Việt Nam- trên cương vị là quốc gia láng giềng đang có tranh chấp chủ quyền lãnh thổ gay gắt với Trung Quốc cần phải nghiên cứu vấn đề này một cách nghiêm túc và khách quan để nắm bắt đư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN MỸ LÊ GIANG
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN MỸ LÊ GIANG
VẤN ĐỀ MỞ RỘNG LÃNH THỔ CỦA
TRUNG QUỐC TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY DƯỚI GÓC NHÌN LÝ THUYẾT QUAN HỆ QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC
Chuyên ngành Quan hệ quốc tế
Mã số: 60 31 02 06 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Khắc Nam
Hà Nội – 2017
Trang 3MỤC LỤC
BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lý do lựa chọn đề tài 4
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 6
3 Mục đích nghiên cứu 7
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 11
6 Phương pháp nghiên cứu 11
7 Cấu trúc của luận văn 12
PHẦN NỘI DUNG 14
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH MỞ RỘNG LÃNH THỔ CỦA TRUNG QUỐC 14
1.1 Cơ sở lịch sử của quá trình mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc 14
1.2 Mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc từ năm 1949 đến năm 1991 17
1.3 Mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc sau năm 1991 23
1.3.1 Mở rộng lãnh thổ trên lục địa 24
1.3.2 Mở rộng lãnh thổ trên biển 30
Tiểu kết: 43
CHƯƠNG 2: NGUYÊN NHÂN MỞ RỘNG LÃNH THỔ CỦA TRUNG QUỐC DƯỚI GÓC ĐỘ LÝ THUYẾT QUAN HỆ QUỐC TẾ 44
1.1 Khái quát về Lý thuyết Quan hệ Quốc tế 44
1.1 Chủ nghĩa Hiện thực 46
Trang 41.1.1 Quyền lực và Thuyết cân bằng quyền lực 47
1.1.2 Thế lưỡng nan về an ninh 51
2.2 Chủ nghĩa kiến tạo 55
2.2.1 Chủ nghĩa dân tộc nước lớn 56
2.2.2 Chủ nghĩa phục hồi lãnh thổ 59
2.3 Lý thuyết Địa chính trị 62
2.3.1 Lý thuyết về không gian sinh tồn 62
2.3.2 Lý thuyết sức mạnh biển 65
2.3.3 Lý thuyết về địa chính trị tài nguyên 69
2.3.4 Lý thuyết miền đất trái tim 73
Tiểu kết: 76
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM CỦA VẤN ĐỀ MỞ RỘNG LÃNH THỔ, ĐỐI SÁCH CỦA CÁC BÊN LIÊN QUAN VÀ GIẢI PHÁP CHO VIỆT NAM 78
3.1 Đặc điểm của vấn đề mở rộng lãnh thổ hiện nay 78
3.2 Đối sách của các bên liên quan 81
3.2.1 Đối sách của Nhật Bản 81
3.2.3 Đối sách của Philippines 84
3.2.3 Đối sách của Malaysia 86
3.3 Đề xuất những giải pháp cho Việt Nam trước vấn đề mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc 87
Tiểu kết: 92
PHẦN KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 103
Trang 5BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN (Association of South East
Asian Nations)
: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
COC (The Code of Conduct for the
South China Sea)
: Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông
DOC (Declaration on Conduct of
the Parties in the South China Sea)
: Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông
IEA (International Energy
Agency)
: Cơ quan Năng lượng Quốc tế
UNCLOS (United Nations Convention
on Law of the Sea)
: Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển
BRICS (Brazil, Russia, India, China,
South Africa)
: Các nền kinh tế mới nổi (bao gồm các nước: Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trong vòng hai mươi năm qua, cả thế giới đã chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc, mà mốc đánh dấu là năm 2010 Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới Cũng trong hơn một thập kỷ qua, Trung Quốc đã dùng mọi biện pháp để thuyết phục thế giới rằng họ đang trỗi dậy một cách hòa bình
Tuy nhiên, các sự kiện diễn ra trong những năm gần đây tại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương đã chỉ ra rằng Bắc Kinh đang sử dụng “trỗi dậy hòa bình” là lớp vỏ để thực thi tham vọng mở rộng ảnh hưởng chính trị, kinh tế, văn hóa, đặc biệt là mở rộng lãnh thổ Những học giả theo chủ nghĩa hiện thực cho rằng Trung Quốc đã rút ra bài học lịch sử: nếu một quốc gia có được “tính hợp lý”, “tính chính danh” và “mục tiêu thích hợp” cho lý do trở thành cường quốc thì quốc gia đó sẽ có được vị trí cường quốc Bộ phận giới học giải như trên xem
xét sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc thể hiện qua ba giai đoạn: “Giai đoạn
một, Trung Quốc sẽ đảm nhận vị trí phòng thủ và đặt ưu tiên vào thống nhất
lãnh thổ Giai đoạn hai, Trung Quốc sẽ đóng vai trò tích cực hơn và khôi phục lại những lãnh thổ mà nước này cho là đã mất Giai đoạn ba, Trung Quốc sẽ cố
gắng làm cho cộng đồng quốc tế chấp nhận một trật tự kinh tế- chính trị có lợi cho Trung Quốc”1 Tóm lại, một Trung Quốc phát triển như hiện nay sẽ nối tiếp con đường trở thành một siêu cường, chắc chắn rằng Trung Quốc sẽ không ngừng gia tăng hàng loạt các chiến lược mở rộng ảnh hưởng chính trị, kinh tế, lãnh thổ cả về chất và lượng
Quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc và các nước láng giềng đang được giới nghiên cứu rất quan tâm Đặc biệt, những động thái trong vấn đề biên giới lãnh thổ của Trung Quốc với các quốc gia láng giềng lại là một vấn đề tuy
1
Nguyễn Xuân Thắng, Nguyễn Mạnh Hùng (2011), Một số đặc điểm nổi bật của thế giới và khu vực những năm
đầu thế kỳ XII, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr 201
Trang 7không mới nhưng lại có những tình hình diễn biến hết sức căng thẳng giữa Trung Quốc và các bên Việt Nam không phải là nạn nhân duy nhất của chính sách bành trướng, mở rộng lãnh thổ của các thế hệ lãnh đạo Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Trong suốt 68 năm tồn tại của mình (1949-2017), Trung Quốc liên tục gây ra những vấn đề biên giới, lãnh hải với hầu như tất cả các nước láng giềng, từ Liên Xô (sau đó là Nga), Mông Cổ ở phương Bắc, các nước Trung Á, Tây Á, các nước Đông Bắc Á và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam Một số tranh chấp này đã phát triển thành những xung đột vũ trang thực sự như trường hợp với Ấn Độ năm 1959 và 1962, với Liên Xô ở Viễn Đông và Trung Á năm
1969, với Việt Nam năm 1979 và năm 1988 Cùng với thời gian và những bước phát triển của Trung Quốc như hiện nay, những hành động mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc là tổng hợp của các chính sách ngoại giao, chính sách biên giới để gây sức ép với các nước láng giềng, kể cả dùng biện pháp quân sự, nhằm đẩy mạnh những yêu sách biên giới lãnh thổ của mình Việt Nam- trên cương vị là quốc gia láng giềng đang có tranh chấp chủ quyền lãnh thổ gay gắt với Trung Quốc cần phải nghiên cứu vấn đề này một cách nghiêm túc và khách quan để nắm bắt được nguyên nhân, bản chất của tranh chấp lãnh thổ, từ đó làm cơ sở đề
ra những giải pháp toàn diện cho Việt Nam nhằm ứng phó lại với sự mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc
Mặt khác, cũng cần nhấn mạnh một điều là, trong khi những nghiên cứu công bố của Việt Nam về quan hệ biên giới- lãnh thổ với Trung Quốc là rất hạn chế và dè dặt thì tại Trung Quốc, những bài nghiên cứu, phân tích sai sự thật lịch
sử về quan hệ Việt- Trung vẫn thường xuyên được đăng tải trên các phương tiện truyền thông, khiến dư luận Trung Quốc hiểu sai về sự thật lịch sử Diễn biến gần đây trong quan hệ Việt- Trung trên Biển Đông một lần nữa đặt ra cho giới khoa học xã hội và ngoại giao Việt Nam, nhất là các nghiên cứu quan hệ quốc tế phải mở rộng, đào sâu thêm nghiên cứu của mình trong lĩnh vực này
Trang 8Trước đây cũng đã có một số bài nghiên cứu viết về mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc dựa trên nhiều các tiếp cận khác nhau Mỗi cách tiếp cận có thể hướng tới những đặc tính khác nhau của vấn đề Để thấy được nguyên nhân, cách thức, tác động của vấn đề thì nghiên cứu dựa trên góc độ lý thuyết quan hệ quốc tế với việc xem xét vấn đề dựa trên từng thành tố sẽ tập trung giải thích, phân tích một cách cặn kẽ gốc rễ, từ đó tạo nên một chỉnh thể hệ thống vấn đề Trên thực tế, chưa có nhiều nghiên cứu khoa học hoặc bài viết khoa học nào về
đề tài này viết dựa trên góc độ tổng hợp lý thuyết quan hệ quốc tế Trước tính
cấp thiết của vấn đề này, tôi quyết định lựa chọn đề tài “Vấn đề mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc từ năm 1991 đến nay dưới góc nhìn lý thuyết quan hệ quốc tế”
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Về ý nghĩa khoa học của luận văn:
Trước hết, với đề tài về vấn đề mở rộng lãnh thổ và tranh chấp lãnh thổ của Trung Quốc, chưa có bài viết hoặc bài nghiên cứu khoa học nào vận dụng lý thuyết quan hệ quốc tế làm nển tảng chính để xem xét vấn một cách chỉnh thể Đặc biệt là những đề tài sử dụng chính danh lý thuyết quan hệ quốc tế làm trọng tâm để triển khai nội dung có số lượng thực sự rất ít tại Việt Nam hiện nay Do vậy, luận văn của tôi chính là một đóng góp mới về khoa học khi vấn đề được nghiên cứu dưới một chiều hướng mới, đồng thời cung cấp cách nhìn, cách luận giải mới cho vấn đề
Bên cạnh đó, tranh chấp đường biên giới giữa Trung Quốc và các quốc gia láng giềng hiện nay là một chủ đề rất nóng với diễn biến phức tạp, căng thẳng Với nội dung chính của đề tài là về mở rộng lãnh thổ và tranh chấp lãnh thổ của Trung Quốc, luận văn của tôi sẽ đóng góp thêm vào tư liệu cho nghiên cứu về tranh chấp lãnh thổ của Trung Quốc
Rộng hơn nữa, trong nghiên cứu quan hệ quốc tế nói chung, học giả và các nhà nghiên cứu thường ngại vận dụng và đào sâu nghiên cứu vào lý thuyết
Trang 9quan hệ quốc tế vì cho rằng những lý thuyết này mang tính học thuật quá cao, khô khan và gây khó hiểu Do đó, những tài liệu viết về lý thuyết quan hệ quốc
tế là không nhiều tại Việt Nam Vì vậy, luận văn của tôi sẽ góp phần bổ sung, làm giàu thêm quỹ tài liệu tham khảo về lý thuyết quan hệ quốc tế nói riêng và quan hệ quốc tế bằng Tiếng Việt nói chung
Về ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Qua sự phân tích và luận giải về nội dung, luận văn sẽ đưa ra những thực trạng hiện nay trong vẫn đề tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và các nước láng giềng, được biệt là vấn đề tranh chấp lãnh thổ trên biển của Trung Quốc và Việt Nam trong những năm gần đây Nhằm đem lại cho độc giả một cái nhìn thực tiễn và khái quát không chỉ về nguyên nhân mà còn đánh giá được về thực trạng trong thực tế hiện nay của vấn đề
Trên cơ sở ý nghĩa khoa học đã nêu trên, đi từ sự lý giải nguyên nhân của vấn đề mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc một cách cặn kẽ, ta sẽ có cái nhìn sâu sắc, đa chiều Thấu hiểu nguyên nhân, phương thức và chính sách của Trung Quốc để từ đó Việt Nam sẽ vận dụng những vấn đề này nhằm xây dựng một giải pháp toàn diện về mặt ngoại giao để đối phó với vấn đề mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc Không chỉ tự đề xuất giải pháp, qua quá trình nghiên cứu, chúng ta
có thể học hỏi từ các quốc gia cũng đang có tranh chấp biên giới với Trung Quốc nhằm đúc rút kinh nghiệm từ đó kiến nghị lên Đảng và Nhà nước những giải pháp duy trì hòa bình ổn định ở khu vực biên giới Việt Trung
3 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nhằm hướng tới trả lời cho câu hỏi nghiên cứu sau: Dựa theo
góc nhìn Lý thuyết Quan hệ quốc tế, thì đâu là nguyên nhân dẫn tới việc mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc từ năm 1991 đến nay?
Để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu trên, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu
ba vấn đề cơ bản bao gồm:
Trang 10- Cơ sở lịch sử của việc mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc qua các thời
kỳ trung đại và cận đại Từ cơ sở lịch sử đó, tập trung nghiên cứu thực trạng mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc từ sau năm 1991
- Sử dụng các lý thuyết Quan hệ quốc tế để xác định các nguyên nhân cốt lõi dẫn tới việc mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc
- Từ thực trạng, nguyên nhân nêu trên, đúc rút ra đặc điểm vấn đề mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc Đồng thời, nghiên cứu các ứng phó ngoại giao tiêu biểu của các nước hiện đang có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, từ đó
đề ra một số giải pháp ngoại giao cho Việt Nam
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Bàn về vấn đề mở rộng lãnh thổ thì trước hết phải nói đến chủ nghĩa bành trướng lãnh thổ Đại Hán qua các thời kỳ lịch sử Trong đó đã có nhiều tác phẩm nghiên cứu của các học giả Việt Nam viết về bành trướng lãnh thổ của Trung Quốc trong khoảng thập niên 70 của thế kỷ XX- giai đoạn đầy biến động
của quan hệ chính trị giữa hai nước Tiêu biểu là những cuốn sách như “ Phê
phán chủ nghĩa bành trướng và bá quyền nước lớn của giới cầm quyền phản động Bắc Kinh” xuất bản năm 1979 của Phạm Như Cương chủ biên, cuốn “ Về chủ nghĩa bành trướng Đại Hán trong lịch sử” của Nguyễn Anh Dũng xuất bản
năm 1982 và “Chính sách bá quyền của Trung Quốc ở Đông Nam Á” của tác giả
Nhuận Vũ Những công trình nghiên cứu này đều đi từ luận giải về chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc qua các giai đoạn lịch sử, qua góc nhìn mang tính lịch sử; đồng thời chỉ trích chính sách của một bộ phận nhà lãnh đạo Trung Quốc trong các lĩnh vực chính trị, quân sự đã đi ngược lại tinh thần đoàn kết, anh em gắn bó được xây dựng dưới thời Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông Với lối viết sắc sảo, không né tránh, bày tỏ thẳng thắn sự phẫn nộ, những tác phẩm này đã mang đến góc nhìn lịch sử cho vấn đề Chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc Tuy nhiên, những tác phẩm này đều chưa luận giải được tận
Trang 11gốc vấn đề mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc một cách có hệ thống, chưa toàn diện và thiếu phân tích tổng thể về vấn đề, nặng nề về chỉ trích
Năm 1991, Việt Nam và Trung Quốc đã chính thức bình thường hóa quan hệ “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai” Do vậy những tài liệu chỉ trích hay đề cập trực diện vào vấn đề bành trướng của Trung Quốc cũng không còn nhiều Những năm gần đây, số lượng các bài nghiên cứu về vấn đề này có tăng
lên, “Chủ nghĩa bành trướng Đai Hán trong chính sách đối ngoại của Trung
Quốc với Việt Nam từ đầu thế kỷ XXI đến năm 2014” của tác giả Nguyễn Thị
Minh Phương là một trong số ít những nghiên cứu đề cập trực diện tới mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc từ sau năm 1991 Bài nghiên cứu đã cung cấp cho người xem nhiều thông tin, nội dung về vấn đề, tuy nhiên lại khá dàn trải về nội dung khi trình bày về chủ nghĩa bành trướng trên cả ba phương diện chính trị,
kinh tế, văn hóa Báo cáo tổng hợp “Nhiệm vụ “Quan hệ biên giới- lãnh thổ
giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa với các nước láng giềng” ( thuộc Chương trình trọng điểm cấp Bộ “Sự điều chỉnh chiến lược và phương thức phát triển mới của Trung Quốc, tác động đến thế giới, khu vực và Việt Nam”) là một
nghiên cứu đồ sộ, tầm cỡ có giá trị khoa học cao của Viện Hàn Lâm Khoa học
xã hội Báo cáo tập trung đề ra thực trạng quá trình tranh chấp lãnh thổ của Trung Quốc với tất cả các nước láng giềng, khai thác sâu nghiên cứu chính sách biên giới lãnh thổ của Trung Quốc, từ đó đúc rút kinh nghiệm, đưa ra giải pháp kiến nghị với Đảng và Nhà nước Với phạm vi nghiên cứu rộng lớn, chất lượng nghiên cứu tốt, việc nghiên cứu và công bố về vấn đề này, đã đóng góp lớn về mặt sử học cho cuộc đấu tranh chống lại chính sách bành trướng mở rộng lãnh thổ hiện nay của chính quyền Bắc Kinh trên bình diện thế giới nói chung và với Việt Nam nói riêng
Hai nghiên cứu “Chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc đầu thế kỷ XXI và tác
động tới Việt Nam” và “Sự trỗi dậy về quân sự của Trung Quốc và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam” của Viện nghiên cứu Trung Quốc bám khá sát vào vấn đề
Trang 12mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc với nội dung phong phú, chứa đựng nhiều
luận chứng và thông tin chi tiết Bên cạnh đó, sách “Quan hệ Mỹ- Trung hợp tác
và cạnh tranh luận giải dưới góc độ cân bằng quyền lực” tuy nội dung chính
không phải là mở rộng lãnh thổ nhưng lại được nghiên cứu dựa trên các Lý thuyết quan hệ quốc tế một cách đầy đủ và sắc nét Do vậy cũng là một sách có giá trị tài liệu tham khảo cao Ngoài ra, còn một số bài báo tiếng Việt viết về đề tài này chỉ đơn thuần đề cập tới tranh chấp lãnh thổ của Trung Quốc với các nước mà chưa có phân tích, lý giải về mặt lý luận cho nguyên nhân của vấn đề
mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc với các quốc gia láng giềng Như vậy, tài liệu tiếng Việt về mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc vẫn còn ít đề cập trực diện vào vấn đề, ít tài liệu có tính hệ thống, hoàn chỉnh và chưa có tài liệu nào đề cập tới vấn đề mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc từ sau chiến tranh lạnh dưới góc độ lý thuyết quan hệ quốc tế
Về tài liệu nước ngoài, đáng chú ý có bài nghiên cứu “Khả năng bành
trướng lãnh thổ dưới góc độ lý thuyết quan hệ quốc tế" của học giả người Mỹ
M Taylor Fravel Đây là một trong số rất ít những tài liệu trình bày một cách có
hệ thống, mang tính lý thuyết quan hệ quốc tế, phân tích kỹ lưỡng, luận giải vấn
đề một cách sâu sắc và khách quan nhất về sự mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc Bài viết đã đề cập tới lợi ích, chi phí và phương thức bành trướng lãnh thổ của Trung Quốc Tuy vậy, bài nghiên cứu vẫn chưa làm rõ được nguyên nhân tổng quan cho sự mở rộng lãnh thổ, khả năng mở rộng lãnh thổ thực sự cũng như những tác động của vấn đề tới cục diện quan hệ quốc tế và những giải pháp ứng phó cho những quốc gia có liên quan
Đồng thời, người viết cũng có tiếp cận những tài liệu của các nhà nghiên
cứu Nga, hoặc Liên Xô cũ tiêu biểu là: Chính sách biên giới của Cộng hòa Nhân
dân Trung Hoa: Những mục tiêu chiến lược và biện pháp chiến thuật của Viện
Viễn Đông, Viện Hàn Lâm Khoa học Liên Xô (cũ) và Trung Quốc- Nga 2050:
Chiến lược cùng phát triển của Viện Viễn Đông, Viện Hàn lâm Khoa học Nga
Trang 13Nhìn chung những nghiên cứu của giới khoa học Liên Xô ( và Liên Bang Nga hiện nay) đều tương đối thống nhất về tính chất bành trướng, mở rộng lãnh thổ
vô căn cứ của Trung Quốc trong quan hệ biên giới- lãnh thổ với các nước láng giềng
Như vậy, hầu hết các tài liệu nghiên cứu về mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc đều chỉ tập trung nghiên cứu dựa trên phương pháp lịch sử mà thiếu đi vận dụng hệ thống các lý thuyết, đặc biệt là theo lý thuyết quan hệ quốc tế để làm sáng tỏ hơn nữa vấn đề Hơn nữa, những tài liệu có nghiên cứu dưới góc độ này thì lại chưa đầy đủ, và khó tiếp cận đối với độc giả Do vậy, bài nghiên cứu này
sẽ giúp độc giả có thêm một cái nhìn toàn diện, khách quan về vấn đề mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc dưới lý thuyết quan hệ quốc tế Đồng thời giúp vấn đề này có thêm đầy đủ tính hệ thống, tính lý thuyết, tính thực tiễn và chân thực, dễ tiếp cận đối với độc giả
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: Phạm vi không gian trong luận văn tập trung nghiên cứu vào Trung Quốc- đối tượng và là chủ thể chính của vấn đề, cùng với các quốc gia đang có tranh chấp lãnh thổ trực tiếp với Trung Quốc, đồng thời phạm vi nghiên cứu còn được mở rộng tới các quốc gia bị tác động bởi vấn đề mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc
Phạm vi thời gian: Sự mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc từ sau chiến tranh lạnh (từ năm 1991 cho đến nay)
6 Phương pháp nghiên cứu
Trang 14Ngoài các phương pháp nghiên cứu cơ bản trong Khoa học xã hội- nhân văn như phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thu thập, xử lý và phân tích tài liệu thì luận văn còn áp dụng một số phương pháp:
Phương pháp nghiên cứu lịch sử giúp cho người viết có được những
kiến thức căn bản về nội dung, tiến trình lịch sử hình thành và phát triển của vấn
đề để từ đó tạo dựng nên cơ sở lịch sử cho bài viết
Phương pháp nghiên cứu khu vực: Vấn đề mở rộng lãnh thổ của Trung
Quốc không phải là vấn đề một chiều mà là vấn đề hai chiều nên khu vực chính
là một nhân tố lớn ảnh hưởng tới nguyên nhân mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc
Phương pháp phân tích cấp độ: Một hiện tượng chính trị khi phân tích
sẽ liên quan đến rất nhiều hiện tượng và nhân tố khác Do đó, một trong những cách nhằm hệ thống hóa và phân loại vấn đề để việc nghiên cứu được thuận tiện hơn là chia ra vấn đề ra thành các cấp độ phân tích thành: cấp độ cá nhân, cấp độ
quốc gia và cấp độ hệ thống
Phương pháp phân tích chính sách: Chính sách đối ngoại chính là định
hướng cho hành vi đối ngoại của quốc gia Vì vậy việc phân tích chính sách đối ngoại của Trung Quốc sẽ làm rõ hơn những cách thức mà Trung Quốc đang tiến hành để mở rộng lãnh thổ
Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình: việc sử dụng phương
pháp nghiên cứu trường hợp điển hình sẽ giúp người đọc tiếp cận được một mẫu hình dẫn chứng có tính tiêu biểu nhất từ đó làm sâu sắc và nổi bật thêm vấn đề Đồng thời góp phần phân tích, làm rõ, giúp người đọc dễ dàng tiếp cận và hình dung các vấn đề lý thuyết quan hệ quốc tế
7 Cấu trúc của luận văn
Trang 15Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và Tài liệu tham khảo, bố cục của luận văn có nội dung gồm 3 chương chính sau:
Chương 1- Khái quát về quá trình mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc:
nghiên cứu chính sách biên giới lãnh thổ và thực trạng mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc qua các thời kỳ
Chương 2- Nguyên nhân mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc dưới lý thuyết quan hệ quốc tế: Áp dụng các khung lý thuyết khác nhau nhằm phân tích
vấn đề một cách đa phương diện
Chương 3- Đặc điểm và triển vọng của vấn đề mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc và giải pháp cho Việt Nam: Đúc rút ra những đặc tính cốt lõi và dự
đoán tương lai của vấn đề mở rộng lãnh thổ Đồng thời từ hiểu biết nguyên nhân, đặc điểm, đề xuất ra phương hướng giải quyết cho tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và Việt Nam
Trang 16PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH MỞ RỘNG LÃNH THỔ CỦA TRUNG QUỐC
1.1 Cơ sở lịch sử của quá trình mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc
Xét tới cơ sở lịch sử của quá trình mở rộng lãnh thổ Trung Quốc thì Chủ nghĩa bành trướng lãnh thổ chính là một nhân tố cốt lõi chi phối hệ tư tưởng và chính sách của các vương triều Đại Hán và tiếp tục chi phối tới các chính sách đối ngoại của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày nay Thuật ngữ “Chủ nghĩa bành trướng” trong tiếng anh là “Expansionism” Theo từ điển tiếng Anh, từ
“Expansionism” được định nghĩa là: “the belief that a country should grow larger: a policy of increasing a country's size by expanding its territory”2 (tạm dịch là: Sự tin tưởng rằng một quốc gia nên phát triển mở rộng: một chính sách làm tăng quy mô của quốc gia bằng cách mở rộng lãnh thổ của mình) Tuy nhiên, cần phân biệt rõ bành trướng và xâm lược Theo tuyên bố của Đại hội đồng Liên hợp quốc 1974 về định nghĩa "xâm lược" có ghi: “Xâm lược là việc
sử dụng các lực lượng vũ trang của một nhà nước chống lại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của một quốc gia khác, hoặc bằng bất cứ cách nào khác không phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc, như được nêu trong định nghĩa này”3 Còn chủ nghĩa bành trướng hay bành trướng là một chính sách của một quốc gia nhằm mở rộng lãnh thổ, quyền lực, lợi ích Trong khi xâm lược là hành động đưa lực lượng vũ trang vào lãnh thổ nước khác thì bành trướng là một chính sách Bành trướng có nhiều phương diện chính trị, văn hóa, kinh tế, lãnh thổ và chính sách này được triển khai qua nhiều phương thức khác nhau Tuy nhiên, bành trướng có thể đồng nghĩa với xâm lược khi nó đạt hình thái cực
Trang 17đoan nhất của bành trướng lãnh thổ là đưa quân vào chiếm giữ lãnh thổ quốc gia khác
Như vậy, có thể nêu ra một khái niệm về chủ nghĩa bành trướng như sau: Chủ nghĩa bành trướng là một chính sách hay một tư tưởng của một quốc gia mong muốn mở rộng quyền lực, lợi ích của mình về mặt lãnh thổ, kinh tế, chính trị, văn hóa.Cũng có thể đưa ra một khái niệm: bành trướng lãnh thổ là một chính sách, tư tưởng hoặc hành động đe dọa hay sử dụng vũ lực để chiếm một phần lãnh thổ của một quốc gia khác Cụ thế bành trướng lãnh thổ với Trung Quốc sẽ bao gồm việc đưa ra các tuyên bố lãnh thổ mới, sử dụng vũ lực để theo đuổi các tuyên bố này tại các vùng lãnh thổ mới hoặc tại các tranh chấp lãnh thổ hiện có
Nền văn minh cổ đại của Trung Quốc xuất hiện sớm nhất và ổn định lâu dài trên lưu vực sông Hoàng Hà Vào thời khuyết sử, các bộ tộc, bộ lạc và liên minh bộ lạc trong quá trình gặp gỡ, đồng tồn tại, tiêu diệt và thôn tính lẫn nhau, thì chưa thể xác định lãnh thổ cụ thể được Trên cơ sở cư trú hoàn toàn tự nhiên thì lãnh thổ của nền văn minh Trung Quốc khởi thủy là lưu vực sông Hoàng Hà Trải qua các thời nhà Hạ, nhà Thương, lãnh thổ quốc gia cổ đại Trung Quốc vẫn chỉ gói gọn trong lưu vực sông Hoàng Hà Tới thời kỳ nhà Tây Chu và thời Xuân Thu chiến quốc, bờ cõi lãnh thổ Trung Quốc đã mở rộng thêm tới lưu vực sông Trường Giang Từ đó trở đi, những triều đại Tần, Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh- mỗi triều đại là một đế quốc hùng mạnh, đóng vai trò to lớn trong việc mở rộng bờ cõi lãnh thổ của Trung Quốc được như hiện nay Có thể chia 2000 năm lịch sử của Trung Quốc ra làm 7 giai đoạn lớn để có thể dễ hình dung thấy các giai đoạn bành trướng lãnh thổ cụ thể qua các thời kỳ
Giai đoạn nhà Tần (năm 221-206 trước Công nguyên): Trong 15 năm
tồn tại ngắn ngủi, nhà Tần đã dốc sức đem quân xâm chiếm đất đai Về Phía Bắc, Tần Thủy Hoàng cho 30 vạn quân đánh người Hung Nô, cướp được cả khu vực phía Nam sông Hoàng Hà ( Ninh Hạ, Tây Viễn ) vốn dĩ trước đây không
Trang 18thuộc đất của người Trung Quốc Về phía Nam, Tần Thủy Hoàng cho đem 50 vạn quân đánh chiếm vùng Bách Việt rộng lớn ( các Tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Chiết Giang, Giang Tây, Hồ Nam, Quý Châu hiện nay) rồi lập
cơ quan hành chính địa phương tại những khu vực này
Giai đoạn nhà Hán ( năm 202 trước Công nguyên- năm 220 sau Công
nguyên): Kéo dài 4 thế kỷ, nhà Hán được coi là một triều đại huy hoàng nhất trong lịch sử Trung Quốc Vương triều Hán với những đội quân viễn chinh khổng lồ, liên tiếp mở những cuộc chiến tranh xâm lược, phía Bắc đánh Hung
nô ( Mông Cổ hiện tại) làm lãnh thổ đế chế Hung Nô này bị thu hẹp đi đáng kể Phía tây đánh Tây Vực ( Tân Cương ngày nay), phía Đông đánh Triều Tiên, phía Nam đánh Việt Nam thành lập nên Giao Châu ( vùng Đông Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam hiện nay) Kết quả, lãnh thổ Trung Hoa đã mở rộng với quy
mô lớn Đặc biệt, tại giai đoạn này, về phía Nam nhà Hán đã xâm chiếm tới Đèo Hải Vân của Việt Nam ngày nay
Giai đoạn nhà Đường ( năm 618 đến năm 907): vào thời nhà Đường,
đặc biệt là thời Đường Thái Tông, Trung Hoa là một quốc gia phát triển phồn thịnh và là một đế quốc hùng mạnh bậc nhất thế giới Các đời vua nhà Đường với quân số đông đã liên tiếp mở các cuộc tiến đánh, xâm lược các quốc gia lân bang như Đông Đột Quyết ( Mông Cổ ngày nay), Tây Đột Quyết ( gồm các nước Kazakhstan, Kyrgyzstan, Taijikistan ngày nay) và Cao Ly Công cuộc bành trướng lãnh thổ của nhà Đường đã mở rông diện tích lãnh thổ Trung Quốc lên gấp rưỡi thời nhà Hán, và vươn tới những vùng lãnh thổ xa xôi, vượt xa biên giới lãnh thổ Trung Quốc hiện nay Về phía Bắc biên giới đã vươn tới Hồ Baikal của Nga ngày nay, Phía Đông tới Biển Aral, các nước Uzbekistan, Kyrgyzstan, Taijikistan, một nửa lãnh thổ Kazakhstan và một phần Afghanistan đều thuộc Lãnh thổ nhà Đường Phía Tây lãnh thổ đã vươn tới Triều Tiên, Hàn Quốc ngày nay Phía Nam tới dãy núi Hoành Sơn của Việt Nam
Trang 19Giai đoạn nhà Nguyên ( năm 1271 đến năm 1368): Đế chế Mông Cổ
sau khi xâm chiếm Trung Quốc đã thành lập ra nhà Nguyên, tuy là vương triều ngoại tộc nhưng những vị vua nhà Nguyên sau này đều bị Hán hóa và tự coi mình là hoàng đế Trung Hoa Nhà Nguyên với đội quân hùng mạnh đã mở các cuộc chinh phục, thảo phạt, tiến hành các cuộc xâm lược Tới năm 1294, lãnh thổ bao gồm vùng Siberi của Nga, Mông Cổ, mở rộng tới toàn bộ bán đảo Triều Tiên tới biển Nhật Bản, phía Nam xâm lược Miến Điện
Giai đoạn nhà Minh (từ năm 1368 đến năm 1644): dưới triều Minh
Thành Tổ, Trung Hoa là một đế quốc cường thịnh, bành trướng thế lực ra ngoài rất mạnh Đáng chủ ý là tới thế kỷ này, những cuộc xâm lược, bành trướng thế lực của đế quốc Trung Hoa hướng trọng tâm xuống khu vực Đông Nam Á Đế quốc Minh đã có những đoán thuyền biển hàng trăm chiếc lần lượt đi tới các Biển Đông, tới các vùng biển miền Trung Việt Nam và các vùng đảo ở bán đảo Đông Dương, bán đảo Mã Lai… Năm 1407, nhà Minh đem quân xâm lược nước Đại Ngu (miền Bắc và miền Trung Việt Nam ngày nay) và cai trị Đại Ngu trong vòng 20 năm tới năm 1428
Giai đoạn nhà Thanh (năm 1636 đến năm 1911): Nhà Thanh khởi thủy
là đế quốc Mãn Châu, sau khi xâm lược và chinh phục Trung Quốc, nhà Thanh
đã lần lượt mở rộng xâm chiếm Đài Loan (1683), Mông Cổ (1691), Tây Tạng (1751), Tân Cương (1759) Đến thời nhà Thanh, hình dạng lãnh thổ và đường biên giới Trung Quốc cơ bản đã được định hình và gần giống với ngày nay
1.2 Mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc từ năm 1949 đến năm 1991
Sự thành lập vào ngày 1-10-1949 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chính thức hình thành nên lãnh thổ Trung Quốc như hiện tại Từ năm 1949 đến năm 1991 là giai đoạn chứng kiến nhiều tranh chấp lãnh thổ và căng thẳng đẩy cao tới chiến tranh lãnh thổ giữa Trung Quốc và các quốc gia láng giềng
Trang 20Với Liên Xô (Nga ngày nay): những tranh cãi về đường biên giới giữa
Trung Quốc và Liên Xô bắt đầu chính thức nổ ra từ mùa hè năm 1960 Từ tháng
8 đến 9/1960 những người chăn cừu Trung Quốc gốc Kirghiz đưa gia súc vượt biên giới với Liên Xô ở cùng Buz-Aigyr và đèo Berta ở Kirghistan, chăn thả trên lãnh thổ Liên Xô Khi bị các lực lượng biên phòng Liên Xô chặn lại, yêu cầu họ rời lãnh thổ Liên Xô, họ đáp trả lại rằng họ hành động theo lệnh của lãnh đạo và
họ đang làm việc trên lãnh thổ Trung Quốc Phía Trung Quốc khẳng định trên các phương tiện thông tin đại chúng rằng “ Mùa hè năm 1960, tại vùng đèo Buz- Aigyr thuộc Thiên Tân, Trung Quốc đã xảy ra sự cố, khi lính biên phòng Xô Viết bắt trói, đánh đập và xua đuổi những người chăn cừu Trung Quốc Đây là
sự cố đầu tiên trên đường biên giới từ khi nước Trung Hoa mới được thành lập” Xung quanh vấn đề trên, hai bên đã gửi cho nhau ba công hàm dài và hai tuyên
bố miệng Tranh cãi kéo dài tới tháng 10, khi những người chăn cừu Trung Quốc buộc phải rời khỏi vùng này về Trung Quốc do mùa lạnh đến
Sau sự kiện trên biên giới Xô- Trung vùng Kirghistan và Viễn Đông, trên toàn bộ đường biên giới Trung- Xô, các vụ vi phạm biên giới diễn ra một cách có hệ thống và không ngừng phát triển thêm về số lượng và số người tham gia “Trong năm 1960, tổng số vụ vi phạm biên giới là khoảng 100 vụ Năm
1962, con số này lên tới 5000 vụ Từ giữa năm 1962, các vụ vi phạm biên giới
từ phía Trung Quốc mang tính khiêu khích rõ rệt Trong hai năm 1963-1964, các
vụ vi phạm biên giới còn tăng thêm nhiều nữa Chỉ riêng năm 1963, số lượng người Trung Quốc tham gia vào các vụ vi phạm biên giới Trung- Xô lên đến hơn 100 000 người”4 Công hàm ngày 21/9/1960 của Bộ Ngoại giao Trung Quốc gửi Bộ Ngoại giao Liên Xô cũng về vấn đề này đã nói rõ: “như phía Trung Quốc hiểu, biên giới tại khu vực này được xác lập từ năm 1884 bằng hiệp định giữa Trung Quốc và Nga về việc mô tả đường biên giới Kashgar Nhưng hiệp định này quy định rằng, khu vực biên giới đi theo hướng Nam hoặc hướng Bắc phải
4
Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (2016), Báo cáo Tổng hợp: Nhiệm vụ “Nhiệm vụ quan hệ biên giới-
lãnh thổ giữa Cộng Hòa nhân dân Trung Hoa với các nước láng giềng”,Hà Nội, tr 82
Trang 21được xác định bằng đường màu đỏ trên bản đồ đi kèm theo hiệp định, nhưng phía Liên Xô chưa từng giới thiệu cho phía Trung Quốc về bản đồ này” Như vậy, phía Trung Quốc chính thức tuyên bố những vùng lãnh thổ Liên Xô bị dân Trung Quốc vượt biên là lãnh thổ Trung Quốc, đồng thời coi đường biên giới giữa hai khu vực này là không có cơ sở, vì vậy, sự có mặt của các lực lượng biên phòng Liên Xô ở những khu vực này là phi pháp
Cao điểm của những bất đồng về đường biên giới giữa Trung Quốc và Liên Xô diễn ra vào năm 1969 với các cuộc xung đột vũ trang với vũ khí chiến tranh thực sự giữa Trung Quốc và Liên Xô tại đảo Damansky (Trung Quốc gọi
là Trân Bảo đảo) nơi đang do Liên Xô chính thức quản lý nhưng bị Trung Quốc coi là vùng có tranh chấp trên sông Ussuri tháng 3/1969 Cuộc xung đột vũ trang này đẩy hai nước tới nguy cơ một cuộc chiến tranh tổng lực thực sự Bằng
phương thức này, về thực chất, Trung Quốc đã đạt được mục tiêu biến những
vùng lãnh thổ Liên Xô ven biên với Trung Quốc, đang không có tranh chấp, trở thành vùng tranh chấp
Với Ấn Độ và Pakistan: Giai đoạn 1950-1959 được coi là giai đoạn bắt
đầu thiết lập những căng thẳng giữa Ấn Độ và Trung Quốc Trung Quốc giáp nhau trên 3350 km đường biên giới được phân định bởi dãy núi Himalaya hiểm trở và vùng cao nguyên Tây Tạng Trong đó hai vùng Aksai Chin và Arunachal Pradesh là hai vùng điểm nóng tranh chấp giữa Trung Quốc và Ấn Độ Aksai Chin hiện thuộc quyền quyển lý của Trung Quốc và được Trung Quốc coi là một phần của Tân Cương nhưng Ấn Độ lại coi vùng này là lãnh thổ thuộc Kashmir
và đòi lại Ngược lại, Arunachal Pradesh là một tiểu bang của Ấn Độ nhưng lại được Trung Quốc coi là Nam Tây Tạng và đòi Ấn Độ trao trả Hướng tới Tây Tạng, Chính phủ Ấn Độ đi theo sứ mệnh của Anh trong việc khuyến khích người Tây Tạng ly khai Người Tây Tạng hy vọng rằng việc chuyển giao quyền lực Anh cho Ấn Độ sẽ cung cấp cho họ một cơ hội để lấy lại lãnh thổ mà Anh đã cướp của họ từ một thế kỷ trước Tuy nhiên, sự vắng mặt của sức mạnh Anh và
Trang 22sự xuất hiện của một quyền lực trung ương mạnh mẽ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã đảo ngược sự cân bằng quyền lực Vào ngày 20/10/1962, một cuộc tấn công ào ạt từ nhiều mũi của quân đội Trung Quốc phá tan sự tĩnh lặng của vùng núi Himalaya, lấn át lực lượng quốc phòng Ấn Độ khi đó không có sự chuẩn bị
và vũ trang kém Trong vòng vài ngày, Trung Quốc đã kiểm soát cao nguyên Aksai thuộc Kashmir về phía tây và về phía đông tiến tới gần vùng đất trồng chè quan trọng của Ấn Độ ở Assam Sau đó vào ngày 21/11, Bắc Kinh tuyên bố đơn phương ngừng bắn và rút khỏi khu vực đông bắc Ấn Độ nhưng vẫn giữ quyền kiểm soát khu vực Aksai cằn cỗi
Trung Quốc có đường biên giới tiếp giáp với Pakistan dài 523km Khi mối quan hệ vốn rất tốt đẹp giữa Trung Quốc và Ấn Độ trở nên đối đầu thì nó lại
là tiền đề tạo điều kiện cho sự nồng ấm và thân thiện của qua hệ Trung Quốc- Pakistan, quốc gia luôn có thái độ thù địch với Ấn Độ Chỉ một tuần sau khi xảy
ra cuộc xung đột giữa Trung Quốc và Ấn Độ, Trung Quốc và Pakistan đã giải quyết xong vấn đề biên giới vào tháng 12 năm 1962 và hiệp định chính thức được ký kết vào tháng 3 năm 1963 Khi kí Hiệp định giải quyết vấn đề biên giới với Pakistan, Trung Quốc đã đòi ghi vào một điều khoản của hiệp định rằng hiệp định này sẽ được thương lượng lại trong trường hợp giải pháp cuối cùng về tranh chấp lãnh thổ Ấn Độ- Pakistan đi đến kết cục phải chuyển những vùng đất này cho Ấn Độ Với thỏa thuận này, Pakistan đã nhượng thung lung Shaksgam ở Kashmir đầy tranh chấp cho Trung Quốc, một bước đi bị Ấn Độ phản đối, khiến cho tranh cãi về vấn đề biên giới ngày càng trở nên quyết liệt
Với Việt Nam: Từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX, bối cảnh tình hình
quốc tế và khu vực có nhiều thay đổi sâu sắc, Trung Quốc đứng trước nhiều thách thức cả trong và ngoài nước Ở trong nước, Chính sách Đại nhảy vọt và cuộc Cách mạng văn hóa đã gây ra hậu quả nghiêm trọng, làm cho công cuộc xây dựng phát triển đất nước của Trung Quốc gặp nhiều khó khăn Trong lúc đó, quan hệ Trung- Xô và Trung- Ấn ngày càng đi xuống, từ năm 1972, Trung Quốc
Trang 23điều chỉnh chính sách đối ngoại, bắt tay với Mỹ chống Liên Xô Chính bối cảnh trong nước của Trung Quốc và quôc tế giai đoạn này đã tác động rất mạnh mẽ đến quan hệ Việt Nam- Trung Quốc, khiến quan hệ hai nước ngày càng trở nên xấu đi Trên khu vực biên giới giữa hai nước, từ năm 1966 đến năm 1979, Trung Quốc đẩy mạnh các hoạt động vi phạm biên giới và mở rộng xâm lấn lãnh thổ với nhiều hình thức như xâm canh, xâm cư, xây dựng công trình, di dời mốc quốc giới, trồng rừng… với mức độ ngày càng nghiêm trọng, số vụ ngày càng tăng nhanh chóng, cụ thể trong năm 1974 xảy ra 179 vụ; năm 1974 có 294 vụ, năm 1976 có 812 vụ, trong đó có 10 lần dùng lực lượng từ 1000 đến 3000 người bao vây các chiến sĩ biên phòng Đỉnh điềm là năm 1978 xảy ra 2175 vụ (gấp 10 lần so với năm 1974), với 24 vụ nổ sung làm chết và bị thương 72 dân thường và chiến sĩ biên phòng Việt Nam5 Trong khoảng thời gian từ tháng 4 cho tới tháng
8 năm 1978, quan hệ giữa hai nước trở nên đặc biệt xấu Cùng với cuộc khủng hoảng Hoa Kiều, vấn đề Campuchia cùng với các vụ tranh chấp biên giới, phía Trung Quốc không còn giữ thái độ kiềm chế mà bắt đầu lớn tiếng đe dọa, buộc
Hà Nội phải chấp thuận các yêu sách từ Trung Quốc Trung Quốc bắt đầu tính dến khả năng dùng vũ lực để đối phó với Việt Nam Ngày 3/11/1978, Việt Nam
ký kết Hiệp ước Hợp tác và Hữu nghị với Liên Xô, ngay sau đó, Nhật báo của Trung Quốc bắt đầu đăng các bài viết tố cáo Việt Nam tiến hành xâm phạm và khiêu khích trên biên giới với Trung Quốc Tuy nhiên, trên thực tế phía Trung Quốc đã thực hiện chính sách dịch chuyển các cột mốc biên giới tại rất nhiều địa điêm vào sâu trong nội địa Việt Nam, cũng như sử dụng lực lượng vũ trang hộ tống dân cư Trung Quốc lấn sang đất Việt Nam Một trong những địa điểm tranh chấp quan trọng nhất là 300m đường sắt vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam từ điểm nối đường ray cho tới trạm kiểm soát biên giới gần Hữu Nghị Quan, do công nhân Trung Quốc bảo dưỡng với sự chấp thuận của Việt Nam từ năm
1955 Phía Trung Quốc tố cáo Việt Nam lấn chiếm nơi này, còn Việt Nam tố
5
Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (2016), Báo cáo Tổng hợp: Nhiệm vụ “Nhiệm vụ quan hệ biên giới-
lãnh thổ giữa Cộng Hòa nhân dân Trung Hoa với các nước láng giềng”,Hà Nội, tr 270
Trang 24cáo Trung Quốc lợi dụng long tin của Việt Nam đặt điểm nối đường ray vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam để lấn chiếm đất Việt Nam cũng tố cáo Trung Quốc phá hủy cột mốc số 18 và dịch chuyển cột km số 0 vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam 100m 5 giờ sáng ngày 17-2-1979 Trung Quốc đưa một lực lượng quân sự lớn gồm 60 vạn quân với xe tăng, đại bác và không quân yểm trợ, mở cuộc tấn công vào toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam Tới ngày 5-3-1979, Việt Nam
ra lệnh tổng động viên toàn quốc Cùng ngày, Bắc Kinh tuyên bố đã “hoàn thành mục tiêu chiến tranh”, “chiến thắng” và bắt đầu rút quân Phía Trung Quốc đưa
ra luận điệu rằng họ “đánh trả để tự vệ” trước sự xâm phạm từ phía Việt nam Tuy nhiên, Tờ báo Mainichi của Nhật Bản, số ra ngày 27-2-1979 đã cho rằng:
“Việc Trung Quốc tiến sâu vào Việt nam 40 ki-lô-mét làm cho lý thuyết đánh trả
để tự vệ của họ còn quá mỏng manh trước dư luận”6
Cũng trong năm 1979, Bộ ngoại giao Việt Nam đã công bố Bị vong lục-
văn bản về vấn đề biên giới Việt-Trung, trong đó lên án những hành động của Trung Quốc “1) từ xâm canh, xâm cư đến xâm chiếm đất 2) Lợi dụng việc xây dựng các công trình hữu nghị để đẩy lùi biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam 3) Đơn phương xây dựng các công trình ở biên giới lấn sang đất Việt Nam 4) Từ mượn đất của Việt Nam đến biến thành lãnh thổ của Trung Quốc 5) Xê dịch mốc biên giới 6) Làm đường biên giới lấn sang đất Việt Nam 7) Lợi dụng việc
vẽ bản đồ giúp Việt Nam để chuyển dịch đường biên giới 8) Dùng vũ trang uy hiếp và đóng chốt để chiếm đất 9) Đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam”7
Sau chiến tranh biên giới năm 1979, mặc dù tuyên bố rút quân, nhưng quân Trung Quốc vẫn chiếm đóng khoảng 60 km² lãnh thổ biên giới có tranh chấp mà trước đó Việt Nam kiếm soát, trong đó có 300m đường xe lửa giữa Hữu
6
Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (1979), Phê phán chủ nghĩa bành trướng và bá quyền nước lớn của giới
cầm quyền phản động Bắc Kinh, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.132
7 Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (1979), Phê phán chủ nghĩa bành trướng và bá quyền nước lớn của giới
cầm quyền phản động Bắc Kinh, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.134
Trang 25Nghị Quan và trạm kiểm soát biên giới Việt Nam Trung Quốc cũng chiếm một
số điểm cao chiến lược dọc biên giới Việt Nam, nhằm làm bàn đạp cho các cuộc tấn công quân sự sau này Xung đột vũ tranh vẫn liên tục xảy ra sau đó trên tuyến biên giới giữa hai nước trong suốt thập niên 1980
Trên biển, Trung Quốc cũng đẩy mạnh tấn công chiếm giữ các đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam“ Năm 1974, Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng
Sa của Việt Nam, năm 1988, chiếm một số đảo và bãi đã ngầm thuộc quần đào Trường Sa của Việt Nam”8 Chớp thời cơ chính quyền Sài Gòn không còn được
Mỹ hậu thuẫn, tháng 1/1974, tướng Hứa Thế Hữu – Tư lệnh Quân khu Quảng Châu – mượn cớ hộ tống ngư dân Trung Quốc đánh cá, dùng lực lượng hải quân
áp đảo tấn công chiếm quần đảo Hoàng Sa từ tay chính quyền Việt Nam Cộng hòa Tháng 3/1988 hải quân Trung Quốc lại chiếm thêm 6 đảo đá ở quần đảo Trường Sa đang do Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam kiểm soát, gây thương vong cho hải quân nước ta Bắc Kinh coi đó là những thành tích “thu phục lãnh thổ”, thực ra đó là sự xâm lược lãnh thổ Việt Nam Từ đó trở đi Trung Quốc tìm cách ổn định các tranh chấp biên giới trên lục địa, tập trung lực lượng lấn chiếm lãnh thổ trên biển, gây ra tranh chấp biển đảo với các nước xung quanh
1.3 Mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc sau năm 1991
Sau năm 1991, với sự kiện Liên Xô tan rã, chiến tranh lạnh kết thúc, tình hình quan hệ quốc tế có nhiều biến chuyển sâu sắc Cùng với sự tăng cường sức mạnh của các tổ chức quốc tế và khu vực, cục diện thế giới dần đi vào ổn định hơn Quan hệ quốc tế ngày càng được vận hành theo những nguyên tắc trơn tru hơn, đòi hỏi các quốc gia phải tuân thủ những nguyên tắc đó, do vậy mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc bước sang một giai đoạn mới, không còn trực diện bằng những hành động vũ trang trắng trợn mà sẽ bằng những chính sách, chiến
8 Đỗ Minh Cao (2012), Sự trỗi dậy về quân sự của Trung Quốc và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam, Nhà xuất bản từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr.150
Trang 26lược tinh vi nhằm từng bước nắm quyền kiểm soát các vùng lãnh thổ đang nằm trong tầm ngắm của Trung Quốc Tại phần này, luận văn sẽ trình bày các sự kiện
mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc từ sau năm 1991 tóm gọn theo các đặc điểm
và chính sách chính của quá trình này Quá trình mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc sau năm 1991 gồm hai mũi chính: mở rộng lãnh thổ trên lục địa và mở rộng lãnh thổ trên biển Trong đó, mở rộng lãnh thổ trên lục địa sẽ tập trung vào những quốc gia Châu Á lục địa có lãnh thổ tiếp giáp trực tiếp với Trung Quốc tiêu biểu là các quốc gia vùng Trung Á, Nam Á và Đông Nam Á Đồng thời mở rộng lãnh thổ trên biển sẽ đề cập tới vấn đề liên quan tới các quốc gia tiếp giáp biên giới trên biển với Trung Quốc tại khu vực Đông Á như Hàn Quốc, Nhật Bản; các quốc gia lục địa và hải đảo Đông Nam Á như Việt Nam, Phi-lip-pin, Ma-lay-si-a, In- đô-nê-xi-a
1.3.1 Mở rộng lãnh thổ trên lục địa
Chiến lược di dân- đã và đang là một chiến lược mở rộng lãnh thổ một
cách gián tiếp của Trung Quốc Mục tiêu là những khu vực dân cư thưa thớt của các quốc gia láng giềng, tiêu biểu là vùng Viễn Đông của Nga, Mông Cổ và Trung Á Chiến lược di dân này được thực hiện bằng nhiều hình thức biện pháp khác nhau nhằm đưa người Trung Quốc vào sinh sống tại các khu vực này, những bộ phận cư dân người Trung Quốc tại những khu vực này đang tăng lên không ngừng đang ngày càng lấn át những cư dân bản địa và tạo vị thế cho Trung Quốc tại những khu vực đó Nhìn nhận một cách chủ quan thì có thể coi đây là một hình thức của mở rộng lãnh thổ một cách không trực tiếp do không
sử dụng đến quân sự mà chỉ sử dụng dân số Đồng thời, chiến lược di dân hướng tới mở rộng lãnh thổ cũng được thực hiện qua nhiều những phương thức khác nhau như: di dân hợp pháp, di dân bất hợp pháp, di dân theo chính sách có trợ cấp, gây ảnh hưởng về kinh tế và tạo lập nâng cao vai trò của cộng đồng người Hoa tại nơi định cư Tại một khu vực định cư, Trung Quốc có thể sử dụng tổng
Trang 27hợp nhiều cách thức khác nhau, nhưng có thể lấy một số trường hợp điển hình
để phân tích theo từng hướng phương thức
Đầu tiên, tại vùng Viễn Đông của Nga dân số chỉ khoảng 6,6 triệu người với mật độ khoảng 1 người/km² trong cụm ba tỉnh Đông Bắc của Trung Quốc lại
có dân số tới 107 triệu người với mật độ dân số 135 người/km² Vùng Viễn Đông (Nga) có những tài nguyên vô cùng quý giá đối với một nước Trung Quốc đang phát triển không ngừng “Khu vực này chiếm hầu như toàn bộ lượng kim cương và 70% dự trữ mỏ vàng của Nga Nơi đây còn có nhiều mỏ hơi đốt, than
đá và gỗ Việc vận chuyển những tài nguyên này sang châu Á dễ dàng hơn nhiều
so với việc chuyên chở chúng tới Moscow cách đó 3.000 km”9
Quy mô lực lượng lao động của Nga đang giảm lại do dân số ngày càng già đi Trong khi đó dân số Trung Quốc lại trẻ và ngày càng đông Tại nhiều thành phố vùng Viễn Đông của Nga, sự hiện diện của người Trung Quốc có thể thấy rõ qua những biển quảng cáo bằng cả tiếng Nga và tiếng Trung Vùng Viễn Đông nước Nga đang trở thành cái van an toàn của Trung Quốc, rất giống với việc Mexico giải tỏa sức ép dân số bằng những cuộc di dân vào nước Mỹ Người Nga đã cảnh báo
về việc người Trung Quốc “đang xâm lăng nước Nga, không phải là với những chiếc xe tăng, mà là với những chiếc va li” “Từ năm 1989 cho đến 2002, số lượng người Trung Quốc sống tại Nga đã tăng thêm 500%, từ 5.200 tới 34.577 người”10
Việc mở rộng lãnh thổ còn được thực hiện qua phương thức di dân thứ hai
là di dân hợp pháp, thông qua các hình thức như cho nước ngoài thuê lao động hoặc Doanh nghiệp Trung Quốc “đi ra ngoài” làm ăn và đấu thầu công trình kéo theo là các trang thiết bị, máy móc, nhân công Trung Quốc “Theo Bộ Thương
Trang 28mại Trung Quốc, tính đến cuối năm 2010, Trung Quốc đã gửi tổng cộng 363 nghìn lao động sang làm việc tại Nga, trong các ngành nghề khác nhau Vào cuối năm 2010, tại Nga có khoảng 21 ngàn công nhân Trung Quốc, tập trung chủ yếu tại vùng Viễn Đông, Siberi trong các lĩnh vực xây dựng, lâm nghiệp, nông nghiệp và sản xuất hàng hóa”11 Giới chức các địa phương tại Nga từ lâu
đã bày tỏ lo lắng trước tình trạng sụt giảm dân số tại vùng Viễn Đông có thể khiến khu vực này đối mặt với vấn đề nghiêm trọng về địa chính trị Giới chức Nga hiện đang tỏ ra quan ngại trước sự gia tăng mạnh mẽ dòng người nhập cư từ Trung Quốc tới Siberia và Viễn Đông Nếu nhu cầu về mặt đất đai hay không gian sống của Trung Quốc gia tăng và sức mạnh quân sự của Nga suy yếu thì lợi ích của việc mở rộng lãnh thổ tại khu vực này sẽ được gia tăng rất nhiều
Với Mông Cổ, Trung Quốc lại dùng phương thức gây ảnh hưởng về kinh
tế trong quá trình di dân Với diện tích gần bằng 1/2 diện tích châu Âu, dân cư chỉ vỏn vẹn 2,7 triệu người nhưng Mông Cổ lại sở hữu trữ lượng tài nguyên phong phú Điều này có thể sẽ biến Mông Cổ thành miếng mồi béo bở cho những quốc gia thèm khát tài nguyên, đặc biệt là Trung Quốc “Mông Cổ có trữ lượng uranium khoảng 1,3 triệu tấn Tất cả các loại nguyên liệu của Mông Cổ đang thu hút sự quan tâm của Nga, nhất là Trung Quốc đang có nền kinh tế phát triển Bên cạnh đó, tại Trung Quốc do ngành luyện kim đen đang phát triển và
mở rộng với tốc độ lớn nên Bắc Kinh luôn có nhu cầu rất lớn đến trữ lượng than khổng lồ của Mông Cổ”12 Trong lịch sử từ năm 1636, Mông Cổ trở thành một phần của đế chế Mãn Thanh Năm 1911 nhà Mãn Thanh sụp đổ, Mông Cổ trở thành nước tự trị từ 1911 đến 1919 Năm 1917, Trung Quốc lại lợi dụng sự rối ren ban đầu của cuộc cách mạng Nga để khôi phục vị thế của mình tại Mông Cổ
Trang 29http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-trung-quoc/1261-ngi-trung-quc-ang-bt-Năm 1921, hàng trăm binh lính Bạch vệ Nga do Tướng Ungern Fon Shternberg chỉ huy đã lật đổ chính quyền Trung Quốc tại Mông Cổ, và những người cộng sản Mông Cổ đã chớp lấy thời cơ để giành chiến thắng bằng cách đánh đuổi Bạch vệ Nga để thiết lập chế độ cộng sản tại Ulan Bato Do trong quá khứ Mông
Cổ đã từng là một phần lãnh thổ thuộc Trung Quốc, do vậy Trung Quốc luôn coi Mông Cổ là một “phần lãnh thổ bị mất” và ý chí muốn lấy lại hoặc ít nhất là muốn kiểm soát Mông Cổ của Trung Quốc là không thể phủ nhận Sau khi Liên
Xô tan rã, ảnh hưởng của Trung Quốc tại Mông Cổ đã diễn ra hết sức mạnh mẽ Trong những năm 1990, hàng nghìn hàng nghìn người Trung Quốc đã mang vốn đến Mông Cổ để đầu tư “Hiện có 1.100 công ty Trung Quốc đang hoạt động tại đây, trong khi đó các công ty của Nga chỉ đếm trên đầu ngón tay Tất cả các nhà hàng ăn uống tại Mông Cổ hầu hết nằm trong tay người Trung Quốc Một nửa
số nhà máy dệt, kéo sợi và sản xuất lông dê mịn thuộc sở hữu của người Trung Quốc; trong lĩnh vực ngành công nghiệp thuộc da người Trung Quốc cũng chiếm ưu thế Theo cách nói của Cục trưởng Cục Dự trữ nguồn tài nguyên Mông Cổ thì “tại Mông Cổ mỗi ngày có thêm một công ty mới của Trung Quốc
đi vào hoạt động” Công việc khảo sát, thăm dò khoáng sản của Mông Cổ ngày càng nằm dưới sự kiểm soát của người Trung Quốc”13 Hiện người Mông Cổ đã hiểu được nguy cơ bị Trung Quốc nuốt chửng, lo ngại số phận của Mông Cổ lặp lại giống như Nội Mông Trung Quốc
Còn với các nước Đông Nam Á, thì theo thống kê chính thức, 30.000 công nhân Trung Quốc đã nhập cảnh vào Lào để xây dựng những đại công trình Tồn tại một số lượng lớn người Trung Quốc qua Lào làm ăn mà không khai báo, bước một bước qua biên giới, họ có thể đổi đời, vì ở Lào không có cạnh tranh Vậy mà số lượng cư dân Trung Quốc tại Lào vẫn còn thua kém xa so với tại Myanmar Tại thành phố Mandalay bây giờ đã trở thành tiểu Vân Nam với số
13
Thông tấn xã Mông Cổ, “Người Trung Quốc đang bắt đầu bành trướng tại Mông Cổ.”
www.nghiencuubiendong.vn u-banh-trng-ti-mong-c [3/5/2015]
Trang 30http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-trung-quoc/1261-ngi-trung-quc-ang-bt-lượng lên đến 200.000 người14
Chỉ riêng một đồn điền mía do người Trung Quốc khai thác giữa vùng núi của dân tộc Shan ở phía Bắc Myanmar, giáp giới với thành phố Ruili của Trung Quốc, đã mang vào Myanmar 5.000 công nhân từ phía bên kia biên giới Còn tại Việt Nam, hàng chục ngàn lao động Trung Quốc đang làm việc mà chưa được cấp phép lao động “Phần lớn trong số họ đều là lao động phổ thông đi theo các nhà thầu Trung Quốc Có rất nhiều các công trình cho những người này làm việc như: khai thác bauxite ở Tân Rai (Bảo Lộc, Lâm Đồng), nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh, nhà máy nhiệt điện than Hải Phòng, công trình khí-điện-đạm Cà Mau Số lượng lao động Trung Quốc tại các công trình này luôn áp đảo số lượng lao động trong nước, mỗi nơi từ 700 đến trên 2.000 người trên một công trình”15 “Di dân ngày nay được thực hiện trên một quy mô lớn chưa từng thấy ở Đông Nam Á Ngước mắt lên hỏi ông trời: Di dân cổ điển hay là chiến lược xâm chiếm”16
Trong nhiều năm qua, quân đội Trung Quốc đã lặng lẽ lấn chiếm nhiều khu vực chiến lược ở phía bắc và phía tây Bhutan Phía Trung Quốc đã đưa các dân du mục Tây Tạng đến chăn thả ở cao nguyên Doklam và tuần tra vũ trang ở
đó Trung Quốc cũng đã biến các lối mòn tự nhiên thành những con đường Từ lâu, Bhutan đã khiếu nại về những vụ lấn chiếm lãnh thổ nói trên của Trung Quốc Để từ đó, ngày 8/6/2017, Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc lợi dụng đêm tối lặng lẽ tiến vào cao nguyên Doklam nằm giữa biên giới Trung Quốc và Bhutan, phá bỏ những lô cốt mà quân đội hoàng gia Bhutan đã xây dựng cách đây nhiều năm để phục vụ cho các chuyến tuần tra biên giới Cho rằng Trung Quốc đã vi phạm thỏa thuận không thay đổi nguyên trạng được hai nước ký năm
1998, lính Bhutan đã tranh cãi, thậm chí xô xát với lính Trung Quốc Tuy nhiên, lính Trung Quốc không chịu rút đi, buộc Bhutan phải nhờ Ấn Độ giúp đỡ Hai
14 Bronson Percival (2007), The Dragon Looks South China and Southeast Asia in the New Centery, Greenwood Publishing Group, United State, p.40
15
Nhiều tác giả (2015), Trung Quốc nhìn từ nhiều phía, NXB Tri Thức, Hà Nội, tr 365
16 Nhiều tác giả (2015), Trung Quốc nhìn từ nhiều phía, NXB Tri Thức, Hà Nội, tr 360
Trang 31ngày sau, khoảng 300-400 lính Ấn Độ tiến vào Doklam, ngăn chặn đơn vị công binh Trung Quốc, khởi đầu cho cuộc khủng hoảng kéo dài hơn 2 tháng
Bên cạnh các khu vực trên, Châu Phi và Mỹ La Tinh cũng đang là những đối tượng mà Trung Quốc nhắm đến với số lượng lớn người Trung Quốc xuất khẩu lao động sang các nước này Cụ thể, tại Sudan, số lượng người Trung Quốc đang là 24.000 người năm 2004, 50.000 người ở Nigeria năm 2001, 300.000 người ở Nam Phi17 Con số này cũng tăng vọt tại các nước Nam Mỹ: 60.000 người ở Peru, 50.000 người ở Venezuala, 100.000 người ở Brazil, 30.000 người
ở Mexico, 7.000 người ở Colombia18
Con đường tơ lụa năng lượng (hình 1), nếu như Trung Quốc mở rộng
lãnh thổ với vùng Viễn Đông Nga và Mông Cổ chủ yếu thông qua việc sử dụng người Trung Quốc để lấn át, tạo vị thế tại những khu vực trên thì cách thức mở rộng lãnh thổ gián tiếp mà Trung Quốc áp dụng với Trung Á là mở rộng lãnh thổ trên cơ sở kiểm soát kinh tế thực địa, đó là các cơ sở dầu khí hay đường ống dẫn khí nối Trung Á với Trung Quốc Sau sự kiện ngày 11-9-2001, tầm quan trọng của Trung Á đã tăng đáng kể do cuộc cạnh tranh công khai hơn giữa các nước lớn tranh giành ảnh hưởng ở khu vực này Hơn nữa, để đáp ứng nhu cầu đang gia tăng về các nguyên liệu thô, Bắc Kinh đã coi là một lợi ích quốc gia quan trọng việc đảm bảo quyền tiếp cận với các nguyên liệu thô của Trung Á, đặc biệt là dầu lửa và khí đốt, và có thể sử dụng các khả năng quá cảnh qua khu vực này Trong số các nước Trung Á thì hợp tác giữa Trung Quốc và Kazakhstan chủ yếu vào lĩnh vực đường ống dẫn khí, trong khi hợp tác với Turkmenistan lại chủ yếu là khai thác và đường dẫn khí Đường ống dẫn dầu Kazakh dài 2.200 km chạy từ bờ biển Caspian của Kazakhstan tới Alashankou của khu tự trị Tân Cương Trung Quốc, có thể cung cấp dầu trực tiếp cho Trung Quốc với công suất thiết kế từ 800.000 đến 1 triệu thùng/ngày Sau nhiều lần
17 Joshua Kurtlantzick, Charm Offensive (2017), How China’s Soft Power is transforming the World, Yale
University Press, United State, p.104
18
Center for Strategic and International Studies (2009), Chinese Soft Power and It’s Implications for the United
State, Washington DC, p.47
Trang 32đình lại, tháng 9/2004 đường ống này đã được khởi công Cuối tháng 5/2006, Trung Quốc đã nhận được dầu lần đầu tiên qua đường ống dẫn Atasu-Alashankou Do sự nổi lên của các mối đe dọa mới bên trong và bên ngoài ở Âu-Á, một số nhà nghiên cứu Trung Quốc có xu hướng tin rằng sự hiện diện của Bắc Kinh ở lục địa này sẽ không chỉ duy nhất vì mục đích kinh tế, hoặc sẽ có những “can thiệp mang tính xây dựng” Mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc với Trung Á gần như không tập trung vào chiếm giữ đất đai mà đây là dạng mở rộng lãnh thổ tập trung vào chiếm giữ những lợi ích tài nguyên bao gồm các mỏ tài nguyên, các đường ống dẫn dầu khí
1.3.2 Mở rộng lãnh thổ trên biển
Báo cáo của Đại hội Đại biểu Toàn quốc Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 18 (năm 2012) nêu rõ: “Nâng cao khả năng khai thác tài nguyên biển, phát triển kinh tế biển, bảo vệ môi trường sinh thái biển, kiên quyết bảo vệ quyền lợi biển quốc gia, xây dựng cường quốc biển” Đây là lần đầu tiên Trung Quốc đưa việc “xây dựng cường quốc biển” vào văn kiện Đại hội Đảng, cho thấy sự coi trọng và ý chí trỗi dậy hướng biển cao độ của tập thể lãnh đạo Trung Quốc đối với vấn đề biển Trung Quốc vốn dĩ chưa phải là một cường quốc biển, mà để trở thành một Cường quốc biển, Trung Quốc sẽ phải tiến hành những động thái
mở rộng lãnh thổ để mở rộng phạm vi chủ quyền biển đảo của mình Bốn phương thức sau đây thể hiện rõ nét ý chí và hành động mở rộng lãnh thổ trên biển của Trung Quốc:
Thứ nhất, Trung Quốc ngang nhiên tuyên bố chủ quyền, tiến hành mở rộng lãnh thổ với một loạt các vùng thuộc lãnh thổ của các quốc gia khác
Tại biển Hoa Đông, ai mới là chủ sở hữu thực sự của quần đảo Senkaku Nếu xét theo nguyên tắc sở hữu theo pháp luật, câu trả lời sẽ rất đơn giản: Nhật Bản Quốc gia này tuyên bố đã “phát hiện” ra quần đảo này, tức vùng đất vô chủ – vào năm 1884 Đầu năm 1895, Nhật Bản sát nhập chúng vào lãnh thổ của mình ngay sau khi đánh bại một Trung Quốc suy yếu trong một cuộc chiến ngắn
Trang 33ngủi và chiếm đóng Đài Loan, hòn đảo nằm ngay phía Nam Nhật Bản, làm chiến lợi phẩm Sau thất bại của Nhật Bản vào năm 1945, quyền kiểm soát quần đảo rơi vào tay người Mỹ, và quốc gia này sử dụng quần đảo nhằm thử nghiệm việc ném bom Năm 1972, vào giai đoạn cuối thời kỳ chiếm đóng của Mỹ, chính phủ Nhật Bản đã giành lại quyền kiểm soát đối với quần đảo Senkaku Tuy nhiên, cho đến lúc đó, trữ lượng dầu mỏ và khí đốt đã được xác định nằm dưới đáy biển xung quanh quần đảo Trung Quốc, gọi đây là quần đảo Điếu Ngư, khẳng định yêu sách của mình, tương tự là Đài Loan, lãnh thổ nằm gần nhất với quần đảo này (và cũng bị Trung Quốc tuyên bố là lãnh thổ của mình) Yêu sách của Trung Quốc là khá mơ hồ, và được dựa trên những bằng chứng như một bản
đồ Trung Quốc từ năm 1403 ghi lại sự tồn tại của quần đảo này Tất cả đều nói
về một thế giới trước đó khi Trung Quốc nằm ở trung tâm của một hệ thống các nước chư hầu tại khu vực Đông Á – một trật tự đã bị phá vỡ bởi sự nổi lên của chế độ quân phiệt Nhật Bản từ cuối thế kỷ thứ 19 Tuyên bố của Trung Quốc vào ngày 23/11/2013 thành lập một “vùng nhận dạng phòng không” trên biển Hoa Đông, trong đó bao trùm quần đảo Senkaku, là một bằng chứng nữa cho thấy nỗ lực của quốc gia này nhằm thay đổi nguyên trạng Đồng thời Trung Quốc tuyên bố Điếu Ngư là “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc (tháng 5 năm 2012)
Còn tại Biển Đông, Vào năm 2009, Trung Quốc tuyên bố “đường lưỡi bò” tại Biển Đông và coi Biển Đông là lợi ích cốt lõi Việc Trung Quốc tự cho rằng, Biển Đông là vùng nước chủ quyền của mình khi công bố bản đồ “đường chín đoạn” hay còn được gọi là “đường lưỡi bò”, đã gây tranh cãi trong dư luận quốc tế và bị các nước Đông Nam Á có chủ quyền tại vùng nước này phản đối cực lực Các quốc gia Đông Nam Á có tranh chấp chủ quyền theo tuyên bố
“đường lưỡi bò” là: Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia, Brunei
Vành Khăn cách đảo Palawan của Phi-lip-pin 239 km (khoảng 135 hải lý), cách đảo Cam Ranh của Việt Nam là 715 km, và cách đảo Hải Nam của
Trang 34Trung Quốc là 1110 km Đảo Vành Khăn nằm gọn trong vùng đặc quyền kinh tế
200 hải lý và vùng thềm lục địa mà Philippines tuyên bố từ năm 1962 Trung Quốc cũng coi dải đá ngầm này nằm trong đường lưỡi bò mà Trung Quốc tuyên
bố chủ quyền Xung đột Trung – Phi liên quan đến dải đá ngầm Vành Khăn bắt đầu từ năm 1995 khi Philippines phát hiện Trung Quốc đang cho xây dựng một
từ thế kỷ 13, và họ còn đưa ra các bản đồ cổ làm bằng chứng Vụ đối đầu giữa tàu Trung Quốc và Philippines trên bãi cạn Scarborough diễn ra ngày 10/4/2012 khi tàu Hải giám Trung Quốc ra sức ngăn cản tàu Cảnh sát biển Philippines bắt tàu cá Trung Quốc hoạt động trái phép tại vùng biển Philippines tuyên bố chủ quyền và kiểm soát trên thực tế - đầm phá bãi cạn Scarborough Trước tháng 4 năm 2012, cả Trung Quốc lẫn Philippines đều không duy trì sự hiện diện thường trực ở bãi cạn Scarborough Ngư dân Philippines, Việt Nam và Trung Quốc đã từng tới đây khai thác hải sản Vào những thời điểm trong quá khứ, đặc biệt là cuối thập niên 1990 và đầu những năm 2000, hải quân Philippines từng bắt giữ những ngư dân Trung Quốc đi vào khu vực bãi cạn này Sau khi các tàu đánh cá rời bãi cạn, tàu của chính phủ hai bên vẫn duy trì nhằm bảo vệ tuyên bố chủ quyền với Scarborough Tới cuối tháng 5 năm 2012, Trung Quốc triển khai thêm
7 tàu hải giám và các tàu của Ủy ban nghề cá Nhiều tàu chính phủ và tàu cá của Trung Quốc vẫn hoạt động quanh bãi cạn, nơi Bắc Kinh và Manila có tranh chấp
Trang 35chủ quyền căng thẳng suốt hơn hai tháng các tàu của chính phủ nước này vẫn sẽ làm nhiệm vụ bảo vệ quanh bãi cạn tranh chấp trên cơ sở nhu cầu thi hành luật pháp, quản lý và duy trì tại đó Tuy nhiên, kể từ tháng 6/2012, Trung Quốc đã duy trì kiểm soát tại bãi cạn Scarborough và cho quân đồn trú lâu dài trên bãi này Trung Quốc đã kiểm soát thực sự bãi cạn này và những vùng biển xung quanh, bằng cách đó thay đổi hiện trạng trong tranh chấp quyền lợi, nước này đã kiểm soát chắc chắn trực tiếp đối với bãi cạn Scarborough
Liên quan đến vùng lãnh thổ thuộc chủ quyền của Malaysia, ngày 26/3/2013, Hải quân Trung Quốc phô trương thanh thế ngay tại một rạn san hô vùng cực Nam Biển Đông mà Malaysia tuyên bố chủ quyền Đó là bãi san hô James Shoal nằm cách mặt nước khoảng 22m, được Malaysia gọi là Beting Serupai, nhưng bị Trung Quốc tranh chấp dưới tên tiếng hoa là bãi Tăng Mẫu Lội ngược dòng lịch sử, vào tháng 5 năm 1983, một đội tàu Hải quân Trung Quốc ghé thăm bãi James Shoal nhằm khẳng định chủ quyền quốc gia của Trung Quốc Tháng 9 cùng năm Malaysia chính thức tuyên bố về quyết định chiếm bãi ngầm James Shoal và coi nơi này là vùng kinh tế biển của mình Trở lại với sự kiện tháng 3 năm 2013, một đội tàu gồm 4 tàu đổ bộ dẫn đầu của Trung Quốc đã tới bãi James Shoal với mục đích tham gia tập trận Bãi ngầm James chỉ cách Malaysia 80km, cách Brunei 200km, nhưng lại cách đất liền Trung Quốc tân 1,800km và nằm gần sát điểm cực nam đường 9 đoạn mà Trung Quốc đòi chủ quyền trên toàn bộ Biển Đông
Kể từ sau khi Trung Quốc xâm chiếm lãnh thổ phi pháp năm 1974 tại quần đảo Hoàng Sa và năm 1988 tại quần đảo Trường Sa thuộc vùng lãnh thổ của Việt Nam, Trung Quốc vẫn không ngừng gia tăng các hành động trái phép tại Biển Đông Tháng 6-1999, Trung Quốc đơn phương ra lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm trong phạm vi từ vĩ tuyến 12 độ Bắc trở lên trong thời gian 3 tháng
Bộ Ngoại giao Việt Nam đã giao thiệp với Đại sứ quán Trung Quốc, đề nghị Trung Quốc không có các hoạt động cản trở công việc làm ăn bình thường của
Trang 36ngư dân Việt Nam trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam Thế nhưng, các lực lượng ngư chính, hải giám của Trung Quốc bắt đầu gia tăng việc bắt bớ, tịch thu phương tiện, tàu thuyền và đối xử vô nhân đạo với hàng loạt ngư dân Việt Nam hành nghề trong khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam trong vùng biển này Ngày 26-6-
2009, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết, ngày 21-6-2009, Trung Quốc đã bắt 3 tàu cá của ngư dân tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam khi đang hành nghề đánh cá bình thường trong khu vực vùng biển thuộc quần đảo Hoàng
Sa của Việt Nam Hành động này của Trung Quốc đã vi phạm chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông
Việc gây hấn của Trung Quốc trong vùng biển Việt Nam bắt đầu gia tăng khi xảy ra sự kiện vào ngày 26-5-2011, ba tàu hải giám của Trung Quốc đã cắt đứt cáp thăm dò dầu khí của tàu Bình Minh 02 trong vùng biển chủ quyền của Việt Nam, cách bờ biển Việt Nam chỉ 116 hải lý Ngày 27-5-2011, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã trao công hàm cho Trung Quốc yêu cầu chấm dứt ngay, không
để tái diễn những hành động vi phạm chủ quyền của Việt Nam đồng thời bồi thường thiệt hại cho Việt Nam Tối 28-5-2011, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Khương Du ngang nhiên cho rằng vùng biển chủ quyền Việt Nam
mà tàu Bình Minh 02 đang thả cáp thăm dò dầu khí là vùng biển thuộc "chủ quyền Trung Quốc” Ngày 31-5-2011, tàu Viking 2 đang thăm dò dầu khí trong vùng biển chủ quyền của Việt Nam lại bị tàu Trung Quốc phá rối Chiều cùng ngày, một ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc bắt giữ và tịch thu tài sản trên vùng biển Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa
Cao điểm của việc xâm nhập trái phép chủ quyền lãnh thổ là vào ngày Ngày 2/5/2014, Trung Quốc ngang nhiên kéo giàn khoan Hải Dương 981 tới vị trí cách đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam 17 hải lý về phía nam, cách đảo Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam) khoảng 120 hải lý về phía đông Đây là vị trí nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của
Trang 37Việt Nam theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển Giàn khoan dầu Hải Dương 981 là giàn khoan biển sâu di động cỡ lớn đầu tiên do Trung Quốc sản xuất và do Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) sở hữu Hải Dương 981 dài 114 m, rộng 90 m, cao 137,8 m và nặng 31.000 tấn; diện tích boong của giàn khoan có kích thước bằng một sân bóng đá chuẩn Giàn khoan này có khả năng khoan sâu tối đa 12.000 m Trung Quốc đã đầu tư 6 tỉ nhân dân
tệ (952 triệu USD) để chế tạo Hải Dương 981 trong suốt 3 năm trời ròng rã Vùng biển mà Trung Quốc đặt giàn khoan sâu khoảng 1.000 m, trong đó nơi Trung Quốc hạ đặt Hải Dương 981 sâu khoảng 1.100 m Vì vậy, Trung Quốc phải dùng giàn khoan đặc biệt, dạng nửa chìm nửa nổi Để bảo vệ giàn khoan tỉ
đô này, Trung Quốc huy động tới 80 tàu thuyền các loại, trong đó có 7 tàu quân
sự như tàu hộ vệ tên lửa 534, tàu tuần tiễu tên lửa tấn công nhanh 753, 33 tàu hải cảnh, cùng nhiều tàu vận tải, tàu cá Ngoài ra, hàng ngày còn có hàng chục tốp máy bay hoạt động trên khu vực Có những thời điểm, số lượng tàu hộ tống của Trung Quốc lên tới hơn 100 chiếc, trong đó các tàu chiến thường xuyên lởn vởn xung quanh giàn khoan Việt Nam tổ chức họp báo, trong đó người phát ngôn
Bộ Ngoại giao khẳng định mọi hoạt động của nước ngoài trên các vùng biển của Việt Nam khi chưa được phép của Việt Nam đều là bất hợp pháp và vô giá trị Đáp lại, tàu Trung Quốc liên tục có những hành vi gây hấn, khiêu khích như mở bạt che pháo để uy hiếp, sử dụng vòi rồng tấn công tàu của Việt Nam, sẵn sàng đâm húc gây hư hỏng cho tàu Việt Nam và làm bị thương một số kiểm ngư viên Việt Nam đã tích cực tuyên truyền, giải thích rõ lập trường của mình cũng như cập nhật tình hình trên biển cho bạn bè quốc tế, để dư luận các nước hiểu rõ sự hung hăng, ngang ngược của Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam Cộng đồng quốc tế đã có những phản ứng uyết liệt trước cách hành xử hung hăng, ngang ngược của Trung Quốc trên Biển Đông Một loạt các quốc gia như Mỹ, Nhật Bản, Philippines, Indonesia, Ấn Độ đã lên án các hành động bất chấp luật pháp quốc tế, gây mất ổn định và làm gia tăng căng thẳng trong khu vực của Bắc Kinh Trước những sức ép ngày càng lớn đến từ dư luận trong nước
Trang 38và quốc tế, Trung Quốc không còn con đường nào khác ngoài việc rút giàn khoan phi pháp ra khỏi vùng biển Việt Nam Ngày 16/7/2014, họ đã quyết định rút Hải Dương 981 ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam sớm hơn 1 tháng so với kế hoạch và được “che đậy” bằng lý do “đã hoàn thành nhiệm vụ”
Thứ hai, xây dựng cơ sở vật chất, bồi đắp và tiến hành xây dựng căn cứ quân sự tại các vùng lãnh thổ của quốc gia khác
Trung Quốc đã củng cố sự hiện diện quân sự của mình tại Biển Đông thông qua việc xây dựng trên các thực thể mà nước này chiếm đóng được Trung Quốc đã chiếm đóng đá Vành Khăn vào năm 1995 và xây dựng những công trình đầu tiên tại Biển Đông Những công trình này được mở rộng vào tháng 10 năm 1998 với việc tăng cường ba công trình bát giác bằng gỗ và hai tháp hai tầng Cùng với đó là việc nâng cấp cơ sở hạ tầng trên đá Vành Khăn với hai bến tàu mới, một đường bang dành cho máy bay trực thăng, một ra-đa hàng hải, một
số sung chống máy bay và hệ thống tên lửa hành trình đối hạm
Đá Chữ Thập là một rạn san hô thuộc cụm Nam Yết của quần đảo Trường
Sa thuộc chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam mà Trung Quốc chiếm được từ năm
1988 Tại đây, Trung Quốc đã cho xây dựng một công trình bê tông có chiều dài
60 mét Ở đó có hệ thống ăng ten ra đa tần Yagi tần số cao, hai mái che tích hợp
hệ thống đối phó điện tử và một số ăng ten liên lạc cáp kéo và ăng ten cột Hệ thống ăng ten này hỗ trợ nhiều nhu cầu khác nhau như giám sát tín hiệu radio và liên lạc tầm xa Cơ sở trên đá chữ thập còn bao gồm các đĩa liên lạc vệ tinh và khí tượng thủy văn Ngày 26 tháng 5 năm 2010, Trung Quốc phủ sóng mạng điện thoại trên đá này Từ năm 2014, Trung Quốc bắt đầu cải tạo mở rộng Đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef) thành đảo nhân tạo lớn nhất quần đảo Trường Sa
có diện tích 2,74 km2 (tính đến tháng 7/2015) với tổng kinh phí hơn 73 tỉ nhân dân tệ (11,5 tỉ USD)19
Trung Quốc xây dựng trên Đá Chữ Thập 9 cầu tàu, 2 bãi
19 H Bình, “Trung Quốc chi 11,5 tỉ USD mở rộng trái phép Đá Chữ Thập?”, nld.com.vn,
<http://nld.com.vn/thoi-su-quoc-te/trung-quoc-chi-115-ti-usd-mo-rong-trai-phep-da-chu-thap-20150415205000411.htm>, [1/8/2017]
Trang 39đáp trực thăng, 10 ăng ten liên lạc qua vệ tinh và một trạm radar Đặc biệt là việc xây dựng một đường băng dài 3.125m và rộng 60m, là đường băng duy nhất đủ lớn cho máy bay ném bom chiến lược tại Trường Sa, cho phép quân đội Trung Quốc bao quát không phận rộng lớn từ Tây Thái Bình Dương gồm cả Guam (nơi có các căn cứ Mỹ) đến Ấn Độ Dương Cơ sở hạ tầng Trung Quốc xây dựng trên đá Gạc Ma- vốn là vùng lãnh thổ của Việt Nam bị Trung Quốc xâm chiếm trong trận Hải chiến năm 1988 bao gồm bốn tòa nhà tạm hình bát giác và nhiều hệ thống ăng ten
Ngày 14-4-2015, hình ảnh vệ tinh do công ty DigitalGlobe công bố cho thấy Trung Quốc đang mở rộng trái phép hai đảo Phú Lâm và Quang Hòa thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam mà nước này chiếm giữ Những đường băng
cũ trên đảo Phú Lâm đã được thay bằng một đường băng mới dài và hiện đại hơn Trong khi đó, trên đảo Quang Hòa có một doanh trại quân đội, đê chắn biển
và các công trình khác Trên đảo Duy Mộng, bị Trung Quốc chiếm gần đó, các tòa nhà mới cũng xuất hiện Tại quần đảo Trường Sa, Bắc Kinh cũng đang đẩy nhanh hoạt động cải tạo đất trên 7 bãi đá Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Doanh hôm 9/4/2015 tuyên bố rằng Bắc Kinh sẽ sử dụng các đảo nhân tạo mà nước này đang xây dựng trái phép trên Biển Đông để “phòng
vệ quân sự và cung cấp dịch vụ dân sự có lợi cho các nước xung quanh” Những hành động này đã tăng cường sự hiện diện của quân đội Trung Quốc tại khu vực Biển Đông và phản ánh những nỗ lực mở rộng mới nhất của Trung Quốc
Nói tóm lại, trong quá trình mở rộng lãnh thổ của minh, các cơ sở hạ tầng
mà Trung Quốc xây dựng đều là trái phép trên các lãnh thổ chiếm đóng phi pháp Đối với Trung Quốc, các cơ sở hạ tầng trái phép này sẽ tăng cường khả năng thực hiện yêu sách chủ quyền đối với khu vực cho lực lượng Hải quân
“Mặc dù nhỏ về quy mô, nếu cần thiết, các cơ sở này có thể hỗ trợ Trung Quốc
Trang 40trong việc mở rộng ra ngoài khu vực trong tương lai, và có thể hỗ trợ ch một cuộc xung đột hải quân hạn chế trong khu vực tranh chấp này”20
Tại Biển Đông, Trung Quốc ra sức khai thác các nguồn thủy hải sản tại những vùng biển mà Trung Quốc tự cho là đang trong tình trạng tranh chấp, những tàu cá bán vũ trang của Trung Quốc có mặt tại hầu khắp các vùng biển Đông Á tới Biển Đông, việc này làm gia tăng căng thẳng trong quan hệ của Trung Quốc với các nước có vùng biển bị ngư dân Trung Quốc xâm phạm Trung Quốc liên tục bắt giữa các tàu cá và ngư dân của các nước khác, đặc biệt
là Việt Nam và Phi-lip-pin, khi các tàu này đang đánh bắt tại hải phận của nước mình Nhiều lần ngư dân Việt nam đang đánh bắt cá tại hai quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa của Việt Nam đã bị phía Trung Quốc bắt giữ Tháng 3 năm 2011, các tàu tuần tiễu của Trung Quốc đã gây cản trở một chiếc tàu khảo sát địa chấn của Phi-lip-pin trên Biển Đông tại khu vực Reed Bank (bãi Cỏ Rong) do Phi-lip-pin tuyên bố chủ quyền Ngày 26-5-2011 và ngày 9-6-2011 tàu Trung Quốc đã lần lượt cắt cáp của hai tàu Bình Minh 02 và tàu Viking II, đều thuộc công ty thăm dò dầu khí Việt Nam trong khi các tàu này đang hoạt động bình thường trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam Tháng 6-2012, Trung Quốc còn thực hiện mời thầu nước ngoài khai thác 9 lô dầu khí nằm trong vùng biển Việt
20
Đặng Đình Quý, Nguyễn Minh Ngọc (2013), Biển Đông địa chính trị, lợi ích, chính sách và hành động của
các bên liên quan, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội, tr.147