1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phương pháp luận triết học lịch sử của karl popper trong tác phẩm sự nghèo nàn của thuyết sử luận (luận văn thạc sỹ)

76 96 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- VŨ THỊ NGỌC BÍCH PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRIẾT HỌC LỊCH SỬ CỦA KARL POPPER TRONG TÁC PHẨM “SỰ NGHÈO NÀN CỦA THUYẾT SỬ LU

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

VŨ THỊ NGỌC BÍCH

PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRIẾT HỌC LỊCH SỬ CỦA KARL POPPER TRONG TÁC PHẨM

“SỰ NGHÈO NÀN CỦA THUYẾT SỬ LUẬN”

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Triết học

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRIẾT HỌC LỊCH SỬ CỦA KARL POPPER 7 1.1 Những điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội 7

1.1.1 Tác động kinh tế đến sự hình thành tư tưởng phương pháp luận triết học lịch sử của Karl Popper 7

1.1.2 Những tác động chính trị và xã hội đến sự hình thành tư tưởng phương pháp luận triết học lịch sử của Karl Popper 8

1.2 Những tiền đề lý luận cho sự ra đời tư tưởng phương pháp luận triết học lịch sử của Karl Popper 11

1.2.1.Những tiền đề khoa học và công nghệ thế kỷ XX 11

1.2.2.Các trào lưu triết học duy khoa học 13

1.2.3.Quan niệm về triết học lịch sử 22

1.3 Cuộc đời và tác phẩm “Sự nghèo nàn của thuyết sử luận” của Karl Popper 26

1.3.1 Những nét chính về cuộc đời Karl Popper 26

1.3.2.Tác phẩm Sự nghèo nàn của thuyết sử luận 27

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 29

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRIẾT HỌC LỊCH SỬ CỦA KARL POPPER TRONG TÁC PHẨM “SỰ NGHÈO NÀN CỦA THUYẾT SỬ LUẬN” 30

2.1 Sự phê phán của Karl Popper đối với “Thuyết sử luận” và quan điểm “bất định luận lịch sử” 30

2.1.1.Sự phê phán của Karl Popper đối với “thuyết sử luận” 30

2.1.2 Quan điểm của Karl Popper về “bất định luận lịch sử” 34

Trang 4

2.2 Sự phê phán của Karl Popper về quan điểm “chủ toàn” và quan

điểm của ông về phương pháp“phân mảnh” 37

2.2.1 Phê phán quan điểm chủ toàn 37

2.2.2 Phương pháp phân mảnh 44

2.3 Quan điểm của Karl Popper về phương pháp thực nghiệm 48

2.3.1 Sự ngộ nhận của các nhà sử luận về phương pháp thực nghiệm của vật lý học 48

2.3.2 Sự đối lập của phương pháp thực nghiệm chủ toàn và thực nghiệm phân mảnh 50

2.4 Quan điểm của Karl Popper về phương pháp diễn dịch – giả thuyết 53

2.4.1 Phê phán phương pháp quy nạp cổ điển 53

2.4.2 Nội dung phương pháp diễn dịch - giả thuyết 56

2.5 Những giá trị và hạn chế của phương pháp luận triết học lịch sử của Karl Popper 58

2.5.1 Những giá trị của phương pháp luận triết học lịch sử của Karl Popper 59

2.5.2 Những hạn chế của phương pháp luận triết học lịch sử của Karl Popper 61

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 64

KẾT LUẬN 65

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 5

là con đường giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi chế độ áp bức, bóc lột, tiến tới giải phóng con người

Trong lịch sử triết học đã có rất nhiều quan điểm, học thuyết triết học hình thành và phát triển trở thành đối tượng của sự phê phán bởi một hoặc một số học thuyết khác Không nằm quy luật ấy, chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung và triết học Marx nói riêng đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, bởi nhiều quan điểm, học thuyết triết học khác nhau với nhiều ý kiến kể

cả đồng tình cũng như phê phán Bên cạnh những tư tưởng phê phán cực đoan, bị yếu tố chính trị chi phối thì cũng có những ý kiến phê phán trên cơ sở khoa học đáng để chúng ta xem xét và nghiên cứu Trong đó có thể kể đến tư tưởng của Karl Popper – một trong những triết gia rất có ảnh hưởng trong thế

kỷ XX Với tác phẩm “Sự nghèo nàn của thuyết sử luận” (Chu Lan Đình dịch) Karl Popper đã đi sâu vào phê phán “thuyết sử luận” (historism), được hiểu là phê phán chính “quan điểm duy vật lịch sử” và theo ông, triết học Marx chính

là “hình thức phát triển nhất” của chủ nghĩa lịch sử

Tuy nhiên vấn đề đặt ra là làm thế nào có thể phân tích và đánh giá được quan điểm, tư tưởng của Karl Popper khi phê phán “thuyết sử luận”? để thông qua đó thấy được những đóng góp của ông đối với triết học nhân loại?

Trang 6

2

Cần trả lời được vấn đề trên chúng ta mới có cơ sở khoa học để bảo vệ tính đúng đắn của chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Marx và đồng thời ghi nhận những đóng góp của Karl Popper ở khía cạnh nào đó đối với triết học lịch sử

Mặt khác, việc nghiên cứu tư tưởng triết học lịch sử của Karl Popper còn có ý nghĩa quan trọng, ở chỗ nó cũng khẳng định một điều là trong nghiên cứu khoa học chúng ta không nên cứng nhắc, bảo thủ gạt đi những tư tưởng phê phán chủ nghĩa Marx Trái lại, chính điều này càng khẳng định sức sống của chủ nghĩa Marx nói chung và chủ nghĩa duy vật lịch sử nói riêng cả trên nhận thức và trong thực tiễn

Với những lý do cơ bản nêu trên tôi chọn đề tài: Phương pháp luận

triết học lịch sử của Karl Popper trong tác phẩm “Sự nghèo nàn của thuyết

sử luận” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Những công trình nghiên cứu về Karl Popper ở Việt Nam xuất hiện từ những năm cuối thế kỷ XX Tiếp cận tư tưởng triết học của Karl Popper có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:

Trong chuyên khảo “Một số học thuyết về triết học phương Tây hiện

đại” (2001) của Nguyễn Hào Hải, tác giả đã đưa ra những khái quát về chủ nghĩa thực chứng mới, trong đó có triết học của Karl Popper Tác giả đã chỉ ra cách tiếp cận chung của chủ nghĩa thực chứng mới, những điểm khác biệt trong cách tiếp cận của Karl Popper, từ đó đưa ra những nhận định khái quát

Do là một tài liệu chuyên khảo về triết học phương Tây, các vấn đề được đề cập đến rộng, do đó nội dung về triết học Karl Popper còn mang tính khái quát, chưa đi sâu vào những nội dung cụ thể

Một hướng tiếp cận mang tính gợi mở về triết học đương đại với nguồn

tư liệu phong phú đó là ấn phẩm “Toàn cảnh triết học Âu Mỹ thế kỷ XX”

Trang 7

3

(2008) và “Triết học Tây phương từ khởi thủy đến đương đại” (2010) của tác

giả Phan Quang Định Trong cả hai công trình, đều có đánh giá về triết học của Karl Popper từ nhiều phương thức tiếp cận lịch sử triết học khác nhau Đối với công trình thứ nhất, tư tưởng của Karl Popper được tiếp cận dưới góc

độ logic và lịch sử Với công trình thứ hai, tư tưởng của Karl Popper được tiếp cận ở góc độ triết học khoa học

Tư tưởng triết học của Karl Popper cũng được đề cập đến ở góc độ khái quát trong dòng chảy của triết học phương Tây hiện đại có thể kể đến giáo

trình “Lịch sử triết học” do Nguyễn Hữu Vui chủ biên và giáo trình “Lịch sử

triết học” do Bùi Thanh Quất chủ biên Karl Popper được đề cập đến ở hai

công trình này như một đại diện tiêu biểu cho một trào lưu triết học phương Tây hiện đại thế kỷ XX

Trong hai ấn phẩm “Diện mạo triết học phương Tây hiện đại” (2006)

và “Lịch sử triết học đại cương” (2010) của Đỗ Minh Hợp, tác giả đã phân

tích tiến trình vận động của triết học khoa học từ Descartes cho tới nay Thông qua sự tác động qua lại giữa triết học, xã hội và khoa học đã định hình hai khuynh hướng triết học khoa học cơ bản: nhận thức luận tiến hóa (S.Toulmin) và tri thức luận tiến hóa (K.Popper) Từ đó, mở ra hướng tiếp cận

cơ bản về các xu hướng triết học khoa học, tính phức hợp và xu hướng chuyên sâu trong sự phát triển triết học khoa học

Trong bài viết của Lương Đình Hải “Karl Popper – xã hội mở và

những kẻ thù của nó” (Tạp chí Triết học, Số 10 (269), tháng 10-2013), bên

cạnh việc chỉ ra tư tưởng triết học của Karl Popper, tác giả còn khẳng định Popper đã tạo nên một dấu ấn lớn trong lịch sử tư tưởng của thế kỷ XX và dấu

ấn ấy đang tiếp tục in đậm ở những năm đầu thế kỷ XXI hiện nay Thời kỳ thống trị của tư duy siêu hình, máy móc đang đi qua, những giá trị và yếu tố hợp lý trong tư tưởng của Popper cần được nghiên cứu nghiêm túc và tiếp thu

Trang 8

4

nghiêm chỉnh phục vụ cho sự tiến bộ xã hội Vì vậy, việc giảng dạy triết học phương Tây hiện đại nói chung, triết học Popper nói riêng cần được chú trọng hơn

Bài viết “Karl Raimund Popper với sự phê phán chủ nghĩa thực chứng

và chủ nghĩa lịch sử” của Nguyễn Tấn Hùng (Tạp chí Triết học, số 2 (261), tháng 2-2013) đã làm rõ sự phê phán của Popper đối với chủ nghĩa thực chứng và chủ nghĩa lịch sử, đồng thời đưa ra một số nhận xét về lập luận của Karl Popper nhằm bác bỏ phương pháp lịch sử

Những năm gần đây, Tư tưởng triết học của Karl Popper trở thành đối

tượng nghiên cứu trực tiếp của một số luận văn thạc sĩ như: “Tư tưởng triết

học của Karl Popper trong tác phẩm Sự nghèo nàn của thuyết sử luận”

(2014) của Đỗ Thanh Kim, “Tư tưởng triết học của Karl Popper trong tác

phẩm Tri thức khách quan” (2016) của Trần Văn Nội và “Tư tưởng triết học

về khoa học của Karl Popper trong một số tác phẩm” (2017) của Nguyễn Thị

Thúy Di Trong công trình của Đỗ Thanh Kim và Nguyễn Thị Thúy Di, tư tưởng triết học của Karl Popper được tiếp cận dưới góc độ triết học khoa học Với công trình của Trần Văn Nội, tư tưởng triết học của Karl Popper được tiếp cận dưới góc độ tri thức luận tiến hóa

Karl Popper được biết đến là một trong những triết gia có nhiều ảnh hưởng nhất thế kỷ XX Tuy nhiên tư tưởng triết học của Karl Popper nói chung và tư tưởng của Karl Popper trong tác phẩm “Sự nghèo nàn của thuyết

sử luận” nói riêng chưa được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung ở việc phê phán tư tưởng của Karl Popper về một số quan niệm chống chủ nghĩa Mác và phân tích nội dung triết học khoa học của ông qua một số tác phẩm Do vậy, tư tưởng triết học lịch sử của Karl Popper trong tác phẩm “Sự nghèo nàn của thuyết sử luận” vẫn còn là một vấn

Trang 9

ra những giá trị và hạn chế của tư tưởng này

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

- Trình bày những tiền đề lịch sử của sự hình thành tư tưởng phương pháp luận triết học lịch sử của Karl Popper trong tác phẩm “Sự nghèo nàn của thuyết sử luận”

- Phân tích những nội dung phương pháp luận triết học lịch sử của Karl Popper trong tác phẩm “Sự nghèo nàn của thuyết sử luận”

- Đánh giá những giá trị và hạn chế phương pháp luận triết học lịch sử của Karl Popper trong tác phẩm “Sự nghèo nàn của thuyết sử luận”

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, cụ thể là dựa trên cơ sở lý luận của quan điểm chủ nghĩa duy vật lịch sử và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về các vấn đề xã hội

và lịch sử phát triển xã hội

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như: Phương pháp thống nhất giữa logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, so

sánh, trừu tượng hóa,…

Trang 10

6

5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những nội dung phương pháp luận triết học lịch sử của Karl Popper trong tác phẩm “Sự nghèo nàn của thuyết sử luận”, qua đó chỉ ra những đóng góp và hạn chế trong tư tưởng triết học lịch sử của Karl Popper

Phạm vi nghiên cứu

Luận văn giới hạn trong việc nghiên cứu những khía cạnh nội dung chủ yếu của phương pháp luận triết học lịch sử của Karl Popper trong tác phẩm

“Sự nghèo nàn của thuyết sử luận”(Chu Lan Đình dịch)

6 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu về tác giả Karl Popper, về tư tưởng triết học của ông, trọng tâm là tư tưởng phương pháp luận triết học lịch sử, từ

đó góp phần nhận thức về triết học đương đại, nhất là triết học phương Tây,

cụ thể là tác giả Karl Popper

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu về triết học khoa học của Karl Popper, những công trình nghiên cứu về triết học lịch sử và đặc biệt là phương pháp luận triết học lịch sử

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Luận văn trình bày một cách tương đối hệ thống nội dung phương pháp luận triết học lịch sử của Karl Popper, góp phần xây dựng không chỉ cái nhìn

mà cả thái độ tích cực đối với triết học phương Tây nói chung, triết học Karl Popper nói riêng, đồng thời cả đối với triết học Marx

8 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm: phần mở đầu, nội dung chính gồm 2 chương, 8 tiết, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo

Trang 11

7

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH VÀ NHỮNG TIỀN HÌNH THÀNH PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRIẾT HỌC LỊCH SỬ CỦA KARL POPPER 1.1 Những điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội

1.1.1 Tác động kinh tế đến sự hình thành tư tưởng phương pháp luận triết học lịch sử của Karl Popper

Tác phẩm “Sự nghèo nàn của thuyết sử luận” được viết trong giai đoạn chiến tranh thế giới thứ hai, là giai đoạn có những biến động to lớn ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Trước hết cần điểm qua một vài biến động đáng chú ý trên lĩnh vực kinh tế ở đầu thế kỷ XX

Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 đã làm suy thoái nền kinh tế toàn cầu, nó diễn ra sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Phố Wall vào ngày 29 tháng 10 năm 1929 Cuộc “Đại khủng hoảng” bắt đầu ở Hoa Kỳ, sau

đó nhanh chóng lan rộng ra toàn Châu Âu và các nước khác trên thế giới gây nên hậu quả khủng khiếp ở nhiều nước Từ kinh tế, cuộc đại khủng hoảng lan sang lĩnh vực chính trị, hàng ngàn cuộc biểu tình, đấu tranh đã diễn ra, nhất là

ở các nước tư bản Đời sống nhân dân hết sức khổ cực, các tầng lớp nhân dân điêu đứng Có thế nói đây là cuộc khủng hoảng lớn nhất trong những cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra từ xưa đến nay Nó làm cho những mâu thuẫn trong xã hội tư bản và mâu thuẫn giữa các nước tư bản với nhau càng thêm gay gắt, chủ nghĩa tư bản thế giới càng thêm suy yếu Chính từ cuộc đại khủng hoảng này mà chủ nghĩa phát xít đã ra đời, lên nắm quyền ở Đức, Ý, Nhật và ráo riết chạy đua vũ trang hòng gây chiến tranh chia lại thế giới Vì vậy, cuộc khủng hoảng này bị coi là “đêm trước” của chiến tranh thế giới thứ hai

Kinh tế ở nước Áo (quê hương của Karl Popper) cũng có những sự chuyển biến không nhỏ Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, đế chế Áo – Hung

Trang 12

8

tan rã, phân nhỏ thành nhiều quốc gia, điều này đã tác động sâu sắc tới nền kinh tế nước Áo lúc bấy giờ Cuộc chiến tranh đã đưa nước Áo lâm vào tình trạng khủng hoảng nặng nề, đời sống nhân dân khó khăn, túng quẫn Thủ đô Vienna là thành phố lớn nhất, đồng thời cũng là một tiểu bang của nước Áo Tuy nhiên, nền kinh tế của Vienna cũng phải gánh chịu những ảnh hưởng nặng nề như đại đa số doanh nghiệp vừa và nhỏ bị phá sản, nhân dân rơi vào hoàn cảnh thất nghiệp, họ phải đối mặt với muôn vàn khó khăn và những sức

ép của thời cuộc

Những chuyển biến trên lĩnh vực kinh tế thế giới nói chung và quê hương nước Áo của Karl Popper nói riêng đã có những ảnh hưởng không nhỏ đến quan điểm của các nhà triết học đương thời, đặc biệt là quan điểm triết học của Karl Popper Từ những khủng hoảng trong lĩnh vực linh tế, dẫn đến những khủng hoảng trong lĩnh vực tư tưởng Các nhà tư tưởng đương thời băn khoăn trong việc tiếp tục đi theo lý luận cũ hay cần một hệ tư tưởng mới phù hợp hơn, mang tính cách mạng hơn? Đó là lý do mà ở thời kỳ này, rất nhiều những tư tưởng, quan điểm triết học mới ra đời dựa trên sự phê phán những nội dung tư tưởng triết học của các bậc tiền bối hoặc là dựa trên cơ sở của sự phát triển khoa học kỹ thuật Karl Popper cũng không nằm ngoài trào lưu này,

tư tưởng của ông đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ so với các bậc tiền bối, thay vì tiếp tục phát triển hay cổ xúy cho tư tưởng triết học thực chứng thì Karl Popper đưa ra quan điểm phủ chứng với nhiều nội dung mới mẻ và tính ứng dụng cao trong bối cảnh đương thời

1.1.2 Những tác động chính trị và xã hội đến sự hình thành tư tưởng phương pháp luận triết học lịch sử của Karl Popper

Từ những chuyển biến sâu sắc trên lĩnh vực kinh tế, nhân loại phải đối mặt với những biến động mang tính lịch sử trên các lĩnh vực chính trị - xã hội Điều này tác động rất lớn đến sự chuyển biến tư tưởng của các nhà tư tưởng

Trang 13

9

trong thời kỳ này và Karl Popper cũng không nằm ngoài sự tác động ấy Chính vì vậy, sự ra đời của tác phẩm “Sự nghèo nàn của thuyết sử luận” của Karl Popper phần nào đó đã phản ảnh được những chuyển biến của tư duy nhân loại

Bước sang thế kỷ XX, sự thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng 10 Nga năm 1917 đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng, mở ra một thời kỳ mới cho nhân loại, đó là thời kỳ tan rã của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ và chủ nghĩa xã hội được xác lập Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, chủ nghĩa đế quốc với những đặc điểm mới đang định hình và xuất hiện chủ nghĩa phát xít,

cả hai đều đối đầu với chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô

Trên thế giới xuất hiện sự đối đầu của hai phe chính là xã hội chủ nghĩa

và tư bản chủ nghĩa Sự đối đầu này ngày càng được xác lập rõ ràng trên trường quốc tế sau hai cuộc đại chiến thế giới Đặc biệt, cuộc chiến tranh thế giới thứ hai là cuộc chiến tranh thảm khốc diễn ra từ 1939 đến 1945, đây là cuộc chiến giữa các lực lượng đồng minh và phe phát xít Cuộc chiến này đã tác động đến hầu hết mọi lục địa trên thế giới (trừ Nam Cực) Nó là cuộc chiến rộng lớn và tai hại nhất trong lịch sử nhân loại Sau cuộc chiến, châu Âu

bị chia làm hai phái: Một phía chịu ảnh hưởng phương Tây do Hoa Kỳ đứng đầu, còn phía kia chịu ảnh hưởng của Liên Xô Trật tự hai cực Yalta chi phối quan hệ quốc tế, nhân loại sống trong sự đe dọa của chiến tranh hạt nhân Bên cạnh đó, chiến tranh lạnh diễn ra, hai cực Xô – Mỹ ráo riết tăng cường chạy đua vũ trang

Tại Vienna, tình hình chính trị - xã hội nửa đầu thế kỷ XX diễn biến phức tạp, đế quốc Áo – Hung có tham vọng làm chủ khu vực Balkan trong khi

đó nền kinh tế vô cùng lạc hậu, khó khăn, dẫn đến mâu thuẫn dân tộc phức tạp Chính sách bành trướng của Áo – Hung vấp phải sự cạnh tranh với đế quốc Nga, do đó Áo – Hung liên minh với đế quốc Đức để chống lại Nga

Trang 14

10

Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc, Áo – Hung tan rã, phân chia thành nhiều quốc gia Khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (1939 – 1945), nhân loại chứng kiến sự mất mát to lớn từ thảm kịch hạt nhân ở Nhật Bản, thế giới

bị phá hủy hoang tàn, thảm khốc bởi chính hành động của con người Nhìn chung, tình hình chính trị - xã hội của nước Áo cũng chịu những ảnh hưởng nặng nề trong cả hai lần đại chiến thế giới

Bối cảnh lịch sử đầu thế kỷ XX với những biến động trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị - xã hội chính là căn nguyên không nhỏ cho sự chuyển biến

và ra đời của các khuynh hướng tư tưởng triết học mới Đặc biệt, đó là sự ra đời tư tưởng triết học của Karl Popper và có thể kể đến tác phẩm “Sự nghèo nàn của thuyết sử luận” với tư tưởng nổi bật đó là nội dung phương pháp luận triết học lịch sử của ông Chứng kiến những biến động phức tạp của thế giới đầu thế kỷ XX, đặc biệt là âm mưu thống trị thế giới của chủ nghĩa phát xít, sau đó là sự đối đầu của hai cực Xô – Mỹ đại diện cho sự đối đầu của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, Popper đặc biệt căm ghét chế độ cực quyền, chính vì thế ông phản đối gay gắt chủ nghĩa toàn trị (hay thuyết chủ toàn) Do

đó, ông ủng hộ và bảo vệ khuynh hướng dân chủ và tư tưởng về xã hội mở

Sự phê phán của Karl Popper đối với thuyết sử luận chính là xuất phát từ quan điểm ông cho rằng thuyết sử luận diễn giải lịch sử đi theo một quy luật tất yếu

và cuối cùng sẽ đưa đến khuynh hướng toàn trị, từ đó họ không thấy được những xu hướng đa dạng của lịch sử và đó chính là “sự nghèo nàn” mà Popper đã phê phán thuyết sử luận trong tác phẩm “Sự nghèo nàn của thuyết

sử luận” Thông qua sự phê phán đó, Popper đã đưa ra những phương pháp triết học lịch sử mới, mà theo ông đó là những phương pháp tiến bộ nhất mà ông đứng trên lập trường đó để phê phán thuyết sử luận

Trang 15

11

1.2 Những tiền đề lý luận cho sự ra đời tư tưởng phương pháp luận triết học lịch sử của Karl Popper

1.2.1.Những tiền đề khoa học và công nghệ thế kỷ XX

Bước sang thế kỷ XX, loài người vẫn tiếp tục vươn lên mạnh mẽ và đã gặt hái được nhiều thành tựu khoa học mới, đánh dấu bước chuyển mình lớn của lịch sử nhân loại Dưới đây là một số thành tựu khoa học cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành nội dung phương pháp luận triết học lịch sử của Karl Popper Theo Popper thì trong số những học thuyết khoa học được phát triển, được đề xướng trong thời kỳ hiện đại có hai lý thuyết đáng lưu tâm nhất đó là “Thuyết tương đối” của Einstein và “Nguyên lý bất định trong vật

lý lượng tử” của Heisenberg Bởi vì hai thuyết này “củng cố sự hoài nghi làm cho ông phải đặt lại những vấn đề để tìm hiểu, nghiên cứu, phát hiện ra những chân lý xác thực hay nói đúng hơn là để xác thực lại mọi chân lý” [13, tr.169]

Một là, thuyết tương đối của Einstein (Bao gồm: Thuyết tương đối hẹp

được đưa ra vào năm 1905 và thuyết tương đối rộng được đưa ra vào cuối năm 1915) là một trong những thành tựu vĩ đại của nhân loại Thuyết tương đối miêu tả cấu trúc của không gian và thời gian trong một thực thể thống nhất là không - thời gian, cũng như giải thích bản chất của lực hấp dẫn là do

sự uốn cong của không - thời gian bởi vật chất và năng lượng Thuyết tương đối hẹp miêu tả hành xử của không gian và thời gian và những hiện tượng liên quan từ những quan sát viên chuyển động đều tương đối với nhau Thuyết tương đối rộng tổng quát các hệ quy chiếu quán tính sang hệ quy chiếu chuyển động có gia tốc và bao gồm lực hấp dẫn giữa các khối lượng với nhau Thuyết tương đối làm nên cuộc cách mạng về sự hiểu biết không gian và thời gian cũng như những hiện tượng liên quan mà vượt xa khỏi những ý tưởng và quan sát trực giác Những hiện tượng này đã được miêu tả bằng những phương trình toán học chính xác và xác nhận đúng đắn bằng thực nghiệm

Trang 16

12

Sự ra đời của thuyết tương đối là một trong những tiền đề khoa học cho

sự ra đời của triết học thực chứng, một trào lưu tư tưởng triết học châu Âu phổ biến rộng rãi ở thế kỷ XIX – XX Trào lưu triết học này luận chứng ý nghĩa nền tảng của tri thức cụ thể, dựa vào kinh nghiệm có thể kiểm tra được,

có hiệu quả thực hành về mặt triết học, phương pháp luận Bên cạnh đó, họ ra sức phê phán siêu hình học trừu tượng của triết học truyền thống Do chịu ảnh

hưởng của thuyết tương đối của Einstein, Karl Popper đã công khai phê phán

nguyên tắc về khả năng thực chứng của chủ nghĩa thực chứng cổ điển (triết học thực chứng của A.Comte) Karl Popper cho rằng sự kiểm nghiệm thực sự của lý luận không nằm ở chỗ chứng thực (kiểm đúng) nó mà là ở chỗ phủ chứng (kiểm sai) nó để tìm ra nhược điểm của nó

Hai là, nguyên lý bất định trong vật lý lượng tử là một nguyên lý quan

trọng của cơ học lượng tử, do nhà Vật lý lý thuyết người Đức Werner Heisenberg phát triển Theo nguyên lý này thì chúng ta không thể xác định chính xác cả vị trí lẫn vận tốc (hay động lượng, hoặc xung lượng) của một hạt vào cùng một lúc Nếu ta biết một đại lượng càng chính xác thì ta biết đại lượng kia càng kém chính xác Sự ra đời của Nguyên lý bất định trong vật lý lượng tử đã ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng triết học Karl Popper, đặc biệt

là trong việc bác bỏ quyết định luận

Bên cạnh những thành tựu trong lĩnh vực vật lý, các lĩnh vực khác như hóa học, sinh học, các khoa học về trái đất, hải dương học, khí tượng học…đều đạt được những thành tựu to lớn Đặc biệt trong lĩnh vực sinh học, không thể không kể đến Thuyết tiến hóa và di truyền học Thuyết tiến hóa được phát hiện bởi Lamark và Ch Darwin và thuyết di truyền được phát hiện bởi G.Mendel, sau đó là Morgan Sự kết hợp của thuyết tiến hóa và di truyền học đã giúp nhân loại hiểu sâu hơn về chính loài người, đó là một bước tiến cách mạng trong nghiên cứu sinh học, mở ra thời đại công nghệ sinh học

Trang 17

13

Cùng với những thành tựu về khoa học tự nhiên thì khoa học xã hội cũng

có những sự phát triển nhất định, mặc dù vẫn còn chậm chạp hơn sự phát triển của các lĩnh vực thuộc khoa học tự nhiên Sự phát triển của khoa học xã hội theo khuynh hướng chuyên sâu, khu biệt hóa các lĩnh vực cơ bản, vận dụng các phương pháp của khoa học tự nhiên vào trong nghiên cứu xã hội

Như vậy, bước ngoặt có tính cách mạng trong khoa học tự nhiên đã có ảnh hưởng to lớn đối với triết học và các ngành khoa học xã hội, đặc biệt là trong nhận thức và các vấn đề phương pháp luận Điều này cũng đã tác động ít nhiều đến nhận thức và định hướng tư duy của các nhà triết học đương thời, mà cụ thể

là triết học của Popper Kế thừa thành tựu của khoa học công nghệ như Thuyết

tương đối của Einstein, Nguyên lý bất định trong vật lý lượng tử, Karl Popper đã

đề xuất quan điểm về “bất định luận lịch sử” Theo ông, tính bất thường không được tính đến của các tiên đoán được mô tả bằng một nguyên lý gọi là “nguyên

lý bất định” Nguyên lý này khi được vận dụng vào việc lý giải các vấn đề trong khoa học xã hội của Karl Popper được gọi là “bất định luận lịch sử” Mục đích chính của việc đưa ra quan điểm bất định luận lịch sử của Karl Popper là để phủ nhận những tiên đoán lịch sử dài hạn của thuyết sử luận

1.2.2.Các trào lưu triết học duy khoa học

Từ đầu thế kỷ XX, nhất là sau chiến tranh thế giới thứ hai, triết học phương Tây hiện đại không ngừng phân hóa thành nhiều trường phái, nhưng xoay quanh hai trào lưu chủ yếu là chủ nghĩa duy khoa học và chủ nghĩa nhân bản duy phi lý Trong đó duy khoa học là định hướng bền vững cho tri thức,

là niềm tin sâu sắc dành cho rằng khoa học có thể giải quyết tất cả các vấn đề đang tồn tại Tiêu biểu cho trào lưu này là chủ nghĩa thực chứng - một khuynh hướng nhận thức luận của triết học và xã hội học cho rằng phương pháp khoa học là cách thức tốt nhất để lý giải các sự kiện của tự nhiên, xã hội và con người Chủ nghĩa thực chứng xuất hiện vào những năm 1830 do A.Comte,

Trang 18

14

J.S Mill vè H.Spencer sáng lập Học thuyết cho rằng mọi tri thức của con người cần phải được chứng thực, được chứng minh, được kiểm tra bằng kinh nghiệm, bằng tri giác Chủ nghĩa thực chứng phát triển qua rất nhiều giai đoạn: chủ nghĩa thực chứng sơ kì, chủ nghĩa phê phán kinh nghiệm, chủ nghĩa thực chứng mới Karl Popper một đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa hậu thực chứng Chủ nghĩa hậu thực chứng ra đời từ những năm 50 là một trào lưu cải cách trong lòng chủ nghĩa thực chứng mới Vì vậy trước khi đi vào chủ nghĩa hậu thực chứng cần điểm qua đôi nét về tư tưởng của những nhà thực chứng

có ảnh hưởng đến sự hình thành nội dung phương pháp luận triết học lịch sử của Karl Popper

Một là, tư tưởng triết học thực chứng của A.Comte

Comte sinh ra tại Môngpơlê, và tốt nghiệp Đại học Bách khoa Paris vào năm 1816 Từ năm 1818 đến 1824 Ông làm thư ký riêng của Saint – Simon

Từ năm 1830 đến năm 1854, Comte hoàn thành tác phẩm “Tập bài giảng về triết học thực chứng” bao gồm 6 tập Một tác phẩm quan trọng khác của Comte đó là “Hệ thống chính trị thực chứng” (1851 – 1854), nó có liên hệ

mật thiết với việc thành lập Hội thực chứng (1848), tác phẩm này đã luận chứng cho kế hoạch hoạt động của Hội thực chứng

Những tư tưởng triết học của Comte đã hình thành dưới sự ảnh hưởng của Saint Simon Tuy nhiên, vào những năm 30 -50 của thế kỷ XIX, Comte

đã trở thành một nhà tư tưởng độc lập Ông đã từ bỏ Saint Simon do có những

sự trái ngược quan điểm không thể dung hòa và lựa chọn tiếp tục nghiên cứu triết học thực chứng Comte đã đưa ra thuật ngữ “xã hội học” nhằm nói đến việc nghiên cứu khoa học rộng rãi về xã hội nhờ cả một hệ thống “các khoa học thực chứng”

Phương pháp luận xã hội học, Comte cho rằng vai trò của xã hội học là

góp phần tổ chức lại xã hội và lập lại trật tự xã hội dựa trên các quy luật tổ

Trang 19

15

chức và biến đổi xã hội do xã hội học nghiên cứu phát hiện được Theo Ông, cũng giống như các khoa học khác như khoa học tự nhiên, vật lý học, sinh vật học, xã hội học cũng vận dụng các phương pháp luận vào nghiên cứu để tìm hiểu bản chất của xã hội và Comte còn gọi xã hội học là vật lý học xã hội Khi

sử dụng phương pháp thực chứng vào nghiên cứu xã hội, tức là thu thập và xử

lý thông tin, kiểm tra giả thuyết và xây dựng lý thuyết, so sánh và tổng hợp cứ liệu Chính vì vậy, Comte phân loại các phương pháp xã hội học thành những nhóm: 1 Quan sát; 2 Thực nghiệm; 3 So sánh; 4 Phân tích lịch sử Từ đó, Comte quan niệm rằng xã hội học là khoa học sử dụng các phương pháp khoa học thực chứng để nghiên cứu các quy luật biến đổi của xã hội Các quan điểm của Comte đã mở đầu cho thời kỳ xây dựng và phát triển một khoa học mới mẻ mà Comte gọi là xã hội học hay vật lý học xã hội

Quan niệm về cơ cấu của xã hội học, theo Comte thì xã hội học nghiên

cứu các hệ thống xã hội trên hai cấp độ: Các điều kiện tồn tại, các quy luật

hoạt động của chúng (tĩnh thái xã hội) được nghiên cứu trên một cấp độ; Các

xu hướng, tính tuần tự của các thang bậc phát triển xã hội (động thái xã hội) –

trên cấp độ khác

Tĩnh học xã hội là bộ phận xã hội học nghiên cứu về trật tự xã hội, cơ

cấu xã hội, các thành phần và các mối liên hệ của chúng Lúc đầu, Comte nghiên cứu các cá nhân với tư cách là những thành phần hay đơn vị cấu thành của cơ cấu xã hội Comte xem cá nhân với tư cách là một tập hợp, một hệ thống gồm: Các năng lực và nhu cầu đã có sẵn bên trong cá nhân và các nhu cầu, năng lực được tiếp thu từ bên ngoài qua quá trình cá nhân tham gia vào

xã hội Sau đó, quan niệm xã hội của Comte thay đổi, ông cho rằng cá nhân không phải là "đơn vị xã hội đích thực" Comte coi nghiên cứu về cá nhân là nghiên cứu thuộc về lĩnh vực sinh vật học, khác hẳn với nghiên cứu xã hội học chủ yếu phân tích các "đơn vị xã hội" Đơn vị xã hội cơ bản nhất, sơ đẳng

Trang 20

16

nhất có mặt trong tất cả các đơn vị xã hội khác là "gia đình" Điều thực sự có

ý nghĩa về lý luận xã hội học là quan niệm của Comte về cơ cấu xã hội Cơ cấu xã hội bao giờ cũng được tạo nên từ các cơ cấu xã hội khác đơn giản hơn, gọi là tiểu cơ cấu xã hội Do đó, hiểu cơ cấu xã hội có nghĩa là nắm bắt được các đặc điểm, các thuộc tính và các mối liên hệ của các tiểu cơ cấu xã hội

Cơ cấu xã hội phát triển theo con đường tiến hóa từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Sự phát triển của xã hội biểu hiện ở mức độ phân hóa,

đa dạng hóa và chuyên môn hóa chức năng, cũng như mức độ liên kết giữa các tiểu cơ cấu xã hội Comte đặt vấn đề nghiên cứu xem làm thế nào duy trì được mối liên kết giữa các bộ phận (các tiểu cơ cấu xã hội) khi mức độ phân hóa chức năng ngày một tăng lên trong xã hội Comte đưa ra cách giải quyết nhấn mạnh tới vai trò của nhà nước và yếu tố văn hóa, tinh thần xã hội

Vai trò của nhà nước: Comte cho rằng ngoài sự phụ thuộc lẫn nhau, sự tập trung quyền lực vào tay nhà nước cho phép điều hòa, phối hợp và liên kết các bộ phận của hệ thống xã hội đảm bảo chống lại sức ép của sự phân hóa và phân rã xã hội

Vai trò của văn hóa, tinh thần: Ngoài hành động "vật chất" của nhà nước, yếu tố trí tuệ và đạo đức, thiện trí và thiện cảm của các thành viên xã hội, đóng vai trò là nhân tố duy trì sự liên kết, trật tự xã hội

Động học xã hội là nghiên cứu các quy luật biến đổi xã hội trong các hệ

thống xã hội theo thời gian Comte đưa ra học thuyết về ba giai đoạn, với tư cách là một bộ phận của xã hội học, có liên hệ động thái xã hội đó là: 1 Hệ thống thần học, hay hư ảo; 2 Hệ thống siêu hình, hay trừu tượng; 3 Hệ thống khoa học, hay thực chứng

Theo quy luật ba giai đoạn, mỗi giai đoạn trước là điều kiện phát triển của mỗi giai đoạn sau Ví dụ, nếu không có hệ thống dòng họ thì khó có thể phát triển các hệ thống tiếp theo như hệ thống chính trị, luật pháp, quân đội và

Trang 21

17

hệ thống xã hội công nghiệp hiện đại Lịch sử tiến hóa xã hội diễn ra theo con đường tích lũy, tiến hóa (các tư tưởng mới, các hệ thống cơ cấu mới được xây dựng, được bổ sung vào cái cũ); ví dụ, trong xã hội hiện đại, dòng họ không mất đi, cũng như các tư tưởng thần bí, siêu tự nhiên không hoàn toàn bị biến mất

Việc biến đổi từ giai đoạn này sang giai đoạn khác không "trôi chảy, nhẹ nhàng", mà thường trải qua thời kỳ bất ổn định, mâu thuẫn giữa cái cũ và cái mới Comte cho rằng, hệ thống văn hóa bao gồm đạo đức và tinh thần quy định sự phát triển của hệ thống xã hội, cơ cấu xã hội

Dựa vào quy luật ba giai đoạn, Comte cho rằng việc "xã hội học" ra đời

ở giai đoạn cuối của quá trình tiến hóa là một tất yếu lịch sử; và xã hội học là khoa học đứng trên tất cả các khoa học khác Xã hội học ra đời ở giai đoạn cuối của quá trình tiến hóa - giai đoạn thực chứng và đó là khoa học phức tạp nhất, phải dựa trên nền tảng khoa học khác Vì ra đời muộn nên xã hội học ngay lập tức đã phải là một khoa học thực chứng và chiếm vị trí cao nhất trong hệ thống thứ bậc các khoa học

Như vậy, Comte là người đầu tiên chỉ ra nhu cầu và bản chất của một khoa học về các quy luật tổ chức xã hội Comte cho rằng bản chất của xã hội học là ở chỗ sử dụng các phương pháp khoa học để xây dựng lý thuyết và kiểm chứng giả thuyết Quan điểm như vậy của Comte về chủ nghĩa thực chứng khác hẳn với quan niệm của một số nhà nghiên cứu thế kỷ XIX và thế

kỷ XX Comte đã chỉ ra được các nhiệm vụ và vấn đề cơ bản của xã hội học

Xã hội học có nhiệm vụ phát hiện ra các quy luật, xây dựng lý thuyết, nghiên cứu cơ cấu xã hội (tĩnh học xã hội) và nghiên cứu quá trình xã hội (động học

xã hội) Quan điểm của Comte về tĩnh học xã hội và động học xã hội là tiền

đề cho Popper phân biệt hai khái niệm “xu thế” và “định luật” Cũng từ quan điểm này ông phê phán Comte “Khi nói đến những định luật nối tiếp nhau,

Trang 22

Hai là, tư tưởng triết học thực chứng của J.S.Mill (1806 – 1873)

J.S.Mill là đại biểu của chủ nghĩa thực chứng xã hội học, đồng thời là nhà kinh tế học, nhà hoạt động xã hội người Anh Mặc dù không làm việc tại Hàn lâm viện mà làm việc tại Công ty Osthindu, nhưng Mill vẫn luôn tích cực hoạt động khoa học, triết học và chính trị học từ những năm 40 của thế kỷ

XX Khoảng thời gian 1823 - 1858 Mill hoạt động kinh doanh, tranh thủ làm quen với các tác phẩm của Saint - Simon, nhưng không tán thành quan điểm của nhà cộng sản không tưởng này về quyết định luận xã hội trong hoạt động của con người Ông luôn ủng hộ chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa cải cách

Mill tán thành rất nhiều quan điểm triết học và logic học của Comte, đặc biệt là quan niệm của Comte về tri thức khoa học và thái độ của ông ta đối với triết học, việc phân biệt giữa tĩnh thái và động thái xã hội, cũng như học thuyết “ba giai đoạn”, xem xét giai đoạn thực chứng như là trạng thái tối cao của xã hội loài người Tuy nhiên, Mill lại bác bỏ học thuyết chính trị, xã hội của Comte hậu kỳ, phát hiện ở đó hiện thân của chủ nghĩa độc tài chính trị

và tinh thần, xem nhẹ tự do và tính cá thể của con người Mill cho rằng cần dành cho con người khoảng không tự do, thay vì quàng lên cổ nó một thứ định mệnh luận xã hội nhân tạo nào đó Tư tưởng chống đối này được Mill trình bày trong “A Comte và chủ nghĩa thực chứng” (1865)

Trang 23

Học thuyết về quy nạp được coi là lý thuyết cấu thành cơ sở của học

thuyết về phương pháp luận của Mill Phép quy nạp của Mill thực chất là sự

kế thừa và phát triển phương pháp quy nạp khoa học do F Bacon xây dựng trong điều kiện khoa học thực nghiệm đương đại Mill đã hoàn thiện các thủ thuật quy nạp của Bacon Mill bắt đầu xem xét chúng như là các thủ thuật nghiên cứu chuyển biến các giả thuyết thành các định luật về quan hệ nhân

quả Có năm phương pháp như vậy đó là: phương pháp giống nhau duy nhất;

phương pháp khác biệt duy nhất; phương pháp hợp nhất sự giống nhau và sự khác biệt; phương pháp những phần còn lại; phương pháp những sự biến đổi

đi liền nhau

Logic học của Mill chính là logic học nghiên cứu khoa học, trọng tâm

của nó được đặt vào các thủ thuật quy nạp Tuy nhiên điều đó không có nghĩa

là loại bỏ các thủ thuật diễn dịch, ông chỉ phê phán sự đề cao thái quá phép diễn dịch và các mệnh đề duy lý, nhưng thừa nhận tác dụng của nó trong nhận thức khoa học Mill nghiên cứu tỉ mỉ và đánh giá cao tam đoạn luận, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trình bày chính xác tri thức nhận được theo con đường quy nạp Song kết luận bằng tam đoạn luận không thể trở thành cái chủ yếu trong khoa học và do vậy chỉ có ý nghĩa kỹ thuật đối với nhà khoa học

Học thuyết về tính nhân quả, Mill xem xét tính nhân quả như là mối

liên hệ tương đối ổn định giữa những cảm giác, như là tính tuần tự bền vững giữa những hiện tượng, như là cái đem lại khả năng tiên đoán những sự kiện tương lai Năng lực tiên đoán như vậy, theo Mill cần được tính đến khi xây

Trang 24

20

dựng logic học của các khoa học tinh thần Nguyên nhân được xác định là tổng thể mọi hiện tượng (hay những điều kiện cần thiết của chúng) tồn tại trước một hiện tượng nào đó Như vậy, nguyên nhân là tổng thể hiện tượng trong thế giới Căn cứ trên định hướng chủ quan của mình, chúng ta thường lựa chọn những hiện tượng tồn tại trước nào đó trong không gian và thời gian làm nguyên nhân cho một hiện tượng chúng ta chưa biết rõ Nhưng theo Mill, khả năng tiên đoán hành vi của con người dựa trên tri thức về nguyên nhân không cản trở việc bộc lộ ý chí tự do Quyết định luận cứng nhắc hoàn toàn không nảy sinh từ quan điểm của Mill về quan hệ nhân quả Tự do trong bối cảnh đó là năng lực tự quyết của ý chí con người

Những quan niệm của Mill, đặc biệt là học thuyết quy nạp và học thuyết về nhân quả đã có những ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành nội dung phương pháp luận triết học lịch sử của Karl Popper Đặc biệt là sự ra đời của phương pháp diễn dịch – giả thuyết của Karl Popper có sự kế thừa ít nhiều dựa trên phương pháp quy nạp của Mill Bởi vì Mill không hoàn toàn loại bỏ các thủ thuật diễn dịch, ông chỉ phê phán sự đề cao thái quá phép diễn dịch và các mệnh đề duy lý, nhưng thừa nhận tác dụng của nó trong nhận thức khoa học Việc kết hợp quá trình đưa ra giả thuyết với việc kiểm tra những hệ quả sinh ra từ nó bằng diễn dịch trong phương pháp luận của Mill cho phép chúng

ta nói về việc ông nắm bắt trước được phương pháp diễn dịch tiên đề đặc trưng cho thế kỷ XX Popper nói: “Phương pháp quy giản những phép khái quát hóa lịch sử hay những phép khái quát hóa loại khác thành một tập hợp những định luật mang tính khái quát cao hơn được Mill gọi là “phương pháp diễn dịch ngược” [30, tr.207]

Ba là, tư tưởng triết học của các nhà Hậu thực chứng

Thế kỷ XIX với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, dẫn đến những biến đổi to lớn trên nhiều mặt của đời sống xã hội, đặt ra nhiều vấn

Trang 25

21

đề cho nhận thức Chủ nghĩa hậu thực chứng ra đời từ những năm 50 là một trào lưu cải cách trong lòng chủ nghĩa thực chứng mới Chủ nghĩa hậu thực chứng ra đời đòi xét lại một loạt quan điểm của chủ nghĩa thực chứng mới Với các đại biểu tiêu biểu như Karl Popper ,Thomas S.Kuhn và I.Lakatos

Sự xuất hiện của nó đánh dấu sự chuyển hướng trong việc xác định đối tượng nghiên cứu của triết học khoa học nửa cuối thế kỷ XX Một trong những vấn

đề cơ bản của chủ nghĩa hậu thực chứng là sự phát triển của khoa học Chủ nghĩa hậu thực chứng đưa ra một loạt mô hình của sự phát triển khoa học Chủ nghĩa hậu thực chứng có thể phân chia thành các nhánh khác nhau như:

chủ nghĩa duy lý phê phán; phương pháp luận lịch sử; chủ nghĩa duy lý mới

Nguyên tắc thực chứng mà các triết gia thực chứng nêu lên, ở chừng mực nhất định, là những tiêu chuẩn nhằm hiện thực hóa những tri thức của con người, làm cho con người tránh những lầm lạc vô ích, tránh sự viển vông, trừu tượng Chính vì vậy, có thể nói những tưởng của chủ nghĩa thực chứng ít nhiều thể hiện tư duy khoa học, tác phong lối sống của xã hội công nghiệp

Đó là tư duy của thời hiện đại, tư duy hợp lý và thực tế theo khoa học chính xác, tiết kiệm công sức và thời gian, hướng đến hiệu quả và lợi ích thiết thực,

ở khía cạnh khác, nguyên tắc thực chứng để xác minh tính đúng đắn của trí thức mà chủ nghĩa thực chứng nêu lên có vai trò nhất định trong việc loại bỏ những giả định mà những định kiến của con người, hoặc tôn giáo đặt ra như là những hạn chế đối với khoa học Nó tránh những hậu quả do những quy ước tùy tiện có thể thay đổi vào bất cứ lúc nào khi mà đại đa số các nhà khoa học cho rằng sự thay đổi như vậy là cần thiết Bởi trên thực tế, các tri thức gọi là khoa học không phải có sự thay đổi

Việc các nhà thực chứng bằng mọi cách loại bỏ các vấn đề triết học chân chính khỏi khoa học và tách khỏi nghiên cứu khoa học cụ thể khỏi những tiền

đề có tính chất triết học không những dẫn đến chỗ xuyên tạc mối quan hệ qua

Trang 26

Tư tưởng của các nhà Hậu thực chứng có những ảnh hưởng nhất định tới một số vấn đề triết học khoa học của Karl Popper Và xét trong dòng chảy tư duy triết học, Popper vừa là người khai mở, vừa là người phát triển và định hình nên chủ nghĩa duy lý phê phán

1.2.3.Quan niệm về triết học lịch sử

Trước khi đi vào chỉ ra nội dung khái niệm “triết học lịch sử” cần phải cắt nghĩa thế nào là “lịch sử”? Lịch sử là bộ môn khoa học nghiên cứu về quá khứ, đặc biệt là những sự kiện liên quan đến con người Do đó “lịch sử” có

hai nghĩa: thứ nhất, chuỗi các sự kiện lịch sử; thứ hai, một mô tả hay nghiên

cứu về các sự kiện ấy Vì vậy, “triết học lịch sử” cũng được hiểu theo hai

nghĩa tương ứng Một là, sự phản tư triết học về diễn biến và trình tự của các

sự kiện lịch sử; hai là, về bản chất và các phương pháp của những nghiên cứu

về các sự kiện lịch sử Quan điểm về triết học lịch sử trước Hegel thuộc về

loại thứ nhất nhiều hơn là loại thứ hai

Vico là người báo hiệu cho khoa học triết học hiện đại về lịch sử, ông

đã cố gắng giải thích lịch sử xã hội loài người theo quan điểm quyết định luận Ông phủ nhận quan niệm thông thường trong thời đại của ông cho rằng khoa học lịch sử chỉ là sự miêu tả giản đơn những triều đại, những cuộc chiến tranh và sự tích anh hùng Mặc dù thừa nhận sự tồn tại của Thượng đế, nhưng

Trang 27

23

Vico lại chịu ảnh hưởng của triết học duy vật, nên ông cho rằng Thượng đế chỉ vạch ra quy luật cho lịch sử, sau đó Thượng đế không can thiệp vào tiến trình của lịch sử nữa, nhân loại tiến hóa do những nguyên nhân bên trong, nội tại của bản tính con người Đời sống xã hội diễn lại các thời kỳ của đời sống

cá nhân: Tuổi thơ ấu, tuổi thanh niên và tuổi thành niên Trong cuốn “Các nguyên tắc cho một khoa học mới về bản tính chung của các dân tộc” (1972), Vico cho rằng mọi dân tộc đều trải qua ba giai đoạn: Giai đoạn thần linh (tuổi thơ ấu của nhân loại); giai đoạn anh hùng (tuổi thanh niên của nhân loại); giai đoạn nhân văn (tuổi thành niên của nhân loại)

Voltaire chính là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “triết học lịch sử” trong tác phẩm có cùng tên gọi (1975) Voltaire đã loại bỏ sự can thiệp trực tiếp của Chúa vào công việc của con người Theo ông, chính con người làm ra lịch sử của mình Sự phát triển của nhân loại là sự vận động từ tồn tại vô thức đến cơ cấu xã hội có ý thức, đến nền văn minh Khai sáng Voltaire cho rằng,

sự tiến bộ của lý tính quy định sự biến đổi về văn hóa; đến lượt mình văn hóa lại quy định sự biến đổi của tập quán, khoa học, nghệ thuật Do đó, lịch sử chính là cuộc đấu tranh của con người vì văn hóa và tiến bộ

Rousseau đã tiến một bước xa hơn trong quan niệm về sự phát triển lịch

sử Nếu như Vico nêu ra quan niệm về sự phát triển lịch sử loài người nói chung thông qua sự phát triển của những tổ chức xã hội toàn vẹn trong phạm

vi dân tộc theo một vòng chu kỳ khép kín, thì Rousseau đã nêu tư tưởng về xu thế chung của lịch sử nhân loại thông qua sự phát triển của các quan hệ xã hội Ông đã chia tiến trình phát triển lịch sử thành ba giai đoạn: “Trạng thái tự nhiên”, tức là giai đoạn đầu của xã hội, ở giai đoạn này thì chưa có sự khác nhau rõ rệt giữa mọi người về địa vị xã hội, kinh tế…quan hệ xã hội còn thuần khiết, chưa có sự phân biệt về đẳng cấp; “trạng thái công dân” theo Rousseau chính sự phát triển của trí tuệ con người, và đặc biệt, sự xuất hiện

Trang 28

24

của sở hữu tư nhân đã dẫn đến phá vỡ “trạng thái tự nhiên” của xã hội, dẫn đến sự xuất hiện xã hội công dân Ở giai đoạn này xã hội công dân đầy rẫy những bất công áp bức Các mối quan hệ hoàn toàn bị biến mất, đối lập với bản chất tự nhiên của con người Xuất hiện các cuộc chiến tranh và mọi tệ nạn

xã hội khác Vì vậy, đây là thời kỳ bị tha hóa, đối lập với bản tính tự nhiên

của nó Cũng giai đoạn này, nhà nước xuất hiện trên cơ sở khế ước xã hội do nhân dân lập ra một cách thầm lặng Tuy nhiên, do bối cảnh xuất hiện đầy rẫy những bất công, thì nhà nước cũng tha hóa bản chất của mình Từ chỗ do nhân dân lập ra nhằm đảm bảo quyền lợi cho mọi người, nhà nước trở thành công cụ đàn áp nhân dân; trạng thái thứ ba là thông qua cách mạng, xã hội trở

về với “trạng thái tự nhiên” ban đầu của nó, nhưng trên cơ sở cao hơn Mọi bất công và tệ nạn xã hội công dân bị xóa bỏ, tự do bình đẳng được khôi phục

Ngược lại với nghiên cứu của các tiền bối, Hegel coi sự phát triển lịch

sử loài người là sự vận động của ý niệm tự do, coi tự do là chuẩn mực cơ bản đánh giá sự ưu việt của thời đại này so với thời đại khác, của dân tộc này so với dân tộc khác Từ đây, ông chia lịch sử thế giới như sau: 1 Thời kỳ tiền sử không ai có tự do; 2 Thế giới phương Đông cổ đại chỉ một người có tự do là nhà vua chuyên chế, còn nhân dân không có tự do; 3 Thế giới Hy Lạp, La Mã

cổ đại có tự do hạn chế của một số người đó là dân chủ quý tộc; 4 Thế giới nước Đức, Thiên chúa giáo, trung cổ và cận đại có tự do cho tất cả mọi người Quan niệm của Hegel đã không còn hạn chế lịch sử trói buộc nữa, mà ngược lại nó đã có cơ sở lịch sử toàn thế giới đã hình thành về cơ bản Hegel đã nắm được những biến đổi của lịch sử qua những bước đi khác nhau về chất và làm

cơ sở cho việc xác định những thời kỳ lịch sử cơ bản, Hegel muốn hướng tới cái căn nguyên thật sự của quá trình lịch sử đó là sự phát triển của bản thân con người

Trang 29

25

Quan điểm của Marx về triết học lịch sử chính là chủ nghĩa duy vật lịch

sử, học thuyết này lý giải sự tiến hóa của xã hội loài người bằng sự phát triển của trình độ sản xuất Trình độ sản xuất thay đổi khiến quan hệ sản xuất cũng thay đổi dẫn đến những mối quan hệ xã hội thích ứng với những quan hệ sản xuất đó cùng với những tư tưởng nảy sinh ra từ những quan hệ xã hội đó cũng thay đổi kéo theo sự thay đổi hệ thống pháp lý và chính trị Chủ nghĩa duy vật lịch sử nghiên cứu xã hội với tư cách là một chỉnh thể thống nhất để vạch ra những nét chung của sự phát triển xã hội, những động lực, những nguyên nhân cơ bản của sự chuyển biến từ một hình thái kinh tế - xã hội này sang một hình thái kinh tế - xã hội khác, mối liên hệ qua lại và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những hiện tượng khác nhau của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, tư tưởng v.v…Từ đó, vạch ra những quy luật chung nhất của sự vận động

và phát triển xã hội, chỉ ra vị trí và vai trò của mỗi mặt của đời sống xã hội, trong hệ thống xã hội nói chung, vạch ra những nét cơ bản của các giai đoạn phát triển của xã hội loài người

Tóm lại, tư tưởng triết học lịch sử đã hình thành từ trong lịch sử triết học phương Tây và được khởi đầu từ Vico, Voltaire, Rousseau,…cho tới Hegel và Marx Khái lược các tư tưởng nêu trên, có thể định nghĩa khái niệm

triết học lịch sử như sau: “Triết học lịch sử là một bộ phận tri thức triết học,

gắn liền với việc nhận thức mục đích và các quy luật của tiến trình lịch sử, giải quyết vấn đề quan hệ giữa quá khứ, hiện tại và tương lai.” [xem 35, tr.5]

Như vậy, thế kỷ XX với nhiều biến động đã thôi thúc các nhà khoa học đưa ra những học thuyết, quan điểm mới phù hợp hơn với bối cảnh lịch sử đương thời dựa trên cơ sở phê phán hoặc kế thừa tư tưởng của các bậc tiền bối Đối với Karl Popper, ông đặc biệt đề cao sự phát triển của tri thức nhân

loại, do đó những thành tự khoa học công nghệ thế kỷ XX, nổi bật là nguyên

lý bất định trong vật lý lượng tử đã có những ảnh hưởng rất lớn đến quan

Trang 30

26

điểm “bất định luận lịch sử” của ông Bên cạnh đó, những tư tưởng triết học của các bậc tiền bối như A.Comte, J.S Mill, các nhà Hậu thực chứng và đặc biệt là quan niệm về triết học lịch sử của Marx, Hegel cũng có những ảnh hưởng không nhỏ tới sự hình thành nội dung phương pháp luận triết học lịch

sử của Karl Popper Ông kế thừa tiền đề tư tưởng của chủ nghĩa thực chứng mới về việc đề cao vai trò quan sát, thực nghiệm Nhưng lại bác bỏ nguyên tắc thực chứng dựa trên phương pháp quy nạp của chủ nghĩa thực chứng mới

và đưa ra nguyên tắc phủ chứng và phương pháp diễn dịch

1.3 Cuộc đời và tác phẩm “Sự nghèo nàn của thuyết sử luận” của Karl Popper

1.3.1 Những nét chính về cuộc đời Karl Popper

Karl Raimund Popper sinh ngày 28 tháng 07 năm 1902 tại Vienna và mất ngày 17 tháng 09 năm 1994 tại London Ông là nhà triết học Anh, gốc

Áo, được đánh giá là một trong những nhà triết học về khoa học có ảnh hưởng nhất thế kỷ XX Ban đầu, Karl Popper chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa thực chứng logic, song ông cũng là một trong những người đầu tiên phê phán trường phái đó và xây dựng trường phái triết học của riêng mình – chủ nghĩa duy lí phê phán

Karl Popper sinh ở Vienna (thuộc lãnh thổ Áo – Hung thời bấy giờ), trong một gia đình trung lưu gốc Do Thái, cả cha và mẹ đều cải đạo theo đạo Tin Lành Cha ông, Dr S.S.C Popper, một luật sư danh tiếng, tuy nhiên đã mất hết gia sản và cơ nghiệp sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất Mẹ ông, bà

J Popper, nhạc công dương cầm tài năng Popper được nuôi dưỡng trong một gia đình mà sách và âm nhạc luôn đóng vai trò quan trọng Chính vì vậy, ngay

từ khi còn trẻ Popper đã quan tâm đến cả hai lĩnh vực là âm nhạc và khoa học Bên canh đó, ông cũng chú ý đến những câu hỏi về triết học và chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx

Trang 31

27

Ông tốt nghiệp Đại học Vienna và nhận bằng Tiến sĩ Tâm lý học năm

1928 Từ năm 1930 đến năm 1936 ông làm giáo viên trung học Cuốn sách

đầu tiên của Popper là Logik der Forschung (Logic khám phá khoa học) được

xuất bản năm 1934 Trong tác phẩm này, ông đã phê phán quan điểm duy tâm

lí, duy tự nhiên, duy nghiệm cũng như chủ thuyết thực chứng logic và xây dựng một luận thuyết của riêng mình, coi khả năng kiểm sai như một tiêu chí nhằm phân biệt giữa khoa học và không khoa học

Năm 1937, khi chủ nghĩa phát xít nổi lên, Popper phải di cư sang New Zealand và giảng dạy triết học tại trường Đại học Canterbury thuộc giáo hội công giáo

Trong mùa đông 1944, 1945 nhờ vào sự giúp đỡ của Friedrich August von Hayek, Popper nhận được lời mời giảng dạy tại der London School of Economics (LSE) and Political Science

Đầu tháng 1 năm 1946 vợ chồng Popper đến nước Anh, ông trở thành Phó Giáo sư môn Logic học và phương pháp khoa học của Học viện Kinh tế London và được phong Giáo sư vào năm 1949

Năm 1965 Karl Popper được Nữ hoàng Elisabeth II phong tước hiệp sĩ

và được bầu làm Hội viên Hội Hoàng gia Anh năm 1976 Năm 1969 ông ngưng giảng dạy nhưng vẫn tiếp tục viết sách Năm 1992 ông được Goethe của Đức trao tặng Huy chương Goethe

Các tác phẩm chính của ông bao gồm: Hai vấn đề của học thuyết tri thức (1979); Logic của sự khám phá khoa học (1934); Xã hội mở và kẻ thù của nó (1945); Sự nghèo nàn của thuyết sử luận (1957); Thuyết duy thực và nhiệm vụ của Khoa học (1956/57); Phỏng định và Bác bỏ: sự tăng trưởng của tri thức (1963); Tri thức khách quan – một cách tiếp cận dưới góc độ tiến hóa (1972);…

1.3.2.Tác phẩm Sự nghèo nàn của thuyết sử luận

Trang 32

28

Tác phẩm “Sự nghèo nàn của thuyết sử luận” (1957) được Karl Popper viết trong giai đoạn chiến tranh thế giới thứ hai, và nhanh chóng trở thành một trong những tác phẩm quan trọng của ngành lịch sử triết học đương đại Trong tác phẩm này, Karl Popper đi vào phê phán thuyết sử luận (historicism), chính là phê phán quan điểm duy vật lịch sử Ông muốn chứng minh rằng, thuyết sử luận là một phương pháp “nghèo nàn” Karl Popper tập trung phê phán quan điểm cho rằng, con người nghiên cứu quá khứ để từ đó tìm ra những bước đi tiếp theo của lịch sử dựa trên quy luật tất yếu của lịch

sử, để nắm bắt và dự đoán được quy luật phát triển của xã hội Qua đó ông khẳng định con người không thể tiên đoán được tương lai của lịch sử Sau khi phê phán thuyết sử luận, Karl Popper đưa ra quan điểm về thuyết “bất định luận lịch sử”, vì tương lai là vô định và liên tục thay đổi nên con người không thể nhận thức được quy luật của lịch sử Do vậy, để cải tạo xã hội thì con người cần áp dụng phương pháp “thử - sai” ở từng chi tiết nhỏ, tức là phương pháp “kiến dựng phân mảnh”, nó đối lập với phương pháp “kiến dựng xã hội chủ toàn”

Về kết cấu của tác phẩm: Ngoài phần Chú thích về niên biểu, Lời tựa, Dẫn nhập, tác phẩm được chia thành 4 phần:

Phần 1 Những luận thuyết phản tự nhiên luận của thuyết sử luận

Phần 2 Những luận thuyết duy tự nhiên luận của thuyết sử luận

Phần 3 Phê phán những luận thuyết phản tự nhiên luận

Phần 4 Phê phán những luận thuyết duy tự nhiên luận

Ở hai chương đầu của tác phẩm, Karl Popper tập trung làm rõ những luận thuyết phản tự nhiên luận và duy tự nhiên luận của thuyết sử luận Luận thuyết phản tự nhiên cho rằng không thể áp dụng được những phương pháp của vật lý vào trong nghiên cứu các vấn đề của xã hội học Trái lại, luận

Trang 33

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trong chương một chúng ta đã chỉ ra những tiền đề lịch sử của sự hình thành tư tưởng triết học của Karl Popper trong tác phẩm “Sự nghèo nàn của

thuyết sử luận”, cụ thể là về phương pháp luận triết học lịch sử của ông Thứ

nhất, Tư tưởng triết học của Karl Popper phản ánh những điều kiện kinh tế -

xã hội của thời đại hiện nay và sự phát triển của khoa học công nghệ thế kỷ

XX Thứ hai, Tư tưởng của Popper ra đời dựa trên sự kế thừa hoặc phê phán

những tiền đề lý luận như tiền đề khoa học tự nhiên, các trào lưu triết học duy

khoa học và quan niệm về triết học lịch sử của Marx, Hegel Thứ ba, phân

tích những nét chính yếu về cuộc đời và sự nghiệp, các tác phẩm chính trong

di sản triết học và tóm tắt nội dung của tác phẩm “Sự nghèo nàn của thuyết sử luận” Sự phân tích trên cho phép chúng ta hiểu sâu sắc hơn về tư tưởng triết học của Karl Popper nói chung và những nội dung phương pháp luận triết học lịch sử của ông nói riêng

Trên thực tế, những tiền đề lịch sử trên đây cũng như cuộc đời, sự nghiệp sáng tạo lý luận của Karl Popper đã ảnh hưởng sâu sắc mang tính quyết định đối với tư tưởng phương pháp luận triết học lịch sử của ông Trong đó, theo quan điểm duy vật Marxist chúng ta phải thấy rằng chính những điều kiện, tiền đề kinh tế là những tiền đề quyết định đối với tư tưởng của K.Popper Tất nhiên các tiền đề khác cũng có ý nghĩa quan trọng, nhưng chúng chỉ có thể tác động đến tư tưởng của K.Popper trên cơ sở những điều kiện kinh tế

Trang 34

30

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRIẾT HỌC LỊCH SỬ CỦA KARL POPPER TRONG TÁC PHẨM “SỰ NGHÈO

NÀN CỦA THUYẾT SỬ LUẬN”

Phương pháp luận triết học của Karl Popper được đưa ra thông qua việc ông phê phán những phương pháp luận của “thuyết sử luận” Chủ đề của Karl Popper trong tác phẩm “Sự nghèo nàn của thuyết sử luận” là việc phê phán

“thuyết sử luận”, nhưng để phê phán “thuyết sử luận” Karl Popper đã đưa ra phương pháp triết học lịch sử - mà theo ông việc đưa ra phương pháp này là

để khẳng định việc ông đứng trên lập trường nào để phê phán “thuyết sử luận”

Có thể hiểu phương pháp luận triết học lịch sử của Karl Popper là hệ

thống những quan điểm, những nguyên tắc rút ra từ tư tưởng triết học lịch sử của ông, để chỉ đạo chủ thể trong việc xác định, lựa chọn phương pháp nghiên cứu kết cấu và những quy luật của lịch sử

2.1 Sự phê phán của Karl Popper đối với “Thuyết sử luận” và quan điểm “bất định luận lịch sử”

2.1.1.Sự phê phán của Karl Popper đối với “thuyết sử luận”

Trước khi đi vào phê phán thuyết sử luận, Karl Popper đặt cho mình một nhiệm vụ đó là giải thích nó Ông cho rằng thuyết sử luận là một cách

tiếp cận đặc biệt bởi vì nó là sự kết hợp của cả hai khuynh hướng là phản tự

nhiên và duy tự nhiên Do vậy, ở hai chương đầu của tác phẩm Sự nghèo nàn của Thuyết sử luận Karl Popper đã cố gắng phân tích một cách khách quan

nhất về những luận thuyết phản tự nhiên và những luận thuyết duy tự nhiên

Từ đó lấy làm cơ sở để phê phán cả hai luận thuyết này ở hai chương sau của tác phẩm và mục đích cuối cùng là để phê phán thuyết sự luận

Khái niệm sử luận được Karl Popper khái quát như sau: “Sử luận…là một cách tiếp cận đối với các bộ môn khoa học xã hội mà với cách tiếp cận đó

Trang 35

31

người ta khẳng định rằng nhiệm vụ chủ yếu của các bộ môn khoa học là tiên đoán lịch sử, và người ta còn khẳng định rằng mục đích này hẳn sẽ đạt tới thông qua việc phát hiện ra những “nhịp độ” hoặc những “khuôn mẫu”, những “quy luật” hoặc những “xu hướng” được coi là nền tảng của quá trình tiến hóa lịch sử”[30, tr.21] Như vậy, chúng ta có thể hiểu “thuyết sử luận” theo quan điểm của Karl Popper không phải là một trường phái, mà nó nằm trong nhiều trường phái, học thuyết khác nhau Bởi vì nó là “một cách tiếp cận đối với các bộ môn khoa học xã hội”, có thể là duy tâm hoặc duy vật Chính vì vậy, Karl Popper áp dụng cả đối với quan điểm của Heraclitus, Plato, Hegel và Marx Trong đó, Popper cho rằng chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa lịch sử chặt chẽ nhất, tinh vi nhất, là giai đoạn cao nhất của thuyết sử luận Vì vậy ông đả kích kịch liệt nhất đối với thuyết này Điểm chung của tiếp cận này là đều có một nhiệm vụ “tiên đoán lịch sử” thông qua việc phát hiện ra những cấu trúc, mô hình, quy luật phát triển của xã hội loài người, trên cơ sở

đó người ta vạch ra những kế hoạch cải biến, xây dựng toàn bộ xã hội của mình theo những dự báo đã được đưa ra

Sự phê phán của Karl Popper về “Thuyết sử luận” chính là để bác bỏ khả năng tiên đoán lịch sử của con người Ông cho rằng, con người không thể nắm bắt được quy luật của lịch sử, do đó không thể đoán trước tương lai của lịch sử Từ việc phân tích và phê phán khuynh hướng phản tự nhiên và khuynh hướng duy tự nhiên của Thuyết sử luận, Karl Popper cho rằng ông đã bác bỏ thành công “Thuyết sử luận” và được khái quát thông qua năm luận điểm sau đây:

“(1) Tiến trình lịch sử nhân loại bị ảnh hưởng rất mạnh bởi sự phát triển

đi lên của tri thức nhân loại (Thậm trí những ai chỉ cần thấy được những sản

phẩm phụ của những quá trình phát triển mang tính hữu hình này kia trong

Trang 36

(3) Bởi vậy, chúng ta không thể tiên đoán tiến trình tương lai của lịch

sử nhân loại

(4) Điều đó có nghĩa là chúng ta phải loại bỏ khả năng có một môn sử

học lý thuyết, tức là một khoa học về lịch sử xã hội tương đương môn vật lí lí thuyết Không thể có một lí thuyết nào về sự phát triển lịch sử được lấy làm

cơ sở cho tiên đoán lịch sử

(5) Mục đích cơ bản của những phương pháp sử luận….do đó đã bị hiểu sai; và thuyết sử luận như vậy là sụp đổ.” [30, tr.14]

Karl Popper luận giải thêm: “Tôi chứng minh bằng cách chỉ ra rằng

không có một nhà tiên tri khoa học nào – dù đó là một nhà khoa học bằng

xương bằng thịt hay một cỗ máy tính – có khả năng bằng những phương pháp

khoa học tiên đoán được những kết quả trong tương lai của chính mình

Những nỗ lực thực hiện điều đó chỉ có thể đạt được kết quả sau khi việc đã rồi, lúc đó đã quá muộn cho một lời tiên đoán ” [30, tr.14] Tức là con người không thể tiên đoán được tương lai của chính mình bằng bất cứ phương pháp khoa học nào, có chăng thì họ chỉ có thể nói được những điều đã xảy ra rồi, lúc này thì lời tiên đoán đã biến thành lời “hồi đoán” Cho nên, thuyết sử luận

cố gắng tìm ra quy luật phát triển lịch sử bằng bất cứ phương pháp lý tính nào cũng là trở nên vô ích, vì những tiên đoán dài hạn của họ là phi khoa học Bởi

vì, những tiên đoán dài hạn chỉ áp dụng được vào các hệ thống tách biệt, ổn

Trang 37

về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa duy vật lịch sử) Việc thừa nhận những tiên đoán ngắn hạn có điều kiện được Popper phân tích rõ thông qua việc phân biệt hai khái niệm “xu thế” và “quy luật” Ông khẳng định xu thế không phải là quy luật Ông nói: “Tôi đã cố chứng minh rằng những “chiều hướng” hay “xu hướng” mà các nhà sử luận nhận ra được trong

sự nối tiếp nhau của các sự kiện gọi là lịch sử không phải là những định luật,

mà nếu có là cái gì đó, thì đó là những xu thế Và rồi tôi đã vạch rõ vì sao một

xu thế, ngược lại với một định luật, không thể dùng làm cơ sở cho những tiên đoán được” [30, tr.205.] Những “xu thế” phải phụ thuộc vào một số điều kiện ban đầu nhất định và những điều kiện ấy sẽ có khả năng thay đổi, vì vậy chúng ta buộc phải hình dung ra những điều kiện trong đó xu thế đang nói đến

có thể sẽ biến mất Do đó không thể dựa vào “xu thế” này để đưa ra những tiên tri lịch sử Và sai lầm chính của thuyết sử luận là nhẫm lẫn “những định luật phát triển” là những “xu thế tuyệt đối”, mà những xu thế này thì không phụ thuộc vào những điều kiện ban đầu và hướng chúng ta đến tương lai theo một hướng nhất định Như vậy Popper chỉ ra sự nghèo nàn của Thuyết sử luận chính là không thể hình dung ra được những điều kiện mà trong đó xu thế này hẳn sẽ biến mất Tức là những nhà sử luận không thể hình dung ra được một

sự biến đổi trong những điều kiện biến đổi Việc phân biệt hai khái niệm “xu thế” và “quy luật” cũng chính là điểm mấu chốt để Popper nhận định rằng thuyết sử luận là một phương pháp nghèo nàn, khó đơm hoa kết trái

Trang 38

34

2.1.2 Quan điểm của Karl Popper về “bất định luận lịch sử”

Nguyên lý bất định được phát triển bởi nhà vật lý lý thuyết người Đức Werner Heisenberg, đây là một nguyên lý quan trọng của cơ học lượng tử Theo nguyên lý bất định ta không bao giờ có thể xác định chính xác cả vị trí lẫn vận tốc (hay động lượng, hoặc xung lượng) của một hạt vào cùng một lúc Nếu ta biết một đại lượng càng chính xác thì ta biết đại lượng kia càng kém chính xác Có thể nói sự ra đời của nguyên lý bất định là sự cáo chung của những lý thuyết có tính chất tất định

Trong giai đoạn đầu của lịch sử vật lý, từ Newton đến trước khi thuyết tương đối ra đời, thì thuyết tất định luận vật lý trở thành niềm tin giáo điều của mọi bộ óc vật lý Ngay cả các triết gia như Spinoza, Leibniz, Kant, Schopenhauer cũng tin vào chủ thuyết này Cho tới khi C S Peirce, một nhà vật lý, nhà toán học và triết học người Mỹ tiến hành phê phán thì niềm tin giáo điều này mới có sự thay đổi Theo Peirce, chúng ta không thể khẳng định được tính hoàn hảo của mọi chiếc đồng hồ vì thế chúng ta tự do phỏng định một sự lỏng lẻo hay một sự không hoàn chỉnh nào đó nhất định trong chiếc đồng hồ Chúng ta cho phép sự có mặt của yếu tố may rủi, đồng thời vẫn tuân thủ các định luật chặt chẽ của Newton và những quy luật sác xuất thống kê Hướng tiếp cận này của Peirce đã dẫn tới vật lý học cổ điển bị đánh đổ và các nhà vật lý dần từ bỏ thuyết tất định vật lý khi xuất hiện lý thuyết lượng tử mới

Karl Popper kế thừa nguyên lý bất định của Werner Heisenberg trong

cơ học lượng tử để luận giải các vấn đề của khoa học xã hội, từ đó phê phán quan điểm quyết định luận (tức là học thuyết về mối liên hệ tất yếu, khách quan, tính quy định nhân quả phổ biến của tất cả các hiện tượng trọng tự nhiên, xã hội và tư duy) của thuyết sử luận và đưa ra quan điểm bất định luận lịch sử Quan điểm này đã được Karl Popper diễn giải thỏa đáng trong chương

Ngày đăng: 05/01/2019, 15:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bachelard. G. (2004), Những tư tưởng lớn từ những tác phẩm vĩ đại, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội (Phạm Việt Phương và Mai Sơn dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tư tưởng lớn từ những tác phẩm vĩ đại
Tác giả: Bachelard. G
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 2004
2. Barrow.J. (2014), Điều bất khả; Giới hạn của khoa học và khoa học giới hạn, Nxb Tri thức, Hà Nội (Diệp Minh Tâm dịch, Chu Lan Đình hiệu đính) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều bất khả; Giới hạn của khoa học và khoa học giới hạn
Tác giả: Barrow.J
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2014
3. Brinton. C (2007), Con người và tư tưởng phương Tây, Nxb Từ Điến Bách khoa, Hà Nội (Nguyễn Kiên Trường dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người và tư tưởng phương Tây
Tác giả: Brinton. C
Nhà XB: Nxb Từ Điến Bách khoa
Năm: 2007
4. Cao Chi (2013), Vật lý hiện đại – Những vấn đề thời sự từ Bigbounce đến vũ trụ toàn ảnh, Nxb Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lý hiện đại – Những vấn đề thời sự từ Bigbounce đến vũ trụ toàn ảnh
Tác giả: Cao Chi
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2013
5. Phạm Văn Chung (2006), Triết học Mác về Lịch sử, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Mác về Lịch sử
Tác giả: Phạm Văn Chung
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
6. Cornforth. M. (2002), Triết học mở và xã hội mở, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội (Đỗ Minh Hợp dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học mở và xã hội mở
Tác giả: Cornforth. M
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2002
7. Nguyễn Văn Dũng (1996), Arixtốt với học thuyết phạm trù, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Arixtốt với học thuyết phạm trù
Tác giả: Nguyễn Văn Dũng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
8. Phạm Văn Đức (6 - 2008), Quan niệm duy vật về lịch sử của C.Mác và ý nghĩa thời đại của nó, Tạp chí Triết học, (số 6), tr. 205 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Triết học
9. Trần Thái Đỉnh (2005), Triết học Kant, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Kant
Tác giả: Trần Thái Đỉnh
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 2005
10. Phan Quang Định (biên soạn) (2008), Toàn cảnh triết học Âu Mỹ thế kỷ XX, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cảnh triết học Âu Mỹ thế kỷ XX
Tác giả: Phan Quang Định (biên soạn)
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2008
11. Đặng Quang Định (8 - 2008), Quan điểm của triết học Mác về lợi ích với tư cách là động lực của lịch sử, Tạp chí Triết học, (số 8), tr. 207 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Triết học
12. Lương Đình Hải (10 - 2013), Karl Popper – xã hội mở và những kẻ thù của nó, Tạp chí Triết học, (số 10), tr. 269 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Triết học
13. Nguyễn Hào Hải (2001), Một số học thuyết triết học phương Tây hiện đại, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số học thuyết triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Nguyễn Hào Hải
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 2001
14. Nguyễn Vũ Hảo (2016), Triết học phương Tây hiện đại, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Nguyễn Vũ Hảo
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2016
15. Nguyễn Thị Hảo (2012), Quan điểm triết học lịch sử của I.Kant, Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm triết học lịch sử của I.Kant
Tác giả: Nguyễn Thị Hảo
Năm: 2012
16. Nguyễn Thị Hảo (6 - 2008), Quan niệm của I.Kant về động lực phát triển của xã hội, Tạp chí Triết học, (số 6), tr. 205 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Triết học
17. Đỗ Minh Hợp (2006), Diện mạo triết học phương Tây hiện đại, Nxb Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diện mạo triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Đỗ Minh Hợp
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2006
18. Đỗ Minh Hợp (2010), Lịch sử triết học đại cương, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học đại cương
Tác giả: Đỗ Minh Hợp
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
19. Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn và Nguyễn Thanh (2008), Đại cương lịch sử triết học phương Tây hiện đại, Nxb. Tổng hợp TP HCM, Tp HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn và Nguyễn Thanh
Nhà XB: Nxb. Tổng hợp TP HCM
Năm: 2008
20. Nguyễn Tấn Hùng (2 - 2013), Karl Raimund Popper với sự phê phán chủ nghĩa thực chứng và chủ nghĩa lịch sử, Tạp chí Triết học, (số 2), tr. 261 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Triết học

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w