Bối cảnh trên đặt ra vấn đề cần phải xây dựng những tiêu chí nhằm phân tích, đánh giá, từ phương pháp xây dựng, đến quá trình thực hiện Chiến lược nghiên cứu Khoa học trong Lâm nghiệp gi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội, 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN TRƯỜNG QUÂN
ĐÁNH GIÁ CHIẾN LƯỢC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG
LÂM NGHIỆP VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60340412 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đặng Ngọc Dinh
Hà Nội, 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành được Luận văn này, trước hết với lòng biết ơn sâu sắc của mình tôi xin gửi lời cảm ơn tới PGT.TS Đặng Ngọc Dinh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình xây dựng, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong và ngoài khoa Khoa học Quản lý, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tham gia giảng dạy Lớp cao học chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ 2015, đặc biệt là PGS.TS Vũ Cao Đàm và PGS.TS Đào Thanh Trường – Trưởng khoa Khoa học Quản lý, đã nhiệt tình giảng dạy và cung cấp rất nhiều kiến thức và kỹ năng cần thiết, hữu ích cho quá trình học tập của tôi, cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Đề hoàn thành luận văn này, tôi cũng nhận được sự giúp đỡ quý báu của lãnh đạo Vụ Khoa học Công nghệ và Hợp tác Quốc tế, Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và các nhà khoa học đang làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu Lâm nghiệp đã hỗ trợ và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của Quý vị
Hà nội, ngày 30 tháng 11 năm 2017
Nguyễn Trường Quân
Trang 41
MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 7
1 Lý do lựa chọn đề tài 7
2 Tóm tắt lịch sử nghiên cứu 8
3 Mục tiêu nghiên cứu 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5 Mẫu khảo sát 11
6 Câu hỏi nghiên cứu 11
7 Giả thuyết nghiên cứu 12
8 Phương pháp chứng minh giả thuyết 12
9 Nội dung nghiên cứu 12
10 Kết cấu luận văn: 14
PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 15
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN PHƯƠNG PHÁP LUẬN ĐÁNH GIÁ CHIẾN LƯỢC 15
1.1 Phương pháp luận về đánh giá Chiến lược phát triển, chiến lược nghiên cứu khoa học 15
1.1.1 Các lý thuyết Đánh giá Chiến lược 15
1.1.2 Đánh giá, nghiên cứu chính sách 20
1.1.3 Kết quả thực hiện chiến lược 20
1.1.4 Đánh giá kết quả, đánh giá chiến lược 22
1.2 Tiêu chí đánh giá chiến lược nói chung và chiến lược nghiên cứu khoa học 23
1.3 Đề xuất bộ tiêu chí đánh giá Chiến lược nghiên cứu khoa học Lâm nghiệp Việt Nam 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1: 32
Trang 52016 41
2.2.1 Kết quả chính đã đạt được trong quy hoạch, giám sát, đánh giá rừng và tài nguyên rừng giai đoạn 2008-2016 42 2.2.2 Kết quả chính đã đạt được trong Chính sách và thể chế lâm nghiệp giai đoạn 2008-2016 46 2.2.3 Kết quả chính đã đạt được trong Quản lý bảo vệ rừng giai đoạn 2008-
2016 49 2.2.4 Kết quả chính đã đạt được trong lĩnh vực môi trường rừng và đa dạng sinh học giai đoạn 2008-2016 53 2.2.5 Kết quả chính đã đạt được trong lĩnh vực Lâm học và kỹ thuật lâm sinh giai đoạn 2008-2016 58 2.2.6 Kết quả chính đã đạt được trong lĩnh vực Công nghiệp rừng, bảo quản và chế biến lâm sản giai đoạn 2008-2016 63 2.3 Những bất cập trong nội dung và quá trình triển khai Chiến lược nghiên cứu khoa học Lâm nghiệp Việt Nam 68
2.3.1 Những tồn tại, hạn chế trong quy hoạch, giám sát, đánh giá rừng và tài nguyên rừng 68 2.3.2 Những tồn tại, hạn chế trong chính sách và thể chế lâm nghiệp 69 2.3.3 Những tồn tại, hạn chế trong Quản lý rừng bền vững 70 2.3.4 Những tồn tại, hạn chế trong lĩnh vực Môi trường rừng và đa dạng sinh học 72
Trang 63
2.3.5 Những tồn tại, hạn chế trong lĩnh vực Lâm học và kỹ thuật lâm sinh 75
2.3.6 Những tồn tại, hạn chế trong lĩnh vực Côg nghiệp rừng, bảo quản và chế biến lâm sản 76
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2: 77
CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ CHIẾN LƯỢC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM 78
GIAI ĐOẠN 2008-2016 78
3.1 Đánh giá Chiến lược theo từng tiêu chí trong bộ tiêu chí đề xuất 78
3.1.1 Tiêu chí phù hợp 78
3.1.2 Tiêu chí Hiệu quả 81
3.1.3 Tiêu chí Tác động 88
3.1.4 Tiêu chí Bền vững 90
3.1.5 Tiêu chí Xã hội 91
3.2 Khuyến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện Chiến lược Nghiên cứu khoa học trong lâm nghiệp, đề xuất định hướng nghiên cứu lâm nghiệp tới năm 2020 92
3.2.1 Khuyến nghị 92
3.2.2 Đề xuất định hướng nghiên cứu lâm nghiệp tới năm 2020 93
Lĩnh vực Quy hoạch, giám sát, đánh giá rừng và tài nguyên rừng 93
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 97
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 7NCKH Nghiên cứu Khoa học
QL&BVR Quản lý và bảo vệ rừng
QLRBV Quản lý rừng bền vững
R&D Nghiên cứu và triển khai
SXKD Sản xuất kinh doanh
TCLN Tổng cục Lâm nghiệp
TNR Tài nguyên rừng
Trang 85
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Bộ tiêu chí đánh giá Chiến lược nghiên cứu khoa học lâm nghiệp
Việt Nam giai đoạn 2008-2016 Error! Bookmark not defined
Bảng 2.1 Thống kê các chương trình, đề tài, dự án theo cơ cấu, loại hình,
nhóm lĩnh vực quy hoạch, giám sát, đánh giá rừng và tài nguyên rừng Error!
Bookmark not defined
Bảng 2.2 Số lượng các nhiệm vụ KHCN lĩnh vực Môi trường rừng Error!
Bookmark not defined và Đa dạng sinh học giai đoạn 2008 – 2015 Error! Bookmark not defined
Bảng 2.3 Số lượng các nhiệm vụ KHCN lĩnh vực lâm học và kỹ thuật lâm
Error! Bookmark not defined sinh giai đoạn 2008 – 2016
Error! Bookmark not defined
Trang 96
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Quy trình hoạch định chính sách, chiến lƣợc 21 Hình 1.2 Mô hình logic cơ bản trong đánh giá kết quả 22 Hình 2.1 Phân loại đề tài nghiên cứu lĩnh vực Công nghiệp rừng, bảo quản
và chế biến lâm sản theo cơ cấu 64 Hình 2.2 Phân loại đề tài nghiên cứu lĩnh vực Công nghiệp rừng, bảo quản
và chế biến lâm sản theo loại hình 64 Hình 2.3 Phân loại đề tài nghiên cứu lĩnh vực Công nghiệp rừng, bảo quản
và chế biến lâm sản theo cấp quản lý 65
Trang 10Bối cảnh trên đặt ra vấn đề cần phải xây dựng những tiêu chí nhằm phân tích, đánh giá, từ phương pháp xây dựng, đến quá trình thực hiện Chiến lược nghiên cứu Khoa học trong Lâm nghiệp giai đoạn 2008-2016 cũng như chỉ ra những nội dung đã làm được, những vấn đề còn tồn tại, đồng thời đưa ra các khuyến nghị điều chỉnh một số nội dung cho phù hợp với định hướng mới tới năm 2020 của ngành lâm nghiệp
Việc đánh giá chiến lược cần dựa trên cơ sở khoa học để phản ánh thực tiễn triển khai, thực hiện khách quan, do đó cần nghiên cứu phương pháp đánh giá để có được một quy trình, hệ thống tiêu chí đánh giá chiến lược Nhiệm vụ này càng trở nên cấp bách khi thực tiễn tại Việt Nam, việc đánh giá các chiến lược phát triển chưa được triển khai thực hiện một cách bài bản, các đánh giá chủ yếu thông qua
Trang 118
khảo sát và dựa trên các kết quả đạt được so với mục tiêu đề ra mà chưa đi sâu vào phương pháp đánh giá hoặc xây dựng hệ tiêu chí đánh giá đối với các lĩnh vực chuyên ngành cụ thể
Với ý nghĩa và những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Đánh giá Chiến
lược Nghiên cứu Khoa học trong Lâm nghiệp Việt Nam đến năm 2020” cho
luận văn thạc sĩ của mình
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Trang 129
Chương Nghiên cứu lâm nghiệp trong “Cẩm nang ngành lâm nghiệp”- Các tác giả GS.TSKH Đỗ Đình Sâm, PGS.TS Triệu Văn Hùng, PGS TS Nguyễn Hoàng Nghĩa đã đưa ra một cách rõ ràng các khái niệm, cơ sở lý luận về nghiên cứu khoa học trong lâm nghiệp, các khuynh hướng trong nghiên cứu lâm nghiệp Tuy nhiên, công trình khoa học này đưa ra được các cơ sở lý thuyết về nghiên cứu khoa học trong lâm nghiệp mà chưa phân tích hay áp dụng để đánh giá đối với các chương trình nghiên cứu lâm nghiệp trong thực tiễn tại Việt Nam
Về đánh giá Chiến lược nghiên cứu khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, đã có
những công trình và các hoạt động sau: “Tình hình thực hiện chiến lược nghiên cứu lâm nghiệp Việt Nam (2008-2020) - Các khoảng trống và những thách thức” của
Nguyễn Xuân Quát, Hoàng Văn Thắng đăng tại tạp chí khoa học Lâm nghiệp số 3 năm 2015 Ngoài ra hàng năm Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương tổ chức đánh giá việc thực hiện Chiến lược phát triển lâm nghiệp theo định kỳ Tuy nhiên, các báo cáo, đề tài nói trên mới chỉ đi sâu vào kết quả thực hiện, mang nhiều ý nghĩa thống kê mà chưa có công trình khoa học hoặc báo cáo nào tiến hành nghiên cứu phương pháp, hệ thống tiêu chí để áp dụng đánh giá chiến lược nghiên cứu lâm nghiệp tại Việt Nam và quá trình thực hiện chiến lược trong thực tiễn
Đề tài cấp Bộ Khoa học và công nghệ số 01/2014-2015 “Nghiên cứu phương pháp đánh giá kết quả thực hiện chiến lược phát triển Khoa học và Công nghệ giai đoạn 2011-2020” do Thạc sĩ Nguyễn Việt Hòa làm chủ nhiệm đã xây dựng được
một cách chi tiết, rõ ràng về quy trình, phương pháp, tiêu chí, kế hoạch và lộ trình đánh giá kết quả thực hiện Chiến lược phát triển Khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020 và đánh giá giữa kỳ thực hiện Chiến lược phát triển Khoa học và công nghệ và Kế hoạch Khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2015 Tuy nhiên, đối với ngành Lâm nghiệp, khi đánh giá Chiến lược nghiên cứu, cần xây dựng phương pháp luận và hệ tiêu chí đánh giá gắn với những đặc thù của ngành, để những phân tích, kết quả đánh giá và các khuyến nghị có thể góp phần tham khảo bổ ích cho hoạt động xây dựng Chiến lược nghiên của lâm nghiệp giai đoạn tới năm 2020 và tiếp theo
Trang 133.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu, phân tích luận cứ khoa học và phương pháp luận đánh giá Chiến lược phát triển hoặc chiến lược nghiên cứu
- Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá chiến lược, tập trung vào hệ tiêu chí đánh giá Chiến lược nghiên cứu khoa học lâm nghiệp với bối cảnh Việt Nam
- Phân tích hiện trạng nghiên cứu lâm nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2008-2016
- Đánh giá việc xây dựng và kết quả thực hiện Chiến lược nghiên cứu khoa học trong lâm nghiệp Việt Nam trong giai đoạn 2008-2016 theo các tiêu chí đã đề xuất, nhằm phân tích những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trong quá trình triển khai tổ chức thực hiện Chiến lược nghiên cứu khoa học trong lâm nghiệp Việt Nam trong giai đoạn 2008-2016
- Đề xuất khuyến nghị đóng góp hoàn thiện việc thực hiện Chiến lược nghiên cứu khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đến năm 2020, và có thể tham khảo khi xây dựng Chiến lược nghiên cứu lâm nghiệp của Việt Nam sau năm 2020
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Chiến lược nghiên cứu khoa học lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2008 – 2020
4.2 Giới hạn phạm vi quãng thời gian diễn biến của đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu giai đoạn thực hiện chiến lược từ năm 2008-2016
4.3 Giới hạn phạm vi không gian khảo sát:
Luận văn nghiên cứu và khảo sát được thực hiện tại các tổ chức, viện, trường đại học có các hoạt động nghiên cứu lâm nghiệp tại Việt Nam
Trang 1411
5 Mẫu khảo sát
Luận văn khảo sát, đánh giá Chiến lược nghiên cứu khoa học Lâm nghiệp và
đề xuất khuyến nghị kế hoạch hành động nghiên cứu lâm nghiệp giai đoạn
2016-2020 tại một số tổ chức như sau:
- Các Viện nghiên cứu gồm: Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Điều tra Quy hoạch rừng, Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy
- Các Trường Đại học gồm: Đại học Lâm nghiệp, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Đại học Nông Lâm Huế, Đại học Tây Nguyên, Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh
- Các tổ chức phi chính phủ làm việc về nghiên cứu Lâm nghiệp
- Các chuyên gia làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu lâm nghiệp
6 Câu hỏi nghiên cứu
6.1 Câu hỏi chủ đạo của đề tài:
Phương pháp luận và các tiêu chí nào cần được sử dụng để đánh giá một chiến lược phát triển hoặc chiến lược nghiên cứu? Áp dụng trong nghiên cứu trường hợp đánh giá Chiến lược Nghiên cứu Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2008-
2016 và phục vụ tích cực xu hướng phát triển của ngành lâm nghiệp Việt Nam?
6.2 Các câu hỏi cụ thể:
- Phương pháp luận và các tiêu chí nào cần sử dụng để đánh giá một chiến lược phát triển nói chung và chiến lược nghiên cứu? Những đặc thù nào cần quan tâm trong phương pháp luận và trong các tiêu chí khi đánh giá chiến lược nghiên cứu khoa học ngành Lâm nghiệp?
- Quá trình thực hiện và kết quả việc thực hiện Chiến lược Nghiên cứu Khoa học trong Lâm nghiệp Việt Nam tới năm 2016 có những mặt tích cực và bất cập ra sao, theo các tiêu chí đã đề xuất?
- Những khuyến nghị, nội dung nào cần được đề xuất điều chỉnh cho phù hợp với định hướng mới của ngành lâm nghiệp Việt Nam tới và sau năm 2020?
Trang 1512
7 Giả thuyết nghiên cứu
Sau 8 năm được đưa vào thực hiện, Chiến lược nghiên cứu lâm nghiệp đã chứng minh được hiệu quả với nhiều thành tựu và ý nghĩa đóng góp quan trọng vào
sự phát triển của ngành lâm nghiệp, tuy nhiên quá trình đánh giá định kỳ vẫn chưa dựa trên một phương pháp luận rõ ràng và những tiêu chí khoa học cụ thể Ngoài ra vẫn còn nhiều khoảng trống trong quá trình thực hiện, chẳng hạn, các nghiên cứu lâm nghiệp hiện nay tập trung chủ yếu vào các khía cạnh kỹ thuật, công nghệ, nghiên cứu
và triển khai Trong khi đó, các nghiên cứu lâm nghiệp xã hội, tác động xã hội vẫn chưa thực sự được coi trọng, do đó các đóng góp từ các nghiên cứu cho các yếu tố xã hội, con người còn hạn chế
8 Phương pháp chứng minh giả thuyết
- Phương pháp phân tích tài liệu:
Phân tích các nguồn tài liệu, tài liệu lý thuyết về đánh giá chiến lược phát triển Thu thập, tổng hợp và phân tích các tài liệu liên quan đến nội dung đề tài Số liệu, thông tin đề tài sử dụng là số liệu điều tra của Tổng cục Lâm nghiệp (2008-2016) và từ Báo cáo hoạt động nghiên cứu khoa học trong lâm nghiệp của Tổng cục Lâm nghiệp, các
tổ chức nghiên cứu lâm nghiệp tại Việt Nam
- Phương pháp phỏng vấn sâu: lấy ý kiến bằng phỏng vấn, văn bản từ các chuyên gia hoạt động làm việc, nghiên cứu trong lĩnh vực lâm nghiệp
- Phương pháp quan sát: Phương pháp quan sát được thực hiện trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu
9 Nội dung nghiên cứu
9.1 Các luận cứ lý thuyết - Cơ sở lý luận của đề tài
Các khái niệm và lý thuyết liên quan đến nghiên cứu khoa học, nghiên cứu khoa học trong lâm nghiệp và chiến lược nghiên cứu khoa học trong lâm nghiệp
Các khái niệm và cơ sở lý thuyết liên quan đến đánh giá chiến lược, phương pháp, tiêu chí và quy trình đánh giá chiến lược
Phương pháp luận đánh giá một chiến lược phát triển, chiến lược nghiên cứu
Trang 1613
Những chính sách liên quan đến Chiến lược nghiên cứu khoa học trong Lâm nghiệp tại Việt Nam.Trong đó phân tích sâu chủ trương, chính sách thúc đẩy nghiên cứu khoa học tại các tổ chức nghiên cứu lâm nghiệp
9.2 Các luận cứ thực tế
Những quan điểm và chính sách liên quan đến Chiến lược nghiên cứu khoa học trong lâm nghiệp tại Việt Nam của Đảng và Nhà nước ta Phương pháp xây dựng chiến lược nghiên cứu lâm nghiệp tại Việt Nam
Thực trạng và kết quả thực hiện Chiến lược nghiên cứu khoa học trong lâm nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2008-2016
Định hướng hoạt động nghiên cứu ngành lâm nghiệp giai đoạn 2016-2020
Trang 1714
10 Kết cấu luận văn:
PHẦN 1 MỞ ĐẦU
PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1 Cơ sở lý luận - Phương pháp luận đánh giá chiến lược
1.1 Phương pháp luận về đánh giá chiến lược phát triển, chiến lược nghiên cứu khoa học
1.2 Tiêu chí đánh giá chiến lược nói chung và chiến lược nghiên cứu khoa học 1.3 Đề xuất bộ tiêu chí đánh giá Chiến lược nghiên cứu khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Kết luận chương 1
CHƯƠNG 2 Mục tiêu, Nội dung và Kết quả thực hiện Chiến lược nghiên cứu khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
2.1 Mục tiêu và những nhiệm vụ chủ yếu của Chiến lược phát triển ngành lâm
nghiệp và Chiến lược nghiên cứu khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
2.2 Kết quả thực hiện Chiến lược giai đoạn 2008-2016
2.3 Những bất cập trong nội dung và quá trình triển khai Chiến lược nghiên cứu
khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Kết luận Chương 2
CHƯƠNG 3 Đánh giá Chiến lược nghiên cứu Lâm nghiệp Việt Nam
3.1 Đánh giá Chiến lược theo từng tiêu chí trong bộ tiêu chí đề xuất
Trang 181.1.1 Các lý thuyết Đánh giá Chiến lược
Tiếp cận từ lý thuyết kinh tế
Richard P.Rumelt (1979) đã xuất bản tài liêu: Đánh giá Chiến lược: Lý thuyết và mô hình, tài liệu chủ yếu tập trung đề cập đến quản lý Chiến lược, chính
sách kinh doanh và kế hoạch
Xu hướng từ những năm 1980 đến nay, nhiều nhà kinh tế học nghiên cứu lý thuyết lập mô hình kinh tế lượng vĩ mô trong đánh giá chính sách KH&CN Mô hình kinh tế lượng tập trung vào việc chứng minh sự đóng góp của KH&CN vào tăng năng suất và tăng trưởng kinh tế Bayoumi, Coe và Helpman (199), tập hợp cấu trúc của các mô hình nội sinh là mô hình kết hợp chặt chẽ các cơ chế gia tăng năng suất quốc gia, số lượng sử dụng nghiên cứu và phát triển, sự phổ biến nghiên cứu và phát triển và thương mại
Năm 2002, Cộng đồng EU tài trợ dự án: “Hộp công cụ đánh giá tác động kinh tế- xã hội của các chính sách nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ”
Báo cáo đã cung cấp phương pháp luận để đánh giá tác động đến kinh tế- xã hội của các chính sách nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của khu vực nhà nước, đóng góp vào quá trình hoạch định chính sách Trong khuôn khổ của dự án, Henri Capron, Michele Cincera và Jaime Rojo (2002) đã đưa ra “Phương pháp luận kinh
tế lượng vĩ mô đánh giá nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ”, các nhà kinh
tế học cho rằng, việc đánh giá cần phải phân tích sự sắp xếp theo hệ thống, kết quả đánh giá là chìa khoá cho các vấn đề Để đánh giá cần có các công cụ trong mô hình kinh tế, hai trong nhiều công cụ được sử dụng trong đánh giá là tiền kiểm (ex-ante)
và hậu kiểm (ex-post)
Trang 1916
Lý thuyết đánh giá chính sách, chiến lược
Đánh giá quy trình hoạch định chiến lược (Leslie A Pal 2011): Theo tác giả, việc đánh giá kết quả thực hiện chiến lược cần phải đánh giá cả quy tình hoạch định, phân tích rủi ro trong thực hiện, đánh giá và nhìn trước được vấn đề ngay từ khi thiết kế (xây dựng) chính sách, việc triển khai thực hiện cần được thiết kế cả điểm mạnh (hiệu quả), điểm yếu (không hiệu quả), đánh giá kết quả bao gồm kết quả trước mắt, trung hạn và dài hạn
Kiểm tra và đánh giá tác động (Robert McDonald, 2011): McDonald nghiên cứu cơ sở hình thành phương pháp đánh giá tác động của chính sách KH&CN khi được chính phủ liên bang Canada ban hành, tác giả đã đưa ra đề xuất
áp dụng các phương pháp đánh giá sau:
- Xem xét những vấn đề cùng thay đổi
- Sử dụng phương pháp điều tra
- Phương pháp chi phí lợi ích
Kỳ, Canada, Hàn Quốc và Trung Quốc Báo cáo đưa ra hướng dẫn chung về đánh giá chương trình KH&CN từ mục đích đánh giá đến việc đưa ra tiêu chuẩn (nguyên tắc) đánh giá chương trình Báo cáo cũng đã xây dựng được 12 phương pháp, 5 tiêu chí và quy trình đánh giá các chương trình KH&CN gồm 7 bước Trong khi tiêu chí đánh giá đầu kỳ là: tính hợp lý, sự phù hợp; đánh giá giữa kỳ là: tính phù hợp và hiệu suất, cuối kỳ là: tính phù hợp, hiệu quả và hiệu suất thì đánh giá tác động chủ yếu tập trung vào tác động lâu dài của các nghiên cứu được thực hiện từ chương trình Sản phầm của đề án là bộ tài liệu hướng dẫn đánh giá chương trình KH&CN
Trang 2017
áp dụng đánh giá theo 4 giai đoạn
Đánh giá chiến lược được phát triển mạnh mẽ cuối những năm 1990, tuy nhiên cơ sở lý luận chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn do đó sự phát triển đa ngành và cách tiếp cận đa ngành được bổ sung, Bản thân khoa học quản lý và chính sách công không ngừng đổi mới trọng tâm trong nghiên cứu chính sách tập trung vào nghiên cứu vai trò, tác động của chính sách, miêu tả, phân tích, hoặc quan tâm
và giải thích kết quả của một quá trình hoạch định chính sách có thể là một sự đánh giá mới, hoặc đánh giá các chương trình, chính sách hiện tại, miêu tả tốt thực tiễn,
sự thay đổi của các tiêu chuẩn xã hội, mô hình thử nghiệm các dự án ở quy mô rộng lớn, hoặc các nghiên cứu thực nghiệm lớn cho các năm và một thời kỳ 10 năm
Khái niệm Đánh giá
Khái niệm đánh giá
Đánh giá là một quá trình có hệ thống và khách quan, đánh giá sự phù hợp, hiệu quả và hiệu lực của các chiến lược, chính sách, chương trình, dự án (có thể gọi chung là chính sách) trong việc đạt được mục tiêu đề ra Nó vừa là lý thuyết vừa là thực hành, kết quả đánh giá trở lại phục vụ quá trình hoạch định chính sách giúp xây dựng và đánh giá các chính sách cơ bản Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều nhầm lẫn
về thực tế những gì có thể đánh giá và hiệu quả đạt được (EU, 2002)
Đánh giá như một sự thẩm định có hệ thống và khách quan nhất có thể đối với việc hoàn thành chính sách đã được thiết kế, việc thực hiện và các kết quả Mục đích là để xác định sự phù hợp việc thực hiện các mục tiêu, hiệu quả, tác động và tính bền vững Một đánh giá cần cung cấp thông tin đáng tin cậy và hữu ích, bao gồm việc đưa ra các bài học kinh nghiệm vào quá trình ra quyết định của cả người nhận và các nhà tài trợ (OECD 2008)
Đánh giá là hành động xem xét việc thực hiện: Đánh giá có thể được định nghĩa là hành động xem xét lại hoặc quan sát và ghi lại việc thực hiện các hoạt động hay hành vi, đánh giá hành vi hoặc hoạt động đi ngược với các mục tiêu và ghi nhận những điểm mạnh, điểm yếu, thiếu sót, hoặc quan sát khác Đánh giá không phải là một sự kiện suy nhất trong quá trình thực hiện, thay vào đó, nó sẽ được tích hợp vào thiết kế một cách cẩn thận thực hiện tổng thể Đầu ra của đánh giá thực hiện là
Trang 2118
thông tin được sử dụng để thực hiện việc cải thiện trong tương lai Vì lý do này, thực hiện đánh giá là một phần của một quá trình đang diễn ra để chuẩn bị sẵn sàng của việc thực hiện cải tiến/ cải thiện các hoạt động (FEMA 2012) Theo FEMA những lợi ích của đánh giá là: kiểm soát được việc thực hiện, đánh giá việc thực hiện, và hành động dựa trên các kết quả khuyến nghị Một đánh giá chỉ có giá tị khi
nó dẫn đến sự cải thiện tình hình
Đánh giá là một hoạt động bao quát trong một thời gian cụ thể, nhằm xem xét một cách hệ thống và khách quan mức độ hiệu quả và thành công, hoặc thiếu sót của những chính sách đang thực hiện hoặc đã hoàn thành Việc đánh giá được thực hiện một cách có chọn lọc để: (i) Trả lời các câu hỏi cụ thể để định hướng cho các nhà hoạch định chính sách và/ hoặc các nhà quản lý chương trình; (ii) Cung cấp thông tin về việc liệu các lý thuyết và giả định được sử dụng khi thực hiện chính sách có đúng hay không, cái gì làm được và cái gì không làm được, lý do tại sao Việc đánh giá thường nhằm mục đích xác định mức dộ phù hợp, giá trị của thiết kế, hiệu suất, hiệu quả, tác động và tính bền vững của một chương trình/chính sách (Depocen, 2012)
Mục đích đánh giá
Mục đích của đánh giá là kiểm tra, xác định sự phù hợp các mục tiêu, định hướng nhiệm vụ và giải pháp đã được hoạch định trong chiến lược với tình hình thực hiện Đánh giá thẩm định cả khả năng, năng lực thực hiện chiến lược nhằm đưa
ra được kế hoạch, giải pháp cải tiến, cải thiện thực tiễn để quá trình triển khai thực hiện Chiến lược đáp ứng được mục tiêu mong đợi của chính phủ và của người dân thông qua việc ban hành chiến lược
Kết quả chính của việc thực hiện đánh giá đó là: đem lại thông tin và kết luận cần thiết cho việc ra quyết định cho việc hoạch định và phân tích chính sách Đánh giá chính sách bao gồm quá trình sản xuất kiến thức và thông tin bởi các tác nhân tham gia trực tiếp vào chính sách hoặc các hệ thống chính trị Kết quả đánh giá có thể nhanh chóng tái định vị các chính sách và chương trình, định hình việc phân bố
và tái phân bổ tài chính công và cho biết tình hình phát triển của Chiến lược
Trang 2219
Các giai đoạn đánh giá
Theo OECD (2012), đánh giá cần thực hiện qua các bước khác nhau của chu
kỳ chính sách (đầu kỳ, giữa kỳ và cuối kỳ) Đánh giá có thể thực hiện như là một phần của hợp đồng hoặc được bắt buộc bởi luật Đánh giá chính sách/chương trình dặc biệt để bắt đầu thể hiện đầu vào, đầu ra và lượng gia tăng sự can thiệp của chính phủ Các phương pháp và tiêu chí đánh giá phong phú phụ thuộc vào loại thông tin cần tìm kiếm
Leslie A Pal cho rằng khi đánh giá cần phải phân tích rủi ro trong thực hiện
và nhìn trước được vấn đề ngay từ khi thiết kế chính sách, việc triển khai thực hiện cần được thiết kế cả điểm mạnh (hiệu quả), điểm yếu (không hiệu quả), đánh giá kết quả bao gồm cả trước mắt, trung hạn và dài hạn
Căn cứ vào thời gian thực hiện chính sách (chiến lược), căn cứ vào hoạt động triển khai, về cơ bản, đánh giá chính sách được thực hiện 03 chu kỳ cơ bản: Đầu kỳ- Giữa kỳ - Cuối kỳ Đánh giá 03 chu kỳ thực hiện cần chú ý đến lết quả từng chu kỳ bao gồm kết quả trước mắt, trung hạn và dài hạn
Khái niệm Chiến lược
Theo Johnson và Scholes, chiến lược được định nghĩa như sau: “Chiến lược
là việc xác định định hướng và phạm vi hoạt động của một tổ chức trong dài hạn, ở
đó tổ chức phải giành được lợi thế thông qua việc kết hợp các nguồn lực trong một môi trường nhiều thử thách, nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường và đáp ứng mong muốn của các tác nhân có liên quan đến tổ chức.”
Giáo trình Chiến lược phát triển kinh tế xã hội: “Chiến lược là những mưu tính và quyết sách đối với những vấn đề trọng đại có tính chất toàn cục và lâu dài.”
Theo Fred R David, tác giả cuốn Concepts of Strategic Management:
“Chiến lược là những phương tiện đạt tới những mục tiêu dài hạn.”
Khái niệm Chiến lược Nghiên cứu khoa học
Chiến lược nghiên cứu khoa học là hệ thống các phân tích đánh giá và lựa chọn về căn cứ định hướng của nghiên cứ khoa học, các quan điểm cơ bản, các mục tiêu tổng quát và mục tiêu chủ yếu, các định hướng nghiên cứu và các giải pháp cơ bản
Trang 2320
1.1.2 Đánh giá, nghiên cứu chính sách
Đánh giá chính sách là việc thực hiện các hoạt động để nắm bắt thông tin về đối tượng của chính sách, dựa trên các tiêu chí nhất định Có hai hình thức để thực hiện các đánh giá chính sách là đánh giá trước và đánh giá sau Thông thường, mỗi chính sách đều trải qua một chu trình gồm các giai đoạn chính như: lập nghị trình chính sách, hình thành chính sách, thực thi chính sách, và đánh giá chính sách Giai đoạn đánh giá chính sách trong quy trình này có nhiều điểm tương đồng với hình thức đánh giá sau Trong khi đó, đánh giá trước được thực hiện ngay trong giai đoạn xây dựng chính sách, trước khi ra quyết định thông qua chính sách và có nhiều điểm tương đồng, hay được xem như một phương pháp phân tích chính sách
Trong bài báo đăng tại tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, tập 31, số
1 (2015), tác giả Đặng Ngọc Dinh đã nhận định nghiên cứu chính sách là một quá trình mang tính hệ thống thường gồm các hoạt động: (i) Phân tích và đánh giá các điểm bất hợp lý, hiệu quả và tính khả thi của các chính sách nhằm đạt được mục tiêu đề ra; (ii) Đánh giá và phân tích ảnh hưởng (tác động) của chính sách về tất cả mọi phương diện; (iii) Đưa ra các khuyến nghị và đề xuất lựa chọn nhằm đặt được mục tiêu đề ra
Đánh giá tác động của chính sách là một hoạt động quan trọng trong quá trình nghiên cứu chính sách, nhằm làm rõ ảnh hưởng của của chính sách đối với các đối tượng khác nhau trong xã hội và dối với sự phát triển của xã hội nói chung Việc đánh giá này bao gồm cả nội dung phân tích trước khi thực hiện chính sách và phân tích hiệu quả đạt được sau khi thực hiện chính sách Các đối tượng chịu tác động của chính sách được phân ra: chịu tác động trực tiếp và chịu tác động gián tiếp
1.1.3 Kết quả thực hiện chiến lược
Kết quả thực hiện chiến lược phản ảnh mối quan hệ nguyên nhân và kết quả thực hiện Chiến lược, hầu hết các lý thuyết quản lý, lý thuyết chính sách công, lý thuyết kinh tế, lý thuyết chính sách KH&CN đều chỉ rõ kết quả của chiến lược, hay kết quả của kế hoạch, chương trình đều từ nguyên nhân mang lại, do đó mối quan
hệ biến chứng nguyên nhân và kết quả không tách rời Kết quả của Chiến lược, kế hoạch được thể hiện cụ thể so với mục tiêu, mục đích đề ra Để đạt được kết quả đề
Trang 2421
ra, quá tình được chuẩn bị tốt sẽ mang lại kết quả mong đợi và ngược lại GS Leslie A.Pal (2011) trong công trình đánh giá hiệu quả của chính sách công đã chỉ ra kết quả của chính sách nói chung, chiến lược nói riêng là hệ quả của một quá trình từ hoạch định, đến theo dõi, triển khai thực hiện Nguyên nhân và kết quả là một cặp phạm trù trong phép biến chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác- Lênin, phép biện chứng đã chỉ ra nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau
Theo GS Leslie A.Pal, sự thành công, thất bại của sự can thiệp từ chính phủ được bắt đầu ở quy trình hoạch định chính sách, chiến lược, quy trình có 5 bước quan trọng thể hiện trên hình 1.1 dưới đây
Hình 1.1 Quy trình hoạch định chính sách, chiến lược
(Nguồn: Leslie A Pal, Phân tích chính sách một cách hiệu quả
- Những vẫn đề cơ bản, 2011) Trong giám sát và đánh giá Leslie A Pal cũng đưa ra mô hình logic cơ bản trong đánh giá kết quả, thể hiện trong hình 1.2
2 Đề xuất
3 Lựa chọn
1 Xác định
5 Đánh giá
4 Triển khai
Trang 2522
Hình 1.2 Mô hình logic cơ bản trong đánh giá kết quả
(Nguồn: Leslie A Pal, Phân tích chính sách một cách hiệu quả- Những vẫn đề cơ
bản, 2011) Hiện nay, nhiều tổ chức quốc tế, nhiều nước về cơ bản thực hiện xây dựng, triển khai, đánh giá chính sách tương tự như 5 quy trình của Leslie A Pal, đặc biệt công trình của Leslie A Pal được chính phủ Canada ứng dụng trong hoạch định, đánh giá chính sách công
1.1.4 Đánh giá kết quả, đánh giá chiến lược
Khái niệm đánh giá kết quả
Đánh giá kết quả thực hiện được hiểu là một hoạt động thẩm định, kiểm tra quá trình chuẩn bị, triển khai chiến lược vào thực tiễn được thực hiện như thế nào
và kết quả của việc thực hiện đó Kết quả thực hiện được đánh giá dựa trên kế hoạch chuẩn bị các nguồn lực (nhân lực, tài chính, tin lực, kỹ thuật hỗ trợ ), huy động, phân bổ nguồn lực, dựa trên hiệu lực, hiệu quả, hiệu suất, thành tựu, tác động
và tính bền vững của kết quả
Khái niệm đánh giá kết quả thực hiện chiến lược
Đánh giá Chiến lược được hiểu nhằm xem xét định kỳ tính phù hợp, hiệu suất, hiệu quả và tác động của Chiến lược một cách có hệ thống, ghi nhận những điểm mạnh, điểm yếu, thiếu sót hoặc quan sát khác của việc thực hiện Chiến lược
để có những thay đổi, điều chỉnh hoặc cải thiện phù hợp hơn trong tương lai Đánh giá chiến lược cần dựa trên bằng chứng cụ thể như: Việc chuẩn bị đầu vào, triển khai hoạt động, các đầu ra, thành tựu, tác động và kết quả Để tiến hành đánh giá cần có sự chuẩn bị khung logic, tiêu chí và phương pháp đánh giá kết quả thực hiện
Trang 2623
Chiến lược
Đặc điểm kết quả thực hiện, vai trò đánh giá chiến lược
Theo Leslie A Pal (2011), việc đánh giá chiến lược hay đánh giá kết quả thực hiện chiến lược cần phải đánh giá cả quy trình hoạch định, giám sát và đánh giá để có thể hiểu được kết quả như thế nào và đâu là thành công cũng như thất bại Leslie A Pal cho rằng cần phải phân tích rủi ro trong thực hiện, đánh giá và nhìn trước được vấn đề ngay từ khi thiết kế, đến việc triển khai thực hiện, lưu ý việc thiết
kế cả điểm mạnh, điểm yếu, đánh giá kết quả bao gồm kết quả trước mắt, trung hạn
và dài hạn Như vậy, kết quả thực hiện Chiến lược là kết quả của một quá trình hoạch định triển khai, thực thi chiến lược vào thực tiễn
Vai trò đánh giá chính sách, theo Luis Sant Menendez (1996), các kết quả đánh giá có thể là thông tin và kiến thức Đánh giá là một công cụ để cải thiện chính sách Năm 2012, OECD đưa ra lý luận và mục tiêu đánh giá chính sách đổi mới: Vai trò của đánh giá là mang lại thông tin tổng thể về hiệu quả sự can thiệp của chính sách công Thông tin này có thể được sử dụng để soi sáng quá trình học tập thực tiễn và thực hiện chính sách Những lợi ích từ việc đánh giá là kiểm soát được việc thực hiện Chính sách, đánh giá việc thực hiện dựa trên các kết quả cụ thể
1.2 Tiêu chí đánh giá chiến lược nói chung và chiến lược nghiên cứu khoa học
Tính khoa học và mức độ khách quan của kết quả đánh giá chiến lược phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất vẫn là các tiêu chí được lựa chọn
để đánh giá Tiêu chí đánh giá chiến lược có ý nghĩa như bộ lọc thông tin, tạo ra những phán đoán giá trị cho mục tiêu đánh giá Tùy thuộc vào đối tượng, mục tiêu, chủ thể đánh giá, chiến lược có thể xây dựng, lựa chọn và sử dụng các tiêu chí khác nhau
Các tiêu chí đánh giá chiến lược có tác dụng đo lường những giá trị, khả năng mà một chính sách hay chương trình, chiến lược có thể đem lại trong tương lai Đối với chính sách công, các tiêu chí đo lường phải phản ánh được giá trị mà mục tiêu công theo đuổi Việc sử dụng các tiêu chí đánh giá công khai cho phép thiết lập các tiêu chuẩn rõ ràng, giữ cho việc phân tích chính sách được khách quan
và trọng tâm Căn cứ vào mỗi phương án chính sách (PACS), với các tiêu chí rõ ràng, người sử dụng chính sách, chiến lược hoàn toàn có thể xếp hạng các lựa chọn
Trang 27- Mức độ thỏa đáng: Chỉ tiêu đánh giá phải đo lường được sự việc cần đo lường;
- Độ tin cậy: Chỉ tiêu đánh giá có khả năng tạo ra sự chính xác trong đo lường;
- Có thể hiểu được: Chỉ tiêu đánh giá cần rõ ràng, không phát sinh hiểu lầm;
- Kịp thời: Thời điểm xác định giá trị tính toán của chỉ tiêu đánh giá hợp lý;
- Phù hợp với mục đích: Chỉ tiêu đánh giá phải phản ánh mục đích hoặc thành quả của việc thực hiện chiến lược, chính sách một cách phù hợp;
- Mức độ ảnh hưởng của chiến lược, chính sách: Độ lớn của mức độ ảnh hưởng của chính sách đối với sự việc mà chỉ tiêu đánh giá đo lường;
- Khả năng đo lường: Sự bảo đảm về kỹ thuật đo lường các dữ liệu của chỉ tiêu đánh giá;
- Khả năng thao tác: Khả năng mà người đánh giá có thể thao tác giá trị đo lường của tiêu chí đánh giá;
- Độ bao quát: Không để sót mặt trọng yếu nào của biện pháp chiến lược, chính sách và được bao quát bởi các tiêu chí đánh giá;
- Không trùng lắp, thừa các chỉ tiêu đánh giá, các chỉ tiêu đo lường các mặt khác nhau;
- Chi phí dùng để thu thập dữ liệu: Độ lớn của tổng chi phí dùng để thu thập
dữ liệu của nhóm chỉ tiêu đánh giá;
- Sức chống chọi với những hành động phản kháng: Khó dẫn đến những hành động phản đối ý đồ của đánh giá
Có thể liệt kê ra nhiều tiêu chí như: tính hiệu lực, tính hiệu quả, tính khả thi (về kinh tế, về chính trị, về hành chính), tính công bằng, tính hiệu suất, tính hợp hiến, tính thống nhất, tính tính minh bạch, tính thuận lợi, tính dân chủ, Tùy thuộc vào từng chiến lược chính sách và việc xác định mục tiêu chiến lược chính sách,
Trang 2825
cần phải xác định đúng tiêu chí cần thiết để đánh giá Mặt khác, trong các tiêu chí cũng cần xác định tiêu chí chính và các yếu tố thuộc về chỉ tiêu phục vụ cho tiêu chí chính Về phương pháp, có thể liệt kê ra các tiêu chí, sau đó xác định mục tiêu chính và các mục tiêu bộ phận (chỉ tiêu) để xác định được tiêu chí cơ bản và các chỉ tiêu đánh giá Cũng có thể gom các tiêu chí (chỉ tiêu) phục vụ cho mục tiêu chính sách theo đuổi vào một tiêu chí mang tính khái quát Ví dụ tại Nhật Bản, để đánh giá chính sách công, ba tiêu chí là tính hiệu lực, tính hiệu quả và tính kinh tế (còn gọi là 3E: Efficiency, Effectivness và Economy) thường được sử dụng, trong khi tại
Mỹ và một số nước khác chú trọng cả 3E và tính công bằng (Equality)
Tính khả thi/ tính phù hợp (Relevance)
Tính khả thi của chiến lược, chính sách được phản ánh ở khả năng thực hiện trên thực tế của một chiến lược, chính sách Để đánh giá tính khả thi của chiến lược, chính sách, cần phải dựa vào các chỉ tiêu cụ thể như: mức độ khả thi chính trị, khả thi kinh tế, hành chính và khả thi về xã hội
Đánh giá tính khả thi về chính trị đòi hỏi quá trình đánh giá phải dự báo được mức độ ủng hộ của những nhà ra quyết định về một đề xuất chiến lược, chính sách Về kinh tế, cần đánh giá đầy đủ khả năng ngân sách, nguồn lực con người để triển khai chiến lược, chính sách và những đảm bảo về lợi ích vượt qua chi phí Đánh giá tính khả thi về xã hội được đo lường, dự báo về mức độ công chúng chấp nhận, ủng hộ đề xuất chiến lược, chính sách Tiêu chí này cần khai thác sâu về các chỉ tiêu tác động đến môi trường tự nhiên, xã hội (dân trí, tôn giáo, văn hóa, mức độ dân chủ), mở rộng sự tham gia, tính minh bạch, văn bản dễ hiểu, dễ áp dụng, Ngoài ra, cần phải đánh giá mức độ thống nhất với các chiến lược, chính sách đã ban hành, phù hợp với chiến lược, chính sách do cơ quan có thẩm quyền cấp trên và những các cam kết quốc tế
Tính hiệu quả (Effectiveness)
Trong các chiến lược hay chính sách của Nhà nước, phần lớn các chiến lược, chính sách đều sử dụng ngân sách, chi tiêu bằng tiền công, chính vì vậy, xem xét tính hiệu quả của chiến lược, chính sách là xem xét điều mà khách hàng (Nhà nước)
có được khi họ bỏ tiền ra (mua, đầu tư, trợ cấp, ) là cần thiết
Trang 2926
Tính hiệu quả của chiến lược, chính sách là độ lớn của kết quả thu được từ việc sử dụng nguồn lực cố định Nói cách khác, tính hiệu quả của chính sách được khẳng định khi một PACS có khả năng làm cho các nguồn lực phát huy hiệu suất lớn nhất, trong sự so sánh với các PACS khác
Đối với một chiến lược, chính sách đã hoặc đang được triển khai thì tính hiệu quả thường được xem xét là, liệu chương trình này đã đạt được các kết quả hay tác động chính sách kỳ vọng hay chưa Điều đó được dựa vào các số liệu thực tế đã có (thu được từ kết quả thực thi) để so sánh Nhưng, tính hiệu quả trong đánh giá PACS (đánh giá trước), trước xây dựng pháp luật không như vậy Tiêu chí hiệu quả của PACS phải được biểu hiện bằng khả năng đạt được các mục tiêu và mục đích chính sách Sức thuyết phục về tính hiệu quả của một PACS được chứng minh về khả năng đạt được mục tiêu với hiệu suất công việc cao
Các yếu tố cần đo lường để đánh giá tính hiệu quả bao gồm:
- Số lượng các nguồn lực đầu vào (lượng đầu vào);
- Độ dài thời gian cần hoàn thành;
- Số lượng công việc cần phải làm;
- Tính cần thiết của các công việc này (hạn chế tối đa động tác thừa);
- Những chi phí cho các hoạt động phải làm;
- Lượng hiệu quả: Số lượng công việc được hoàn thành trong thời gian và chi phí nào;
- Tính năng suất: Hiệu suất làm việc (mức độ tập trung đạt được chất lượng công việc);
- Xác định các mục tiêu của chính sách và so sánh
Đánh giá tính hiệu quả của các PACS được đo lường thông qua việc cố gắng ước lượng khả năng đạt được mà những mục tiêu và mục đích đề ra Nói cách khác, tính hiệu quả của PACS có thể được xem xét thông qua những đánh giá về sự thiết thực của mục tiêu và khả năng có thể làm cho các nguồn lực phát huy hiệu suất lớn nhất để đạt được mục tiêu
Trong đánh giá các PACS, việc xác định tính hiệu quả cũng có những khó khăn nhất định Chẳng hạn, việc đo lường hiệu quả cho một chiến lược, chính sách
Trang 3027
trong tương lai có thể trở nên lỗi thời với thời điểm hiện tại đang đánh giá, ngay cả khi đưa vào những dữ kiện dự báo ở tương lai thì độ chắc chắn vẫn không cao Mặt khác, các chiến lược, chính sách công thường gắn với nhiều mục tiêu, mục đích khác nhau, có thể thành công trong một số mục tiêu này nhưng lại thất bại trong một số mục tiêu, mục đích khác Một số mục tiêu chỉ có thể đạt được khi có đủ độ dài về thời gian cần thiết, điều này có thể làm sai lệch các đánh giá mục tiêu ngắn hạn
Tính hiệu lực/ hiệu suất
Hiệu lực của chiến lược, chính sách công là khái niệm phản ánh tác dụng đích thực của một chiến lược, chính sách Tính hiệu lực của chính sách được đo lường bằng mức độ mà hiệu quả của hoạt động đạt được mức mục tiêu Các yếu tố phản ánh tiêu chí hiệu lực của chính sách là mức độ đáp ứng các nguồn lực, kỹ thuật, phương tiện để triển khai được chính sách và nhận được sự đồng thuận, chấp hành của đối tượng thực hiện chiến lược, chính sách Trong tiêu chí này, cần chú ý các chỉ tiêu như lợi ích của các bên liên quan, sự tương thích của nội dung chính sách, đảm bảo tính răn đe, buộc đối tượng tuân thủ, chấp hành và mức độ đạt được mục tiêu của chiến lược, chính sách Kết quả đánh giá tính hiệu lực của chiến lược, chính sách cho biết chiến lược, chính sách có thể được thực hiện trên thực tế hay không
Vì vậy, "efficiency" mô tả tính hiệu lực của chính sách là khả năng có thể vận hành của chiến lược, chính sách được đánh giá thông qua tính toán về chi phí - lợi ích, khả năng ngân sách, nguồn lực và các điều kiện khác Trong đó, yếu tố nguồn lực mới chỉ là điều kiện cần để một chính sách được triển khai Tính hiệu lực của chính sách đòi hỏi phải có sự tuân thủ, chấp hành đầy đủ các quy định thuộc về chiến lược, chính sách Do đó, điều kiện cần và đủ để đo lường tính hiệu lực của một chiến lược, chính sách là những điều kiện kỹ thuật, nguồn lực, quy trình và đặc biệt là đảm bảo sự chấp hành chiến lược, chính sách của các đối tượng áp dụng để đạt được mục tiêu chiến lược, chính sách đề ra Điều đó có nghĩa, nội dung chiến lược, chính sách phải cho phép dự báo được khả năng tuân thủ thực hiện của các đối tượng áp dụng Để đánh giá một chiến lược, chính sách có thực sự đi vào cuộc sống hay không sau khi nó được ban hành, đòi hỏi người đánh giá phải dựa vào các yếu
tố có giá trị phản ánh tính hiệu lực của chiến lược, chính sách Các yếu tố cần đánh
Trang 3128
giá là:
- Mức độ đảm bảo các nguồn lực tài chính, nhân sự;
- Mức độ đáp ứng về phương tiện kỹ thuật, công nghệ cần thiết cho việc thực hiện chính sách;
- Tính toán về chi phí và lợi ích, khẳng định lợi ích có thể vượt qua các chi phí;
- Tính hiệu lực của PACS có tác động trực tiếp đến những người ra quyết định Bất kỳ PACS nào có dấu hiệu không có tính hiệu lực, phát huy tác dụng trong tương lai, đều cần thiết phải dừng lại để xem xét, bổ sung các điều kiện hoặc chấm dứt ban hành chính sách;
- Khả năng giải quyết những mâu thuẫn, chồng chéo chiến lược, chính sách;
- Rào cản chiến lược, chính sách và khả năng vượt qua;
có thể đạt được khi: (i) chi phí thấp nhất với lợi ích cố định hoặc (ii) lợi ích lớn nhất với chi phí cố định
Yêu cầu khi xác định tính kinh tế của PACS là phải tiên liệu được các yếu tố tương lai để tính toán xem liệu có thể thực hiện các hoạt động với chi phí thấp hơn không Điều này đòi hỏi phải giả định tình huống để so sánh các hoạt động cùng
Trang 3229
loại, tìm ra phương án chi phí thấp nhất Nói cách khác, một PACS chứng minh được khả năng đạt được mục tiêu khi có được các yếu tố đầu vào với giá rẻ nhất là một chính sách tốt, đạt được tính kinh tế
Để đánh giá tính kinh tế của chiến lược, chính sách, chỉ yếu tố đạt được mục tiêu là chưa đủ Điều đó cũng có nghĩa, tính hiệu quả không đồng nghĩa với mục tiêu đạt được bằng mọi giá, mà phải với điều kiện chi phí thấp nhất
Tiêu chí kinh tế đặt ra đối với chiến lược, chính sách công sẽ khuyến khích các chủ thể đề xuất chính sách suy nghĩ về những chi phí và lợi ích, đưa ra những đề xuất mang tính cạnh tranh trong giải pháp về khả năng tiết kiệm nhất các nguồn lực đầu vào của chính sách Biểu hiện của tính kinh tế trong chiến lược, chính sách công còn là việc tối đa hóa lợi ích của Nhà nước, xã hội trong điều kiện không điều chỉnh tăng nguồn lực đầu vào Vì vậy, cần ủng hộ sự can thiệp chính sách khi lợi ích của chiến lược, chính sách vượt qua các chi phí Trường hợp ngược lại, khi chi phí lớn hơn so với lợi ích thì việc sử dụng phương án thay thế khác về lao động, vốn và các nguyên vật liệu đã được dự tính trước cho thấy là sẽ tước đi những giá trị của xã hội
Tác động (Impact)
Tính tác động phản ánh mức độ tác động của chiến lược, chính sách tới các nhóm đối tượng mục tiêu, và là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá chiến lược hay đánh giá một dự án phát triển Các tác động của chiến lược, chính sách được thu thập, đo lường và phân loại một cách đa dạng theo phương pháp định tính hay định lượng
Trong đánh giá chiến lược, chính sách, tính tác động có thể được đánh giá theo nhiều yếu tố như:
- Các tác động từ chiến lược, chính sách là tích cực hay tiêu cực (dương tính hay âm tính)
- Các tác động của chiến lược, chính sách là ngắn hạn hay trung hạn
- Các tác động là trực tiếp hay gián tiếp
- Các tác động xảy ra là dự định hay không chủ định
Tiêu chí tác động đặt ra đối với chiến lược, chính sách công sẽ giúp cho
Trang 3330
các nhà xây dựng chiến lược, hoạch định chính sách có cái nhìn rõ nét hơn về những tác động mà chiến lược, chính sách đã mang lại cho các nhóm đối tượng, là tác động dương tính âm tính hay ngoại biên, chỉ ra được điểm mạnh, điểm yếu của chiến lược từ đó đưa ra được các điều chỉnh, bổ sung phù hợp với thực tiễn
Tiêu chí bền vững trong Đánh giá chiến lược, chính sách được xây dựng nhằm phản ánh khả năng tiếp tục phát triển và nhân rộng các kết quả, tác động tích cực của chiến lược hay chính sách hiện tại đồng thời những tác động hay kết của chiến lược và chính sách sẽ không làm phương hại đến tương lai khi các chiến lược hay chính sách mới được xây dưungj và ban hành
Trong đánh giá Chiến lược hay chính sách, tính bền vững là một trong những tiêu chí quan trọng và cao nhất, nó thể hiện được tác động của chính sách có thể kéo dài và tiếp tục phát huy lâu dài được hay không, đó cũng chính là mục tiêu cao nhất khi các nhà hoạch định xây dựng nên bất kỳ một chiến lược hay chính sách phát triển nào
Những tiêu chí đánh giá nêu trên không phản ánh đầy đủ các tiêu chí cần thiết cho việc đánh giá một chiến lược hay chính sách công Tuy nhiên, các tiêu chí này có tính tiêu biểu và hội tụ nhiều chỉ tiêu mà mục tiêu công cần đạt được Có thể tìm thấy trong tính khả thi của chiến lược hay chính sách những tiêu chí khác (còn gọi là chỉ tiêu) bằng việc xác định mức độ phù hợp của chiến lược, chính sách với điều kiện thực tế của xã hội, hay chỉ tiêu thống nhất của chiến lược, chính sách, Vì vậy, trong đánh giá chiến lược và chính sách, việc vận dụng các tiêu chí trên đây là
Trang 34Bảng 1.1 Bộ tiêu chí đánh giá Chiến lược nghiên cứu khoa học lâm nghiệp
Việt Nam giai đoạn 2008-2016
vụ đó
2 Tác động
(Impact)
- Tích cực và tiêu cực (Dương tính, âm tính, ngoại biên)
- Ngắn hạn và trung hạn của mỗi can thiệp vào sự phát triển
- Trực tiếp hay gián tiếp
Hiệu quả bao gồm kết quả và tác động
- Đo lường sự thích hợp của các mục tiêu được chọn và mức độ chúng được thực hiện, hiệu quả chính là phép so
Trang 3532
sánh giữa kết quả đạt được với mục tiêu đề ra
4 Tính bền vững
(Sustainability)
- Kết quả có thể được nhân rộng tiếp tục phát triển
- Kết quả không làm phương hại đến tương lai
5 Tính xã hội
(Social)
- Tính xã hội trong các nghiên cứu khoa học
- Tác động của Chiến lược nghiên cứu khoa học tới xã hội, không gây nên những hệ lụy xã hội, đặc biệt đối với người nghèo, người yếu thế
Trong quá trình đánh giá, tác giả đánh giá căn cứ vào từng tiêu chí và điều kiện cụ thể về thẩm quyền có thể, thông tin, số liệu, dữ liệu sử dụng phương pháp phù hợp với thực tiễn Tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện là tiêu chí tổng hợp, có thể sử dụng các tiêu chí đánh giá định lượng hoặc định tính để đánh giá, cách thức linh hoạt nhằm đánh giá được mức độ ảnh hưởng như thế nào
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1:
Trong Chương 1 của luận văn, tác giả tập trung vào phân tích Phương pháp luận về đánh giá Chiến lược phát triển và Chiến lược nghiên cứu khoa học dựa trên các tiếp cận lý thuyết đánh giá, khái niệm đánh giá, đánh giá chiến lược và đánh giá kết quả thực hiện chiến lược Cũng trong nội dung của Chương 1, tác giả đã trình bày, phân tích cụ thể những tiêu chí cơ bản trong đánh giá Chiến lược phát triển nói chung và Chiến lược nghiên cứu khoa học nói riêng từ đó đưa ra được bộ tiêu chí đánh giá trong Nghiên cứu trường hợp Đánh giá Chiến lược nghiên cứu khoa học trong lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2008-2016 Bộ tiêu chí đánh giá được tác giả
đề xuất bao gồm các tiêu chí: Tính phù hợp, tính tác động, tính hiệu quả, tính bền vững và tính xã hội Dựa trên bộ 5 tiêu chí đề xuất trên đây; đối chiếu với mục tiêu, các nhiệm vụ chủ yếu và thực trạng thực hiện của Chiến lược nghiên cứu lâm nghiệp Việt Nam 2008-2016 (sẽ được tác giả phân tích trong chương 2), những kết quả đánh
Trang 36
2.1.1 Mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu của Chiến lược phát triển ngành lâm nghiệp Việt Nam (2006- 2020)
2.1.1.1 Quan điểm phát triển
Lâm nghiệp là một ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù bao gồm tất cả các hoạt động gắn liền với sản xuất hang hóa và dịch vụ từ rừng như các hoạt động bảo vệ, gây trồng, khai thác, vận chuyển, sản xuất, chế biến lâm sản và các dịch vụ môi trường có liên quan đến rừng; đồng thời ngành Lâm nghiệp có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, xóa đói, giảm nghèo
2.1.1.2 Mục tiêu Chiến lược phát triển ngành lâm nghiệp Việt Nam 2006-2020
Thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững 16,24 triệu ha đất được quy hoạch cho lâm nghiệp; nâng tỷ lệ đất có rừng lên 42 - 43% vào năm 2010
và 47% vào năm 2020; đảm bảo có sự tham gia rộng rãi hơn của các thành phần kinh tế và tổ chức xã hội vào các hoạt động lâm nghiệp nhằm đóng góp ngày càng tăng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn
đa dạng sinh học, cung cấp các dịch vụ môi trường, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống cho người dân nông thôn miền núi và góp phần giữ vững an ninh quốc phòng
2.1.1.3 Nhiệm vụ của Chiến lược phát triển ngành lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020
Về mặt kinh tế:
Thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững 3 loại rừng Quản
lý tốt rừng tự nhiên hiện có, gia tăng diện tích và năng suất rừng trồng, tăng cường các hoạt động nông lâm kết hợp và sử dụng có hiệu quả các diện tích đất trống đồi trọc phù hợp cho phát triển lâm nghiệp Sản xuất, chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ
Trang 37an ninh quốc phòng
Về mặt Môi trường:
Bảo vệ rừng, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học nhằm thực hiện có hiệu quả chức năng phòng hộ của ngành lâm nghiệp là: Phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng hộ môi trường đô thị, giảm nhẹ thiên tai, chống xói mòn, giữ nguồn nước, bảo vệ môi trường sống; tạo nguồn thu cho ngành lâm nghiệp từ các dịch vụ môi trường (phí môi trường, thị trường khí thải CO2, du lịch sinh thái, du lịch văn hoá, nghỉ dưỡng…) để đóng góp cho nền kinh tế đất nước
Nâng độ che phủ rừng lên 42 - 43 % vào năm 2010 và lên 47% vào năm 2020; Đến năm 2010 trồng 0,25 triệu ha rừng phòng hộ và rừng đặc dụng;
Giảm thiểu đến mức thấp nhất các vụ vi phạm vào rừng Hạn chế canh tác nương rẫy trên đất lâm nghiệp
2.1.2 Mục tiêu và nội dung nhiệm vụ chủ yếu của Chiến lược nghiên cứu khoa học lâm nghiệp Việt Nam đến năm 2020
2.1.2.1 Mục tiêu của Chiến lược nghiên cứu khoa học lâm nghiệp đến năm 2020
Mục tiêu tổng quát:
Nghiên cứu lâm nghiệp nhằm góp phần định hướng phát triển lâm nghiệp, thực hiện có hiệu quả Chiến lược phát triển lâm nghiệp và kế hoạch tổng thể nghiên cứu nông nghiệp Việt Nam tới năm 2020; phục vụ yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam tới năm 2020
Mục tiêu cụ thể:
Định hướng phát triển ngành: Cung cấp cơ sở khoa học định hướng phát
Trang 38- Nâng cao năng suất rừng tự nhiên lên 1,5 lần cho nhóm cây có giá trị kinh tế;
- Phát triển rừng trồng sản xuất với một số loài cây chủ lực có năng suất cao
Tăng cường năng lực nghiên cứu:
Tăng cường năng lực nghiên cứu và cải tiến hệ thống tổ chức nghiên cứu, kết hợp nghiên cứu với đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế nhằm đưa trình độ khoa học công nghệ lâm nghiệp đạt ngang tầm các nước trong khu vực Các mục tiêu cụ thể cần đạt được là:
Hệ thống tổ chức nghiên cứu phù hợp, có hiệu quả; thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa nghiên cứu - đào tạo - phổ cập
Cán bộ nghiên cứu được đào tạo đủ năng lực đáp ứng yêu cầu thực tiễn và hội nhập quốc tế, có các cán bộ nghiên cứu đầu ngành đủ năng lực và có tính kế thừa
Cơ sở hạ tầng và thiết bị nghiên cứu hiện đại được tăng cường phù hợp với trình độ chung của khu vực
Xây dựng hệ thống công nghệ thông tin, có cơ sở dữ liệu đủ mạnh phục vụ cho nghiên cứu và triển khai áp dụng các kết quả nghiên cứu lâm nghiệp vào thực tiễn sản xuất
Trang 3936
2.1.2.2 Nội dung, nhiệm vụ chủ yếu của Chiến lược nghiên cứu khoa học lâm nghiệp Việt Nam đến năm 2020
a) Ưu tiên nghiên cứu
Căn cứ vào Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020
và Chiến lược phát triển khoa học công nghệ 2010 đã được phê duyệt, các ưu tiên nghiên cứu được sắp xếp theo các lĩnh vực và chia theo 3 cấp độ ưu tiên: ưu tiên cao, ưu tiên trung bình và ưu tiên thấp
Các vấn đề ưu tiên nghiên cứu được sắp xếp trong 6 lĩnh vực: 1) Quy hoạch, giám sát, đánh giá rừng và tài nguyên rừng; 2) Chính sách và thể chế lâm nghiệp; 3) Quản lý rừng bền vững; 4) Môi trường rừng và đa dạng sinh học; 5) Lâm học và kỹ thuật lâm sinh (rừng tự nhiên, rừng trồng, lâm sản ngoài gỗ); 6) Công nghiệp rừng, Bảo quản và chế biến lâm sản
Giai đoạn 2008 - 2010, dành ưu tiên cao cho các chủ đề: xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá và giám sát tài nguyên rừng; chính sách giao đất, giao rừng, đồng quản lí các loại rừng và dịch vụ môi trường rừng, chính sách hưởng lợi, phát triển lâm nghiệp xã hội, định giá rừng, xây dựng bộ tiêu chuẩn quốc gia về quản lí rừng bền vững, lượng giá giá trị môi trường của rừng và cảnh quan, quản lí thiên tai và rủi ro môi trường; cải thiện giống; thâm canh rừng trồng cung cấp nguyên liệu gỗ nhỏ và cải tạo rừng tự nhiên và rừng trồng nhằm cung cấp gỗ lớn; đánh giá thị trường lâm sản, nghiên cứu phát triển công nghệ bảo quản, chế biến lâm sản quy mô vừa và nhỏ
b) Tăng cường năng lực nghiên cứu
Sắp xếp hệ thống tổ chức nghiên cứu
- Mục tiêu chính của sắp xếp hệ thống tổ chức nghiên cứu là nâng cao hơn nữa hiệu quả nghiên cứu, hạn chế trùng lặp trong các đề tài nghiên cứu Những vấn
đề trọng yếu được quan tâm là:
Định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức nghiên cứu, từng bước định hình các “mũi nhọn” của các tổ chức nghiên cứu trong toàn hệ thống nghiên cứu khoa học lâm nghiệp
Thu hút mọi nguồn nhân lực trong toàn hệ thống trong nghiên cứu khoa học
Trang 40- Mối quan hệ phối hợp của các tổ chức nghiên cứu:
Hệ thống nghiên cứu nông nghiệp (bao gồm lâm nghiệp) hiện nay được tổ chức theo ba cấp: cấp quốc gia, cấp vùng và cấp tỉnh Xu hướng sắp xếp hệ thống tổ chức nghiên cứu nông nghiệp sẽ giảm dần cơ quan nghiên cứu ở Trung ương, mở rộng cơ quan nghiên cứu cấp vùng và cấp tỉnh
Khuyến khích phát triển và hoạt động của các tổ chức nghiên cứu khoa học lâm nghiệp khác, ngoài Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam, nhất là các tổ chức nghiên cứu ngoài nhà nước
Ở các địa phương và cơ sở, khuyến khích các nghiên cứu mang tính tổng kết thực tiễn, khuyến khích các thành phần kinh tế cùng tham gia nghiên cứu lâm nghiệp; có thể hình thành các trung tâm nghiên cứu ở những nơi có nhu cầu cấp thiết và có đủ điều kiện về nguồn lực
Đưa nhiệm vụ nghiên cứu khoa học lâm nghiệp như một nhiệm vụ thường xuyên của mình đối với các tổ chức trong hệ thống các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên, các Công ty lâm nghiệp, các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp
Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan nghiên cứu thông qua hệ thống thông tin nghiên cứu chia sẻ chung, cùng tham gia các chương trình nghiên cứu, các
đề tài nghiên cứu có yêu cầu trên diện rộng hay đa ngành, đa lĩnh vực
- Với việc hình thành các tổ chức nghiên cứu đa dạng, từng bước xác định
rõ hơn chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức nghiên cứu cho phù hợp và thiết lập mối quan hệ của hệ thống tổ chức nghiên cứu
- Từng bước hoàn thiện cơ cấu tổ chức nghiên cứu trong cùng một Viện/ Trung tâm cho phù hợp với đặc thù nghiên cứu lâm nghiệp Phát triển các trung tâm nghiên cứu trên từng lĩnh vực, các nghiên cứu chuyên đề, các trung tâm vùng, các trung tâm chuyển giao kỹ thuật Có thể hình thành các tổ chức nghiên cứu linh hoạt