Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Theo Người, Cán bộ là dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù có tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt. Nếu cán bộ nói chung là gốc của mọi công việc thì đội ngũ cán bộ chủ chốt là gốc của gốc. Theo đó, công tác cán bộ là vấn đề then chốt của nhiệm vụ then chốt, và việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt là cái cốt lõi của các vấn đề then chốt.
Trang 1DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH, HĐH
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Chương 1: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG
BỘ TỈNH HÀ NAM VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP HUYỆN (2005 -
1.1 Những yếu tố tác động và chủ trương của Đảng bộ tỉnh
Hà Nam về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện
2.1 Tình hình mới và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Nam về
xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện (2011 - 2015) 422.2 Đảng bộ tỉnh Hà Nam chỉ đạo đẩy mạnh xây dựng đội
ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện (2011 - 2015) 53
3.1 Nhận xét quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo xây
dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện (2005 - 2015) 643.2 Kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo xây
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cán bộ là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự thànhcông hay thất bại của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Cán bộ
là cái gốc của mọi công việc", "Công việc thành công hay thất bại đều do cán
bộ tốt hay kém" Theo Người, "Cán bộ là dây chuyền của bộ máy Nếu dâychuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù có tốt, dù chạy, toàn bộ máycũng tê liệt Nếu cán bộ nói chung là gốc của mọi công việc thì đội ngũ cán
bộ chủ chốt là "gốc của gốc" Theo đó, công tác cán bộ là vấn đề then chốtcủa nhiệm vụ then chốt, và việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt là cái cốtlõi của các vấn đề then chốt
Cán bộ và công tác cán bộ thực sự là một yêu cầu vừa cơ bản vừa bứcxúc, đòi hỏi phải được đổi mới từ quan điểm, phương pháp, chính sách và tổchức, chẳng những để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng đất nước hômnay mà còn phải chuẩn bị cho thế hệ kế tục sự nghiệp của Đảng và dân tộctrong tương lai Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã dàycông đào tạo và rèn luyện nên các thế hệ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộlãnh đạo chủ chốt vững vàng, tận tụy kế tiếp nhau đảm đương và hoàn thànhxuất sắc nhiệm vụ qua các thời kỳ cách mạng
Kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của các thế hệ cán bộ đi trước,đội ngũ cán bộ ngày nay đã và đang công tác, học tập, rèn luyện, không ngừngnâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức lối sống, năng lực công tác đáp ứng yêu cầunhiệm vụ cách mạng Tuy nhiên, so với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giaiđoạn hiện nay đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyệnnói riêng còn nhiều mặt hạn chế trước yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH và hội nhập quốc tế nhất là trong chủ trương chỉ đạo của Đảng bộ, kiếnthức, năng lực quản lý kinh tế, quản lý xã hội của Nhà nước…Một số cán bộ sasút về chính trị, suy thoái về đạo đức, lối sống, cục bộ địa phương, cá nhân chủ
Trang 4nghĩa, cửa quyền, quan liêu, hách dịch, mất đoàn kết nội bộ…đã ảnh hưởngnghiêm trọng đến lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ.
Thực tiễn đặt ra yêu cầu đổi mới đối với công tác cán bộ và đội ngũcán bộ chủ chốt là cấp bách trong giai đoạn hiện nay Đòi hỏi Đảng phải hếtsức chăm lo, xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, mà trước hết làđội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện có đủ phẩm chất và năng lực để đảmđương và thực hiện chức trách, nhiệm vụ ở từng vị trí công tác
Tỉnh Hà Nam là một tỉnh có bề dày lịch sử, giàu truyền thống văn hiến
và cách mạng, nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, thuộc vùng kinh tếtrọng điểm Bắc Bộ Năm 1997, tỉnh Hà Nam được tái lập, có 05 huyện và 01thị xã (nay là thành phố) trực thuộc tỉnh Trong những năm gần đây, tỉnh HàNam đã và đang tiến hành việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh phát triểncông nghiệp, dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng, triển khai các dự án trọngđiểm của tỉnh và của quốc gia Yêu cầu mới đòi hỏi tỉnh, cũng như các cấphuyện, thành phố phải chuẩn bị thật tốt nguồn nhân lực, nhất là lãnh đạo, xâydựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ngang tầm với nhiệm vụ mới Trongnhững năm 2005 - 2015, Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo xây dựng đội ngũcán bộ chủ chốt cấp huyện đạt được những thành công nhất định nhưng cònnhiều hạn chế như trong công tác quy hoạch, xây dựng vẫn còn thiếu tính chủđộng, chưa kết hợp chặt chẽ công tác đào tạo, bồi dưỡng với công tác kiểmtra, giám sát đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện….v.v
Tình hình trên đã đặt ra nhiệm vụ vừa có tính cấp bách, vừa có tính lâu dàiđối với Đảng bộ tỉnh Hà Nam là phải đổi mới, củng cố, xây dựng nâng cao chấtlượng đội ngũ cán bộ nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện nhằm khai tháctiềm năng của địa phương, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy nhanh tốc độ phát triểnkinh tế, xã hội góp phần tích cực vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Với yêu cầu cấp bách đặt ra, từ thực tiễn tỉnh Hà Nam, tôi chọn vấn đề
“Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
Trang 5huyện từ năm 2005 đến năm 2015” làm luận văn thạc sĩ Lịch sử, chuyên
ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Vấn đề đội ngũ cán bộ luôn được Đảng và Nhà nước ta hết sức chútrọng, quan tâm chăm lo xây dựng nhất là công tác xây dựng đội ngũ cán bộchủ chốt cấp huyện luôn giữ vị trí vai trò đặc biệt quan trọng và là một nộidung trọng yếu trong công tác xây dựng Đảng Chính vì thế đề tài xây dựngđội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ chủ chốt cấp huyện nói riêng luôn là mộttrong những vấn đề được nhiều nhà khoa học bắt tay nghiên cứu với hàng loạtcông trình trên nhiều bình diện khác nhau Các công trình nghiên cứu này cóthể được chia thành các nhóm sau:
* Những công trình nghiên cứu chung về xây dựng đội ngũ cán bộ,
cán bộ chủ chốt trên phạm vi cả nước
Trần Xuân Sầm (1998), Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo
chủ chốt trong hệ thống chính trị thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội; Bùi Tiến Quý (2000), Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động của
chính quyền địa phương trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (2001), Luận cứ khoa
học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Thang Văn
Phúc, Nguyễn Minh Phương (2001), Cơ sở lý luận thực tiễn xây dựng đội ngũ
cán bộ công chức, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Phú Trọng, Trần
Xuân sầm (đồng chủ biên) (2003), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Hà Đăng (2003), “Vấn đề quy
hoạch cán bộ”, Tạp chí Cộng sản, số 6; Nguyễn Hồng Phương (2004), “Quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dụng đội
ngũ cán bộ cơ sở trong giai đoạn mới”, Tạp chí Thông tin lý luận, số 16; Trần
Trang 6Thị Hương (2004), “Đào tạo cán bộ xã, phường, thị trấn”, Tạp chí Xây dựng
Đảng, số 9; Ngô Ngọc Thắng (2004), “Đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị
cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở trong thời kỳ mới”, Tạp chí giáo dục lý luận, số
8; Đặng Minh Tuấn, Nguyễn Thị Thúy (2004), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về
công tác cán bộ và một số vấn đề đặt ra trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí
Nhà nước và pháp luật, số 12; Trần Hậu Thành (2004), Nhu cầu đào tạo, bồi
dưỡng lý luận chính trị của đội ngũ cản bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã hiện nay
(qua khảo sát ở một số tỉnh, thành phố phía Bắc nước ta), Đề tài khoa học cấp
bộ, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Trần Hữu Thành (2005), “Tư tưởng Hồ
Chí Minh về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 5; Bùi Đình Phong (2005), Tư tưởng Hồ chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ, Nxb Lao động, Hà Nội; Hoàng Chí Bảo (2005), Hệ thống chính trị cơ sở nông
thôn nước ta hiện nay, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội; Nguyễn Chí Mỳ
(2005), “Giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên thực trạng và giải pháp”,
Tạp chí Thông tin công tác tư tưởng, lý luận, số 12; Nguyễn Đức Hà (2009),
“Để xây dựng đội ngũ cán bộ công chức cơ sở vững mạnh”, Tạp chí Cộng
sản, số 30; Nguyễn Lan Phương (2010), “Để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ công chức cấp xã hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, số 42.
Đây là các công trình, đề tài nghiên cứu quan điểm, chủ trương củaĐảng về công tác đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung, cán
bộ chủ chốt cấp cơ sở nói riêng Đồng thời, nghiên cứu yêu cầu và nội dung,phương pháp, cách thức xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
* Những công trình nghiên cứu về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt
ở các Đảng bộ địa phương và tỉnh Hà Nam
Hồ Bá Thâm (1994), Nâng cao năng lực tư duy của đội ngũ cán bộ
lãnh đạo chủ chốt cấp xã hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, Hà Nội; Phạm
Công Khâm (1998), Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã vùng đồng
bằng sông Cửu Long hiện nay, Luận văn thạc sĩ Xây dựng Đảng và chính
Trang 7quyền Nhà nước, Hà Nội; Nguyễn Thái Sơn (2002), Xây dựng đội ngũ cán bộ
lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Luận án tiến sĩ Lịch sử, Hà
Nội; Trần Duy Hưng (2002), Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ thống
chính trị cấp huyện ở thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay, Luận án
tiến sĩ Triết học, Hà Nội; Vũ Trùng Vương, Hoàng Nguyên Hãn (2002),
Những giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ xã, thôn của tỉnh Hà Nam;
Nguyễn Thúy Hường (2008), Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý
trường tiểu học ở huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, Luận văn thạc sĩ Quản
lý giáo dục; Lê Thị Như Hoa (2010), Đảng bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo
công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị cấp cơ
sở từ năm 1997 đến năm 2009, Luận văn thạc sĩ Lịch sử Hà Nội; Phạm
Nhất Linh (2009), Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã của
Đảng bộ tỉnh Cà Mau từ năm 1997 đến năm 2007, Luận văn thạc sĩ Lịch
sử, Hà Nội; Trần Tiến Quân (2012), Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạo xây
dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện từ năm 2001 đến năm 2010, Luận
văn thạc sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội; Phạm Thìn (2014),
Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn từ năm 2001 đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam, Hà Nội; Phạm Tùng Hương (2014), Đảng bộ tỉnh Thái
Nguyên lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội;
Phạm Thị Tuyết Yên (2016), Đảng bộ Quận hà Đông, Thành phố Hà Nội
lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp phường từ năm 2008 đến năm 2015, Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trên đây là những công trình, đề tài nghiên cứu về quá trình lãnh đạoxây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của Đảng bộ các địa phương và riêng tỉnh
Hà Nam, các công trình đã nêu được những thành tựu, hạn chế, đồng thời rút
Trang 8ra những kinh nghiệm có giá trị trong công tác lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán
bộ chủ chốt tại các địa phương, đơn vị đó trong một giai đoạn lịch sử nhất
định Các tác giả nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng đều tựu
chung một mục đích là tập trung xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ cáccấp của Đảng ở các địa phương, đơn vị Các công trình trên đã có những đónggóp về lý luận và thực tiễn để xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp của Đảngngày một vững mạnh thêm
Tất cả các công trình nghiên cứu trên đây đã có những đóng góp nhấtđịnh cả trên phương diện lý luận và phương diện thực tiễn về vấn đề cán bộ vàcông tác cán bộ, đây là nguồn tài liệu quí mà bản thân tôi có thể tham khảo, kếthừa trong quá trình thực hiện viết luận văn Trong thời gian vừa qua chưa thấy
có công trình nào nghiên cứu Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo xây dựng đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp huyện Chính vì vậy tác giả lựa chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh
Hà Nam lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện từ năm 2005 đến năm 2015” với mong muốn có thể nghiên cứu, tổng kết sự lãnh đạo của
Đảng bộ tỉnh Hà Nam về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt góp phần
bổ sung, phát triển thêm về cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, làm tài liệu thamkhảo phục vụ công tác lãnh đạo và xây dựng đội ngữ cán bộ chủ chốt cấphuyện của Tỉnh trong tình hình mới
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán
bộ chủ chốt cấp huyện từ năm 2005 đến năm 2015; từ đó rút ra một số kinhnghiệm có giá trị tham khảo cho hiện tại
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh HàNam về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện của Đảng bộ tỉnh HàNam trong những năm 2005 - 2015
Trang 9Phân tích làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam vềxây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện từ năm 2005 đến năm 2015 qua
2 giai đoạn: giai đoạn 2005 - 2010 và giai đoạn 2011 - 2015
Nhận xét đánh giá ưu điểm, hạn chế, làm rõ nguyên nhân và rút ra một
số kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo xây dựng đội ngũcán bộ chủ chốt cấp huyện những năm 2005 - 2015
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam về xây dựngđội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện
* Phạm vi nghiên cứu
Nội dung: Nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh HàNam về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện trên các vấn đề quyhoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, luân chuyển, quản lý, đánh giá cán bộchủ chốt cấp huyện
Thời gian: Luận văn nghiên cứu khoảng trong khoảng thời gian 10 năm(2005 - 2015) Tuy nhiên để nghiên cứu có hệ thống, luận văn có đề cập đếnmột số nội dung liên quan trước và sau nội dung nói trên
Không gian: Luận văn nghiên cứu ở địa bàn tỉnh Hà Nam
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Trang 10* Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn dựa trên phương pháp chuyênngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó chủ yếu dựa vào phươngpháp lịch sử, phương pháp lôgic và sự kết hợp hai phương pháp đó Ngoài ratác giả còn sử dụng một số phương pháp khác như: phân tích, tổng hợp, thống
kê, so sánh… để làm rõ nội dung nghiên cứu cụ thể
6 Ý nghĩa của luận văn
Luận văn góp phần tổng kết quá trình đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạoxây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện từ năm 2005 đến năm 2015 vàđóng góp những kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ trong xây dựng đội ngũcán bộ chủ chốt cấp huyện, làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác lãnh đạo xâydựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở tỉnh Hà Nam trong thời gian tới
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho việc nghiên cứu,giảng dạy lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam ở các học viện, nhà trường trongquân đội hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm: Mở đầu, 3 chương (6 tiết), kết luận, danh mục tài liệutham khảo và phụ lục
Trang 11Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ NAM
VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP HUYỆN (2005 - 2010)
1.1 Những yếu tố tác động và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Nam về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện (2005 - 2010)
1.1.1 Những yếu tố tác động
* Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Nam
Hà Nam nằm ở phía Tây Nam châu thổ Sông Hồng, cửa ngõ phíaNam Thủ đô Hà Nội, phía Bắc giáp Hà Nội, phía Đông giáp tỉnh Thái Bìnhtỉnh Hưng Yên, phía Nam giáp tỉnh Nam Định, phía Tây và Tây Nam giáptỉnh Hòa Bình, Ninh Bình, có thế lợi trong vùng trọng điểm phát triển kinh
tế Bắc Bộ; có hệ thống giao thông thuận lợi, nằm trên trục giao thông quantrọng xuyên Bắc Nam Trên địa bàn tỉnh có đường sắt Bắc - Nam, Quốc lộ1A, Quốc lộ 21B và Quốc lộ 38 Do vậy Hà Nam thuận lợi trong phát triển,giao lưu kinh tế, văn hóa - xã hội, khoa học - kỹ thuật với các tỉnh trongvùng và trong cả nước Là tỉnh nông nghiệp, địa hình đa dạng, chủ yếu làvùng đồng bằng chiêm trũng, vùng đồi núi và nửa đồi núi, có nguồn tàinguyên đá vôi trữ lượng lớn ở hai huyện Kim Bảng và Thanh Liêm; ngoàisông Hồng còn có hai con sông lớn chảy qua là sông Đáy và sông ChâuGiang thường gây ra sói lở, lũ lụt Yếu tố tự nhiên đã phân hóa mức thunhập của các vùng, ảnh hưởng đến tâm lý và đời sống nhân dân trong pháttriển KT - XH và tạo ra nhiều khó khăn phức tạp cho lãnh đạo xây dựngđội ngũ cán bộ của cấp ủy đảng các cấp, sự đồng thuận, đoàn kết, tương trợcủa cán bộ, đảng viên
Tỉnh Hà Nam được tái lập từ 01/01/1997, có vị trí chiến lược quantrọng về kinh tế - xã hội và QP, AN ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ cũng như cảnước Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 860,5 km2, dân số trung bình 834,1 nghìnngười với 05 huyện và 01 thành phố; mật độ dân số trung bình 961
Trang 12người/km2 Điểm nổi bật của Hà Nam là hệ thống giao thông thuận lợi; cónhiều khu công nghiệp, cơ sở đào tạo và công trình phục vụ dân sinh quy môlớn Diện tích đất nông nghiệp tương đối lớn phù hợp cho sản xuất nôngnghiệp và nuôi trồng thủy sản; ngoài ra Hà Nam còn có trữ lượng đá vôilớn phù hợp cho việc sản xuất vật liệu xây dựng Các khu du lịch kinh tế
mở Tam Chúc - Ba Sao, khu công nghiệp Đồng Văn, Châu Sơn, ĐạiCương, Tây sông Đáy và một số trường Cao đẳng, Trung học chuyênnghiệp và dạy nghề đóng trên địa bàn tỉnh… đã đóng góp tích cực vào quátrình phát triển KT - XH của tỉnh Đã có nhiều dự án đầu tư phát triển vàxây dựng cơ bản trong tỉnh đạt kết quả cao, có nhiều công trình mang ýnghĩa xã hội và phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, quốcphòng, an ninh Song, mặt trái của sự phát triển nhanh cơ sở hạ tầng là sựmất ổn định trật tự an toàn địa bàn, do xáo trộn đời sống bộ phận nhân dânnằm trong diện giãn dân, đền bù đất canh tác Vấn đề đó đòi hỏi tính năngđộng, nhạy cảm của HTCT, vai trò của cán bộ các cấp, nhất là cán bộ chủchốt cấp huyện của tỉnh Hà Nam trong việc tổ chức và tập hợp quần chúngthực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng
Trong công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH, hội nhập và phát triển sâu rộng
KT - XH của tỉnh đã có bước chuyển biến lớn
Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản phát triển tương đối toàn diện,giành thắng lợi lớn về năng suất, sản lượng lương thực và chăn nuôi Cơ cấukinh tế nội bộ ngành nông nghiệp chuyển dịch tích cực, tăng tỷ trọng chănnuôi, thủy sản từ 23,2% (năm 2000) lên 31,3% (năm 2005)
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao, nhất làcông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp địa phương, đã góp phần tăng trưởng vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh
Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội: Công tác lập và quản
lý quy hoạch, xây dựng có tiến bộ, được các cấp, các ngành quan tâm nhiều
Trang 13hơn; bộ mặt kiến trúc đô thị, nông thôn được đổi mới; quản lý chất lượng xâydựng dần đi vào nề nếp Đầu tư phát triển có chuyển biến tích cực, quy môtăng trưởng cao Mạng lưới giao thông, hệ thống thủy lợi được đầu tư nângcấp và xây dựng tương đối đồng bộ.
Tuy nhiên sự phát triển kinh tế ở Hà Nam tính ổn định chưa đảm bảo,chưa khai thác hiệu quả các nguồn lực để tạo bước đột phá kinh tế, sự phânhóa giàu nghèo và chênh lệch trình độ dân cư còn cao Giải quyết việc làm,nhất là việc làm cho người lao động ở những nơi thu hồi đất nông nghiệpchưa đáp ứng được yêu cầu
Dân số Hà Nam phân bố không đều trên địa bàn Tỷ lệ tăng dân số củaTỉnh tương đối nhanh; sự di dân tập trung nhiều ở thành phố, thị trấn, khu côngnghiệp gây nên phức tạp tình hình Trong tỉnh, có 03 tôn giáo: Công giáo,Tin lành, Phật giáo; tín đồ Công giáo đang gia tăng, nguyên nhân là do một
số nhà thờ bị hư hỏng trong chiến tranh được xây dựng lại và sự chuyển vềcủa tín đồ từ các địa phương khác đến Hoạt động tôn giáo, nhìn chung tuânthủ pháp luật; quan hệ giữa các tổ chức, cá nhân tôn giáo đối với HTCT ởcác cấp tiếp tục thay đổi theo hướng tích cực Song, trong các sinh hoạt tôngiáo của các tôn giáo ở một số nơi trên địa bàn có biểu hiện vi phạm, có thờiđiểm phức tạp gây khó khăn cho Tỉnh trên phương diện thực hiện chính sáchtôn giáo, an ninh, chính trị Đó là việc gây sức ép đòi xây dựng lại nhà thờ,đòi đất cho nhà chùa, truyền đạo trái quy định, có chức sắc tôn giáo tư tưởngcực đoan, bảo thủ xúi giục tín đồ gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân Vìvậy, đòi hỏi vai trò, trách nhiệm, năng lực của cán bộ các cấp, các ngành nóichung, cán bộ chủ chốt cấp huyện nói riêng ngày càng được nâng cao, giảiquyết kịp thời mọi tâm tư, tình cảm, xây dựng tinh thần đoàn kết cùng nhauphát triển KT - XH trên địa phương mình phụ trách
Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH tích cực hội nhập kinh tế quốc tế,nền văn hóa của tỉnh Hà Nam càng phong phú đa dạng và được phát huy theo
Trang 14hướng tích cực nằm trong tính thống nhất của văn hóa Việt Nam Những giá trịtruyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp, những thiết chế xã hội cổ truyền được giữvững và phát huy Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tích cực đó thì nhiều yếu tố lạchậu về văn hóa xã hội ở một số địa phương có xu hướng phục hồi chính vì vậy cầnphải phát huy tốt vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, vai trò của đội ngũcán bộ trong gạn đục khơi trong nền văn hóa Do vậy, phải gắn công tác quy hoạchcán bộ chủ chốt với các hoạt động chính trị, KT - XH và con người cụ thể ở từnghuyện; chú ý đến truyền thống, phong tục, tập quán của địa phương Kết hợp giữacái chung với cái riêng để từ đó xác định nguồn, tìm người giao việc và đưa vào kếhoạch đào tạo, bồi dưỡng bằng nhiều biện pháp thiết thực
Với thế mạnh về kinh tế, chính trị xã hội, về tài nguyên: Đất đai, rừng,khoáng sản, Hà Nam thực sự là địa phương giàu tiềm năng có nhiều lợi thế đã vàđang được khai thác phục vụ cho việc phát triển KT - XH Tuy nhiên, tình hình
an ninh chính trị ở một số địa phương trong một số thời điểm còn có sự bất ổn:
Do cách thức tổ chức việc đền bù, giải phóng mặt bằng chưa hợp lý, còn bất cậptrong chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nắm chưa chắc đặc điểm tâm lý nhân dân, chưaphối hợp đồng bộ giữa cấp ủy đảng, giữa cán bộ chủ chốt các cấp trong lãnh đạo,chỉ đạo nhân dân thực hiện mọi đường lối chủ trương của Tỉnh
Trên đây là những nét cơ bản về điều kiện tự nhiên, KT - XH đã và đang ảnhhưởng trực tiếp tới xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở tỉnh Hà Nam.Những đặc điểm trên có tác động không nhỏ đến quá trình lãnh đạo xây dựng đội ngũcán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện nói riêng của tỉnh Hà Namtrong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế
* Đội ngũ cán bộ chủ chốt và thực trạng công tác lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở tỉnh Hà Nam trước năm 2005
Quan niệm đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện
Quan niệm cán bộ chủ chốt cấp huyện: là những cán bộ giữ vị trí trọngyếu nhất trong bộ máy Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội cấp
Trang 15huyện, trực tiếp lãnh đạo, điều hành, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ củaHTCT cấp huyện, tổ chức, động viên quần chúng tham gia tích cực thực hiện
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc tại địa phương
Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện gồm: bí thư, phó bí thư Đảng bộhuyện, chủ tịch, phó chủ tịch UBND và HĐND, chủ tịch Mặt trận Tổ quốc,trưởng các ban, ngành trong bộ máy Đảng và chính quyền, đoàn thể của huyện
Vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện
Cán bộ có vị trí chủ thể của sự nghiệp cách mạng nước ta do Đảng lãnhđạo Vị trí lãnh đạo, vị trí chủ thể của cán bộ là do Đảng, Nhà nước, đoàn thểphân công, và quyền lực của cán bộ cũng như nhiệm vụ của người cán bộ là
do nhân dân giao cho, cán bộ là lực lượng tinh túy nhất của xã hội, có vị trívừa tiên phong vừa là trung tâm của xã hội và có vai trò cực kỳ quan trọngcủa HTCT nước ta, là khâu quyết định thành công của cách mạng, là ngườiđưa Nghị quyết của Đảng, chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nướcvào cuộc sống đạt hiệu quả tốt hơn
Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện là người trực tiếp lĩnh hội mọi nghịquyết, chủ trương, chính sách pháp luật của Tỉnh để triển khai và quán triệt tổchức chỉ đạo thực hiện đến cấp cơ sở; có vai trò quyết định trong xây dựngchủ trương, định hướng chương trình kế hoạch phát triển toàn diện hoặc trongphạm vi từng ngành, từng lĩnh vực ở cấp huyện; chịu trách nhiệm kiểm trakiểm soát mọi lĩnh vực hoạt động diễn ra trên địa bàn theo đúng pháp luật củaNhà nước, đúng định hướng phát triển của Đảng
Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện là người lãnh đạo, đồng thờicũng là người quản lý mọi hoạt động, đảm bảo cho bộ máy chính quyềnhuyện, xã làm đúng chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm mọi nghị quyết, chủtrương chính sách của Tỉnh được thực hiện một cách cụ thể thông suốt và cóhiệu quả đến tận cấp cơ sở
Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện có vai trò thiết lập, duy trì các mốiquan hệ thường xuyên giữa tỉnh với cấp cơ sở, đồng thời cán bộ chủ chốt cấp
Trang 16huyện cũng là tấm gương sáng để cấp dưới, tập thể cơ quan, đơn vị và nhândân trong toàn huyện noi theo.
Thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt và công tác lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở tỉnh Hà Nam trước năm 2005
Quán triệt và thực hiện nghiêm Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII),nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo và quản lý công tác cán bộ cấp huyệntheo chế độ tập thể, đảm bảo dân chủ Trên cơ sở đó, hầu hết các địa phươngtrong tỉnh đã tiến hành xong công tác quy hoạch các chức danh chủ chốt củacấp ủy, chính quyền và đoàn thể Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện của tỉnh
Hà Nam mặc dù được hình thành từ nhiều nguồn, song đã được bố trí tươngđối hợp lý ở các cấp, các ngành, đã có nhiều cố gắng nâng cao trình độchuyên môn, lý luận chính trị, nâng cao năng lực và hiệu quả công tác, đã cónhững đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới đất nước nói chung, thúc đẩy
sự phát triển mọi mặt của Tỉnh nói riêng
Ưu điểm
Đảng bộ tỉnh Hà Nam đã thực hiện tốt nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo
và quản lý công tác cán bộ cấp huyện theo chế độ tập thể, đảm bảo dân chủ Thựchiện Nghị quyết Trung ương ba (khóa VIII) hầu hết các đơn vị đã tiến hành xongcông tác quy hoạch các chức danh chủ chốt của cấp ủy, chính quyền và đoàn thể
Công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ chủ chốt cấp huyện đã cónhiều chuyển biến tích cực về số lượng và chất lượng, được trang bị kiếnthức, ngày càng được nâng cao trình độ nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luậtcủa Nhà nước
Giới tính, độ tuổi thực hiện nghiêm cơ cấu 3 độ tuổi; khi xem xét, phêduyệt quy hoạch thì đồng thời xem xét, bổ sung nhân sự từ nơi khác vào quyhoạch của cấp dưới, cùng với việc xét duyệt dự kiến kế hoạch đào tạo, bồidưỡng, luân chuyển để rèn luyện cán bộ theo quy hoạch
Trang 17Trình độ, năng lực: Tính đến hết năm 2004, số cán bộ lãnh đạo, quản lýtrong tỉnh có trình độ đại học chuyên môn tăng gấp 3,2 lần, trình độ cử nhân,cao cấp chính trị tăng gấp 3,5 lần so với năm 1997 Cán bộ chủ chốt đươngchức và dự nguồn của các sở, ban, ngành, đoàn thể huyện hầu hết có trình độđại học chuyên môn và trình độ cử nhân, cao cấp chính trị [20, tr.38].
Công tác xây dựng cán bộ chủ chốt thường xuyên chú trọng quan tâmhơn, thiết thực đảm bảo đúng quy trình, quy định của trên cũng như điều kiệnthực tế của Tỉnh
Quy hoạch cán bộ nhìn chung đã thực hiện theo nguyên tắc tập trungdân chủ, khách quan và công khai; kết quả quy hoạch cán bộ đã thể hiệnphương châm “động” và “mở”, một chức danh đã quy hoạch nhiều người vàmột người quy hoạch vào nhiều chức danh; có rà soát, đưa ra khỏi quy hoạchnhững người không còn đủ tiêu chuẩn, bổ sung vào quy hoạch những nhân tốmới Trên cơ sở quy hoạch cán bộ, nhiều cấp ủy, cơ quan, đơn vị đã chủ độngxây dựng kế hoạch đào tạo, bố trí, điều động, luân chuyển cán bộ, chuẩn bịđội ngũ cán bộ kế cận; thực hiện việc bổ nhiệm, giới thiệu nhân sự để bầu cửtheo quy hoạch, khắc phục tình trạng quy hoạch cán bộ mang tính hình thức
Quy hoạch tạo nguồn cán bộ đã có kết quả bước đầu, có sự kế thừa,đồng thời có bước phát triển, tạo nguồn cán bộ, góp phần khắc phục dần tìnhtrạng bị động, lúng túng trong công tác cán bộ
Chất lượng cán bộ đưa vào nguồn quy hoạch có sự chuyển biến khá rõ
về trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, độ tuổi, hầu hết số cán bộ được giớithiệu dự nguồn đều có trình độ cao đẳng, đại học về chuyên môn và lý luậnchính trị cử nhân hoặc cao cấp
Chính sách đối với cán bộ trong tỉnh nói chung, đối với cán bộ chủ chốtcấp huyện nói riêng nhìn chung bước đầu đã được quan tâm hơn, có nhữngđiều chỉnh căn bản về chế độ tiền lương, trợ cấp, bảo hiểm…
Có được những kết quả trên là do Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã quán triệtsâu sắc Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Trung
Trang 18ương, vận dụng sáng tạo, ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết phù hợp vớithực tiễn được nhân dân đồng tình ủng hộ Cấp ủy đảng các cấp có quyết tâmcao, mạnh dạn thay đổi tư duy, cách làm theo hướng mở rộng dân chủ, đảmbảo công bằng, công khai đi đôi với việc phát huy đầy đủ trách nhiệm củangười đứng đầu cấp ủy, thủ trưởng cơ quan, đơn vị, cơ quan tham mưu về tổchức cán bộ Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ngày càng đượccủng cố đoàn kết, thống nhất, vững mạnh, là cầu nối giữa nhân dân với Đảng.
Công tác lãnh đạo quản lý cán bộ, bồi dưỡng nghiệp vụ, giáo dục cán
bộ còn lỏng lẻo, có thời điểm chưa gắn chặt vai trò, trách nhiệm của cán bộchủ chốt với cương vị mình đảm nhiệm
Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện: có lúc, có nơi,
có thời điểm chưa gắn chặt công tác quy hoạch với bầu cử, bổ nhiệm, bố trí,
Quy hoạch là công việc khó, nhạy cảm, động đến con người, nhưng chưa
đề cao và chưa gắn với trách nhiệm của tập thể Thường vụ cấp ủy và ngườiđứng đầu cơ quan đơn vị trong vấn đề này
Trang 19Nguyên nhân chủ quan: Nhận thức của Đảng bộ, tính tích cực trong
lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốtcấp huyện còn giản đơn, thiếu sâu sát
Các cấp ủy, người đứng đầu nhận thức chưa đầy đủ, sâu sắc về vị trí, tầmquan trọng của công tác quy hoạch cán bộ; quyết tâm của cấp ủy và người đứng đầuchưa cao, sự chỉ đạo và thực hiện chưa tập trung và thành nếp thường xuyên
* Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng đội ngũ cán
bộ (2005 - 2010)
Nhận thức rõ vị trí đặc biệt quan trọng của công tác xây dựng đội ngũcán bộ, trong tiến trình đổi mới đất nước thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, ĐảngCộng sản Việt Nam xác định trong các nghị quyết, qua các kỳ Đại hội:
Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII(6/1997) về “Chiến lược cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước” Nghị quyết xác định 5 quan điểm về xây dựng đội ngũ cán bộ:
Một là, xây dựng cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
Hai là, xây dựng cán bộ phải quán triệt quan điểm giai cấp công nhân
của Đảng, phát huy truyền thống yêu nước và đoàn kết dân tộc
Ba là, thường xuyên gắn với việc xây dựng đội ngũ cán bộ với xây
dựng tổ chức và đổi mới cơ chế, chính sách
Bốn là, xây dựng cán bộ phải thông qua hoạt động thực tiễn và phong
trào cách mạng của nhân dân, nâng cao trình độ dân trí để tuyển chọn, giáodục, rèn luyện, bồi dưỡng cán bộ
Năm là, Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ
cán bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đồng thời phát huy trác nhiệm củacác tổ chức thành viên trong HTCT [14, tr 75-78]
Với mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp từ Trung ương đến cơ sởluôn có phẩm chất và năng lực, bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng dựatrên cơ sở lập trường của giai cấp công nhân của Đảng, thường xuyên đảm
Trang 20bảo đủ về số lượng, cơ cấu và tổ chức, đề bạt, bổ nhiệm giao việc đúng lúc,đúng tầm, liên tục vững vàng thay thế kịp thời khi cần thiết giữa các thế hệcán bộ Nghị quyết đề ra tiêu chuẩn cho cán bộ nói chung và từng thành phầncán bộ cụ thể nói riêng, bảo đảm nguồn cán bộ trong mỗi nhiệm kỳ có bướcphát triển khoảng 30% - 40% số cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thểcác cấp và cán bộ lãnh đạo lực lượng vũ trang Bên cạnh đó, Nghị quyết xácđịnh một cách cơ bản hơn một số nhiệm vụ, giải pháp lớn về xây dựng quyhoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; phấn đấu đến năm 2020 số người có trình
độ đại học, cao đẳng trở lên bằng 4% dân số cả nước Đồng thời xây dựng cácquy chế về công tác cán bộ, thường xuyên đổi mới và hoàn thiện hệ thốngchính sách cán bộ, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ CNH, HĐH, giữ vữngđộc lập, tự chủ, tự lực, tự cường từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội
Cụ thể hóa quan điểm, mục tiêu chiến lược cán bộ của Nghị quyếtTrung ương ba khóa VIII, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, Đạihội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (4/2006) hoàn thiện hơn về cán bộ vàxây dựng đội ngũ cán bộ Nghị quyết xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm
vụ, giải pháp đổi mới công tác cán bộ: “Tiếp tục đổi mới đồng bộ các khâu củacông tác cán bộ, tạo chuyển biến cơ bản, vững chắc trong công tác cán bộ; xâydựng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu các cơquan, đơn vị, thật sự vì Đảng, vì dân, có bản lĩnh và trí tuệ” [17, tr.280] Sự gươngmẫu của cán bộ đặc biệt là cán bộ chủ trì các cấp, cán bộ cấp cao phải gương mẫutrong lời nói và việc làm, phải đi đầu trong trong đạo đức và lối sống, thườngxuyên bảo đảm tính kế thừa và phát triển, làm tốt việc xây dựng và thực hiệnchính sách cán bộ, phát triển nhân tài đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH đấtnước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định nhiệm vụ, giảipháp tiếp tục đổi mới công tác cán bộ là: “Xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ,
có cơ cấu hợp lý, chất lượng tốt, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo kế tiếpvững vàng Chú ý đào tạo cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ xuất thân
Trang 21từ công nhân, chuyên gia trên các lĩnh vực; bồi dưỡng nhân tài theo địnhhướng quy hoạch” [17, tr.136].
Với mục tiêu chung xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vữngvàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh, không quan liêu, xa hoa, tham nhũng,lãng phí, kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội, bệnh quan liêu, thamnhũng, lãng phí, có tư duy tích cực, đổi mới, sáng tạo, có kiến thức chuyênmôn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH; luôn luôn
có tinh thần đoàn kết, hợp tác, ý thức tổ chức kỷ luật, phong cách làm việckhoa học, đề cao tôn trọng tập thể, có tinh thần đoàn kết yêu thương gắn bóvới nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước tập thể và cánhân những việc mình làm Xây dựng đội ngũ cán bộ luôn có tính đồng bộ, cótính kế thừa và phát triển, số lượng và cơ cấu hợp lý Với nhiệm vụ quan trọnglà: “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, trước hết là cán bộ lãnh đạo cấp chiếnlược và người đứng đầu tổ chức các cấp, các ngành trong hệ thống chính trị” [17,tr.293] Đại hội xác định đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, và toàn quân
mà trước hết là của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị Do vậy, cần phải
có kế hoạch chu đáo, cụ thể, tỉ mỉ gắn với các giải pháp đồng bộ, có hiệu lực đểthực hiện Bên cạnh đó, Đại hội nhấn mạnh đặc biệt thường xuyên quan tâm xâydựng đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ vùng dân tộc thiểu số, cán bộ xuấtthân từ công nhân, từ con em những gia đình có công với cách mạng và xuấtthân từ những gia đình truyền thống, dòng họ hiếu học
Việc quán triệt và thực hiện đúng nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạocông tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, luôn luôn đề cao vai trò, tráchnhiệm của các tổ chức trong HTCT và người lãnh đạo, chỉ huy đứng đầu tổchức Kịp thời động viên, khích lệ, khen thưởng, có chính sách tôn vinhnhững người có công, gương điển hình tiên tiến; có cơ chế bố trí sử dụng hợp
lý, đúng người, đúng việc phù hợp với năng lực và trình độ, cống hiến hếtmình vì nước, vì dân; thường xuyên khuyến khích những người có trình độ,năng lực, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, nhiều sáng kiến hay và ý
Trang 22tưởng mới Cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp có thẩm quyền phải chủ trì và chịutrách nhiệm về công tác tổ chức cán bộ theo đúng nguyên tắc tập trung dânchủ, tập thể quyết định và xác định rõ trách nhiệm cá nhân, nhất là tráchnhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ
Thường xuyên mở rộng phát huy dân chủ đề cao tập thể, thực hiệncông khai, minh bạch trong bố trí, sử dụng, sắp xếp, bổ nhiệm cán bộ; cấp ủycác cấp coi trọng việc đánh giá, kiểm tra cán bộ phải căn cứ vào tiêu chuẩn,
sự tín nhiệm, xem xét giới thiệu để đề cử, bầu cử, hoặc bổ nhiệm cán bộ.Công tác cán bộ phải thật khách quan, công khai, minh bạch đảm bảo nhữngngười thực sự có đức, có tài, không phân biệt mọi tầng lớp giai cấp đồng thờikhắc phục những biểu hiện cá nhân, cục bộ, bè phái, dòng họ, tham vị, cốquyền, thiếu dân chủ, nể nang, tuỳ tiện trong công tác cán bộ
Triển khai mạnh mẽ, đồng bộ các khâu, các bước trong đánh giá, quyhoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng, xây dựng và thựchiện chính sách cán bộ đảm bảo luôn có sự đổi mới Lấy hiệu quả hoànthành nhiệm vụ chính trị làm thước đo phẩm chất và năng lực để đánh giácán bộ, thật khách quan, công khai minh bạch Đối với cán bộ lãnh đạo, cán
bộ chủ trì khi đánh giá phải căn cứ vào hiệu quả công tác, khả năng pháthuy sức mạnh, tinh thần đoàn kết của tập thể, cơ quan, đơn vị, địa phươngđược đảm nhiệm, phụ trách, luôn là tấm gương sáng đi đầu trong mọi côngviệc; không tham nhũng, lãng phí, không quan liêu, xa dân, là người đi đầutrong phòng và chống tham nhũng, lãng phí Kiên quyết xử lý nghiêm cán
bộ thoái hóa biến chất, không bổ nhiệm, đề bạt những người thiếu phẩmchất và năng lực trong thực hiện nhiệm vụ đồng thời khoan dung nhữngngười thành thật nhận, dám làm, dám chịu và sửa chữa sai lầm, khuyếtđiểm Công tác chính sách, chế độ tiền lương, Đại hội tiếp tục đề cập vàthực hiện nhất là chế độ chính sách đối với người có công, cán bộ lão thànhcách mạng và cán bộ hưu trí
Trang 23Đối với công tác bầu cử, Đại hội xác định phải đổi mới và hoàn thiệnchế độ bầu cử, trong bầu cử có số dư, thực hiện nghiêm quyền tiến cử và ứng cử,luôn có các phương án nhân sự trong bầu cử và bổ nhiệm cán bộ đúng quy trình
đề ra Đổi mới và thực hiện tốt quy trình bỏ phiếu tín nhiệm trong công tác cán
bộ, từ chức, thôi chức, miễn chức và cách chức đối với những cán bộ vi phạmhoặc không hoàn thành nhiệm vụ Thực hiện cơ chế đảng viên và nhân dân thamgia giám sát cán bộ và công tác cán bộ, mở rộng phân cấp quản lý đi đôi với tăngcường kiểm tra công tác cán bộ Bên cạnh đó thực hiện tốt các khâu, các bướctrong cơ chế tuyển chọn, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, quản lý, giám sát cán bộ saubầu cử, bổ nhiệm và trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; các quy định, quyềnhạn, vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ
Chính sách cán bộ được Đại hội quan tâm và thường xuyên xây dựng,thực hiện trọng dụng, thu hút nhân tài, những người có năng lực, trình độchuyên môn cao vào các lĩnh vực trọng yếu Bên cạnh đó, Đại hội tiếp tục thựchiện chủ trương khuyến khích đưa cán bộ, học sinh, sinh viên có đạo đức, cótriển vọng đi đào tạo ở nước ngoài, làm tốt công tác chính sách, quản lý, giáodục, sử dụng sau khi đào tạo để cán bộ yên tâm phát huy năng lực của mình
Trên cơ sở cụ thể hóa đường lối Đại hội X của Đảng, Nghị quyết Hội
nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa X (1/2009), kết luận về tiếp
tục đẩy mạnh thực hiện chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020, một lần nữa
khẳng định tính đúng đắn trong xây dựng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ, tậptrung thực hiện tốt quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp sau:
Quan điểm mục tiêu về xây dựng đội ngũ cán bộ:
Một là, cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn
liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốttrong công tác xây dựng Đảng Phải thường xuyên chăm lo xây dựngđội ngũ cán bộ, đổi mới công tác cán bộ gắn với đổi mới phương thứclãnh đạo của Đảng
Trang 24Hai là, phải xuất phát từ chiến lược phát triển KT - XH và bảo vệ Tổ quốc, từ
yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, CNH,HĐH đất nước nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xãhội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội
Ba là, quán triệt quan điểm giai cấp công nhân của Đảng, phát huy sức
mạnh toàn dân tộc, truyền thống yêu nước, đại đoàn kết và gắn bó mậtthiết với nhân dân; tập hợp rộng rãi các thành phần cán bộ, trọng dụngnhân tài, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, người ở trong nước hayngười Việt Nam định cư ở nước ngoài
Bốn là, gắn việc xây dựng đội ngũ cán bộ với xây dựng tổ chức và đổi
mới cơ chế, chính sách, với việc học tập và làm theo tấm gương đạođức Hồ Chí Minh
Năm là, thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của
nhân dân nâng cao trình độ dân trí, phát triển nguồn nhân lực chấtlượng cao để tuyển chọn, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng cán bộ Phảidựa vào nhân dân để phát hiện, kiểm tra và giám sát cán bộ
Sáu là, Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán
bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đi đôi với phát huy trách nhiệmcủa các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong HTCT [18, tr.271].Một lần nữa Nghị quyết đã khẳng định cán bộ nhân tố quyết địnhđến vận mệnh của đất nước, đề cao sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc,truyền thống yêu nước và gắn bó mật thiết với nhân dân không phân biệtthành phần giai cấp, tầng lớp xuất thân, người ở trong nước hay ngoàinước Thông qua hoạt động thực tiễn để tuyển chọn, giáo dục, rèn luyện
và bồi dưỡng cán bộ; đề cao phát huy vai trò của nhân dân trong pháthiện, kiểm tra và giám sát cán bộ Chủ trương của Đảng một lần nữakhẳng định thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán
bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, đề cao vai tròtrách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu
Trang 25Mục tiêu cần đạt được là: “Xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnhchính trị vững vàng, phẩm chất và năng lực tốt, cơ cấu phù hợp với chiếnlược phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm sự chuyểntiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán bộ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụcủa thời kỳ mới” [18, tr273].
Bên cạnh đó Hội nghị cũng đã xác định bốn nhiệm vụ trọng tâm là:
Thứ nhất, rà soát, bổ sung quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các
cấp; thực hiện việc xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ cấp chiến lược
Thứ hai, hoàn thiện, ban hành và thực hiện tốt các cơ chế, chính sách
về: Quy chế bầu cử trong Đảng; quy chế đánh giá cán bộ; quy định vềthẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trongcông tác cán bộ; cải tiến việc lấy phiếu tín nhiệm cán bộ; chính sách xử
lý, sử dụng và quản lý cán bộ, đảng viên có vấn đề về lịch sử chính trị;chính sách nhà ở của cán bộ, công chức và lực lượng vữ trang; chínhsách đối với cán bộ xã, phường, thị trấn; chính sách thu hút, tạo nguồncán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, các nhà khoa học trẻ để bổ sungcán bộ cho các lĩnh vực công tác [18, tr.278]
Thứ ba, nghiên cứu, xây dựng và thực hiện thí điểm một số đề án: đề án
thực hiện chủ trương đại hội đảng bộ cơ sở trực tiếp bầu ban thường vụ
và bí thư, phó bí thư; đề án nhất thể hóa một số tổ chức và chức danhlãnh đạo Đảng, chính quyền ở cấp xã, huyện, tỉnh; đề án đổi mới cáchtuyển chọn cán bộ lãnh đạo cấp vụ và cấp phòng; thực hiện chế độ thựctập và tập sự lãnh đạo
Thứ tư, triển khai xây dựng các đề án về: chiến lược quốc gia về nhân
tài và Chương trình quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; cơ chế đảngviên và nhân dân tham gia giám sát cán bộ và công tác cán bộ, đổi mớicông tác thi đua, khen thưởng; tiếp tục thực hiện tinh giảm biên chế gắnvới việc mở rộng thực hiện chủ trương khoán chi phí hành chính, khoánquỹ lương trong các cơ quan hành chính [18, tr.279]
Trang 26Quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ nóichung và đội ngũ cán bộ chủ chốt nói riêng được xác định trong Nghị quyếtHội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nghị quyết Đại hộiĐại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín BanChấp hành Trung ương khóa X là cơ sở để Đảng bộ tỉnh Hà Nam quán triệt,vận dụng, đề ra các chủ trương, biện pháp lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộchủ chốt cấp huyện trong những năm 2005 - 2010.
1.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Nam về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện (2005 - 2010)
Quán triệt sâu sắc chủ trương, quan điểm của Đảng, Nghị quyết Đại hội đạibiểu Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XVII (2005) nhiệm kỳ 2006 - 2010; Nghị quyết
số 17 - NQ/TU (2005) của Tỉnh ủy về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý; Nghị quyết số 07 - NQ/TU (2007) của Tỉnh ủy về phát triển nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu thời kỳ CNH, HĐH; Nghị quyết số 10- NQ/TU
(2008) của Tỉnh ủy về công tác luân chuyển, bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý các cấp trong tỉnh đến năm 2010 và những năm tiếp theo
* Mục tiêu tổng quát
Kết hợp các loại hình đào tạo, bồi dưỡng, hoàn thiện tiêu chuẩn nghiệp
vụ của từng loại cán bộ chủ chốt trên cơ sở Đảng và Nhà nước ban hành Thờigian tới khi thực hiện bổ nhiệm mới cán bộ, công chức vào các chức danhlãnh đạo cấp tỉnh, cấp huyện phải đảm bảo đúng tiêu chuẩn theo từng chứcdanh đã được quy định, có bằng đại học và cao cấp chính trị
Từ cuối năm 2005 trở đi, tất cả các chủ tịch, phó chủ tịch Hội đồngnhân dân, ủy ban nhân dân tỉnh, huyện là chuyên viên cao cấp, chuyênviên chính, chuyên viên trong toàn bộ hệ thống chính trị phải được đàotạo về lý luận chính trị, bồi dưỡng kiến thức quản lý hành chính nhànước theo quy định của từng ngạch, từng chức danh; cán bộ chủ chốtcấp huyện có độ tuổi từ 45 trở xuống và tốt nghiệp chuyên môn lý luậnchính trị cao cấp [45, tr.8]
Trang 27Tập trung đào tạo và nâng cao trình độ chính trị, kiến thức chuyên môn,năng lực quản lý điều hành với mục tiêu xây dựng cán bộ chủ chốt cấphuyện có bản lĩnh chính trị vững vàng có trình độ mọi mặt về chuyênmôn, nghiệp vụ, lý luận và quản lý nhà nước Quan tâm, khuyến khích
và tạo điều kiện cho cán bộ học tập, đào tạo, kế cận nguồn các chứcdanh chủ chốt [45, tr.19]
* Mục tiêu cụ thể
Tập trung đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của từngngạch, từng chức danh cán bộ chủ chốt cấp huyện Cán bộ chủ chốt đươngchức và dự nguồn phải có trình độ đại học chuyên môn và trình độ cử nhâncao cấp chính trị Phấn đấu 80% công chức sự nghiệp giai đoạn 2005 - 2010được đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng, phương phápthực hiện công vụ
Đến năm 2010: 100% cán bộ công chức các sở, ban, ngành, tổ chức cơquan, đơn vị tương đương cấp tỉnh và UBND các huyện, thị được trang
bị kiến thức, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ đạt chuẩn theo yêu cầucông vụ; hằng năm có 20 - 30% cán bộ chủ chốt cấp huyện được đàotạo bồi dưỡng lý luận chính trị, kiến thức quản lý nhà nước, pháp luật
và chuyên môn nghiệp vụ [48, tr.3]
Trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, Đảng bộ tỉnh quan tâm lãnhđạo công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lýluận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý Thực hiện tốt việc luân chuyểnchức danh đúng theo chuyên môn Cấp ủy Đảng cũng đã chăm lo thườngxuyên đến công tác cán bộ, kiện toàn củng cố xây dựng đội ngũ cán bộ mộtcách đồng bộ, tập trung đào tạo, bồi dưỡng những cán bộ nòng cốt ở các cấp,đặc biệt là cấp huyện
Chú trọng mở các lớp đào tạo tại chức những cán bộ trong diện nguồnquy hoạch có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; nghiêm chỉnh chấp hành chủ
Trang 28trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước; hàng năm hoàn thành tốt nhiệm vụđược giao đảm bảo chuyên ngành đào tạo phải phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ;
cơ cấu chức danh, trên từng cương vị đảm nhiệm, phụ trách
Trong công tác quy hoạch, Đảng bộ tỉnh luôn coi trọng khâu đánhgiá cán bộ, đánh giá cán bộ là khâu bắt buộc trước khi tiến hành xây dựngquy hoạch Xây dựng tiêu chuẩn cán bộ đưa vào quy hoạch do đó lấy hiệuquả hoàn thành nhiệm vụ để đánh giá năng lực, trình độ của cán bộ chủchốt cấp huyện
Hai là, từng bước điều chỉnh việc bố trí, sắp xếp cán bộ hợp lý hơn.
Khắc phục tình trạng cục bộ, khép kín trong từng ngành, từng địa phương, tạođiều kiện thuận lợi để đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện trưởng thành về mọimặt Tập trung xây dựng bồi dưỡng đội ngũ cán bộ các cấp vừa có kiến thứcchuyên môn, kiến thức lý luận và kinh nghiệm chỉ đạo hoạt động thực tiễnmang lại hiệu quả cao trong công tác
Ba là, tạo điều kiện để rèn luyện, bồi dưỡng, thử thách cán bộ, nhất là cán
bộ trẻ có triển vọng trong quy hoạch, giúp cán bộ có kiến thức thực tiễn toàndiện, tạo nguồn cán bộ đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài trong tỉnh [49, tr.2]
* Giải pháp
Thực hiện nhiệm vụ về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt trong thời kỳCNH, HĐH Đảng bộ tỉnh luôn quan tâm chăm lo, tạo điều kiện về mọi mặttrong xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện để đáp ứng yêu cầu, nhiệm
vụ tình hình mới, các giải pháp cơ bản được xác định:
Trang 29Một là, gắn công tác đào tạo, bồi dưỡng với công tác quy hoạch đào
tạo và sử dụng cán bộ chủ chốt cấp huyện nhất là về kiến thức quản lýkinh tế, công nghệ, tin học, ngoại ngữ, đảm bảo nâng cao nguồn nhân lựctại chỗ “Khuyến khích, tạo điều kiện để cán bộ chủ chốt cấp huyện đươngchức và dự nguồn có đủ điều kiện đi đào tạo, bồi dưỡng ở trong và ngoàinước Triển khai thực hiện tốt đề án đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giaiđoạn 2007 - 2010” [48, tr.5]
Hai là, thực hiện tốt chính sách tuyển chọn, đào tạo bồi dưỡng cán bộ,
gắn đào tạo với sử dụng cán bộ Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tậphuấn kiến thức theo chuyên đề cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện; nângcao chất lượng công tác đánh giá, quy hoạch cán bộ, có chính sách khuyếnkhích cán bộ, phát huy sáng tạo, sáng kiến trong công việc
Ba là, làm tốt công tác quy hoạch cán bộ Có kế hoạch đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ chủ chốt cấp huyện về lý luận chính trị, công tác quản lý,chuyên môn nghiệp vụ và thực tiễn nhất là đội ngũ cán bộ kế cận trong quyhoạch của toàn bộ HTCT từ tỉnh đến cơ sở [20, tr.72]
Bốn là, tăng cường cơ chế chính sách thu hút, sử dụng, bồi dưỡng nhân
tài, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ luân chuyển đến cơ sở Có chính sáchkhuyến khích cán bộ trẻ, cán bộ nữ tham gia học tập, nâng cao trình độchuyên môn, lý luận chính trị, nghiệp vụ công tác
Năm là, thực hiện tốt luân chuyển cán bộ Luân chuyển những đồng
chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó chủ tịch HĐND, UBND tỉnh vàcác đồng chí trong quy hoạch các chức danh trên có độ tuổi dưới 50 đốivới nam, dưới 45 đối với nữ chưa qua lãnh đạo chủ chốt cấp huyện đếnđảm nhận các chức danh lãnh đạo chủ chốt ở các huyện [49, tr.4] Đảng
bộ tỉnh có chế độ, chính sách đãi ngộ, tạo điều kiện thuận lợi cho công tácđiều động, luân chuyển cán bộ trong tỉnh được kịp thời và phù hợp vớiđiều kiện thực tế của từng huyện
Trang 301.2 Đảng bộ tỉnh Hà Nam chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện (2005 - 2010)
1.2.1 Chỉ đạo công tác quy hoạch cán bộ chủ chốt cấp huyện
Quy hoạch cán bộ là một chủ trương lớn của Đảng, được khẳng địnhtrong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 ban Chấp hành Trung ương (Khóa VIII)
về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và được nhấnmạnh trong Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX)
về công tác tổ chức cán bộ
Thực hiện Nghị quyết số 42 - NQ/TW ngày 30/11/2004 của Bộ Chính
trị về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh CNH,
HĐH đất nước; ngày 06/01/2005 Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Chỉ
thị số 21 - CT/TU để chỉ đạo thực hiện Nghị quyết với các cấp trong toàntỉnh và yêu cầu phải nhận thức đầy đủ về mục đích, quan điểm, nguyên tắc
và phương châm của công tác quy hoạch cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộchủ chốt có phẩm chất và năng lực, có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ
sở lập trường giai cấp công nhân, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu đảmbảo sự chuyển tiếp liên tục giữa các thế hệ cán bộ nhằm thực hiện thắng lợinhiệm vụ CNH, HĐH
Ban Thường vụ Tỉnh ủy cũng chỉ đạo cấp ủy các cấp cần nắm vững nộidung và phương pháp quy hoạch cán bộ, phải căn cứ vào tiêu chuẩn chungcủa từng loại cán bộ đã được nêu trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3(khóa VIII) để quy hoạch cán bộ, thường xuyên đổi mới cách thức tiến hànhquy hoạch trên cơ sở đáp ứng mục đích, yêu cầu và các quan điểm nguyên tắcxây dựng quy hoạch
Ban Thường vụ Tỉnh ủy cũng đã chỉ đạo Ban Tổ chức Tỉnh ủy căn cứvào hướng dẫn của Trung ương có hướng dẫn cụ thể nội dung và phươngpháp quy hoạch cán bộ; chủ trì phối hợp với ban xây dựng Đảng có liên quanthực hiện đúng quy trình nghiêm túc, khách quan
Trang 31Từ công tác quy hoạch cán bộ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo Ban
Tổ chức Tỉnh ủy, Ban Tổ chức chính quyền tỉnh, Trường Chính trị tỉnh xâydựng kế hoạch, chương trình đào tạo, bồi dưỡng đối với từng loại hình cán bộphù hợp của từng địa phương, đơn vị; các cấp ủy đảng có kế hoạch cử cán bộcho đi đào tạo, bồi dưỡng các lớp chuyên môn, nghiệp vụ quản lý kinh tế,quản lý nhà nước, lý luận chính trị ở Trung ương và địa phương Mở rộngdiện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tạo nguồn cán bộ lãnh đạo và quản lý cấp tỉnhđến cơ sở, từ năm 2005 trở đi, những cán bộ chủ chốt dưới 45 tuổi từ cấphuyện trở lên ít nhất phải có trình độ đại học về chuyên môn, cử nhân hoặccao cấp lý luận chính trị, đào tạo bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm, đề bạt
Thực hiện công tác lựa chọn phát hiện nguồn cán bộ kế cận, lâu dài.Hàng năm UBND tỉnh có các quyết định về biên chế sự nghiệp trong toàntỉnh; Quyết định số 306/QĐ-UBND ngày 07 tháng 03 năm 2008 Ban hànhChương trình hành động thực hiện nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấphành Trung ương Đảng khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng caohiệu lực, quản lý của bộ máy nhà nước với mục tiêu “xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức có đạo đức, năng lực quản lý và kỹ năng thực thi nhiệm vụ.Nâng cao chất lượng phục vụ trong giải quyết công việc tạo điều kiện thuậnlợi cho doanh nghiệp và nhân dân” [80, tr.1]
Thực hiện quy hoạch “động” và “ mở” quan tâm cán bộ trẻ, cán bộ nữ
có phẩm chất, năng lực vào quy hoạch triển khai các bước trong quy trình xâydựng quy hoạch cán bộ được thực hiện dân chủ, công khai, bảo đảm sự lãnh đạocủa Đảng, đồng thời phát huy vai trò của các tổ chức và HTCT và người đứngđầu đặc biệt là nguồn cán bộ chủ chốt Số lượng cán bộ đưa vào quy hoạch cácchức danh đảm bảo hệ số: quy hoạch các chức danh lãnh đạo có từ 2 đến 3 ngườicho một chức danh, một người có thể quy hoạch được nhiều chức danh; việcphát hiện giới thiệu nguồn không khép kín trong từng ngành, từng địa phương;nội dung và cách làm quy hoạch mới về cơ bản được các cấp ủy, các ngành
Trang 32thống nhất cao, được đông đảo cán bộ, đảng viên đồng tình Từ đó, kết quả quyhoạch đã tạo nguồn cán bộ dồi dào cho việc đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, luânchuyển cán bộ đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo được thông suốt.
Kết quả thực hiện công tác quy hoạch:
Ban Thường vụ Tỉnh ủy tổng số 30 đồng chí, nữ: 03 đồng chí = 10%;tuổi từ 41 - 45: 02 đồng chí = 6,7%
Bí thư Tỉnh ủy: tổng số 03 đồng chí, nữ 01 đồng chí = 33,3%
Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy: tổng 04 đồng chí, nữ: 01 đồng chí = 25%.Chủ tịch HĐND tỉnh tổng số 02 đồng chí, nữ: 01 đồng chí = 50% Phó Bí thư,Chủ tịch UBND tỉnh tổng số 07 đồng chí
Ban Thường vụ huyện, thành ủy: tổng số 119 đồng chí, nữ: 15 đồng chí
= 12,6% Tuổi trẻ dưới 35 tuổi 03 đồng chí; tuổi bình quân 48 tuổi Trình độchuyên môn cao đẳng, đại học trở lên 96 đồng chí, trong đó thạc sỹ 05 đồngchí; trình độ lý luận chính trị cử nhân cao cấp 101 đồng chí [53, tr.1]
1.2.2 Chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt
Trên cơ sở thực hiện Nghị quyết lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ươngĐảng lần thứ VIII, Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản ViệtNam, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XVII, quántriệt chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Nam về xây dựng đội ngũ cán bộ chủchốt cấp huyện (2005 - 2010) Căn cứ vào Quyết định số 40/2006/QĐ/TTg
ngày 15 tháng 2 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2006 - 2010; Quyết định số
19/2009/QĐ - UBND ngày 08 tháng 6 năm 2009 về chế độ, chính sách đối
với cán bộ, công chức, viên chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng; chính sách thu hút nguồn nhân lực có trình độ cao.
Chỉ đạo sâu sát từ việc xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng độingũ cán bộ, công chức giai đoạn 2006 - 2010 nhằm bổ sung những kiếnthức cán bộ cần và thiếu, không để đào tạo tràn lan, hiệu quả thấp Trang bị,
Trang 33nâng cao kiến thức năng lực quản lý điều hành, trình độ chính trị, chuyên mônnghiệp vụ cho cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng tốt hơn nữa yêu cầu, nhiệm vụchính trị của tỉnh Không ngừng nâng cao vai trò trách nhiệm của HTCT, bảođảm cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấphuyện nói riêng của tỉnh có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất tốt đủ nănglực thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khi được giao Đảng bộ tỉnh thườngxuyên chỉ đạo, bồi dưỡng các đối tượng công chức hành chính, đội ngũ trí thức
cả việc đào tạo dài hạn và ngắn hạn
Thường xuyên trang bị đủ kiến thức quy định theo tiêu chuẩn côngchức lãnh đạo quản lý, công chức các ngạch cán sự, chuyên viên, chuyênviên chính Phấn đấu đến năm 2010, 100% công chức lãnh đạo cấp vụ, cấphuyện được trang bị kỹ năng lãnh đạo, quản lý và kỹ năng phối hợp xử lýtốt các công việc Đối với công tác tạo nguồn cho đội ngũ cán bộ chủ chốtĐảng bộ tỉnh đã quan tâm đào tạo bằng nhiều hình thức, vừa đào tạo tậptrung vừa đào tạo tạo tại chức, vừa đào tạo trình độ chuyên môn, vừa đàotạo trình độ lý luận chính trị, kết hợp đào tạo trong nước và đào tạo trình độcao ở nước ngoài theo chương trình Đề án 165 của Ban Tổ chức Trungương Quan tâm bồi dưỡng ngắn hạn, cập nhật kiến thức mới về quản lýnhà nước, nghiệp vụ công tác, kiến thức quốc phòng, tin học, ngoại ngữ.Phân công cán bộ giúp đỡ các đồng chí trong quy hoạch, đào tạo thông quagiao việc cho cán bộ để cán bộ thể hiện năng lực và khả năng phát triển
Một hình thức đào tạo được Đảng bộ tỉnh quan tâm và tập trung chỉ đạo
đó là công tác luân chuyển cán bộ theo tinh thần Nghị quyết 11 của Bộ Chínhtrị và Nghị quyết 10 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, đây là hình thức đào tạo độingũ cán bộ trong thực tiễn công tác ở cơ sở, giúp cán bộ có kiến thức toàndiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau và nhiều môi trường khác nhau Thông quagiao việc cho cán bộ đã giúp nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lý luận
Trang 34chính trị và kinh nghiệm trong lãnh đạo, quản lý điều hành từ đó đội ngũ cán
bộ chủ chốt cấp huyện trưởng thành về mọi mặt
Trong giai đoạn 2005 - 2010, Đảng bộ tỉnh đã quan tâm chỉ đạocông tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luậnchính trị cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt, đặc biệt là quan tâm chuyên môn vữngvàng cho cán bộ chủ chốt cấp huyện như đào tạo chuyên môn sau đại học; cử
đi học các lớp cao cấp lý luận chính trị trong đó quan tâm chú trọng đào tạo,bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nữ, cán bộ trẻ có nhiều triển vọng phát triển
Thực hiện sự chỉ đạo của Đảng Bộ tỉnh trong giai đoạn 2005 - 2010UBND tỉnh đã ban hành 02 Quyết định là: Quyết định số 08/2009/QĐ-
UBND, ngày 11 tháng 3 năm 2009 của UBND tỉnh về việc tuyển dụng công
chức về làm việc ở cấp xã; Quyết định 19/2009/QĐ-UBND, ngày 08 tháng 6
năm 2009 ban hành về quy định về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công
chức, viên chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng và chính sách thu hút nguồn nhân lực có trình độ cao Tỉnh ủy, UBND quan tâm đầu tư cơ sở vật chất,
trang bị cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm việc, thường xuyên tổchức các lớp học nghị quyết cho đội ngũ cán bộ chủ chốt trong tỉnh, thôngqua việc quán triệt, học tập, tuyên truyền đã giúp cho cán bộ chủ chốt nóichung, cán bộ chủ chốt cấp huyện nói riêng nhận thức rõ vị trí vai trò tráchnhiệm cuả mình trong thực hiện nhiệm vụ
Thực hiện Chương trình 112/2001/QĐ-TTg ngày 25 tháng 7 năm
2001 của Thủ tướng Chính phủ, chấp hành nghiêm túc cơ chế đào tạo tinhọc bắt buộc cho toàn bộ cán bộ chủ chốt trong toàn tỉnh Quan tâm,khuyến khích, hỗ trợ cho cán bộ học ngoại ngữ đặc biệt là cán bộ chủ chốtcấp huyện, đồng thời khuyến khích cán bộ tự học, tự rèn Trong công tácđào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải thường xuyên nâng cao việc quy hoạch,đào tạo phải đúng đối tượng, gắn với nhu cầu sử dụng trước mắt và lâudài Từng bước cải tiến nâng cao chất lượng nội dung chương trình đào
Trang 35tạo, lý luận gắn với thực tiễn, nhà trường gắn với yêu cầu của địa phương.Bên cạnh đó cũng đã xây dựng cơ chế giám sát, kiểm tra đánh giá kết quảtrong và sau đào tạo.
Chỉ đạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện cả về lý luậnchính trị và chuyên môn nghiệp vụ Thường xuyên đổi mới nội dung, phươngpháp, nâng cao chất lượng, bám sát nhiệm vụ chính trị, thường xuyên nắm bắttình hình thực tế địa phương mình đảm nhận Công tác giáo dục lý luận chínhtrị được coi trọng
Công tác bồi dưỡng cán bộ được trú trọng và đẩy mạnh nhất là bồidưỡng nghiệp vụ xây dựng Đảng, bồi dưỡng kiến thức QP, AN, nghiệp vụcông tác Bồi dưỡng cập nhật kiến thức mới phục vụ kịp thời cho công tácchuyên môn, công tác lãnh đạo, quản lý và tham mưu cho cấp ủy
Chất lượng đào tạo lý luận chính trị Cơ bản đáp ứng tốt yêu cầu nângcao trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ trong tình hình mới Nhậnthức tư tưởng, bản lĩnh chính trị, niềm tin của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấphuyện được củng cố và nâng cao đã góp phần tích cực nâng cao năng lực lãnhđạo, quản lý và hiệu quả hoạt động thực tiễn công tác
Thực tiễn từ năm 2006 - 2010 đã chọn cử được 96 lượt đồng chí là cán
bộ đương chức, dự nguồn các chức danh lãnh đạo quản lý các sở, ban, ngành,đoàn thể tỉnh, các huyện đi học cao cấp lý luận chính trị - hành chính hệ tậptrung Mở được 23 lớp trung cấp lý luận Chính trị - Hành chính với tổng số1.836 lượt học viên trong đó có 334 lượt cán bộ chủ chốt cấp huyện
Để thực hiện mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấphuyện, Đảng bộ tỉnh đã chỉ đạo cụ thể:
Sở Nội vụ là đầu mối giúp UBND tỉnh quản lý nhà nước về công tácđào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trình UBND tỉnh và tổ chức thực hiện
kế hoạch sau khi được phê duyệt Chủ trì phối hợp với Ban Tổ chức Tỉnh ủy,
Sở Tài chính và các sở, ngành có liên quan xây dựng dự thảo chế độ chính
Trang 36sách đối với cán bộ, công chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng và chính sáchthu hút cán bộ, công chức trình UBND tỉnh ban hành.
Trường Chính trị tỉnh căn cứ vào chương trình khung quy định của BộNội vụ tổ chức biên soạn các tài liệu, giáo trình theo tiêu chuẩn ngạch cán sự
và tương đương, ngạch chuyên viên và tương đương, ngạch chuyên viênchính và tương đương; tổ chức đào tạo các lớp trung cấp lý luận chính trị vàphối hợp với Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chứcđào tạo chương trình lý luận chính trị cao cấp theo kế hoạch của Tỉnh ủy
Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm phối hợp với cácđơn vị xây dựng kế hoạch ngân sách dành cho công tác đào tạo, bồi dưỡnghàng năm và cả giai đoạn trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Kiểm tra, giámsát việc thanh, quyết toán mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng theo đúng chế độ,chính sách của nhà nước
1.2.3 Chỉ đạo luân chuyển, sàng lọc, bổ nhiệm đội ngũ cán bộ chủ chốt
Luân chuyển cán bộ là một chủ trương nhằm tạo điều kiện cho cán
bộ trẻ, cán bộ có triển vọng, cán bộ trong quy hoạch được rèn luyện, thửthách trong thực tiễn, tạo nguồn cho việc xây dựng cán bộ chủ chốt trướcmắt cũng như lâu dài
Thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 25 tháng 1 năm 2002 của Bộ
Chính trị về luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý; tiếp tục thực hiện
Hướng dẫn số 03 -HD/TU, ngày 17 tháng 2 năm 2002; Nghị quyết số 10
-NQ/TU ngày 02 tháng 4 năm 2008 về công tác luân chuyển, bố trí, săp xếp
đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp trong tỉnh đến năm 2010 và những năm tiếp theo, công tác luân chuyển cán bộ trên địa bàn tỉnh được xác định rõ
ràng phạm vị, đối tượng luân chuyển
Thường xuyên tổ chức các lớp học tập, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết
và chỉ đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể trong toàn tỉnh xây dựng kế hoạch cụ
Trang 37thể, tỉ mỉ và tổ chức triển khai nghị quyết và các văn bản của tỉnh ở cơ quan,đơn vị, địa phương Nâng cao nhận thức của cấp ủy, tập thể lãnh đạo đượcnâng lên; chỉ đạo sâu sát công tác luân chuyển ở một số đơn vị gặp khó khăn
về cán bộ, công việc trì trệ, làm việc kém hiệu quả được thay thế bằng cán bộ
có năng lực, uy tín hơn
Đối tượng luân chuyển được chỉ đạo cụ thể rõ ràng chủ yếu là lãnh đạoquản lý các cấp Ở tỉnh “lựa chọn những đồng chí Ủy viên Ban Chấp hànhĐảng bộ tỉnh, trưởng, phó sở, ban, ngành đoàn thể tuổi còn trẻ có triển vọngnhưng chưa qua cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện luân chuyển về huyệnđảm nhận các chức danh lãnh đạo chủ chốt cấp huyện” [49, tr.3] Điều động,luân chuyển một số cán bộ lãnh đạo giữa các cơ quan đảng, chính quyền,đoàn thể có chuyên môn gần nhau và phù hợp với năng lực sở trường củatừng cán bộ luân chuyển Có kế hoạch, lộ trình điều động, luân chuyển cán bộlãnh đạo trưởng, phó phòng và tương đương ở cấp huyện có năng lực triểnvọng về đảm nhiệm cán bộ chủ chốt cấp xã, phường, thị trấn tuổi còn trẻ, cótrình độ đại học, năng lực phẩm chất tốt, có khả năng phát triển về huyệncông tác ở những chức danh lãnh đạo phù hợp Các sở, ban, ngành, đoàn thểtỉnh căn cứ vào năng lực, sở trường cán bộ thực hiện luân chuyển một chứcdanh trưởng, phó phòng và tương đương trực thuộc nằm trong nguồn quyhoạch lãnh đạo ngành mình sang các phòng, ban khác có chuyên môn gầnnhau nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ có kiến thức toàn diện tạo nguồn cho độingũ cán bộ lãnh đạo kế cận ngành
Đảng bộ tỉnh cũng chỉ đạo thực hiện trong xây dựng kế hoạch, quyhoạch luân chuyển cán bộ, tiêu chuẩn cán bộ để luân chuyển; chú ý tiêu chuẩn
về năng lực, sở trường, chiều hướng và triển vọng phát triển cán bộ Làm tốtcông tác tư tưởng đối với cán bộ được luân chuyển, nơi cán bộ đi, nơi cán bộđến, thường xuyên quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ, theo dõi động viên để cán
Trang 38bộ tự tin phát huy được năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao, đồng thờigiữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng đối với công tác luân chuyển cán bộ.
Xây dựng cơ chế chính sách quan tâm đến cán bộ luân chuyển về vật chất,tinh thần, điều kiện làm việc nhất là đối với cán bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụtrong thời gian luân chuyển được xem xét bố trí ở cương vị công tác cao hơn Khihết thời hạn luân chuyển, các cơ quan cán bộ phải đánh giá kết quả thực hiện nhiệm
vụ của cán bộ luân chuyển để bố trí công tác mới ở những vị trí phù hợp
Thực tiễn luân chuyển từ tỉnh về giữ chức bí thư huyện, thành ủy 07đồng chí, trong đó từ cơ quan Đảng 05 đồng chí, sở ngành 02 đồng chí.Luân chuyển từ huyện, thành phố lên tỉnh tổng số 22 lượt, trong đó Bíthư huyện, thành ủy 09 lượt; Chủ tịch HĐND, UBND 02; Phó Chủ tịchHĐND 03; Trưởng phòng ban, ngành, đoàn thể 06 Luân chuyển từhuyện sang thành phố 02 đồng chí, trong đó Bí thư 01 đồng chí, Chủtịch 01 đồng chí Luân chuyển, điều động, tăng cường từ huyện, thànhphố về xã, phường giữ các chức danh chủ chốt là 09 đồng chí, trong đógiữ chức vụ Bí thư 05 đồng chí, Phó Bí thư 01 đồng chí, Chủ tịchUBND 02 đồng chí, Phó Chủ tịch UBND 01 đồng chí [55, tr.15]
Nhìn chung các đồng chí cán bộ được luân chuyển đã rèn luyện toàndiện cả về trình độ chuyên môn, lý luận và kinh nghiệm thực tiễn trong lãnhđạo, chỉ đạo, điều hành ở các lĩnh vực, các cấp, các ngành, đại đa số hoànthành tốt nhiệm vụ có bước trưởng thành Một số đồng chí sau luân chuyểnđược bố trí ở cương vị cao hơn
Các đơn vị làm tốt công tác luân chuyển đã tạo không khí, phươngpháp điều hành quản lý mới ở địa phương, đơn vị, đồng thời giúp cho cấp trênrút ra bài học tốt cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo công tác luân chuyển cán bộ
1.2.4 Chỉ đạo thực hiện công tác chính sách đối với cán bộ chủ chốt
Chỉ đạo chính sách đối với cán bộ chủ chốt cấp huyện được cử đi đàotạo, bồi dưỡng nhằm góp phần động viên khuyến khích cán bộ không ngừnghọc tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; lý luận chính trị và quản
Trang 39lý nhà nước Chính sách thu hút nguồn nhân lực có trình độ cao để từngbước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển KT - XH của địa phương.
Chỉ đạo hỗ trợ đi đào tạo, bồ dưỡng nâng cao trình độ năng lực, chuyênmôn nghiệp vụ cho cán bộ chủ chốt
Ủy Ban nhân dân tỉnh ban hành quyết định số 19/2009/QĐ - UBND
ngày 08 tháng 6 năm 2009 quy định về chế độ chính sách đối với cán bộ,
công chức, viên chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng Chính sách thu hút nguồn nhân lực trình độ cao.
Điều kiện, tiêu chuẩn chung đối với cán bộ được cử đi đào tạo, bồi dưỡng
và những người thuộc chính sách thu hút phải có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt;nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước; hàng năm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đảm bảo các điều kiện tiêuchuẩn của pháp luật về cán bộ, công chức Chuyên ngành đào tạo phải phù hợpvới yêu cầu nhiệm vụ, thực tiễn của từng huyện Chấp hành sự phân công của tổchức, cơ quan cử đi đào tạo, phát huy tính năng động, sáng tạo trong công tác
Đối với cán bộ được cử đi đào tạo cử nhân chính trị các chuyên ngành,
cao cấp lý luận chính trị và hành chính nhà nước ở ngoài tỉnh (hệ tập trung,
chính quy) cụ thể:
Hỗ trợ tiền tài liệu 500.000 đồng/1 người/1 năm Hỗ trợ tiền sinh hoạtphí hàng tháng 400.000 đồng/ 1 người/ 1 tháng Học viên là nữ cộng thêm
20% (Đối với hệ không tập trung, chính quy không tập trung, mức hỗ trợ sinh
hoạt phí hàng tháng bằng 50% định mức này) Nguồn kinh phí Đảng bộ tỉnh
cũng đã xác định nằm trong dự toán ngân sách hàng năm của các đơn vị
Đối với đào tạo sau đại học hệ tập trung chính quy (một năm học tính
bằng 10 tháng) UBND tỉnh cũng có những chính sách đối với người được cử
đi đào tạo, bồi dưỡng về hỗ trợ tiền tài liệu, hỗ trợ sinh hoạt phí hàng tháng,
hỗ trợ kinh phí sau khi nhận bằng tốt nghiệp cụ thể:
Hỗ trợ tiền tài liệu: Nghiên cứu sinh (tiến sỹ): 1.000.000 đồng/ 1 người/
1 năm Thạc sỹ: 500.000 đồng/ 1 người/ 1 năm
Trang 40Hỗ trợ sinh hoạt phí hàng tháng 400.000 đồng/1 người/ 1tháng Học viên
nữ cộng thêm 20% (Đối với hệ đào tạo không tập trung, chính quy không tập
trung, mức hỗ trợ sinh hoạt phí hàng tháng bằng 50% định mức này).
Hỗ trợ kinh phí sau khi nhận bằng tốt nghiệp: đối với Tiến sỹ mức hỗtrợ 30 triệu đồng Thạc sỹ mức hỗ trợ là 10 triệu đồng
Nguồn kinh phí UBND tỉnh cũng đã xác định về kinh phí hỗ trợ tiền tàiliệu, sinh hoạt phí hàng tháng cho cán bộ, công chức được lấy trong dự toánngân sách hàng năm của các đơn vị Kinh phí hỗ trợ sau khi nhận bằng tốtnghiệp sau đại học được lấy từ nguồn ngân sách của tỉnh và các nguồn khác,hàng năm do Sở Nội vụ tổng hợp trình UBND tỉnh phê duyệt
Trong 5 năm 2006 - 2010 tỉnh đã hỗ trợ được 86 lượt cán bộ chủ chốtcấp huyện Với tổng số tiền 106.000.000 đồng Đây chủ trương chính sáchchung của Tỉnh nhằm hỗ trợ đào tạo cán bộ chủ chốt cấp huyện nhằm nâng caotrình độ chính trị và chuyên môn nghiệp vụ, đảm bảo phần nào cán bộ chủ chốtcấp huyện an tâm công tác, phát huy vai trò trách nhiệm của mình trong chỉ đạophát triển KT - XH của từng huyện So với tỉnh Nam Định và Ninh Bình trongcùng thời điểm thì số lượng đào tạo của tỉnh Hà Nam vẫn còn ít hơn Ví dụnhư: tỉnh Nam Định giai đoạn 2005 - 2010 đã hỗ trợ đào tạo 136 cán bộ chủchốt cấp huyện; tỉnh Ninh Bình hỗ trợ đào tạo 121 cán bộ chủ chốt cấp huyện
Thường xuyên quan tâm thực hiện chế độ chính sách cán bộ đảm bảođúng với chế độ, quy định hiện hành, kịp thời giải quyết những khó khănvướng mắc trong thực hiện chính sách đối với cán bộ; thường xuyên chỉ đạolàm tốt công tác nâng lương thường xuyên, nâng lương trước thời hạn, giảiquyết đúng chế độ hưu trí; khen thưởng động viên kịp thời cán bộ cán bộ chủchốt cấp huyện hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ như cán bộ chủ chốt của huyệnThanh Liêm, cán bộ chủ chốt huyện Duy Tiên
*
* *