Ở Việt Nam, trong những năm qua, đã có một số nhà nghiên cứu quan tâm đến trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được chăm sóc, nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội, kết quả nghiên cứu của họ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THỊ HƯƠNG THƠ
RỐI LOẠN HÀNH VI Ở TRẺ VỊ THÀNH NIÊN SỐNG TRONG CƠ SỞ BẢO TRỢ XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THỊ HƯƠNG THƠ
RỐI LOẠN HÀNH VI Ở TRẺ VỊ THÀNH NIÊN SỐNG TRONG CƠ SỞ BẢO TRỢ XÃ HỘI
CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC
MÃ SỐ: 60 31 04 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Bá Đạt
Hà Nội - 2017
Trang 3MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 6
1.2 Những khái niệm cơ bản của đề tài 13
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội 22
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ QUY TRÌNH TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 25
2.1 Mô tả phương pháp nghiên cứu đề tài 25
2.3 Quy trình tổ chức nghiên cứu 32
2.4 Đạo đức nghiên cứu 40
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN 42
3.1 Thực trạng rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên 42
3.2 Tương quan giữa các thành tố trong biểu hiện rối loạn hành vi 55
3.3 Tương quan giữa biểu hiện rối loạn hành vi và các yếu ảnh hưởng góp phần làm tăng rối loạn hành vi ở trẻ 56
3.4 Tương quan giữa rối loạn hành vi và các yếu tố bảo vệ 59
3.5 Ảnh hưởng của sự tương trợ lẫn nhau, khó khăn trong giao tiếp, tâm trạng buồn chán, hành vi bắt nạt đến rối loạn hành vi ở trẻ 62
3.6 Một số chân dung lâm sàng điển hình 64
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phần lớn chúng ta được sinh ra và lớn lên dưới mái ấm gia đình, có đủ cha
mẹ, anh chị em Tuy nhiên, vẫn có nhiều trẻ em thiếu đi may mắn đó Năm 2007,
Bộ LĐ-TBXH ước tính có trên 2,6 triệu trẻ em Việt Nam sống trong hoàn cảnh
“đặc biệt”, chiếm 9% trong tổng số 30,2 triệu trẻ em Con số này bao gồm 1,2 triệu trẻ khuyết tật; 168.000 trẻ mồ côi và trẻ bị cha mẹ bỏ rơi, 27.000 trẻ phải làm việc
và 3.000 trẻ em đường phố Bộ LĐ-TBXH báo cáo thống kê có khoảng trên 14.000 trẻ sống trong các cơ sở bảo trợ của Nhà nước Một phần trong số các em được nuôi dưỡng trong cơ sở bảo trợ xã hội [6]
Nghiên cứu của các tác giả trên thế giới chỉ ra rằng, trẻ em sống trong cơ sở bảo trợ xã hội có nguy cơ rối loạn cảm xúc và hành vi Suzuki và Tomoda (2015) nhận định, trẻ em sống trong các cơ sở bảo trợ xã hội là những trẻ dễ bị tổn thương bởi các em đã trải qua nhiều tình huống căng thẳng trước khi vào sống trong cơ sở bảo trợ Những căng thẳng trước đó được xác định là những yếu tố nguy cơ khiến cho trẻ gặp những khó khăn về cảm xúc và hành vi trong thời điểm hiện tại và tương lai Nghiên cứu của Jozefiak và cộng sự (2016); Schmid, Goldbeck, Nuetzel,
và Fegert (2008) đã chỉ ra tỷ lệ và nguy cơ mắc phải những rối loạn cảm xúc và hành vi ở trẻ em và trẻ vị thành niên sống trong các cơ sở bảo trợ xã hội
Ở Việt Nam, trong những năm qua, đã có một số nhà nghiên cứu quan tâm đến trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được chăm sóc, nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội, kết quả nghiên cứu của họ chỉ ra rằng, trẻ em sống trong các cơ sở bảo trợ xã hội có nguy cơ rối nhiễu tâm lý cao hơn sơ với trẻ em sống cùng gia đình tại cộng đồng (Hoàng Tú Anh và cộng sự, 2014); có sự khách biệt nhất định trong việc
tự đánh giá giữa trẻ em sống ở các trung tâm bảo trợ xã hội và nhóm trẻ em sống cùng gia đình (Bùi Hồng Quân, 2014)
Mặc dù đã có những tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về trẻ em sống trong cơ sở bảo trợ xã hội, nhưng những khoảng trống trong nghiên cứu về hành vi
Trang 5ứng xử, rối loạn cảm xúc, hành vi, sang chấn tâm lý của trẻ,… cần được nghiên cứu
để mang lại sự hiểu biết cho chúng ta về nhóm trẻ này
Thực tiễn cho thấy, trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và bảo vệ trẻ em sống trong các cơ sở bảo trợ xã hội gặp không ít khó khăn Các cán bộ bảo mẫu, chăm sóc, giáo dục chưa thực sự hiểu và lý giải được những hành vi ứng xử của trẻ, khiến cho mối quan hệ giữa cán bộ bảo mẫu, chăm sóc, giáo dục và trẻ trở nên căng thẳng và xa cách
Trước bối cảnh như vậy, việc nghiên cứu sâu, có tính hệ thống và được thực hiện một cách bài bản về tâm lý, hành vi ứng xử và cuộc sống của trẻ em sống trong
cơ sở bảo trợ xã hội là rất cần thiết, mang lại sự hiểu biết về trẻ, góp phần cải thiện công tác chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ tại các cơ sở bảo trợ xã hội Vì vậy, vấn đề:
“Rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội” được
chúng tôi lựa chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu là khảo sát thực trạng rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội nhằm chỉ ra mức độ và các yếu tố liên quan làm tăng hoặc giảm rối loạn này Từ đó đề xuất những kiến nghị phòng ngừa rối loạn hành vi, góp phần nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em
có hoàn cảnh khó khăn sống trong các cở sở bảo trợ xã hội
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận
Tổng quan một số nghiên cứu liên quan của các tác giả trong và ngoài nước
về rối loạn hành vi ở trẻ em đang được nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội
Xây dựng cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên đang được nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội: khái niệm rối loạn hành
vi, biểu hiện rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên
Trang 6Xác định các yếu tố ảnh hưởng góp phần làm tăng, giảm nhẹ rối loạn hành vi
ở trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội
Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn
Khảo sát thực trạng rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên đang được nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội hiện nay
Đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao công tác phòng ngừa, can thiệp rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội
4 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mức độ và các hình thức biểu hiện rối loạn hành vi; các yếu tố ảnh hưởng góp phần làm tăng và các yếu tố bảo vệ góp phần làm giảm rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội
5 Giới hạn nghiên cứu
5.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu một số nội dung sau: (1) Đặc điểm và hình thức biểu hiện rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đang sống trong các cơ sở bảo trợ xã hội; (2) Các yếu tố nguy cơ như hành vi bắt nạt, tâm trạng buồn chán, cảm nhận tiêu cực về gia đình, khó khăn trong giao tiếp của trẻ góp phần làm tăng rối loạn hành vi; (3) Các yếu tố bảo vệ như sự tương trợ lẫn nhau, mối liên hệ với gia đình gốc, số bạn bè thân, các hoạt động văn thể diễn ra trong cơ sở làm giảm rối loạn hành vi ở trẻ
5.2 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu gồm có: Làng trẻ em SOS Hà Nội, thuộc hệ thống Làng SOS Việt Nam có chức năng chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em mồ côi – mất nguồn nuôi dưỡng; Làng trẻ em Birla Hà Nội trực thuộc sở Lao động, Thương bình và Xã hội Hà Nội Làng trẻ em Birla có chức năng đón và nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của thành phố Hà Nội
5.3 Giới hạn về khách thể nghiên cứu
Trang 7Khách thể nghiên cứu là 149 trẻ vị thành niên, trong đó 78 em đang được nuôi dưỡng tại Làng trẻ em SOS Hà Nội, 71 em đang được nuôi dưỡng tại Làng trẻ
em Birla Hà Nội trực thuộc Sở Lao động – Thương binh – Xã hội của thành phố Hà Nội
6 Câu hỏi nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung trả lời một số câu hỏi sau đây: (1) Có hay không rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên đang sống trong cơ sở bảo trợ xã hội?
(2) Những biểu hiện rối loạn hành vi nổi bật nhất xét trên từng khía cạnh: hành vi gây hấn và hành vi sai phạm ở nhóm trẻ vị thành niên đang sống trong cơ sở bảo trợ xã hội?
(3) Những yếu tố ảnh hưởng nào tham gia vào việc làm tăng và giảm mức
độ rối loạn hành vi ở vị thành niên đang sống trong cơ sở bảo trợ xã hội?
7 Giả thiết nghiên cứu
(1) Trẻ vị thành niên đang sống trong cơ sở bảo trợ xã hội có biểu hiện rối
loạn hành vi thể hiện trên khía cạnh hành vi gây hấn và hành vi sai phạm
(2) Biểu hiện rối loạn hành vi nổi bật nhất ở trẻ vị thành niên đang sống trong cơ sở bảo trợ xã hội là: nói tục, chửi bậy, cãi cọ, cáu giận
(3) Các yếu tố ảnh hưởng góp phần làm tăng rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên đang sống trong cơ sở bảo trợ xã hội là sự thiếu hụt về kỹ năng giao tiếp, tâm trạng buồn chán, cảm nhận và suy nghĩ tiêu cực về hoàn cảnh gia đình, hiện tượng
bắt nạt lẫn nhau, trong đó tâm trạng buồn chán là yếu tố nổi bật nhất Mặt khác, sự
tương trợ lẫn nhau, số bạn thân, số lần chơi với bạn thân trong một tuần, hoạt động đoàn thể trong cơ sở bảo trợ, việc liên hệ với gia đình là yếu tố bảo vệ giúp giảm rối
loạn hành vi của trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội với yếu tố sự tương trợ lẫn nhau là nổi bật hơn cả
8 Phương pháp nghiên cứu
Trang 8Căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu (xem thêm ở chương II)
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp này được sử dụng nhằm khái quát hóa những tài liệu, công trình nghiên cứu liên quan, phục vụ cho việc xây dựng cơ sở lý luận của đề tài và hệ thống hóa lý thuyết và xây dựng khung lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, thang đo
Phương pháp này sẽ chỉ ra các biểu hiện, mức độ của hành vi sai phạm và hành vi gây hấn, từ đó tìm ra các yếu tố ảnh hưởng dẫn đến rối loạn hành vi và các yếu tố bảo vệ giúp giảm rối loạn hành vi ở trẻ
Phương pháp phỏng vấn sâu
Chúng tôi thực hiện phỏng vấn sâu một số trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội để thu thập thêm thông tin, phục vụ cho nghiên cứu
Phương pháp thảo luận nhóm
Thảo luận với nhóm trẻ vị thành niên và nhóm các mẹ, các dì; mỗi nhóm khoảng
15 người Mục đích của phương pháp này là tìm hiểu các khó khăn trẻ gặp phải và các biểu hiện hành vi của trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội
Phương pháp phân tích, thống kê (toán học)
Xử lý thang đo: độ tin cậy, độ hiệu lực, phân tích nhân tố và xử lý kết quả nghiên cứu Kết quả thu được từ bảng hỏi và thang đo được xử lý bằng phần mềm SPSS, trong đó sử dụng các phép thống kê mô tả (điểm trung bình, tỷ lệ phần trăm) và thống kê suy luận (kiểm định ANOVA,T-test, phép so sánh tương quan, hồi quy)
Trang 9Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên là một trong những chủ đề thu hút nhiều
sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà tâm lý học lâm sàng, tâm bệnh học, tâm thần học, cơng tác xã hội trên thế giới và Việt Nam Các nghiên cứu của họ xoay quanh vấn đề nguồn gốc, các hình thức biểu hiện, các yếu tố củng cố, duy trì và các liệu pháp can thiệp Dưới đây là một số kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngồi nước về rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên nĩi chung, trẻ vị thành niên sống
trong các cơ sở bảo trợ nĩi riêng
1.1.1 Một số nghiên cứu ở nước ngồi về rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên
Vấn đề nguồn gốc và các yếu tố củng cố và duy trì rối loạn hành vi ở trẻ em, trẻ vị thành niên là những chủ đề thu hút được nhiều nhà nghiên cứu với những hướng tiếp cận khác nhau Crowe R (1974) nhận thấy, hành vi chống đối xã hội của những trẻ được nhận làm con nuơi cĩ thể được di truyền từ cha mẹ, bởi khi tách những đứa trẻ này ra khỏi gia đình gốc được nuơi dưỡng ở những gia đình nhận nuơi chúng vẫn cĩ xu hướng bộc lộ hành vi gây hấn cao hơn những trẻ khác [18] Zoë Prichard (2008) lại đưa ra nhận định khơng cĩ sự tương tác giữa gen MAO và hành vi chống đối xã hội ở trẻ em [24] Ferguson và cs (2009), dựa vào kết quả phân tích đa biến đã chỉ ra sự ảnh hưởng của mơi trường gia đình, bạn bè, trầm cảm
và phương tiện truyền thơng đối với hành vi gây hấn, bạo lực ở thanh thiếu niên [19] Anjali Subbarao và cs (2008) nghiên cứu về sự ảnh hưởng của gen và mơi trường sống đối với rối loạn trầm cảm điển hình và rối loạn hành vi ở trẻ [17] Những nghiên cứu gần đây về vấn đề nguồn gốc rối loạn hành vi ở trẻ em và trẻ vị thành niên chỉ ra sự tác động tương hỗ giữa các yếu tố sinh học, tâm lý và mơi trường sống Các yếu tố này đều cĩ thể đĩng vai trị nguồn gốc hoặc làm gia tăng rối loạn hành vi ở trẻ
Trang 101.1.2 Một số nghiên cứu ở nước ngoài về trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo
Bảng số liệu dưới đây tổng hợp kết quả nghiên cứu những khó khăn tâm lý ở trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội Kết quả đánh giá bằng thang đo SDQ cho thấy, nhóm trẻ em sống trong cơ sở nội trú có điểm trung bình chung khó khăn tâm lý là M = 14,27, SD = 5,62; nhóm trẻ thỉnh thoảng được đưa vào sống trong các cơ sở nội trú sống: M = 16,33, SD = 4,52; nhóm trẻ sống ở nhà xã hội tại cộng đồng: M = 13,83, SD = 6,96; nhóm trẻ được các gia đình nhận nuôi: M = 14,46, SD = 5,74; sự khác nhau về điểm trung bình chung khó khăn tâm lý giữa các nhóm trẻ có ý nghĩa thống kê (Janssens và Deboutte, 2009)
Kết quả đánh giá khó khăn tâm lý bằng bảng kiểm hành vi (CBCL) cho thấy, gần 2/3 số trẻ được nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội thuộc mẫu khảo sát
có rối loạn tâm lý (Jozefiak và cs., 2016; Schmid và cs., 2008 [21]) Khi so sánh nhóm trẻ được nuôi dưỡng ở các cơ sở nội trú với nhóm trẻ được các gia đình nhận
Trang 11nuôi, các tác giả phát hiện ra rằng tỷ lệ trẻ em sống trong các cơ sở nội trú bị rối loạn tâm lý cao hơn so với nhóm trẻ được các gia đình nhận nuôi Tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội (cở sở nội trú, được các gia đình nhận nuôi) bị rối loạn tâm lý cao gấp ba lần so với nhóm
em sống với cha mẹ tại cộng đồng không có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (Bronsard
và cs., 2011) Kết quả nghiên cứu này tương đồng với kết quả nghiên cứu của Ford, Vostanis, Meltzer và Goodman (2007)
Bảng 1 Tổng hợp kết quả các đánh giá về khó khăn tâm lý ở trẻ em
sống trong các cơ sở bảo trợ xã hội
Tác giả Mẫu khảo sát
Số lượng (N)
Trẻ em bị rối loạn tâm lý (%)
Công cụ khảo sát
Chẩn đoán theo ICD/ DSM Hukkanen
và cs., 1999
Trẻ em sống trong khu nội trú 91 59 %
ở cơ sở nội trú
SDQ, CBCL và YSR
Không
Bronsard và
cs., 2011
Trẻ em sống ở các cở sở nội trú 183 48,6 %
Bảng hỏi cấu trúc đánh giá rối loạn tâm lý trẻ em
CBCL, DSM – IV
- R
Có
Trang 121.1.3 Một số nghiên cứu ở nước ngoài về rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên
sống trong cơ sở bảo trợ xã hội
Nghiên cứu của Jozefiak và cs (2016) chỉ ra rằng, tăng động giảm chú ý có tỷ lệ mắc phải cao nhất ở trẻ em với 33,1%; tiếp đến là rối loạn lo âu với 24,4 %; trầm cảm có tỷ lệ mắc phải là 22,7% và tỷ lệ này ở ám sợ xã hội là 13,7% Một nghiên cứu khác cho thấy, 20% trẻ em có triệu chứng rối loạn hành vi; 12% có dấu hiệu thách thức, chống đối; 11% trẻ em bộc lộ sự thiếu tập trung, tỷ lệ trẻ có dấu hiệu lo
âu là 18%, trầm cảm có tỷ lệ mắc phải 11% và 4% trẻ có dấu hiệu bị tổn thương tâm
lý sau sang chấn (Bronsard và cs., 2016)
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được các gia đình nhận nuôi hoặc được nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội còn gặp khó khăn học đường Khoảng
62 % trẻ em trong mẫu khảo sát có ít nhất một khó khăn học đường, điển hình đó là các hành vi bạo lực học đường, từ chối tham gia các hoạt động diễn ra trong trường (Attar-Schwartz, 2009)
Những khó khăn tâm lý trên có xu hướng kết hợp, đan xen, quyện vào nhau, biểu hiện bên ngoài của đứa trẻ có thể là những hành vi chống đối, phá phách, vi phạm kỷ luật, bên trong là một sự lo lắng, sợ hãi và buồn rầu (Jozefiak và cs., 2016)
Bên cạnh đó, theo Thompson và Auslander (2007), hoàn cảnh kinh tế khó khăn, mối quan hệ phức tạp của trẻ với bạn bè trước đó có mối liên hệ với rối loạn hành vi sau khi trẻ được nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội
Như vậy, các nghiên cứu đã chỉ ra, trẻ em được nuôi dưỡng trong cơ sở bảo trợ xã hội có khó khăn tâm lý, trong đó có rối loạn hành vi - vấn đề mà nghiên cứu đang quan tâm
Trước thực trạng này, một câu hỏi được đặt ra với các nhà nghiên cứu: Điều
gì có thể giúp trẻ em đang được nuôi dưỡng trong cơ sở bảo trợ xã hội tránh/ giảm thiểu các khó khăn tâm lý nói chung và rối loạn hành vi nói riêng?
Trang 131.1.4 Một số nghiên cứu ở nước ngoài về những yếu tố góp phần làm tăng /
giảm rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội
Một số nghiên cứu sau này đã chỉ ra những yếu tố bảo vệ, giúp cho trẻ em và thanh thiếu niên bị ngược đãi phục hồi sức khỏe tâm thần, tránh được những khó khăn tâm lý sau khi các em được đưa vào nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội, đó
là môi trường sống an toàn, mối quan hệ thân thiện với cán bộ chăm sóc (Drapeau, Saint-Jacques, Lepine, Begin và Bernard, 2007) Sống trong cơ sở nội trú có đầy đủ trang thiết bị, chế độ dinh dưỡng đảm bảo, các cán bộ chăm sóc được đào tạo bài bản, hiểu được hoàn cảnh của trẻ giúp cho sự hình thành và phát triển tình cảm gắn
bó với mọi người xung quanh, từ đó sự phục hồi sức khỏe diễn ra nhanh hơn (DuMont, Widom và Czaja, 2007) Khi trẻ em và thanh thiếu niên được nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội, các cán bộ chăm sóc, nhân viên công tác xã hội được đào tạo và có kinh nghiệm để đáp ứng nhu cầu của trẻ, giúp các em tháo gỡ những vấn đề khó khăn (Kohlenberg và cs., 2002) Lòng tự trọng, chiến lược ứng phó với các sự kiện gây căng thẳng là các yếu tố mang tính cá nhân, giúp trẻ tránh được những hành vi xâm kích, lo âu (Legault, Anawati & Flynn, 2006)
Nghiên cứu của Guibord, Bell, Romano và Rouillard (2011) trên 122 thanh thiếu niên từ 12 – 15 tuổi, được chăm sóc và nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội ở Ontario, Canada chỉ ra rằng: mối quan hệ thân thiện với những cô bảo mẫu giúp thanh thiếu niên giảm triệu chứng trầm cảm Họ giúp thanh thiếu niên nhanh chóng thích ứng với môi trường sống mới; giáo dục các em những giá trị và kỹ năng sống giúp các em ứng phó với những khó khăn nảy sinh trong cuộc sống tập thể tại trung tâm Kết quả nghiên cứu còn khẳng định rằng, sự tham gia vào các hoạt động ngoại khóa giúp trẻ phát triển ý thức tự lực và các kỹ năng sống để đương đầu tốt hơn với những thách thức trong cuộc sống khi các em rời khỏi trung tâm, bước vào cuộc sống độc lập
Sử dụng số liệu từ nghiên cứu của Hàn Quốc về trẻ em được chăm sóc ngoài gia đình, nghiên cứu này xem xét tác động của đặc điểm của nơi chăm sóc/nuôi dưỡng
Trang 14Mẫu được chia làm 3 nhóm dựa trên nơi trẻ được chăm sóc, bao gồm: trung tâm/cô nhi viện (số lượng 118), ở theo nhóm tại nhà (95) và bố mẹ nuôi (212) Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính cho thấy thời gian trẻ được chăm sóc ngoài gia đình ảnh hưởng một cách có ý nghĩa đến hành vi gây hấn với nhóm trẻ ở trung tâm/viện,
và giảm thời gian chăm sóc ngoài gia đình làm giảm mức độ hành vi gây hấn Nhận thức về sự kỳ thị/phân biệt cũng ảnh hưởng lên hành vi gây hấn của trẻ ở trung tâm/viện và bố mẹ nuôi Trẻ có nhận thức cao hơn về kỳ thị/phân biệt đối xử có xu hướng thể hiện hành vi gây hấn cao hơn trẻ khác Tuy vậy, đặc điểm của nơi sống không tác động lên hành vi của những trẻ ở theo nhóm tại nhà Kết quả nghiên cứu gợi ý rằng các vấn đề sức khỏe tâm thần ở trẻ và dạng khuyết tật mà trẻ có nên được xem xét trong quá trình phân bổ nơi ở và các can thiệp tập trung vào việc làm giảm
sự kỳ thị nên được đẩy mạnh và cung cấp cho trẻ được chăm sóc ngoài gia đình [22]
Một số nghiên cứu ở trong nước về rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên
Nghiên cứu “Một số biểu hiện rối nhiễu hành vi của học sinh cuối tuổi tiểu học”
của Dương Thị Diệu Hoa và Trịnh Thanh Trang (2011) đã tìm hiểu thực trạng rối nhiễu tâm lý trên 402 trẻ cuối bậc tiểu học tại 2 trường tiểu học tỉnh Kiên Giang Thông qua bộ câu hỏi trắc nhiệm CBCL - phiếu liệt kê hành vi trẻ em lứa tuổi 4-18 tuổi (bộ trắc nhiệm đã được chuẩn hóa và bước đầu được áp dụng để phát hiện, nhận dạng và phân loại những hành vi rối nhiễu tâm lý thường gặp ở trẻ em Việt Nam), hai tác giả đã chỉ ra được thực trạng rối nhiễu hành vi ở học sinh Tất cả 112 hành vi được phân thành 9 nhóm thể hiện mức rối nhiễu hành vi cần can thiệp Các rối nhiễu thường gặp ở trẻ là rối nhiễu hành vi và cảm xúc Để xử lý kết quả trắc nhiệm CBCL do trẻ tự ghi, nhóm nghiên cứu đã nhóm các biến theo khối lớp (lớp 4, lớp 5), theo địa bàn thành phố và nông thôn (tương ứng là trường Hồng Bàng và trường Thạnh Đông A), nhóm hành vi rối nhiễu (hướng nội, hướng ngoại) để tìm hiểu có sự khác nhau hay không về tỷ lệ rối nhiễu ở trẻ theo các tiêu chí trên Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, số em có rối nhiễu hành vi chiếm tỷ lệ khá cao: 96
Trang 15trẻ (chiếm tỷ lệ 23,9%) có biểu hiện rối nhiễu hành vi cần được can thiệp và 111 học sinh (chiếm tỷ lệ 27,6%) đang ở mức có nguy cơ rối nhiễu [5]
Nghiên cứu của GS Đặng Phương Kiệt (1999) trên 1.266 học sinh THPT khu vực
Hà Nội cho thấy có 9,24% khách thể (117 trẻ) có biểu hiện rối nhiễu hành vi; năm
2000, tác giả Nguyễn Công Khanh cùng các cộng sự nghiên cứu trên 503 học sinh THCS khu vực Hà Nội đã chỉ ra có 15% học sinh có khó khăn học đường hoặc rối nhiễu hành vi Bác sĩ Hoàng Cẩm Tú và các cộng sự cũng có công trình nghiên cứu trên 1.525 trẻ em và trẻ vị thành niên, chỉ ra 19,67% trẻ có rối nhiễu hành vi Năm
2004, tác giả Bùi Thị Thu Huyền nghiên cứu trên 157 học sinh THCS khu vực Nghĩa Tân Hà Nội, kết quả cho thấy có 19,74% trẻ có rối nhiễu; một nghiên cứu gần nhất của tác giả Vũ Thị Hồng (2006) trên 71 học sinh THCS thị xã Ninh Bình cũng cho thấy 23,9% trẻ có rối nhiễu hành vi và 21% trẻ có nguy cơ rối nhiễu hành
vi
Xem xét tỷ lệ trẻ rối nhiễu hành vi theo địa bàn, các tác giả đã chỉ ra: trẻ sống ở khu vực thành phố có tỷ lệ rối nhiễu hành vi cao hơn trẻ sống ở khu vực nông thôn (27,1% so với 20,6%) Đối chiếu với kết quả nghiên cứu của bác sĩ Nguyễn Thị Thơ
và bác sĩ Nguyễn Xuân Nguyên thuộc Trung tâm N-T nghiên cứu trên 1.351 bệnh
án điều trị ngoại trú tại phòng khám tâm lý trẻ em của bệnh viện Saint Paul 2004) với 81% bệnh nhân đến từ nội thành cho thấy, ở các địa bàn khác nhau thì tỷ
(1994-lệ cũng như mức độ rối nhiễu hành vi cũng khác nhau
Nghiên cứu “Hành vi bạo lực của cha mẹ và rối loạn hành vi ở học sinh Trung
học cơ sở” của tác giả Trần Thành Nam chỉ ra mối tương quan giữa hành vi bạo lực
của cha mẹ với các vấn đề rối loạn hành vi ở trẻ: cha mẹ càng sử dụng nhiều hành
vi ứng xử bạo lực thì con cái càng có nguy cơ rối loạn hành vi Các hành vi bạo lực xâm phạm cơ thể nghiêm trọng, hành vi sỉ nhục làm cho trẻ xấu hổ thường có tương quan cao nhất với các vấn đề hành vi của trẻ [13]
Như vậy, thông qua các nghiên cứu mà đề tài tiếp cận được, có thể thấy rằng rối loạn hành vi nói chung và rối loạn hành vi ở lứa tuổi vị thành niên nói riêng là vấn
Trang 16đề được nhiều người quan tâm Tuy nhiên, những nghiên cứu về rối loạn hành vi ở
trẻ em sống trong cơ sở bảo trợ xã hội là khá hiếm, đặc biệt rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội chưa từng được nghiên cứu trước đây
Do đó, chúng tôi quyết định lựa chọn “Rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên sống
trong cơ sở bảo trợ xã hội” làm đề tài nghiên cứu
Tổng quan một số nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước liên quan đến vấn
đề nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy, các tác giả trên thế giới có xu hướng nghiên cứu sự tác động tương hỗ giữa các yếu tố sinh học, tâm lý, môi trường sống đến sự hình thành và làm gia tăng rối loạn hành vi của trẻ em nói chung Các tác giả trong nước có xu hướng chỉ ra sự tác động của yếu tố môi trường sống, văn hóa xã hội tới rối loạn hành vi Chưa có nhiều công trình nghiên cứu về rối loạn hành vi ở nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, mất nguồn nuôi dưỡng, đang sống trong các
cơ sở bảo trợ xã hội, cũng không có nhiều các nghiên cứu trong nước về sự tác động của yếu tố gia đình gốc và môi trường sống tập trung trong các cơ sở bảo trợ xã hội đối với rối loạn hành vi ở nhóm trẻ em này, đây là một khoảng trống trong nghiên cứu về rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên Do vậy, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên đang sống trong cơ sở bảo trợ xã hội, bên cạnh
đó là sự ảnh hưởng của hoàn cảnh gia đình gốc, môi trường sống tập trung đến rối
loạn hành vi ở trẻ
1.2 Những khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Rối loạn hành vi
1.2.1.1 Khái niệm rối loạn hành vi
Rối loạn hành vi được Hiệp hội các Nhà tâm thần học Mỹ định nghĩa là những khuôn mẫu hành vi lặp đi lặp lại nhiều lần trong đó các quyền cơ bản của người khác, các chuẩn mực xã hội (phù hợp với lứa tuổi) hay các luật lệ bị vi phạm Những trẻ với rối loạn hành vi có tần suất cao các hành vi đánh nhau, tàn ác với động vật hoặc người khác, phá hoại tài sản, nghịch lửa, trộm cắp, thường xuyên nói dối, trốn học, bỏ nhà ra đi, thường xuyên trong trạng thái cáu kỉnh và có những
Trang 17hành vi thách thức bằng lời nói Những trẻ rối loạn hành vi hay vi phạm các mong đợi xã hội (độ tuổi phù hợp của trẻ); thường xuyên có những hành vi nghiêm trọng hơn so với hành vi tinh nghịch ở các bạn cùng tuổi hoặc có những hành vi mang tính nổi loạn chống đối với người lớn Ngoài ra, các biểu hiện này phải kéo dài liên tục trong sáu tháng thì mới đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán rối loạn hành vi [13]
Trong cuốn Từ điển Tâm lý học (2008), tác giả Nguyễn Quang Uẩn định nghĩa
“Rối loạn hành vi” như sau: Những hành vi của trẻ mang tính xâm hại, chống đối hay khiêu khích như: ăn cắp, lừa dối được lặp lại và kéo dài, vượt quá những hành
vi lệch chuẩn thông thường của trẻ em và thái độ nổi loạn của thiếu niên Những hành vi của trẻ ở mức độ cao có thể dẫn đến những vi phạm các chuẩn mực xã hội [10]
Các biểu hiện chính của rối loạn hành vi: hành xử hung tính với người khác và với động vật, phá hoại đồ đạc, tài sản, lừa dối hoặc ăn cắp, có những vi phạm nghiêm trọng nội quy, quy tắc chung
Các rối loạn hành vi cũng có thể là triệu chứng của các rối loạn tâm thần khác Trong một số trường hợp, rối loạn hành vi thường là sự khởi đầu của rối loạn nhân cách chống đối xã hội khi cá nhân đạt đến tuổi trưởng thành Rối loạn hành vi thường kết hợp với những môi trường tâm lý – xã hội bất lợi như: các mối quan hệ gia đình không tốt, thất bại trong học tập
Rối loạn hành vi là một trong những khó khăn tâm lý mà trẻ vị thành niên được nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội thường gặp phải Khó khăn tâm lý là một thuật ngữ chỉ những hành vi bất thường của cá nhân [8]
Trong phạm vi nội dung nghiên cứu của để tài, “rối loạn hành vi” được hiểu là: rối loạn hành vi khuôn mẫu hành vi lặp đi lặp lại nhiều lần trong đó các quyền cơ bản của người khác, các chuẩn mực xã hội (phù hợp với lứa tuổi) hay các luật lệ bị vi phạm Những trẻ với rối loạn hành vi có tần suất cao các hành vi đánh nhau, tàn ác với động vật hoặc người khác, phá hoại tài sản, nghịch lửa, trộm cắp, thường xuyên nói dối, trốn học, bỏ nhà ra đi, thường xuyên trong trạng thái cáu kỉnh và có những
Trang 18hành vi thách thức bằng lời nói Những trẻ rối loạn hành vi hay vi phạm các mong đợi xã hội (độ tuổi phù hợp của trẻ); thường xuyên có những hành vi nghiêm trọng hơn so với hành vi tinh nghịch ở các bạn cùng tuổi hoặc có những hành vi mang tính nổi loạn chống đối với người lớn Ngoài ra, các biểu hiện này phải kéo dài liên tục trong sáu tháng thì mới đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán rối loạn hành vi
Rối loạn hành vi còn được hiểu là một trong số những rối loạn tâm lý và các vấn đề sức khỏe tâm thần thường gặp ở trẻ vị thành niên Rối loạn hành vi thuộc nhóm các vấn đề hướng ngoại (các hành vi hướng ra bên ngoài, hướng đến người khác) Trong số các hình thức của rối loạn hành vi, nhóm nghiên cứu chúng tôi tập trung
vào hành vi gây hấn (hung tính) và hành vi sai phạm (vi phạm)
Hành vi gây hấn là những dạng lời nói hoặc hành động có chủ đích làm tổn thương, hại đến người khác hoặc vật khác Gây hấn có thể bao gồm: cãi cọ, bắt nạt, đòi được chú ý, phá đồ của mình / đồ của người khác, không nghe lời / vâng lời thầy cô / cha
mẹ, đánh nhau, la hét, bướng bỉnh, thay đổi cảm xúc nhanh chóng, hờn dỗi, đa nghi, trêu chọc người khác, dễ nổi khùng, dọa nạt / de dọa người khác, ồn ào quá mức Những biểu hiện này có thể có kế hoạch trước hoặc không có kế hoạch Mục đích của gây hấn có thể nhằm thể hiện sự bực tức hoặc thù địch, khẳng định chủ quyền, dọa nạt, thể hiện sự sở hữu, đáp trả lại sự sợ hãi hoặc đau đớn, ganh đua, v.v
Hành vi sai phạm có thể bao gồm: uống rượu, không hối lỗi, không theo quy định, chơi với trẻ hư, nói dối, chơi với trẻ lớn, bỏ nhà, nghịch lửa, vấn đề tình dục, lấy cắp ở nhà, lấy cắp nơi khác, nói tục / chửi, nghĩ nhiều về tình dục, hút thuốc lá, trốn học, sử dụng ma túy, làm hỏng đồ
1.2.1.2 Phân loại rối loạn hành vi
Theo Bảng phân loại bệnh Quốc tế về các bệnh tâm thần lần thứ 10 năm 1992 10) [14], rối loạn hành vi được chẩn đoán theo một số nhóm như sau:
(ICD-F66: Các rối loạn hành vi và tâm lý kết hợp với sự phát triển và định hướng giới tính
.0: Rối loạn về sự trưởng thành tình dục
Trang 19.1: Định hướng tình dục loạn trương lực bản thân
.2: Rối loạn quan hệ tình dục
.8: Các rối loạn phát triển tâm lí tình dục khác
.9: Rối loạn phát triển tâm lí tình dục không biệt định
F68: Các rối loạn khác về hành vi và nhân cách ở người thành niên
.0: Sự hình thành của những triệu chứng cơ thể vì những lý do tâm lý
.1: Dụng ý đưa ra hay giả tạo các triệu chứng hoặc rối loạn các hoạt
năng cơ thể hay tâm lý
.8: Các rối loạn biệt định khác về nhân cách và hành vi người thành
niên
F69: Rối loạn không biệt định về hành vi và nhân cách ở người thành niên
F90-F98: Các rối loạn hành vi và cảm xúc thường khởi phát ở tuổi trẻ em và thanh thiếu niên:
F90: Các rối loạn tăng động
.0: Rối loạn của hoạt động và chú ý
.1: Rối loạn hành vi tăng động
.8: Các rối loạn tăng động khác
.9: Các rối loạn tăng động không biệt định
F91: Các rối loạn hành vi
.0: Rối loạn hành vi trong môi trường gia đình
.1: Rối loạn hành vi ở những người kém thích ứng xã hội
.2: Rối loạn hành vi ở những người còn thích ứng xã hội
.3: Rối loạn thách thức chống đối
.8: Các rối loạn hành vi khác
.9: Rối loạn hành vi không biệt định
Trang 201.2.1.3 Biểu hiện của rối loạn hành vi
Thông thường, các biểu hiện rối loạn hành vi ở trẻ được tập hợp thành 4 nhóm như sau:
* Độc ác với người và động vật bao gồm:
(1) Hay bắt nạt, đe dọa, uy hiếp người khác;
(2) Hay gây sự đánh nhau;
(3) Sử dụng vũ khí có thể gây hại nghiêm trọng về thân thể cho người khác;
(4) Có hành vi độc ác về thân thể với người khác;
(6) có hành vi độc ác về thân thể với động vật; (5) Ăn cướp đối mặt với nạn nhân (ví dụ: cướp đoạt, giật túi tiền, tống tiền, ăn cướp có vũ khí);
(7) Cưỡng dâm
* Phá hoại tài sản (hành vi xâm hại gây tổn thất tài sản):
(8) Cố ý gây cháy với ý định gây hại nghiêm trọng;
(9) Cố ý phá hoại tài sản của người khác (bằng các hình thức khác ngoài gây cháy)
* Lừa đảo hay trộm cắp:
(10) Đập phá xông vào nhà hoặc đột nhập vào ô tô của người khác;
(11) Thường xuyên nói dối để nhận được đồ vật, ân huệ hoặc để tránh các nghĩa vụ (nghĩa là lừa gạt người khác);
(12) Ăn cắp những đồ vật có giá trị không lớn không đối mặt với nạn nhân (ví dụ: lấy cắp trong cửa hàng, giả mạo giấy tờ,…)
Trang 211.2.1.4 Chẩn đoán rối loạn hành vi
Bên cạnh đó, rối loạn hành vi cũng được chẩn đoán dựa theo Sổ tay thống kê và chẩn đoán các rối loạn tâm thần DSM-5 (ABA, 2013)
Để chẩn đoán rối loạn hành vi, trẻ cần có ít nhất 3 trong số 15 biểu hiện được nêu trên lặp đi lặp lại và kéo dài trong khoảng 12 tháng qua và có ít nhất một tiêu chuẩn tái diễn nhiều lần trong 6 tháng qua Mức độ rối loạn phải gây tổn hại trên các lĩnh vực hoạt động chức năng của cá nhân như lĩnh vực hoạt động xã hội, trong học tập hoặc trong gia đình Tuy nhiên, nếu những biểu hiện này xuất hiện ở người trên 18 tuổi, chúng ta sẽ xếp sang một dạng rối loạn khác đó là rối loạn nhân cách chống đối xã hội
1.2.2 Vị thành niên
1.2.2.1 Khái niệm vị thành niên
Về độ tuổi, theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), 10-19 tuổi là độ tuổi vị thành niên Trẻ vị thành niên là những người ở độ tuổi từ 10 đến 18 tuổi theo Pháp luật Việt Nam Tuổi vị thành niên là giai đoạn chuyển tiếp của sự tăng trưởng và phát triển từ cuối tuổi trẻ nhỏ đến bắt đầu tuổi trưởng thành Ở tuổi này, các em bắt đầu xây dựng bản sắc cá nhân, độc lập với cha mẹ [1]
1.2.2.2 Đặc điểm tâm sinh lý ở trẻ vị thành niên
Sự phát triển lứa tuổi vị thành niên gắn với giai đoạn "khủng hoảng" về sinh lý và tâm lý Lượng hormone trong cơ thể các em tăng mạnh nhất so với các lứa tuổi khác dẫn đến nhiều biến động cả về thể chất lẫn tinh thần Đây cũng là lứa tuổi đang đi tìm cho mình một lối sống riêng, thích làm người lớn, muốn khẳng định mình mạnh
mẽ Các em có xu hướng tìm kiếm các mối quan hệ xã hội ngoài gia đình để được thuộc về một nhóm nào đó, cụ thể là nhóm bạn bè
Sự thay đổi nhanh chóng và đột ngột mà trẻ vị thành niên trải qua khiến các em trở nên ý thức bản thân, e dè, nhạy cảm và lo lắng về sự thay đổi cơ thể mình Các em thường so sánh bản thân với các bạn đồng tuổi Vì sự thay đổi thể chất không diễn
Trang 22hình dáng và phối hợp thể chất Trong nhiều trường hợp, ở trẻ vị thành niên có thể xuất hiện các xung đột vì bố mẹ muốn kiểm soát, điều khiển con cái [11]
Đối với vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội, theo tôi, các em cũng không tránh khỏi những xung đột nêu trên Tuy nhiên, thay vì các em có sự xung đột với
bố mẹ đẻ, vị thành niên sống trong cơ sở xã hội cũng có những xung đột với người chăm sóc (các “mẹ”, các “dì”) Những xung đột có thể xảy ra trong “nhà” bao gồm: cách ăn mặc của trẻ, cách cư xử với các “anh chị em”, cách thực hiện công việc nhà,…
Trẻ vị thành niên dần tách khỏi cha mẹ để tìm và khẳng định bản sắc riêng, sự độc lập của bản thân nên bạn bè đồng trang lứa trở nên quan trọng hơn với các em Nhóm bạn có thể là nơi an toàn với trẻ vị thành niên bởi ở đó, các em có thể thử những ý tưởng mới
Ở giai đoạn đầu của tuổi vị thành niên, nhóm bạn thường là những trẻ có những hành vi giống nhau, cách ăn mặc giống nhau, có những bí mật chung và cùng thực hiện một số hoạt động Khi bước vào giai đoạn giữa và cuối tuổi vị thành niên, các
em bắt đầu có những mối quan hệ lãng mạn, yêu đương
1.2.3 Cơ sở bảo trợ xã hội
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan đưa ra các quy định về tiêu chuẩn
chăm sóc tại các cơ sở bảo trợ xã hội, bao gồm: đối tượng phục vụ của các cơ sở bảo trợ xã hội, tiêu chuẩn chăm sóc, quy trình tiếp nhận và chăm sóc đối tượng, tiêu chuẩn về y tế, vệ sinh, quần áo và dinh dưỡng, tiêu chuẩn về giáo dục và học nghề, tiêu chuẩn về văn hóa, thể thao và giải trí, các quyền của đối tượng trong cơ
sở bảo trợ xã hội, tiêu chuẩn về môi trường, khuôn viên và nhà ở, về quản lý hành chính [25]
1.2.4 Trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội
1.2.4.1 Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt sống trong cơ sở bảo trợ xã hội
Theo Luật trẻ em năm 2016, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em không đủ điều
kiện thực hiện được quyền sống, quyền được bảo vệ, quyền được chăm sóc, nuôi
Trang 23dưỡng, quyền học tập, cần có sự hỗ trợ, can thiệp đặc biệt của Nhà nước, gia đình
và xã hội để được an toàn, hòa nhập gia đình, cộng đồng
Điều 10 của Luật trẻ em (2016) cho biết trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm các
- Trẻ em phải bỏ học kiếm sống chưa hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở;
- Trẻ em bị tổn hại nghiêm trọng về thể chất và tinh thần do bị bạo lực;
1.2.4.2 Đặc điểm tâm lý của trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội
Trẻ em luôn là đối tượng đầu tiên bị ảnh hưởng trước những thay đổi lớn Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội (MOLISA) ước tính năm 2007 có hơn 2,5 triệu trẻ em sống trong “các hoàn cảnh đặc biệt,” chiếm gần 10% tổng số trẻ em trai và trẻ em gái ở Việt Nam Con số này bao gồm: 1,2 triệu trẻ khuyết tật; 300.000 trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV và AIDS, trong đó 4.720 trẻ nhiễm HIV; 168.000 trẻ mồ côi và trẻ
Trang 24không được cha mẹ đẻ nuôi nấng; 27.000 trẻ lao động; hơn 13.000 trẻ em đường phố; 20.000 trẻ sống trong các trung tâm xã hội; 3.800 trẻ sử dụng ma túy; và ít nhất
850 trẻ bị lạm dụng tình dục Các vấn đề như khai thác tình dục trẻ em vì mục đích thương mại và buôn bán trẻ em cũng ở mức độ nghiêm trọng song chưa có số liệu
cụ thể do không có nguồn số liệu đáng tin cậy [30]
Cho đến nay, đã có nhiều cơ sở bảo trợ xã hội với nhiều mô hình khác nhau
đã được thành lập để giúp đỡ các trẻ em khó khăn Trẻ vị thành niên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nói riêng là đối tượng cần được hỗ trợ và quan tâm hơn nữa Đề tài nghiên cứu của chúng tôi cũng đặc biệt lưu ý tới nhóm đối tượng này
Trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội vốn là những trẻ em xuất thân từ những gia đình có hoàn cảnh đặc biệt Do đó, nhóm trẻ em này có những đặc điểm tâm lý như sau:
Từ kết quả tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng ta có thể thấy tác giả Jozefiak và cs., (2016) chỉ ra rằng, trẻ em sống trong cơ sở bảo trợ xã hội có tâm lý
lo âu, có biểu hiện thiếu tập trung Tác giả Attar-Schwartz, (2009) chỉ ra hành vi bạo lực học đường ở trẻ Jozefiak và cs., (2016) cho biết nhóm trẻ này thường có có hành vi chống đối, phá phách, vi phạm kỷ luật, bên trong là một sự lo lắng, sợ hãi
và buồn rầu Tâm lý xấu hổ là một đặc điểm mà tác giả Trần Thành Nam tìm thấy ở nhóm trẻ em này
1.2.5 Rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội
Từ các khái niệm cơ bản của đề tài như: rối loạn hành vi, vị thành niên, cơ sở bảo trợ xã hội, “rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội”
được hiểu như sau: là khuôn mẫu hành vi lặp đi lặp lại nhiều lần trong đó các quyền cơ bản của người khác, các chuẩn mực xã hội (phù hợp với lứa tuổi từ 10-18 tuổi) hay các luật lệ trong cơ sở bảo trợ mà trẻ sinh sống bị vi phạm Những trẻ với rối loạn hành vi có tần xuất cao các hành vi đánh nhau, tàn ác với động vật hoặc người khác, phá hoại tài sản, nghịch lửa, trộm cắp, thường xuyên nói dối, trốn học,
bỏ nhà ra đi, thường xuyên trong trạng thái cáu kỉnh và có những hành vi thách
Trang 25thức bằng lời nói Những trẻ rối loạn hành vi hay vi phạm các mong đợi xã hội (độ tuổi từ 10-18 tuổi); thường xuyên có những hành vi nghiêm trọng hơn so với hành
vi tinh nghịch ở các bạn cùng tuổi hoặc có những hành vi mang tính nổi loạn chống đối với người lớn (mẹ / dì hoặc những người quản lý tại trung tâm) Ngoài ra, các biểu hiện này phải kéo dài liên tục trong sáu tháng thì mới đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán rối loạn hành vi
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên sống trong cơ
được nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội
Theo nghiên cứu của Hàn Quốc về trẻ em được chăm sóc ngoài gia đình, đặc điểm của nơi chăm sóc/nuôi dưỡng khác nhau có tác động lên hành vi gây hấn của trẻ Kết quả cho thấy thời gian trẻ được chăm sóc ngoài gia đình ảnh hưởng một cách có
ý nghĩa đến hành vi gây hấn với nhóm trẻ ở trung tâm/viện, và giảm thời gian chăm sóc ngoài gia đình làm giảm mức độ hành vi gây hấn Nhận thức về sự kỳ thị/phân biệt cũng ảnh hưởng lên hành vi gây hấn của trẻ ở trung tâm/viện và bố mẹ nuôi Trẻ có nhận thức cao hơn về kỳ thị/phân biệt đối xử có xu hướng thể hiện hành vi gây hấn cao hơn trẻ khác Tuy vậy, đặc điểm của nơi sống không tác động lên hành
vi của những trẻ ở theo nhóm tại nhà
Trong nghiên cứu này, chúng tôi xem xét một số yếu tố ảnh hưởng có thể
góp phần làm tăng rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội, bao gồm: Sự thiếu hụt về kỹ năng giao tiếp, tâm trạng buồn chán, cảm nhận và suy nghĩ tiêu cực về hoàn cảnh gia đình, hiện tượng bắt nạt lẫn nhau,
Trang 261.3.2 Các yếu tố bảo vệ giúp giảm rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên sống trong
cơ sở bảo trợ xã hội
Trong phần tổng quan, chúng tôi nhận thấy một số nghiên cứu khác chỉ ra những yếu tố bảo vệ, giúp cho trẻ em và thanh thiếu niên bị ngược đãi phục hồi sức khỏe tâm thần, tránh được những khó khăn tâm lý sau khi các em được đưa vào nuôi
dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội, đó là môi trường sống an toàn, mối quan hệ thân thiện với cán bộ chăm sóc (Drapeau, Saint-Jacques, Lepine, Begin và Bernard, 2007) Sống trong cơ sở nội trú có đầy đủ trang thiết bị, chế độ dinh dưỡng đảm bảo, các cán bộ chăm sóc được đào tạo bài bản, hiểu được hoàn cảnh của trẻ giúp cho sự hình thành và phát triển tình cảm gắn bó với mọi người xung quanh, từ đó
sự phục hồi sức khỏe diễn ra nhanh hơn (DuMont, Widom và Czaja, 2007) Khi trẻ
em và thanh thiếu niên được nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội, các cán bộ chăm sóc, nhân viên công tác xã hội được đào tạo và có kinh nghiệm để đáp ứng nhu cầu của trẻ, giúp các em tháo gỡ những vấn đề khó khăn (Kohlenberg và cs.,
2002) Lòng tự trọng, chiến lược ứng phó với các sự kiện gây căng thẳng là các yếu
tố mang tính cá nhân, giúp trẻ tránh được những hành vi xâm kích, lo âu (Legault, Anawati và Flynn, 2006)
Nghiên cứu của Guibord, Bell, Romano và Rouillard (2011) trên 122 thanh thiếu niên từ 12 – 15 tuổi, được chăm sóc và nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội ở
Ontario, Canada cũng chỉ ra rằng: mối quan hệ thân thiện với những cô bảo mẫu
giúp thanh thiếu niên giảm triệu chứng trầm cảm Họ giúp thanh thiếu niên nhanh chóng thích ứng với môi trường sống mới; giáo dục các em những giá trị và kỹ năng sống giúp các em ứng phó với những khó khăn nảy sinh trong cuộc sống tập thể tại
trung tâm Kết quả nghiên cứu còn khẳng định rằng, sự tham gia vào các hoạt động ngoại khóa giúp trẻ phát triển ý thức tự lực và các kỹ năng sống để đương đầu tốt
hơn với những thách thức trong cuộc sống khi các em rời khỏi trung tâm, bước vào cuộc sống độc lập
Có thể thấy, các yếu tố: môi trường sống an toàn, mối quan hệ thân thiện với cán bộ chăm sóc; cơ sở nội trú có đầy đủ trang thiết bị, chế độ dinh dưỡng đảm bảo, các
Trang 27cán bộ chăm sóc được đào tạo bài bản, hiểu được hoàn cảnh của trẻ giúp cho sự hình thành và phát triển tình cảm gắn bó với mọi người xung quanh; lòng tự trọng, chiến lược ứng phó với các sự kiện gây căng thẳng của trẻ và sự tham gia vào các hoạt động ngoại khóa được xem như các yếu tố bảo vệ góp phần giảm khó khăn
tâm lý ở trẻ em
Nghiên cứu của chúng tôi tìm hiểu các yếu tố bảo vệ giúp giảm rối loạn hành vi ở
trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội, bao gồm: sự tương trợ lẫn nhau, số bạn thân, số lần chơi với bạn thân trong một tuần, hoạt động đoàn thể trong cơ sở bảo trợ, việc liên hệ với gia đình
Như vậy, chương 1 của luận văn đã trình bày tổng quan vấn đề nghiên cứu, các khái niệm cơ bản của đề tài và chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng góp phần làm tăng / giảm rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội
Trang 28Chương 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ QUY TRÌNH TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1 Mô tả phương pháp nghiên cứu đề tài
2.1.1 Phương pháp quan sát
Chúng tôi quan sát thái độ trả lời phỏng vấn, cách ứng xử của trẻ với mẹ và anh chị
em trong "nhà" (tại Làng trẻ em SOS và làng trẻ em Birla), cách trẻ thực hiện các nhiệm vụ được mẹ phân công Mục đích của quan sát là tìm hiểu biểu hiện của (rối loạn) hành vi Các số liệu thu được được xem như nguồn tài liệu bổ trợ cho phương pháp điều tra bảng hỏi
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp này nhằm thu thập, tổng hợp, phân tích, đánh giá tài liệu từ các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam Kết quả của phương pháp này là bản đánh giá tổng quan và thực trạng vấn đề nghiên cứu, từ đó xây dựng và bổ sung hệ thống lý luận của đề tài Tôi đã đọc các công trình nghiên cứu khoa học, luận án, luận văn, sách, báo, tạp chí liên quan đến vấn đề nghiên cứu nêu trên ở Thư viện Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn; Thư viện Khoa Tâm lý học – Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn; Trung tâm nghiên cứu - ứng dụng khoa học tâm lý – giáo dục Hừng Đông… để phục vụ cho việc nghiên cứu
2.1.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, thang đo
Đây là phương pháp chính của đề tài nhằm thu thập những thông tin về thực trạng rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên đang được nuôi dưỡng trong cơ sở bảo trợ xã hội Chúng tôi tham khảo tài liệu, xây dựng bảng hỏi, tiến hành khảo sát dựa trên
Phiếu kiểm kê hành vi do trẻ tự đánh giá dành cho lứa tuổi từ 11-18 (YSR - VN) để
tìm hiểu và sàng lọc chung các vấn đề trẻ có thể mắc phải về tâm thần, tâm lý hoặc hành vi Chi tiết bảng hỏi được trình bày ở phần phụ lục
Trong thang đo YSR của tác giả Achenbach (1991) có 8 tiểu thang đo, bao gồm: Lo
âu / Trầm cảm; Thu mình / Trầm cảm; Phàn nàn về cơ thể; Vấn đề xã hội; Vấn đề
Trang 29với suy nghĩ; Vấn đề tập trung chú ý; Hành vi sai phạm (vi phạm); Hành vi gây hấn (hung tính) Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng các item liên quan tới khía cạnh Hành vi sai phạm (vi phạm) và Hành vi gây hấn (hung tính) Cụ thể:
11 item thuộc tiểu thanh đo hành vi sai phạm bao gồm:
(1) Em không tuân theo các quy định ở nhà, ở trường và các nơi khác
(2) Em chơi với bạn hay quấy rối
(3) Em hay nói dối hoặc gian lận
(4) Em thích chơi với bạn lớn tuổi hơn
(11) Em uống rượu, hoặc dùng chất gây nghiện
18 item thuộc tiểu thanh đo hành vi gây hấn bao gồm:
(1) Em hay cãi cọ, lý sự
(2) Em khoe khoang, khoác lác
(3) Em bắt nạt hoặc chơi xấu với bạn khác
(4) Em cố làm việc gì đó để gây sự chú ý
(5) Em phá huỷ đồ đạc của mình
(6) Em phá huỷ đồ đạc của người khác
(7 Em không vâng lời thầy cô
(8) Em hay ghen tức với người khác
Trang 30(9) Em hay đánh nhau với bạn
(10) Em gào thét quá nhiều
(11) Em khoác lác, làm trò hề
(12) Em hay bướng bỉnh
(13) Cảm xúc, tình cảm của em hay thay đổi đột ngột
(14) Em nói quá nhiều
(15) Em hay trêu chọc mọi người
(16) Em là người hay cáu giận
(17) Em đe doạ, đánh mọi người
(18) Em gây ồn ào
Bên cạnh đó, Thang đo những khó khăn về cảm xúc và hành vi (dành cho trẻ từ
6-18 tuổi) đã được xây dựng thêm để tiến hành khảo sát, thu thập thông tin
Chúng tôi xây dựng thang đo này dưới dạng thang đo Likert nhằm phát hiện, sàng lọc những trẻ em đang sống trong cơ sở bảo trợ xã hội có những khó khăn tâm lý
2.1.4 Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp này nhằm thu thập thông tin trực tiếp từ các trẻ vị thành niên đang được nuôi dưỡng trong cơ sở bảo trợ xã hội Nội dung phỏng vấn sâu nhằm khai thác thông tin về khách thể, thực trạng rối loạn hành vi
2.1.5 Phương pháp thảo luận nhóm
Phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng nhằm thu thập những kết quả nghiên cứu định tính về rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ
xã hội, đặc biệt những thông tin này được đưa ra không chỉ là ý kiến của một cá nhân mà là của một nhóm trẻ em, giúp chúng tôi dễ ràng hơn trong việc phân tích
và khái quát vấn đề nghiên cứu
Cụ thể, phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng trên nhóm các bà mẹ, bà dì và nhóm trẻ vị thành niên tại làng trẻ em SOS
Trang 312.1.6 Phương pháp phân tích, thống kê (toán học)
Từ số liệu thực tế thu được, chúng tôi sẽ tiến hành tổng hợp, phân tích kết quả thông qua phần mềm phổ biến Excel, phần mềm SPSS, sử dụng cách phép tính như tính tổng, tỷ lệ phần trăm, từ đó rút ra kết luận và so sánh với giải thuyết đưa ra ban đầu + Phương pháp thống kê toán học SPSS 21.0: Thống kê toán học thực hiện qua phân tích mô tả (các chỉ số bao gồm: tính điểm trung bình cộng, độ lệch chuẩn và chỉ số phần trăm của các phương án lựa chọn) và phân tích thống kê suy luận (bao gồm phân tích so sánh, phân tích tương quan nhị biến)
2.2 Mô tả về khách thể và địa bàn nghiên cứu
Mô tả về khách thể nghiên cứu
Số lượng khách thể: 149 trẻ vị thành niên sống trong Làng trẻ em SOS Hà Nội và
71 trẻ sống trong Làng trẻ em Birla Trẻ tham gia vào mẫu nghiên cứu trong độ tuổi
từ 11 đến 18 tuổi Độ tuổi trung bình là 14,3 Độ lệch chuẩn là 2,2
Bảng 2 Mô tả khách thể nghiên cứu của đề tài
Trang 32Địa bàn nghiên cứu
Cơ sở bảo trợ xã hội đầu tiên mà chúng tôi tiến hành nghiên cứu là Làng trẻ em SOS Đây là một tổ chức phi chính phủ giúp đỡ và bảo vệ trẻ mồ côi, lang thang, cơ nhỡ Tổ chức được thành lập năm 1949 bởi Hermann Gmeiner ở Áo Hiện nay làng trẻ em SOS có mặt ở 132 quốc gia và vùng lãnh thổ Hơn 131.000 trẻ em tham gia các trường mẫu giáo SOS, cáctrường Hermann Gmeiner và các trung tâm đào tào nghề SOS Khoảng 115000 người được hỗ trợ bởi các trung tâm xã hội SOS
Trang 33Mục đích của Làng trẻ em SOS nhằm mang lại "sự quan tâm chăm sóc như trong một gia đình" cho trẻ nghèo đói, lang thang và trẻ mồ côi Hàng triệu trẻ em đang
sống mà không có một mái ấm gia đình với muôn vàn lý do như: Bố mẹ ly hôn, bạo lực gia đình, sự thiếu quan tâm của bố mẹ, không còn bố mẹ do chiến tranh hoặc thiên tai, bệnh tật - bao gồm cả sự tăng lên của AIDS
Những trẻ được giúp đỡ để trở lại cuộc sống sau những tổn thương tâm lý và ngăn chặn những mối nguy hiểm như bị bỏ rơi, đối xử bất công, ngược đãi
Làng trẻ em SOS Việt Nam cũng là một tổ chức hoạt động giúp đỡ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn có được một mái ấm gia đình Trẻ em thiếu sự chăm sóc của cha mẹ được vào làng trẻ em SOS sẽ sống trong một gia đình mới và phát triển một cách tự nhiên nhất có thể Làng trẻ em SOS hỗ trợ các em từ nhỏ cho đến khi trưởng thành
để các em có khả năng tự lập, có trách nhiệm và biết đóng góp cho xã hội Ngoài ra, làng trẻ em SOS còn có các hoạt động hỗ trợ các gia đình có hoàn cảnh khó khăn ở cộng đồng để giúp họ sinh sống cùng nhau và từ đó con cái của họ không bị bỏ rơi
và được đi học
Các làng SOS hoạt động theo 4 nguyên tắc chung trên toàn thế giới, gồm: "Bà mẹ, các anh chị em, ngôi nhà gia đình và cộng đồng làng" Trong đó, nhân tố chính là các "bà mẹ"- là những phụ nữ từ 25 đến 40 tuổi, không có ý định lấy chồng, không
có con riêng, cũng không nặng gánh gia đình, tình nguyện tuyên thệ đảm nhận thiên chức làm mẹ, nuôi dưỡng những trẻ mồ côi (có hoàn cảnh đặc biệt) như những đứa
con riêng của mình theo đúng nghĩa xã hội học Mỗi "bà mẹ" làm chủ một "ngôi nhà gia đình", có toàn quyền định đoạt trong việc nuôi dưỡng từ 8 đến 10 "đứa con" (từ sơ sinh đến 18 tuổi) như những người mẹ khác trong xã hội Khoảng 10 đến 40 ngôi nhà hợp thành một "làng" SOS
Bà mẹ: các trẻ được chăm sóc và nuôi dưỡng bởi bàn tay của một người mẹ Bà mẹ SOS sống trong ngôi nhà gia đình với những đứa trẻ được giao Trông nom và có trách nhiệm mang đến cho trẻ em sự yêu thương, sự an toàn với sự che trở bởi bàn tay của một người mẹ thực sự
Trang 34Anh chị em: Các em trai và em gái ở các độ tuổi khác nhau vào Làng sống và lớn lên trong một gia đình như những người anh chị em ruột Khi đón trẻ vào làng các anh chị em ruột được sống trong cùng một gia đình SOS Cùng được phát triển dưới ngôi nhà đầy tình nghĩa ấy
Làng trẻ em SOS giúp đỡ trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ Có tình trạng sức khỏe bình thường, không tàn tật, không thiểu năng trí tuệ, không nhiễm các bệnh xã hội, như HIV/ AIDS [27]
Địa điểm tiếp theo chúng tôi thực hiện nghiên cứu là Làng trẻ em Birla Làng trẻ em Birla Hà Nội là đơn vị nuôi trẻ mồ côi của Thành phố Hà Nội, trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, được thành lập theo Quyết định số 5026/QĐ-TC ngày 20-11-1987 của UBND Thành phố Hà Nội
Hiện nay địa điểm của Làng trẻ tại: số 4 Phố Doãn Kế Thiện - Phường Mai Dịch - Quận Cầu Giấy - Thành phố Hà Nội - Việt Nam
Làng trẻ em Birla Hà Nội là công trình của Ngài Birla người ấn Độ - Giáo sư tiến sỹ
- Tổng giám đốc Tập đoàn Công nghiệp nhẹ Cimcô - Birla và gia đình tặng cho UBND Thành phố khi Ngài đi thăm và làm việc tại Việt Nam năm 1983
Làng trẻ em Birla Hà Nội nuôi dưỡng trẻ em theo mô hình gia đình, các cháu khi vào Làng sẽ sống trong các gia đình có Mẹ nuôi, có các anh chị em cùng giúp đỡ nhau trong học tập và sinh hoạt
Số lượng trẻ mồ côi hiện nay được nuôi tại Làng trẻ ở 04 gia đình lớn (nhà C1, C2, C3, C4) là 130 trẻ Mỗi gia đình có 2 Mẹ nuôi cùng chăm sóc và giáo dục các con Hàng ngày các Các anh chị lớn được phân công đưa các em bé tới trường và đón các em mỗi khi tan học, giúp đỡ các Mẹ chuẩn bị các bữa ăn và bảo ban các em học tập vào buổi tối
Phòng Giáo Dục – Dạy Nghề và Phòng Y tế - Nuôi Dưỡng là 2 phòng trực tiếp làm việc với trẻ về tất cả các công việc liên quan trong gia đình, như học tập, học nghề, chăm sóc sức khỏe, tổ chức các hoạt động ngoại khóa, tổ chức các lớp học kỹ năng
Trang 35sống, tham vấn tâm lý, trợ giúp trẻ khi gặp khó khăn trong sinh hoạt, học tập, hay sự thay đổi tâm sinh lý theo giai đoạn lứa tuổi [26]
2.3 Quy trình tổ chức nghiên cứu
2.3.1 Xây dựng cơ sở lí luận
- Phương pháp nghiên cứu: đọc và phân tích tài liệu
2.3.2 Thiết kế công cụ nghiên cứu
- Công cụ nghiên cứu được sử dụng bao gồm: Thang đo những khó khăn về cảm xúc
và hành vi (dành cho trẻ từ 6-18 tuổi) và Phiếu kiểm kê hành vi do trẻ tự đánh giá dành cho lứa tuổi từ 11-18 (YSR)
2.3.2.1 Thang đo những khó khăn về cảm xúc và hành vi (dành cho trẻ từ 6-18 tuổi) (Phụ lục) được nhóm nghiên cứu xây dựng để khảo sát
Trang 36Mục đích: chúng tôi xây dựng Thang đo những khó khăn về cảm xúc và hành
vi (dành cho trẻ từ 6 – 18 tuổi) dưới dạng thang đo Likert nhằm phát hiện, sàng lọc
những trẻ vị thành niên đang sống trong cơ sở bảo trợ xã hội có những khó khăn về cảm xúc và hành vi Trong khuôn khổ của đề tài nghiên cứu, chúng tôi tập trung tìm hiểu những khó khăn về hành vi của nhóm trẻ này
iai đoạn thiết kế bảng hỏi: từ kết quả nghiên cứu lý luận ở chương I và kết
quả thăm dò lấy ý kiến 5 trẻ vị thành niên sống trong Làng Trẻ em SOS Hà Nội, chúng tôi xác định đánh giá các khó khăn về hành vi thông qua sự phản ánh của các
em (đo tần xuất xảy ra những hành vi cản trở trẻ trong các hoạt động hàng ngày)
Thang đo những khó khăn về cảm xúc và hành vi (dành cho trẻ từ 6 – 18 tuổi) dành cho trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội được xây dựng theo
kiểu thang đo Likert gồm ba mức độ: 0 = hoàn toàn không xảy ra hành vi; 1 = thỉnh thoảng xảy ra; 2 = thường xuyên xảy ra Thang đo gồm 40 items, đo các nội dung sau: (1) những khó khăn về mặt hành vi bộc lộ trong mối quan hệ với bạn và người khác, gồm 7 items; (2) những khó khăn trong giao tiếp của trẻ, gồm 7 items; (3) sự tương trợ lẫn nhau của trẻ, gồm 7 items; (4) khó khăn về cảm xúc của trẻ gồm 8 tiems; (5) khó khăn trong việc giải quyết vấn đề gồm 6 items; (6) những khó khăn gắn với sự hòa nhập của trẻ ở cơ sở bảo trợ xã hội Trong đó, chúng tôi tập trung vào các nội dung sau: những khó khăn về mặt hành vi bộc lộ trong mối quan hệ với bạn và người khác, những khó khăn trong giao tiếp của trẻ, sự tương trợ lẫn nhau của trẻ, khó khăn trong việc giải quyết vấn đề và những khó khăn gắn với sự hòa nhập của trẻ ở cơ sở bảo trợ xã hội
Trang 37Sau khi hoàn tất công việc điều tra và nhập dữ liệu vào phần mền SPSS, chúng tôi đã tiến hành phân tích nhân tố và tính độ tin cậy bên trong theo chỉ số Cronbach alpha Để lựa chọn ra số nhân tố tối ưu và lựa chọn câu nào thuộc về nhân
tố nào, sự kết hợp các yếu tố sau được áp dụng: giá trị riêng (Eigenvalue) được biểu thị qua biểu đồ dốc (Scree – plot), hệ số tải (Item – Factor), sự phù hợp của nội dung câu với nhân tố và số lượng câu trong mỗi nhân tố Kết quả, chúng tôi đã phân tích và lựa chọn được 5 nhân tố, với ma trận xu hướng câu nhân tố được trình bày trong bảng dưới đây
Giúp đỡ lẫn nhau khi được giao công việc .138 699 -.264
Tích cực và đoàn kết trong các hoạt động cùng
Chủ động giúp các cô bảo mẫu và các bạn khác
trong trung tâm những công việc hàng ngày .675 .132
Trang 38Khi phải nỏi đến vấn đề của bản thân thấy ngại
Thường chơi và ở một mình, tách khỏi các bạn .288 624
Có cảm giác chán nản, mệt mỏi, bi quan .128 -.176 173 584 403 Cảm thấy mệt mỏi mỗi khi người khác không
nghe tôi nói và diễn đạt ý kiến .379 -.119 .509 .161 Cảm thấy cô đơn và nhớ nhà, người thân trong
Trang 39Kết quả phân tích nhân tố cho thấy từ 40 items ban đầu, chúng tôi lựa chọn
ra được năm nhân tố: (1) hành vi bắt nạt, (2) sự tương trợ lẫn nhau, (3) khó khăn trong giao tiếp, (4) tâm trạng buồn chán, (5) cảm nhận, suy nghĩ tiêu cực về bản thân và gia đình Tổng số items của 5 nhân tố này là 20 Độ tin cậy của thang đo rút gọn này α = 0,68 (xem phụ lục)
2.3.2.2.Bảng hỏi bán cấu trúc
Một bảng hỏi bán cấu trúc đã được xây dựng và sử dụng trong nghiên cứu nhằm thu thập thông tin về nhân thân cũng như cuộc sống của trẻ trong cơ sở bảo trợ xã hội Bảng hỏi bán cấu trúc gồm 11 câu hỏi, với các nội dung: thông tin về trẻ, thời gian trẻ sống trong cơ sở bảo trợ, lý do trẻ được đưa vào cơ sở bảo trợ, thông tin về gia đình, sức khỏe, mối liên hệ của trẻ với gia đình, sự hài lòng của trẻ về cuộc sống trong trung tâm và học tập Các nội dung trên được xây dựng dưới dạng câu hỏi định danh, thang điểm từ 0 đến 5 hoặc câu hỏi theo thang điểm từ 1 đến n (xem thêm phụ lục)
2.3.2.3 Phiếu kiểm kê hành vi do trẻ tự đánh giá dành cho lứa tuổi từ 11-18 (YSR) Phiếu kiểm kê hành vi do trẻ tự đánh giá dành cho lứa tuổi từ 11-18 (YSR) (Phụ lục)
được nhóm chúng tôi xin phép PGS.TS Đặng Hoàng Minh và nhóm tác giả để tiến hành khảo sát Phiếu này gồm 2 tờ (4 mặt giấy A4) với 2 phần nội dung chính: Phần
1 là các thông tin về nhân khẩu (do nhóm nghiên cứu tự xây dựng), phần 2 là bảng liệt kê những biểu hiện hành vi thường gặp ở trẻ (113 item)
Độ tin cậy của các biểu hiện của hành vi sai phạm ở trẻ là: 0,617 Độ tin cậy của các biểu hiện của hành vi gây hấn ở trẻ là: 0,691
2.3.3 Tổ chức nghiên cứu thực tiễn
Mục đích: Khảo sát, thu thập thông tin để phục vụ cho giai đoạn xử lý số liệu của đề tài nghiên cứu
2.3.3.1 Thời gian:
Chúng tôi tổ chức khảo sát bắt đầu từ tháng 9/2016 đến tháng 6/2017
Trang 40Mỗi trẻ trả lời 01 Thang đo những khó khăn về cảm xúc và hành vi (dành cho trẻ từ 6-18 tuổi) trong vòng 20 phút và 01 Phiếu kiểm kê hành vi do trẻ tự đánh giá dành cho lứa tuổi từ 11-18 (YSR) trong vòng 20 phút Trong nhóm nghiên cứu, mỗi thành
viên sẽ ở lại một nhà trong làng suốt quá trình trẻ điền phiếu hỏi để kịp thời giải đáp
thắc mắc của các em Chúng tôi khảo sát dựa trên Thang đo những khó khăn về cảm xúc và hành vi (dành cho trẻ từ 6-18 tuổi) và Phiếu kiểm kê hành vi do trẻ tự đánh giá dành cho lứa tuổi từ 11-18 (YSR) vào những buổi khác nhau, hạn chế việc trẻ
phải trả lời nhiều phiếu hỏi trong cùng một lúc
Nhóm nghiên cứu tổ chức thảo luận trên nhóm trẻ vị thành niên và nhóm các mẹ, các dì vào 2 buổi khác nhau, mỗi buổi kéo dài 2 tiếng
2.3.3.2 Địa điểm
Nhóm nghiên cứu tiến hành khảo sát tại Làng trẻ em SOS Hà Nội và Làng trẻ em Birla Hà Nội trực thuộc Sở Lao động – Thương binh – Xã hội Hà Nội
2.3.3.3 Mẫu nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 149 trẻ vị thành niên thuộc 2 cơ sở bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bảng 2 chỉ ra một số đặc điểm đặc trưng của mẫu nghiên cứu: giới tính, tuổi, số năm trẻ sống trong trung tâm, lý do trẻ vào sống trong trung tâm, kết quả học tập đã được trình bày ở phần trước
2.3.3.4 Các bước tiến hành
- Sử dụng thang đo / phiếu hỏi đã dựng để khảo sát
- Thu phiếu, mã hóa, thống kê và xử lý số liệu với phương pháp toán thống kê; phân tích và viết nhận xét về các kết quả
- Bên cạnh việc sử dụng phiếu hỏi để khảo sát, nhóm nghiên cứu cũng tiến hành thảo luận với nhóm trẻ vị thành niên và các mẹ, các dì ở làng trẻ em SOS Nhóm trẻ bao gồm 15 em, trong đó có 7 trẻ nam và 8 trẻ nữ; nhóm các mẹ, các dì bao gồm 17 người;