Đông Âu xảy ra, kéotheo sự suy sụp về kinh tế ở các nớc đó, Nhà máy nớc chấm mất đi nguồn tiêuthụ, tình hình sản xuất trở nên khó khăn
Cuối năm 1990, Nhà máy hầu nh không sản xuất và chờ giải thể Đứng trớc tìnhhình đó, ban lãnh đạo Nhà máy đã đề ra mục tiêu chính là: Đổi mới công nghệ,
đầu t chiều sâu, tìm phơng hớng sản xuất sản phẩm có giá trị cao, liên doanh liênkết trong và ngoài nớc Đợc các cấp các ngành thành phố giúp đỡ, Nhà máyquyết định đi vào sản xuất mặt hàng bia Đây là hớng đi dựa trên các nghiên cứu
về thị trờng, nguồn vốn và phơng hớng lựa chọn kỹ thuật và công nghệ Nhà máy
đã mạnh dạn vay vốn đầu t, mua thiết bị sản xuất bia hiện đại của Đan Mạch đểsản xuất bia lon, với tên gọi là bia Halida Bên cạnh đó Nhà máy còn sản xuất biahơi Tháng 6/ 1992 theo quyết định 1224/QĐUB nhà máy đợc đổi tên là Nhàmáy bia Việt Hà
Ngày 1/4/1993 Nhà máy quyết định dùng dây truyền sản xuất bia lon Halida vàquyền sử dụng đất của mình để liên doanh với hãng bia Carlsberg của Đan Mạch,với mục đích là có đợc sự ổn định hơn cho nhãn hiệu bia Halida và nguồn lợinhuận từ hoạt động liên doanh Đến tháng 10 năm 1993, liên doanh chính thức đivào hoạt động với tên gọi “Nhà máy bia Đông Nam á” trong đó phần vốn gópcủa Nhà máy bia Việt Hà là 72,67 tỷ đồng, chiếm 40% tổng số vốn liên doanh
Nguyễn Thị Ngọc Tú -Kế toán 41A
Trang 34Hoạt động cũng nh việc hạch toán của Nhà máy bia Đông Nam á hoàn toàn độclập với nhà máy bia Việt Hà.
Sau khi đã liên doanh với hãng bia Carlsberg, Nhà máy bia không còn sản xuấtbia lon hay bia chai nữa mà chỉ sản xuất sản phẩm bia hơi chất l ợng cao và nớckhoáng tên gọi là Opal Hoạt động của Nhà Máy bia Việt Hà ngày càng pháttriển vững mạnh Đợc sự đồng ý của Sở Công nghiệp Hà Nội và theo quyết địnhcủa Uỷ Ban nhân dân Thành phố Hà Nội, đến ngày 2/11/1994, Nhà máy đổi tênthành Công ty bia Việt Hà, trụ sở tại số 245, đờng Minh Khai, quận Hai Bà Trng.Lúc bấy giờ trực thuộc công ty bao gồm hai phân xởng sản xuất bia hơi (phân x-ởng I tại công ty, phân xởng II tại số 47 Quỳnh Lôi), một trung tâm thể dục thểthao tại 493 Trơng Định - quận Hai Bà Trng và một phân xởng sản xuất nớckhoáng Opal đóng ở thành phố Nam Định Công ty còn dự định sản xuất thêmsản phẩm dấm ăn với tên gọi là Vivi Trong đó Công ty xác định bia hơi vẫn làsản phẩm chính Vào giai đoạn này cái tên bia hơi Việt Hà đã trở nên quen thuộcvới ngời tiêu dùng ở Hà Nội và một số tỉnh lân cận
Năm 1998, để thực hiện chủ trơng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc, theo quyết
định số 35/98QĐUB ngày 15/9/1998 của UBND Thành phố Hà Nội, Công ty tiếnhành cổ phần hoá phân xởng II tại 57 Quỳnh Lôi thành công ty cổ phần tên gọi làCông ty cổ phần Việt Hà Tại Công ty cổ phần này Công ty bia Việt Hà giữ số cổphần chi phối là 20% Công ty cổ phần Việt Hà hoạt động và hạch toán độc lập
Năm 1999, theo quyết định 5775/QĐUB của UBND Thànhphố Hà nội ngày 29/12/1999, Công ty bia Việt Hà tiếp tục cổphần hoá Trung tâm thể dục thể thao tại 493 Tr ơng Định thànhCông ty cổ phần, trong đó Công ty bia Việt Hà giữ 37% số vốn
điều lệ Cũng nh vậy công ty cổ phần mới này hoạt động và hạchtoán độc lập với Công ty bia Việt Hà
Do nhu cầu mở rộng hơn nữa lĩnh vực kinh doanh nên Công ty bia Việt Hà cần
có một tên gọi phù hợp hơn Vì vậy đầu năm 2002, Công ty bia Việt Hà đã đổitên thành Công ty sản xuất kinh doanh đầu t và dịch vụ Việt Hà gọi tắt là Công tyViệt Hà (theo Quyết định số 6103/QĐ-UB ngày 04/09/2002 của Uỷ ban nhândân Thành phố Hà nội)
Cuối năm 2002, do yêu cầu của Nhà nớc, hai công ty là Công ty kinh doanh thực
Trang 35sản xuất, Công ty chỉ đang tập trung giải quyết số mỹ phẩm còn tồn kho Riêng
đối với dấm ăn Vivi, do Nhà máy dấm Vivi đang trong quá trình xây dựng nênhiện nay sản phẩm dấm ăn Vivi cũng cha đi vào sản xuất Công ty dự kiến sẽ đasản phẩm này ra thị trờng trong một thời gian không xa nữa
Với mục đích để nâng cao hiệu quả kinh doanh và mở rộng quy mô sản xuất,hiện nay Công ty Việt Hà có các đơn vị thành viên sau:
- Nhà máy bia Việt Hà (tại Công ty Việt Hà: 245 Minh Khai, Hà Nội )
- Nhà máy nớc tinh khiết Opal (300 Trờng Chinh, Nam Định)
- Nhà máy dấm Vivi (đang xây dựng)
- Công ty kinh doanh xuất nhập khẩu tổng hợp và dịch vụ mỹ phẩm (trụ sởchính tại Công ty Việt Hà)
Các đơn vị thành viên của Công ty Việt Hà không hạch toán độc lập mà toàn bộhoá đơn chứng từ ở đó đều đợc chuyển đến Công ty Việt Hà để hạch toán Nhàmáy nớc tinh khiết Opal ở Nam Định vẫn thực hiện nộp thuế nh quy định cho địaphơng
Tiến tới, để phù hợp với chủ trơng của Nhà nớc các đơn vị thành viên sẽ hoạt
động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con
Sau khi thực hiện liên doanh với hãng bia Carlsberg Toàn bộ dây chuyền sảnxuất bia lon và bia chai của Công ty Việt Hà chuyển giao cho Công ty bia ĐôngNam á Hiện nay, Công ty chỉ tập trung sản xuất sản phẩm chính là bia hơi, cònsản phẩm nớc khoáng Opal hiện đang trong giai đoạn thâm nhập thị trờng
Cho đến nay bia hơi Việt Hà đã có một chỗ đứng vững chắctrong thị tr ờng bia hơi của Hà Nội và các tỉnh lân cận Sau quátrình nghiên cứu các đặc điểm nh nhu cầu và tầng lớp kháchhàng, mức thu nhập của những ng ời tiêu dùng, đặc điểm về thờitiết v.v Công ty xác định sản phẩm bia hơi sẽ là sản phẩm chiếnlợc của mình Bia hơi có một số đặc điểm khác so với một số sảnphẩm thông th ờng khác ở chỗ khả năng tiêu thụ của nó phụ thuộcvào thời tiết, khoảng thời gian sản phẩm đ ợc tiêu thụ nhiều là từtháng 3 đến tháng 11 Trong những tháng cao điểm của mùa hèCông ty phải sản xuất với công suất tối đa Tổng công suất củanhà máy là 18 triệu lít bia hơi một năm Thị phần của bia hơi
Nguyễn Thị Ngọc Tú -Kế toán 41A
Trang 36Việt Hà hiện nay tại Hà Nội chiếm khoảng 35%, chỉ đứng saubia hơi Hà Nội (chiếm thị phần xấp xỉ 40%).
Công ty Việt Hà là doanh nghiệp Nhà nớc, hạch toán độc lập, có t cách phápnhân, tự chủ về tài chính, có con dấu riêng, hoạt động theo Luật doanh nghiệpnhà nớc, thuộc UBND Thành phố Hà nội, dới sự quản lí trực tiếp của Sở Côngnghiệp Hà Nội Mục tiêu của Công ty hiện nay là đa dạng hoá các loại hình sảnphẩm nhng vẫn đảm bảo chất lợng và có sự cải tiến sản phẩm truyền thống.Chiến lợc của Công ty là trong tơng lai sẽ sản xuất kinh doanh bia hơi, bia lon,bia chai và các loại nớc khoáng, nớc giải khát có ga, không ga…), chi Bên cạnh đó,chiến lợc lâu dài của Công ty còn là xuất khẩu sản phẩm của mình ra nớc ngoài,thực hiện liên doanh, liên kết với các đơn vị kinh tế trong và ngoài nớc
Hiện nay, chức năng chính của Công ty vẫn là tập trung sản xuất sản phẩm biahơi và từng bớc đa sản phẩm nớc khoáng Opal vào thị trờng Từ chức năng đó,Công ty có nghĩa vụ với Nhà nớc là thực hiện nộp thuế GTGT đối với mặt hàngnớc khoáng và thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng bia hơi Ngoài ra Công tycòn phải nộp các loại thuế khác theo quy định của Nhà nớc Bên cạnh đó để thựchiện tốt chức năng của mình Công ty còn tập trung nâng cao trình độ tay nghềcủa đội ngũ công nhân viên cũng để bắt kịp công nghệ mới, tình hình mới nhằmthúc đẩy sự phát triển của Công ty
2.1.2 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lí của Công ty
Bộ máy quản lí của công ty đợc đợc thực hiện theo mô hình kết hợp (trực tuyến– chức năng) Với mô hình này, những quyết định quản lí do các phòng chứcnăng nghiên cứu, đề xuất với thủ trởng Khi đợc thủ trởng thông qua biến thànhmệnh lệnh đợc truyền đạt từ trên xuống dới theo tuyến đã quy định
Giám đốc
PGĐ tổ chức hành
chính
chính, kinh doanh
Ph
òng hành
chính
Phòng tổ chức
Ph òng bảo vệ
Phòng KT, KCS
Phò
ng kế hoạch kho, vận tải
Kế toán
Trang 37Sơ đồ 10: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lí của Công ty Việt Hà
Giám đốc là ng ời có quyền cao nhất trong Công ty, có tráchnhiệm quản lí, điều hành mọi hoạt động của Công ty trên cơ sởchấp hành đúng đắn chủ tr ơng, chính sách, chế độ Nhà n ớc, chịutrách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty
- Phó giám đốc kĩ thuật có nhiệm vụ theo dõi, chỉ đạo và giám sát thực hiệncông tác nghiệp vụ của các phòng ban phân xởng bao gồm: phòng kĩ thuật -KCS, phòng kế hoạch - kho - vận tải, Nhà máy bia Việt Hà (đóng tại Công ty,
254 Minh Khai), những công việc liên quan đến công tác sản xuất, kĩ thuật vàchất lợng sản phẩm, an toàn lao động, vệ sinh thực phẩm
- Phó giám đốc hành chính - tổ chức có nhiệm vụ theo dõi chỉ đạo thực hiệnnhiệm vụ của các phòng ban bao gồm phòng hành chính quản trị, phòng tổ chứcnhân sự, phòng bảo vệ, những công tác liên quan đến công tác hành chính, tổchức nhân sự, bảo vệ, phong trào thi đua…), chi
- Phó giám đốc kinh doanh có nhiệm vụ theo dõi chỉ đạo và giám sát thựchiện công tác nghiệp vụ của các phòng ban bao gồm phòng tài chính, phòng kếhoạch - kho - vận tải, phòng bán hàng marketing, ban điều hành vận tải, cửa hàngdịch vụ giới thiệu sản phẩm, những công việc liên quan đến công tác tài chính vàkinh doanh
Các phòng ban chức năng chịu sự điều hành trực tiếp của các Phó giám đốc.Ngoài việc thực hiện các chức năng của mình các phòng ban còn có mối quan hệchặt chẽ với nhau nhằm kiểm tra, đối chiếu số liệu và giúp đỡ nhau hoàn thànhtốt công việc đợc giao
Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban nh sau:
Nguyễn Thị Ngọc Tú -Kế toán 41A
Trang 38- Phòng KT - KCS có nhiệm vụ kiểm tra nguyên nhiên vật liệu trớc khi mua
về nhập kho, trớc khi đa vào sản xuất; kiểm tra tình hình hoạt động của hệ thốngmáy móc thiết bị sản xuất; kiểm tra việc chấp hành quy trình kĩ thuật phơng phápthao tác của công nhân, kiểm tra chất lợng sản phẩm trớc khi tiêu thụ
- Phòng tổ chức có nhiệm vụ tham mu cho giám đốc về tổ chức bộ máy sảnxuất kinh doanh, bố trí nhân sự phù hợp với yêu cầu phát triển của Công ty, theodõi lao động tiền lơng, xem xét nâng bậc lơng cho CBCNV theo chế độ quy định,theo dõi thi đua, chế độ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thân thể, làmcác chế độ về huân huy chơng
- Phòng hành chính quản trị có nhiệm vụ sắp xếp lịch công tác, hội nghị củacông ty; tiếp khách đối nội, đối ngoại của công ty; sắp xếp, điều hành xe ôtô conphục vụ công tác; tiếp nhận công văn cũng nh mọi yêu cầu, kiến nghị củaCBCNV trong Công ty và báo cáo giám đốc giải quyết; kết hợp với công đoàntạo điều kiện cho CBCNV trong phòng tích cực tham gia các phong trào thi đuatrong Công ty, phong trào vệ sinh phòng bệnh, an toàn nơi làm việc; lập dự trùchi phí hành chính hàng tháng và thực hiện theo kế hoạch đợc duyệt; quản lí tàiliệu lu trữ cũng nh các trang thiết bị hành chính trong Công ty; tổ chức quản línhà ăn và bộ phận y tế phục vụ CBCNV
- Phòng kế hoạch vật t có nhiệm vụ phát hiện nhu cầu vật t, kiểm kê số vật t tồn kho, mua sắm vật t, nhập kho và bảo quản vật t, cấp phát vật t.
- Phòng bán hàng - marketing có nhiệm vụ thu thập các thông tin về thị trờng, hoạch định các chính sách sản phẩm, hoạch định các chính sách về giá cả, hoạch định chính sách phân phối, hoạch định chính sách hỗ trợ tiêu thụ.
- Phòng tài chính kế toán có nhiệm vụ ghi chép, tổng hợp, tham mu cho cấptrên các vấn đề về tài chính nh tạo vốn, sử dụng vốn, quản lý vốn (chủ yếu làquản lý lu thông, thanh toán, các quan hệ tín dụng) và kế toán sổ sách, tính toánchi phí - thu nhập, lỗ lãi, lập các Báo cáo tài chính
2.1.3 Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
Trang 39bột trợ lọc, giấy lọc, hoá chất tẩy rửa (P3reencone, P3oxonia, NaOH) Trong đóMalt (lúa mạch qua sơ chế cha rang) đợc nhập khẩu chủ yếu của Đan Mạch,Anh Hoa Hublon tạo hơng vị bia cũng đợc nhập khẩu từ Đan Mạch hoặc Đức.Các nguyên liệu khác nh gạo, chất trợ lọc…), chi ợc mua trong nớc.đ
Vật liệu phụ bao gồm: hoá chất phòng thí nghiệm, cát lọc nớc, than hoạt tính,hoá chất xử lí nớc (zaven, hạt cation…), chi), ga NH3, các loại dầu, mỡ bôi trơn, dầulạnh…), chiphục vụ cho qúa trình sản xuất
Ngoài ra để hoàn thành quy trình sản xuất bia còn sử dụng
- Nhiên liệu: xăng, dầu ôtô, ga bếp
- Các phụ tùng thay thế vật t sửa chữa
- Các trang bị, phơng tiện: máy móc, thiết bị sản xuất, trang bị bảo hộ lao
động…), chi
- Bao bì: bom bia và dụng cụ chứa đựng bia; các loại bao bì khác
Nguyễn Thị Ngọc Tú -Kế toán 41A
Trang 40Sơ đồ 11: Quy trình công nghệ sản xuất bia
Quá trình sản xuất sản phẩm từ nguyên liệu đầu vào cho đến thành phẩm xuất ởng đều đợc điều hành và kiểm soát một cách chặt chẽ
x- Đặc điểm tiêu thụ sản phẩm
Hiện nay, với sự thành công của sản phẩm bia hơi Việt Hà, Công ty đã có hơn
200 đại lí ở Hà Nội và các tỉnh lân cận Các đại lí đợc phân thành 3 cấp, sự phân
Gạo tẻ
Dịch hoá
NấuXay nghiền
Men giống
Lên men phụ
Bia thành phẩm
Đ ờng hoá
Malt
Nấu hoa
Hoa hublon
Lọc trongLọc
Xay nghiền, ngâm
N ớc
Lên men chính