ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- KHUẤT BÁ TUẤN ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN QUA KHẢO SÁT TẠI XÃ ĐẠI ĐỒNG, HUYỆN TH
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
KHUẤT BÁ TUẤN
ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN QUA KHẢO SÁT TẠI XÃ ĐẠI ĐỒNG,
HUYỆN THẠCH THẤT, HÀ NỘI HIỆN NAY
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Tôn giáo học
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôn xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số
liệu, ví dụ, trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Khuất Bá Tuấn
Trang 4Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban chủ nhiệm Bộ môn Tôn giáo học, các Thầy giáo, Cô giáo, các nhà khoa học đã giúp đỡ, động viên cũng như đóng góp những ý kiến quý báu trong suốt quá trình học tập và hoàn thành công trình nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô PGS.TS Đỗ Thị Hòa Hới,
người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ dạy tận tình cho tôi từ những bước đi đầu tiên cho đến khi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm chân thành tới gia đình, bạn bè, những người đã luôn sát cánh để giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả
Khuất Bá Tuấn
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN XÃ ĐẠI ĐỒNG HUYỆN THẠCH THẤT, HÀ NỘI HIỆN NAY 10 1.1 Khái quát chung về điều kiện địa lý, tự nhiên, chính trị, lịch sử, văn hóa Phật giáo tại xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, Hà Nội 10
1.1.1 Khái lược về điều kiện lịch sử, chính trị, văn hóa, xã hội xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, Hà Nội 10 1.1.2 Khái lược về Phật giáo 13 1.1.3 Khái quát về tình hình Phật giáo ở xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất,
Hà Nội hiện nay 32
1.2 Tín ngưỡng và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên tại xã Đại Đồng huyện
Thạch Thất, Hà Nội hiện nay 36
1.2.1 Các loại hình tín ngưỡng bản địa, các lễ hội tiêu biểu tại Xã Đồng, huyện Thạch Thất, Hà Nội 36 1.2.2 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên tại xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất,
Hà Nội 39
Tiểu kết chương 1 41 CHƯƠNG 2 BIỂU HIỆN CỦA SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN TẠI XÃ ĐẠI ĐỒNG, HUYỆN THẠCH THẤT, HÀ NỘI HIỆN NAY 42 2.1 Ảnh hưởng của Phật giáo đến quan niệm tâm linh trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên tại Xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, Hà Nội hiện nay 42
Trang 62.1.1 Ảnh hưởng của Phật giáo đến quan niệm tâm linh trong tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở gia đình 42
2.1.2 Ảnh hưởng của Phật giáo đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở dòng họ 46 2.1.3 Ảnh hưởng của Phật giáo đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở làng xã 47
2.2 Phật giáo ảnh hưởng trong nghi lễ thờ cúng tổ tiên của người dân xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, Hà nội hiện nay 51
2.2.1 Phật giáo ảnh hưởng đến lễ hội của người dân xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, Hà Nội hiện nay 51
2.2.2 Phật giáo ảnh hưởng đến nghi thức tang ma, cưới hỏi của người dân xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, Hà Nội 59
2.2.3 Phật giáo ảnh hưởng đến nghi thức thờ cúng tổ tiên trong gia đình, dòng họ, làng xã 69
2.3 Đánh giá về sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên tại xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, Hà nội hiện nay 73
2.3.1 Ảnh hưởng tích cực của - Phật giáo đối với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên tại xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, Hà nội hiện nay 73
2.3.2 Ảnh hưởng tiêu cực của Phật giáo đối với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên tại xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, Hà nội hiện nay 75
Tiểu kết chương 2 77
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 7đó, Phật giáo luôn có mối tương quan chặt chẽ với văn hóa, tín ngưỡng bản địa Việt Nam Chính mối quan hệ hài hòa đó đã giúp Phật giáo ngày càng hội nhập sâu sắc bền chặt vào mảnh đất văn hóa Việt Nam giàu truyền thống Trong đời sống văn hóa tâm linh lâu đời đó, Phật giáo có mối quan hệ ảnh hưởng đặc biệt lớn đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt, nên đã là chủ đề được nhiều người tìm hiểu, ở mức độ khác nhau
Trong thời đại ngày nay, xu thế toàn cầu hóa không chỉ diễn ra trên lĩnh vực kinh tế, chính trị mà còn diễn ra trên lĩnh vực văn hóa nói chung và tôn giáo nói riêng không chỉ tại các đô thị trung tâm mà còn ở những vùng nông thôn làng xã Chính điều này đã đặt ra cho chúng ta yêu cầu cần phải nhìn nhận, đánh giá lại vai trò, vị trí của tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay một cách đầy đủ Tôn giáo, tín ngưỡng hiện còn có vai trò gì với các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là với văn hóa, vì tôn giáo, tín ngưỡng là một bộ phận không thể thiếu cấu thành chỉnh thể văn hóa Việt Nam
Hiện nay, Phật giáo là một tôn giáo lớn ở Việt Nam, vẫn có ảnh hưởng sâu rộng đến mọi mặt của đời sống xã hội Vậy tại các địa bàn cấp cơ sở làng
xã ngày nay, Phật giáo có ảnh hưởng ra sao đến đời sống tín ngưỡng ở đây Vốn từ xưa, ngôi làng nào của người Việt cũng có chùa, ngôi chùa không chỉ
Trang 8là nơi sinh hoạt tâm linh mà còn là trung tâm văn hóa của cả làng Vậy tại đó Phật giáo có vai trò gì trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập? Những ảnh hưởng của Phật giáo đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên hiện nay thể hiện như thế nào? Vì vậy hướng nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo đối với các lĩnh vực của đời sống tinh thần nói chung, đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên nói riêng đã và đang là một trong những chủ
đề cấp thiết cả về học thuật và thực tiễn hiện nay đang thu hút nhiều sự chú ý của nhiều người
Đại Đồng vốn là một xã nông nghiệp, nông thôn truyền thống thuộc huyện Thạch Thất trước đây thuộc Hà Tây cũ, nay là thuộc ngoại thành Hà Nội, là nơi thể hiện rõ nét những biến đổi mạnh mẽ đời sống tinh thần và vật chất trước tác động của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa Trước cơ hội, thách thức mới, nghiên cứu ảnh hưởng Phật giáo đối với tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên ở đây là công việc có ý nghĩa cả về mặt học thuật và thời sự cấp thiết Qua kết quả tìm hiểu sâu sắc góp phần vào công cuộc bảo tồn và phát huy xây dựng nền văn hóa dân tộc tiến triển hiện đại mà vẫn giữ đậm đà bản sắc văn hóa, cũng như giữ gìn những giá trị đạo đức văn hóa truyền thống của người Việt Nam nói chung và người dân xã Đại Đồng nói riêng Xuất phát từ những
lý do ấy, trong phạm vi luận văn thạc sĩ Tôn giáo học tôi chọn vấn đề nghiên cứu: “Ảnh hưởng của Phật giáo đối với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên tại Xã Đại Đồng huyện Thạch Thất, Hà Nội hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ Tôn giáo học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua khảo cứu các tài liệu liên quan về vấn đề ảnh hưởng của Phật giáo đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt, chúng tôi nhận thấy vấn đề đó
ít nhiều đã được đề cập đến trực tiếp hay gián tiếp trong một số công trình nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam nói chung, về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Trang 9nói riêng Trong đó cho thấy, chiều ảnh hưởng của Phật giáo đến loại hình tín ngưỡng này ở những nét cơ bản
+ Nhóm những công trình viết về Phật giáo: Trước tiên cần đề cập đến trong các công trình viết về lịch sử Phật giáo Việt Nam nói chung lịch sử Phật giáo cụ thể dung hợp ở các địa phương tại Việt Nam Trong đó đều có
ít nhiều đề cập đến quá trình du nhập, bén rễ của Phật giáo với văn hóa Việt Nam, sự thâm nhập của Phật giáo vào văn hóa tâm linh Việt Nam Đặc biệt, trong đó tùy đậm nhạt tùy địa bàn, thời gian song đều có sự gặp gỡ, hỗn dung của Phật giáo với các tín ngưỡng thờ cúng truyền thống của người
Việt Nổi bật có ở các sách của: Lê Mạnh Thát (2001) với “Lịch sử Phật
giáoViệt Nam” (2 tập); Nguyễn Lang (2008) với “Việt Nam Phật giáo sử luận” (3 tập); Nguyễn Tài Thư (Chủ biên, 1988) với “Lịch sử Phật giáo Việt Nam”; ….đều lưu ý điều này
Ngoài ra, trong công trình nghiên cứu “Phật học khái luận” (1999) của tác giả Thích Chơn Thiện (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh) được coi là một tác phẩm Phật học quan trọng nghiên cứu một cách cơ bản và tương đối toàn diện
về Phật giáo Tác giả tiếp cận Phật giáo ở góc độ Phật học các nội dung lịch
sử, giáo lý, giới luật và lối sống tăng đoàn Điều chúng tôi chú ý, trong công trình này, tác giả đã nghiên cứu một cách rất hệ thống về thứ bậc của ba ngôi Tam Bảo, đó là: Phật – Pháp – Tăng Đặc biệt là phần “Pháp” Bảo, tác giả đã nhận định và có nhiều cách để truyền tải cô đúc hệ thống giáo lý căn bản của Phật giáo Đây là những luận điểm mà tác giả quan tâm nghiên cứu ở góc độ
đa dạng triết học, văn học, giáo dục, đạo đức và cho thấy sự phong phú đa dạng lan tỏa và thâm nhập vào trong văn hóa bản địa mà Phật giáo có thể truyền bá Tuy nhiên, tác giả chưa đưa ra nhận thức chuyên sâu về vai trò, nguồn gốc sự hình thành dạng thức tổng hợp cũng như biểu hiện cụ thể sự ảnh hưởng của Phật giáo đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên khắp vùng miền
Trang 10Trong tác phẩm “Lịch sử ba tôn giáo thế giới” của tác giả Lương Thị Thoa (Nxb Giáo dục, 2000) ngoài hệ thống hóa những giáo lý và lịch sử của
ba tôn giáo, tác giả đã có lưu ý đi sâu và phân tích nêu lên nguồn gốc ra đời
và giáo lý của Phật giáo và sự dung hợp Phật giáo vào văn hóa Việt Nam nhưng còn chưa cụ thể
Trong tác phẩm “Lịch sử tư tưởng Việt Nam” 6 tập của tác giả Nguyễn Đăng Thục, NXB TP.HCM năm 1999 tác phẩm này đã nêu lên được sự khái quát ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đối với đời sống tín ngưỡng xã hội nói chung khoảng thế kỷ thứ V đến thế kỷ thứ XIX Đặc biệt, trong tác phẩm
“Lịch sử Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thời Lý Nam Đế”, của tác giả Lê Mạnh Thát Trong đó, tác giả đã nêu rõ một số đặc điểm quá trình du nhập của Phật giáo vào văn hóa Việt Nam ở giai đoạn này Trong đó có chỉ ra đặc điểm Phật giáo dung hợp tín ngưỡng thờ thần bản địa cũng như vai trò như là thần thánh của Phật giáo trong lĩnh vực tinh thần và tín ngưỡng dân gian của thời đó nhưng chưa phân tích nêu rõ mối quan hệ giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Ngoài ra, viết về lịch sử Phật giáo, nội dung giáo lý Phật giáo còn rất nhiều công trình nghiên cứu bề thế khác như: “Đức Phật và Phật Pháp” của tác giả Narada Thera do Phạm Kim Khánh dịch (Nxb Thuận Hóa Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh, 1994); tác phẩm “Phật học cơ bản” của Ban hành pháp Trung ương giáo hội Phật giáo Việt Nam (Nxb Tôn giáo, 2003); tác phẩm “Phật giáo khái lược” của tác giải Lưu Vô Tâm (Nxb Tôn giáo, 2003); Đáng quan tâm với chủ đề Luận văn, chúng tôi còn có sách “Mấy vấn đề Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam”, Viện Triết học, Hà Nội,
1999, do GS Nguyễn Tài Thư chủ biên Trong công trình này, trong từng bài viết các tác giải đó chỉ ra những ảnh hưởng của Phật giáo đến nhiều lĩnh vực đời sống xã hội Việt Nam như tư tưởng, lối sống, đạo đức, tín ngưỡng…
Trang 11trong lịch sử cũng như hiện tại, là những gợi ý cho chúng tôi tiếp tục đi sâu vào làm rõ ảnh hưởng của Phật giáo đến loại hình tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
- Chiều đổi ngược là nhóm các công trình viết về tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên qua đó cho thấy ảnh hưởng vào sinh hoạt Phật giáo của người Việt Phải kể các tác phẩm quan trọng, như công trình các tác giả sau: Léopold
Cadiere (1997, Bản dịch) của Đỗ Trinh Huệ “Về văn hóa và tín ngưỡng
truyền thống người Việt”; Vũ Quỳnh (1992) trong sách “Lĩnh Nam trích quái”; Lý Tế Xuyên (1992) trong sách “Việt điện U linh”; Phan Kế Bính
(1995) trong sach “Việt Nam phong tục”; Toan Ánh (1996) “Phong tục thờ
cúng trong gia đình Việt Nam”; Vũ Ngọc Khánh (1996) “Tín ngưỡng làng xã”; Đặng Nghiêm Vạn (Chủ biên, 1996), "Về tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay", và tái bản vào năm 2001, "Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo
ở Việt Nam", Nguyễn Đức Lữ (1999), “Hiện tượng mê tín dị đoan ở nước ta hiện nay, thực trạng, biểu hiện và đặc điểm”, Nguyễn Minh San (1998), “Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam”Trần Đăng Sinh (2002) “Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên” của Trần Đăng Sinh;… Các tác
phẩm này đều trực tiếp hay gián tiếp đề cập đến một số khía cạnh khác nhau của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên chịu ảnh hưởng đến Phật giáo: nguồn gốc, nội dung, thờ tự, ý nghĩa văn hóa…và các cơ sở để cho Phật giáo phát huy vai trò ảnh hưởng đến các phương diện trong kết cấu của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt
Bên cạnh đó còn một số bài viết nho riêng rẽ công bố trên các tạp chí như: Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, Tạp trí Triết học, nghiên cứu lý luận… cũng đề cập chiều ngược là tín ngưỡng bản địa ảnh hưởng đến Phật giáo, ở nhiều góc độ khác nhau ảnh hưởng trong mối quan hệ qua lại của Phật giáo đến các loại hình tín ngưỡng truyền thống Việt Nam
Trang 12Chúng tôi lưu ý, viết khá trực tiếp về vấn đề này có luận án tiến sĩ Tôn giáo học của tác giả Phan Nhật Trinh (Thích Nguyên Hạnh) bao vệ văn 2016 với đề tài “Sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay (qua khảo cứu tại một số chùa ở thành phố Hà Nội)” Trong luận án đó, tác giả đã đi sâu vào một số sinh hoạt người dân tại địa bàn một số ngôi chùa ở Hà Nội chỉ ra biểu hiện rõ nét của sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay trên các khía cạnh: đời sống tinh thần người Việt (cụ thể là trong thực hành tín ngưỡng, nghi lễ thờ cúng, cuộc sống thường ngày), cách thức bài trí ngôi chùa (cụ thể trong kiến trúc; cách thức bài trí thờ tự)…và nêu lên những vấn
đề đặt ra từ thực trạng dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên tại các chùa ở địa bàn đó Từ đó tác giả đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát huy các giá trị tốt đẹp của sự dung hợp đó và hạn chế mặt bất cập của chúng
Cùng trong năm 2016 có luận án tiến sĩ Tôn giáo học của Vũ Đức Chính với đề tài: "Sự hội nhập Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng truyền thống cuả gười dân Hà Nội hiện nay" Trong luận án này tác giả đi sâu lý giải thêm về các cơ sở và nội dung của sự hội nhập Phật giáo với tín ngưỡng truyền thống của vùng Hà Nội qua khảo sát một số ngôi chùa tiêu biểu ở thành phố Hà Nội Luận án cũng làm rõ thêm về sự tương đồng và khác biệt giữa các yếu tố văn hóa ngoại nhập (Phật giáo) với các yếu tố nội địa tương đương cấu thành nên loại hình tín ngưỡng thờ cúng truyền thống Nhất tác giả
đi sâu là khái quát chỉ ra được các yếu tố thể hiện các khía cạnh hội nhập trong thực trạng sinh hoạt tôn giáo,Phật giáo có yếu tố tín ngưỡng truyền thống hiện nay qua khảo sát một số ngôi chùa tiêu biểu ở thành phố Hà Nội Trong luận án này còn khái quát nêu lên xu hướng phát triển của sự hội nhập giữa Phật giáo với tín ngưỡng truyền thống hiện nay đưa ra dự báo về tương
Trang 13lai của sự hội nhập này Luận án là công trình khoa học khảo sát kỹ về biểu hiện mức độ tương tác qua lại giữa Phật giáo với tín ngưỡng truyền thống tại ngôi chùa tiêu biểu các thành phố Hà Nội hiện nay Hơn thế nội dung mới của luận án còn chỉ ra những giá trị tôn giáo cũng như những giá trị lan tỏa trong cộng đồng dân cư Hà Nội của sự hội nhập đó Từ đó, luận án khẳng định về
sự cần thiết phải có những nghiên cứu tiếp theo để làm căn cứ đầy đủ hơn nữa, nhằm khẳng định tính phổ biến của những giá trị sự hội nhập đó, những bài học này rất cần được giữ gìn và phát huy hơn nữa trong bối cảnh mở cửa hội nhập hiện nay ở Việt Nam
Ngoài ra còn có một số công trình khác cũng gián tiếp lý giải về ảnh hưởng của Phật giáo đối với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên như bài Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam của giáo sư Nguyễn Đức Sự Trên đây là các công trình, là những thành tựu của người đi trước, đã được chúng tôi kế thừa, có chọn lọc Nhìn lại tổng quan các tài liệu tham khảo đó chúng tôi đi đến nhận thức rằng:
Hầu hết các tác phẩm trên đều nghiên cứu về nguồn gốc, lịch sử du nhập truyền đạo, truyền tải khái quát toàn bộ hệ thống giáo lý và quan hệ qua lại của Phật giáo đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội như đạo đức, văn hóa, tín ngưỡng, tâm linh Tuy nhiên, cho tới nay một số nghiên cứu chuyên đề về ảnh hưởng Phật giáo đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người dân ở một địa phương nông thôn truyền thống cụ thể là xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, Hà Nội trong thời kỳ hiện nay – đó là một xã nông nghiệp tiêu biểu cho khảo sát ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đến đời sống tâm linh thì vẫn còn chưa có công trình chuyên sâu Với viêc kế thừa những tiền đề lý luận và các kết quả ở cac công trình thấy được tính trên đây, cổ vũ chúng tôi lựa chọn tập trung đi vào đề tài để nghiên cứu sâu về: “Ảnh hưởng của Phật giáo đối với tín ngưỡng thờ cúng
Trang 14tổ tiên qua khảo sát tại xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, Hà Nội hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ Tôn giáo học của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn:
3.1 Mục đích của luận văn
Luận văn tiếp cận từ góc độ Tôn giáo học, chỉ ra những ảnh hưởng của Phật giáo đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở người dân xã Đại Đồng, chỉ ra những mặt tích cực và bất cập của sự ảnh hưởng đó tại xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất hiện nay
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Thứ nhất, khái quát chung về xã Đại Đồng Phật giáo và Tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên tại xã Đại Đồng, Thạch Thất, Hà Nội trong lịch sử và hiện nay
Thứ hai, phân tích cơ sở ảnh hưởng Phật giáo đến tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên và làm rõ thực trạng một số biểu hiện nội dung ảnh hưởng của Phật giáo đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên tại Xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, Hà Nội hiện nay từ đó chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế của sự ảnh hưởng đó
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Ảnh hưởng Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên tại xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, Hà Nội hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Qua các tài liệu lịch sử và khảo sát thực tế về ảnh hưởng Phật giáo đối với tín ngưỡng thờ cúng thờ cúng tổ tiên ở xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất,
Hà Nội hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo; Đường lối chính trị, quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam và Nhà nước
Trang 15Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, văn hóa, tín ngưỡng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp cơ bản của tôn giáo học, kết hợp với các phương pháp liên ngành: Tôn giáo học – Triết học, Tôn giáo học – văn hóa, Tôn giáo học – Nhân học, phương pháp đối chiếu, so sánh, phân tích, tổng hợp nhằm thực hiện mục đích nhiệm vụ đề ra
6 Đóng góp kết quả của luận văn
Kết quả nghiên cứu của Luận văn này sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm biểu hiện nội dung quan hệ ảnh hưởng của Phật giáo đối với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên tại tại xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, hiện nay Đồng thời góp phần bổ sung thêm một cái nhìn khách quan hơn về vai trò Phật giáo trong đời sống tinh thần làng xã Việt Nam hiện nay sẽ góp thêm căn cứ cho viêc đinh ra chính sách về tôn giáo, tin ngưỡng nói riêng, vă hóa nói riêng, văn hóa nói chung
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm nghiên cứu về tôn giáo nói chung, Phật giáo, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên nói riêng
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, trong phần Nội dung chính của luận văn gồm 2 chương, 5 tiết
Trang 16CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU PHẬT GIÁO VÀ
TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN XÃ ĐẠI ĐỒNG
HUYỆN THẠCH THẤT, HÀ NỘI HIỆN NAY
1.1 Khái quát chung về điều kiện địa lý, tự nhiên, chính trị, lịch sử, văn hóa Phật giáo tại xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, Hà Nội
1.1.1 Khái lược về điều kiện lịch sử, chính trị, văn hóa, xã hội xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, Hà Nội
Xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây trước đây từ 2008 là thuộc ngoại thành, Thành phố Hà Nội là cộng đồng dân cư nông nghiệp cổ, nhân dân có truyền thống văn hóa tốt đẹp Đảng bộ và nhân dân xã Đại Đồng
đã được Nhà nước hai lần phong tặng danh hiệu đơn vị anh hùng: Anh hùng Lực lượng vũ trang thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945
- 1954) và Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới Đến năm 2013, xã Đại Đồng
đã hoàn thành xây dựng nông thôn mới
Xã Đại Đồng nằm ở cực Bắc của huyện Thạch Thất, phía Bắc giáp xã Phúc Hòa và thị trấn Phúc Thọ, phía Đông giáp xã Phụng Thượng (huyện Phúc Thọ), phía Nam giáp xã Lại Thượng và xã Phú Kim, phía Tây giáp xã Cẩm Yên Năm 2015, diện tích tự nhiên của xã là 530,68 ha, trong đó đất nông nghiệp là 388,20 ha, đất phi nông nghiệp 142,48 ha Dân cư trong xã gồm 2.968 hộ với 10.935 nhân khẩu, xã Đại Đồng gồm 11 thôn, cụm dân cư
Với vị trí thuận lợi, phía Bắc xã giáp với tuyến đường quốc lộ 32, cách trung tâm Hà nội 30km, chạy dọc xã là tỉnh lộ 419, trung tâm xã là chợ Đại Đồng, được thành lập năm Thành Thái thứ 3 (1891), là điều kiện để nhân dân giao lưu kinh tế, xã hội với bên ngoài; Thực tế từ xưa đến nay, ngoài sản xuất nông nghiệp việc buôn bán nông sản, sản xuất ngành nghề,
Trang 17tiểu thủ công nghiệp của xã luôn có điều kiện phát triển Nhất là từ sau đổi mới đến năm 2015, tỷ trọng giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thương mại của xã Đại Đồng chiếm 78,6%, giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm 21,4% cơ cấu kinh tế xã
Xã Đại Đồng thuộc vùng có hệ thống nông giang của huyện Thạch Thất, địa hình ruộng đồng tương đối bằng phẳng, nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam Một số gò cao, là nơi dân cư quần tụ lâu đời sinh sống hình thành nên các làng xóm mật độ dân cư đông đúc Đất canh tác của xã bằng phẳng, chất đất thuộc hệ phù sa cổ của sông Hồng và sông Đáy, với những đặc tính tơi xốp, độ màu cao; bên cạnh đó, đồng ruộng canh tác của xã rất thuận lợi cho việc tưới tiêu; phía Bắc và phía Nam là hệ thống tưới, dẫn nước từ sông Hồng, vì vậy đồng ruộng của xã tiếp tục được bồi đắp phù sa Với đặc điểm trên đây, Đại Đồng là xã rất thuận lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp Từ xưa đến nay là địa phương dẫn đầu về năng suất lúa của cả huyện Thạch Thất
Về lịch sử, thông qua các chỉ dẫn di chỉ khảo cổ trong vùng: chiếc trống đồng tại xã Lại Thượng giáp phía tây xã Đại Đồng) có niên đại 2 đầu công nguyên; mũi đao, mũi giáo có niên đại đầu công nguyên (-+ 300 năm) tại di chỉ Quán Sải (xã Phú Kim, phía nam xã Đại Đồng ) Theo bản thần phả Quán Sải (xã Phú Kim) do Đại học sỹ Nguyễn Bính soạn năm 1572, thì vào đời Vua Hán Hiến Đế (năm 189-220), 3 anh em họ Chu, khi đến Thạch Thất định cư đã chọn Trang lai Hạ, nay thuộc Phú kim) là Chánh cung, lấy địa phận các xã hiện nay là Đại Đồng, Hương Ngải, Kim Quan, Chi Quan…làm hành cung Đồng thời qua khảo cứu tại đị phương về ngôn ngữ người Việt cổ,
có thể khẳng định lịch sử tụ cư, định cư từ sớm của cộng đồng dân cư cổ thuộc địa bàn xã Đại Đồng ngày nay, khi xưa, gồm có: Kẻ Đòng (ấp Cự Đồng, làng Đại Đồng), Kẻ Chàm (Hương Lam), Kẻ Ngạnh (Ngọc Lâu), Kẻ Đởi (Lại Khánh) Trải qua hàng ngàn năm biến đổi do chiến tranh, giăc dã
Trang 18dịch bệnh…thành phần dân cư thay đổi thay đổi nhiều lần Đến khoảng thế kỷ XIV, thì có đợt dân cư từ nhiều nơi khác quần tụ về địa phận xã Đại Đồng sinh sống cho đến ngày nay Năm 1903 làng Lại Khánh tách ra thành lập xã mới Đến trước Cách mạng tháng 8/1945 xã Đại Đồng thuộc vào Tổng Đại Đồng và có 5 thôn: Đại Đồng Hương Lam, Ngọc Lâu, Minh Nghĩa, Minh Đức vẫn còn giữ nhiều tập tục, ngôn ngữ cổ
- Làng Đại Đồng: Ở trung tâm xã, diện tích trên 150 mẫu, cổ xưa tên là
là Kẻ Đòng, ấp Cự Đồng, sau đổi là Đồng Thôn, đến đời Nguyễn (thế kỷ XIX) tên làng đổi là Đại Đồng như hiện nay Dân cư ban đầu còn ít, tập trung
ở những nơi có địa thế cao như xóm Chính, xóm Giữa, xóm Trong và xóm Đoài Sau này dân cư phát triển hình thành nên các xóm khác Làng Đại Đồng trước đây được chia thành 7 thôn dân cư gồm: Rộc Đoài, Tây Trong, Hàn Chùa, Đình Rối, Lươn Trong, Lươn Ngoài và Đồng Cầu Năm 2015, làng Đại Đồng có 1.899 hộ với 6.981 nhân khẩu Làng có 15 xóm: xóm Đình, xóm Rộc, xóm Đoài, xóm Chính, xóm Giữa, xóm Trong, Lươn Ngoài, Cầu Bồi, Đồng Ải và xóm Chính Ngọc Xưa kia làng Đại Đồng có 4 cổng chính: cổng phía Tây (cổng Rộc), cổng phía Đông (giáp đường 419), cổng xóm Lươn và cổng Đình Rối; trong đó cổng phía Tây và cổng phía Đông có tuần phiên canh giữ, coi trông đồng điền và tài sản cho nhân dân trong làng
- Thôn Hương Lam: Cổ xưa gọi là Kẻ Chàm, sau gọi là Chàm Thôn Đến đời Tự Đức (1847-1883) tên Làng được đổi thành Hương Lam như hiện nay Xưa kia Chàm Thôn là một làng biệt lập, xung quanh là đồng trũng gọi
là Rộc Chằm, đi vào làng phải qua 9 cầu tre Đến năm 2015 có 282 hộ, với 1.056 nhân khẩu; thôn có 4 xóm gồm: xóm Đông, xóm Giữa, xóm Nam, xóm Bắc
- Thôn Ngọc Lâu: Ở phía Tây Bắc xã Đại Đồng, cổ xưa tên là Kẻ Ngạnh, Ngạnh Thôn, dân cư từ làng Đại Đồng và một số người từ huyện Phúc
Trang 19Thọ về tập trung sinh sống trên dải đất cao, đẹp tựa như ngôi lầu trên đất ngọc, đến thế kỷ XIX tên làng đổi là Ngọc Lâu Đến năm 2015 có 232 hộ và
- Thôn Minh Đức: Ở phía Bắc xã Đại Đồng, được hình thành vào thế
kỷ thứ XVII (thời Hậu Lê) Cổ xưa là trạm đưa tin tức nên có tên là Trạm sau
đó một số nhân dân trong xã đên sinh sống thành xóm và có nghề làm quạt, nên gọi là Trạm Quạt, phố Quạt năm 1920 được đổi là Minh Đức như ngày nay.Đến năm 2015 thôn Minh Đức có 113 hộ và 432 nhân khẩu
Dân cư các làng của xã Đại Đồng hiện nay hầu hết là từ làng Đại Đồng phát triển di chuyển đến sinh cơ lập nghiệp, nên đều có quan hệ họ hàng, phong tục tập quán, ứng xử đều giống nhau, nhân dân trong xã chủ yếu tin và theo đạo Phật thực hành tín ngưỡng truyền thống Xưa kia nghề nghiệp chính
là sản xuất nông nghiệp, một số nhân làm nghề thủ công, buôn bán nhỏ Người dân trong xã có lối sống nông thôn giản dị, thật thà, chất phát, quan hệ trong ứng xử cộng đồng nặng về tình cảm, tương thân, tương ái
1.1.2 Khái lược về Phật giáo
* Quá trình hình thành của Phật giáo
- Điều kiện xã hội
Một tôn giáo, không luận là giáo lý cao siêu hay thâm thúy đến đâu, cũng vẫn là kết quả sản phẩm của xã hội Là sản phẩm của xã hội, tất nhiên tôn giáo ảnh hưởng đến các lĩnh vực xã hội và đồng thời chịu ảnh hưởng ngược lại Đó là điều phổ biến
Trang 20Phật giáo có nguồn gốc từ văn hóa Ấn Độ cổ đại tới nay, có một lịch sử trên hai ngàn năm, Đông – Tây truyền bá, lan tỏa ảnh hưởng khắp cả các châu lục Trong quá trình truyền bá ấy, qua mỗi nền văn hóa, Phật giáo lại tùy theo hoàn cảnh xã hội của mỗi dân tộc, mỗi địa phương mà có ít nhiều biến đổi về bản sắc Vì thế, trước hết muốn nói đến nội dung giáo lý của Phật giáo, không thể không đi sâu phân tích vào bối cảnh lịch sử văn hóa Ấn Độ cổ đại
Đạo Phật ra đời vào khoảng thế kỷ VI – V trước Công nguyên ở phía Bắc nước Ấn Độ cổ đại, trên vùng Nêpan ngày nay, Ấn Độ là một nước có văn minh tối cổ lớn, điều kiện tự nhiên đa dạng, đất rộng, người đông ở miền nam Châu Á, là nước có lịch sử lâu đời, là một trong những nền văn minh lớn nhất và rực rỡ nhất trên thế giới Theo tài liệu của khảo cổ học, trước tiên là thời đại “đồ đồng”, hình thành vào khoảng ba nghìn năm trước Tây lịch Phạm vi địa lý của Ấn Độ cổ chủ yếu gồm một phần các nước Ấn Độ, Pakixtan, Bangladet và Nepan ngày nay Ấn Độ chia làm hai miền Bắc – Nam với dãy núi Viađia làm ranh giới Ấn Độ có hai con sông lớn chảy qua là sống
Ấn và sông Hằng Sông Ấn có năm nhánh nên vùng đồng bằng lưu vực sông
Ấn gọi là Penjap (năm nhánh sông) Chính tên con sông Ấn, người địa phương gọi là Hindu, người Hy Lạp gọi là Inđốt, người Anh gọi là India, India dịch qua tiếng Hán là Ấn Độ Người Trung Quốc gọi Ấn Độ là Thiên Trúc hay Tây Trúc Dân tộc định cư ở Ấn Độ như: Mundian, Sumerian…, đặc biệt là Đravidian, hầu như đã hình thành một nền văn hóa “nông nghiệp” là văn minh Ấn – Hà, (Induscivilization) Theo nhà khảo cổ học A.K.Wardẻ, trong tập sách “Phật giáo Ấn Độ” thì nền văn minh Ấn – Hà trải dài về phía đông đến thung lũng sông Hằng và Đông Nam vượt qua Gujarat Bấy giờ đã
có hai thành phố lớn, hai trung tâm chính, một ở Pujab và một ở Sindh Nói
đến tôn giáo của dân tộc Ấn – Hà Warder viết: “Về tôn giáo, dân chúng Ấn –
Hà thờ đấng thượng đế, một vài đức tính của Ngài nói lên rằng Ngày là gốc
Trang 21của thần Siva đương thời (vị thần rất phổ biến trong các dân tộc Tamil); một mặt Ngài xuất hiện trong vai một tu sĩ khổ hạnh hay một yogin phát huy các quyền lực siêu nhiên” [36, 23 - 24]
Vào khoảng thời gian từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIII trước Tây lịch nền văn minh Ấn – Hà đi vào suy sụp khi người Ariyan, có lẽ từ dãy Caucasia (thuộc Armenia, Liên Bang Nga), xam chiến xứ Ấn Họ vượt qua dãy núi Hin-Kush đến Punjab Tại đây dân Dravidian kiên cường chống lại người Ariyan, nhưng thất bại Người Ariyan tiếp nhận vùng đất này lại chịu ảnh hưởng của nền văn minh nông nghiệp của người Dravidian: họ theo lối sống định cư của Dravidian, định cư trong các làng mạc, thị trấn, thành phố Mặt khác, người gốc Dravidian chịu ảnh hưởng tư tưởng của người Ariyan
di trú Hai nền văn minh ấy đã kết hợp tạo ra một nền văn minh mới vào thời đại “đồ sắt”, khoảng từ thế kỷ X đến thế kỷ VIII trước Tây lịch Các nhà sử học chia Ấn Độ cổ đại thành 2 thời kỳ:
- Thời kỳ văn hóa Harapa, còn gọi là nền văn minh sông Ấn
- Thời kỳ văn hóa Veđa, còn gọi là nền văn minh sông Hằng, với sự hình thành đại Bà-la-môn và đạo Phật
Năm 1921, các nhà khảo cổ Anh và Ấn Độ đã phát triển hiện ra di khảo
cổ là một thành phố chôn vùi trong lòng đất ở Harapa Di chỉ khảo cổ Harapa
có niên đại khoảng thế kỷ XXX – XX trước công nguyên Qua các hiện vật khai quật cho thấy đây là một thành phố được xây dựng theo quy mô khá hợp
lý, xung quanh có tường bao, có dãy phố ngang dọc, có nhà cửa lớn nhỏ khác nhau, có cung điện, đền đài, nhà cửa với tiện nghi như bếp, phòng tắm, v.v… Người ta còn tìm thấy những chiếc cân bằng đá, đồ trang sức bằng đá, bằng vàng, hoặc bằng đồng thau, chữ tượng hình, số đếm đến 10,…
Về mặt xã hội, văn hóa Harapa bắt đầu xuất hiện Nhà nước, giai cấp thời kỳ đầu của Nhà nước phương Đông cổ đại
Trang 22Như vậy, chủ nhân của nền văn minh Ấn Độ cổ đại là người Dravidian
cổ cư trú chủ yếu ở phía Nam, đồng thời đây cũng là chủ nhân của thời kỳ văn hóa Harapa hay nền văn minh sông Ấn Còn chủ nhân của thời kỳ văn hóa Vê-đa hay văn minh sông Hằng là người Ariyan.có tiếp nhận văn hóa bản địa
Nếu như thời kỳ văn hóa Harapa được biết qua các hiện tượng khảo cổ, thì thời kỳ văn hóa Vê-đa được phản ánh qua bộ sách Vê-đa, do vậy gọi là thời kỳ Vê-đa (bộ Vê-đa gồm 4 tập: Rig Vê-đa, Xama Vê-đa, Atacva Vê-đa, Yajua Vê-đa) Văn hóa Vê-đa đã có niên đại khoảng thiên niên kỷ thứ II – I trước Công nguyên Chủ nhân của nền văn hóa Vê-đa là người Arian Với văn hóa Vê-đa văn minh Ấn Độ chuyển từ lưu vực sông Ấn sang sông Hằng Cùng với sự phát triển về kinh tế, về mặt xã hội thời kỳ Vê-đa có những bước chuyển biến quan trọng Đây là thời kỳ tan rã hẳn của chế độ thị tộc và hình thành Nhà nước hoàn chỉnh với kết cấu bốn đẳng cấp khắc nghiệt
Về sự kiện này, A.K.Warder viết: “Theo chứng cớ nhân chủng học,
người Ariyan và xứ Ấn thời kỳ sụp đổ của nền văn minh Ấn – Hà (khoảng
1600 năm trước Tây lịch) Thực sự họ là kẻ xâm lược man di đã chiến thắng dân chúng Ấn – Hà và hủy hoại các thành phố của Ấn – Hà Những người Ariyan này nói ngôn ngữ hình thức sớm nhất của Sanskirt gọi là Vedic (Vệ - đà) theo các bản kinh Vệ đà xưa nhất của Ấn độ được ngày nay Các bản dịch
Vệ đà xưa nhất có lẽ là do người Ariyan sáng tác vào khoảng hai hay ba thế
kỷ sau ngày chiến thắng” [36,24]
Như vậy, tư tưởng của Vê-đa, đặc biệt là Rig Vê-đa, nhuốm màu tư tưởng của Ariyan có tiếp biến một số yếu tố bản địa Hình như các tư tưởng
đó phát sinh từ Caucasia của những ngày rất xa xưa, phát sinh từ những nơi
mà dân Ariyan di trú dùng lại nghỉ ngơi sau khi qua nhiều vùng đồi núi, nhiều
xa mạc cô hay các vùng cao nguyên bát ngát, dưới bầu trời nắng cháy, những cơn mưa nặng hạt, những cơn bão tuyết hay dưới những bó đuốc chập trùng
Trang 23trong đêm khuya Đấy là những tư tưởng về vũ trụ vô biên đầy quyền lực quan hệ hữu cơ gắn liền với con người Các tư tưởng ngày càng trở nên thực tiễn hơn và gần gũi hơn với con người khi tiếp biến chúng nói đến các vị thần đất, thần cây, thần bò của người Dravidians vào thời xa xưa của nền văn minh
nông nghiệp A.K.Warder đã viết tiếp: “Dựa vào triều đại Paurava, các bản
kinh Vệ đà xưa đã được kết tập, nhiều bản được sáng tác thêm, mà đã nhiều lần hiệu đính… Kinh tập Vệ đà vì thế là trí thức tập hợp của nhiều Bà-la-môn hay nhiều tu sĩ Nó bao gồm thơ, các bài ca, nghi thức và triết lý” [36, 25]
Thời kỳ trước đạo Phật ra đời là quá trình phân hóa đẳng cấp và hình thành Nhà nước, ở Ấn Độ xuất hiện đạo Bà-la-môn và hình thành chế độ phân chia đẳng cấp, còn gọi là chế độ Vác-na (nguyên nghĩa chữ phạn Vác-na là màu sắc, thực chất)
Chế độ đẳng cấp phân chia cư dân trong xã hội Ấn Độ thành 4 giai tầng với thành phần xuất thân khác nhau do địa vị mà không dựa vào cơ sở kinh tế:
Đẳng cấp môn (Barahmanas), gồm giới tăng lữ của đạo môn và những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp có quyền quyết định mọi vấn đề
Bà-la-Đẳng cấp Sát-đế-lợi (Ksastryas), gồm vua quan cai trị và tầng lớp võ sĩ Đẳng cấp Vệ-xá (Vaisyas), gồm trong tự do và những người làm nông nghiệp buôn bán, thợ thủ công
Đẳng cấp Thủ-đà-la (Sundras), gồm chiến binh bại trận trong cuộc chiến tranh, những người ở tầng lớp bị phá sản, v.v… Tóm lại họ không có tư liệu sản xuất, đứng ngoài tổ chức công tác xã
Ngoài ra, còn có đẳng cấp nghiêt ngã Paria là người có bố là một trong
3 đẳng cấp trên với mẹ là Thủ-đà-la Đẳng cấp này tuy ít nhưng thân phận là những người cùng khổ, hơn cả đẳng cấp Thủ-đà-la
Trang 24Sự phân chia đẳng cấp thể hiện ở nhiều mặt, không chỉ về quyền lợi, địa vị chính trị - kinh tế - xã hội mà cả trong quan hệ giao tiếp đi lại, ăn mặc, sinh hoạt tôn giáo Thậm chí cả trong những việc nhỏ nhặt như: đặt tên cho con, sử dụng màu sắc trong sinh hoạt, v.v… Ba đẳng cấp trên là lực lượng bóc lột và thống trị xã hội, trong đó nổi bật là đẳng cấp Bà-la-môn, đẳng cấp được coi là cao quý, trong sạch nhất, sánh ngang với thần thánh, được hưởng mọi đặc quyền, đặc lợi Đẳng cấp Thủ-đà-la là chiến đại đa số và vị trí tận cùng của xã hội, làm nô lệ cho ba đẳng cấp trên
Chế độ phân chia đẳng cấp nghiệt ngã như nói trên được luật pháp Nhà nước – Luật Manu tôn giáo đạo Bà-la-môn bảo vệ Luật Manu xuất hiện vào thời kỳ hậu Vê-đa, gồm 12 chương, 2.685 điều, tương truyền do một người tên là Manu được Phạm Thiên (Thượng Đế) lựa chọn ban cho Luật Manu quy định khung hình phạt cho một tội danh sẽ tăng dần đối với những đẳng cấp thấp, đặc biệt là đối với đẳng cấp Thủ-đà-la Ví dụ việc vay mượn, tỷ suất lãi cũng tăng lên với những đẳng cấp thấp: đẳng cấp Bà-la-môn thì không phải trả lãi, đẳng cấp Sát-đế-lị 2%, đẳng cấp Vệ-xá 4% nhưng đến đẳng cấp Thủ-đà-la phải trả 16% Luật Manu còn quy định, đẳng cấp Thủ-đà-la không được tham gia các cuộc họp, không được tham dự và hưởng lễ vật trong các buổi tế lễ, thậm chí người Thủ-đà-la không được khiên, không được sờ vào người Bà-la-môn khi họ chế: đẳng cấp Thủ-đà-la không được mặc quần áo kiểu dáng đẹp, mà phải mặc kiểu dáng xấu và màu sắc tối xậm Họ cũng không được đặt những tên biểu hiện sự cao quý, hùng tráng hay thanh lịch,
mà phải mặc những bộ thể hiện tự thấp hèn, ngu dốt
Sau khi ra đời, đạo Bà-la-môn nhanh chóng trở thành tôn giáo chính thống của xã hội Ấn Độ Với vị trí độc tôn, đạo Bà-la-môn dùng giáo lý thần quyền để bảo vệ và bênh vực cho chế độ đẳng cấp nhất là đẳng cấp Bà-la-môn Đạo Bà-la-môn cho rằng sự phân chia đẳng cấp trong xã hội là ý chí của
Trang 25Phạm Thiên Theo kinh Vê-đa, các đẳng cấp được sinh ra từ những bộ phận khác nhau của Phạm Thiên Bà-la-môn được sinh ra từ mồm, Sát-đế-lị được sinh ra từ tay, Vệ-xá được sinh ra từ đùi, còn Thủ-đà-la được sinh ra từ bàn chân Do sinh ra từ bốn chỗ khác nhau của Phạm Thiên nên đẳng cấp có số phận khác nhau, Đạo Bà-la-môn còn lập luận rằng trong các loại sinh vật, ưu
tú nhất là loại động vật có trí khôn, trong các loại động vật có trí khôn ưu tú nhất là con người, trong con người ưu tú nhất là Bà-la-môn
Tình hình trên đây làm cho tầng lớp đa số trong xã hội – những người Thủ-đà-la càng oán ghét chế độ bóc lột, oán ghét chế độ phân chia đẳng cấp Phản ánh tâm trạng của những người nô lệ lúc đó, ở Ấn Độ xuất hiện nhiều trao lưu tư tưởng, trào lưu xã hội thuộc các xu hướng khác nhau Các trào lưu
đó gặp nhau ở chỗ, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp chống lại chế độ đẳng cấp của đạo Bà-la-môn Học thuyết Phật giáo là một trong những trào lưu đó
Như vậy có thể nói đạo Phật ra đời trong xã hội Ấn Độ thời cổ đại bắt nguồn từ những tiên đề nguyên nhân địa lý văn hóa chính trị - xã hội sâu xa,
là trào lưu xã hội chống lại chế độ đẳng cấp và đạo Bà-la-môn
- Tiền đề tư tưởng:
Đạo Phật ra đời xét về mặt tư tưởng và tôn giáo còn là sự kế thừa nối tiếp nối co trọn lọc các học thuyết tư tưởng triết học đương thời Vì vào thời điểm này, khoảng đầu thời đại “đồ đá”, đã có nhiều thay đổi ở xã hội Ấn Độ,
nên nhà khảo cổ A.K.Warder viết: “Từ Vệ-đà đã được hệ thống hóa dưới thời
Pauravas, và từ các sáng tác do nhóm tư tưởng gia của thế kỷ thứ chín trước Tây lịch, tư tưởng kinh viện và bảo thủ ở Ấn Độ, người ta đã rút ra được tôn giáo của nó, nghi lế, triết lý, anh hùng ca, các truyền thống lịch sử xưa, luật pháp, hình học (toán học), thiên văn và khoa học ngôn ngữ học Người ta hiểu tất cả đây tạo nên “Bà-la-môn giáo” là một nền văn minh, một nếp sống, một tôn giáo và nhiều điều khác Ở một ý nghĩa, Bà-la-môn có nhiều ảnh
Trang 26hưởng này là “giai thoại anh hùng” mà những anh hùng nổi tiếng nhất đã được ca tụng trong lịch sử thi” [36, 34]
Tại đây, người ta có thể gọi giai thoại đầu tiên của Vệ-đà là giai đoạn
“Vệ-đà”, và giai đoạn kế tiếp, khi tư tưởng Ấn Độ trở nên thực tế hơn và khoa học hơn, là giai đoạn “hậu Vệ-đà” tư tưởng Ấn trong giai đoạn này đã được Benimadhad Barua diễn đạt trong sách của ông nhan đề “Lịch sử của Triết ấn trước thời kỳ Phật giáo”, có thể tóm tắt như sau:
Vào thời xa xưa của văn hóa Ấn, các hiền triết Vệ-đà đã mở ra những trang thánh ca nói đến các vấn đề vũ trụ và xem nước là khởi đầu của vạn vật Bây giờ một vấn đề khác khơi dậy: Cái gì hiện diện ngay sau nước và ngay trước “tạo vật”?
Về câu hỏi này, Aghamarsana, triết gia đầu tiên của xứ Ấn, đáp: Nó là
“năm” (year), là nguyên lý thời gian vốn là chủ tế của sinh và tử
Heranyagarbha bảo nó là “kim nhân” (golden germ)
Narayana thì quả quyết nó là “Purusa”…
Rồi một câu hỏi khác lại được nêu lên: từ cái gì nước phát sinh?
Aghamarsanan nói nước phát sinh từ “chỗ tối” (night) hay “hỗn mang” Prajapati Paremsthin đáp: ta có thể biết nó, hay có thể không biết nó Brahmanaspati cho rằng nó đến từ hư vô
Anila thì bảo nó đến từ “gió” (air) v.v…
Sau thời kỳ Vệ-đà, các vấn đề triết học dần xuất hiện và càng ngàytach bạch càng trở nên rõ ràng hơn và khoa học hơn Sự kiện này nói lên rằng khái niệm về tự ngã của các hiện hữu càng ngày càng được nhấn mạnh Từ vấn đề triết lý đặt ra từ thời kỳ đầu Vệ-đà rằng: bằng cách nào ta hợp nhất với thiên niên hay Thượng đế? Đến các vấn đề triết lý do các đạo sư Bà-la-môn về sau đặt ra: ta là ai? Mà các câu trả lời cho câu hỏi “ta là ai?” biến đổi dần dần: từ
Trang 27con người vật lý đến con người sinh lý, rồi đến con người tâm lý, siêu hình,
và sau hết là con người tâm linh:
Ta là Annamaya: một cá nhân như động vật ở đất liền và như các sức vật trong không gian Mọi chúng sinh hữu hình hay vô hình đều được tạo từ
“Purusa” (mặt trời, hay vật chất từ mặt trời)
Ta là Annamaya (người sinh ra từ bào thai): con người do thực phẩm tạo nên, hay con người do năm yếu tố tạo nên (đất, gió, nước, lửa và không gian), được sản sinh từ tinh túy của thực phẩm đã được tiêu hóa từ người cha nối kết với người mẹ và thành thai nhi (tinh của cha huyết của mẹ)
Ta là Paranamaya (con người sinh lý): con người do cha mẹ sinh, do bà
mẹ nuôi lớn, một cơ thể sống, có nghĩa là một cơ thể đầy sức sống do thực phẩm hay “năm yếu tố” tạo nên, do thức ăn nuôi dưỡng biến thành bộ xương khi chết, một thi thể bị phân hóa và sau đó trở về với thế giới vật lý (cát bụi)
Ta là Manomaya (con người tâm lý): là cá nhân có ý thức có thể nhận thức qua các cảm giác, là cá nhân mơ mộng, tưởng tượng, suy nghĩ cảm nhận, mong muốn và nhận thức cái nhị nguyên tính đa nguyên tính của sự vật
Ta là Vijnanamaya (con người siêu thức): là con người thiên phú cho một ý thức hữu tình nội tại, hay linh hồn, là một người biết suy nghĩ, một nhà
tư tưởng thể hiện được nhất nguyện tính của nguyên nhân của hiện hữu đa nguyên
Ta là Anandamays (con người đạo đức, tôn giáo, tâm linh): một linh hồn ân phước hợp nhất với thiêng liêng
Đối với chúng ta, hình như các hiền triết của thời kỳ Vệ-đà xa xưa đã sống rất tự nhiên và gần gũi với thiên nhiên – điều này liên hệ đến đời sống của dan Ariyans di trú – Ranh giới giữa thiên nhiên và con người chưa hiện
rõ Vì thế các vấn đề triết lý của họ tập trung vào vấn đề Thượng Đế, đáng sáng thế là ai? Và làm thế nào để hợp nhất với thiên nhiên, đấng sáng thế?
Trang 28Nhưng về sau, các đạo sư Bà-la-môn quay sang miên man tư duy về ngã“cái tôi” (ngôi thứ nhất), về cái tự ngã của sự vật như là thực thể đại ngã; bấy giờ mầu sắc của triết lý bắt đầu trở lên thực tế - điều này liên hệ đến nếp sống thiêt thực của người dân Dravidian của nền văn minh nông nghiệp Ấn
Độ thời kỳ trước đạo Phật có nền t tưởng triết học rất phát triển, không thể
giáo thuyết Bà-la-môn, ở Ấn Độ còn có 6 trường phái triết học: một là, trường
phái Samkhua (còn gọi là Số luận) đi theo xu hướng nhị nguyên thừa nhận sự tồn tại của hai bản nguyên cấu tạo nên vũ trụ là vật chất và tinh thần (thần
ngã); hai là, trường phái Yog Du – già chú trọng việc rèn luyện về tâm linh, tinh thần vì cho rằng nếu rèn luyện tốt sẽ chế ngự dục vọng và giải thoát; ba
là, trường phái Nyayay (còn gọi là chính lý) cho rằng nguyên tử là viên gạch
cuối cùng cấu tạo nên thế giới, đồng thời thừa nhận sự tồn tại của lực lượng
siêu nhiên; bốn là, trường phái Vaisesika (còn gọi là Thắng luận) đứng trên
lập trường tự nhiên để giải thích thế giới và cho rằng sự giải thoát chỉ khi nào
tri thức thấu triệt thế giới; năm là, trường phái vedanta là cái tu thiện, đó cũng chính là giải thoát; sáu là, trường phái Misamasa (còn gọi là Tế tự học) nhấn
mạnh về đức hy sinh để có sự giải thoát Ngoài ra ở Ấn Độ còn có tư tưởng duy vật giản đơn cho rằng thế giới vạn hữu đều là vật chất với 4 yếu tố là đất, nước, lửa, gió
Tóm lại, có thể nhận biết các trào tư tưởng thời trước Đức Phật qua nhận định của ông S.Radhakrishnan, một triết gia nổi tiếng của người Ấn Độ trong tác phẩm “Triết lý Ấn Độ” như sau:
“… Người Ấn không bao giờ cảm nhận rằng cuộc đời là một chiến trường, nơi mà con người chiến đấu cho quyền thế, của cải và sự thống trị Một khi con người không cần tiêu phí các năng lượng của mình vào các vấn
đề thế sự, lợi dụng thiên nhiên và kiểm soát các sức mạnh của thiên nhiên, con người bắt đầu nghĩ đến một đời sống tâm linh toàn vẹn hơn Có lẽ cái khí
Trang 29hậu làm cho con người mệt mỏi đã khiến người Ấn có khuynh hướng nghỉ ngơi và rời bỏ công việc Những cánh rừng lớn với những con đường rộng có những tán lá đã tạo ra các cơ hội tuyệt vời cho những tâm hồn sinh đạo đi quanh quẩn qua lại, mở những giấc mơ lạ và bùng lên những lời ca vui thú… Chính tại những nơi ẩn dật ở trong những cánh rừng là nơi các nhà tư tưởng
Ấn trầm tư về những vấn đề hiện hữu sâu thẳm hơn” [36, 34]
S.Radhakrishnan tiếp:
“Nỗ lực của triết lý để xác định bản chất của thực tại có thể khởi đầu từ
tự ngã, chủ thể của tư duy, hay đối tượng của tư duy, Ở Ấn, triết lý thì tập trung vào tự ngã con người, ở đó cái nhìn thì hướng ngoại, dòng hiện hữu vô thường thì chiếm lĩnh cái tâm Ở Ấn, “tự biết mình” (atmamam Viddhi) tóm tắt được luật pháp và các kinh sách tiên tri Tâm linh ở trong con người là trung tâm của vạn hữu”
Tâm lý học của Ấn nhận rõ giá trị của thiền định và xem trọng thiền định như là phương tiện để nhận thức chân lý [36, 34 - 35]
Các giáo thuyết của Phật giáo sau này được hình thành, ít nhiều đều thể hiện các yếu tố tư tưởng của các trào lưu triết học nói trên
Về người sáng lập đạo Phật: Sự ra đời của đạo Phật còn gắn liền với tên tuổi người sáng lập từ thái tử Tất Đạt Đa, sinh năm 563 trước Công nguyên, con vua Tịnh Phạn thuộc bộ tộc Thích Ca (Sakya), trị vì một vương quốc nhỏ
là Ca-tỳ-la-vệ ở trung lưu sông Hằng, gần chân núi Hymalaya, miền đất bao gồm một phần miền Nam nước Nêpan và một phần Ấn Độ ngày nay
Theo truyền thuyết, ngay từ nhỏ thái tử Tất Đạt Đa đã được sống trong cung vàng điện ngọc, nhung lụa êm ấm, không tiếp xúc với xã hội bên ngoài, không hề thấy và không hề biết rằng trong cuộc sống đời lại có những đói khát, bệnh tật, già yếu và chết chóc
Trang 30Năm 17 tuổi, thái tử cưới vợ là công chúa Da-Du-Đà-La, sinh một con trai là La Hầu La Từ đó, thái tử mới tiếp xúc với hiện thực cuộc sống ngoài chốn cung đình Nhưng cuộc gặp gỡ bất ngờ với cảnh già yếu, bệnh tật, chết chóc… đã tác động mạnh đến tâm hồn nhạy cảm của Ngài
Năm 29 tuổi, Ngài quyết định rời bỏ ngai vàng, rời bỏ cuộc sống nhung lụa xa hoa đi tìm con đường giải thoát chuy tìm chân lý
Sau sáu năm tu hạnh ở núi Tuyết Sơn mà không đạt được sự yên tĩnh trong tâm hồn và cũng không tìm ra chân lý, Ngài nhận ra là cả cuộc sống tràn đầy vật chất, thỏa mãn dục vọng, lẫn cuộc sống khổ hạnh đều không giúp tìm
ra con đường giải thoát, chỉ có con đường trung đạo là đúng đắn nhất Do đó, Ngài tự mình đào sâu suy nghĩ để nhận thức chân lý và bỏ lối tu khổ hạnh, đi sâu vào tư duy trí tuệ
Sau 49 ngày thiền định dưới gốc Bồ Đề tại làng Uruvela, chìm đắm trong tư duy sâu thẳm và cuối cùng Ngài đã chứng ngộ đạo quả tối thượng, hiểu được bản chất của tồn tại, biết được sự thật của các pháp, biết được nguồn gốc của khổ đau và con đường chấm dứt khổ đau Ngài tự xưng là Phật (Buddha – có nghĩa là giác ngộ), mọi người thường gọi Ngài là Thích Ca Mâu
Ni (bậc thánh của dòng họ Thích Ca)
Từ đó, Ngài đi truyền bá đạo giải thoát, bài pháp đầu tiên mà Ngài thuyết đó là kinh “Chuyển pháp luân”, thuyết tại Vườn Lộc Uyển cho năm anh em ông Kiều Trần Như và từ đó bắt đầu thành lập những Tăng đoàn, đi truyền bá giáo pháp Đạo Phật ra đời vào thời đó trên thực tế là chủ trương phật tính phủ nhận chế độ đẳng cấp của Bà-la-môn giáo, Giáo lý của đạo Phật sâu sắc, có sự kế thừa của các yếu tố trong trào lưu
tư tưởng đương thời, luôn đề cao sự tự giác ngộ bình đẳng, hướng tới sự
an lạc giải thoát
Trang 31* Sự phát triển của Phật giáo
Sau khi thành đạo dưới cội Bồ đề, Phật Thích Ca di truyền pháp giáo hóa chúng sinh, tùy theo trình độ của mọi người mà thuyết pháp giáo hóa, mãi đến khi Ngài nhập diệt cộng lại là 49 năm Những Kinh pháp của Ngài nói ra,
về sau các đệ tử kiết tập chia ra làm năm thời:
Thời thứ nhất: Phật nói kinh Hoa Nghiêm: Khi Phật mới thành đạo, ở
tại cội Bồ đề, nói kinh Hoa Nghiêm 21 ngày, vạch rõ chân tánh qua các hiện tượng chỉ bày chỗ cao sâu mầu nhiệm của đạo Phật
Thời thứ hai: Phật nói kinh A Hàm: Muốn đi xa phải do nơi gần, muốn
lên cao phải từ nơi thấp, Đức Thích Ca nhận thấy rằng dân chúng không hiểu hết được ý nghĩa cao siêu mầu nhiệm, vạch rõ chân tính trong kinh Hoa Nghiêm, nên Ngài căn cứ vào trình độ đối tượng, vì vậy thời thứ hai Ngài nói kinh A Hàm trọn 12 năm, dùng thí dụ thực tế, chỉ rõ chân lý cho chúng sinh qua giảng tứ diệu đế
Thời thứ ba: Phật nói kinh Phương đẳng: Đạo Phật chẳng những dạy
pháp giác ngộ phần mình mà Ngài còn chỉ bày phương pháp giác tha nữa, tức
là khuyến khích từ cái giác ngộ tiêu cực nhỏ hẹp của Tiểu Thừa (A La Hán)
để tiến lên cái giác ngộ tích cực bao la của Đại thừa Phật giáo, ấy là thời nói kinh Phương đẳng trọn 8 năm, dẫn Tiểu Thừa qua Đại Thừa
Thời thứ tư: Phật nói kinh Bát Nhã: Đến khi đức Phật xem căn cơ
của chúng sanh có thể tiến lên một tầng cao nữa là hấp thụ được hoàn toàn giáo pháp Đại Thừa, nên Ngài chỉ bày Đạo lý chân không của vũ trụ, thuyết minh cái thật tướng vô tướng của các pháp, ấy là thời nói kinh Bát Nhã trọn
22 năm
Thời thứ năm: Phật nói kinh Pháp Hoa và Niết Bàn: Sự hóa độ một thời
gian dài của Phật gần viên mãn, thêm thấy căn cơ chúng sanh đã thuần thục,
có thể gánh vác Đại Thừa chánh pháp sâu xa, nên Ngài bèn nói rõ Ngài thị
Trang 32hiện ra đời là vì một nguyên nhân lớn đó là Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến ngài phú chóc, thọ ký cho các hàng đệ tử, tương lai sẽ thành Phật Ấy là thời nói Pháp Hoa và Niết Bàn trọn 8 năm Đến đây nhiệm vụ thuyết pháp độ sanh của đời Ngài đã viên mãn chuyển hóa được pháp vào quảng đại chúng sinh giác ngộ chúng để giải thoát
Từ khi thành đạo dưới gốc cây Bồ đề cho đến ngày nhập diệt, trải qua một thời gian 49 năm, đức Phật đã đi khắp xứ Ấn Độ cổ đại rộng lớn bao la,
từ Bắc chí Nam, từ Đông sang Tây, từ rừng núi đến đồng bằng, không nơi nào
là Ngài không đặt chân đến, hay truyền đệ tử đến thay Ngài để hóa độ chúng sanh Tuy nhiên, những lời truyền pháp giáo hóa chúng sinh của Phật không phải được ghi lại thành kinh sách ngay mà phải trải qua bốn lần đại hội để kết tập chỉnh lý, mà đạo Phật thường gọi là bốn lần kết tập kinh điển
Đại hội kết tập kinh điển lần thứ nhất: Sau khi Phật nhập diệt không
bao lâu, Tôn giả Đại Ca Diếp đã tổ chức kết tập đại hội do Ngài làm chủ tọa, triệu tập 500 vị Tỳ kheo chứng quả tham dự, đại hội kéo dài 7 tháng, Ngài A Nan phụ trách phần kinh tạng, đọc lại những lời Phật nói giáo lý, Ngài Ưu Ba
ly phụ trách phần luật tạng, đọc lại những lời Phật nói về giới luật để tu hành; Ngài Đại Ca Diếp kể về những luận giải của Phật về giáo lý và giới luật Như vậy ba tạng: Kinh, Luật, Luận của đạo Phật được khởi soạn từ đây, nhưng tất
cả đều không ghi thành văn tự
Đại hội kết tập kinh điển lần thứ hai:Sau khi Phật nhập diệt được 100
năm, vào khoảng thế kỷ IV trước Công nguyên với 700 Tỳ kheo chứng quả, kết tập kéo dài 8 tháng Nội dung chủ yếu giải quyết những bất đồng về việc thực hành giới luật và việc luận giải kinh điển Lần kết tập này khởi đầu của việc phân chia thành hai phái: Thượng tọa bộ (Tiểu Thừa) gồm các bậc cao tuổi chiếm thiểu số và Đại chúng bộ (Đại Thừa), gồm các vị Tỳ kheo trẻ tuổi chiếm đa số
Trang 33Đại hội kết tập kinh điển lần thứ ba:Vào khoảng thế kỷ thứ III trước
Công nguyên Đại hội lần này do hoàng đế A Dục (Asoka) đề xướng và bảo trợ, ông triệu tập 1000 Tỳ kheo tham dự, kéo dài 9 tháng Kết quả lần tập kết này đã ghi thành văn bản Sau đại hội các tăng đoàn được thành lập
và bắt đầu công việc truyền bá Phật giáo ra nước ngoài với ba phương diện ,kinh, luật, luận
Đại hội kết tập kinh điển lần thứ tư: Vào khoảng thế kỷ thứ II sau Công
nguyên, dưới triều vua Ca Nhị Sắc Ca, có 500 Tỳ kheo tham dự Kết quả lần kết tập này là hoàn chỉnh tam tạng kinh điển của Phật giáo tồn tại cho đến ngày nay Và cũng từ đây, Phật giáo chính thức chia làm hai phái lớn đó là Tiểu Thừa và Đại Thừa
Phật giáo phát triển thịnh hành khắp Ấn Độ vào thời A Sô Ka cho đến thời Ca Nhị Sắc Ca Đến thời vua Gruppa ra, khoảng thế kỷ IV đến thế kỷ VI sau Công nguyên, đạo Phật suy thoái trước sự phát triển của Ấn Độ giáo (là
sự pha trộn đạo Bà-la-môn với tín ngưỡng dân gian) Từ thế kỷ thứ VIII trở
về sau, đạo I –xlam thâm nhập Ấn Độ Khi có cuộc tấn công bằng vũ trang của người Hồi giáo năm 1193 đạo Phật ở Ấn Độ lâm vào tình trạng suy tàn và
bị tiêu diệt gần đây, mới có sự hưng khởi trở lại
Đạo Phật suy vi ở Ấn Độ nhưng lại mở rộng và hưng thịnh ở bên ngoài Phật giáo được truyền đến nam á Xri-lan-ca, Miến Điện, bắc truyền phât giáo lan truyền đến nam truyền Tây Tạng, Trung Quốc Tuy nhiên khi truyền giáo
ra bên ngoài, Phật giáo đã có sự phân rẽ thành hai phái mà sau này trở thành Tiểu Thừa và Đại Thừa Thời kỳ đầu cả hai phái đều nỗ lực truyền giáo chủ đạo, không phân chia thành khu vực đối với từng phái Sau này trong quá trình truyền giáo đã dẫn đến sự hình thành hai khu vực Phật giáo khá điển hình: Phật giáo Tiểu Thừa thành công ở các nước phía Nam như: Xri-lan-ca, Miến Điện, Campuchia, Thái Lan, Lào nên Phật giáo các nước này gọi là Phật
Trang 34giáo Nam Tông.Chủ đạo Phật giáo Đại Thừa thành công ở các nước phía Bắc như: Tây Tạng, Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên nên Phật giáo ở các nước này gọi là Phật giáo Bắc Tông
Nếu như Phật giáo Ấn Độ, Phật giáo Xri-lan-ca vị trí quan trọng đối với các nước phía Nam, thì Phật giáo Trung Quốc có vị trí quan trọng đối với các nước phía Bắc Do đó dẫn đến việc các nước theo Phật giáo Nam Tông phia Nam Á chịu ánh hưởng của văn hóa Ấn Độ, các nước theo Phật giáo Bắc Tông chủ yếu chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc
Phật giáo Đại Thừa chủ trương “không luận”, cho rằng vạn pháp tuy có (“hữu”) nhưng thực ra là không (“vô”) Phật giáo Tiểu Thừa chủ trương “hữu luận”, cho rằng vạn pháp vô thường nhưng vẫn có (“hữu”) một cách tương đối, chứ không thể nói là không (“vô”) được
Phật giáo Đại Thừa cho rằng ngay trong quá trình sinh tử, con người vẫn hứng ngộ được cảnh giới Niết Bàn, nếu như tu luyện tốt Còn Phật giáo Tiểu Thừa thì ngược lại, cho rằng chỉ khi nào con người thoát vòng luân hồi sinh tử, con người mới có thể đạt được cảnh giới Niết Bàn
Phật giáo Đại Thừa chủ trương “tự độ, độ tha, tự giác giác tha”, nghĩa
là vừa tự giác ngộ, tự giải thoát, vừa giác ngộ giải thoát cho chúng sinh Trong khi đó, Phật giáo Tiểu Thừa cho rằng chỉ có “tự độ, độ tha” Chính vì quan niệm này mà có tên gọi là “Đại Thừa” (cỗ xe lớn trở được nhiều người)
và “Tiểu Thừa” (Cỗ xe nhỏ trở được ít người)
Vệ sự phụng thờ và cách thức tu hành, Phật giáo Đại Thừa thờ Phật và chư vị Bồ Tát, người tu hành mặc áo nâu và tự lao động kiếm sống, còn Phật giáo Tiểu thừa chỉ thờ Phật, người tu hành mặc áo vàng sống bằng khất thực
Lịch sử truyền bá Phật giáo cụ thể ở từng quốc gia, khu vực dù trong những thời gian khác nhau, hoàn cảnh chính trị, xã hội khác nhau, nhưng nhìn
Trang 35chung để có những nét chung, có thể coi đó là đặc điểm của quá trình truyền
bá Phật giáo, dưới đây là những quan điểm thể hiện nét chung đó:
Phật giáo truyền bá bằng con đường “hòa bình”, kết hợp giữa hình thức truyền bá đạo trực tiếp qua các giáo đoàn với hình thức nhân dân một cách đa dạng, rộng rãi Đến nay hầu như không thấy việc Phật giáo truyền đạt gắn với chiến tranh hoặc bằng chiến tranh
Với thái độ khoan dung nên quá trình truyền bá Phật giáo không gây ra sung đột về tôn giáo, văn hóa tư tưởng Không những thế, Phật giáo còn chấp nhận chung sống với các tín ngưỡng, tôn giáo nơi nó truyền đến, Đặc biệt với chủ trương “tùy duyên phương tiện”, tùy căn quả “khế lý, khế cơ” của chúng sinh mà hành hóa, nên trong nhiều trường hợp, Phật giáo còn tiếp thu, dung nạp các phong tục tập quán tín ngưỡng, tôn giáo bản địa hình thành nên nhiều pháp môn tu hành mang tính chất địa phương đăc thù
Trong quá trình phát triển, Phật giáo có vị trí quan trọng trong việc xây dựng bảo vệ độc lập dân tộc, góp phần hình thành văn hóa, đạo đức, lỗi sống, phong tục tập quán của nhiều quốc gia ở châu Á
Theo thống kê của Bộ Từ điển tín ngưỡng và Tôn giáo của nhà xuất bản Larouse ấn hành năm 1995, và theo sách Giới thiệu các nước trên thế giới xuất bản năm 2002, Phật giáo có khoảng 325 triệu tín đồ Cụ thể ở một số quốc gia có đông tín đồ như: Trung Quốc: 75 triệu, Thái Lan: 57 triệu, Nhật bản: 48 triệu, Xri-lan-ca: 13 triệu, Việt Nam: 10 triệu, Đài Long: 10 triệu, Hàn Quốc: 8 triệu…………
* Những tư tưởng cơ bản trong giáo lý đạo Phật
Giáo lý của đạo Phật được thể hiện trong Tam tạng kinh điển, đó là Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng
Kinh tạng là những sách ghi lời Phật Thích Ca giảng về giáo lý, được
đệ tử tên là A Nam kể lại trong lần kết tập đầu tiên
Trang 36Luật tạng là những sách ghi những giới luật do Phật chế định là khuôn pháp sinh hoạt cho tăng đoàn và các đệ tự tại gia, do Ưu Bà Ly đọc lại trong lần kết tập đầu tiên
Luận tạng là nhừng luận giải của các vị đệ tử Phật giảng giải về những lời dạy của Phật nhằm mục đích giới thiệu giáo lý Phật có hệ thống, đồng thời phê bình, uốn nắn những nhận thức sai trái và chống lại những quan điểm đả kích xuyên tạc về giáo thuyết Phật giáo
Giáo lý Phật giáo được đề cập đến nhiều vấn đề của thế giới và nhân sinh Tuy nhiên, do đặc điểm kinh sách của Phật giáo rất phong phú, rất trừu tượng, mang tính chất triết học sâu sắc Vì vậy trong giới hạn của luận văn này chúng tôi nghiên cứu thế giới quan của Phật giáo là học thuyết vô ngã, vô thường, thập nhị nhân duyên
Học thuyết vô ngã: Theo Phật giáo con người là sự kết hợp của ngũ uẩn
Phần tâm lý bao giờ cũng dựa vào phần sinh lý, con người sinh diệt là
sự giả hợp của ngũ uẩn Khi ngũ uẩn hợp là sinh, khi ngũ uẩn tan là diệt Do
đó, không có cái gọi là “bản ngã” (cái tôi) Trong thế giới sự vật hiện tượng, mọi sự vật được hình thành nên cũng do các duyên kết hợp lại, vì vậy mà biết rằng không có một ai sáng tạo ra thế giới này Phật giáo phủ nhận vai trò của đấng Thượng đế, vì thế giới này là thế giới duyên sinh
Học thuyết vô thường: Theo giáo lý Phật giáo, con người cũng như mọi
sự vật hiện tượng khác trong vũ trụ phải tuân theo định luật “vô thường”, vạn
Trang 37pháp không đứng yên mà luôn chuyển động biến đổi theo chu trình thành – trụ - hoại – không hay sinh – trụ - dị - diệt
Sinh – diệt là hai quá trình xảy ra trong mỗi sự vật, hiện tượng cũng như trong toàn vũ trụ, thế giới này là sự hoại – không của thế giới khác, pháp khác, cứ như vậy mà tiếp diễn Như vậy, thế giới luôn biến đổi, vô thủy, vô chung, không có bắt đầu, không có kết thúc Thế giới sự vật biến đổi không phải do thần thánh, mà là sự nó Sự vật, hiện tượng do con người nhận biết qua thần sắc, hình tướng chỉ là giảm tạm Do đó, thế giới khách quan đang tồn tại chỉ là hư ảo, không có thực Là vô thường
Giáo lý thập nhị nhân duyên gồm: vô minh – hành – thức – danh sắc – lục nhập – xúc – thọ - ái – thủ - hữu – sinh – lão tử
ThuyếtThập nhị nhân duyên hay còn gọi là thuyết duyên khởi được
định nghĩa như sau: “Do vô minh, Hành sinh; do duyên Hành, Thức sinh,
do duyên Thức, Danh – Sắc sinh; do duyên Danh – Sắc, Lục nhập sinh; do duyên Lục nhập, Xúc sinh; do duyên Xúc, Thọ sinh; do duyên Thọ, ái sinh;
do duyên ái, Thủ sinh; do duyên Thủ, Hữu sinh; do duyên Hữu, Sinh sinh;
do duyên sinh, Lão tử sinh; do duyên Lão - tử - sầu – bi – khổ - ưu – não sinh Như vậy là sự sinh khởi của toàn bộ khổ uẩn này Này các Tỳ kheo, đây gọi là Duyên khởi” [14, 111]
“Nhưng từ sự tan biến và chấm dứt hoàn toàn Vô minh, Hành chấm dứt; từ sự chấm dứt của Hành, Thức diệt, do Thức diệt mà Danh sắc dint…;
do Sinh diệt mà Lão - tử - sầu – bi – khổ - ưu – não diệt Như vậy là sự chất dứt toàn bộ khổ uẩn này” [14, 119]
Do duyên mà các pháp sinh khởi, do duyên mà các pháp đoạn diệt Nên kinh Pàli, nguyên lý duyên khởi nghĩa đã được Đức Phật tóm tắt
“Do cái này có mặt nên cái kia có mặt
Do cái này không có mặt nên cái kia không có mặt
Trang 38Do cái này sinh nên cái kia sinh
Do cái này diệt nên cái kia diệt” [14, 119]
Giáo lý duyên khởi là một triết lý đặc thù riêng của đạo Phật, có thể nói
đó là một chân lý bất tận của thời gian và lâu tận suốt không gian, nó gởi một thông điệp nhân bản rõ nét cho toàn thể nhân loại Đây là quá trình sự sống phát sinh, tồn tại và tiếp diễn Mỗi một mắc xích trong duyên khởi nó vừa làm nhân, vừa là quả, vừa bị định đoạt, vừa làm điều kiện Vì thế chúng đều là tương đối Nếu chấm dứt một trong mười hai chi phần duyên khởi thì chuỗi mười hai duyên khởi sẽ chấm dứt Giáo lý mười hai nhân duyên nói nên nguồn gốc của con người và thế giới hiên tượng nói lên quá trình hình thành, tồn tại và chấm dứt của con người và vạn vật
1.1.3 Khái quát về tình hình Phật giáo ở xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, Hà Nội hiện nay
Đại Đồng, huyện Thạch Thất Hà Nội là vùng đất có truyền thống lịch
sử văn hóa lâu đời Phật giáo vào nơi đây từ rất sớm và phát triển qua các thời
kỳ Hiện nay xã Đại Đồng có một tôn giáo duy nhất là đạo Phật Trong vùng
có nhiều ngôi chùa Phật giáo nổi tiếng: Chùa Quang Nghiêm, chùa Hương Lam, chùa Ngọc Lâu, chùa Một Mái, chùa Thầy,…
Mỗi một làng nơi đây cũng như các làng quê khác của Việt Nam đều
có chùa, là nơi trung tâm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của cả làng Xã Đại Đồng hiện còn có ba ngôi chùa là:
Chùa Quang Nghiêm: Cổ xưa là ngôi chùa nhỏ, mái gỗ lợp tranh
Trong chùa chưa có tượng Phật, mà thờ bức tranh vẽ Phật trên giấy Năm
1717, chùa được sửa sang Năm Cảnh Thịnh thứ 6 (1797) nhân dân trong thôn
tổ chức đúc tượng Phật Thích Ca, tòa Cửu Long và một quả chuông nhỏ bằng đồng 28 cm Năm 1846 nhân dân tổ chức xây dựng lại chùa: rộng 5 gian, đắp một số tượng Phật và đúc lại chuông lớn hơn (đường kính 45 cm) Năm 1982-
Trang 391983, chùa bị quân cờ đen đốt phá, chuông bị đập vỡ Năm Thành Thái thứ 7 (1895), chùa được sửa chữa lần 3: làm thêm 3 gian, nhà tiền đường, 4 gian Tam quan, đúc lại quả chuông đồng (đường kính 46 cm, nặng 120 kg)
Trong thời gian chiến tranh, tượng Phật được đưa về miếu xóm Đồng
Ai Năm 1987, chùa được chuyển về tả mạc đình Tháng 8/1989 nhân dân đóng góp và khuyên giáo thập phương làm thêm 3 gian tiền đường , sửa chữa nhà đón khách, tô lại tượng Phật Ngày 28/8/1991 đúc lại quả chuông đồng lớn (cao 0,8 m, đường kính đáy 0,56 m, nặng 122 kg) Năm 1999 nhân dân trong xã đã quyên góp chuyển ngôi chùa Nghiêm Quang từ đình Đại Đồng về xây dựng như hiên nay tại khu lâm nghiệp (bãi Ô Dô) và tên chùa được đổi thành Chùa Bảo Quang Tự
Chùa Hương Lam: Cổ xưa được xây dựng ở ngoài làng, đến cuối thế
kỷ XVI đầu thế kỷ XVII chùa chuyển vào phía tây làng Hiện nay diện tích nội chùa rộng 622m2 Năm 2003 đã được UBND tỉnh Hà Tây xếp hạng di tích lịch sử văn hóa Chùa cấu trúc kiểu chữ đinh Ngôi nhà thờ Phật làm tiền đạo, hậu đốc, hai gian một dĩ, gỗ tứ thiết cột to chạm trổ đơn giản Nhà tiền đường 3 gian trong chùa có 35 pho tượng Phật :chính giữa phía trước là phật Thích Ca, tiếp phía sau bên phải là tượng Phật Bà Quan Âm, bên trái là tượng Phật Quan âm chuẩn đề 12 tay, trên cùng là tượng Tam thế Nhà tiền đường cũng có 6 pho tượng Phật, bên tả có Đức Chúa, bên hữu có tượng Đường Tăng Chùa có quả chuông đồng đúc vào năm Minh Mệnh thứ 5 (1824) Ngoài ra chùa còn giữ được 8 tấm bia đá (6 trong nhà tiền đường và 2 ngoài sân) là văn bia ghi giỗ hậu chùa và ghi công của nhân dân đóng góp xây dựng chùa, đúc chuông tô tượng Phật Trải qua mấy trăm năm, ngôi chùa là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân Ngày rằm mồng một hàng tháng tiếng chuông lại ngân lên, hướng tâm linh mỗi người dân nghĩ về những điều thiện, làm những việc tốt lành cho cuộc sống và xã hội
Trang 40Chùa Ngọc Lâu: Ngôi chùa được xây dựng cuối thế kỷ XVIII (cùng
với đình) Vị trí ở phía Tây, cách đình khoảng 500m, sau được chuyển về xây dựng gần sát đình Ngọc Lâu Tự gồm có nhà thờ Phật và tiền đường, xây dựng theo hình chữ nhị (=), bên trong chính địa có các pho tượng Phật như các ngôi chùa khác trong xã Những năm 1930, Đạo Công giáo phát triển vào địa phương, trong thôn xóm bị chia rẽ thành 2 phái: lương và giáo Sau khi tổ chức bốc thăm, dân bên lương được đình, dân theo giáo được chùa Ngôi chùa này đã chuyển thành Nhà thờ Công giáo Từ năm 1955 về sau ở Ngọc Lâu không ai theo Công giáo nữa, ngôi nhà thờ (nhà chùa cũ) bị hỏng và dỡ bỏ
Nhìn chung, tại Đại Đồng, ở cả 3 chùa, sinh hoạt Phật giáo nơi đây diễn
ra khá sôi nổi, hàng năm nơi đây đều tổ chức đăng ký lịch trình, tổ chức lễ hội truyền thống đầu năm, lịch trình sinh hoạt của các tôn giáo, theo thông lệ hàng năm: Nhất là có quy định hướng dẫn lễ hội nội dung, chương trình, thời gian, địa điểm tổ chức lễ hội đảm bảo trang trọng, an toàn, tiết kiệm và tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật Trong các dịp lễ, tết Phối hợp và tổ chức thăm hỏi, chúc tết, tặng quà các tăng, ni, tín đồ, Phật tử có hoàn cảnh khó khăn trong dịp Tết Nguyên đán (Bính Thân) và các ngày lễ trọng của các
tổ chức tôn giáo Ngày nay, Phật tử cả 3 chùa tiếp tục phát huy tinh thần của đạo Phật “Hộ quốc an dân”, tích cực tham gia các hoạt động xã hội tại địa phương, góp phần vào công cuộc đổi mới của địa phương đất nước, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ngày càng vững mạnh
Như năm 2016, Ban Tôn giáo, Ban Trị sự giáo hội phật giáo huyện Thạch Thất đã phối hợp với lãnh đạo Đảng ủy, chính quyền, Ban Hội tự Chùa đặt tại Bảo Quang tại xã Đại Đồng thống nhất nội dung, địa điểm, thời gian và
tổ chức đại lễ Phật Đản, Phật Lịch 2560 – Dương lịch 2016 (cấp Huyện) vào ngày 15/5/2016 (tức ngày 9/4 Bính Thân) ) với hàng nghìn tín đồ, Phật tử và