1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tư tưởng hồ chí minh về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc và vận dụng trong giải quyết vấn đề dân tộc ở tỉnh thái nguyên hiện nay

194 170 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 194
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những thành tựu mà Đảng Cộng sản, nhân dân Việt Nam đạt được trong 87 năm qua là kết quả của quá trình xây dựng, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết, của việc giải quyết tốt vấn đề dân

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

–––––––––––––––––––––––––––––––

VŨ THỊ THỦY

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT, BÌNH ĐẲNG, TƯƠNG TRỢ GIỮA CÁC DÂN TỘC VÀ VẬN DỤNG

TRONG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC

Ở TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

–––––––––––––––––––––––––––––––

VŨ THỊ THỦY

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT, BÌNH ĐẲNG, TƯƠNG TRỢ GIỮA CÁC DÂN TỘC VÀ VẬN DỤNG

TRONG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC

Ở TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY

XÁC NHẬN NCS ĐÃ CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ

CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN TIẾN SĨ CẤP ĐHQG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Tất cả các tài liệu tham khảo, các tư liệu, số liệu thống kê sử dụng trong Luận án là trung thực, có nguồn gốc xuất

xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 2017

Nghiên cứu sinh

Vũ Thị Thuỷ

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 7

1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 71.2 Đánh giá khái quát tình hình nghiên cứu và những vấn đề luận án đi sâu nghiên cứu 25

Chương 2: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT, BÌNH ĐẲNG, TƯƠNG TRỢ GIỮA CÁC DÂN TỘC: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 28

2.1 Một số khái niệm cơ bản 282.2 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc 352.3 Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc 61

Chương 3: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC Ở TỈNH THÁI NGUYÊN TỪ NĂM 1997 ĐẾN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 74

3.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội, dân cư và dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay 743.2 Thực trạng giải quyết vấn đề dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến nay 783.3 Những vấn đề đặt ra trong giải quyết vấn đề dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay - Tiếp cận từ tư tưởng Hồ Chí Minh 111

Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢI QUYẾT VẤN

ĐỀ DÂN TỘC Ở TỈNH THÁI NGUYÊN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ ĐOÀN KẾT, BÌNH ĐẲNG, TƯƠNG TRỢ 126

4.1 Phương hướng giải quyết vấn đề dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên theo tư tưởng Hồ Chí Minh 1264.2 Những giải pháp chủ yếu trong giải quyết vấn đề dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh 133

KẾT LUẬN 166 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 169 TÀI LIỆU THAM KHẢO 170 PHỤ LỤC 180

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 3.1: Đánh giá của đồng bào các dân tộc tỉnh Thái Nguyên về mối quan hệ

đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc 111Bảng 3.2: Mức độ nhận thức của về chính sách đoàn kết, bình đẳng, tương trợ của

đồng bào dân tộc thiểu số 112

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam nằm ở vị trí địa - chính trị rất quan trọng, là nơi chịu nhiều thử thách

to lớn, phải liên tục đấu tranh chống các thế lực ngoại xâm hùng mạnh và thiên tai nghiệt ngã để trường tồn và phát triển Do vậy, quá trình hình thành, phát triển quốc gia dân tộc Việt Nam luôn gắn liền yêu cầu tập hợp toàn thể cư dân trong sự nghiệp dựng nước và bảo vệ Tổ quốc, tạo nên một cộng đồng chính trị - xã hội gắn bó keo sơn vừa thống nhất, vừa đa dạng về văn hóa tộc người Trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam luôn thể hiện rõ là

bộ phận cư dân quan trọng, đoàn kết chặt chẽ, yêu nước nồng nàn, bất khuất chống giặc ngoại xâm, cống hiến vẻ vang cho đất nước

Tiếp thu sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, thấu hiểu lịch sử dân tộc Việt Nam, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam đã sớm nhận thức được vị trí, vai trò to lớn của đồng bào các dân tộc trong sự nghiệp cách mạng Theo Người, “cách mệnh đã do Việt Bắc mà thành công, thì kháng chiến sẽ

do Việt Bắc mà thắng lợi” [64, tr.239]; đoàn kết, bình đẳng, tương trợ lẫn nhau giữa

các dân tộc có mối quan hệ thống nhất hữu cơ không thể tách rời, bình đẳng, tôn trọng nhau là cơ sở của đoàn kết giữa các tộc người, đồng thời muốn đạt được sự bình đẳng giữa các dân tộc thì không có con đường nào khác là các tộc người phải đoàn kết, gắn bó, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau Việc thực hiện đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc sẽ tạo nên nguồn nội lực có ý nghĩa quyết định đảm bảo cho thành công của toàn bộ sự nghiệp đấu tranh vì nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh Vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc đã và đang là cơ sở lý luận chỉ đạo việc giải quyết vấn đề dân tộc của Đảng, Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng Những thành tựu mà Đảng Cộng sản, nhân dân Việt Nam đạt được trong 87 năm qua là kết quả của quá trình xây dựng, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết, của việc giải quyết tốt vấn đề dân tộc; thực hiện đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Bước sang thế kỷ XXI, tình hình thế giới diễn biến rất phức tạp, tác động không nhỏ đến vấn đề dân tộc trên bình diện quốc tế cũng như trong từng quốc

Trang 7

gia Cùng với xu hướng chủ đạo là các quốc gia, các dân tộc cùng hợp tác, cạnh tranh trong phát triển và hội nhập, còn có một thực tế trái ngược đang diễn ra, ảnh hưởng tiêu cực đến sự ổn định và phát triển bền vững của thế giới, cũng như của từng quốc gia, trong đó có Việt Nam Thực tế cho thấy, chỉ tính sau chiến tranh lạnh kết thúc đến nay, ở nhiều quốc gia, khu vực và vùng lãnh thổ, những cuộc xung đột “huynh đệ tương tàn” đã cướp đi nhiều triệu sinh mạng và để lại trong mối quan hệ giữa các dân tộc những vết thương khó hàn gắn Hòa bình, tự do, tiến

bộ của từng dân tộc và quốc gia cũng như cả nhân loại một lần nữa lại tùy thuộc vào kết quả của việc giải quyết vấn đề dân tộc

Ở Việt Nam, cùng với việc phát huy truyền thống tốt đẹp và những thành tựu đã đạt được trong việc giải quyết vấn đề dân tộc, cùng với quyết tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân các dân tộc, đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc đã từng bước được củng cố, tăng cường, góp phần tạo nên sức mạnh to lớn trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, trong mối quan hệ giữa các dân tộc cũng đã nảy sinh không ít vấn đề mới thách thức nghiêm trọng khối đại đoàn kết dân tộc, đòi hỏi phải nhận diện kịp thời, đầy đủ

và giải quyết một cách thấu đáo

Thái Nguyên là một tỉnh có 8 dân tộc cư trú xen kẽ: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu, Sán Chay, Mông, Hoa Trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm, các dân tộc thiểu số đã gắn bó, đoàn kết cùng dân tộc Kinh, tạo

thành một khối cộng cư, cộng lợi, cộng cảm và cộng mệnh, góp phần hình thành

quốc gia - dân tộc Việt Nam thống nhất trong đa dạng về văn hoá tộc người Đặc điểm kết cấu dân cư nêu trên cho thấy, việc giải quyết vấn đề dân tộc có một vị trí đặc biệt quan trọng trong thực tiễn lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên qua các thời kỳ lịch sử Giải quyết tốt vấn đề dân tộc mới củng cố được khối đại đoàn kết toàn dân, giữ vững ổn định chính trị, phát huy sức mạnh nhân dân trong xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc Hơn nữa, do có tầm quan trọng đặc biệt về phương diện địa - chính trị đối với toàn vùng Đông Bắc và Thủ đô Hà Nội, nên giải quyết vấn đề dân

tộc của Thái Nguyên không chỉ có ý nghĩa tự thân, mà còn ảnh hưởng đến cục diện

phát triển chung của đất nước

Trang 8

Ý́ thức được điều đó, trong suốt tiến trình cách mạng, đặc biệt từ khi tái lập tỉnh (1997) đến nay, Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên rất coi trọng việc giải quyết vấn đề dân tộc thông qua việc thực hiện các chính sách dân tộc, như gắn với xoá đói giảm nghèo, định canh định cư, chăm lo đời sống của nhân dân, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc, củng cố hệ thống chính trị cấp cơ sở, v.v Do vậy, đời sống nhân dân và bộ mặt nông thôn miền núi của tỉnh ngày càng đổi mới, quyền bình đẳng giữa các dân tộc cũng được thể chế hóa đầy đủ và thực hiện trên thực tế, các dân tộc đoàn kết chặt chẽ, tương trợ nhau cùng phát triển Tuy nhiên, việc giải quyết vấn đề dân tộc có chỗ chưa thật sự tương xứng với tiềm năng và cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của nhân dân, đặc biệt là các dân tộc thiểu số Đó là, khoảng cách giàu - nghèo, chênh lệch phát triển giữa các vùng, miền, các nhóm dân tộc ngày càng lớn; tỷ lệ nghèo ở các vùng dân tộc và miền núi còn cao; chất lượng các công trình kết cấu hạ tầng, như giao thông, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa vẫn tồn tại một số bất cập; bản sắc văn hoá các dân tộc đứng trước nguy cơ bị phai nhạt do tác động sâu sắc của toàn cầu hóa, hội nhập và tác động tiêu cực từ mặt trái của kinh tế thị trường; đội ngũ cán bộ dân tộc vừa yếu về năng lực vừa bất hợp lý về cơ cấu; môi trường sinh thái bị đe dọa nghiêm trọng; tín ngưỡng - tôn giáo diễn biến phức tạp, v.v Những vấn đề đó ảnh

hưởng trực tiếp đến an ninh và an sinh của đồng bào các dân tộc Thực tế đó đòi hỏi

vấn đề dân tộc của tỉnh Thái Nguyên cần được nhìn nhận khách quan, toàn diện

không chỉ từ góc độ của các nhà tổ chức thực tiễn, mà còn từ lăng kính của người nghiên cứu và quan điểm đánh giá của các chủ thể văn hóa, từ đó cung cấp cơ sở

khoa học phục vụ quá trình hoạch định và nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh Thực tiễn đó đang hối thúc mạnh mẽ việc nhận thức và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh Trong bối cảnh chưa có công trình nghiên

cứu nào trực tiếp đề cập đến vấn đề này, tôi chọn vấn đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh

về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc và vận dụng trong giải quyết vấn đề dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc và vận dụng tư tưởng đó để nhận diện và đề

Trang 9

ra phương hướng, giải pháp giải quyết vấn đề dân tộc đang đặt ra trên địa bàn tỉnh

Thái Nguyên hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận án tập trung giải quyết những nhiệm

vụ sau đây:

- Đi sâu luận giải nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết,

bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc; làm rõ giá trị lý luận và thực tiễn của tư

tưởng đó

- Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để phân tích thực trạng giải quyết vấn đề

dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên, xác định những vấn đề dân tộc đang đặt ra, cần tiếp tục

giải quyết

- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm giải quyết vấn đề dân tộc đang đặt

ra ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, bình đẳng,

tương trợ giữa các dân tộc

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc và vận

dụng trong giải quyết vấn đề dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn

kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc theo nghĩa tộc người

- Nghiên cứu thực trạng giải quyết vấn đề dân tộc trong phạm vi không

gian là địa bàn tỉnh Thái Nguyên và phạm vi thời gian là từ năm 1997 (thời

điểm tái lập tỉnh Thái Nguyên) đến nay, trong đó chú trọng tập trung vào thời

điểm hiện tại khi nghiên cứu sinh tiến hành điều tra xã hội học

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn

- Cơ sở lý luận: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của

Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam

- Cơ sở thực tiễn: Thực tiễn giải quyết vấn đề dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên đã

được Đảng bộ tỉnh Bắc Thái (cũ) và Thái Nguyên tổng kết và qua kết quả điều tra xã

Trang 10

hội học do tác giả thực hiện; ngoài ra, luận án còn được thực hiện trên cơ sở phân tích

dự báo xu thế biến động của vấn đề dân tộc trên địa bàn Thái Nguyên

4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tác giả luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học xã hội và nhân văn, trong

đó đặc biệt chú trọng sử dụng kết hợp phương pháp lịch sử với phương pháp lôgíc Phương pháp lịch sử nhằm trình bày, phân tích các vấn đề có liên quan đến sự lãnh đạo và thực hiện của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên trong quá trình lịch sử hiện thực Phương pháp lôgíc được sử dụng trong luận án nhằm khai thác, đánh giá những thành tựu, hạn chế và những vấn đề được đặt ra trong giải quyết vấn đề dân tộc và phân tích

dự báo xu thế ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay

Ngoài ra, tác giả luận án còn sử dụng một số phương pháp khác, như phương pháp tổng kết thực tiễn, phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, hệ thống - cấu trúc, phân tích văn bản, phân tích diễn ngôn, v.v Trong đó, để góp phần cung cấp luận cứ thực tiễn cho việc thực hiện luận án, tác giả đã sử dụng phương pháp điều tra xã hội học với 1 bộ phiếu hỏi dành cho các chủ thể có liên quan: chủ thể hoạch định chính sách, chủ thể thực hiện chính sách, đối tượng thụ hưởng chính sách, nhà khoa học (có mẫu phiếu, kết quả xử lý kết quả điều tra trong phần Phụ lục) Bộ phiếu hỏi được điều tra ở 9 huyện thị thành trong tỉnh Thái Nguyên (thành phố Thái Nguyên: 60 phiếu, thành phố Sông Công: 30 phiếu, thị xã Phổ Yên: 32 phiếu, huyện Phú Bình: 28 phiếu, Đồng hỷ: 33 phiếu, Võ Nhai: 30 phiếu, Đại Từ: 30 phiếu, Định Hóa: 30 phiếu, Phú Lương: 27 phiếu Tổng cộng = 300 phiếu) Mẫu phiếu được thiết kế theo 3 nội dung: Thông tin chung về người được hỏi; nhận thức của người được hỏi về chủ trương, chính sách đối với việc thực hiện đoàn kết, bình đẳng, tương trợ ở tỉnh Thái Nguyên; nhận thức về kết quả thực hiện chủ trương, chính sách đối với đồng bào các dân tộc Trong mẫu phiếu, đều có các loại câu hỏi lựa chọn, trả lời có trong số; câu hỏi mở; câu hỏi phân tích, với tỷ lệ thích hợp

5 Đóng góp mới của luận án

- Làm rõ hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh về đoàn kết, bình đẳng và tương trợ giữa các dân tộc; làm rõ giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng đó

Trang 11

- Đánh giá đúng thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và vấn đề đặt ra trong giải quyết vấn đề dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên từ 1997 đến nay

- Đề xuất được những phương hướng và giải pháp thiết thực, khả thi nhằm giải quyết có hiệu quả vấn đề dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, bình đẳng và tương trợ

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Góp phần làm rõ nội dung, khẳng định giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc

- Bước đầu cung cấp một số cơ sở lý luận và thực tiễn cho Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên trong vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc để giải quyết vấn đề dân tộc đang đặt ra ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay

- Có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy chuyên ngành Hồ Chí Minh học, các môn khoa học xã hội và nhân văn có liên quan đến vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4 chương, 10 tiết

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc và vận dụng trong giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam nói chung và ở một địa phương cụ thể nói riêng là một chủ đề khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Vì thế, vấn đề này được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Tình hình

nghiên cứu vấn đề này được thể hiện trên những phương diện sau:

1.1.1 Tình hình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc; về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc

Chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống di sản tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề dân tộc, đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc Vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc; đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân

tộc đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu

Nguyễn Dương Bình (chủ biên): “Chủ ti ̣ch Hồ Chí Minh và vấn đề dân tộc”, Nxb

Khoa học Xã hô ̣i, 1990 Công trình đã có những luận giải xác đáng về những quan điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách dân tộc với tư tưởng chủ đạo và xuyên suốt được Hồ Chí Minh nhất quán: Đoàn kết, bình đẳng và tương trợ lẫn nhau; vấn đề xây dựng, phát triển kinh tế - văn hóa miền núi và việc đạo tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ người dân tộc: Tư tưởng bao trùm của Người là nhanh chóng đưa miền núi thoát khỏi cảnh nghèo nàn lạc hậu, làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi Với hướng nghiên cứu này, công trình đã làm rõ được những đóng góp quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với vấn đề dân tộc trong việc đề ra đường lối, chính sách dân tộc trong điều kiện một nước thuộc địa, nửa phong kiến, một nước nông nghiệp lạc hậu kém phát triển, bao gồm nhiều dân tộc như nước Việt Nam Trong phần kết, công

trình khẳng định: “Đối với vấn đề dân tộc ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh là linh hồn

của tinh thần đoàn kết các dân tộc Bất cứ ở đâu và trong mọi thời kỳ, Người luôn kêu gọi sự đoàn kết giữa các dân tộc, giữa dân tộc đa số với dân tộc thiểu số, giữa các dân tộc thiểu số với nhau” [5, tr.330]

Đề tài khoa học cấp Nhà nước, mã số KX 02 - 07 (1991 - 1995): “Tư tưởng,

chiến lược đoàn kết Hồ Chí Minh” của tác giả Phùng Hữu Phú Đây là công trình

nghiên cứu công phu và có hệ thống về chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh, đề tài

Trang 13

đã chú trọng phân tích làm rõ một số những nội dung cơ bản như: Những cơ sở và quá trình hình thành tư tưởng, chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh; chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng Việt Nam; chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh những nội dung cơ bản; kế thừa, phát triển chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa Với những lập luận, kiến giải sắc bén trong công trình nghiên của mình, tác giả

đã cho chúng ta thấy được giá trị, cũng như sức sống kỳ diệu và vĩ đại của tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến lược đại đoàn kết đối với cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới Tác giả đã khẳng định: “Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh có một sức sống kỳ diệu Trung thành và kiên định đi theo ngọn cờ đại đoàn kết Hồ Chí Minh, kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo những nguyên tắc, phương pháp đại đoàn kết của Người là một trong những nhân tố vô cùng quan trọng giúp chúng ta vượt qua mọi nguy cơ, thử thách, xây dựng thành công một nước Việt Nam độc lập, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh tiến lên chủ nghĩa xã hội” [83, tr.142]

Hội thảo khoa học: “Bước đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc ở Việt Nam”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996 Cuốn sách tập hợp 40 bài

viết do Uỷ ban dân tộc và miền núi phối hợp với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức đầu năm 1995 Giá trị đặc biệt của cuốn sách đã phác họa sinh động, đúng đắn di sản lý luận và giá trị phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc ở Việt Nam Đây là nền tảng cơ sở quan trọng trong giải quyết vấn đề dân tộc; đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc trong quan hệ dân tộc ở Việt Nam dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh

Hoàng Trang - Phạm Ngọc Anh, trong cuốn: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập

dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996 Công

trình đã đề cập tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và bình đẳng dân tộc ở cấp độ quốc gia - dân tộc trong quan hệ quốc tế; khẳng định thực chất vấn đề dân tộc là giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách áp bức, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc thực dân, thực hiện độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; đồng thời, luận giải rõ việc giải quyết vấn đề dân tộc của Hồ Chí Minh và Đảng ta trong các giai đoạn cách mạng

Nguyễn Bích Hạnh - Nguyễn Văn Khoan: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn

kết và mặt trận đoàn kết dân tộc”, Nxb Lao động, 2001 Trong cuốn sách, hai tác giả đã

làm rõ toàn bộ hệ thống lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết; Hồ Chí Minh với mặt trận đoàn kết dân tộc; đấu tranh giai cấp với tư duy của Nguyễn Ái Quốc Từ

Trang 14

tầm vóc lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết, mặt trận đoàn kết dân tộc, đấu tranh giai cấp, hai tác giả đã cho thấy giá trị to lớn, dẫn đường cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong tư tưởng của Người Đúng như hai tác giả đã khẳng định:

“Bài học về đại đoàn kết, “đấu tranh giai cấp” này mãi mãi vẫn là một nhân tố quyết định đồng hành với thắng lợi của đất nước ta, trong thế kỷ mới” [44, tr.84]

Bài viết của tác giả của tác giả Trần Kim Bình “Quan điểm của Chủ tịch Hồ

Chí Minh về công bằng, bình đẳng xã hội trong quan hệ dân tộc ở Việt Nam” được

đề cập trong Kỷ yếu đề tài khoa học - Đề tài nhánh của đề tài khoa học cấp Nhà

nước: 2002 - 2005: “Công bằng và bình đẳng xã hội trong các quan hệ tộc người

và trong sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đa dân tộc”, Viện chủ nghĩa xã

hội khoa học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2004 do Nguyễn Quốc

Phẩm (chủ nhiệm): Ở bài viết của mình, tác giả lập luận hai vấn đề cơ bản: Thứ nhất là quan điểm của Hồ Chí Minh về công bằng, bình đẳng xã hội trong quan hệ dân tộc, đặc biệt tác giả đã đưa ra quan điểm của Hồ Chí Minh về công bằng giữa các dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc, không phân biệt đa số hay thiểu số và công bằng xã hội giữa miền núi và miền xuôi; thứ hai là những giải pháp bảo đảm thực hiện công bằng, bình đẳng xã hội giữa các dân tộc Trên nền tảng của lý luận, tác giả khẳng định: “vấn đề công bằng, bình đẳng, đoàn kết tương trợ trong quan hệ dân tộc có một vị trí vô cùng quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của đất nước” [81, tr.58]

Tác giả Lê Ngọc Thắng: “Hồ Chí Minh với vấn đề đoàn kết các dân tộc”, Nxb

Văn hoá dân tộc, 2005 Cuốn sách đã phân tích, luận chứng ba vấn đề lớn: Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết các dân tộc; nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh

về đoàn kết các dân tộc; vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết các dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Bằng những lập luận khoa học, tác giả

đã làm rõ được nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết các dân tộc, đặc biệt trong phần hai của cuốn sách, tác giả đã cho chúng ta thấy được một di sản vô cùng có giá trị đối với cách mạng Việt Nam, di sản đó đã “thể hiện một trái tim yêu nước nồng nàn, tầm nhân văn sâu sắc và cao cả, tinh thần dân tộc và quốc tế hòa quyện vào nhau mật thiết ; tất cả vì quyền sống, quyền bình đẳng của con người, quyền độc lập, tự do, phát triển, mưu cầu hạnh phúc của các dân tộc” [93, tr.189]

Tác giả Võ Thanh Thảo với bài: “Đại đoàn kết dân tộc, trong nhận thức của

Hồ Chí Minh”, Tạp chí Giáo dục lý luận số 2/2005 Bài viết đã làm rõ những nhận

thức của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, từ việc làm rõ vai trò, điều kiện, nền

Trang 15

tảng của khối đại đoàn kết dân tộc, bài viết cho thấy giá trị, tầm vóc của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, tác giả khẳng định: “Đại đoàn kết dân tộc không chỉ là sức mạnh tinh thần, mà nó còn là sức mạnh vật chất của dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước , việc khơi nguồn và phát triển đến đỉnh cao sức mạnh của tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh có ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết” [95, tr.21]

Cuốn sách: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc và sự vận dụng của

Đảng ta trong giai đoạn hiện nay” do Nguyễn Đức Ngọc (chủ biên), Nxb Quân đội

nhân dân, Hà Nội năm 2007 Công trình đã luận chứng hai nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc: Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc; Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc và sự vận dụng trong cách mạng Việt Nam Với một hệ thống tri thức mang tính cách mạng và khoa học, tập thể các tác giả đã khẳng định: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc là sự

kế thừa, phát triển những giá trị truyền thống dân tộc và thời đại; là sự sáng tạo những giá trị mới, làm phong phú kho tàng trí tuệ của dân tộc Việt Nam

Là một trong những người có nhiều năm nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề dân

tộc, tác giả Phan Hữu Dật trong bài: “Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo cán

bộ dân tộc thiểu số ở nước ta”, đăng trên trang website Thi đua khen thưởng, năm

2007 đã nhận định và làm rõ những quan điểm định hướng mang tầm chiến lược của

Hồ Chí Minh về đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số - một nhiệm vụ trọng yếu trong quan điểm về chính sách dân tộc; mục tiêu của công tác đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số; về chính sách cán bộ đối với cán bộ dân tộc thiểu số Từ những quan điểm nền tảng của

Hồ Chí Minh, tác giả cho rằng, điều quan trọng nhất là Đảng và Nhà nước cần vạch ra chiến lược về con người dân tộc thiểu số Chỉ sau khi vạch được chiến lược con người dân tộc thiểu số nước ta, thì mới có chỗ dựa vững chắc để xây dựng một đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số phù hợp với đặc điểm nước ta

Trong bài “Hồ Chí Minh với sự nghiệp phát triển kinh tế miền núi và vùng

đồng bào dân tộc thiểu số” của tác giả Nguyễn Huy Oánh, Tạp chí Lịch sử Đảng,

số 11/2007 Bài viết đã làm rõ được những kiến giải và sự quan tâm đặc biệt của vị lãnh tụ dân tộc Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp phát triển kinh tế miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, theo Người: Tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, làm cho đời sống của đồng bào địa phương ngày càng khá hơn cả về vật chất và tinh thần; phải phát triển một nền nông nghiệp toàn diện; ngoài ra phải chú ý đến phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp Từ những kiến giải, chỉ dẫn dễ

Trang 16

hiểu và mộc mạc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tác giả cho rằng, để phát triển kinh tế miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong tình hình hiện nay, cần chú ý những vấn đề cơ bản sau: “Các cấp, các ngành phải luôn quan tâm đến sự phát triển kinh tế miền núi, đến đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số, hướng dẫn đồng bào một cách tỉ

mỉ cách thức làm kinh tế, các khâu trồng trọt, chăn nuôi để từng bước phát triển kinh

tế hàng hóa với quy mô lớn hơn và hiệu quả kinh tế cao hơn” [78, tr.34]

Trên cơ sở luận giải tư tưởng độc lập tự do với chiến lược đại đoàn kết dân

tộc, tác giả Lê Mậu Hãn với bài “Tư tưởng độc lập tự do với chiến lược đại đoàn

kết dân tộc”, Tạp chí Lịch sử Đảng số 12/2009 đã khẳng định: “Hồ Chí Minh đã

vạch ra một hệ tư tưởng cách mạng Việt Nam tầm vóc một học thuyết giải phóng và phát triển dân tộc vì độc lập tự do Trên cơ sở học thuyết đó Người đã lãnh đạo Đảng vạch ra đường lối chính trị, tổ chức lực lượng của dân tộc theo chiến lược đại đoàn kết dân tộc, thực hiện phương thức khởi nghĩa sáng tạo, đã dẫn đến thắng lợi của cách mạng giải phóng, đánh đuổi Pháp - Nhật, giành quyền làm chủ đất nước,

và nguồn giá trị văn hóa hơn ngàn năm lịch sử” [43, tr.27]

Tác giả Văn Thị Thanh Mai với bài viết “Hồ Chí Minh với vấn đề đoàn kết đồng

bào các dân tộc thiểu số”, Tạp chí Tuyên giáo, số 5/2009 đã lý giải được tình cảm và

trách nhiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với đồng bào các dân tộc thiểu số và những vấn đề mang tính nguyên tắc, giải pháp mà Hồ Chí Minh yêu cầu phải thực hiện đối với đồng bào các dân tộc thiểu số Từ những lập luận đó, tác giả nhấn mạnh: “Trong tư tưởng Hồ Chí Minh đoàn kết đồng bào các dân tộc thiểu số nhằm “thực hiện sự bình đẳng giúp nhau giữa các dân tộc” và quyền bình đẳng đó được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục” [58, tr.39]

Năm 2012, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội đã xuất bản cuốn: “Hồ

Chí Minh về đại đoàn kết xây dựng mặt trận và các đoàn thể quần chúng” Cuốn sách

đã cung cấp một cách có hệ thống những thành tựu nghiên cứu lý luận và sự vận dụng của Đảng ta về đại đoàn kết, xây dựng Mặt trận và các đoàn thể quần chúng theo tư

tưởng Hồ Chí Minh Trong số các bài viết, tác giả Phạm Ngọc Anh với nội dung: “Tư

tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và mặt trận dân tộc thống nhất” từ việc

làm sáng tỏ những quan điểm của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận dân tộc thống nhất, tác giả kết luận: Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh sức sống kỳ diệu của tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh Ngoài ra, tác giả Bùi Đình Phong

với bài viết: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận vào việc thực hiện đại đoàn

kết toàn dân tộc trong giai đoạn cách mạng mới” từ những kiến giải về hệ thống lý

Trang 17

luận Dân vận trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tác giả đã tập trung làm rõ những yêu cầu cần thiết cần phải thấm nhuần và quán triệt tư tưởng dân vận Hồ Chí Minh thì càng có

cơ hội về thực hiện đại đoàn kết dân tộc trong tình hình mới

Trong bài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề các dân tộc bình đẳng, đoàn kết

giúp đỡ nhau” được đăng trên website của Tạp chí Tuyên giáo (18/3/2014), tác giả

Trịnh Xuân Thắng đã làm rõ hai vấn đề: Hồ Chí Minh với vấn đề bình đẳng giữa các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam; Hồ Chí Minh với vấn đề đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc Từ những vấn đề được đặt ra, tác giả khẳng định, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong chính sách dân tộc theo Hồ Chí Minh là thực hiện bình đẳng, đoàn kết tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc

Nghiên cứu về công tác dân tộc, tác giả Hoàng Xuân Lương trong bài “Suy

ngẫm tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân tộc” đăng trên trang website của Tạp

chí Dân tộc, năm 2015 đã khẳng định, công tác dân tộc của nước ta đạt nhiều thành tựu hết sức quan trọng Tuy nhiên, tác giả cũng mạnh dạn nhìn nhận và đặt ra câu hỏi, trong công tác dân tộc hiện nay: Khoảng cách đời sống, mức độ hưởng thụ các dịch vụ công của đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng doãng xa so với mặt bằng của cả nước?

Từ lập luận này, tác giả đã làm rõ những chỉ dẫn có tính cách mạng, khoa học của Hồ Chí Minh trong công tác dân tộc ở nước ta: Phấn đấu để miền núi tiến kịp miền xuôi; trong mối quan hệ giữa các dân tộc thì đặc biệt chú trọng mối quan hệ giữa dân tộc đa

số với các dân tộc thiểu số Từ những chỉ dẫn thiết thực của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tác giả đã ấp ủ nhiều suy tư và trăn trở về công tác dân tộc hiện nay: Đánh giá đúng vị trí, tiềm năng, lợi thế vùng dân tộc thiểu số để có một đường lối công tác dân tộc toàn diện trong văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng; luật hóa các quan điểm, chính sách dân tộc nhằm thể chế hóa các quan điểm, đường lối của Đảng, tạo ra bước đột phá trong phát triển của các dân tộc thiểu số Việt

Những công trình nghiên cứu nêu trên đã có nhiều đóng góp về mặt khoa học khi đưa ra quan niệm của Hồ Chí Minh về dân tộc, đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc, đặc biệt có những công trình đã bước đầu mang tính định hướng chỉ ra được mối quan hệ giữa đoàn kết, bình đẳng, tương trợ trong quan hệ dân tộc ở Việt Nam Đây là những đóng góp quan trọng cung cấp cơ sở lý luận, thực tiễn để tác giả luận chứng về vấn đề đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc trong

tư tưởng Hồ Chí Minh

Trang 18

1.1.2 Tình hình nghiên cứu thực trạng giải quyết vấn đề dân tộc trên phạm vi cả nước nói chung, tỉnh Thái Nguyên nói riêng

Thực trạng giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam, nhất là trong thời kỳ đổi mới, đã được nghiên cứu, làm rõ trong nhiều công trình nghiên cứu

Bế Viết Đẳng (chủ biên): “Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế xã

hội ở miền núi”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996 Tác giả, đề cập đến quan

điểm, đường lối, chính sách dân tộc; những vấn đề phong phú sinh động, nóng hổi

và cấp bách thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi Với các vấn đề: Vấn

đề dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta; thực trạng kinh tế - xã hội

và những vấn đề cấp bách hiện nay ở các dân tộc và miền núi; những nhận thức và

quan điểm cơ bản về chính sách dân tộc trong thời kỳ đổi mới Đặc biệt, tác giả đã

dành một chương đánh giá vấn đề dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta Trên cơ sở khảo sát, đánh giá đúng thực trạng kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số, tác giả đưa ra những kết luận khá toàn diện về chính sách dân tộc trong thời kỳ mới, trong đó khẳng định: phát triển kinh tế - xã hội là cơ sở để thực hiện chính sách dân tộc

Cuốn sách: “Về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta” (Tài liệu bồi

dưỡng cán bộ về công tác dân tộc) của Uỷ ban dân tộc và miền núi, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 2001 Xuất phát từ tầm quan trọng nội tại của vấn đề dân tộc và công tác dân tộc, các tác giả cuốn sách đã khẳng định: Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc có ý nghĩa quan trọng và to lớn trong chiến lược đại đoàn kết toàn dân, trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng Xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm xây dựng quan hệ bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát

triển giữa các dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam Với những lập luận

mang tính khoa học, cuốn sách đã phân tích những nội dung cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, những đặc điểm chủ yếu của các dân tộc thiểu số; đồng thời, khái quát chính sách dân tộc của Đảng và Nhà và một

số công tác dân tộc trong sự nghiệp cách mạng nước ta hiện nay với nội dung xuyên suốt là: thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc

Cuốn sách: “Vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong

thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, Viện Nghiên cứu chính sách dân tộc và

miền núi, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002 Công trình đã tập hợp nhiều bài

viết của các tác giả tham gia hội thảo khoa học về “Vấn đề dân tộc và định hướng

xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”

Trang 19

Cuốn sách gồm hai phần: phần một là những vấn đề chung về công tác dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá; phần hai nêu rõ thực trạng công tác dân tộc và định hướng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nội dung chính của cuốn sách trình bày những vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trên phạm vi cả nước cũng như đối với các vùng như Tây Bắc, Đông Bắc Những định hướng cơ bản trong việc quy hoạch dân cư, đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế hàng hoá phù hợp với đặc điểm từng vùng nhằm đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đặc biệt là công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn miền núi Qua đó, kiến nghị các giải pháp giải quyết những vấn đề cơ bản như: xoá đói giảm nghèo, định canh định cư, xoá mù chữ, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc…

Trong cuốn “Văn hoá các dân tộc vùng Đông Bắc Việt Nam” của tác giả

Hoàng Nam, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 2004 Tác giả đã khẳng định: “Văn hoá các dân tộc vùng Đông Bắc là tất cả những hiện vật, sự việc đã và đang tồn tại trong cuộc sống của con người, liên quan đến hoạt động của con người Hoạt động của con người trước hết là vì chính bản thân cuộc sống của con người, nhằm làm thoả mãn các nhu cầu về đời sống mọi mặt của mình” Tác giả đã nghiên cứu kỹ lưỡng và trình bày một cách cụ thể về các hoạt động kinh tế, văn hoá vật thể, văn hoá phi vật thể của tất cả các dân tộc đang sinh sống trong vùng Trên cơ sở đó, tác giả đã trình bày những nhân tố văn hoá mới ; xu hướng phát triển của văn hoá các dân tộc vùng Đông Bắc nước ta hiện nay; nguyên nhân sự xuất hiện những nhân tố văn hoá mới trong các dân tộc vùng Đông Bắc: do sự thay đổi của cơ chế chính sách (chuyển từ

cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường), việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống, sự thay đổi về môi trường tự nhiên và môi trường xã hội

Hai tác giả Phan Xuân Sơn - Lưu Văn Quảng (Đồng chủ biên): “Những vấn đề

cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay”, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội,

2005 Một mặt, các tác giả giúp người đọc có nhận thức cơ bản về dân tộc và chính sách dân tộc, có cái nhìn hệ thống về chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta qua các thời kỳ từ 1930 đến nay Mặt khác, các tác giả, thông qua khảo sát thực tế tại vùng dân tộc như Tây Bắc, Tây Nguyên, đã rút ra những kết luận,với những thành công và hạn chế trong quá trình hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, xác định tổng quát những quan điểm chung và phương hướng lớn về chính sách dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc trong thực tiễn nhằm

Trang 20

đảm bảo công bằng, bình đẳng, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau cùng phát triển Đặc biệt, qua công trình nghiên cứu này, các tác giả cũng làm rõ: khái niệm “dân tộc” để chỉ các dân tộc thiểu số mà chúng ta đang sử dụng chính thức và rộng rãi thực ra là khái niệm “quốc gia dân tộc”, đúng ra nên dùng khái niệm “tộc người” để chỉ các dân tộc, kể cả người Kinh và các “dân tộc thiểu số” trong quốc gia đa dân tộc Việt Nam [87, tr.250]

Tác giả Hoàng Chí Bảo (chủ biên): “Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp

tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay”, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 Đây là công trình nghiên cứu công phu và có hệ thống về bình đẳng, tăng cường hợp tác giữa các dân tộc, tác giả đã có những nhận thức lý luận mới về dân tộc, quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc, đánh giá thực trạng tình hình kinh tế - xã hội và các quan hệ dân tộc Thông qua, những thành tựu

và hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc từ thực tiễn, tác giả rất khách quan nhận định: Những bất cập, hạn chế trong việc giải quyết các quan hệ dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc đều có thể làm phát sinh những mâu thuẫn, những xung đột dân tộc và giữa các tộc người trong quá trình phát triển Nó gây tổn hại lớn tới khối đại đoàn kết dân tộc, cản trở và kìm hãm sự phát triển của dân tộc

và của từng tộc người, đồng thời làm suy giảm và triệt tiêu nội lực, động lực phát triển chung của đất nước, quốc gia - dân tộc Từ việc tổng kết thực tiễn, tác giả đã

dự báo các xu hướng, đề xuất các giải pháp và nêu lên những kiến nghị về chính sách và các vấn đề có liên quan tới sự phát triển của các tộc người, các quan hệ dân tộc, đoàn kết dân tộc ở nước ta Cũng theo tác giả, cùng với đổi mới nhận thức, xây dựng hệ thống chính trị và đào tạo nguồn nhân lực thì thực hiện tốt chính sách dân tộc trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, được xem là giải pháp cơ bản để thực hiện công bằng, bình đẳng trong phát triển vùng đa tộc người ở nước ta hiện nay

Tác giả Lâm Bá Nam trong cuốn: “Nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân

tộc của Đảng thời kỳ đổi mới Đảng Cộng sản Việt Nam: 80 năm xây dựng và trưởng thành”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010 đã lý giải: Đối với nước ta,

vấn đề dân tộc thiểu số vừa là vấn đề giai cấp, vừa là vấn đề miền núi, vừa là vấn đề biên cương, vấn đề an ninh quốc gia và chủ quyền lãnh thổ Từ tầm quan trọng của của vấn đề dân tộc và vị trí của các nguyên tắc trong chính sách dân tộc, tác giả khẳng định: Nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc: đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc đã được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định trong mọi thời kỳ cách mạng Từ nội dung và vai trò nội tại của các nguyên tắc trong chính

Trang 21

sách dân tộc, tác giả đã thấy được mối quan hệ tất yếu của ba nguyên tắc: Bình đẳng

là cơ sở để đoàn kết, đoàn kết là biểu hiện thực hiện bình đẳng và tương trợ giúp đỡ nhau là điều kiện để thực hiện bình đẳng và đoàn kết

Tác giả Nguyễn Đăng Thành : “Phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu

số Việt Nam đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012 Cuốn sách đã nhận định: Phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số chính là khâu then chốt - giải pháp có tính đột phá cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta nói chung, sự phát triển của vùng đồng bào dân tộc thiểu số nước ta nói riêng Với nhận thức đó, cuốn sách chuyên khảo đã trình bày luận

cứ lý thuyết và thực tiễn phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số nước ta đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đồng thời, phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số Việt Nam thời kỳ đổi mới và rút ra nhận định quan trọng: cho đến nay, chưa có công trình chuyên sâu nghiên cứu trên quy mô toàn quốc về vấn đề phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số Vì vậy, chuyên khảo này được hình thành như một đóng góp vào việc cung cấp luận cứ và giải pháp cho phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số nước ta

Cuốn sách: “phát triển bền vững văn hoá tộc người trong quá trình hội nhập ở

vùng Đông Bắc”, Vương Xuân Tình - Trần Hồng Hạnh (Đồng chủ biên), Nxb Khoa

học xã hội, Hà Nội, 2012 Công trình nghiên cứu được luận giải trong 5 chương Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu chính được thể hiện tập trung ở chương 3,4,5 Trong những chương này, trên cơ sở nhận diện quá trình hội nhập của các tộc người vùng Đông Bắc, các tác giả đã phân tích thực trạng và đánh giá mức độ bền vững về văn hoá của họ; đồng thời xem xét tác động của hội nhập đến sự bền vững đó Trên cơ

sở đó, các tác giả đã đề xuất một số kiến nghị và giải pháp để đảm bảo phát triển bền vững văn hoá của các tộc người được nghiên cứu ở vùng Đông Bắc Việt Nam Bùi Xuân Đính và Nguyễn Ngọc Thanh (đồng chủ biên, 2013) trong cuốn sách

“Một số vấn đề cơ bản về kinh tế - xã hội các tỉnh Biên giới Việt Nam”, Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội đã tập trung nghiên cứu vấn đề cơ bản về kinh tế các vùng biên giới; vấn đề nghèo đói, chênh lệch phát triển và ảnh hưởng của các yếu tố xã hội của tộc người và phát triển các vùng biên giới; vấn đề tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự ở các tỉnh biên giới; vấn đề cơ hội, thách thức cho sự phát triển về kinh tế - xã hội vùng biên giới và khuyến nghị

Cuốn sách “Thực hiện bình đẳng dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay theo tư

tưởng Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Sỹ Họa, Nxb Quân đội nhân dân, 2015

Trang 22

Cuốn sách trình bày nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc ở Việt Nam; đánh giá thực trạng, nêu ra những vấn đề cấp bách trong thực hiện bình đẳng dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh Đồng thời chỉ ra một số giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn công tác này Cuốn sách đã cho chúng ta thấy được một vấn đề rất rộng lớn có giá trị trong tư tưởng Hồ Chí Minh Bởi vì, giải quyết vấn đề dân tộc nói chung và thực hiện bình đẳng dân tộc nói riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của đất nước nói chung và các địa phương cụ thể nói riêng trong giai đoạn cách mạng mới

Cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về công tác dân

tộc qua 30 năm đổi mới” của tác giả Giàng Seo Phử (chủ biên) (2016), Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội Công trình đã nghiên cứu những vấn đề lý luận có tính đặc thù về công tác dân tộc và quản lý nhà nước về công tác dân tộc, tổng kết thực tiễn quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong giai đoạn thực hiện đường lối đổi mới (từ năm 1986 đến nay) Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã đưa ra được định hướng và những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong giai đoạn tới

Cùng với các công trình nghiên cứu nêu trên, bên cạnh đó cũng có một số đề tài, luận văn, luận án, tạp chí nghiên cứu về vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam

Luận án tiến sĩ triết học “Đổi mới việc thực hiện chính sách dân tộc trên địa

bàn tỉnh Bình Dương và Bình Phước” của tác giả Phạm Công Tâm, Học viện Chính

trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2001 Dưới góc độ chính trị - xã hội, luận án đã làm rõ những vấn đề về chính sách dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, rút ra những bài học kinh nghiệm về vấn đề này Trên cơ sở đó làm rõ cơ sở

lý luận, thực tiễn đổi mới thực hiện chính sách dân tộc nói chung, ở tỉnh Bình Dương, Bình Phước nói riêng Đặc biệt luận án đã đề xuất những phương hướng và giải pháp cụ thể, thích hợp cho việc đổi mới thực hiện chính sách dân tộc làm tăng thêm tính hiệu lực, hiệu quả đối với đồng bào các dân tộc thiểu số

Kỷ yếu đề tài khoa học - Đề tài nhánh của đề tài khoa học cấp Nhà nước: 2002

- 2005: “Công bằng và bình đẳng xã hội trong các quan hệ tộc người và trong sự

phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đa dân tộc” do Nguyễn Quốc Phẩm (chủ

nhiệm đề tài nhánh), Viện chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị Quốc gia

Hồ Chí Minh, 2004 Công trình đã đăng tải những bài viết rất có giá trị về vấn đề dân tộc, công bằng và bình đẳng xã hội trong các quan hệ tộc người và trong sự phát

triển kinh tế - xã hội của các quốc gia đa dân tộc: Trong bài “Tộc người và dân tộc,

Trang 23

các quan hệ tộc người và quan hệ dân tộc: lý luận và lịch sử, những vấn đề của Việt Nam hiện nay”, tác giả Nguyễn Quốc Phẩm đã làm rõ những vấn đề có tính lý luận

về khái niệm dân tộc và tộc người; quan hệ dân tộc, quan hệ tộc người; theo đó tác giả đã đề cập đến vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc, công tác dân tộc ở Việt Nam

Cũng trong bài “Về bảo đảm công bằng, bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các

dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội tại vùng đa dân tộc ở miền núi nước ta hiện nay” Bài viết đã đề cập một cách khá chi tiết về vấn đề công bằng, bình đẳng, tăng

cường hợp tác; công bằng xã hội và tương trợ cùng phát triển giữa các tộc người và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện công bằng, bình đẳng, tương trợ nhau cùng phát triển giữa các tộc người ở nước ta Đặc biệt, trong khía cạnh nghiên cứu của mình, hai tác giả đã phác họa một bức tranh khá tổng thể về thực trạng công bằng, bình đẳng, tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội tại các vùng đa dân tộc ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên càng cho thấy rằng, nếu nhận thức, giải quyết không đúng quan hệ dân tộc, không xóa bỏ sự khác biệt giữa các dân tộc, không thực hiện sự bình đẳng, đoàn kết, hợp tác sẽ không thể tạo

ra sự ổn định chính trị và tất nhiên xung đột giữa các quốc gia sẽ diễn ra

Trong bài: “Đánh giá sự phát triển bền vững chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh

Thái Nguyên trên quan điểm phát triển bền vững giai đoạn 2000 - 2009” của tác giả

Nguyễn Văn Sơn, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Thái Nguyên, Tập 80, số 4/2011 Mặc dù không nghiên cứu một cách chuyên biệt về vấn đề dân tộc hay bình đẳng dân tộc song trong khía cạnh nghiên cứu của mình, tác giả đã gián tiếp đề cập đến vấn đề phát triển bền vững chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Thái Nguyên trên quan

điểm phát triển bền vững để tạo ra sự công bằng và bình đẳng cho các dân tộc trong

tỉnh Thái Nguyên Từ việc xây dựng hệ thống các tiêu chí đánh giá, làm cơ sở, tiền

đề chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu về kinh tế, xã hội và môi trường, từ đó đề xuất các giải pháp về hoạch định chính sách, phát triển vĩ mô của hệ thống và sự chuyển dịch các thành phần kinh tế trong cơ cấu kinh tế nhằm đảm bảo ổn định và công bằng xã hội, giảm nghèo nhanh và bền vững đối với tỉnh Thái Nguyên

Luận án tiến sĩ triết học của Phạm Thị Hoàng Hà với đề tài “Bình đẳng dân

tộc trên lĩnh vực văn hóa ở các tỉnh Miền núi phía bắc Việt Nam hiện nay”, Học

viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2012 Luận án đã tập trung lý giải và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực văn hóa.Từ lý luận chung, tác giả đã làm rõ được thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực văn hóa ở các tỉnh miền núi

Trang 24

phía bắc Việt Từ tính cấp thiết về những vấn đề đặt ra trong thực tiễn, tác giả đã đề xuất những phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực văn hóa ở các tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam hiện nay

Luận án tiến sĩ Lịch sử của Hoàng Thị Mỹ Hạnh với đề tài “Quá trình chuyển

biến kinh tế, xã hội của tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2010”, Học viện

Khoa học Xã hội, 2013 Luận án kiến giải vấn đề trong 4 chương: Chương 1: Tổng

quan về tình hình nghiên cứu; chương 2: Quá trình chuyển biến kinh tế của tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2000; chương 3: Quá trình chuyển biến xã hội của tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2000; chương 4: Đánh giá quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội của tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2000 Bằng phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp, luận án đã tái hiện một cách có hệ thống quá trình chuyển biến kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2010 Trên cơ sở đó, luận án đánh giá tiềm năng, lợi thế, nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội, thành tựu, cũng như hạn chế, bất cập trong quá trình chuyển biến kinh tế - xã hội của tỉnh Từ đó, luận án đưa ra một số kinh nghiệm chủ yếu góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên

Kỷ hiếu Hội thảo Quốc tế “Phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo cho

đồng bào các dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi”, Nxb Đại học Thái Nguyên, 2014

Hội thảo tập trung nhiều bài viết của các chuyên gia nghiên cứu, các nhà khoa học với những đối thoại giữa các cơ quan Chính phủ, các bên liên quan (bao gồm cả cộng đồng xã hội), và các đối tác phát triển về các kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững tại vùng núi Việt Nam, để tìm ra hướng tiếp cận phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo cho các dân tộc thiểu số khu vực miền núi Đặc biệt, hội thảo này đã có nhiều bài viết của các tác giả nhằm chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về xóa đói giảm nghèo cho dân tộc thiểu số tại những vùng núi và vùng xa xôi hẻo lánh, nhất

là các khu vực có điều kiện địa lí, kinh tế tương đồng; đưa ra các giải pháp lựa chọn khác cho vùng núi phía Bắc để nhận được nhiều hơn và sâu sắc hơn những sự can thiệp tích cực; xây dựng các chính sách và lựa chọn dự án về các sáng kiến giảm nghèo có thể phổ biến rộng rãi trong khu vực Điều này có một ý nghĩa rất lớn, nhằm giải quyết một vấn đề cấp bách về phát triển bền vững và giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi nước ta hiện nay

Hoàng Thu Thủy (2014) “Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở

một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2010”, Luận án Tiến sĩ, Học

viện Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh đã làm sáng tỏ nhận thức khoa học về chính

Trang 25

sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh vùng Đông Bắc Việt Nam từ năm 1996 đến năm

2010 và tổng kết một số kinh nghiệm chủ yếu về tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh vùng Đông Bắc từ năm 1996 đến năm 2010

Trong bài viết: “Một số giải pháp giảm nghèo bền vững cho hộ dân tộc thiểu

số huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên” được đăng tải ở Tạp chí Khoa học & Công

nghệ Thái Nguyên, Tập 145, số 15/2015, hai tác giả Trần Lệ Thị Bích Hồng và Đỗ Anh Tài đã đi sâu vào việc phân tích một số yếu tố liên quan đến năng lực tự vươn lên thoát nghèo và không tái nghèo của các hộ dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện

Võ Nhai của tỉnh Thái Nguyên Từ đó tác giả chỉ rõ mặt hạn chế, cũng như thuận lợi, khó khăn của địa phương trong thực hiện chủ trương xóa đói giảm nghèo Giá trị của bài viết tập trung ở việc đề xuất một số giải pháp nhằm giúp các hộ dân tộc thiểu số có thể tự vươn lên giảm nghèo từ chính nội lực của mình

Những công trình về vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc trên phạm vi

cả nước, trong đó có tỉnh Thái Nguyên là những nghiên cứu mang tính tổng hợp, với những khái quát, hệ thống hoá quan điểm, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc cũng như các chương trình, dự án chính sách cơ bản nhằm phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đặc điểm địa lý, văn hoá xã hội, về thành phần dân tộc và sự phân bố các dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung và các tỉnh miền núi phía Bắc, Thái Nguyên nói riêng Trên cơ

sở đó, rút ra một số giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn về đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng thời là cơ sở khoa học cho Đảng và Nhà nước

ta thực hiện tốt hơn chính sách dân tộc Trong đó, một số tác giả đã nghiên cứu và

đề cập đến vấn đề bình đẳng dân tộc ở Việt Nam, khẳng định nội dung, điều kiện và biện pháp thực hiện bình đẳng dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đây là những đóng rất quan trọng, cung cấp những dữ liệu cần thiết giúp tác giả luận án có những hiểu biết sâu sắc hơn về vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc, đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc và các quan hệ dân tộc, đồng thời là cơ sở khoa học để tác giả vận dụng vào thực tiễn tỉnh Thái Nguyên trong giải quyết vấn đề dân tộc đúng định hướng

1.1.3 Tình hình nghiên cứu giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc, về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc và vận dụng vào thực tiễn Việt Nam

Tình hình nghiên cứu vấn đề này thể hiện qua các công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây:

Trang 26

Trịnh Quốc Tuấn (chủ biên): “Bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay - Vấn đề và

giải pháp”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996 Công trình đã tập trung nghiên cứu

những vấn đề lý luận và thực tiễn về bình đẳng dân tộc ở Việt Nam Các tác giả đã luận giải một số khía cạnh nhận thức về vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc, những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc ở vùng dân tộc, miền núi ở nước ta Trên cơ sở trình bày lý luận của chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

về bình đẳng dân tộc, đặc điểm dân tộc, quá trình lãnh đạo và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam, các tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp thực hiện bình đẳng dân tộc ở nước ta Đây là những giải pháp có thể tham khảo và vận dụng tốt đối với từng vùng trong cả nước

Nguyễn Quốc Phẩm - Trịnh Quốc Tuấn với cuốn sách “Mấy vấn đề lý luận và

thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

(1999) Giá trị của công trình nghiên cứu thể hiện tập trung ở những luận chứng khoa học khi các tác giả đưa ra các vấn mang tính lý luận, nhận thức về dân tộc: làm

rõ một số khái niệm liên quan đến dân tộc, quan hệ dân tộc; chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta Đặc biệt, trong công trình nghiên cứu của mình, hai tác giả đưa ra quan niệm thực hiện bình đẳng - công bằng giữa các dân tộc xuất phát từ đặc điểm tình hình các dân tộc và phát triển quan hệ dân tộc và phải có chính sách dân tộc đúng đắn Để mở rộng phạm vi nghiên cứu, các tác giả còn đề cập một số nội dung khác liên quan tới chủ đề như trên: quản lý xã hội, nội dung công tác cán bộ, đào tạo cán bộ trong chính sách dân tộc hiện nay ở nước ta…

Phan Hữu Dật (chủ biên): “Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan

đến mối quan hệ dân tộc hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Công trình

đã đi sâu làm rõ những quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc; phác họa bức tranh tổng thể tương đối phức tạp về xung đột dân tộc đang diễn ra trên thế giới; đồng thời đưa ra được các bài học kinh nghiệm Trên cơ sở đó, công trình đã làm rõ thực trạng mối quan hệ dân tộc ở nước ta hiện nay, luận chứng những nguy cơ tiềm ẩn các yếu tố có thể gây mất ổn định về chính trị dưới góc độ mối quan hệ dân tộc Đặc biệt, công trình đã đưa ra một số khuyến nghị về phương hướng phấn đấu thực hiện đường lối, chính sách dân tộc của Đảng trong thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Năm 2004, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội đã xuất bản cuốn: “Tư tưởng Hồ

Chí Minh về đại đoàn kết với vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới” Cuốn sách đã giới thiệu nhiều chuyên đề, bài viết của các nhà

Trang 27

khoa học xung quanh vấn đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách dân tộc, đại đoàn kết dân tộc, sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh đối với vấn đề đoàn kết các dân tộc thiểu số trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam Trong đó, có thể

kể đến những bài viết trực tiếp đề cập đến vấn đề dân tộc, đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc ở nước ta hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh Với

chuyên đề: “Vận dụng tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh vào việc củng cố

vững chắc khối đoàn kết toàn dân tộc” của tác giả Trần Văn Hải, đã trình bày

những quan điểm của Hồ Chí Minh về tư tưởng đại đoàn kết dân tộc, thấy được tầm vóc và giá trị to lớn của tư tưởng này đối với thực tiễn cách mạng Việt Nam Trong

cuốn sách, còn có bài viết của tác giả Phùng Thu Hiền: “Chính sách dân tộc trong

chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh” Bằng

những lập luận và lý giải, tác giả đã làm rõ những quan điểm mang tính cách mạng, khoa học của Hồ Chí Minh về chính sách dân tộc, với tư tưởng xuyên suốt là “Bình đẳng, đoàn kết và tương trợ giữa các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam” Tác giả khẳng định: “Nét độc đáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc là đề cao tinh thần tương trợ lẫn nhau giữa các dân tộc thành một nguyên tắc cơ bản, có tầm quan trọng ngang hàng với các nguyên tắc đoàn kết và bình đẳng Đặc biệt Người rất chú ý chính sách đối với miền núi, với đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa” [76, tr.269]

Nguyễn Quốc Phẩm (chủ biên): “Công bằng và bình đẳng xã hội trong quan

hệ tộc người ở các quốc gia đa tộc người”, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, năm

2006 Giá trị đặc biệt của công trình đã luận giải một cách có hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng, bình đẳng xã hội từ góc độ dân tộc, quan hệ dân tộc Với những lập luận khoa học đó, tác giả xem xét và giải quyết vấn đề dân tộc và sự phát triển của các quốc gia dân tộc trong bối cảnh và xu thế hiện nay của thế giới nói chung, về tăng cường hợp tác giữa các tộc người ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi Việt Nam nói riêng Từ thực tiễn của vấn

đề, tác giả lý giải và phân tích các nội dung, điều kiện, biện pháp và đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phần thực hiện công bằng, bình đẳng giữa các tộc người ở các vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Cũng trong cuốn sách: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc và sự vận

dụng của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay” của Nguyễn Đức Ngọc (chủ biên),

Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội năm 2007 Trong nghiên cứu, các tác giả đã khẳng

định một nội dung rất quan trọng, đó là: Quán triệt, vận dụng và phát triển tư tưởng

Trang 28

đoàn kết Hồ Chí Minh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Với những lập luận đặt ra cuốn sách đã làm rõ được tầm vóc to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc đối với sự nghiệp trọng đại của cách mạng Việt Nam Vì vậy, tất yếu “trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế cần phải quán triệt, vận dụng và phát triển tư tưởng đoàn kết Hồ Chí Minh” [75, tr.242-243]

Ngoài những công trình nghiên cứu đã nêu, trên thực tế còn có một số đề tài khoa học, tạp chí, luận án, luận văn bàn đến giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc; đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc và vận dụng vào thực tiễn giải quyết vấn đề này ở nước ta, cũng như ở một số địa bàn cụ thể, tiêu biểu như:

Nguyễn Quốc Phẩm: “Vị trí chiến lược của vấn đề dân tộc, công tác dân tộc

và đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp cách mạng nước ta”, Tạp chí Lý luận Chính

trị, số 3/2004 Bài viết đã phân tích vị trí chiến lược của vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và đoàn kết dân tộc trong các giai đoạn cách mạng ở Việt Nam, qua đó, tác giả đánh giá những thành tựu, sáng tạo trong việc thực thi chính sách dân tộc, công tác dân tộc và đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước ta

Nguyễn Thị Nga: “Phát huy tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh

trong điều kiện nước ta hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, số 10 (tháng 5/2005) Bài viết

đã khái quát những vấn đề có tính lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc: Đoàn kết là sức mạnh; chủ động đoàn kết rộng rãi và toàn diện; cầu đồng - tồn tại, nỗ lực phấn đấu và mục đích chung là nguyên tắc cơ bản để thực hành chiến lược đoàn kết Từ tầm vóc và giá trị to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, tác giả cho rằng, cần phát huy tư tưởng của Người trong điều kiện nước

ta hiện nay, nhưng cần phải nhìn nhận ở nhiều phương diện: Mở rộng lực lượng đoàn kết trong xã hội; về phương pháp tập hợp lực lượng; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là hạt nhân trong khối đoàn kết dân tộc

Kỷ yếu Hội thảo khoa học - Đề tài khoa học cấp Bộ: 2005 - 2007 (2006): “Sự

vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin của Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam trong cách mạng giải phóng dân tộc”, Học viện Chính trị Quốc

gia Hồ Chí Minh Hội thảo đã tập hợp những bài viết chuyên sâu của các tác giả, trong đó đã đề cập tới các vấn đề về dân tộc, giai cấp, đoàn kết dân tộc thể hiện rõ

sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cách mạng giải phóng dân tộc

Trang 29

Luận án tiến sĩ triết học của Nguyễn Thị Phương Thúy với đề tài: “Thực hiện

chính sách dân tộc ở Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2006 Tác giả đã tập trung lý giải

và làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về dân tộc và chính sách dân tộc ở Việt Nam (đi từ khái niệm dân tộc, chính sách dân tộc, cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác

- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và những vấn đề về quan hệ dân tộc ở Việt Nam ) Từ lý luận chung tác giả đã làm rõ thực trạng và những vấn

đề đặt ra đối với việc thực hiện chính sách dân tộc qua gần 20 năm đổi mới ở nước

ta Trong phần những vấn đề đặt ra, tác giả đưa ra những vấn đề rất thực tiễn: Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở còn yếu và thiếu, sự phân hóa giàu nghèo, trình độ dân trí của đồng bào các dân tộc thiểu số còn thấp, sự chống phá của các thế lực thù địch Từ nội tại của những vấn đề mang tính thực tiễn, tác giả đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt chính sách dân tộc ở Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Đề tài khoa học cấp Bộ, (2013 - 2014) “Tư tưởng Hồ Chí Minh về các dân tộc

bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển” của tác giả Hoàng Xuân

Lương (chủ nhiệm) đã đề cập đến nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về đoàn kết dân tộc, bình đẳng dân tộc trên các lĩnh vực chính trị - kinh tế, xã hội Đề tài cũng đã phân tích, làm rõ việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển trong thực tiễn công tác dân tộc; nghiên cứu giải pháp nâng cao khả năng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển trong thực tiễn công tác dân tộc hiện nay

Các công trình nghiên cứu nêu trên đã có những đóng góp quan trọng vào việc giải quyết và làm sáng tỏ nhiều vấn đề cụ thể: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc, chính sách dân tộc và miền núi, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc hay đoàn kết dân tộc vào thực hiện chính sách dân tộc hoặc bình đẳng dân tộc hay đoàn kết dân tộc ở nước ta và ở một số địa phương cụ thể; quan niệm về tộc người, vùng dân tộc và đặc điểm tình hình dân tộc Việt Nam hiện nay; quan niệm về bình đẳng dân tộc, thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước có yếu tố nền tảng của tư tưởng Hồ Chí Minh định hướng, soi đường

Trang 30

1.2 Đánh giá khái quát tình hình nghiên cứu và những vấn đề luận án đi sâu nghiên cứu

1.2.1 Đánh giá khái quát tình hình nghiên cứu

Từ tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án, có thể đánh giá khái quát như sau:

Thứ nhất, trong các công trình nói trên, vấn đề dân tộc; đoàn kết, bình đẳng,

tương trợ giữa các dân tộc được đề cập và nghiên cứu ở nhiều bình diện, góc độ khác nhau Từ góc độ tiếp cận: Dân tộc học, triết học, chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học, xã hội học, v.v Ngoài ra, đã có một số đề tài, công trình khoa học đã nghiên cứu, khái quát hóa, phân tích làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc, bình đẳng dân tộc và tương trợ giữa các dân tộc Từ đó, rút ra ý nghĩa phương pháp luận đối với vấn đề dân tộc ở nước ta Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu thường mới chỉ đi sâu vào giải quyết và làm rõ nội dung cơ bản tư tưởng

Hồ Chí Minh về dân tộc hay đoàn kết dân tộc, hoặc bình đẳng dân tộc, tương trợ giữa các dân tộc một cách độc lập, chứ chưa tìm đến mối quan hệ biện chứng vấn đề đoàn kết, bình đẳng, tương trợ trong tư tưởng Hồ Chí Minh một cách toàn diện

Thứ hai, có nhiều đề tài, công trình khoa học đã nghiên cứu về thực trạng giải

quyết vấn đề dân tộc trên phạm vi cả nước nói chung, tỉnh Thái Nguyên nói riêng Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào trình bày quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn đề dân tộc, bình đẳng dân tộc, chính sách dân tộc, đánh giá việc thực hiện bình đẳng dân tộc, chính sách dân tộc ở nước ta trong thời

kỳ mới, chỉ ra nguyên nhân của thành tựu và hạn chế trong quá trình thực hiện bình đẳng dân tộc, chính sách dân tộc ở nước ta; có những công trình đã đề xuất một cách có căn cứ khoa học, thực tiễn về phương hướng, giải pháp thực hiện bình đẳng dân tộc, chính sách dân tộc, song mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra những giải pháp cho một số địa phương, một vài tộc người ở từng lĩnh vực cụ thể

Thứ ba, trên cơ sở phân tích đặc điểm kinh tế - xã hội, điều kiện tự nhiên, khí

hậu, dân cư, phong tục tập quán và đặc trưng của đồng bào các dân tộc ở Việt Nam, nói chung nhiều công trình nghiên cứu đã cung cấp cơ sở lý luận cho việc hoạch định

và thực hiện đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc trên phạm vi quốc gia Tuy nhiên, các công trình đã công bố, chưa khai thác vấn đề ở chiều tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc và đặc biệt vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào giải quyết vấn đề dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay; một

số công trình đã khảo cứu về chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong

Trang 31

suốt tiến trình cách mạng, nhiều tác giả đã công phu khảo sát, đánh giá thực trạng vấn đề đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc ở Việt Nam những năm qua, đồng thời đề cập một cách tương đối phong phú những giải pháp để thực hiện đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc thông qua việc xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ dân tộc, phát triển kinh tế phù hợp giữa các vùng miền nhằm xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc ở nước ta trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đổi mới toàn diện đất nước Tuy nhiên, một số vấn

đề như: Quy trình hoạch định, tổ chức thực hiện chính sách với sự tham gia của người dân; tính vùng hóa, địa phương hóa trong thực thi chính sách dân tộc còn chưa được nghiên cứu, luận giải sâu sắc

Như vậy, dưới góc độ, bình diện, phạm vi nghiên cứu khác nhau, các nhà khoa học đã bước đầu làm rõ một số nội dung và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc; đã vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh

về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc vào giải quyết một số vấn đề dân tộc đang đặt ra trong thực tiễn đất nước Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên

cứu nào đi sâu khảo cứu, luận giải vấn đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc và vận dụng trong giải quyết vấn đề dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên như đề tài của luận án

1.2.2 Những vấn đề luận án đi sâu nghiên cứu

Xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn và trên cơ sở tổng kết tình hình nghiên có

liên quan, luận án tập trung vào nghiên cứu, giải quyết vấn đề: “Tư tưởng Hồ Chí

Minh về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc và vận dụng trong giải quyết vấn đề dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay” Vấn đề nghiên cứu lớn này

được cụ thể hóa như sau:

Thứ nhất, luận án đi sâu luận giải nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh

về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc theo nghĩa tộc người cũng như tư tưởng của Người về mối quan hệ giữa chúng, từ đó làm rõ và khẳng định giá trị của

tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc ở nước ta

Thứ hai, luận án tập trung nghiên cứu, phân tích và đánh giá việc giải quyết

vấn đề dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến nay được thể hiện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của tỉnh Thái Nguyên; chỉ ra những thành tựu

và ha ̣n chế cơ bản trong thực tiễn giải quyết vấn đề dân tô ̣c ở tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến nay; làm rõ nguyên nhân và xác định những vấn đề đặt ra trong giải quyết vấn đề dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay

Trang 32

Thứ ba, luận án đề xuất và luận giải những phương hướng cơ bản, những giải

pháp chủ yếu nhằm giải quyết vấn đề dân tộc đang đặt ra ở tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Tiểu kết chương 1

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc; đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc và vận dụng trong thực tiễn Việt Nam đã và đang được nhiều học giả tập trung nghiên cứu Có thể khái quát kết quả đã đạt được trên một số vấn đề chính, theo các nhóm nghiên cứu, đó là: nhóm nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh

về vấn đề dân tộc; đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc; nhóm nghiên cứu về thực trạng vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam, trong

đó có tỉnh Thái Nguyên; nhóm nghiên cứu giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc; đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc và vận dụng vào thực tiễn

ở Việt Nam

Trên cơ sở tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, tác giả

luận án nhận thấy đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc và vận dụng trong giải quyết vấn đề dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay” không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố, và là đề

tài có ý nghĩa lý luận cơ bản và thực tiễn cấp thiết hiện nay Với tính cách là công trình nghiên cứu khoa học độc lập, luận án tập trung làm rõ những vấn đề sau:

Thứ nhất, nội dung và giá trị cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết,

bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc

Thứ hai, thực trạng và vấn đề đặt ra trong giải quyết vấn đề dân tộc ở tỉnh Thái

Nguyên hiện nay

Thứ ba, phương hướng và giải pháp chủ yếu tiếp tục giải quyết vấn đề dân tộc

đang đặt ra ở tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh

về đoàn kết, bình đẳng và tương trợ giữa các dân tộc

Trang 33

Chương 2

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT, BÌNH ĐẲNG, TƯƠNG TRỢ

GIỮA CÁC DÂN TỘC: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

2.1 Một số khái niệm cơ bản

2.1.1 Khái niệm dân tộc

Dân tộc là một khái niệm có nội hàm rất rộng, tùy từng góc độ tiếp cận có thể

sử dụng khái niệm này với những hàm nghĩa khác nhau:

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “1 Dân tộc (Nation) hay quốc gia dân tộc

là một cộng đồng chính trị - xã hội được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu được hình thành do sự tập hợp của nhiều bộ lạc hay liên minh bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng tộc người Tính chất của dân tộc phụ thuộc vào những phương thức sản xuất khác nhau 2 Dân tộc còn đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc người (ethnie) Cộng đồng này có thể là một bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc (nation) sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác nhau được liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hoá và ý thức tự giác tộc người” [109, tr.655]

Quan niệm trên đã phân biệt rõ dân tộc với nghĩa quốc gia dân tộc (Nation) và dân tộc với nghĩa cộng đồng mang tính tộc người (Ethnie)

Đại Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Dân tộc 1 Cộng đồng người ổn định được

hình thành trong quá trình lịch sử của xã hội, có chung tiếng nói, lãnh thổ, đời sống

kinh tế và tâm lý: đoàn kết dân tộc 2 Dân tộc thiểu số, nói tắt: Ưu tiên học sinh

dân tộc 3 Cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, một quốc gia

gắn bó với nhau trong truyền thống, nghĩa vụ và quyền lợi” [132]

Định nghĩa này đã tiếp cận khái niệm dân tộc theo 3 loại hình: dân tộc - cộng đồng người nói chung; dân tộc thiểu số và dân tộc với tư cách là cộng đồng nhân dân một nước, một quốc gia

Từ những quan niệm trên, có thể thấy, khái niệm dân tộc thường được hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa rộng: dân tộc - quốc gia (Nation) và nghĩa hẹp: dân tộc - tộc người (Ethnie)

Theo nghĩa rộng, dân tộc là một cộng đồng người cùng chung sống trên một lãnh

thổ, có chung một chế độ kinh tế, thể chế chính trị, nền văn hoá, có một quốc ngữ chung để giao tiếp và chung đặc điểm tâm lý dân tộc tạo nên ý thức quốc gia - dân tộc Trong đó, cùng chung một thể chế kinh tế, chính trị - xã hội là đặc trưng quan trọng; cùng chung một nền văn hoá là đặc trưng tạo nên bản sắc của mỗi dân tộc

Trang 34

Theo nghĩa hẹp, dân tộc là một cộng đồng người ổn định hoặc tương đối ổn

định, được hình thành trong những điều kiện lịch sử nhất định, có chung nguồn gốc

và những đặc điểm tương đối bền vững về ngôn ngữ, văn hoá, tâm lý và ý thức tự giác dân tộc thông qua tự nhận tộc danh (ví dụ dân tộc Kinh, Tày, Nùng, v.v.) Theo nghĩa này, dân tộc có những đặc trưng cơ bản: các thành viên sử dụng một ngôn ngữ chung (tiếng mẹ đẻ) để giao tiếp trong nội bộ dân tộc; có chung những đặc điểm sinh hoạt văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần, tạo nên bản sắc của văn hoá dân tộc; các thành viên có chung ý thức tự giác dân tộc (sự tự ý thức về dân tộc mình từ nguồn gốc nhân chủng, ngôn ngữ, sắc thái văn hoá đến tên gọi; ý thức tự khẳng định sự tồn tại và phát triển của dân tộc mình) Ý thức tự giác dân tộc trở thành đặc trưng quan trọng nhất để phân định dân tộc này với dân tộc khác Các đặc trưng của dân tộc là một chỉnh thể gắn bó chặt chẽ với nhau và mỗi đặc trưng có một vị trí xác định Sự tổng hợp các đặc trưng đó làm cho các cộng đồng dân tộc thực chất là một cộng đồng xã hội, trong đó các nhân tố tộc người đan kết, gắn bó chặt chẽ với các nhân tố xã hội Điều này lý giải sự khác biệt giữa khái niệm dân tộc với khái niệm sắc tộc, chủng tộc vốn chỉ căn cứ vào các đặc điểm tự nhiên, như: màu da, cấu tạo

tự nhiên của các bộ phận trong cơ thể để phân loại cộng đồng người

Từ khái niệm về dân tộc như trên, qua nghiên cứu các bài nói, bài viết của

Hồ Chí Minh, có thể thấy Người cũng dùng khái niệm dân tộc theo hai nghĩa: Dân tộc (Nation) và tộc người (Ethnie) Cụ thể, Người quan niệm:

Dân tộc (Nation) là cộng đồng người cùng chung sống trong một vùng lãnh thổ nhất định, có một nhà nước độc lập, có chủ quyền quốc gia, có ngôn ngữ (chữ viết, tiếng nói) chung, có bản sắc văn hóa và sinh hoạt kinh tế Theo ý nghĩa này, Người dùng khái niệm dân tộc Việt Nam là một, nước Việt Nam là một Người khẳng định: “Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta” [64, tr.249]

Tộc người (Ethnie) là một cộng đồng người có tiếng nói chung, có nguồn gốc lịch sử, văn hóa và ý thức tự giác cộng đồng Theo ý nghĩa này, Người dùng khái niệm: Dân tộc Kinh, Tày, Nùng, v.v Người khẳng định: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu

số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt” [64, tr.249]

Điều này cho thấy, khái niệm dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất toàn diện và sâu sắc Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận án, khái niệm dân tộc được giới hạn theo nghĩa tộc người và luận án cũng chỉ tập trung nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc theo nghĩa này

Trang 35

2.1.2 Khái niệm đoàn kết

Đoàn kết là một khái niệm đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử nhân loại và được sử dụng rộng rãi Tuy nhiên, ở mỗi thời kỳ lịch sử và ở những nhà tư tưởng khác nhau, nội hàm về đoàn kết cũng có sự khác nhau

C.Mác và Ph Ăngghen trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (1848) đã nêu khẩu hiệu “Vô sản các nước đoàn kết lại!” Kế thừa và phát triển tư

tưởng tập hợp lực lượng cách mạng quốc tế của C.Mác và Ph Ăngghen phù hợp với bối cảnh lịch sử mới, V.I.Lênin và Quốc tế cộng sản cũng kêu gọi: “Vô sản các nước và các dân tộc bị áp bức trên thế giới đoàn kết lại!”

Trên cơ sở nghiên cứu tác phẩm của các nhà kinh điển, có thế thấy, đoàn kết mang hàm ý là sự “hiệp đồng”, “liên minh”, “gắn bó chặt chẽ”, v.v Đó là sự hiệp đồng, liên mình có nguyên tắc của giai cấp vô sản các nước và các dân tộc bị áp bức nhằm chống lại chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc

Theo Đại từ điển Tiếng Việt, đoàn kết là “kết thành một khối thống nhất cùng

hoạt động về một mục đích chung”; “Đoàn kết là kết thành một khối thống nhất ý

chí, không mâu thuẫn, chống đối nhau” [132, tr.576]

Nhìn từ góc độ xã hội, đoàn kết thể hiện sự đồng thuận của các thành viên trong xã hội, vì mộ̣t mục tiêu chung Giá trị đích thực của đoàn kết là tạo nên sức mạnh tổng hợp

Từ góc độ kinh tế, đoàn kết là một quá trình giải quyết những mâu thuẫn về lợi ích, xung đột về quyền lợi, để đi đến sự hài hòa về lợi ích mà mọi người có thể chấp nhận được Trong các mối quan hệ, giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích là nền tảng của sự đoàn kết Đoàn kết về kinh tế chỉ có thể được xác lập trên cơ sở công bằng, bình đẳng Đó chính là cơ sở cho đoàn kết bền chặt

Từ góc độ tâm lý, đoàn kết là sự bao dung, nhân ái, coi trọng tình thương và lẽ phải, trân trọng truyền thống dân tộc, “nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước thì thương nhau cùng”

Từ góc độ văn hóa, đoàn kết là một giá trị Trong đoàn kết con người thể hiện

ý thức cộng đồng, lòng vị tha, đức bao dung và tinh thần trách nhiệm gắn bó giữa cá thể và tập thể, mình vì mọi người và mọi người vì mình, kết hợp giữa lợi ích riêng

và lợi ích chung Đoàn kết là một đức tính, một hành vi ứng xử thể hiện một giá trị cao cả và tốt đẹp, xứng đáng với bản tính con người

Xét về góc độ tổ chức, đoàn kết luôn đòi hỏi rất cao tính tổ chức, cố kết, tính ràng buộc, chế định lẫn nhau giữa các chủ thể Theo ý nghĩa này, đoàn kết hoàn toàn trái ngược với tình trạng kết bè, kéo cánh, chia rẽ nội bộ làm suy yếu sức mạnh của tập thể Bởi vậy, tính chế định, ràng buộc lẫn nhau phải được xem xét trong mối quan hệ biện chứng với tính tổ chức, tính hệ thống

Trang 36

Hồ Chí Minh là biểu tượng cao đẹp nhất của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, của tinh thần đoàn kết trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đoàn kết là một quy luật sinh tồn, cội nguồn làm nên sức mạnh vô địch của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước Thuật ngữ đoàn kết trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ được hiểu theo nghĩa hạn hẹp là đoàn kết nội bộ cơ quan, làng xã, tổ chức

xã hội, đoàn thể, tôn giáo, tộc người mà còn mang một ý nghĩa chung, rộng lớn của

sự cố kết giai cấp, dân tộc và quốc tế; tất cả vì lợi ích của con người Theo Người, đoàn kết là sự liên kết chặt chẽ thành một khối thống nhất của số đông người có chung mục đích, lý tưởng, biết đồng tâm, hiệp lực, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn bảo đảm thực hiện thành công mục đích, lý tưởng đó và được quy tụ bởi bốn yếu tố cơ bản: Đông, Đích, Kết và Đồng

Đông là chỉ số lượng người tham gia ít nhất phải có 2 người trở lên, nhiều nhất

là toàn nhân loại Hồ Chí Minh có rất nhiều câu nói về yếu tố Đông này: “Lọ là thân thích ruột rà, công nông thế giới đều là anh em”; “Lao động tất cả các nước đoàn kết lại” [61, tr.496]; “Hòn đá to, hòn đá nặng/Một người nhấc, nhấc không đặng/Hòn đá

to, hòn đá nặng/Nhiều người nhấc, nhấc mới đặng”, v.v

Đích là mục đích của đoàn kết, đoàn kết cần đông người nhưng đông người chưa chắc đã đoàn kết Số đông người chỉ đoàn kết khi họ có chung mục đích, lý tưởng Trong di sản của Hồ Chí Minh, mục đích, lý tưởng chính là lợi ích, là quyền con người, lợi ích và quyền của các dân tộc Đoàn kết là nhằm lợi ích đó

Kết là sự liên kết, liên hợp số đông người có mục đích chung là hợp thành một

khối thống nhất chặt chẽ Năm 1925, trong bài văn vần: Hãy yêu thương nhau và

cùng nhau đoàn kết, Hồ Chí Minh viết:

Hãy liên kết như thân thể mình Ngũ quan cùng với tay chân dính liền Tách rời nhau thời không thể sống Chỉ cùng với nhau sức lực mới sinh sôi [62, tr.503]

Đồng, trong tư tưởng của Hồ Chí Minh rất toàn diện: “Đồng tâm nhất trí”,

“Đồng lòng hợp sức”, “Đồng tâm hợp lực”, “Đồng lòng hợp sức”… đó là sự thống nhất về mục đích lí tưởng và ý chí quyết tâm thực hiện cho được mục đích, lý tưởng

đó, và chỉ có trên cơ sở này mới đồng sức, đồng lòng Hồ Chí Minh đã tổng kết tính

đoàn kết của chữ đồng:

“Dân ta xin nhớ chữ đồng;

Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh” [63, tr.266]

Trang 37

Chữ đồng tạo nên sức mạnh to lớn của đoàn kết và sức mạnh vô địch của đại đoàn kết

Đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thống nhất của 4 yếu tố cơ bản

đông, đích, kết, đồng Yếu tố tạo nên sức mạnh hợp lực to lớn về cả vật chất và tinh

thần để đảm bảo thực hiện thành công mục đích của liên kết trở thành đoàn kết Hồ Chí Minh không phải là người đầu tiên đưa ra khái niệm đoàn kết Đóng góp của

Hồ Chí Minh là kế thừa, bổ sung thêm cả về nội hàm và ngoại diên của khái niệm này, khiến nó được toàn diện và hoàn chỉnh hơn

Từ những dẫn giải trên, tác giả cho rằng: Đoàn kết là sự hợp tác chung tay góp sức để kết thành một khối thống nhất cả về tư tưởng lẫn hành động nhằm thực hiện một mục đích chung, đem lại lợi ích vì sự phát triển của tập thể Đoàn kết là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, là sự “cố kết”, “gắn bó” cộng đồng, dân tộc trước yêu cầu của cuộc chiến chống thiên tai, chống ngoại xâm để tồn tại và phát triển Sự cố kết, gắn bó đã thấm sâu vào các thế hệ người Việt Nam và trở thành một truyền thống quý báu của dân tộc, thể hiện qua sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau bằng những hành động cụ thể, nhất là những khi gặp hoạn nạn khó khăn

2.1.3 Khái niệm bình đẳng

Về khái niệm bình đẳng (trong đó có liên quan đến nội dung bình đẳng dân tộc), Từ điển Bách khoa Việt Nam viết: “Bình đẳng là sự được đối xử như nhau về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá không phân biệt thành phần và địa vị, trong đó trước tiên là bình đẳng trước pháp luật Bình đẳng đã được quan niệm và thực hiện khác nhau qua các thời kỳ lịch sử với các chế độ chính trị xã hội khác nhau Thủ tiêu các đặc quyền, đặc lợi phong kiến, xác lập sự bình đẳng của mọi người trước pháp luật và là một tiến bộ của cách mạng dân chủ tư sản Song sự bình đẳng đó không thể triệt để trong một xã hội có sự cách biệt giữa người giàu và người nghèo, người áp bức bóc lột với người bị áp bức bóc lột Sự bình đẳng toàn diện và triệt để chỉ có thể thực hiện được khi nào xóa bỏ được tình trạng không bình đẳng trong quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, xóa bỏ được cơ sở của sự bóc lột giai cấp

và áp bức dân tộc, xóa bỏ mọi đặc quyền, đặc lợi trong xã hội” [109, tr.232]

Dưới chế độ công xã nguyên thủy, trong điều kiện trình độ kinh tế - xã hội thấp kém, bình đẳng và công bằng tuy nội dung rất nghèo nàn, nhưng lại là một giá trị phổ biến giữa các thành viên trong xã hội Trong xã hội phong kiến, tuy trình độ phát triển về kinh tế - xã hội cao hơn chế độ chiếm hữu nô lệ, song thay cho sự bình đẳng và công bằng sơ khai, lại là sự bất công, bất bình đẳng giữa giai cấp, tầng lớp thống trị với tuyệt đại đa số nhân dân lao động

Trang 38

Trong xã hội tư bản, “tự do, bình đẳng, bác ái” trở thành những giá trị tượng trưng cho trình độ văn minh tiến bộ của nhân loại, tuy nhiên đã bị giai cấp tư sản lợi dụng để bảo vệ đặc quyền, đặc lợi của họ Trên phương diện kinh tế, giai cấp tư sản cho rằng, bình đẳng là ai cũng có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu tài sản Quan niệm đó không bao hàm sự cần thiết phải thủ tiêu giai cấp bóc lột, chế độ bóc lột và sự bất bình đẳng Điều này lý giải tại sao, trong xã hội tư bản, không thể có bình đẳng dành cho người lao động vì vẫn còn tồn tại tình trạng không bình đẳng trong quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất - cơ sở của sự bóc lột giai cấp, áp bức dân tộc, đặc quyền, đặc lợi và bất bình đẳng trong xã hội

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, bình đẳng là một sản phẩm mang tính lịch sử, phụ thuộc vào điều kiện xã hội - lịch sử nhất định, là một nguyên tắc xã hội khẳng định con người, cộng đồng người có giá trị như nhau, cần tôn trọng và được tôn trọng như sau Bình đẳng thể hiện trong nhiều mối quan hệ: giữa người với người, nhóm xã hội này với nhóm xã hội khác, dân tộc này với dân tộc khác, quốc gia này với quốc gia khác, v.v.; trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và trong mối quan hệ giữa quyền lợi - nghĩa vụ, cống hiến - hưởng thụ Bình đẳng là kết quả của quá trình đấu tranh lâu dài và phát triển cùng với sự phát triển lịch sử - xã hội Để có bình đẳng hoàn toàn trên thực tế phải xoá bỏ tận gốc mọi sự áp bức, bóc lột và xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới

Hồ Chí Minh quan niệm: bình đẳng là “bình quyền” Đó là quyền của mỗi người dân được sống, tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc; bình đẳng gắn liền với chế độ dân chủ và đối lập với “bất bình đẳng”, mọi sự bất bình đẳng đều phải xoá bỏ; bình đẳng luôn gắn với độc lập, tự do, hạnh phúc, là “bình đẳng thật” chứ không phải “bình đẳng giả dối” của đế quốc, thực dân

Từ những quan niệm trên, tác giả cho rằng: Bình đẳng là nhu cầu tự nhiên của con người được đối xử ngang nhau về quyền lợi và nghĩa vụ trước pháp luật, về cơ hội và điều kiện phát triển trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, không phân biệt thành phần, địa vị xã hội và từng bước được hiện thực hoá trên thực tế

2.1.4 Khái niệm tương trợ

Emile Durkheim - nhà xã hội học người Pháp - là người đi tiên phong trong luận giải nội hàm của khái niệm tương trợ từ góc độ khoa học Người với người sống trong xã hội thì tương trợ là điều dĩ nhiên, là điều cần thiết cho sự trường tồn

và sinh hoạt thuận hòa của xã hội Tương trợ giống như một chất keo xã hội, gắn kết các thành viên trong xã hội với nhau Durkheim đã phân biệt tương trợ máy móc

và tương trợ cấu trúc

Trang 39

Về tương trợ máy móc, Durkheim cho rằng, trong những xã hội cổ truyền, ít phân công, một người có thể đảm đương nhiều vai trò Tổ chức cộng đồng còn dựa trên sự liên hệ giữa cá nhân với cá nhân, có yếu tố tình cảm, ít nhất là ý thức cùng là thành viên của cộng đồng Thí dụ như một họ tộc, người này phải giúp người kia Tương trợ là một bổn phận

Về tương trợ cấu trúc, các xã hội công nghiệp được cấu trúc dựa trên những phân công rõ ràng Mỗi cá nhân có một hay những vai trò cùng với chỗ đứng nhất định trong cấu trúc Ở đây quyền lợi đi đôi với nghĩa vụ Sự tương trợ là tương trợ

xã hội, được dự trù sẵn bởi cấu trúc tổ chức và sinh hoạt của xã hội Đặt trên lý, trên luật chứ không trên tình

Như vậy, có thể thấy, theo Emile Durkheim quan điểm “Máu chảy ruột mềm” hay “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng” thể hiện sự tương trợ máy móc Còn bảo hiểm xã hội, trợ cấp bệnh tật, trợ cấp thất nghiệp, v.v., là những hình thức tương trợ cấu trúc Tất cả cộng đồng đều chung sức đóng góp cho người có nhu cầu chứ không đích danh A hay B phải giúp X hay Y Đóng góp là đóng góp qua thuế hay đóng vào các quĩ bảo hiểm

Tương trợ bao hàm ý nghĩa liên hệ, có vay có trả - có đi có lại, hai chiều - Giúp người hôm nay vì khi ta cần sẽ có người giúp ta Như tương trợ giữa các thế

hệ, tương trợ vùng miền, giữa các dân tộc Do đó, thực chất của tương trợ chính là

sự giúp đỡ lẫn nhau, cùng phát triển và có lợi cho nhau để hướng tới các giá trị tự

do, hạnh phúc

Đối với lịch sử dân tộc Việt Nam, tương trợ là giá trị truyền thống thể hiện đạo

lí dân tộc, phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam, đồng thời cũng mang tính nhân loại Những con người có lương tri bao giờ cũng muốn sống gắn bó với nhau, cùng nhau “chia ngọt sẻ bùi” Đây chính là bản chất lương thiện và bản chất xã hội của con người, tạo nên cộng đồng dân tộc và cộng đồng thế giới

Có lẽ, hơn bất cứ dân tộc nào trên thế giới, dân tộc Việt Nam từ bao đời nay, luôn luôn phải chiến đấu chống thù trong, giặc ngoài; đấu tranh với thiên tai khắc nghiệt, nên tinh thần tương thân, tương trợ trở thành phẩm chất tiêu biểu của con người Việt Nam, trở thành đặc trưng bản sắc văn hóa Việt Nam và hơn thế nữa, nó

là yêu cầu tất yếu để dân tộc và đất nước Việt Nam tồn tại và phát triển Truyền thống tương trợ không chỉ được biểu hiện ở tình yêu thương, đùm bọc, cảm thông với nhau trong những lúc khó khăn, hoạn nạn Đồng thời, còn là tinh thần biết vui với niềm vui chính đáng của người khác, biết coi thắng lợi và hạnh phúc của người khác như thắng lợi và hạnh phúc của chính mình Do vậy, lòng tương thân, tương trợ mới trở nên toàn vẹn và sâu sắc

Trang 40

Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi đề cập đến khái niệm tương trợ, Người cho rằng, biểu hiện cao nhất của sự đoàn kết, bình đẳng chính là sự tương trợ Tương trợ, giúp nhau để không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc, nhằm thực hiện đầy đủ quyền bình đẳng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình Hồ Chí Minh đã chiến đấu hết mình cho lý tưởng tốt đẹp này của dân tộc, với mong muốn các dân tộc đa số hay thiểu số phải coi nhau như anh em ruột thịt, no đói sướng khổ có nhau, phải yêu thương nhau, giúp đỡ nhau để cùng phát triển

2.2 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc

2.2.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về đoàn kết giữa các dân tộc

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết các dân tộc là hệ quả của sự hình thành một nhân sinh quan chính trị, tầm nhìn nhân văn sâu sắc của một trái tim yêu nước thương nòi Đó còn là hệ thống những quan điểm sâu sắc và toàn diện về mối quan

hệ dân tộc theo tinh thần giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển, thực hiện quyền bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, phát huy tiềm năng thế mạnh của khu vực dân tộc miền núi, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, cùng nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, giàu mạnh và văn minh Hồ Chí Minh luôn kêu gọi các dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam phải đoàn kết chặt chẽ với nhau trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Với tư duy ấy, Người đã luận giải về đoàn kết các dân tộc trên những khía cạnh cơ bản sau:

Thứ nhất, đoàn kết giữa các dân tộc sẽ tạo nên sức mạnh của dân tộc

Khái quát lịch sử nhân loại, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa quần chúng nhân dân và vĩ nhân, lãnh tụ Sự phát triển của xã hội cũng như các phong trào cách mạng không thể thành công nếu thiếu vai trò của các cá nhân lãnh tụ kiệt xuất; ngược lại, không thể có lịch sử nếu không có sự tham gia của đông đảo quần chúng Lịch sử dựng nước và giữ nước ở Việt Nam cũng đã khẳng định chân lý ấy

Từ thực tế lịch sử dân tộc, Hồ Chí Minh đúc kết: “Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn” [63, tr.256] Tinh thần này được Người đề cập một cách nhất quán, xuyên suốt: Một dân tộc biết đoàn kết là một dân tộc biết phát huy nội lực, phát huy sức mạnh của chính mình Ở nước ta, các thế lực thù địch luôn tìm cách chia rẽ các dân tộc để dễ bề cai trị Chúng hiểu rất rõ đoàn kết giữa các dân tộc

sẽ tạo nên sức mạnh cho nhân dân Việt Nam, thế nên chúng luôn tìm cách phá hoại, kích động sự thù hằn, hiềm khích giữa các dân tộc để làm suy yếu sức mạnh, từ đó

Ngày đăng: 05/01/2019, 15:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w