1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Chăm sóc người cao tuổi vùng nông thôn theo chế độ bảo hiểm điều dưỡng ở nhật bản (luận văn thạc sỹ)

128 138 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 3,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, để có thể thực hiện đề tài này, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ thầy Okuyama Shoji 奥山正司, Giáo sư Đại học Kinh tế Tokyo, cũng chính là tác giả của nhiều công trình ng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan toàn bộ Luận văn thạc sĩ tốt nghi ệp chuyên ngành Châu Á học với đề tài ― Chăm sóc người cao tuổi vùng nông thôn theo Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ở Nhật Bản‖ là công trình nghiên cứu của riêng tôi , được thực hi ện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phan Hải Linh

Mọi trích dẫn trong Lu ận văn này đều đu ̛ợc ghi nguồn đầy đủ , cụ thể Luận

văn này không trùng lặp với bất cứ nội dung luận văn nào đã công bố

Tác giả

Mai Thị Khánh Huyền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn PGS.TS Phan Hải Linh đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và khích l ệ, động viên

em trong suốt quá trình thực hi ện luận văn thạc sĩ với đề tài ―Chăm sóc người cao tuổi vùng nông thôn theo Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ở Nhật Bản‖

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo Bộ môn Nhật Bản ho ̣c, Khoa Đông phương ho ̣c, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nội đã chỉ da ̣y, quan tâm giúp đỡ em trong suốt quá trình ho ̣c tập, nghiên cứu và tạo điều kiện để em được có cơ hội được học tập và giao lưu ta ̣i Nhật Bản

Em cũng xin đu ̛ợc gửi lời cảm o ̛n chân thành đến các thầy cô giáo ta ̣i trư ờng Đại học Senshu (Nhật Bản ), đặc biệt là cô Baba Junko (馬場純子) cùng với các thầy cô giáo trong Khoa khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Senshu đã chỉ dạy, quan tâm , giúp đỡ và t ạo điều kiện cho em trong suốt thời gian em lu ̛u ho ̣c ta ̣i trường

Ngoài ra, để có thể thực hiện đề tài này, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ

từ thầy Okuyama Shoji (奥山正司), Giáo sư Đại học Kinh tế Tokyo, cũng chính là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề chăm sóc người cao tuổi ở khu vực nông thôn Nhật Bản và thầy cũng là người đã giúp đỡ em rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện điều tra thực tế tại làng Tozawa, tỉnh Yamagata Từ tận đáy lòng, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm o ̛n đến gia đình , bạn bè đã luôn bên ca ̣nh , ủng hộ và động viên em trong suốt quá trình ho ̣c tập

Do trình độ còn hạn chế nên trong quá trình thực hiện nghiên cứu, chắc chắn luận văn này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô, các anh chị và các ba ̣n để luận văn được hoàn thiện hơn

Hà Nội, ngày 10 tháng 01 năm 2018

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do lựa chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Lịch sử nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 11

7 Kết cấu luận văn 12

CHƯƠNG 1 GIÀ HÓA DÂN SỐ VÀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM ĐIỀU DƯỠNG Ở NHẬT BẢN 14

1.1 Dân số và già hoá dân số 15

1.2 Già hoá dân số ở khu vực nông thôn 23

1.2.1 Tình trạng già hoá ở nông thôn 23

1.2.2 Cuộc sống của người cao tuổi và nhu cầu điều dưỡng ở nông thôn 26

1.3 Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ở Nhật Bản 30

1.3.1 Chính sách phúc lợi dành cho người cao tuổi ở Nhật Bản trước năm 2000 30

1.3.2 Quá trình ban hành Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng năm 2000 37

1.3.3 Nội dung của Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng 41

Tiểu kết 49

CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VỀ CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI VÙNG NÔNG THÔN THEO CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM ĐIỀU DƯỠNG Ở NHẬT BẢN 50

2.1 Trường hợp làng Tozawa, huyện Mogami, tỉnh Yamagata 50

2.1.1 Khái quát về làng Tozawa 50

2.1.2 Quá trình triển khai Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng 53

2.1.3 Điều tra phỏng vấn về thực tế áp dụng Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ở làng Tozawa 57

2.2 Trường hợp thị trấn Sanada, thành phố Ueda, tỉnh Nagano 67

Trang 6

2.2.1 Khái quát về thị trấn Sanada 67

2.2.2 Quá trình triển khai Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng 69

2.2.3 Điều tra phỏng vấn về thực tế áp dụng Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ở thị trấn Sanada 71

Tiểu kết 76

CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI VÙNG NÔNG THÔN THEO CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM ĐIỀU DƯỠNG Ở NHẬT BẢN 78

3.1 Đặc điểm của dịch vụ chăm sóc người cao tuổi vùng nông thôn theo Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng 78

3.1.1 Chăm sóc người cao tuổi và thiên vị giới tính trong gia đình 78

3.1.2 Tính theo mùa và tính khu vực trong sử dụng dịch vụ điều dưỡng 80

3.1.3 Chăm sóc người già và ảnh hưởng đến nông nghiệp 81

3.1.4 Nhu cầu sử dụng dịch vụ nhân viên chăm sóc tại nhà và dịch vụ chăm sóc thay thế 82

3.1.5 Những thay đổi trong cuộc sống của người cao tuổi và người chăm sóc trong và sau khi sử dụng dịch vụ điều dưỡng 83

3.2 Vấn đề tồn tại 83

3.2.1 Nhân lực trong ngành điều dưỡng 83

3.2.2 Chi phí sử dụng dịch vụ 87

3.2.3 Ngân sách chi trả xã hội 88

3.2.4 Giải pháp 88

3.3 Một vài gợi ý chính sách 91

Tiểu kết 95

KẾT LUẬN 96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

PHỤ LỤC 101

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Hệ thống an sinh xã hội Nhật Bản 31

Bảng 1.2: Các vấn đề của hệ thống phúc lợi và y tế dành cho người cao tuổi ở Nhật Bản trước năm 2000 36

Bảng 1.3: Bảng so sánh sự khác biệt giữa chế độ trước năm 2000 và Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng 40

Bảng 1.4: Cơ chế hoạt động của Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng 42

Bảng 2.1: Dân số và số hộ gia đình làng Tozawa từ sau năm 1965 51

Bảng 3.1: Thống kê số lượng điều dưỡng viên 84

Trang 8

DANH MỤC HÌNH ẢNH VÀ BIỂU ĐỒ

Hình 1.1: Biến động dân số và dự báo già hoá 20 Biểu đồ 1.1: Tỉ lệ người cao tuổi trên 65 tuổi dựa theo từng hình thái gia đình 22 Biểu đồ 1.2: Lao động trong ngành nông nghiệp phân theo nhóm tuổi 24 Biểu đồ 1.3: Tỉ lệ giảm của dân số nông thôn và lao động trong ngành nông nghiệp 25 Biểu đồ 1.4: Số người già trên 65 tuổi cần được chăm sóc 28 Biểu đồ 1.5: Sự thay đổi trợ cấp cho bảo hiểm điều dưỡng ở Nhật Bản 46 Biểu đồ 1.6: Số người già thuộc nhóm đối tượng bảo hiểm số 1 (trên 65 tuổi) được nhận định ở các mức độ cần chăm sóc trong giai đoạn từ 2003 - 2013 47 Biểu đồ 1.7: Tình hình sử dụng dịch vụ điều dưỡng 48

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Già hoá dân số đang trở thành một trong những vấn đề xã hội trọng tâm Biến đổi nhân khẩu học do già hoá dân số gây ra đang và sẽ tạo ra những tác động to lớn đối với mọi mặt của đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi quốc gia Theo thống

kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trung bình cứ một giây có 2 người bước vào tuổi 60; cứ 9 người sẽ có một người trên 60 tuổi và dự báo con số này sẽ tăng nhanh trong những năm tới Đến năm 2050, số người trên 60 tuổi dự báo sẽ chiếm khoảng 22% dân số thế giới1

Tại Việt Nam, do tỷ suất sinh và tỷ suất tử giảm cùng với tuổi thọ gia tăng, nên dân số cao tuổi Việt Nam đang tăng lên nhanh chóng cả về số lượng và tỷ lệ trong tổng dân số Theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam, tỷ lệ người cao tuổi (tức trên 65 tuổi) so với tổng dân số ở Việt Nam đạt 7,1% vào năm 2014 và cũng từ năm này, dân số Việt Nam bắt đầu bước vào giai đoạn ―già‖ [11, tr 29] Già hoá dân số đang gây ra nhiều thách thức cho tăng trưởng kinh tế, tạo áp lực lên

cơ sở hạ tầng và các dịch vụ an sinh xã hội, các mối quan hệ gia đình, lối sống

và hệ thống hưu trí quốc gia Vì lý do đó mà vấn đề già hoá dân số được coi trọng trong Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội của Việt Nam trong những thập

kỷ tới2

Trong khu vực Châu Á, Nhật Bản là quốc gia đầu tiên phải đối mặt với vấn đề già hoá dân số Mặc dù đây cũng là vấn đề của nhiều quốc gia phát triển trên thế giới như Ý, Thuỵ Điển, Tây Ban Nha, Pháp, nhưng Nhật Bản là đất nước có số lượng người cao tuổi nhiều nhất và tốc độ già hoá dân số diễn ra nhanh hơn bất cứ quốc gia nào Theo kết quả thống kê của Bộ Nội vụ và Truyền thông Nhật Bản, tính đến ngày 1 tháng 10 năm 2016, dân số nước này đạt 126,93 triệu người, trong đó, số người từ 65 tuổi trở lên là 34,59 triệu người, chiếm 27,3% trong tổng dân số (nam

1 Như Quỳnh, Hội thảo quốc tế Thích ứng với già hoá dân số, đăng trên trang web của Tổng cục dân số - Kế

hoạch hoá gia đình, truy cập ngày 10/12/2017

2 Phạm Vũ Hoàng, Xu hướng già hoá trên thế giới và các vấn đề đặt ra đặc biệt với các nước đang phát

Trang 10

giới chiếm 24,3%, nữ giới chiếm 30,1%) và con số này dự báo sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới [34, tr 2]

Nhật Bản có tốc độ già hoá dân số diễn ra nhanh chóng như vậy nhưng trên thực tế, quá trình già hoá diễn ra không đồng đều giữa khu vực nông thôn, miền núi

và khu vực thành thị Khu vực nông thôn được định nghĩa là vùng có phần đông dân

số tham gia vào hoạt động kinh tế nông nghiệp và số ít tham gia vào các ngành công nghiệp nặng hay dịch vụ Ngoài ra, nhiều vùng nông thôn cũng có mật độ dân số thấp hơn so với khu vực thành thị3 Khu vực nông thôn được dự đoán là có tốc độ già hoá nhanh hơn 20 năm so với khu vực thành thị và đã sớm trở thành khu vực

―siêu già hoá‖ (超高齢社会) Làm sao để người cao tuổi sống ở khu vực nông thôn, miền núi có một cuộc sống ổn định và khoẻ mạnh trong gia đình họ cũng như trong cộng đồng đang và sẽ trở thành một vấn đề lớn của xã hội già Nhật Bản thế kỷ XXI Mặt khác, cũng giống với Việt Nam, ngành nông nghiệp ở Nhật Bản không có quy định về độ tuổi nghỉ hưu Người nông dân có thể tiếp tục làm việc khi họ trên

65 tuổi nếu họ có đủ sức khoẻ Vì vậy, nông nghiệp ở khu vực nông thôn, miền núi không gặp phải những vấn đề thất nghiệp, hay sự mất cân đối trong tuyển dụng nhân lực… là những vấn đề được cho là do ảnh hưởng của quá trình già hoá dân số Theo nghĩa đó, người cao tuổi ở nông thôn Nhật Bản là lực lượng lao động cống hiến lâu dài cho nông nghiệp địa phương Tuy nhiên mặt khác, các địa phương cần

đề ra chính sách cụ thể nhằm đảm bảo đời sống thể chất và tinh thần cho người lao động cao tuổi, xây dựng hệ thống hỗ trợ về mặt y tế, phúc lợi đảm bảo cho người cao tuổi sống và làm việc trong tình trạng khoẻ mạnh và ổn định

Bên cạnh đó, theo thống kê của Văn phòng Nội các Nhật Bản, số người cao tuổi mắc chứng bệnh suy giảm nhận thức năm 2012 là 4,62 triệu người, tức trung bình cứ 7 người cao tuổi thì có 1 người bị mắc Tuy nhiên theo dự báo đến năm

2025, con số này sẽ tăng lên 7 triệu và trung bình cứ 5 người cao tuổi thì có 1 người

bị mắc chứng suy giảm nhận thức, hay mất hết khả năng tự lập trong cuộc sống và cần chăm sóc đặc biệt (nằm liệt giường) [34, tr 19] Đây không chỉ là vấn đề phổ

Trang 11

biến ở khu vực thành thị, tại khu vực nông thôn, miền núi, số lượng người cao tuổi rơi vào tình trạng trên đang tăng nhanh, khiến việc chăm sóc tại nhà và trong cộng đồng đang đối mặt với tình trạng quá tải Nếu trước kia người ta cho rằng trách nhiệm chăm sóc bố mẹ già là của con cái trong gia đình hoặc của bệnh viện, thì với tình trạng đô thị hóa và già hóa khu vực nông thôn, miền núi hiện nay, hình thức và mức độ chăm sóc người già đang được phân cấp đa dạng hóa hơn, trong đó vai trò chăm sóc của cộng đồng địa phương được đề cao

Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng được Bộ Lao động Y tế và Phúc lợi Nhật Bản ban hành vào tháng 4 năm 2010 nhằm xây dựng cơ chế hiệu quả và linh hoạt hơn giải quyết vấn đề phúc lợi xã hội cho người già tại Nhật Bản Thuật ngữ ―Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng‖ mà luận văn sử dụng dựa trên tên gọi chế độ này trong tiếng Nhật (介護保険制度), nhưng ở Việt Nam có một số học giả dùng thuật ngữ ―Hệ thống bảo hiểm chăm sóc dài hạn‖ do dịch từ tiếng Anh là ―Long-term Care Insurance System‖ Trên thực tế, đây là cách gọi mà những nước ở khu vực châu

Âu và Bắc Mỹ đã và đang sử dụng Vì luận văn trình bày về chế độ này ở Nhật Bản nên xin thống nhất sử dụng thuật ngữ sát theo tên gọi tiếng Nhật Đặc điểm nổi bật nhất của chế độ này là nếu như trước đây, toàn bộ nội dung dịch vụ cũng như cơ sở điều dưỡng của người cao tuổi đều do chính quyền địa phương quyết định thì với chế độ bảo hiểm mới này, người sử dụng dịch vụ được tự do lựa chọn loại hình dịch

vụ và nhà cung cấp thông qua hình thức hợp đồng Nói cách khác, chế độ này đánh dấu sự thay đổi mối quan hệ giữa người sử dụng và nhà cung cấp dịch vụ từ hình thức ―bắt buộc‖ sang thỏa thuận và ―hợp đồng‖ Điều này đã mở ra một hướng đi hoàn toàn mới trong lĩnh vực phúc lợi và y tế ở Nhật Bản, góp phần quan trọng giải quyết những vấn nạn do già hoá dân số gây ra

Đến nay, sau gần 20 năm triển khai, trải qua nhiều lần bổ sung và sửa đổi, Chế

độ Bảo hiểm Điều dưỡng không chỉ giải quyết nhiều vấn đề y tế phúc lợi cho người già ở khu vực nông thôn, miền núi nói riêng và toàn nước Nhật nói chung, mà còn góp phần cải thiện một số vấn đề về kinh tế, văn hoá, xã hội của các địa phương, với phương châm nhấn mạnh vai trò chủ động của gia đình và cộng đồng Mô hình phát triển của Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ở Nhật Bản đã được một số quốc gia

Trang 12

học tập như Trung Quốc, Hàn Quốc… Thành công bước đầu của Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng dành cho người cao tuổi tại một số quốc gia phát triển và đang phát triển đang đóng góp vai trò cho sự phát triển kinh tế xã hội một cách bền vững ở khu vực nông thôn

Vì những lý do trên, tác giả đã quyết định lựa chọn vấn đề ―Chăm sóc người cao tuổi vùng nông thôn theo Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ở Nhật Bản‖ làm đề tài cho luận văn thạc sĩ Tác giả mong muốn thông qua luận văn có thể đưa ra những đánh giá khách quan về hiệu quả và bài học kinh nghiệm rút ra từ chế độ này, từ đó tìm ra một số gợi ý cho chính sách xã hội tương tự ở Việt Nam

2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thực tế triển khai Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng dành cho người già ở vùng nông thôn Nhật Bản

Phạm vi thời gian của luận văn là giai đoạn 2000-2016 Trong đó, năm 2000 là năm Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng dành cho người cao tuổi được ban hành Năm

2016 là năm tác giả tiến hành điều tra thực địa về chế độ này ở Nhật Bản và chính thức đăng kí đề tài luận văn

Phạm vi không gian chính của của luận văn là khu vực nông thôn Nhật Bản Bên cạnh đó, một số vấn đề so sánh với khu vực thành thị được nêu ra nhằm làm nổi bật khu vực nghiên cứu chính Để tìm hiểu và đánh giá chính xác hiệu quả của Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng này, tác giả lựa chọn phân tích trường hợp 2 không gian cụ thể là làng Tozawa (戸沢), huyện Mogami (最上), tỉnh Yamagata (山形) và thị trấn Sanada (真田), thành phố Ueda (上田), tỉnh Nagano (長野)

3 Mục đích nghiên cứu

Là người Việt Nam đang học tập về Nhật Bản, tác giả muốn thông qua luận văn này thực hiện 2 mục đích nghiên cứu chính Thứ nhất là làm sáng rõ vấn đề chăm sóc người cao tuổi ở khu vực nông thôn theo Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng tại Nhật Bản, bao gồm tình hình già hoá dân số ở Nhật Bản, quá trình chuẩn bị và nội dung của Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng, tình hình áp dụng và vai trò đối với chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi ở khu vực nông thôn Nhật Bản Thứ hai là đánh giá

Trang 13

hiệu quả khách quan về chế độ này, chỉ ra những vấn đề tồn tại, từ đó đưa ra một số gợi ý về chính sách y tế phúc lợi dành cho người già ở Việt Nam

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn tập trung thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau

Trước hết, luận văn làm sáng rõ bối cảnh ra đời của Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng

ở Nhật Bản, bao gồm tình hình dân số, vấn đề chăm sóc người cao tuổi, đặc biệt ở khu vực nông thôn, miền núi, các chính sách bảo hiểm điều dưỡng trước năm 2000

Luận văn phân tích nội dung cơ bản, cơ chế vận hành và vai trò của Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ở Nhật Bản

Để tìm hiểu thực trạng và đánh giá khách quan hiệu quả, vấn đề đặt ra trong thực tế thực hiện chế độ này, luận văn trình bày sâu 2 trường hợp nghiên cứu mà tác giả thực hiện ở địa phương Nhật Bản, qua đó đối chiếu với mô hình chung và lý giải các vấn đề đặc thù

Cuối cùng, luận văn đưa ra những nhận xét của tác giả về hiệu quả và những vấn đề còn tồn tại của chế độ này trong việc đảm bảo cuộc sống ổn định và khoẻ mạnh cho người cao tuổi ở nông thôn Nhật Bản, đồng thời gợi ý một số kinh nghiệm cho Việt Nam

5 Lịch sử nghiên cứu

Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ở Nhật Bản là chế độ bảo hiểm dành riêng cho người cao tuổi được thực hiện đầu tiên trên thế giới Chế độ này ra đời đã làm thay đổi hoàn toàn cơ chế hoạt động cũng như nội dung triển khai của hoạt động y tế phúc lợi dành cho người già nói riêng và an sinh xã hội nói chung, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, văn hoá xã hội ở Nhật Bản, đặc biệt là trong giai đoạn đầu thế kỷ XXI Những ảnh hưởng đó đã thu hút sự chú ý của rất nhiều học giả cũng như các nhà nghiên cứu không chỉ ở Nhật Bản mà có nhiều quốc gia khác như Hàn Quốc, Việt Nam Trong số đó, các nghiên cứu của các học giả Nhật Bản chiếm vị trí áp đảo Dưới đây tác giả luận văn xin điểm lại những thành tựu của giới nghiên cứu Nhật Bản về vấn đề này qua các mảng nội dung cụ thể

Trang 14

Thống kê, nghiên cứu về xã hội già hóa và phúc lợi xã hội của Nhật Bản

Tại Nhật Bản, những tài liệu thống kê, tổng hợp về già hoá dân số hay hệ thống an sinh xã hội đã được thực hiện từ khi Nhật Bản bước vào thời kỳ ―xã hội già hoá‖ bắt đầu từ thập kỉ 1970 Có thể kể đến những công trình tiêu biểu như công

bố thường niên của Nội các Nhật Bản với nhan đề Sách trắng Xã hội già hoá (高齢

社会白書) xuất bản từ năm 1997 Đây là kết quả điều tra tình hình biến động dân số, tỉ lệ già hoá dân số và các vấn đề liên quan đến già hoá, cuộc sống sinh hoạt cũng

như chăm sóc y tế phúc lợi cho người cao tuổi trong từng năm Thông qua đó, Sách

trắng phân tích, đánh giá hiện trạng nhằm đề xuất chiến lược phù hợp, hỗ trợ toàn

diện cho việc nâng cao chất lượng cuộc sống và sức khoẻ cho người cao tuổi tại Nhật Bản

Trong số các nhà nghiên cứu Nhật Bản chuyên phân tích về phúc lợi xã hội,

phải kể đến Furukawa Koujun (古川孝順), với các công trình như Lý luận phúc lợi

xã hội (社会福祉論) năm 1993 trình bày về những nội dung cơ bản nhất của phúc

lợi xã hội như lịch sử hình thành, đối tượng, những cải cách, chế độ trợ cấp hỗ trợ;

Cải cách cấu trúc cơ bản của phúc lợi xã hội – những vấn đề và nhiệm vụ (社会福

祉基礎構造改革—その課題と展望) năm 1998 bàn về quá trình cải cách cơ bản

liên quan đến nền tảng phúc lợi xã hội tại Nhật Bản; Vận hành phúc lợi xã hội – tổ

chức và quy trình (社会福祉の運営―組織と過程) năm 2001 với nội dung phân

tích ―hệ thống vận hành‖ của phúc lợi xã hội thông qua bộ phận chính sách và bộ phận hỗ trợ, từ đó làm rõ tầm quan trọng của quá trình cải cách thể chế phúc lợi xã

hội trong thế kỷ XXI; Mở rộng và hạn định phúc lợi xã hội – phúc lợi xã hội bằng

cách nào để đối ứng hai đầu (社会福祉の拡大と限定―社会福祉学は双頭の要

請にどう応えるか) xuất bản năm 2009

Bên cạnh đó, không thể không nhắc đến Takegawa Shougo (武川正吾), tác

giả cuốn sách Xã hội phúc lợi – chính sách xã hội theo nghĩa rộng (福祉社会 - 包

摂の社会政策) năm 2011 Cuốn sách này được nhiều trường đại học coi là giáo

Trang 15

trình giảng dạy khi giới thiệu về vấn đề phúc lợi và xã hội Trong cuốn sách, tác giả

đã đưa ra nhiều phân tích sắc sảo và dễ hiểu về các chính sách kết nối hai yếu tố này

Nghiên cứu về Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng

Từ sau khi Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng được ban hành (năm 2010) đến nay,

có rất nhiều công trình thống kê và nghiên cứu đi sâu vào chế độ này, gồm nội dung, quá trình vận hành, áp dụng và những vấn đề tồn tại Cục Y tế Phúc lợi dành cho người cao tuổi của Nhật Bản đã thực hiện nghiên cứu và báo cáo thường niên về lịch sử cũng như những nội dung cải cách chế độ, cơ chế hoạt động, tình hình tài chính ngân sách, biến động số lượng người cao tuổi cần được chăm sóc cùng với nhu cầu điều dưỡng, vấn đề tồn tại và hướng giải quyết trong tương lai Tiêu biểu là

các công trình Hiện trạng của Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng công và vai trò trong

tương lai (公的介護保険制度の現状と今後の役割) năm 2015; Thúc đẩy chăm sóc người cao tuổi tổng hợp địa phương (地域包括ケアの推進) năm 2010

Một chuyên gia trong vấn đề Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng là nhà nghiên cứu

Nakai Kiyomi (中井清美) Trong cuốn sách Bảo hiểm Điều dưỡng – xem xét sự

chênh lệch giữa các khu vực (介護保険ー地域格差を考える) năm 2003, ông đã

trình bày sự chênh lệch trong quá trình vận hành chế độ bảo hiểm giữa các địa phương Theo ông, tình trạng này đang trở thành một vấn nạn tại Nhật Bản Cùng với các cơ sở tư nhân, hợp tác xã, tổ chức phi lợi nhuận (viết tắt là NPO) và tổ chức phi chính phủ khác, các nhà chức trách ở từng địa phương đang cố gắng để xây dựng một hệ thống chăm sóc người cao tuổi phù hợp với tình hình tại chính địa phương mình

Bên cạnh đó, những vẫn đề tồn tại trong quá trình triển khai chế độ bảo hiểm này tại Nhật Bản cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, trong số đó có cả học giả người nước ngoài như tác giả Hàn Quốc Lee Eunshim Bà đã điều tra về tình hình sử dụng các dịch vụ điều dưỡng của Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng và phát hiện ra một số vấn đề trong quá trình đăng ký, sử dụng dịch vụ Nghiên cứu của bà được trình bày trong cuốn

sách Vấn đề liên quan đến việc tiếp cận với các dịch vụ điều dưỡng (介護サービスへの

アクセスの問題) năm 2014

Trang 16

Nghiên cứu về thực tế áp dụng Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ở khu vực nông thôn, miền núi Nhật Bản nói chung

Có thể nói trong khi nghiên cứu tổng quan về an sinh xã hội hay y tế phúc lợi trên phạm vi cả nước Nhật đã được thực hiện khá chi tiết thì những nghiên cứu về thực trạng triển khai của Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng tại khu vực nông thôn, hay những vấn đề liên quan đến chăm sóc người cao tuổi ở khu vực này vẫn khiêm tốn Aikawa Yoshihiko (相川良彦) là một trong những nhà nghiên cứu tâm huyết trong lĩnh vực này Ông đã tiếp cận và nghiên cứu sâu về chăm sóc người già ở khu vực

nông thôn thông qua một số công trình như Chăm sóc người cao tuổi ở khu vực

nông thôn – thực tế chăm sóc tại nhà và triển khai phúc lợi cộng đồng (農村にみる

nông thôn (尐子高齢化と農村) năm 2009, Các cuốn sách của ông tập trung phân

tích cơ cấu gia đình và xã hội ở khu vực nông thôn, đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi tại khu vực này Ông đã sử dụng phương pháp xã hội học để phân tích thực tế triển khai các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi, sự kết nối giữa các tổ chức, các cơ sở và cộng đồng Các nghiên cứu của ông đã được đánh giá cao và được tham khảo cho việc xây dựng chính sách của chính quyền địa phương, các bộ ban ngành và xây dựng mô hình cho các cơ sở cung cấp dịch vụ Có thể nói đây là những nghiên cứu ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình triển khai Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng tại khu vực nông thôn nói riêng và trên toàn nước Nhật nói chung

Nghiên cứu trường hợp về thực tế áp dụng Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ở khu vực nông thôn, miền núi

Để đánh giá khách quan tình hình thực hiện chế độ bảo hiểm này, nhiều nhà nghiên cứu đã áp dụng phương pháp điều tra thực địa, kết hợp phỏng vấn xã hội học Không thể không nhắc đến Matsuoka Masanori (松岡昌則) với các công trình

Tương trợ trong cuộc sống khu vực nông thôn ngày nay – hỗ trợ sinh hoạt và quan

hệ xã hội cộng đồng (現代農村の生活互助―生活協同と地域社会関係) năm

1991; Cuộc sống người cao tuổi tại khu vực trung du miền núi – trường hợp quận

Trang 17

Yoneda, thị trấn Fujisato, huyện Yamamoto, tỉnh Akita (過疎山村における高齢者

生活補完ー秋田県山本郡藤里町米田地区の事例ー) năm 2003 (đăng trong Tạp

chí nghiên cứu xã hội học)

Kurita Akira (栗田明良) đã thực hiện một cuộc điều tra thực tế tại một số khu vực trung du miền núi Nhật Bản từ năm 2000, khi chế độ bảo hiểm bắt đầu có hiệu lực Công trình của ông được coi là nghiên cứu tiền khả thi về vấn đề y tế phúc lợi cho một số địa phương chuẩn bị triển khai Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng Các kết

quả nghiên cứu của ông được tổng hợp trong cuốn sách Tái thiết hệ thống phúc lợi

“kiểu nông thôn” cho người cao tuổi ở khu vực nông thôn miền núi (中山間地域の

Một mảng đề tài thú vị khác liên quan đến chế độ điều dưỡng này được học

giả Ando Junko (安藤純子) phân tích trong bài viết Người phụ thuộc là người nước

ngoài sống tại khu vực nông thôn và xã hội cộng đồng – trường hợp làng Tozawa, tỉnh Yamagata (農村部における外国人配偶者と地域社会ー山形県戸沢村を事

例としてー) năm 2009 Qua đó, tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa người phụ thuộc (cụ thể là người con dâu trong gia đình) là người nước ngoài với người cần chăm sóc (phần lớn là bố mẹ chồng) để làm rõ hình thức chăm sóc tại nhà cũng như những khó khăn và tồn tại của việc chăm sóc tại nhà đang gặp phải

Nhà nghiên cứu Okuyama Shouji (奥山正司) trong các bài viết Cuộc sống và

những hoạt động của người cao tuổi tại khu vực nông thôn, miền núi (農山村にお

ける高齢者の生活と行動) đăng trong Tạp chí Phát triển cộng đồng năm 1996;

Chăm sóc người cao tuổi vùng nông thôn theo Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng – trường hợp nông thôn Touhoku (介護保険制度下における農村の高齢者介護ー

主に東北農村の事例を通してー) năm 2005, đã phân tích tình hình chăm sóc người cao tuổi tại khu vực nông thôn Ông đã đưa ra những đánh giá khách quan về vai trò của Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng trong việc giải quyết những khó khăn mà vấn đề già hoá dân số đang gây ra

Trang 18

So với nghiên cứu của các học giả Nhật Bản, các nghiên cứu ở Việt Nam về vấn đề phúc lợi xã hội, vấn đề người già ở Nhật Bản nói chung, và vấn đề chăm sóc người cao tuổi ở khu vực nông thôn theo Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng còn rất hạn chế Các tài liệu đề cập đến vấn đề này phần lớn là những bài báo hay các bài nghiên cứu ngắn được đăng trên một số trang báo điện tử như trang web nghiên cứu khu vực Đông Bắc Á, nghiên cứu Nhật Bản… với nội dung trùng lặp Trong số đó

có thể kể đến nghiên cứu “Nhật Bản: già hoá dân số và hậu quả” của tác giả Lưu Ngọc Trịnh đăng trên Tạp chí Xã hội học, số 2 năm 1992; ―Vấn đề già hoá dân số ở

Nhật Bản” của tác giả Đinh Huy Dương đăng trên báo điện tử của Tổng cục dân số

- kế hoạch hoá gia đình, “Tác động của tình trạng suy giảm dân số ở Nhật Bản” do Nguyễn Lương Sỹ dịch đăng trên trang điện tử Nghiên cứu quốc tế năm 2016; loạt bài viết “Già hoá dân số tại Nhật Bản: thực trạng và giải pháp” tác giả Hoàng

Minh Lợi và Nguyễn Hồng Vân đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á năm

2011; “Xã hội già hoá ở Nhật Bản” của tác giả Ngô Hương Lan năm 2012, đăng trên trang điện tử Nghiên Cứu Nhật Bản; “Điều tra về dân số và gia đình Nhật

Bản”, tác giả Phan Cao Nhật Anh năm 2017 Về công trình được công bố dưới

dạng sách có thể kể đến cuốn Gia đình Nhật Bản của tác giả Trần Mạnh Cát năm

2011, một tác phẩm cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình già hoá dân số tại Nhật Bản trong gần hai thập kỷ qua Có thể nói nghiên cứu về Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng và vai trò đối với chăm sóc sức khỏe ở khu vực nông thôn Nhật Bản còn là mảng đề tài mới mẻ chưa được khai thác ở Việt Nam

Trên cơ sở tham khảo các công trình nghiên cứu kể trên ở Nhật Bản và Việt Nam, tác giả luận văn nhận thấy, các nghiên cứu hoặc thực hiện theo hướng tiếp cận tổng quát, hoặc chỉ làm rõ một khía cạnh như Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng hay một số vấn đề về đặc điểm chăm sóc người cao tuổi tại khu vực nông thôn chứ chưa liên kết hai mặt này lại với nhau Đây chính là góc độ nghiên cứu mà tác giả luận văn lựa chọn, nhằm làm sáng rõ hai vấn đề là chế độ bảo hiểm và chăm sóc người cao tuổi trong mối quan hệ tác động lẫn nhau Đồng thời, trên cơ sở phân tích mối quan hệ đó, tác giả mong muốn chỉ ra những vấn đề còn tồn tại và rút ra bài học kinh nghiệm để áp dụng vào Việt Nam

Trang 19

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở kết hợp một số phương pháp nghiên cứu của khoa học xã hội và nhân văn, đặc biêt là sử học, xã hội học và khu vực học

Để làm rõ tình hình già hoá dân số và nội dung của Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ở Nhật Bản, tác giả áp dụng phương pháp tổng hợp, thống kê và phân tích tư liệu Nguồn tư liệu được sử dụng để tổng hợp và phân tích chủ yếu là các thống kê chính thống của các bộ ngành và địa phương liên quan được xuất bản hay đăng trên các trang web chính thức Ngoài ra các nhận định và so sánh được tham khảo trên

cơ sở tìm hiểu các công trình gồm sách in, bài báo của các học giả đi trước

Trong quá trình xắp xếp các nội dung và vấn đề nghiên cứu về quá trình thực hiện chính sách cũng như thực trạng công tác chăm sóc điều dưỡng người cao tuổi tại khu vực nông thôn Nhật Bản nói chung, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp logic, lịch đại và so sánh đồng đại của sử học

Bên cạnh đó, tác giả áp dụng phương pháp điều tra thực địa và phỏng vấn sâu của xã hội học và phương pháp nghiên cứu trường hợp của khu vực học để tìm hiểu

về thực trạng áp dụng chế độ bảo hiểm và ảnh hưởng qua lại với tình hình chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi Địa điểm điều tra và phỏng vấn là làng Tozawa, huyện Mogami, tỉnh Yamagata; thị trấn Sanada, thành phố Ueda, tỉnh Nagano và một số

cơ sở điều dưỡng người cao tuổi thuộc hệ thống Azarean Sanada (アザレアンさな

だ) Tác giả luận văn đã thực hiện các cuộc điều tra thực địa với lịch trình sau

1 Từ ngày 27 đến ngày 29 tháng 8 năm 2016 và từ ngày 18 đến ngày 20 tháng

11 năm 2016, tác giả tiến hành 2 cuộc điều tra và phỏng vấn tại làng Tozawa, huyện Mogami, tỉnh Yamagata Đối tượng điều tra bao gồm 3 người đảm nhận vai trò chăm sóc người cao tuổi trong 3 gia đình nông dân, 1 cán bộ làm việc tại Phòng y tế phúc lợi thuộc Uỷ ban làng Tozawa, 2 cán bộ làm việc tại Nhà dưỡng lão đặc biệt dành cho người cao tuổi Magokorosou (まごころ荘) và 1 điều dưỡng viên của trung tâm dịch vụ theo ngày Kohana (こはな)

2 Từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 9 năm 2016, tác giả luận văn tiến hành cuộc điều tra thứ 3 tại địa điểm là thị trấn Sanada, thành phố Ueda, tỉnh Nagano Đối

Trang 20

tượng phỏng vấn gồm có 1 người đảm nhận vai trò chăm sóc người cao tuổi trong gia đình nông dân và 1 cán bộ điều hành tại nhà dưỡng lão Azarean Sanada

Ngoài ra, tác giả luận văn đã đến thăm 4 cơ sở điều dưỡng thuộc hệ thống điều dưỡng Azarean Sanada trong 2 ngày 12 và ngày 13 và có 1 ngày thực tập tại nhà dưỡng lão đặc biệt dành cho người cao tuổi Azarean Sanada vào ngày 14 tháng 9 Nội dung phỏng vấn đối với các địa điểm điều tra trên được chia làm ba phần chính Với đối tượng phỏng vấn là người phụ trách công việc chăm sóc người cao tuổi trong gia đình, nội dung buổi phỏng vấn xoay quanh những vấn đề cấu trúc gia đình và hoạt động kinh tế nông nghiệp, tình hình cuộc sống sinh hoạt của người già cần được chăm sóc, công việc chăm sóc của người đảm đương vai trò này Bên cạnh đó, tác giả cũng đặt ra câu hỏi về ảnh hưởng của việc có người cao tuổi cần được chăm sóc đến hoạt động sản xuất nông nghiệp, tình hình sử dụng các dịch vụ của Bảo hiểm Điều dưỡng và những thay đổi về sức khoẻ và cuộc sống của người cao tuổi trong và sau khi sử dụng các dịch vụ điều dưỡng Với đối tượng là cán

bộ quản lý, nhân viên điều dưỡng tại cơ sở điều dưỡng, tác giả luận văn khai thác những nội dung chính như nội dung của các dịch vụ mà cơ sở đó đang cung cấp, loại hình dịch vụ được sử dụng nhiều nhất trong năm, những khó khăn gặp phải trong quá trình cung cấp dịch vụ Với đối tượng là cán bộ làm việc tại Phòng y tế phúc lợi của làng, nội dung các câu hỏi tổng quát hơn liên quan đến thực trạng cuộc sống của người cao tuổi, tình hình cung ứng dịch vụ điều dưỡng, những kết quả đạt được và những tồn tại cần giải quyết trong quá trình triển khai Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng tại địa phương

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Già hoá dân số và Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ở Nhật Bản

Trong chương này, tác giả sẽ giới thiệu tổng quát về dân số, tình hình già hoá dân số ở Nhật Bản nói chung và khu vực nông thôn nói riêng; khái niệm, cơ chế vận hành và nội dung của Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng

Trang 21

Chương 2: Nghiên cứu trường hợp về chăm sóc người cao tuổi vùng nông thôn theo Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ở Nhật Bản

Chương hai là một trong hai chương chính của luận văn Trong chương này, tác giả tập trung phân tích quá trình ban hành và triển khai Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng tại hai địa phương là làng Tozawa, tỉnh Yamagata và thị trấn Sanada, tỉnh Nagano Tiếp đó, tác giả luận văn phân tích kết quả điều tra phỏng vấn để làm rõ tình hình cụ thể của việc chăm sóc người cao tuổi tại đây

Chương 3: Đánh giá thực trạng chăm sóc người cao tuổi vùng nông thôn theo Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ở Nhật Bản

Trong chương ba, tác giả sẽ phân tích những đặc điểm sử dụng dịch vụ điều dưỡng của người cao tuổi vùng nông thôn theo Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng Từ

đó tác giả chỉ ra một số vấn đề còn tồn tại và đưa ra một vài gợi ý về chính sách cho Việt Nam

Trang 22

CHƯƠNG 1 GIÀ HÓA DÂN SỐ VÀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM ĐIỀU DƯỠNG Ở NHẬT BẢN

Già hoá dân số là một trong những xu hướng phổ biến của thế kỷ XXI và có tác động đến toàn bộ các khía cạnh của đời sống kinh tế xã hội của từng quốc gia, khu vực và trên toàn thế giới Dân số già có nghĩa là tuổi thọ dân cư tăng lên và là

hệ quả tích cực của các chính sách phát triển kinh tế, chăm sóc y tế, phúc lợi xã hội Hiện nay trên thế giới có gần 7 tỷ người và 1/9 trong số này là người từ 60 tuổi trở lên Theo dự báo, đến năm 2050, dân số thế giới đạt 9,2 tỷ người và tỉ lệ người trên

60 tuổi sẽ là 1/5, nghĩa là cứ có 5 người thì có 1 người cao tuổi4 Tuy nhiên, tốc độ già hoá lại diễn ra không đồng đều giữa các quốc gia và khu vực Tại Bắc Âu và Bắc Mỹ là hai khu vực sớm trải qua gia đoạn dân số già, các chính phủ đã sớm đưa

ra những chính sách y tế phúc lợi dành cho người cao tuổi, đồng thời tìm kiếm giải pháp hạn chế ảnh hưởng xấu của tình trạng này Tại Châu Á, Nhật Bản là nước đầu tiên bước vào thời kỳ già hoá Hiện nay, một số nước phát triển trong châu lục như Trung Quốc, Hàn Quốc và ngay cả những nước đang phát triển như Thái Lan hay Việt Nam cũng bắt đầu phải đối mặt với vấn đề này

Cùng với sự phát triển thần kỳ về kinh tế, điều kiện sống cũng như y tế phúc lợi Nhật Bản được cải thiện rõ rệt trong những thập niên 60, 70 của thế kỷ XX đã góp phần tăng tuổi thọ trung bình của người Nhật, nhưng bên cạnh đó làm phát sinh một số vấn đề xã hội nan giải, như quan niệm không lấy chồng sinh con dẫn đến tỉ

lệ sinh giảm… khiến dân số Nhật Bản ―già đi‖ nhanh chóng Nếu thời gian cần thiết

để phần người già trong tổng số dân tăng gấp đôi từ 7 lên 14% ở Pháp là 130 năm, ở Thuỵ Điển là 85 năm thì ở Nhật Bản chỉ mất có 25 năm [12, tr 72] Tốc độ già hoá diễn ra không đồng đều giữa các tỉnh thành và đặc biệt là giữa thành thị và nông thôn Theo tính toán, khu vực nông thôn Nhật Bản bước vào thời kỳ siêu già của dân số nhanh hơn 20 năm so với khu vực thành thị [35, tr 55] Đó là bởi xu hướng thời đại khi thế hệ trẻ rời bỏ quê hương ra thành phố lập nghiệp và để lại người cao

4 PGS.TS Mạc Văn Tiến, Xu hướng già hoá dân số và an sinh xã hội trong thế kỷ 21, đăng trên trang web

Trang 23

tuổi sống độc thân hoặc vợ chồng người cao tuổi sống cùng nhau Chăm sóc người cao tuổi tại nhà đứng trước thách thức lớn, đặt ra yêu cầu về ―xã hội hoá chăm sóc‖, tức là nâng cao vai trò của cộng đồng trong công tác chăm sóc người cao tuổi Đồng thời, những khó khăn trên cũng đặt ra yêu cầu về một chế độ hỗ trợ toàn diện về phúc lợi, y tế và cuộc sống sinh hoạt để người cao tuổi có một cuộc sống ổn định và khoẻ mạnh chính tại nơi mà họ đang sống Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ra đời năm

2000 đã kịp thời đáp ứng những nhu cầu đó

Chương 1 tập trung trình bày về bối cảnh ban hành chế độ này, tiền đề của các chế

độ bảo hiểm trước đó và nội dung của Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng năm 2000

1.1 Dân số và già hoá dân số

Theo kết quả thống kê của Bộ Nội vụ và Truyền thông Nhật Bản, tính đến ngày 1 tháng 10 năm 2016, dân số nước này đạt 126,93 triệu người (nam giới là 61,77 triệu người, nữ giới là 65,17 triệu người), giảm 0,11% so với cùng kỳ năm trước và đánh dấu năm giảm dân số thứ 6 liên tiếp kể từ năm 2010 Cũng trong thống kê này, số người từ 65 tuổi trở lên ở Nhật Bản là 34,59 triệu người, chiếm 27,3% trong tổng dân số Nam giới từ 65 tuổi trở lên chiếm 24.3% trong tổng dân

số người cao tuổi, với 15 triệu người; trong khi đó số liệu này ở nữ giới là 19,59 triệu người, chiếm 30,1% [34, tr 2] Theo nghiên cứu được Liên hiệp quốc và nhiều

tổ chức quốc tế công nhận do các tác giả Cowgill và Holmes thực hiện năm 1970, khi tỉ lệ người già trên 65 tuổi vượt trên 7% dân số thì xã hội đó bước vào giai đoạn già hoá dân số5 Nếu áp dụng quan điểm này thì Nhật Bản đã bước vào thời kỳ già hóa dân số từ những năm 70 của thế kỷ XX

5 Theo phân loại của Cowgill và Holmes (1970), khi dân số từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 7% đến 9,9% tổng dân số thì dân số được coi là ―già hoá‖ Tương tự, 10%-19,9% gọi là dân số ―già‖; 20%-29,9% gọi

là dân số ―rất già‖ và từ 30% trở lên gọi là dân số ―siêu già‖ Nhiều báo cáo của Liên hợp quốc và các tổ

chức quốc tế sử dụng cách phân loại này Nguồn: Quỹ dân số Liên Hợp Quốc tại Việt Nam, Già hoá dân số và người cao tuổi ở Việt Nam – Thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách, 7/2011,

trang 2

Trang 24

Ở Nhật Bản hiện nay, thế hệ dankai (団塊の世代, tức thế hệ sinh ra trong cuộc bùng nổ dân số lần thứ nhất sau Chiến tranh Thế giới thứ hai diễn ra trong các năm 1947~1949) đang bước vào giai đoạn già hoá Cụ thể là theo thống kê của Văn phòng Nội các Nhật Bản, đến năm 2015, số người thuộc thế hệ này trên 65 tuổi là 33,87 triệu người, và đến năm 2025 khi thế hệ này 75 tuổi, ước tính con số đạt mức 36,77 triệu người Theo dự báo, tỉ lệ già hoá dân số Nhật Bản tiếp tục tăng lên trong những năm tới và đến năm 2036, tỉ lệ người từ 65 tuổi trở lên sẽ chiếm 33,3%, tức

là cứ 3 người thì có 1 người trên 65 tuổi Từ sau năm 2042, việc tổng dân số giảm

sẽ tiếp tục kéo theo sự tăng của tỉ lệ già hoá, đến năm 2065, tỉ lệ này đạt 38,4%, đồng nghĩa với việc cứ 2,6 người thì có 1 người trên 65 tuổi Cùng với đó, tỉ lệ người trên 75 tuổi cũng tăng dần qua các năm và đến năm 2065, tỉ lệ này sẽ đạt 25,5% khiến cho lần đầu tiên ở Nhật Bản, cứ 4 người thì có 1 người ở độ tuổi 75 [34, tr 3]

Theo thống kê của Văn phòng Nội các Nhật Bản, năm 2015 số hộ gia đình có người già trên 65 tuổi là 23,72 triệu hộ, tăng 23,1% so với năm 1980 và chiếm 47,1% trong tổng số hộ gia đình cả nước Trong khi số hộ gia đình ba thế hệ sống cùng nhau có xu hướng giảm thì số hộ chỉ có người già sống cùng con cái chưa kết hôn, hộ chỉ có hai vợ chồng người già và hộ người già sống độc thân lại có xu hướng tăng lên Nếu năm 1980, tỉ lệ gia đình ba thế hệ cao nhất và chiếm hơn một nửa thì đến năm 2015, số hộ chỉ hai vợ chồng chiếm tỉ lệ cao nhất khoảng 30% Như vậy có thể thấy rõ một thực tế là số người già trên 65 tuổi ở Nhật Bản sống cùng con cái đang ngày càng giảm, từ 69,0% năm 1980 xuống còn 39% năm 2015

và người già sống độc thân đang ngày càng tăng lên [34, tr 13-15]

―Xã hội già hoá và tỉ lệ sinh thấp‖ (尐子高齢化) đang là cụm từ được dùng rộng rãi để nói về vấn đề mất cân bằng dân số ở Nhật Bản Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng già hoá dân số, trong đó tình trạng phụ nữ kết hôn muộn, không muốn có con là những nguyên nhân hàng đầu của vấn đề tỉ lệ sinh giảm, một trong những yếu tố góp phần làm già hoá dân số

Trang 25

Xét về tỉ lệ sinh đẻ, vào những năm 1970, trung bình một phụ nữ Nhật Bản đẻ dưới 2,08 người con trong vòng đời Nhiều ý kiến cho rằng, nếu tỉ lệ sinh cứ tiếp tục duy trì ở tình trạng thấp như vậy thì sẽ dẫn đến giảm dân số, nhưng trên thực tế, do tuổi thọ trung bình của người Nhật vẫn tiếp tục tăng lên nên dân số vẫn tăng Tuy nhiên từ sau năm 1975 đã giảm xuống là 2,0 người con/phụ nữ, và cho đến năm

2015 thì tỉ lệ này là 1,45 người con/phụ nữ6

Nhiều biện pháp khắc phục đã được đề ra như tăng cường hệ thống phúc lợi dành cho người có con nhỏ với nhiều ưu tiên, thực hiện các chính sách khuyến khích sinh đẻ, hoàn thiện hơn nữa môi trường giáo dục nhà trẻ, mẫu giáo để các bà

mẹ có thể yên tâm gửi con đi làm, giảm bớt gánh nặng việc nhà và chăm sóc con nhỏ cho phụ nữ Tuy nhiên, việc giảm mạnh tỉ lệ sinh vốn bắt nguồn từ sự thay đổi trong ý thức, quan niệm của người Nhật về vấn đề hôn nhân, gia đình và việc sinh con, dẫn tới lối sống độc thân, sự thu hẹp quy mô gia đình của xã hội hậu công nghiệp7 Lối suy nghĩ ―đã là con người thì ai cũng phải kết hôn‖ đã trở nên lạc hậu Kết hôn hay không, đó không còn là một vấn đề quan trọng nữa khi có một thực tế

là hiện nay, đa số người Nhật cho rằng ―không nhất thiết phải kết hôn‖, trong khi đó

ý kiến cho rằng ―đương nhiên phải kết hôn‖ chỉ là thiểu số cho thấy xu hướng thích sống độc thân ngày càng thể hiện rõ trong ý thức, quan niệm của người Nhật Bản Kết quả điều tra ý thức người Nhật đối với vấn đề hôn nhân được Viện cứu văn hoá truyền thông NHK tiến hành 5 năm một lần từ năm 1993 đến nay cho thấy quan niệm về hôn nhân của người Nhật Bản (tham khảo Biểu đồ 1, Phụ lục)

6

http://cjs.inas.gov.vn/index.php?newsid=606, truy cập ngày 10/12/2017

Trang 26

Như vậy, từ thời điểm đầu tiên khi cuộc điều tra được tiến hành năm 1993, số người được hỏi cho rằng ―không cần thiết phải kết hôn‖ đã cao hơn con số cho rằng

―đương nhiên phải kết hôn‖ và vẫn tiếp tục gia tăng Cũng theo kết quả của cuộc điều tra này, khảo sát về quan điểm hôn nhân theo độ tuổi và giới tính cho thấy con

số nữ giới ―không cần hôn nhân‖ cao hơn nam giới, và tỉ lệ thanh niên cho rằng

―không cần hôn nhân‖ nhiều hơn ở lớp người có tuổi

Bên cạnh đó, quan niệm về con cái của người Nhật cũng thay đổi mạnh mẽ Trật tự truyền thống ―hôn nhân – tình dục – có con‖ đang bị phá vỡ và thay vào

đó, số người theo chủ nghĩa ―không sinh con‖ đã gia tăng liên tục từ những năm 1970 cho đến nay Theo Thống kê tình hình dân số của Bộ Lao động Y tế

và Phúc lợi Nhật Bản, vào năm 1973, khi cuộc bùng nổ dân số Nhật Bản lần thứ 2 đang ở đỉnh cao, có hơn 2 triệu trẻ em ra đời mỗi năm Nhưng đến năm

2003, con số này chỉ còn hơn 1,1 triệu trẻ/năm, đến năm 2008 tiếp tục giảm sút, còn 1 triệu trẻ/năm, chỉ bằng 1/2 so với thời điểm năm 1973 Sự sụt giảm này là

do dân số của thế hệ cha mẹ, những người sinh ra thế hệ trẻ em ở Nhật Bản hiện nay đang giảm sút nghiêm trọng8

Vấn đề đáng ngại nhất là ý thức ―không sinh con‖ đang ngày càng trở nên phổ biến ở Nhật Bản Vào những năm đầu 1990, tỉ lệ cho rằng ―cần có con‖ ở mức khá thấp, là 54% thì đến năm 1998 giảm xuống còn 48%, và từ năm 2003 đến nay, số người theo khuynh hướng ―không cần có con‖ đã vượt trên số người cho rằng ―cần

8 http://cjs.inas.gov.vn/index.php?newsid=947, truy cập ngày 10/12/2017

Trang 27

thì chỉ có 706 nghìn đám cưới diễn ra trong năm 2010, mức thấp nhất kể từ năm

1954 Số liệu này cho thấy tỉ lệ sinh sẽ không tăng đáng kể trong tương lai gần10 Ngoài ra, các nguyên nhân như tỉ lệ nữ giới cao hơn nam giới (thường nữ giới sống thọ hơn nam giới), số người nước ngoài không thay đổi nhiều cũng ít nhiều làm cho quá trình già hoá dân số ở Nhật Bản diễn ra nhanh hơn

Vấn đề già hoá dân số đang đặt ra không ít thách thức đối với nền kinh tế cũng như lĩnh vực văn hoá, xã hội ở Nhật Bản Trong những năm vừa qua, những vấn đề kinh tế đang ngày càng trở nên phức tạp bởi sự mất cân bằng trong cơ cấu dân số Lực lượng lao động ngày càng bị lão hoá nhanh đã tác động trực tiếp tới nền kinh tế vốn được xem là phát triển hàng đầu thế giới Số dân ở độ tuổi lao động (15~64 tuổi) ở Nhật Bản đang giảm nghiêm trọng sau khi đạt mức đỉnh điểm là 87 triệu người vào năm 1995 (tham khảo Hình 1.1) Số lượng người tham gia lao động có chiều hướng giảm mạnh cho dù dân số Nhật Bản tương đối lớn, nhưng để đảm bảo cho sự phát triển và tăng trưởng kinh tế thì hàng năm nước này cần một lượng lớn người lao động Song trên thực tế, số người trong độ tuổi lao động giảm nên trực tiếp ảnh hưởng đến nguồn cung cấp lao động cho các ngành kinh tế Trong khi số lao động trẻ (ở độ tuổi 15~19 và 20~24) có xu hướng giảm thì số lao động người cao tuổi (độ tuổi 55~64 và trên 65) có xu hướng ngày càng gia tăng Sự biến động này đã phản ánh sự già hoá dân số và việc sử dụng hợp lý lao động trẻ và lao động già hoàn toàn không diễn ra bình thường (tham khảo Bảng 1, Phụ lục) Với sự thay đổi này, chỉ khi sản lượng, năng suất lao động tăng mạnh thì mới bù đắp được sự thiếu hụt lao động, nếu không tổng thu nhập quốc dân GDP sẽ giảm mạnh trong nhiều năm tới Điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế cũng như sẽ làm giảm vị thế và uy tín của Nhật Bản trên thế giới

Trang 28

Hình 1.1: Biến động dân số và dự báo già hoá

có những thuận lợi như giống cây trồng tốt, phương pháp canh tác tiên tiến nhưng vẫn đang phải đối mặt với vấn đề lực lượng lao động ngày càng già và thiếu11 Mặt khác, với tốc độ người già tăng và trẻ em giảm như hiện nay sẽ làm thay đổi tỉ lệ về số người gánh vác đảm bảo xã hội đối với người già Năm 1950, cứ 12,1 người người đang làm việc (15~64 tuổi) phải gánh vác những chi phí về mặt bảo đảm xã hội cho một người già thì năm 2015, cứ 2,3 người làm việc phải hỗ trợ cho

Trang 29

một người già Hiện nay đối với những người trẻ ở Nhật Bản, gánh nặng của họ vượt quá lợi ích, trong đó có phần chi trả cho việc chăm sóc, lương hưu của người già khiến họ không hài lòng Đây cũng là một mâu thuẫn xã hội kéo dài và không dễ dàng để giải quyết triệt để nếu như không có những giải pháp hữu hiệu Hiện nay, việc gia tăng chi phí chăm sóc người cao tuổi đã làm thâm hụt ngân sách không chỉ của quốc gia mà còn ở các địa phương Trên thực tế, khoảng 70% kinh phí phúc lợi bảo hiểm xã hội chi cho người già và vấn đề lớn nhất là gánh nặng về tài chính cho việc tăng lợi ích đảm bảo xã hội cho thế hệ này [12, tr 74]

Một vấn đề đáng lo ngại hiện nay của người già Nhật Bản là tình trạng sống và chết

cô đơn Do tỉ lệ già hoá tăng lên và ở vùng nông thôn thì phần lớn người trẻ đều ra những thành phố lớn lập nghiệp nên ngày càng có nhiều người già phải sống một mình, giai đoạn cuối đời không có người chăm sóc dẫn đến khi qua đời không có người thân nào bên cạnh Trong số đó có rất nhiều trường hợp người cao tuổi chết không rõ nguyên nhân hoặc qua đời rất lâu sau mới được phát hiện Nếu năm 2010, Nhật Bản có 4,7 triệu người sống một mình không có người thân bên cạnh thì dự báo đến năm 2035 con số này sẽ tăng lên 7,6 triệu người Theo khảo sát của Viện Thanh tra Y khoa Tokyo thuộc Cục Y tế Phúc lợi Tokyo, năm 2002 phát hiện được 1,364 trường hợp người trên 65 tuổi qua đời tại nơi ở của họ thì đến năm 2013, con số này là 2,869 người (tham khảo Biểu đồ 2, Phụ lục) Chết cô đơn đang trở thành nỗi sợ hãi của nhiều người già Nhật Bản hiện nay Mong muốn của họ là có người giúp đỡ, chăm sóc khi về già Tuy nhiên trong bối cảnh già hoá và ít người trẻ như hiện nay thì có rất nhiều người già đã chọn cách phạm tội ―tự nguyện‖ để được sống trong trại giam, hoặc tự sát để không trở thành gánh nặng cho người thân và xã hội

Tình trạng người già chết cô đơn là bởi sự già hoá dân số ở Nhật Bản tăng nhanh, người già thiếu sự chăm sóc đặc biệt tại nhà Hiện nay, số người già cần chăm sóc lớn hơn 50%, trong đó một số khá lớn cần chăm sóc đặc biệt (nằm liệt giường) Hàng năm quốc gia này đã chi một khoản tiền khá lớn để phục vụ cho công tác xây dựng cũng như trang bị máy móc cần thiết cho các trung tâm điều dưỡng, do đó việc tiếp tục tăng thêm chi phí là không dễ dàng Bởi vậy, gánh nặng

Trang 30

chăm sóc người già sẽ phải do gia đình, trong đó phần lớn là phụ nữ đảm nhiệm Tuy nhiên, đây quả là một vấn đề không hề đơn giản bởi theo thống kê của Bộ Lao động Y tế và Phúc lợi Nhật Bản thì tỉ lệ người già sống cùng con cái đang ngày một giảm đi Năm 1980, số người già trên 65 tuổi sống chung với con cái là khoảng 70% Các năm tiếp theo 1990, 2000, 2007 tỉ lệ giảm dần tương ứng là: 59,7%, 49,1%, 43,6%, và đến năm 2013, tỉ lệ này chỉ còn 40% và dự báo tiếp tục giảm (tham khảo Biểu đồ 1.1) Nếu năm 1985 có 2,25 triệu người già sống trong các loại hình nhà dưỡng lão khác nhau thì hiện nay, con số đó phải gấp 3 – 4 lần Thậm chí người ta đang báo động về sự quá tải của các nhà dưỡng lão [7, tr 8]

Biểu đồ 1.1: Tỉ lệ người cao tuổi trên 65 tuổi dựa theo từng hình thái gia đình

Nguồn: [33, tr 14]

Già hoá dân số buộc chính phủ Nhật Bản phải có những thay đổi về chế độ trợ cấp hưu trí, trợ cấp cho người già, như vậy sẽ làm cho trợ cấp này tăng lên mạnh mẽ Điều này cho thấy nước Nhật đang phải đối mặt với những khó khăn không nhỏ ở phía trước liên quan đến bảo hiểm xã hội và hệ thống phúc lợi đối với người già Trong đó, bảo hiểm xã hội giành cho người già bao gồm hai nội dung cơ bản là trợ cấp hưu trí và điều dưỡng Dịch vụ giành cho người già được chia làm hai tuyến:

Trang 31

các dịch vụ dành cho những người sống trong nhà dưỡng lão và dịch vụ tại nhà hiện đang sống tại nhà mình Hầu hết các lĩnh vực này đều đang phải đối mặt với nhiều vấn đề nan giải bởi tác động của hiện tượng già hoá đang diễn ra nhanh chóng Theo đó, việc cải thiện các điều kiện sống cho người già dựa trên chăm sóc cộng đồng đang gặp khó khăn về tài chính, trở thành vấn đề phức tạp đối với các nhà hoạch định chính sách tài chính của quốc gia này

1.2 Già hoá dân số ở khu vực nông thôn

1.2.1 Tình trạng già hoá ở nông thôn

Như đã trình bày, Nhật Bản là quốc gia có tốc độ già hoá dân số nhanh nhất thế giới, tuy nhiên quá trình này diễn ra không đồng đều trên các vùng lãnh thổ nước này Theo số liệu thống kê của Bộ Nội vụ và Truyền thông Nhật Bản, năm

2014, tỉnh Akita có tỉ lệ già hoá cao nhất 32,6%, địa phương có tỉ lệ thấp nhất là Okinawa với 19,0% Theo dự báo, trong những năm tiếp theo tỉ lệ già hoá tiếp tục tăng ở hầu hết các tỉnh thành và ước tính đến năm 2040, Akita vẫn là địa phương có tỉ lệ già hoá cao nhất với 43,8%, thấp nhất là Okinawa thì tỉ lệ này cũng sẽ tăng lên trên 30% (tham khảo Bảng 2, Phụ lục)

Mặt khác, tình trạng mất cân bằng dân số còn diễn ra giữa nông thôn và thành thị Theo số liệu thống kê của chính phủ và các phân tích cho thấy, khu vực nông thôn chiếm hơn một nửa diện tích nhưng dân số chỉ chiếm 1/3 trong tổng dân số của

cả nước và tỉ lệ này cũng đang ngày càng giảm (tham khảo Biểu đồ 3, Phụ lục) Đồng thời, những số liệu điều tra còn chỉ rõ đến năm 2030, tỷ lệ già hoá dân số ở khu vực thành thị dự báo sẽ tăng lên 30% trong khi đó ở khu vực nông thôn tỷ lệ này đã đạt ngưỡng 30% từ năm 2010

Như vậy, tốc độ già hoá ở nông thôn được cho là nhanh hơn thành thị 20 năm và nông thôn Nhật Bản đã sớm trở thành khu vực ―siêu già hoá‖ theo quan niệm quốc tế Theo thống kê của Viện nghiên cứu chính sách nông lâm thuỷ sản, nếu xem tổng dân số của từng khu vực năm 2000 là 100% thì đến năm 2030, dân số các khu vực nông nghiệp trung du và nông nghiệp miền núi sẽ giảm xuống tương ứng là 80%, 60%, trong khi các vùng thành thị giảm nhanh đến 95% (tham khảo Biểu đồ 4, Phụ lục) Cũng theo dự báo

Trang 32

đến năm 2030, số người trong độ tuổi lao động ở khu vực nông thôn sẽ giảm nhanh hơn khu vực thành thị và xuống còn 55% Đến năm 2030, tỉ lệ dân số khu vực nông thôn giảm nhanh hơn khu vực thành thị 7 điểm so với năm 2010

Trong những thập kỷ gần đây, do tính chất của ngành nông nghiệp là thu nhập thấp và phải phụ thuộc nhiều vào các điều kiện thời thiết nên hầu hết những người trẻ ở nông thôn rời bỏ làng quê ra thành thị để kiếm việc làm Đây là xu hướng tất yếu của giai đoạn hậu công nghiệp hoá ở tất cả các nước, tuy nhiên tình trạng này được coi là rất nghiêm trọng trong bối cảnh Nhật Bản từ lâu đã bị liệt kê là quốc gia

có dân số già nhất thế giới Chính vì vậy, hiện nay ngành nông nghiệp Nhật Bản đang đứng trước nguy cơ thiếu hụt trầm trọng nguồn lao động, bởi đa số người lao động đang làm việc đều là những người cao tuổi

Theo số liệu thống kê của Bộ nông lâm thuỷ sản, năm 1995 độ tuổi trung bình nông dân chỉ mới 59,6 tuổi thì đến năm 2015 con số này đã tăng lên 67,0, cao hơn cả

độ tuổi về hưu do Chính phủ Nhật quy định Và nhiều người nông dân vẫn tiếp tục làm việc ở độ tuổi trên 80 Cũng theo thống kê, mặc dù năm 2015 lực lượng lao động trong ngành nông nghiệp giảm gần 1 triệu người so với 20 năm trước đó nhưng lao động trên

65 tuổi vẫn chiếm 65% và có xu hướng tăng nhẹ qua các năm, trong khi lao động dưới

40 tuổi chỉ chiếm 10% và giảm liên tục (tham khảo Biểu đồ 1.2)

Biểu đồ 1.2: Lao động trong ngành nông nghiệp phân theo nhóm tuổi

Nguồn: [36, tr 94]

Trang 33

Nếu xem tỉ lệ dân số nông thôn và lao động nông nghiệp năm 1995 là 100% thì dự báo đến năm 2030, dân số ở khu vực nông thôn sẽ giảm xuống 81% trong khi lao động nông nghiệp giảm xuống chỉ còn 43% (tham khảo Biểu đồ 1.3)

Biểu đồ 1.3: Tỉ lệ giảm của dân số nông thôn và lao động

trong ngành nông nghiệp

Nguồn: [36, tr 95]

Những số liệu thống kê trên cho thấy, việc thiếu lao động trẻ đang gây ra gánh nặng lớn cho người già sống ở khu vực nông thôn và đặt ra những yêu cầu cấp bách trong việc cân bằng lại dân số và lao động giữa nông thôn và thành thị

Ở Nhật Bản hiện nay, để khắc phục tình trạng người cao tuổi làm nông, chính phủ đã tìm mọi cách để việc đồng áng bớt nặng nhọc, nông dân có thu nhập cao như đưa máy móc dễ sử dụng về cho nông dân, cung cấp giống mới cho năng suất cao, áp dụng công nghệ tân tiến sau thu hoạch, trợ cấp để ngành nông nghiệp có thu nhập ổn định Bên cạnh đó cũng đã có có không ít công ty đầu

tư và tham gia vào việc sản xuất nông nghiệp, mở rộng quy mô sản xuất cũng như tăng thêm lao động thuê mướn Những chính sách và thay đổi đó tuy đã mang lại những hiệu quả tích cực, ví dụ như trong những năm gần đây, số người trẻ quay trở về quê hương làm nông nghiệp hay các ngành nghề phi nông nghiệp tăng lên đáng kể Tuy nhiên, với tốc độ già hoá dân số diễn ra quá

Trang 34

nhanh trong khi dân số của quốc gia này, đặc biệt là khu vực nông thôn giảm mạnh trong những thập kỷ tới thì đây được coi là vấn đề khó có thể giải quyết trong thời gian ngắn

1.2.2 Cuộc sống của người cao tuổi và nhu cầu điều dưỡng ở nông thôn

Cuộc sống của người cao tuổi

Hiện nay người cao tuổi ở Nhật Bản thay vì sống cùng con cái trong gia đình nhiều thế hệ để các thành viên cùng quan tâm chăm sóc lẫn nhau thì có rất nhiều gia đình chỉ có hai người già sống cùng nhau hoặc người già sống độc thân Tuy nhiên ở nhiều khu vực nông thôn, đặc biệt là các làng quê ở vùng Đông bắc Nhật Bản vẫn còn rất nhiều gia đình ba thế hệ trở lên sống cùng nhau Mặc dù vậy, theo nghiên cứu điều tra của Fuse Akiko (布施晶子), vào những năm 1960, ―nếu bố mẹ già đi và không còn khả năng lao động để chi trả cho cuộc sống thì việc hỗ trợ về kinh tế đương nhiên là nghĩa vụ của con cái‖ chiếm 62% thì đến cuối những năm 80, ý kiến này giảm xuống còn 40% Và hiện nay, quan niệm ―nếu dư giả thì hỗ trợ‖ dường như ăn sâu vào trong tâm thức người Nhật, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ [25, tr 200] Vì vậy người già dù sống cùng con cái của họ hay sống độc thân thì phần lớn các chi phí cho sinh hoạt, khám bệnh

và các hoạt động xã hội của họ đều được chi trả bằng trợ cấp hưu trí hàng tháng

Do tình trạng già hoá dân số dẫn đến việc thiếu hụt nhân lực nên không ít nhà tuyển dụng vẫn thuê những người lao động già như một nguồn lao động có kinh nghiệm Vì thế nên những người cao tuổi sau khi về hưu vẫn tiếp tục làm việc tại Nhật Đặc biệt ở khu vực nông thôn, với quan niệm giữ đất giữ nhà của tổ tiên mà những người nông dân cao tuổi ở Nhật Bản vẫn luôn cố gắng làm việc cho đến cuối đời Người già hiện nay là lực lượng lao động chính trong ngành nông nghiệp nên nếu đi về vùng nông thôn sẽ không khó để bắt gặp những cụ già 70, 80 tuổi vẫn cần mẫn làm việc trên ruộng đồng Ngành nông nghiệp đã được cơ giới hoá ở trình độ cao nhưng quy mô sản xuất hộ gia đình ngày càng thu nhỏ và thiếu những người trẻ

có thể sử dụng các loại máy móc nên hầu hết người già đều làm các công việc đồng áng nặng nhọc như gieo hạt, tỉa cành hay thu hoạch bằng phương pháp thủ công

Trang 35

Mặt khác, cơ sở hạ tầng ở khu vực nông thôn cũng có những khó khăn đối với cuộc sống sinh hoạt của người già Hệ thống điện đường trường trạm đã được xây dựng và trang bị hiện đại ở hầu khắp các làng xã Xe buýt và tàu điện do địa phương vận hành tuy số lượng chuyến có phần hạn chế nhưng vẫn hoạt động ở cả những vùng nông thôn miền núi Tuy nhiên, từ sau ba cuộc sát nhập các đơn vị hành chính thời kỳ Meji, Showa và mới đây nhất là cuộc ―Đại sát nhập thời kỳ Heisei‖ (平成の大合併), số lượng làng ở Nhật Bản giảm đi đáng kể trong khi diện tích lại được mở rộng ra rất nhiều Việc mở rộng diện tích đã khiến cho việc di chuyển trong làng hay từ làng xã ra thị thành lân cận gặp nhiều khó khăn Mặc

dù nông thôn Nhật Bản được biết đến là ―xã hội‖ sử dụng ô tô cá nhân, trung bình mỗi hộ gia đình có hai đến ba xe, thậm chí nhiều gia đình mỗi người sở hữu một chiếc để thuận tiện cho việc đi lại và làm nông nghiệp Tuy nhiên, đối với những người cao tuổi không đủ sức khoẻ để tự điều khiển các phương tiện thì việc đi khám bệnh hay mua sắm phải nhờ vào sự giúp đỡ của những người trong gia đình hay làng xóm láng giềng Đặc biệt, những người già sống độc thân sẽ phải sử dụng dịch vụ đưa đón hay giao hàng đến tận nhà Mặt khác, làng ở Nhật cũng được phân chia ra các đơn vị nhỏ, trước đây là tổ (班), hiện nay thường là các xóm, cũng là các làng cũ trước khi sáp nhập Các xóm là nơi nhiều hộ gia đình sống quần tụ với nhau, tuy vậy, các nhà vẫn không nằm san sát nhau như ở thành phố và vẫn có khoảng cách nhất định Vì vậy, những người cao tuổi trước đây vẫn thường qua lại nhà nhau để cùng tham gia hội thưởng trà hoặc làm các vật dụng thủ công thì do tình hình sức khoẻ giảm sút nên việc đi lại này cũng trở nên hết sức khó khăn

Nhu cầu chăm sóc điều dưỡng

Với tốc độ già hoá nhanh bậc nhất thế giới, người cao tuổi chiếm tỉ lệ cao

và ngày càng già đi đang là mối lo ngại hàng đầu của đất nước mặt trời mọc Theo thống kê của Bộ Lao động Y tế và Phúc lợi, đến tháng 11 năm 2015 số người già cần chăm sóc ở Nhật là gần 6,2 triệu người, tăng 3,3 triệu người so với

Trang 36

năm 2001 (tham khảo Biểu đồ 1.4) và ngày càng chiếm tỉ lệ cao trong tổng dân

số người già (tham khảo Biểu đồ 5, Phụ lục)

Biểu đồ 1.4: Số người già trên 65 tuổi cần được chăm sóc

về mặt nhận thức, một số khá lớn những người già cần chăm sóc đặc biệt (nằm liệt giường) mất hoàn toàn khả năng tự lập trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày cũng đang là gánh nặng đối với gia đình và xã hội Nhật Bản

Hiện trạng và vấn đề đặt ra trong chăm sóc người già

Trong báo cáo điều tra của Aikawa (相川良彦) năm 2000, tình hình chăm sóc người cao tuổi khu vực nông thôn Nhật Bản ở các khía cạnh cá nhân, gia đình và làng xã được làm rõ như dưới đây

Thứ nhất, việc chăm sóc bố mẹ già thường được cho là trách nhiệm của con cái (người thừa kế gia đình), kể cả khi con cái đã tách ra sống riêng Tuy nhiên, gia đình con trai hoặc con gái thường sống ở những thị trấn hoặc thành phố cách xa

Trang 37

làng hoặc thị trấn nên không có nhiều hỗ trợ cho việc chăm sóc cha mẹ Thậm chí

có nhiều trường hợp, con cái sau khi ra ở riêng sẽ khước từ trách nhiệm này

Thứ hai, vì chăm sóc bố mẹ già là một công việc không có tính liên tục cao nên mặc dù thời gian chăm sóc có thể kéo dài trong vòng nhiều năm nhưng người đảm đương công việc này có thể kết hợp làm cùng với việc nhà Vì vậy, để giảm bớt gánh nặng cho người chăm sóc thì cách tốt nhất đó là mọi thành viên trong gia đình hỗ trợ nhau Tuy nhiên, trong gia đình Nhật Bản từ xưa tới nay, công việc nhà hay chăm sóc chồng hay bố mẹ chồng luôn được xem là trách nhiệm của người vợ, người con dâu Mặt khác, việc chăm sóc phụng dưỡng người cao tuổi là một trở ngại lớn đối với nghề nông, khi rất khó để người phụ nữ có thể vừa lo lắng cho bố

mẹ, cho việc nhà lại vừa có thể làm các công việc đồng áng

Thứ ba, trong các gia đình nông dân, ý thức về việc phụng dưỡng cha mẹ là trách nhiệm chung của cả gia đình vô cùng mạnh mẽ nên họ ít khi sử dụng các dịch

vụ chăm sóc xã hội Đó cũng chính là lý do dẫn đến tình trạng nếu so sánh với khu vực thành thị thì trong số những người sử dụng dịch vụ điều dưỡng, ở nông thôn có nhiều người cao tuổi già yếu hơn Mặt khác, suy nghĩ đó cũng khiến cho những căng thẳng trong chăm sóc điều dưỡng tại nhà đang ngày một tăng cao

Thứ tư, từ xa xưa, ở khu vực nông thôn đã tồn tại mối quan hệ tương trợ lẫn nhau nên các hoạt động tình nguyện của địa phương trong việc hỗ trợ chăm sóc người già đã rất được quan tâm Tuy nhiên, trên thực tế, bởi một số lý do như, hoạt động tình nguyện từ một phía không phù hợp với nguyên tắc trao đổi mang tính song phương; không muốn người lạ vào nhà hay không muốn gây phiền phức cho những người xung quanh đã hạn chế những hoạt động hỗ trợ người già diễn ra ở nông thôn

Như vậy, có thể thấy rằng, nông thôn Nhật Bản là nơi có rất nhiều người cao tuổi và người khuyết tật cấp độ nặng sinh sống Trong gia đình, khi nảy sinh nhu cầu chăm sóc đối với người già thì người vợ (hoặc chồng) hoặc con dâu sẽ phải đảm đương bên cạnh việc nhà và công việc nông nghiệp Tuy nhiên, do tư tưởng chăm sóc người già sẽ phải do gia đình đảm nhiệm nên hiện nay vẫn còn nhiều người

ái ngại sử dụng dịch các vụ chăm sóc xã hội, dẫn đến những bất cập trong việc

Trang 38

chăm sóc người già ở khu vực này Trong khi những thành viên khác chỉ chuyên tâm vào công việc đồng áng và các hoạt động chung của làng xã mà không biết đến công việc chăm sóc người già trong gia đình thì người phụ nữ một mình phải gánh vác trọng trách chăm sóc bố mẹ, làm tất cả công việc nhà mà không biết chia sẻ những lo âu, suy nghĩ cùng ai, từ đó nảy sinh những bất mãn, căng thẳng trong cuộc sống của họ

Những bất cập trên đã đặt ra nhu cầu của các dịch vụ chăm sóc và sự hỗ trợ của xã hội, dẫn tới sự ra đời của Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ở Nhật Bản

1.3 Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ở Nhật Bản

1.3.1 Chính sách phúc lợi dành cho người cao tuổi ở Nhật Bản trước năm 2000

Con người để thoả mãn nhu cầu ăn, mặc, ở phải lao động, tạo ra những sản phẩm vật chất và tinh thần Tuy nhiên trong cuộc đời, không phải khi nào con người cũng có thể lao động để tạo ra được thu nhập mà trái lại có rất nhiều những khó khăn và rủi ro khiến con người bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác, chẳng hạn như ốm đau, tai nạn, mất người nuôi dưỡng, tuổi già, Từ xa xưa, để khắc phục những khó khăn đó, sự tương trợ giữa con người với con người dần được nhân rộng Những yếu tố đoàn kết tương trợ đó đã tác động tiêu cực đến công việc xã hội của các Nhà nước, dẫn đến sự ra đời của hệ thống an sinh xã hội

Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã chỉ rõ: ―an sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây

ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con‖12

Hệ thống an sinh xã hội Nhật Bản bắt đầu hình thành từ việc ban hành Quy định cứu trợ nghèo đói vào năm 1874, sau đó lần lượt các luật liên quan đến các chính sách an sinh xã hội ra đời như: Luật Hưu trí, Luật Bảo hiểm Y tế, Luật Phúc lợi xã hội, Luật vô gia cư… nhằm tạo ra một mạng lưới hỗ trợ cho cuộc sống của

Trang 39

người dân Nhật Bản Hiện nay, hệ thống an sinh xã hội bao gồm 4 chế độ sau: Bảo hiểm xã hội, Phúc lợi xã hội, Cứu trợ xã hội, Y tế công (tham khảo Bảng 1.1) Nhật Bản manh nha bước vào thời kỳ già hoá dân số từ những năm 1960 và từ

đó đến nay, có nhiều chính sách phúc lợi điều dưỡng dành cho người cao tuổi được

đề ra và thay đổi theo từng giai đoạn để phù hợp với tình hình thực tiễn (tham khảo Bảng 3, Phụ lục)

Bảng 1.1: Hệ thống an sinh xã hội Nhật Bản

Nguồn: http://www.mhlw.go.jp/seisaku/21.html, truy cập ngày 10/12/2017

Nhật Bản bắt đầu thực hiện chế độ phúc lợi dành cho người cao tuổi dựa trên Luật Phúc lợi được công bố vào tháng 7 năm 1963 Luật Phúc lợi hướng đến mục tiêu làm sáng tỏ các nguyên lý liên quan đến phúc lợi, tạo ra hệ thống cần thiết để đảm bảo sức khoẻ về mặt thể chất và tinh thần cho người cao tuổi Luật Phúc lợi ra đời đáp ứng nguyện vọng của những người già và hội người cao tuổi Nhật Bản lúc bấy giờ, đồng thời nó được đánh giá cao khi đây là bộ luật dành riêng cho người cao tuổi đầu tiên trên thế giới

Trên cơ sở Luật Phúc lợi, tháng 4 năm 2000 Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng được ban hành Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ra đời để đáp ứng nhu cầu cần được chăm sóc của người cao tuổi Tại một số nước châu Âu như Đức hay Hà Lan, đây là

Trang 40

một loại bảo hiểm xã hội độc lập với hệ thống bảo hiểm y tế thông thường Ngược lại, ở Anh hay Thuỵ Điển, bảo hiểm này là một chế độ nhằm hỗ trợ công tác thu thuế Ở Nhật Bản, hệ thống bảo hiểm được chia ra làm hai loại là Bảo hiểm Điều dưỡng công và Bảo hiểm Điều dưỡng tư Trong đó, nội dung bảo hiểm của Bảo hiểm Điều dưỡng tư chia ra những mảng nhỏ hơn như trợ cấp điều dưỡng hay tiền lương hưu điều dưỡng

Trong Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ở Nhật Bản hiện nay, quan điểm của Luật Phúc lợi thể hiện thông qua quy định trang bị hệ thống cơ sở phúc lợi cho người cao tuổi (bao gồm nhà dưỡng lão, nhà dưỡng lão đặc biệt và nhà dưỡng lão chi phí thấp) Bên cạnh đó, lĩnh vực kinh doanh gửi nhân viên chăm sóc người cao tuổi đến tận nơi ở bắt đầu hoạt động với tư cách là một loại hình dịch

vụ của Luật Phúc lợi Loại hình này đã xuất hiện trong những năm 1980, nhưng khi trở thành dịch vụ thăm và chăm sóc tại nhà của Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng thì mảng hỗ trợ làm việc nhà cho người già được chú trọng hơn Khía cạnh thứ ba phản ánh quan điểm của Luật Phúc lợi là các dịch vụ như đăng ký vào cơ sở dưỡng lão hay nhân viên hỗ trợ chăm sóc tại nhà của chế độ phúc lợi người già đều hoạt động dựa trên sochi seido (措置制度‖, tạm dịch là ―chế độ bắt buộc‖) Đây là chế độ trong đó chính quyền địa phương đóng vai trò chủ thể, quyết định nội dung các dịch vụ phúc lợi dành cho những người có thu nhập thấp, người già cần được hỗ trợ hay những người có khiếm khuyết về thể chất và tinh thần Sau khi những người có nguyện vọng đăng ký sử dụng dịch

vụ, chính quyền sẽ xác nhận xem người đó có đủ điều kiện sử dụng hay không và dựa vào kết quả này, việc sử dụng và nơi sử dụng dịch vụ sẽ được quyết định Vì vậy, có thể nói đây là hệ thống cung ứng dịch vụ do cơ quan chính quyền địa phương quản lý và người dùng hoàn toàn không có quyền lựa chọn Chế độ này cũng chính là cơ chế hoạt động chung nhất của hệ thống cung ứng dịch vụ phúc lợi Nhật Bản giai đoạn trước khi Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ra đời

Ngày đăng: 05/01/2019, 14:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Đinh Huy Dương (2016), Vấn đề già hoá dân số ở Nhật Bản, Tổng cục dân số - Kế hoạch hoá gia đình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề già hoá dân số ở Nhật Bản
Tác giả: Đinh Huy Dương
Năm: 2016
6. Ngô Hương Lan (2012), Xã hội già hoá ở Nhật Bản, Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội già hoá ở Nhật Bản
Tác giả: Ngô Hương Lan
Năm: 2012
7. Hoàng Minh Lợi, Nguyễn Hồng Vân (2011), Già hoá dân số tại Nhật Bản: thực trạng và giải pháp, Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 3(121) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Già hoá dân số tại Nhật Bản: thực trạng và giải pháp
Tác giả: Hoàng Minh Lợi, Nguyễn Hồng Vân
Năm: 2011
8. Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam (2011), Già hoá dân số và người cao tuổi ở Việt Nam – thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam (2011)
Tác giả: Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam
Năm: 2011
9. Nguyễn Lương Sỹ (dịch) (2016), Tác động của tình trạng suy giảm dân số ở Nhật Bản, đăng trên trang điện tử Nghiên cứu Quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của tình trạng suy giảm dân số ở Nhật Bản
Tác giả: Nguyễn Lương Sỹ (dịch)
Năm: 2016
10. Tổng cục Thống kê (1/4/2015), Kết quả chủ yếu điều tra biến động dân số và kế hoạch hoá gia đình thời điểm 1/4/2015, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả chủ yếu điều tra biến động dân số và kế hoạch hoá gia đình thời điểm 1/4/2015
Nhà XB: NXB Thống kê
11. Tổng cục Thống kê và Quỹ Dân số Liên hợp quốc (2016), Dự báo dân số Việt Nam 2014-2049, NXB Thông Tấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự báo dân số Việt Nam 2014-2049
Tác giả: Tổng cục Thống kê và Quỹ Dân số Liên hợp quốc
Nhà XB: NXB Thông Tấn
Năm: 2016
15. 相川良彦・合田素行・堀田きみ・叶堂隆三(2002)「介護保険下における介護サービス事業の展開状況」『農林水産政策研究』第3号 Khác
19. 厚生労働省老健局(2015)「公的介護保険制度の現状と今後の役割」 Khác
20. 厚生労働省社会・援護局(2014)「介護人材の確保について」第1回社会保障審議会福祉部会、福祉人材確保専門委員会21. 厚生労働省社会・援護局福祉基盤課福祉人材確保対策室( 2015 ) 「 2025 年に向けた介護人材にかかる需給推計(確定値)について」 Khác
22. 厚生労働省東アジア医療事務所(2009)「高齢者特別養護老人ホームにおける応募者の地位」 Khác
23. 栗田明良(2000)『中山間地域の高齢者福祉「農村型」システムの再構築をめぐって』労働科学叢書 Khác
24. 遠藤清江(2001)「農村地域での異文化背景による家族介護の実態(その1)ー農村社会の文化的背景と家族介護ー」、『東洋大学発達・臨床研究所紀要大学・研究所紀要』第1号25. 布施晶子・玉水俊明・庄司洋子(編)( 1992 )『現代家族のルネサンス』青木書店 Khác
26. 井上洋一(2004)「介護保険下における農協高齢者—福祉事業の課題と展開方向ー長野県信州うえだ農協の事例に即してー」『農村研究』第99号27.生井久美子(2000)『介護の現場で何が起きているのか』朝日新聞社28.松本(出版地)(2000)『なるほど上田・小県百科』郷土出版社 Khác
29. 松岡昌則(2003)『過疎山村における高齢者生活補完ー秋田県山本郡藤里町米田地区の事例ー』『社会学研究』30. 宮島渡(編集)( 2004 )『地域でねばる』、全国コミュニティライフサポートセンター Khác
31. 宮本教代(2011)「わが国の訪問介護事業生成過程に関する一考察:長野県と大阪市を制度成立過程をとおしてー」 Khác
32. 武藤宏典(2005)「介護保険制度における在宅介護ー「介護の社会化」とはー」『経済政策研究』第1号(通券第1号) Khác
34. 内閣府( 2017 )『高齢社会白書ー平成 29 版ー』35. 中井清美( 2003 )『介護保険ー地域格差を考える』岩波書店 Khác
37. 小笠原浩一(1994)「多世代家族と高齢化社会」『季刊・社会保障研究』Vol.30 No.3 Khác
38. 奥山正司(1996)「農山村における高齢者の生活と行動」『地域開発』(財)日本地域開発センター Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w