LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan toàn bộ Luận văn th ạc sĩ tốt nghi ệp chuyên ngành Châu Á học với đề tài “ Vấn đề tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng cho các doanh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN HÙNG MẠNH
VẤN ĐỀ THAM GIA CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀO CHUỖI CUNG ỨNG CHO CÁC DOANH NGHIỆP
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ Luận văn th ạc sĩ tốt nghi ệp chuyên ngành Châu Á học với đề tài “ Vấn đề tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp Nhật Bản từ năm 2005 đến nay – Cơ hội và thách thức ” là công trình nghiên cứu của riêng tôi , được thực hi ện dưới sự hướng dẫn của TS Phạm Thị Thu Giang
Mọi trích dẫn trong Lu ận văn này đều được ghi nguồn đầy đủ , cụ thể Luận văn này không trùng lặp với bất cứ nội dung luận văn nào đã công bố
TÁC GIẢ
NGUYỄN HÙNG MẠNH
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn TS Phạm Thị Thu Giang đã tận tình hướng dẫn , chỉ bảo và khích
lệ động viên em trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo b ộ môn Nhật Bản học, khoa Đông phương ho ̣c , trường Đại học Khoa h ọc Xã hội và Nhân văn, Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà N ội đã chỉ dạy, quan tâm giúp đỡ em trong suốt quá trình ho ̣c tập, nghiên cứu và tạo điều kiện để em được có cơ hội được ho ̣c tập và phát biểu ý tưởng luận văn của mình tại Hội nghị nghiên cứu Nhật Bản các nước Đông Nam Á, tổ chức vào tháng 12 năm 2016
Em xin chân thành cảm ơn Quỹ học bổng Toshiba đã tin tưởng trao cho
em học bổng để phục vụ cho việc nghiên cứu, hoàn thành luận văn
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình , bạn bè đã luôn bên ca ̣nh, ủng hộ và động viên em trong suốt quá trình ho ̣c tập
Do trình độ còn có ha ̣n nên trong quá trình thực hi ện nghiên cứu , chắc chắn lu ận văn này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nh ận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô và các ba ̣n để lu ận văn được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2017
NGUYỄN HÙNG MẠNH
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Mô hình chuỗi cung ứng sản xuất các sản phẩm gia dụng bằng gỗ 9
Hình 1.2 Mô hình chuỗi cung ứng đơn giản 11
Hình 1.3: Mô hình chuỗi cung ứng mở rộng 12
Hình 1.4: Mô hình chuỗi cung ứng điển hình 13
Hình 1.5: Sơ đồ công nghiệp hỗ trợ theo nghĩa rộng 20
Hình 1.6: Các lớp cung ứng hỗ trợ 22
Hình 1.7: Công nghiệp hỗ trợ có thể bao quát rất nhiều ngành nghề, lĩnh vực 25
Hình 2.1: Cụm công nghiệp hiệu quả của Canon 49
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Hiện trạng tiếp nhận đầu tư nước ngoài vào Việt Nam 33 Biểu đồ 2.2: Hiện trạng tiếp nhận đầu tư theo một số ngành của Việt Nam 34 Biểu đồ 2.3: Hiện trạng tiếp nhận đầu tư từ một số nước của Việt Nam 35 Biểu đồ 2.4: Động hướng đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam
(trường hợp dự án được tiến hành) 39 Biểu đồ 2.5: Đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam trong một số lĩnh vực năm 2012 39 Biểu đồ 2.6: Sự chuyển dịch doanh nghiệp theo quy mô giai đoạn 2000-2009 42 Biểu đồ 2.7: Biểu đồ thể hiện quy mô doanh nghiệp theo nhóm ngành kinh tế 43 Biểu đồ 2.8: Các nhà cung cấp nguyên liệu và phụ tùng theo ngành của Việt Nam năm 2012 50 Biểu đồ 2.9: Nội bộ các nhà cung cấp theo ngành 50 Biểu đồ 2.10: Sự phát triển số lượng xe máy và ô tô được bán ra tại Việt Nam trong giai đoạn 2006 đến 2012 52 Biểu đồ 2.11 : Tỉ lệ nội địa hoá thành phẩm, bán thành phẩm của các công ty sản xuất lớn tại Việt Nam (năm 2011) 56
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng phân loại quy mô doanh nghiệp tại Việt Nam 41 Bảng 2.2: Tỉ lệ tăng trưởng của các doanh nghiệp theo quy mô và nhóm
ngành năm 2008-2009 44 Bảng 2.3: Một số ví dụ tiêu biểu về cụm công nghiệp 47 Bảng 2.4: Hiện trạng sản xuất và tỉ lệ nội địa hoá của Honda Việt Nam 1998-2006 54 Bảng 3.1: Sản xuất Module và sản xuất tích hợp 64
Trang 8MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG VÀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 6
1.1 TỔNG QUAN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG 6
1.1.1 Sự ra đời và lịch sử phát triển của khái niệm “chuỗi cung ứng” 6
1.1.2 Quan điểm hiện đại về “chuỗi cung ứng” và “quản trị chuỗi cung ứng” 8
1.1.3 Phân loại các mô hình chuỗi cung ứng 11
1.2 TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 15
1.2.1 Các cách tiếp cận trong nghiên cứu về công nghiệp hỗ trợ 15
1.2.2 Đặc trưng của công nghiệp hỗ trợ 21
1.2.3 Vai trò của công nghiệp hỗ trợ đối với nền kinh tế quốc dân 27
Tiểu kết chương 1 31
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THAM GIA CHUỖI CUNG ỨNG CHO CÁC DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TỪ 2005 ĐẾN NAY 32
2.1 Sự hình thành và phát triển của chuỗi cung ứng cho doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam 32
2.1.1 Bối cảnh Việt Nam thuận lợi thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 32
2.1.2 Khái quát thực trạng tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam và sự hình thành chuỗi cung ứng ở Việt Nam 33
2.1.3 Vai trò hàng đầu của Nhật Bản trong việc đầu tư vào Việt Nam 35 2.2 Thực trạng đầu tư trực tiếp FDI của Nhật Bản vào Việt Nam từ năm 2005 đến nay 36
2.2.1 Cơ sở pháp lí cho đầu tư trực tiếp FDI của Nhật Bản vào Việt Nam 36
Trang 92.2.2 Quá trình đầu tư trực tiếp FDI của Nhật Bản vào Việt Nam 38
2.2.3 Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam trên một số lĩnh vực. 39
2.3 Những vấn đề đặt ra đối với việc cung ứng cho các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam từ 2005 đến nay 40
2.3.1 Vai trò chủ đạo của doanh nghiệp Việt Nam vừa và nhỏ trong việc cung ứng sản phẩm cho doanh nghiệp Nhật Bản hiện nay 40
2.3.2 Thực trạng cung ứng nội địa hóa của doanh nghiệp Việt Nam trên một số lĩnh vực từ 2005 đến nay 45
Tiểu kết chương 2 58
CHƯƠNG 3: CƠ HỘI, THÁCH THỨC, GIẢI PHÁP CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM KHI THAM GIA VÀO CHUỖI CUNG ỨNG CÁC DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN 59
3.1 Cơ hội phát triển của doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp Nhật Bản 59
3.1.1 Tăng cường khả năng cạnh tranh 59
3.1.2 Tăng cường xuất khẩu quốc tế 60
3.1.3 Nguồn nhân lực công nghiệp chất lượng cao 62
3.1.4 Chuyển giao công nghệ, đầu tư khoa học, cải tiến kĩ thuật 63
3.2 Thách thức của doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp Nhật Bản 65
3.2.1 Tác động của thuế nhập khẩu và ưu đãi về thuế còn thấp 65
3.2.2 Môi trường chính sách không ổn định 66
3.2.3 Khoảng cách với doanh nghiệp Nhật Bản về thông tin và nhận thức 67
3.2.4 Tiêu chuẩn công nghiệp và tiêu chuẩn an toàn thấp 68
3.3 Giải pháp chủ yếu để các doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia vào chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp Nhật Bản 69
Trang 103.3.1 Giảm thuế nhập khẩu và thi hành chính sách ưu đãi về thuế 69
3.3.2 Thu hẹp khoảng cách về thông tin và nhận thức giữa các doanh
nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp Nhật Bản 71
3.3.3 Xây dựng các hệ thống tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế 74
3.3.4 Tập trung đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 75 3.3.5 Nâng cao tầm quan trọng và tập trung phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ 77
Tiểu kết chương 3 79
KẾT LUẬN 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 11Ngược lại, Việt Nam lại là nước đang trên đường phát triển, đã tiến hành các chính sách mở cửa, giao thương, thu hút đầu tư nước ngoài Thị trường Việt Nam được đánh giá là một thị trường mở, đầy tiềm năng với nguồn lao động dồi dào, thị trường tiêu thụ lớn Chất lượng cuộc sống của người dân ngày càng tăng, nhu cầu sử dụng hàng có chất lượng ngày một lớn Tuy nhiên, dòng sản phẩm chất lượng cao thường phải nhập khẩu từ nước ngoài vì các doanh nghiệp trong nước chưa đủ sức tạo ra những sản phẩm đó Thực tế cho thấy, các công ty nước ngoài, đặc biệt là Nhật Bản đã liên tiếp đầu tư vào Việt Nam và hình thành nên các chuỗi cung ứng liên kết chặt chẽ với nhau Điều này đã mở ra nhiều cơ hội, đồng thời cũng mang đến nhiều thách thức cho các doanh nghiệp của Việt Nam Vậy, sau khi Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam, các doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia vào chuỗi cung ứng của Nhật Bản thế nào; điều này đã mang đến những cơ hội và thách thức gì, chính là vấn đề mà đề tài muốn tìm hiểu
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
2.1 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu hiện trạng gia nhập chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp Nhật của doanh nghiệp Việt Nam
Trang 122.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu về các ngành nghề của doanh nghiệp có thể tham gia vào chuỗi cung ứng
- Tìm hiểu thực trạng một số doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia vào chuỗi cung ứng Nhật Bản
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu cơ bản của luận văn là doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng của Nhật Bản tại thị trường Việt Nam
tế thị trường của Việt Nam (tháng 10/2011).Tháng 3/2014, hai nước nâng cấp quan hệ lên thành “Đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa bình và phồn vinh ở Châu Á” Việc Nhật Bản tăng cường đầu tư vào Việt Nam, cùng với đó là việc các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng của Nhật Bản
đã góp một ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển quan hệ kinh tế, thương
Trang 13cơ hội cùng với những nguy cơ, thách thức Việc tích cực tham gia vào chuỗi cung ứng của đã tạo ra môi trường năng động
4 Lịch sử nghiên cứu
Chuỗi cung ứng, phát triển công nghiệp hỗ trợ để tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu là những vấn đề đã nhận được sự quan tâm của rất nhiều học giả, nhà nghiên cứu như:
- Những nghiên cứu của Junichi Mori – Kenichi Ohno về “Chiến lược cung ứng tối ưu: Các yếu tố quyết định về nội địa hoá phụ tùng theo khu vực liên kết và cạnh tranh”
- Các bài báo cáo của Diễn đàn Phát triển Việt Nam do các học giả Nhật Bản cùng thực hiện như “Xây dựng và tăng cường các ngành công nghiệp
hỗ trợ ở Việt Nam Báo cáo điều tra Cải thiện chính sách công nghiệp” của Kyoshiro Ichikawa (năm 2005)
- Báo cáo điều tra xác nhận, thu thập thông tin cơ bản liên quan đến tăng cường năng lực, khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm phát triển Công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam được phát hành bởi Cơ quan Hợp tác Quốc tế JICA
Trên cơ sở tham khảo các công trình nghiên cứu kể trên, tác giả luận văn nhận thấy, các nghiên cứu đã đưa ra những yếu kém của ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam, cùng với đó là mối quan hệ tương quan khăng khít giữa công nghiệp hỗ trợ và chuỗi cung ứng Đặc biệt trong bối cảnh quan hệ Việt Nam – Nhật Bản ngày càng phát triển, các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư vào Việt
Trang 144
Nam ngày càng nhiều, hình thành nên các chuỗi cung ứng tại Việt Nam, tác giả mong muốn tập trung nghiên cứu vào hiện trạng tham gia chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp Việt Nam cho các doanh nghiệp Nhật Bản
5 Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu:
Từ những số liệu, biểu đồ để đưa ra nhận xét, đánh giá khách quan nhất về quy mô, mức độ tham gia, chính sách đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản, đồng thời mức độ đáp ứng của các doanh nghiệp Việt Nam
- Phương pháp so sánh để nhìn nhận những khác biệt – đồng nhất giữa quan niệm, cách thức vận hành của chuỗi cung ứng Nhật Bản tại Việt Nam so với các nước khác và các chuỗi cung ứng khác
6 Ý nghĩa của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận của luận văn
- Hiểu được khái niệm và mô hình chuỗi cung ứng Từ đó, đưa ra được
chính sách chiến lược phát triển hợp tác kinh tế với Nhật Bản
- Thấy được vai trò của chuỗi cung ứng để có thể có những biện pháp chính sách phù hợp trong việc phát triển, tạo điều kiện để các doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp Nhật Bản
6.2 Ý nghĩa thực tiễn luận văn
- Từ việc hiểu chuỗi cung ứng và chính sách hợp tác đầu tư của Nhật Bản, có thể đưa ra những giải pháp cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp Nhật Bản, phù hợp với chính sách chiến lược của Nhật Bản lại vừa tương thích với điều kiện tự nhiên, xã hội của Việt Nam
- Hiểu được tầm quan trọng của chuỗi cung ứng nước ngoài trong giai đoạn phát triển kinh tế hiện tại, đưa ra những biện pháp phù hợp để tăng cạnh tranh, đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu sản xuất trong nước và quốc tế
Trang 155
7 Kết cấu
Chương 1: Tổng quan về chuỗi cung ứng và công nghiệp hỗ trợ
1.1 Tổng quan về chuỗi cung ứng
1.2 Tổng quan về công nghiệp hỗ trợ
Chương 2: Thực trạng tham gia chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp Nhật Bản của doanh nghiệp Việt Nam từ năm 2005 đến nay
2.1 Sự hình thành và phát triển của chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam
2.2 Thực trạng đầu tư trực tiếp FDI của Nhật Bản vào Việt Nam từ 2005 đến nay 2.3 Những vấn đề đặt ra đối với việc cung ứng cho các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam từ 2005 đến nay
Chương 3: Cơ hội, thách thức , giải pháp cho các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào chuỗi cung ứng các doanh nghiệp Nhật Bản
Trang 166
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG VÀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 1.1 TỔNG QUAN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG
1.1.1 Sự ra đời và lịch sử phát triển của khái niệm “chuỗi cung ứng”
Vào khoảng những năm đầu của thế kỉ XX, việc thiết kế, phát triển sản phẩm mới diễn ra rất chậm chạp, chủ yếu phụ thuộc vào công nghệ và nguồn lực nội bộ Để quy trình sản xuất không bị gián đoạn, máy móc vận hành thông suốt, các xí nghiệp buộc phải sản xuất liên tục tất cả những linh phụ kiện hay chi tiết nhỏ nhất trong sản phẩm Điều này dẫn đến tồn kho trong sản xuất đột nhiên tăng vọt Chia sẻ công nghệ và chuyên môn để cải tiến kĩ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm giữa nhà cung cấp và xí nghiệp là một thuật ngữ ít được nhắc đến lúc bấy giờ Sản xuất chỉ dừng lại trong quy mô một xí nghiệp nhỏ lẻ, theo hình thức “tự cung tự cấp”
Đến những năm 1960, phong trào khoa học kĩ thuật hiện đại bùng nổ,
từ đó góp phần định hướng khoa học trong sự phát triển của công nghệ và sức sản xuất Do ảnh hưởng của phong trào này, các công ty lớn trên thế giới đã
áp dụng công nghệ sản xuất hàng loạt để cắt giảm chi phí và cải tiến năng suất, nhưng phần lớn vẫn chưa chú trọng đến cắt giảm tồn kho, liên kết với các nhà cung cấp
Vào khoảng những năm 1970, Hệ thống hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu (MRP-Material Requirements Planning) và Hệ thống hoạch định nguồn nhân lực sản xuất (ERP-Enterprise ResourcePlanning ) đã ra đời Nhờ có những hệ thống này mà doanh nghiệp có thể kiểm soát được đầu vào của nguyên vật liệu, đánh giá được mức độ tồn kho trong sản xuất, kiểm soát lưu trữ và vận chuyển hàng hoá một cách linh hoạt Đồng thời, cùng với sự phát triển của thông tin, đặc biệt là sự ra đời của máy tính đã giúp đơn giản hoá hiệu quả việc kiểm soát tồn kho Nhờ vậy, chi phí tồn kho được giảm đáng kể
Trang 17“Supply-Chain Management: Logistics Catches Up with Strategy” Outlook
năm 1982 Tuy nhiên, khái niệm chuỗi cung ứng chỉ dừng lại ở việc kiểm soát nguyên vật liệu, vận chuyển, tổng chi phí trong quá trình hậu cần Cũng trong thời gian này, cạnh tranh toàn cầu trở nên khốc liệt, gây áp lực buộc các nhà sản xuất phải cắt giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm và gia tăng chất lượng dịch vụ khách hàng Các công ty, xí nghiệp đã vận dụng JIT1 và chiến lược quản trị chất lượng toàn diện (TQM)2 nhằm cải tiến chất lượng, nâng cao hiệu quả sản xuất và thời gian giao hàng Nhờ áp dụng JIT, các nguồn nguyên vật liệu, hàng hoá và sản phẩm lưu hành trong quá trình sản xuất được đưa vào một kế hoạch chi tiết, không có khâu sản xuất nào rơi vào tình trạng để không, chờ xử lí, không có nhân công hay thiết bị nào phải đợi để có đầu vào vận hành Từ đó, các doanh nghiệp bắt đầu nhận thấy lợi ích tiềm tàng và tầm quan trọng của mối liên hệ hợp tác giữa nhà cung cấp – người mua – khách hàng
Sang những năm 1990, trong bối cảnh cạnh tranh tăng cao, cùng với đó
là xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế, những thách thức của việc cải thiện chất lượng, hiệu quả sản xuất, dịch vụ khách hàng, thiết kế và phát triển sản phẩm mới cũng gia tăng Để giải quyết những thách thức này, các nhà sản
1 Viết tắt của “Just in time” có nghĩa là “đúng sản phẩm-đúng số lượng-tại đúng nơi- vào đúng thời điểm cần thiết” Trong quá trình sản xuất hay cung ứng dịch vụ, mỗi công đoạn của quy trình sản xuất sẽ được hoạch định để làm ra một số lượng bán thành phẩm, thành phẩm bằng đúng số lượng
mà công đoạn tiếp theo cần tới Điều này sẽ tránh tồn đọng vốn và hàng tồn kho không cần thiết trong sản xuất
2 Hệ thống hữu hiệu tích hợp những nỗ lực về duy trì, phát triển và cải tiến chất lượng của nhiều tổ nhóm trong tổ chức để có thể tiếp thị, áp dụng khoa học kĩ thuật, sản xuất và cung ứng dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng
Trang 188
xuất đã quyết định mua lại sản phẩm từ các nhà cung cấp có chất lượng và uy tín cao Hơn nữa, họ còn kêu gọi nhà cung cấp trực tiếp tham gia vào việc thiết kế và phát triển sản phẩm, đóng góp ý kiến cho việc cải thiện chất lượng dịch vụ, giảm chi phí chung Nhiều liên minh giữa nhà sản xuất – nhà cung cấp đã chứng tỏ được sự thành công của mình
Khi đó, hệ thống BPR (Business Process Reengineering) 3 được coi là
có thể giải quyết một cách triệt để, tái thiết kế quy trình kinh doanh, giảm các lãng phí và gia tăng năng suất được giới thiệu vào đầu thập niên 1990 Đó là
hệ quả của mối quan tâm hàng đầu trong việc cắt giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh dài hạn của doanh nghiệp Khi hệ thống này bị mất dần vào cuối thập niên 1990 thì quản trị chuỗi cung ứng mới trở nên khẳng định được vai trò trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp Trong khoảng thời gian này, các nhà quản trị và tư vấn bắt đầu nhận thức sâu sắc hơn về sự khác biệt giữa hậu cần và quản trị chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng được xem như một hoạt động hậu cần, nhưng nằm bên ngoài doanh nghiệp Hình thức chuỗi cung ứng bắt đầu được áp dụng đã cho thấy cần phải tích hợp các quy trình then chốt giữa các bên tham gia trong chuỗi cung ứng, cho phép chuỗi cung ứng được vận hành theo một thể thống nhất
1.1.2 Quan điểm hiện đại về “chuỗi cung ứng” và “quản trị chuỗi cung ứng”
Nhiều công trình nghiên cứu đã đưa ra các định nghĩa về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng Trong khuôn khổ của luận văn, tôi xin được trích một số định nghĩa để bổ sung cơ sở lí thuyết cho nghiên cứu
Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả những vấn đề liên quan trực tiếp hay gián tiếp nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng Chuỗi cung ứng không chỉ
3 BPR: Xây dựng lại một cách toàn diện, triệt để các quy trình làm việc nhằm đạt được những cải thiện nhảy vọt về năng suất, hiệu quả hoạt động của một tổ chức, đơn vị
Trang 19Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên vật liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm, thành phẩm và phân phối cho khách hàng [27]
Theo ý kiến của tác giả, chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các doanh nghiệp tham gia một cách trực tiếp hay gián tiếp trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, thể hiện sự dịch chuyển nguyên vật liệu xuyên suốt quá trình
từ nhà cung cấp ban đầu đến khách hàng cuối cùng
Hình 1.1: Mô hình chuỗi cung ứng sản xuất các sản phẩm gia dụng bằng gỗ
Nguồn: www.researchgate.net
Chẳng hạn, chuỗi cung ứng bắt đầu với các doanh nghiệp trồng rừng Sau khi thu hoạch chặt cây lấy gỗ, họ sẽ bán các sản phẩm gỗ thô cho doanh nghiệp sản xuất vật liệu Các doanh nghiệp này đóng vai trò như người đặt hàng và sau khi nhận được các yêu cầu chi tiết kĩ thuật, họ sẽ tiếp tục chế biến
gỗ thu mua được thành gỗ váng mỏng, gỗ nguyên khối, gỗ ép và tiếp tục được
Trang 2010
bán cho các nhà sản xuất sản phẩm gia dụng bằng gỗ Đầu ra của quá trình này là các sản phẩm gỗ dùng cho gia đình đã được lắp ráp hoàn thiện và sẽ được bán cho các nhà phân phối Nhà phân phối sẽ tiến hành quảng cáo, tiếp thị và đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng
Sau khi xét trên cơ sở giá, chất lượng, tính sẵn sàng, sự bảo hành và uy tín của nhà sản xuất, sản phẩm sẽ được bán ra Tuy nhiên, cũng sẽ có những trường hợp vì một vài lí do nào đó như lỗi kĩ thuật mà các chi tiết không đáp ứng được yêu cầu hoặc đôi khi cần sửa chữa, tái chế chúng, nên phải quay ngược lại Đó không chỉ là uy tín của nhà cung cấp mà còn ảnh hưởng đến
uy tín của các nhà cung ứng sản phẩm trước đó Vì vậy, các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng luôn phải cố gắng làm tốt khâu của mình cũng như tiến hành các hoạt động hậu cần ngược để giúp toàn bộ chuỗi cung ứng không bị đứt đoạn
Để chuỗi cung ứng diễn ra nhịp nhàng và hiệu quả, người ta sẽ phải xây dựng một hoạt động quản trị cho tất cả các khâu Hoạt động quản trị này phải cân nhắc đến tất cả các thành tố của chuỗi cung ứng, từ nhà cung cấp, các cơ
sở sản xuất, nhà kho, trung tâm phân phối đến nhà bán lẻ, các cửa hàng Đồng thời, hoạt động quản trị chuỗi cung ứng phải quan tâm tới tác động của thành tố này đến chi phí chung và vai trò của chúng trong việc sản xuất ra các sản phẩm phù hợp với nhu cầu của khách hàng, kiểm soát hiệu quả sản xuất của toàn hệ thống, tổng chi phí từ khâu vận chuyển, phân phối và hạn chế tối
đa tồn kho Hay nói cách khác, mục tiêu của quản trị chuỗi cung ứng là tối đa hoá giá trị tạo ra cho toàn hệ thống
Quản trị chuỗi cung ứng là sự phối hợp các công cụ từ lập kế hoạch và điều tiết các bước trong mạng lưới từ thu mua nguyên vật liệu, chuyển hoá thành sản phẩm, vận chuyển sản phẩm và dịch vụ đến khách hàng [27,tr8]
Trang 2111
Nói cách khác, đây là một hoạt động định hướng, quản lí hai chiều và là sự phối hợp của sản phẩm, dịch vụ, thông tin, tài chính thành dòng chảy từ nguyên vật liệu đến người sử dụng cuối cùng [29,tr10]
Như vậy, có thể hiểu khái quát về quản trị chuỗi cung ứng là tập trung quản lí các mối quan hệ trong thành phần chuỗi cung ứng, là sự phối hợp hay tích hợp hàng hoá và các hoạt động dịch vụ liên quan vào các thành phần của chuỗi cung ứng nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động, chất lượng và dịch vụ khách hàng Chính vì vậy, để quản trị chuỗi cung ứng thành công, các công ty phải phối hợp hành động, chia sẻ thông tin như dự báo nhu cầu, kế hoạch sản xuất, những thay đổi năng lực, chiến lược marketing mới, việc phát triển sản phẩm và dịch vụ mới, công nghệ kĩ thuật mới, kế hoạch mua hàng, ngày giao hàng và tất cả thông tin khách hàng ảnh hưởng đến hoạt động mua bán, sản xuất, kế hoạch phân phối
1.1.3 Phân loại các mô hình chuỗi cung ứng
1.1.3.1 Mô hình chuỗi cung ứng đơn giản
Hình 1.2 Mô hình chuỗi cung ứng đơn giản
Mô hình này bao gồm 3 thành phần chính: công ty sản xuất lắp ráp các sản phẩm cuối cùng; nhà cung cấp linh phụ kiện, nguyên vật liệu, trang thiết
bị và khách hàng Theo đó, các công ty sẽ tiến hành thiết kế sản phẩm, lập kế hoạch sản xuất, đáp ứng nhu cầu của khách hàng Để chuyên môn hoá và
Công ty
Khách hàng Nhà cung cấp
Trang 2212
nâng cao hiệu quả, người ta sẽ phải tiến hành đặt hàng tại các nhà cung cấp Hoạt động này diễn ra theo vòng tròn Mỗi một bộ phận phải thực hiện nhiệm vụ riêng, nhưng đều phải hướng đến phục vụ nhu cầu của khách hàng Các nhà cung cấp phải không ngừng cải tiến kĩ thuật để tạo ra các sản phẩm tốt hơn theo yêu cầu của công ty sản xuất Khách hàng có quyền sử dụng sản phẩm và đưa ra ý kiến phản hồi với công ty Đồng thời công ty có nhiệm vụ phải điều chỉnh chính sách bảo hành, tiến hành cải tiến chất lượng dịch vụ, yêu cầu các nhà cung cấp sản xuất những sản phẩm chất lượng hơn
1.1.3.2 Mô hình chuỗi cung ứng mở rộng
Hình 1.3: Mô hình chuỗi cung ứng mở rộng
Chuỗi cung ứng mở rộng bên cạnh những thành phần chủ yếu như nhà cung cấp, công ty, khách hàng, nó còn có thêm các thành phần khác Đó chính
là nhà cung cấp cuối cùng, khách hàng cuối cùng và công ty cung cấp dịch vụ Các nhà cung cấp sau khi nhận đơn hàng từ phía công ty cũng sẽ sử dụng những nhà cung cấp bậc dưới để đặt hàng và hoàn thành những chi tiết phục vụ cho việc sản xuất của họ Việc này là để đảm bảo sự chuyên môn hoá trong sản xuất Đồng thời, sản phẩm này lại là đầu vào trong quy trình sản xuất một sản phẩm khác và sẽ tạo ra các sản phẩm có chất lượng tốt hơn do được đầu
tư công nghệ và kĩ thuật nhiều hơn Sau khi thu mua các chi tiết, công ty sẽ tiến hành lắp ráp và cung cấp cho khách hàng (có thể là các trung tâm mua sắm, các cửa hàng bán lẻ ), từ đó sẽ được phân phối cho khách hàng cuối
Nhà cung cấp
cuối cùng
Nhà cung cấp
hàng
Khách hàng cuối cùng
Công ty cung cấp dịch
vụ
Trang 2313
cùng (người tiêu dùng) Việc này sẽ đưa sản phẩm được đến gần với người tiêu dùng hơn, tránh chi phí tồn kho không cần thiết, tạo nên giá trị cho toàn chuỗi cung ứng Ngoài ra, một thành phần không thể thiếu trong chuỗi cung ứng mở rộng, đó chính là các công ty cung cấp dịch vụ Công ty này có vai trò “người đứng giữa” điều khiển, kết nối chuỗi cung ứng, tiến hành các công việc tiếp thị, trao đổi công nghệ giữa các thành phần trong chuỗi, giải quyết vấn đề tài chính, kho vận, logistics (hậu cần) Nhờ có công ty này, mà các thành phần trong chuỗi cung ứng được diễn ra nhịp nhàng, thành phần này
hỗ trợ thành phần kia, đạt được mục tiêu cuối cùng là phục vụ nhu cầu của khách hàng
1.1.3.3 Mô hình chuỗi cung ứng điển hình
Hình 1.4: Mô hình chuỗi cung ứng điển hình
Trong mô hình chuỗi cung ứng điển hình, nguyên vật liệu không chỉ được mua từ một nhà cung cấp mà được mua từ rất nhiều nhà cung cấp khác nhau Các nhà cung cấp này có vai trò quan trọng trong toàn chuỗi, cung ứng nguyên vật liệu từ đầu quá trình sản xuất hoặc các chi tiết cho nhà sản xuất Nhà sản xuất sẽ chế biến nguyên vật liệu này ra thành phẩm và cung cấp cho một nhà sản xuất khác lớn hơn Sau khi các nhà sản xuất cấp dưới này hoàn tất sản phẩm của họ và chuyển đến nhà sản xuất cuối cùng thì ở đó người ta sẽ
Trang 2414
tiến hành lắp ráp, kiểm tra chất lượng sản phẩm và chuyển đến các nhà phân phối Nhà phân phối sẽ đóng vai trò là người điều phối các dao động về nhu cầu sản phẩm cho các nhà sản xuất bằng cách lưu trữ hàng tồn cũng như thực hiện nhiều hoạt động kinh doanh để tìm kiếm và phục vụ khách hàng Nhà phân phối có thể tham gia vào việc mua hàng từ nhà sản xuất để bán cho khách hàng, nhưng đôi khi họ chỉ đứng giữa đóng vai trò là người trung gian môi giới sản phẩm Bên cạnh đó, chức năng của nhà phân phối còn là thực hiện quản lí tồn kho, vận hành kho, vận chuyển sản phẩm, hỗ trợ khách hàng
và dịch vụ hậu mãi
Ngoài ra, chuỗi cung ứng điển hình còn có sự xuất hiện của nhà bán lẻ
Họ là những người chuyên lưu trữ hàng hoá với số lượng nhỏ hơn để bán cho người tiêu dùng cuối cùng Họ có vai trò theo dõi nhu cầu và thị hiếu của khách hàng để cung cấp cho khách hàng những sản phẩm phù hợp Các cửa hàng tạp hoá, hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại đến các cửa hàng giới thiệu sản phẩm đều được coi là những nhà bán lẻ
Chuỗi cung ứng điển hình thường diễn ra theo hai chiều Chiều 1 (dòng sản phẩm và dịch vụ) là tất cả các khâu từ thu mua nguyên vật liệu, sản xuất, lắp ráp, cung cấp ra thị trường đáp ứng nhu cầu của khách hàng; và chiều 2 (thu hồi - tái chế) là chiều ngược lại, bắt nguồn từ khách hàng sau khi sử dụng các sản phẩm mà chuỗi cung cấp sẽ tiến hành phản hồi, yêu cầu bảo hành, bảo dưỡng, góp ý để các thành phần trong chuỗi liên tục hoàn thiện sản phẩm của mình hơn
Dù có theo mô hình nào, quản trị chuỗi cung ứng cũng phải cân nhắc đến tất cả thành tố của chuỗi cung ứng; từ nhà cung ứng, các cơ sở sản xuất thông qua nhà kho, trung tâm phân phối đến các nhà bán lẻ và cửa hàng; tác động của các thành tố này đến chi phí chung và vai trò của chúng trong việc sản xuất ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của khách hàng Trong đó, đặc biệt
Trang 2515
chú trọng đến các nhà cung cấp ban đầu và khách hàng cuối cùng, vì đây chính là những thành tố tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả của chuỗi cung ứng Quản trị chuỗi cung ứng cũng cần phải tối đa hoá giá trị tạo ra cho toàn hệ thống, hay nói cách khác tối thiểu hoá tổng chi phí từ khâu vận chuyển, phân phối đến tồn kho nguyên vật liệu, tồn kho trong sản xuất và thành phẩm
Để đạt được điều trên, hệ thống trong chuỗi cung ứng phải nhất quán,
có thể chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong chuỗi như dự báo về nhu cầu, kế hoạch sản xuất, những thay đổi về công suất, các chiến lược marketing mới Hệ thống cũng cần đảm bảo các doanh nghiệp có quyền tự
do quyết định việc tham gia hay rời bỏ chuỗi cung ứng nếu như không đem lại lợi ích cho họ Đồng thời, khi tham gia chuỗi cung ứng, các doanh nghiệp giảm được chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh, được đáp ứng các yêu cầu
về kĩ thuật, thông tin được cập nhật liên tục, chính xác, trung thực giữa các thành viên Các thành viên trong chuỗi cung ứng, đặc biệt là các đơn vị phụ trách thu mua, sản xuất hậu cần, vận tải không chỉ được trang bị những kiến thức quan trọng cần thiết về chức năng của chuỗi cung ứng mà phải biết đánh giá, am hiểu về mức độ tương tác cũng như ảnh hưởng của chức năng này đến toàn chuỗi cung ứng Một yếu tố quan trọng nữa đó là dòng dịch chuyển của nguyên vật liệu hay sản phẩm phải suôn sẻ và không có trở ngại
1.2 TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
1.2.1 Các cách tiếp cận trong nghiên cứu về công nghiệp hỗ trợ
Công nghiệp hỗ trợ (tiếng Nhật là 裾野産業 – Susonosangyo) được ví như ngành công nghiệp “chân núi”, tạo phần cứng để hình thành nên “thân núi” và “đỉnh núi” chính là các ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp sản phẩm công nghiệp hoặc sản phẩm tiêu dùng khác Khái niệm này được bắt nguồn từ Nhật Bản và sau này là các nước công nghiệp trẻ ở châu Á như Đài Loan,
Trang 2616
Hàn Quốc, Thái Lan, nơi mà các chi tiết của sản phẩm thường được gia công sản xuất ở một đơn vị sản xuất khác với nơi chế tạo lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh cuối cùng Tuy nhiên, cũng tuỳ theo từng hoàn cảnh, khu vực, mục đích, mà mỗi quốc gia lại có một cách định nghĩa riêng
Ở Nhật Bản, năm 1985 lần đầu tiên thuật ngữ “công nghiệp hỗ trợ” xuất hiện trong “Sách trắng về hợp tác quốc tế năm 1985” của Bộ Kinh tế Công nghiệp và Thương mại Nhật Bản, dùng để chỉ các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần tăng cường cơ sở hạ tầng công nghiệp ở các nước châu Á và các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất phụ tùng và linh kiện Sau hiệp ước Plaza được kí kết giữa các nước trong nhóm G5 vào tháng 9 năm 1985, việc đồng yên tăng giá đã ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế Nhật Bản nói chung
và các doanh nghiệp Nhật Bản nói riêng Nhật Bản lúc này là một nước xuất khẩu nên việc đồng yên tăng giá đã tăng giá thành của sản phẩm, làm ảnh hưởng đến xuất khẩu cũng như sản xuất trong nước Để hạ giá thành sản phẩm, các doanh nghiệp Nhật Bản đã tiến hành chuyển hoạt động sản xuất sang các nước lân cận nhằm lợi dụng nguồn lao động rẻ của các nước này Mặc dù vậy, họ vẫn phải nhập khẩu các linh phụ kiện từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật Bản do doanh nghiệp nội địa ở các nước sở tại chưa phát triển, chưa thể đáp ứng được nhu cầu sản xuất, yêu cầu kĩ thuật để hoàn thiện sản phẩm Thuật ngữ công nghiệp hỗ trợ lúc này được sử dụng để chỉ tình trạng thiếu công nghiệp sản xuất phụ tùng, linh phụ kiện tại các nước sở tại Đến năm 1987, Bộ Kinh tế Công nghiệp và Thương mại Nhật Bản đã sử dụng thuật ngữ này với các nước châu Á trong kế hoạch phát triển công nghiệp châu Á mới (New AID plan) với một chương trình hợp tác kinh tế toàn diện trên các mặt đầu tư, viện trợ và thương mại Thời điểm này, thuật ngữ Công nghiệp hỗ trợ được hiểu là các ngành cung cấp những gì cần thiết như nguyên vật liệu thô, linh phụ kiện và hàng hoá, cho các ngành công nghiệp lắp ráp
Trang 2717
Năm 1993, trong trương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ Châu Á, Bộ Kinh
tế Công nghiệp và Thương mại Nhật Bản đã định nghĩa công nghiệp hỗ trợ là ngành công nghiệp sản xuất những vật dụng cần thiết như nguyên liệu thô, phụ tùng và hàng hoá tư bản cho công nghiệp lắp ráp (gồm ô tô, điện, điện tử ) Ngày nay, công nghiệp hỗ trợ được hiểu là một nhóm các hoạt động công nghiệp cung ứng đầu vào trung gian (không phải nguyên vật liệu thô và các sản phẩm hoàn chỉnh) cho các ngành công nghiệp hạ nguồn [35]
Ở Thái Lan, định nghĩa công nghiệp hỗ trợ giữa các cơ quan tổ chức cũng khác nhau Bộ Công nghiệp Thái Lan (MOI) định nghĩa công nghiệp hỗ trợ là những nhà sản xuất linh phụ kiện cho ô tô và điện-điện tử như gia công kim loại, ép nhựa, khuôn mẫu, đúc, thử nghiệm Văn phòng phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Thái Lan đưa ra định nghĩa công nghiệp hỗ trợ là các ngành cung cấp các linh phụ kiện, máy móc, thiết bị, và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất như đóng gói, kiểm tra sản phẩm cho các ngành công nghiệp cơ bản [30].Cục phát triển Công nghiệp hỗ trợ Thái Lan cho rằng Công nghiệp hỗ trợ
là ngành cung cấp các linh phụ kiện máy móc và các dịch vụ kiểm tra cho các ngành công nghiệp cơ bản Còn Uỷ ban đầu tư Thái Lan (BOI) cho rằng, công nghiệp hỗ trợ là các doanh nghiệp sản xuất linh phụ kiện được sử dụng trong các công đoạn lắp ráp của các ngành công nghiệp ô tô, máy móc và điện tử [22] Tuy có khác nhau về cách định nghĩa, nhưng nhìn chung công nghiệp hỗ trợ theo cách hiểu của Thái Lan là các doanh nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất một sản phẩm hoàn chỉnh với vai trò là người cung cấp linh phụ kiện, chế tạo phụ tùng, gia công các sản phẩm trong lĩnh vực ô tô, điện và điện tử
Ở Đài Loan, Bộ Công nghiệp cho rằng, các doanh nghiệp không còn có
xu hướng sản xuất một sản phẩm theo hướng dây chuyền nữa Theo cách sản xuất truyền thống này, doanh nghiệp sẽ tự tiến hành hoạt động thu mua, sản
Trang 2818
xuất chi tiết, linh phụ kiện, lắp ráp, đóng gói và bán ra thị trường Thay vào
đó, các công đoạn của thành phẩm sẽ được chuyên môn hoá thành nhiều phần
và phân ra cho các doanh nghiệp khác có kĩ thuật hơn Mỗi doanh nghiệp chỉ chịu trách nhiệm một phần chi tiết trong tổng thể một sản phẩm chung Việc chuyên môn hoá sản xuất như vậy được gọi là công nghiệp hỗ trợ [20]
Ở Mỹ, công nghiệp hỗ trợ được định nghĩa là ngành cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện, thực hiện quá trình hỗ trợ việc sản xuất các nguyên vật liệu, linh kiện đó nhằm phục vụ lắp rắp các sản phẩm cuối cùng [4,tr3]
Ở các nước Châu Âu, cụm từ “công nghiệp hỗ trợ” ít được sử dụng hơn
mà thay vào đó người ta sử dụng thuật ngữ “các ngành cung ứng” (Supplier Industries) Thuật ngữ này chỉ việc các doanh nghiệp sử dụng thành phẩm được cung cấp từ các nhà sản xuất bên ngoài, tiến hành kết nối lắp ráp các chi tiết được đặt hàng từ các nhà sản xuất khác, liên kết chúng và tạo ra sản phẩm cuối cùng Công nghiệp hỗ trợ bao gồm những ngành sản xuất trung gian có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất một loại sản phẩm cuối cùng nhất định Đây không phải là một ngành kinh tế cụ thể mà chỉ là nhu cầu của chuyên môn hoá sản xuất và thúc đẩy của phân công lao động, nên bao hàm toàn bộ những lĩnh vực sản xuất trung gian cung cấp cho ngành công nghiệp lắp ráp Dựa trên mức độ phức tạp của ba công đoạn sản xuất chính là chế tạo vật liệu, gia công phụ tùng, linh kiện và lắp ráp thì công nghiệp hỗ trợ theo thứ tự này sẽ đứng ở hàng thứ 2 (khâu gia công phụ tùng linh kiện)
Ở Việt Nam, cụm từ “công nghiệp hỗ trợ” xuất hiện lần đầu tiên trong
kí kết “Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản” giai đoạn 1 (2003-2005) Theo đó, Kế hoạch hành động triển khai sáng kiến chung gồm 44 hạng mục lớn, là những hạng mục đầu tiên nhằm phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam Kể từ đó, thuật ngữ “công nghiệp hỗ trợ” đã dần xuất hiện trong một số văn bản ban hành của chính phủ Năm 2006, theo Quyết định 73/2006/QĐ-
Trang 2919
TTg ngày 04 tháng 04 năm 2006 của Chính phủ, công nghiệp hỗ trợ trở thành một nội dung chính trong Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp Việt Nam theo các vùng lãnh thổ đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020 Tuy nhiên, trong các văn bản ban hành này hầu hết đều không thấy định nghĩa
về công nghiệp hỗ trợ, chỉ nêu cần ưu tiên và tập trung phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ Đến năm 2007, Bộ Công Nghiệp (nay là Bộ Công thương) đã ban hành quyết định phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp
hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 Theo đó, công nghiệp hỗ trợ được định nghĩa là hệ thống các cơ sở sản xuất và công nghệ sản xuất các sản phẩm đầu vào nguyên vật liệu, linh phụ kiện, phụ tùng phục vụ cho khâu lắp ráp các sản phẩm công nghiệp cuối cùng [10,tr2] Năm 2011, theo Quyết định 12/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, công nghiệp hỗ trợ được hiểu là các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ tùng linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho các ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh, là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng [8]
Từ những cách hiểu trên cho thấy, hiện nay chưa thực sự có một định nghĩa thống nhất nào về công nghiệp hỗ trợ Đồng thời, cũng chưa có một phạm vi phân định rõ rệt công nghiệp hỗ trợ thuộc ngành kinh tế nào Việc lựa chọn phạm vi và đưa ra định nghĩa là tuỳ vào tình hình và chính sách của mỗi quốc gia Tuy nhiên, vẫn có thể chia công nghiệp hỗ trợ làm 3 phạm vi chính:
Phạm vi 1: Công nghiệp hỗ trợ bao gồm các ngành công nghiệp cung cấp phụ tùng, linh kiện và công cụ để sản xuất ra các phụ tùng, linh kiện này
Phạm vi 2: Công nghiệp hỗ trợ bao gồm các ngành công nghiệp cung cấp phụ tùng, linh kiện và các công cụ để sản xuất ra các phụ tùng, linh kiện này Ngoài ra ngành này còn bao gồm cả các dịch vụ sản xuất như hậu cần, kho bãi, phân phối và bảo hiểm
Trang 3020
Phạm vi 3: Công nghiệp hỗ trợ bao gồm toàn bộ những ngành công nghiệp cung cấp hàng hoá đầu vào cho ngành công nghiệp khác từ nguyên vật liệu đầu vào như thép, hoá chất đến các phụ tùng, linh kiện, công cụ máy móc phục vụ cho ngành công nghiệp lắp ráp
Mỗi quốc gia đều căn cứ vào tình hình trong nước, nhu cầu phát triển cũng như lợi thế của quốc gia mình trong thời điểm hiện tại để đưa ra những định nghĩa và xác định phạm vi riêng cho công nghiệp hỗ trợ ở từng giai đoạn cho phù hợp
Hình 1.5: Sơ đồ công nghiệp hỗ trợ theo nghĩa rộng [28,tr8]
Về mặt lí thuyết, có thể hiểu công nghiệp hỗ trợ là một nhóm các nhà sản xuất ra các sản phẩm, mà sản phẩm đó lại chính là đầu vào cho quá trình sản xuất khác Theo như hình 1.4, các sản phẩm hoàn chỉnh được tạo ra thông qua quy trình nhiều lớp, nhiều khâu, nhiều bộ phận, bao gồm thu mua nguyên vật liệu thô, đầu tư máy móc để sản xuất, gia công, tạo ra các linh phụ kiện, tiền lắp ráp, lắp ráp thì công nghiệp hỗ trợ đóng vai trò ở những khâu đầu tiên Nó không phải là tạo ra các sản phẩm hoàn chỉnh, mà chỉ sản xuất các chi tiết trong sản phẩm hoàn chỉnh đó, hay nói cách khác, công nghiệp hỗ trợ
là công nghiệp sản xuất các sản phẩm trung gian
Công nghiệp
hỗ trợ
Trang 3121
Chúng ta cũng có thể hiểu nội hàm của công nghiệp hỗ trợ là một ngành kinh tế kĩ thuật đặc thù thuộc ngành công nghiệp, nảy sinh từ phân công lao động, chuyên môn hoá sản xuất ở giai đoạn cao, có sự kết hợp của nhân tố con người và máy móc trong môi trường làm việc có tính chuyên môn hoá và trình độ nhất định Đặc biệt, ngành này có tính liên ngành rất cao, và
đa dạng với công nghệ được cải tiến liên tục phục vụ lượng lớn các ngành lắp ráp Công nghiệp hỗ trợ cũng thể hiện quy luật liên kết, mối quan hệ lợi ích kinh tế giữa các chủ thể sản xuất Tuy nhiên, công nghiệp hỗ trợ cũng chỉ là những sản phẩm trung gian, nó không thể tách riêng hoặc đứng một mình mà cần phải gắn liền và phụ thuộc vào các ngành sản xuất công nghiệp chính
Về mặt tổ chức, công nghiệp hỗ trợ bao gồm ba loại hình doanh nghiệp: ① Các bộ phận, công cụ máy móc đặt tại nước ngoài (hay được gọi là các nhà cung cấp xuất khẩu), ② Các nhà cung cấp máy móc và công cụ có vốn đầu tư nước ngoài nhưng đặt trong nước (gọi là các nhà cung cấp nước ngoài), ③ Các nhà cung cấp phụ tùng và máy móc trong nước (gọi là các nhà cung cấp nội địa), thường là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Khách hàng của công nghiệp hỗ trợ có thể là các doanh nghiệp lắp ráp nội địa, doanh nghiệp lắp ráp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp lắp ráp tại nước ngoài
1.2.2 Đặc trưng của công nghiệp hỗ trợ
Tính đa cấp và tính liên kết
Trong quá trình sản xuất công nghiệp luôn diễn ra sự đan xen, tác động qua lại lẫn nhau giữa các thành tố Sản phẩm của thành tố này lại là đầu vào sản xuất của thành tố khác Thậm chí để sản xuất ra các sản phẩm của ngành công nghiệp hỗ trợ, cũng cần thiết phải có một ngành công nghiệp hỗ trợ cho bản thân nó Mối quan hệ ràng buộc qua lại này sẽ liên tục tiếp diễn trong suốt quá trình sản xuất cho đến khi tạo ra được sản phẩm cuối cùng đạt chất lượng
và đến tay người tiêu dùng Vì vậy, một sản phẩm tạo ra không phải là kết quả
Trang 3222
sản xuất của một doanh nghiệp mà là sự kết hợp của rất nhiều doanh nghiệp thuộc nhiều ngành sản xuất, lĩnh vực, trên nhiều địa bàn khác nhau Và tuỳ thuộc vào chất lượng của sản phẩm đầu ra, vai trò của chúng trong toàn chuỗi sản xuất mà người ta sẽ phân các nhà cung cấp thành nhiều cấp độ Điều này
đã dẫn đến tính đa cấp của công nghiệp hỗ trợ
sở chính-chi nhánh, đóng vai trò sản xuất các chi tiết, linh kiện phụ tùng quan trọng, hàm chứa các bí quyết công nghệ, theo yêu cầu của công ty lắp ráp trong tập đoàn
Nhóm cung ứng cấp 2: thường là các doanh nghiệp vừa và nhỏ độc lập Đây có thể là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang tiến hành đầu
Trang 3323
tư sản xuất ở trong nước hoặc các doanh nghiệp nội địa, đóng vai trò cung cấp các sản phẩm, chi tiết cho Nhóm cung ứng cấp 1 để tạo ra sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của nhà lắp ráp Nhóm cung ứng cấp 1 cũng cần đến những chi tiết khác mà chính họ không thể sản xuất Trong trường hợp đó, họ sẽ phải tiến hành liên kết với các nhà sản xuất khác trong khuôn khổ đảm bảo thời gian tiến độ thực hiện, chất lượng sản phẩm, hợp tác cùng phát triển, đem lại lợi nhuận cho cả hai bên
Nhóm cung ứng cấp 3: thường là các cơ sở sản xuất hỗ trợ hàng loạt hoặc thu mua các sản phẩm sẵn có, quan hệ với nhà lắp ráp theo quan hệ mua bán thông thường Họ là các doanh nghiệp vừa và nhỏ của chính các quốc gia
sở tại mà công ty lớn, tập đoàn đa quốc gia đặt nhà máy lắp ráp hoặc tiêu thụ sản phẩm cuối cùng Sản phẩm mà họ cung cấp thường không cần nhiều công nghệ, các chi tiết đơn giản, có giá thành rẻ và ít vai trò trong toàn bộ giá trị của sản phẩm
Tuỳ vào quy mô và yêu cầu của sản phẩm mà một công ty có lắp ráp có thể có 3-4 lớp nhà cung ứng hoặc nhiều hơn Tuy nhiên, để tạo ra sản phẩm cuối cùng, không thể thiếu đi bất kì lớp nào Các lớp cung ứng luôn phụ thuộc
và tạo tiền đề cho nhau cùng phát triển, hướng đến mục tiêu chung là phục vụ ngành lắp ráp Từ đó xuất hiện các hình thức tổ chức sản xuất công nghiệp theo kiểu thầu phụ vệ tinh, liên doanh, liên kết trong một mạng lưới tổ chức sản xuất phối hợp, thống nhất và có tính hợp tác cao giữa các doanh nghiệp chính và doanh nghiệp sản xuất hỗ trợ Cũng thông qua chuỗi cung ứng này, các công ty doanh nghiệp sẽ được kết nối lại với nhau, từ nhà sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ đến cung ứng và khách hàng Quy trình liên kết cũng được
mở rộng ở các công đoạn từ khâu cung cấp nguyên vật liệu thô chưa qua xử lí đến khâu lắp ráp để ra sản phẩm cuối cùng Hàng loạt các doanh nghiệp sẽ được gắn kết với nhau ở cả trong và ngoài hệ thống Trong đó, mỗi đơn vị sẽ
Trang 34Tính đa dạng của công nghệ
Một trong những đặc điểm cơ bản của ngành công nghiệp hỗ trợ là đòi hỏi cần phải có sự đa dạng về công nghệ và trình độ kĩ thuật cao Vì để sản xuất được một sản phẩm cuối cùng đưa ra thị trường, cần phải trải qua rất nhiều công đoạn thuộc nhiều lớp sản xuất, mỗi lớp lại đòi hỏi một trình độ công nghệ, liên quan đến nhiều lĩnh vực sản xuất khác nhau, từ những sản phẩm có mức độ công nghệ cao, phức tạp cho tới những sản phẩm gia công, ít được đầu tư về công nghệ Thông thường, những bộ phận và chi tiết tinh xảo, cần đầu tư nhiều công nghệ sẽ do những nhà cung cấp có trình độ cao đảm nhận Những chi tiết cấp thấp hơn, kĩ thuật sản xuất không quá khó thì do những nhà cung cấp cấp thấp sản xuất
Tính sâu rộng của thị trường
Mặc dù không sản xuất ra các sản phẩm đến người tiêu dùng một cách trực tiếp, nhưng thị trường của các ngành công nghệ rất rộng Vì công nghiệp hỗ trợ không chỉ đáp ứng nhu cầu nội bộ ngành mà còn đáp ứng nhu cầu của liên ngành, đa ngành và đặc biệt là không giới hạn trong một phạm vi không gian địa lí nào, chỉ cần các sản phẩm có tính liên kết, có độ tinh xảo, chuyên môn hoá cao, có khả năng cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu của các nhà sản xuất Đối với những nước có nền công nghiệp hỗ trợ phát triển như Nhật Bản, Hàn
Trang 35Hình 1.7: Công nghiệp hỗ trợ có thể bao quát rất nhiều ngành nghề, lĩnh vực [19]
Từ sơ đồ 1.6, ta có thể thấy công nghiệp hỗ trợ cung cấp sản phẩm đầu vào cho rất nhiều các ngành công nghiệp khác như công nghiệp sản xuất xe
Xe máy Thiết bị
nhà ở
Thiết bị nghe nhìn
Trang 3626
máy, thiết bị nhà ở, thiết bị nghe nhìn, máy tính, ô tô Và bất kì ngành sản xuất nào cũng đều cần đến những sản phẩm của công nghệ hỗ trợ, như cao su, nhựa, kim loại, ốc vít, nhíp xe hay điện; đều trải qua các khâu như ép, đúc, rèn, đổ khuôn, gia công, mạ, hay nung Một doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ có thể cung cấp cho công ty lắp ráp trong một lĩnh vực, nhưng cũng có thể cung cấp sản phẩm cho nhiều công ty ở nhiều lĩnh vực khác nhau Ví dụ như cả hai nhà sản xuất điện tử tiêu dùng và xe máy đều
sử dụng các sản phẩm bằng nhựa được sản xuất trong quá trình ép phun, hay các sản phẩm ép kim loại cũng sẽ trở thành sản phẩm đầu vào cho các ngành điện tử, xe máy, ô tô Cũng chính vì điều này mà công nghiệp hỗ trợ cần nhiều vốn để đầu tư vào máy móc công nghệ hơn công nghiệp lắp ráp Nếu như công nghiệp lắp ráp sử dụng nhiều nhân công và ít các máy móc yêu cầu
kĩ thuật công nghệ thì công nghiệp hỗ trợ lại ngược lại Ngành công nghiệp hỗ trợ đòi hỏi rất nhiều máy móc, trang thiết bị hiện đại để có thể sản xuất ra những sản phẩm chất lượng cao, đạt yêu cầu của nhà lắp ráp Thậm chí các máy móc và trang thiết bị này phải không ngừng được cải tiến và đổi mới để theo kịp nhu cầu và thị hiếu của khách hàng Vì thế, ngành công nghiệp hỗ trợ mặc dù có thị trường rộng lớn, nhưng cùng với đó là yêu cầu về máy móc và nguồn vốn vô cùng lớn Đó cũng chính là lí do mà công nghiệp hỗ trợ ở các nước đang phát triển có xu hướng kém cạnh tranh hơn Họ không thể có đủ vốn hoặc lao động lành nghề để tạo ra hiệu suất lao động cao như những nước phát triển
Tính chuyên nghiệp của nguồn nhân lực
Như đã nói ở trên, công nghiệp hỗ trợ là ngành đòi hỏi có nguồn nhân lực trình độ cao Lao động trong ngành công nghiệp hỗ trợ phần lớn là người vận hành máy móc, những kiểm soát viên về chất lượng sản phẩm, các kĩ thuật viên hoặc các kĩ sư có trình độ chuyên môn kĩ thuật cao, được đào tạo
Trang 3727
theo tiêu chuẩn, trình độ lành nghề, chuyên môn sâu Ngành công nghiệp hỗ trợ ở các nước đang phát triển có xu hướng kém cạnh tranh hơn do không có vốn và lao động có trình độ cao để tận dụng và vận hành tốt các thiết bị Theo các chuyên gia Nhật Bản, nếu đơn thuần dựa vào máy móc dây chuyền thì không tạo ra khả năng cạnh tranh quốc tế vì các quốc gia đều có thể sở hữu chúng [15] Do vậy, điểm làm nên sự khác biệt chính là đội ngũ nhân công có tay nghề cao vì họ chính là những người trực tiếp vận hành, cải tiến máy móc, phát minh ra phương pháp mới nhằm nâng cao hiệu quả công việc Sự thành công của các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp hỗ trợ phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ kĩ sư và chuyên gia
1.2.3 Vai trò của công nghiệp hỗ trợ đối với nền kinh tế quốc dân
Công nghiệp hỗ trợ đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường Do sản phẩm của công nghiệp hỗ trợ chính
là đầu vào cho các ngành sản xuất khác, nên một cách gián tiếp, công nghiệp
hỗ trợ sẽ thúc đẩy nền kinh tế, tăng khả năng cạnh tranh, hướng đến xây dựng
và phát triển kinh tế thị trường Khi công nghiệp hỗ trợ không phát triển sẽ kéo theo các ngành công nghiệp chính cũng kém phát triển Do không thể tự sản xuất ra các sản phẩm trong nước, ngành lắp ráp sẽ phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu nguyên liệu, dẫn đến giá của sản phẩm tăng cao, khó cạnh tranh Vì vậy, cần ưu tiên phát triển công nghiệp hỗ trợ trước làm tiền đề để cho các ngành công nghiệp chính phát triển sau
Phát triển công nghiệp hỗ trợ sẽ hạn chế nhập siêu, đảm bảo tính chủ động cho nền kinh tế Do trong nước có thể sản xuất các sản phẩm đáp ứng nhu cầu sản xuất nên có thể chủ động được nguồn nguyên vật liệu đầu vào mà không cần phụ thuộc vào các nước khác, không phải nhập khẩu nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng cho sản xuất lắp ráp, giúp cân bằng cán cân xuất nhập khẩu Đồng thời giá thành của sản phẩm sẽ rẻ hơn, giúp tăng khả năng cạnh
Trang 3828
tranh Mặc khác, việc cung ứng nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng ngay trong nội địa làm cho nền kinh tế trở nên chủ động, không bị lệ thuộc nhiều vào nước ngoài và ít chịu ảnh hưởng của các biến động nền kinh tế toàn cầu
Công nghiệp hỗ trợ giúp tiếp thu chuyển giao công nghệ và là con đường nhanh nhất biến ngoại lực thành nội lực Công nghiệp hỗ trợ phát triển
sẽ tạo ra các sản phẩm đầu vào, hỗ trợ sản xuất cho các ngành công nghiệp khác Khi nó đáp ứng được yêu cầu của các nhà sản xuất, ngành này sẽ thu hút vốn đầu tư nước ngoài, nhận được sự đặt hàng của các doanh nghiệp nước ngoài Để nâng cao chất lượng sản phẩm, các doanh nghiệp nước ngoài sẽ tăng cường đầu tư vốn và công nghệ vào các nước mà họ đặt hàng Thông qua những lần chuyển giao công nghệ kĩ thuật như vậy, công nghiệp hỗ trợ sẽ không ngừng phát triển, tiếp thu nhanh khoa học kĩ thuật công nghệ của các nước trên thế giới, biến những kĩ thuật đó thành của bản thân các ngành công nghiệp Nhờ đó mà trình độ khoa học kĩ thuật được nâng cao, trở thành nhân
tố đưa nền công nghiệp nói riêng và nền kinh tế quốc gia nói chung tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế Công nghiệp hỗ trợ sẽ trở thành cầu nối vững chắc giữa nội lực và ngoại lực Phát triển công nghiệp hỗ trợ là con đường ngắn nhất, nhanh nhất để tranh thủ, tận dụng và sử dụng có hiệu quả nguồn ngoại lực phát huy nội lực, phát triển kinh tế đất nước theo hướng bền vững, tích cực và chủ động
Phát triển công nghiệp hỗ trợ đảm bảo cho các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp hoạt động hiệu quả, hoàn thành được kế hoạch sản xuất Phát triên công nghiệp hỗ trợ, hình thành sự phân công lao động, cải tiến khoa học kĩ thuật công nghệ trong quá trình sản xuất sẽ giúp các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nâng cao được chất lượng sản phẩm; phục vụ tốt hơn nhu cầu của các đơn đặt hàng; có thể khắc phục được hàng lỗi, hàng kém chất lượng; nâng cao dịch vụ nhằm cung cấp các sản phẩm đúng thời gian, hợp
Trang 3929
đồng, hoặc kế hoạch sản xuất các sản phẩm chính Thông qua đó có thể mở rộng thị trường, thu hút thêm nhiều đầu ra cho sản phẩm của doanh nghiệp mình Đó không chỉ là các doanh nghiệp trong nước, mà có thể là các doanh nghiệp nước ngoài Khi các mối liên kết đi vào hoạt động ổn định, các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ sẽ trở thành nhà cung cấp cho các hãng lớn, những doanh nghiệp sản xuất đa quốc gia Việc các doanh nghiệp trong nước có thể tham gia vào chuỗi giá trị của các tập đoàn, công ty, nhà sản xuất lớn chính là yếu tố cốt lõi dẫn đến sự phát triển của ngành công nghiệp quốc gia, đặc biệt
là đối với các quốc gia đang phát triển
Như vậy, từ hai định nghĩa về chuỗi cung ứng và công nghiệp hỗ trợ, chúng ta có thể nhận thấy mối quan hệ khăng khít giữa hai khái niệm Cả hai đều là có sự phân chia lao động và chuyên môn hoá trong sản xuất Theo kịp
xu hướng chung của thế giới hiện đại, một doanh nghiệp không còn có thể sản xuất ra sản phẩm theo cách sản xuất “trọn gói” nữa, mà cần có sự liên kết và hợp tác với nhau Sự liên kết này không giới hạn trong bất cứ một phạm vi hay khu vực nào mà có thể là quy mô trong nước, cũng có thể là quy mô khu vực, thậm chí là quy mô toàn cầu Nếu không có công nghiệp hỗ trợ thì không thể tạo nên chuỗi cung ứng, và ngược lại, không có nhu cầu về chuỗi cung ứng thì sẽ không cần thiết phải phát triển công nghiệp hỗ trợ
Chuỗi cung ứng là một hệ thống các khâu trong quá trình sản xuất, khâu này có quan hệ mật thiết với khâu kia không thể tách rời Các khâu phối hợp với nhau trong toàn chuỗi từ nhập nguyên vật liệu đầu vào đến chế biến, gia công, sản xuất, lắp ráp để cho ra sản phẩm cuối cùng phục vụ nhu cầu của khách hàng Nhu cầu này tăng cao, sẽ diễn ra dòng dịch chuyển ngược, phản hồi về nhà cung cấp, nhà cung cấp lại tiếp tục yêu cầu nhà cung cấp thấp hơn tiếp tục cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm Cứ thế, mà sau mỗi một chu
kì sản xuất, toàn bộ hệ thống chuỗi cung ứng lại phát triển hơn, tạo ra những
Trang 4030
sản phẩm tốt hơn, đồng thời chính các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cũng
có thể phát triển hơn
Trong khi đó công nghiệp hỗ trợ cũng mang một ý nghĩa tương tự Dù chỉ là một ngành công nghiệp đứng sau công nghiệp chính, nhưng nó lại đóng một vai trò vô cùng quan trọng Các ngành công nghiệp chính không thể tự sản xuất ra các sản phẩm một cách hoàn chỉnh mà cần phải nhờ đến sự hỗ trợ của các ngành công nghiệp khác Trong xu hướng toàn cầu hoá của thế giới, các nước phát triển dần dịch chuyển đầu tư sang các nước đang phát triển để tận dụng nguồn nhân công rẻ, cũng như để tránh tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng do các thảm hoạ thiên tai tại đất nước mình gây nên Điều này dẫn đến nhu cầu phát triển công nghiệp hỗ trợ tại các nước sở tại
Nếu như chuỗi cung ứng được chia thành nhiều khâu, thì công nghiệp
hỗ trợ lại được chia thành nhiều lớp, sản phẩm của lớp này là nguyên liệu đầu vào cho lớp kia Áp dụng vào tình hình Việt Nam hiện tại, thì việc tham gia vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp Việt Nam cho các doanh nghiệp Nhật Bản, chính là động lực để phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ của các doanh nghiệp Việt Nam Thông qua phân tích vai trò của vị trí của công nghiệp hỗ trợ trong toàn bộ ngành kinh tế quốc dân ở trên, có thể thấy, khi công nghiệp hỗ trợ Việt Nam phát triển, sẽ không chỉ đáp ứng nhu cầu sản xuất trong nước mà còn có thể thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài Nhờ vốn
và công nghệ từ nước ngoài đó, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ nâng cao trình độ khoa học kĩ thuật, phát huy nội lực trong nước, trở thành một khâu không thể thiếu trong chuỗi cung ứng nước ngoài Đây cũng chính là mục đích mà
đề tài luận văn muốn làm sáng tỏ