1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO NHỮNG NHÂN CHỨNG LỊCH sử TRONG CHIẾN THẮNG điện BIÊN PHỦ năm 1954

150 144 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 601,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khi quân đội Pháp ở Điện Biên phủ đang lâm vào bước đường cùng thì ở Thủ đô Pari, có một ông bộ trưởng tên là Coócnigliông Môliniê, mang quân hàm cấp tướng, nguyên chỉ huy không quân của lực lượng Pháp tự do của Đờ Gôn khi còn lưu vong chống phátxít Đức, ông ta đến gặp thủ tướng Pháp Giôdép Lanien và đề nghị.

Trang 1

NHỮNG NHÂN CHỨNG LỊCH SỬ TRONG CHIẾN THẮNG ĐIỆN

BIÊN PHỦ NĂM 1954

“Tôi không muốn cho Việt Minh thêm một niềm khoái trá"

Trong khi quân đội Pháp ở Điện Biên phủ đang lâm vào bước đường cùng thì

ở Thủ đô Pa-ri, có một ông bộ trưởng tên là Coóc-ni-gli-ông Mô-li-ni-ê, mangquân hàm cấp tướng, nguyên chỉ huy không quân của lực lượng Pháp tự do của ĐờGôn khi còn lưu vong chống phát-xít Đức, ông ta đến gặp thủ tướng Pháp Giô-dépLa-ni-en và đề nghị

"Ngài thủ tướng thân mến, phải cứu vớt Điện Biên Phủ bằng bất cứ giá nào.Chúng ta phải tỏ ra rằng chúng ta không bỏ mặc tập đoàn cứ điểm tôi đề nghị vớiNgài, với tư cách là bộ trưởng và phi công, tôi được nhảy dù tới đó Tôi sẽ gặpngười anh em Đờ Cát-xtơ-ri Sự có mặt của tôi sẽ chứng tỏ cho binh sĩ của chúng

ta là một thành viên của Chính phủ đến chia sẻ số phận hẩm hui cùng với họ" Thủ tướng La-ni-en, suy nghĩ hồi lâu, ngần ngại, nhưng rồi cũng trả lời viên bộtrưởng - phi công của mình:

"Ngài hãy tin tôi, nếu vạn bất đắc dĩ mà Điện Biên Phủ phải gục, mặc dùchúng ta đã làm hết sức, tôi không muốn là kẻ đã tạo cho Việt Minh thêm mộtniềm khoái trá là đã tóm cổ thêm được một ông bộ trưởng của nước Pháp làm tùbinh"

Nguyễn Xuân Theo cuốn "Bí mật quốc gia của J.R Tuốc-na

Trang 2

Thiếu úy pháo binh Pháp Giu-tô nhớ lại trận đánh 40 năm trước

Ngày 13 tháng 3 năm 1994, đúng ngày này 40 năm trước quân ta nổ súng mởmàn chiến dịch Điện Biên, một nhóm người Pháp từ thành phố Hồ Chí Minh bay

ra Hà Nội rồi đi ô tô lên thăm Điện Biên Phủ Trong số này có Giăng Giu-tô 68tuổi được coi là trung tâm của nhóm vì Giu-tô là cựu binh Pháp tham chiến từ đầuđến cuối chiến dịch, bị ta bắt chiều ngày 7 tháng 5 năm 1954, có 4 tháng trong trại

tù binh ở Tuyên Quang rồi sau đó được trao trả về Pháp Giu-tô sinh ra ở ViệtNam vì bố Giu-tô là viên chức Pháp trông coi biệt thự của Pháp ở Sa Pa (Lào Cai)những năm 1925-1931 ở tuổi 22, Giu-tô vào lính, sau đó đi học ở trường sĩ quanpháo binh Tháng 2 năm 1953, Giu-tô được phái đến Điện Biên là thiếu úy chỉ huymột đơn vị pháo hạng nặng ở khu cứ điểm trung tâm

Tấm bản đồ 40 năm trước

Trở lại Điện Biên, Giu-tô mang theo một mảnh bản đồ Điện Biên Phủ đã bịnhàu nát Giu-tô bảo: "Đây là tấm bản đồ năm 1953, tôi đánh dấu các vị trí đặtpháo của đơn vị tôi" Xem mảnh bản đồ, tôi thấy những điểm đánh dấu bằng bútmực, bút chì màu và đặc biệt thấy có 3 chỗ bị đánh dấu đậm nhất Ông Giu-tô giảithích: "Đây là địa điểm đặt hầm chỉ huy của trung tá pháo binh Pi-rốt Ông Pi-rốt

đã tự sát ngày 15 tháng 3 năm 1954 vì quá xấu hổ khi căn cứ Him Lam thất thủ vàpháo binh Việt Nam đã khóa mõm pháo binh Pháp Tiếp đó là điểm đánh dấu đồiA1 và vị trí thứ 3 là lô cốt cách không xa về phía tả ngạn sông Nậm Rốn, gần cầuMường Thanh, nơi Giu-tô đã thoát chết vì một viên đạn pháo 105mm nổ trúng trậnđịa

Những con bọ hung, bên bờ sông Nậm Rốm

Vừa qua cầu Mường Thanh, Giu-tô ra hiệu cho xe dừng lại Ông nhảy xuống,xăm xăm rẽ cỏ lau rậm rạp, lần bước xuống sông Nậm Rốm Thấy chúng tôi có vẻngạc nhiên, Giu-tô giải thích:

- Vào giai đoạn cuối của chiến dịch, tình hình quân Pháp rất bi đát Chúng tôiphải ở trong hầm suốt ngày đêm Đơn vị tôi đóng ở đây (ông chỉ vào bãi đất màbây giờ là vườn chuối um tùm), trước mặt tôi (ông chỉ vào dải đất nhô cao trênsông Nậm Rốm) là trung đoàn bộ binh Âu - Phi có hơn 1.000 quân Đóng ở trungtâm tập đoàn cứ điểm, phải tham chiến ít hơn nhiều so với các đơn vị tập đoàn cứđiểm, phải tham chiến ít hơn nhiều so với các đơn vị khác thế mà đến cuối tháng 4năm 1954, quân số của trung đoàn giảm xuống chỉ còn 1/10 Nhiều lính Âu - Phiđào ngũ, nhưng ở trong lòng chảo thì đào ngũ đi đâu được Thế là những người

Trang 3

này phân tán vào 2 bên sông Nậm Rốm Họ đào các hố sâu vào bờ sông làm chỗdung thân Ban ngày họ nằm bẹp gí trong hầm, ban đêm họ bò đi tìm thức ăn, vớđược thứ gì cũng đem về hầm Lính pháo binh chúng tôi mỉa mai gọi họ là nhữngcon bọ hung.

Những "con bọ hung ấy" đã sống hàng tháng trời như vậy, kiếm được ít thức

ăn mặt mũi hốc hác, đen như cục than chì có hai lòng mắt trắng dã

Quan tài sắt của Ma-sen

Đến đỉnh đồi A1, vợ chồng Giu-tô lặng lẽ tách ra khỏi đám đông rồi đặt một

bó hoa dưới lòng cái hố sâu hoắm mà cách đây 40 năm khối bộc phá 1.000kg đã

nổ làm rung chuyển cả quả đồi

Sau đó đi lên mặt đồi, Giu-tô leo lên chiếc xe tăng bây giờ chỉ còn vỏ sắt vàchiếc nòng pháo Giu-tô kể: Đây là chiếc xe tăng do bạn tôi, chuẩn úy Ma-sen chỉhuy Ma-sen cùng các xe tăng khác có nhiệm vụ hỗ trợ cho đồi A1 chống lại cácđợt tấn công của Việt Minh Nhưng một lần phản công, bộ đội Việt Nam đã xôngđến sát xe xả súng bắn rồi ném lựu đạn làm đứt xích Cả kíp chiến đấu đều tử nạn.Ma-sen may mắn thay, chỉ bị thương nằm ngất xỉu trong xe Vì vậy chúng tôi gọichiếc xe tăng này là quan tài sắt của Ma-sen" Ma-sen sau này về Pháp tiếp tụcphục vụ trong quân đội và đã về hưu với quân hàm thiếu tướng

Những giọt nước mắt ngậm ngùi

Kết thúc cuộc đi thăm Điện Biên, nhóm người Pháp đến đài tưởng niệm nhữngngười Pháp chết trận, mới xây vài năm gần đây, cách hầm Đờ Cát-xtơ-ri chừng

300 mét Vợ chồng Giu-tô tiến lên phía trước, đặt 2 bó rừng trên nấm mồ tượngtrương Tất cả những người Pháp và chúng tôi đều lùi ra xa chỉ để lại 2 ông bà giàcúi đầu mặc niệm những người đã khuất Bất chợ, ông Giu-tô bật lên tiếng khócnức nở, còn bà Ma-ri-a Giu-tô thì mặt đỏ hoe, những giọt nước mắt chảy ướt đầmhai má Chính lúc này Giu-tô nhớ lại đồng đội của ông đã bỏ mình trên mảnh đấtnày

Bài, ảnh Trần Nhung

Trang 4

Hồi tưởng của một viên tướng Pháp

Năm 1992, nhà xuất bản Grát-xê ở Pháp cho ra mắt cuốn "Từ Điện Biên Phủđến Cô-oét Xi-ty" của tướng Mô-ri-xơ Smít, tổng tham mưu trưởng quân đội Phápvừa mới nghỉ hưu ngày 23 tháng 4 năm 1991

Theo giới thiệu, trong 42 năm tại ngũ, Smít đã trải qua ba chiến dịch đáng ghinhớ nhất Đó là lần chiến đấu ở Điện Biên Phủ với cấp bậc trung úy pháo binh.Tiếp đó là những trận đánh ở An-giê-ri trên cương vị đại đội trưởng một đại đội

dù Cuối cùng là chiến dịch tiến công chớp nhoáng vào I-rắc với chức vụ trungtướng tư lệnh binh đoàn Pháp chiến đấu trong đội hình của "Liên quân" do Mỹcầm đầu trong cuộc "Chiến tranh vùng Vịnh"

Trong phần viết về Điện Biên Phủ, Mô-ri-xơ Smít không đi sâu vào những kỷniệm cũ của mình, mà ngược lại, đã nhìn về quá khứ với cặp mắt của một Tổngtham mưu trưởng Mô-ri-xơ Smít thừa nhận, lúc bắt đầu chiến cuộc tại Điện BiênPhủ thì Pháp đã bị sa lầy trong cuộc chiến tranh Đông Dương Đứng trước một đốithủ là Việt Minh trong suốt chiến tranh chỉ có một lãnh tụ duy nhất là Hồ ChíMinh và một chỉ huy quân sự duy nhất là Võ Nguyên Giáp, thì Pháp đã 19 lần thayđổi chính phủ, 5 lần thay cao ủy và 7 lần thay tổng chỉ huy quân đội Pháp ở ĐôngDương mà vẫn chưa định rõ được chính sách của Pháp ở thuộc địa cũ này là nhưthế nào

Theo Mô-ri-xơ Smít, ý đồ chiến lược của tướng Na-va sau khi được cử sangĐông Dương chỉ là "tạo ra những điều kiện quân sự để đi tới một giải pháp chínhtrị danh dự" Cái gọi là "kế hoạch Na-va" Tức là tăng thêm lính bản xứ, xin chínhphủ Pháp cử sang 750 sĩ quan và hạ sĩ quan để chỉ huy các đơn vị (lính ngụy) sẽđược ráo riết thành lập, xin Mỹ viện trợ thêm phương tiện chiến tranh Trong lúc

đó chờ đợi Na-va chủ trương: trong Đông Xuân 1953-1954, sẽ tạm co về thếphòng ngự để kiện toàn các đơn vị quân đội ngụy, tăng thêm lực lượng cơ động vàđến chiến dịch Đông Xuân 1954-1955 mới giao chiến với chủ lực Việt Minh trongnhững điều kiện có lợi cho Pháp

Thế nhưng, chính "nước cờ" của Việt Minh đã buộc tướng Na-va phải choquân nhảy dù chiếm đóng Điện Biên Phủ và từ đó buộc phải giao chiến với chủlực Việt Minh trong những điều kiện bất lợi Trận Điện Biên Phủ phải là một trậngiao tranh giữa chủ lực của hai phía đối địch Mô-ri-xơ Smít thừa nhận, cuộc chiến

Trang 5

tranh ở Việt Nam là một cuộc chiến tranh không trận tuyến Nhưng điều đó không

có nghĩa là đối phương không có một khối chủ lực cơ động mà tướng Giáp đã có ýđịnh thành lập ngay từ đầu Bộ đội chủ lực của Việt Minh lại dựa trên nền tảng củacác đơn vị bộ đội địa phương, có khi tới trung đoàn Còn bộ đội chủ lực của ViệtMinh thì được tổ chức tới cấp sư đoàn Bộ tư lệnh của Việt Minh có thể sử dụngcác sư đoàn chủ lực để đánh tập trung hoặc luân phiên tác chiến để có thời giannghỉ ngơi và huấn luyện Trong khi đó các lực lượng cơ động của Pháp trên thực

tế, khó có khả năng này"

Với cặp mắt của một tổng tham mưu trưởng, ít nhiều Mô-ri-xơ Smít cũng thừanhận tính chất chiến lược của việc tổ chức "ba thứ quân" của Việt Nam Dù cònmột vài điểm thanh minh cho phía Pháp, nhưng cuối cùng, Mô-ri-xơ Smít cũngphải đi tới kết luận là cả Pháp lẫn Mỹ đều thua Việt Nam về mặt quân sự, cả chiếnlược lẫn chiến thuật chiến thắng, Điện Biên Phủ không phải ngẫu nhiên, cũngkhông phải "may mắn đoạt được do sơ hở của tướng Na-va", mà là một chiếnthắng to lớn về quân sự xuyên suốt chiều dài kháng chiến của nhân dân Việt Namchống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược

Thế Nam

Trang 6

Người Mỹ viết về xe đạp thồ ở Điện Biên Phủ

Trong cuốn sách "Việt Nam - cuộc chiến tranh mười ngàn ngày", Mai-cơnMắc Cli-a, một người Mỹ viết: Việc tiếp tế cho Điện Biên Phủ giữa vùng núi rừnghiểm trở cách Hà Nội trên 200 dặm với Pháp không thành vấn đề Khi lập kếthoạch, Na-va chẳng bận tậm gì vì ông ta tin vào chiếc cầu hàng không có thế némxuống tập đoàn cứ điểm 200 tấn hàng mỗi ngày Ông ta chỉ "tính toán hộ ViệtMinh" Na-va và Bộ chỉ huy Pháp biết rằng phương tiện vận chuyển chủ yếu củaViệt Minh là những chiếc xe đạp do Pháp sản xuất Các nhân viên phòng nhì củaNa-va khẳng định như "đinh đóng cột" rằng: về lý thuyết và thông số kỹ thuật thìmột chiếc xe đạp có thể thồ với mức cao nhất gấp hai lần trọng lượng người điềukhiển nó Vóc dáng nhỏ bé và sức chịu đựng của người Việt Nam thì "Tây" khônglại!

Nhưng thực tế ở Điện Biên Phủ lại hoàn toàn khác nhau Chính Mắc Cli-acũng lấy làm lạ lùng, ông để công tìm hiểu Ông đã trực tiếp gặp nhiều "bạn xethồ" trong đó có "dũng sĩ xe thồ" nổi tiếng Đinh Văn Ty Anh Ty đã vui lòng kể:

"Việc tôi được làm đội trưởng đội xe thồ 100 người cũng dễ hiểu vì tôi vốn là thợchữa xe đạp ở làng Chúng tôi chỉ có một ngày để chuẩn bị Trước hết mỗi xe đạpcủa chúng tôi được táp một đoạn tre vào khung làm thành một thanh ngang có thể

"gánh" được 200, 250kg hoặc hơn nữa Chúng tôi cố tăng cường thêm độ cứng,sức chịu đựng của mọi bộ phận Các nan hoa xe được nẹp thêm tre để tăng độcứng và độ dẻo dai Chúng tôi gắn thêm 2 khúc tre Một khúc dài để làm tay lái,khúc kia ngắn hơn dùng để giữ thăng bằng và thay phanh Đêm đầu các lốp xe cứ

bị nổ mãi Chúng tôi cùng suy nghĩa tìm cách khắc phục Sau chúng tôi xé các ôngquần dài thành từng dải rồi quấn quanh săm xe trước khi bơm căng lên Chúng tôilại dùng các đoạn săm cũ quấn quanh lốp xe mọt lần nữa Và chúng tôi đã thànhcông Bánh xe không còn bị nổ nữa Bằng những biện pháp đó chúng tôi tăng sứctải của xe lên từ 10 đến 12 lần so với người gánh Đội quân xe thồ của chúng tôikhông cần đường lớn, lại dễ ngụy trang bằng tất cả các loại lá cây Máy bay Phápbay cả ngày cũng không phát hiện được Chỉ có điều thay vì quần dài, cả đoàn đềuphải vận quần cụt!

Đường ra mặt trận dài hàng trăm ki-lô-mét qua nhiều đèo cao, suối sâu, rừngrậm Tính ra để đưa được một ki-lô-gam hàng tới đích, mỗi dân công gánh và xe

Trang 7

đạp thồ phải cần đến 4 ki-lô-mét rưỡi tiêu thụ dọc đường Các đoàn dân công đềuđược tổ chức chặt chẽ ngay từ địa phương Dọc đường đi, chúng tôi thường hò hát

để động viên nhau và cũng để quên đi mệt nhọc:

Nhanh lên hỡi bạn xe thồ

Đường ra mặt trận vui mô cho bằng

Qua rừng qua núi băng băng

Xe thồ đè bẹp xe tăng quân thù

Mai-cơn Mắc Cli-a cũng như các học giả khác đều "hết sức khâm phục, kínhtrọng khả năng tổ chức huy động sức mạnh của cả một dân tộc" vào trận đánh lịch

sử Họ đều nhất trí cho rằng, thắng lợi của quân đội ta ở Điện Biên Phủ: "Trên hết

và trước hết là thắng lợi về tổ chức tiếp tế!"

Vũ Tang Bồng

Trang 8

Tôi là tù binh của Việt Minh (Trích nhật ký của một sĩ quan Pháp)

Vừa qua, có một số người Pháp, là cựu tù binh trong chiến tranh Đông Dương,

vì những lý do nào đó, trong đó có động cơ đấu tranh đòi Chính phủ Pháp giảiquyết quyền lợi cho họ đã xuyên tạc sự thật, mô tả trại tù binh của ta là "địa ngục"

và so sánh với trại tập trung của Hít-le trong Đại chiến thứ hai Trung úy FOY làtrung đội trưởng thuộc tiểu đoàn 1, trung đoàn 4 bộ binh của Ma-rốc Có mặt ởĐiện Biên Phủ từ những ngày đầu của cuộc chiến đấu Những trang nhật ký FOYghi cách đây 40 năm là một tư liệu khác quan về chính sách khoan hồng và nhânđạo của Nhà nước và quân đội ta đối với kẻ thù đã hạ súng đầu hàng Chúng tôixin trích giới thiệu cùng bạn đọc:

Từ ngày 7 đến 13 tháng 5: Tôi được đưa vào một khối bệnh xá và nghe nói sẽđược chuyển đi càng sớm càng tốt bằng trực thăng

Ngày 13: sau khi phân loại, chúng tôi được đưa đến các trại khác nhau, vẫn ởtrong lòng chảo Họ chập hai chiếc dù lại làm mái lều cho chúng tôi ngủ Vài chiếc

dù trải đến đất hoặc cáng thu nhặt lại dùng làm giường Tôi ở đây đến ngày 17.Ngày 17-5: Chuyển đến trại mới Trại sĩ quan, Chỗ ở tốt: giường ván hoặccáng được kê cao Máy bay Mo-ran, trực thăng, Bi-vơ thay nhau đến chở thươngbinh Đã có 850 tù binh bị thương được chuyển đi và chúng tôi sẽ đi sau họ

Ngày 25-5 23 giờ : Km 0 Người ta đánh thức chúng tôi dậy và bảo ai có thể điđược thì đi bộ 30 mét ra mặt đường có xe tải chở đến đường băng Không hiểu cólinh tính gì mà tôi mang theo tất cả bánh quy đi theo Ra đến xe mới thấy mình đãkhông lầm: xe chất đầy những hòm

Ngày 26-5 Km 25: Chúng tôi ở cách Điện Biên Phủ 25km Đã trải qua nhữngvui và sợ xen lẫn nhau, bây giờ chúng tôi sẵn sàng chịu đựng chuyến đi Hôm naychúng tôi nghỉ ở một trại dọc đường

Ngày 30-5 Km 25 Một toán được chỉ định đi về trại chính để nghi ngơi Tất

cả chúng tôi đều rất yếu và được lệnh chỉ đi từng chặng mỗi ngày 20km Đối vớichúng tôi ít thế chẳng nghĩa lý gì

Chúng tôi lên đường đầy tin tưởng sẽ vượt qua 400km Chặng đầu đi ban đêm,dưới trời mưa tầm tã, mới được 6km đã mệt nhoài

Trang 9

6 giờ sáng ngày 31, chúng tôi lại gặp nhau trên mặt đường Đã 12 giờ qua,chúng tôi lê từng bước, ướt sũng và lấm be bét Chỉ huy đoàn thấy chúng tôikhông thể đi ban đêm được, quyết định cho đi ban ngày Ngày 1, 2, 3-6 Km 98:Càng đi càng khó nhọc Chúng tôi đã cách Điện Biên Phủ khoảng 100km đường

bộ Vẫn chỉ núi là núi Lên dốc, xuống dốc, vượt sông có chỗ lội hoặc không.Chết người! Tôi bị đi lỵ từ hai ngày rồi Lỵ a-míp Đi ngoài rặt máu và mũi

Họ quyết định chia chúng tôi thành hai tốp: Một tiếp tục đi và một dừng lại.Tôi dừng lại để chữa bệnh và hơn nữa tôi đau thận kinh khủng, chặng nào cũng đitiểu ra máu

Ngày 4 và 5-6: Chúng tôi vẫn nghỉ Thiếu đường và thịt ghê gớm Quân độinhân dân Việt Nam không thể cung cấp cho chúng tôi được, vùng này quá nghèo.Ngày 6-6: Nghỉ Mưa như trút Mái dột tứ tung

Ngày 7-6: Nghỉ Chuẩn bị để đi tiếp Chúng tôi đã viết được một lá thư ngỏ

Ăn uống đủ Sức khẻo chúng tôi đã khá hơn, tuy còn yếu

Ngày 8, 9, 10-6: Vẫn nghỉ, sẽ lên đường tối 11 Ăn uống đủ

Ngày 11-6: Lên đèo

Ngày 12, 13, 14-6 Km 163: Đi càng ngày càng khó nhọc hơn, mặc dù đườngbằng phẳng hơn

Ngày 29-6 Km 319: Mưa Bữa ăn nghiêm chỉnh có thịt Ra đi 15 giờ 30 Quađèo Đến nơi 24 giờ Rất vất vả

Ngày 30-6 Km 336: Ra đi 16 giờ 30 3kg gạo Đến nơi 22 giờ Mệt lử

Ngày 1-7 Km 348: 5 giờ sáng chuyển chỗ ở trong rừng Thịt lợn Ra đi 16 giờ.Xuống đèo 4kg gạo Đến nơi 21 giờ

Trang 10

Năm 1997

Đập tan dấu tích cuối cùng của ách thống trị thực dân Pháp

Đầu tháng 12 năm 1953 tướng Giáp chuyển lực lượng lớn tới Điện Biên Phủ.Người Pháp tin rằng, họ có thể giáng cho kẻ thù một đòn chí mạng trong mọt trậnđánh dàn sẵn và biến Điện Biên Phủ thành "pháo đài", xây dựng một loạt cứ điểmmạnh, mà theo như người ta đồn là gọi theo tên của các tình nhân của đại tá Đờ-cát-tơ-ri, Tư lệnh cứ điểm

ở Trung tâm Điện Biên Phủ là Sở chỉ huy với cứ điểm Hugguette (tây sânbay), Claudine (nam sân bay), Elianne ( đồi A) ở phía đông và Dominique (Đồi D)

ở phía đông bắc nối với nhau bằng giao thông hào và được bảo vệ bằng các bãimìn và dây thép gai Phía ngoài "con nhím" trung tâm cũng có những cứ điểmtương tự bảo vệ các đường tiếp viện từ phía tây bắc (căn cứ Anne Marie - BảnKéo), phía đông bắc (Beatrice - Him Lam), và phía bắc (Gabrielle - Đồi Độc lập)

và cách 4 dặm về phía Nam cứ điểm Isabelle bảo vệ một sân bay phụ nhỏ Trọngpháo được bố trí trong các công sự, 6 máy bay chiến đấu Beercat đậu trên đườngbăng chính và 10 xe tăng hạng nhẹ M24 cung cấp thêm hỏa lực cơ động Đối vớinhiều người quan sát, Điện biên Phủ tưởng chừng bất khả xâm nhập, trên thực tếPháp đã sử dụng 10.800 quân để bảo vệ thung lũng cô lập, chịu ảnh hưởng củamùa mưa và xung quanh là những quả đồi không bảo đảm an toàn

Tướng Giáp phản ứng bằng cách cho triển khai tổng cộng 5 sư đoàn khoảng55.000 quân vào các đồi xung quanh Điện Biên Phủ, làm một con đường tiếp tế vàkéo pháo, kể cả pháo cao xạ, vào những vị trí được ngụy trang nhìn xuống thunglũng Ngày 31 tháng 1 năm 1954, quân Pháp lần đầu tiên bị pháo kích và trongnhững tuần tiếp theo các toán tuần tra đã chạm trán lực lượng Việt Minh ở tất cảcác hướng Thung lũng đã bị bao vây

Chiến lược của Việt Minh là chiến lược quen thuộc, trước tiên nhằm vào các

cứ điểm bị cô lập sau đó mở cuộc tiến công lớn vào vị trí chính Cuộc tiến côngbắt đầu lúc 17 giờ ngày 13 tháng 3 bằng một cuộc pháo kích làm nổ tung các hầmtrọng pháo của Pháp, cày xới các giao thông hào và phá hủy các máy bay đậu trênđường băng Tiếp ngay sau đó là những đợt xung phong của bộ binh theo chiếnthuật biển người bất ngờ đánh vào cứ điểm Him Lam

Trang 11

Sau một trận đánh ác liệt, cứ điểm này bị đè bẹp, hơn 550 lính Pháp bị giếthoặc bị bắt Hầu như không nghỉ, tướng Giáp lại cho pháo kích dùng bộ binh liêntục đánh vào căn cứ đồi Độc Lập Pháo binh Pháp đã không làm giảm được sức

ép, và đến giữa buổi sáng ngày 15 tháng 3, đồi Độc Lập đã rơi vào tay Việt Minh

Ba ngày sau, Bản Kéo cùng chịu chung số phận khiến sân bay không có bảo vệ vàkhông thể sử dụng được Từ lúc này việc chuyển nhượng thương binh hoàn toànphải ngừng lại và mọi thứ tiếp tế đều phải thả dù, rất mạo hiểm vì hỏa lực pháophòng không mãnh liệt của đối phương

Ngày 30 và 31 tháng 3, Việt minh lại tiến công, tập trung vào các căn cứ đồi Đ

và tây sân bay nhưng bị thiệt hại nặng nề Trong khi quân Pháp mở những cuộcphản kích tuyệt vọng để giành giật những cứ điểm đã biến thành những đống đổnát, đầy máu và xác chết của cả hai bên, thì tướng Giáp rút quân để củng cố lựclượng nhờ đó Đờ-cát-tơ-ri có thể tổ chức lại phòng tuyến Ông ta tập trung lựclượng vào một khu vực đường kính chỉ hơn một dặm bao gồm các căn cứ nam sânbay đồi E Hai cứ điểm mới Sparrowk ở phía Bắc hầm chỉ huy và Juno ở phía nam

đã hình thành vành đai phòng thủ mới Từ 4 tháng 4 đến 1 tháng 5, tướng Giápchuyển từ tiến công ồ ạt sang đánh lấn, xây dựng một mạng lưới giao thông hàocông phu có pháo binh yểm trợ liên tục, siết dần vòng vây xung quanh các vị trícủa Pháp Các cuộc không kích của Pháp không phát huy tác dụng Ngày 22 tháng

4 mùa mưa bắt đầu khiến nhiều vị trí của Pháp bị ngập lụt

Ngày 2 tháng 5, tướng Giáp phát động đợt tiến công cuối cùng, ép vào từ tất cảcác phía Trong ba ngày sau, sau vài trận chiến ác liệt chưa từng thấy, phần lớncăn cứ đồi Đ, đồi E và tây sân bay đi đè bẹp, chỉ còn lại trung tâm trơ trọi Lựclượng bảo vệ tuyệt vọng trong tình trạng thiếu đạn hơn 30% đồ tiếp tế thả bằng dùrơi vào tay Việt Minh Bệnh viện quân y của Pháp bên bờ sông Nậm Rốm trànngập binh lính bị thương khiến tinh thần binh lính Pháp bắt đầu rệu rã Một vàiđơn vị, đặc biệt lính lê dương và lính dù tiếp tục chiến đấu trong tuyệt vọng,nhưng giờ kết thúc đã đến gần Cuối ngày 6 tháng 5, một cuộc pháo kích ồ ạt quétsạch những cứ điểm còn lại và khi lực lượng tăng viện của Việt Minh tập trung ởcác ngọn đồi phía đông, thì tướng Đờ-cát-tơ- ri đã nhìn thấy thất bại

Sáng hôm sau ngày 7 tháng 5, các cuộc tiến công của bộ binh lại bắt đầu, đèbẹp lực lượng phòng thủ sau 55 ngày bao vây Đến trưa, hầu hết các cứ điểm phíađông sông Nậm Rốm đã thất thủ Vào lúc 17 giờ 30, một đơn vị tiên phong của

Trang 12

Việt Minh giương cao lá cờ đỏ sao vàng của người chiến thắng bước vào hầm chỉhuy Đờ-cát-tơ-ri đầu hàng, và mặc dù cứ điểm Isabelle còn cầm cự thêm 24 giờnữa, nhưng hơn 9.500 binh lính Pháp đã trở thành tù binh mà có lẽ ít người hyvọng sống sót Với 8.200 binh sĩ thương vong quân đội Pháp ở Đông Dương đãmất đi bộ phận ưu tú nhất.

Với chiến thắng Điện Biên Phủ, Việt Minh đã đập tan những dấu tích cuốicùng của ách thống trị thực dân Pháp Mệt mỏi vì cuộc chiến tranh ngày càng trởnên mất lòng dân trong nước, chính phủ Pháp đành chấp nhận một giải pháp quốc

tế được thỏa thuận ở Giơ-ne-vơ trong tháng bảy Cuộc chiến tranh Đông Dươnglần thứ nhất kết thúc

(Theo sách Những trận đánh quyết định của Giôn Pim-lốt, Mỹ)

Trang 13

Cuộc bại trận tại Điện Biên Phủ

Cố Tổng thống Pháp, Mít-tơ-răng, hồi 1954 là Bộ trưởng Bộ Nội vụ của nộicác Mendes France, sau này đã ký hiệp nghị Geneve về sự rút lui của nước Phápkhỏi Đông Dương Ông là mọt nhân vật lỗi lạc của nước Pháp cũng như của thếgiới Rất nhiều đại lộ, đài kỷ niệm, công viên, quảng trường trên thế giới đượcđặt tên danh nhân này Ông cũng là vị tổng thống phương Tay đầu tiên sang thămnước ta khi Việt Nam hoàn toàn thống nhất Ông đã chọn Pi-e Sô-đơ-phơ, một độitrưởng trong đơn vị điện ảnh quân đội Pháp đã là tù binh ngay tại chiến trườngĐiện Biên Phủ năm xưa đi theo mình Người cựu chiến binh này đã làm sống lạitrước Tổng thống Pháp những bóng ma của một sự bại trận đánh dấu một bướcngoặt lớn trong lịch sử nước Pháp Chúng ta hãy dõi theo một số cảm nghĩa củangười sĩ quan tháp tùng Tổng thống Pháp sang thăm Việt Nam hồi năm 1993 Đã 39 năm qua, vào tháng 10 năm 1954, tôi từ giã Hà Nội Khoảng 5 thángtrước đó, vào quá trưa ngày 7 tháng 5, nước mắt lưng tròng, tôi đã tự giác phá hủychiếc camêra và những cuốn phim mà tôi đã quay ở Điện Biên Phủ Các bạn tôicũng phá huy theo mệnh lệnh súng ống và khí tài của họ Chúng tôi đã mệt mỏi,khánh kiệt tới tận tâm hồn Có thể 2.500 chiến binh đã tử trận, người ta không thểtính chính xác được Chúng tôi đã phải hít thở bầu không khí tanh nồng của nhữngthi hài thối rữa do không thể chôn cất được Trên 4.500 chiến binh Pháp bị thương,nằm rên rỉ trong vũng bùn đỏ ngầu tại các căn hầm sụp đổ Hình như hy vọng phi

lý đã giúp chúng tôi tồn tại trong 57 ngày đêm bỗng tan biến như một ảo ảnh, vàdần dần trở thành một sóng người điêm loạn ủ ê, đắng cay giận dữ Chúng tôi đều

có cảm giác bị bỏ rơi cho số mệnh Tiếp theo là tình trạng tủi hổ bị bắt làm tùbinh Trước đó, gần 8.000 binh lính của Liên hiệp Pháp đã gúc xuống trên đường

41, trên bờ sông Đà, trên những nẻo đường đi Yên Bái, trên con sông Hồng, tạiTuyên Quang, Chiêm Hóa, trên con sông Thao và trong những khu rừng rậm Vậy

đó, đã 39 năm một tháng rưỡi Sau khi được tha, tôi rời Hà Nội đi Sài Gòn trênmột chiếc Dakôta nhà binh Trái tim tôi quặn đau Lịch sử nước Pháp quang vinh

từ bốn thế kỷ nay đã mở sang trang mới và Điện Biên Phủ là dấu chấm hết

tôi đã trở lại Hà Nội năm 1989 với đôi chút mặc cảm Biết được một nhà sảnxuất phim muốn tôi làm một cuốn phim về cuộc chiến đấu ở Điện Biên Phủ Quaylại Việt Nam với sự cộng tác của họ, tô có cảm giác rằng người Việt Nam đã chìa

Trang 14

bàn tay ra Và tôi đã chọn nắm bàn tay này Quyết định thật không dễ gì, song tôi

đã chẳng hối tiếc Làm việc trong 2 năm qua với những người Việt Nam đủ lứatuổi, đủ mọi địa vị xã hội, tôi cảm động khám phá ra rằng ít nhiều họ vẫn nghĩ đếnnước Pháp, hiểu biết nước Pháp Chúng tôi, những cựu chiến binh của đạo quânviễn chinh, yêu đất nước Việt Nam mà chúng tôi còn hiểu biết hơn là người tachưa bao giờ biết được ở đất Pháp Trong chuyến công du chính thức của tổngthống Pháp đến Việt Nam và Căm-pu-chia, tôi cảm thấy có điều gì lớn đang tìmphương cách hiện thực, rằng chuyến thăm lịch sử đến đất Đông Dương xưa cũ củanhững giấc mộng hoàn lương, của những ác mộng và những nút tiếc của chúng tôi

là đúng

con sông Hồng vẫn còn đây Và Hà Nội, thành phố rất Pháp và rất Việt Namnày rất đáng yêu và rất sôi động Tôi đã thấy Tổng thống Pháp nắm chặt nhữngbàn tay của nhân dân thành phố Tôi đã nghe thấy những tiếng vỗ tay và nhữngtiếng cười Tôi đã quan sát những gương mặt nghiêm nghị, ngác nhiên, cảm xúctươi cười Tôi đã thấy ba màu cờ của chúng tôi tung bay trong gió tôi đã tìm thấynhững người bạn trẻ Tại Điện Biên Phủ, Tổng thống Pháp và tôi đã trèo lên ngọnđồi cao nhất bị chiếm mất ngày 30-4-1965 Đội quân nhảy dù của quan ba Pichelin(đã tử trận ngay hôm đó) chiếm được lại rồi cũng phải vĩnh viễn rút đi mấy giờsau Trên ngọn đồi, tôi đã quan sát Tổng thống Ông đứng lặng yên, gương mặtxúc động trong ánh sáng cuối chiều, cảnh quan sơn dã với những thửa ruộng xanhtốt đã xóa đi tất cả những dấu vết của những trận giao chiến dữ dội xưa kia Hàngngàn binh lính Pháp đã chết trận tại đây, sự có mặt của họ hầu như được cảm nhậnthấy trong buổi chiều yên bình đẹp đẽ này Lúc đó tôi nghĩ rằng nếu nước Pháp đãtrở lại đây trong sự uy nghiêm của cuộc công du, đó là một phần đã nhờ ở họ và sự

tử trận của họ mà người ta đã tưởng rằng vô ích, nay có lẽ không hẳn thế!

Ngày nay, tại bãi chiến trường xưa, các rặng cây lớn đã mọc trên những nơiyên nghỉ cuối cùng của họ

Sơn Vân (Theo Paris Match năm 1993)

Trang 15

Người Pháp bị sa lầy

Năm 1940 tình hình có sự thay đổi lớn khi nước Pháp thất thủ trước quân Đức

Vì tuy việc cai trị Đông Dương vẫn ở trong tay người Pháp, nhưng lúc này làchính phủ vichy tình hình này cho phép người Nhật là đồng minh của Đức tạiviễn đông buộc Hà Nội cắt đứt đường tiếp tế qua Bắc Kỳ sang Trung Quốc lànước mà Nhật phát động chiến tranh xâm lược từ năm 1937 Tháng 6 năm 1940,khi Pháp buộc phải tuân theo điều đó thì rõ ràng là quyền lực của họ đang suygiảm

Sự suy yếu rõ ràng của người Pháp đã khích lệ những người yêu nước ViệtNam Tháng 3 năm 1941, Hồ Chí Minh đã tập hợp họ dưới sự điều khiển của cộngsản và thành lập Việt Nam Độc lập đồng minh hội gọi tắt là Việt Minh Các hoạtđộng kháng chiến được đẩy mạnh, tranh thủ được sự ủng hộ của các nước trongphe đồng minh ở Viễn Đông Khi quân Nhật giành quyền kiểm soát Đông Dươngtháng 3 năm 1945 và hất cẳng Pháp, lúc bấy giờ đã tuyên bố đứng về phía chínhphủ mới của tướng De Gaulle tại Paris, thì Việt Minh có cơ hội lý tưởng để lấpchỗ trống chính quyền ở vùng nông thôn Ông Hồ và vị tư lệnh quân sự của ông là

Võ Nguyên Giáp đã mở rộng vùng kiểm soát của cộng sản, thiết lập "an toàn khu"được nông dân ủng hộ và chuẩn bị nắm chính quyền Vận may đến với họ khiNhật đầu hàng đồng minh Ngày 2-9-1945, ông Hồ vào Hà Nội và tuyên bố thànhlập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa

Nhưng đến đầu năm 1946, các đơn vị quân đội Pháp đã được đưa từ Âu châuđến quân Pháp cũng đã vào cả Lào và Căm-pu-chia Cùng lúc đó ở phía bắc, quânTrung Hoa tràn vào, mặc dầu họ không can thiệp vào Chính phủ của ông Hồ,nhưng hành động của họ cũng làm giảm lòng tin của dân chúng Tháng 2 năm

1946, ông Hồ yêu cầu người Pháp giúp đỡ, chấp nhận nền độc lập hạn chế củaViệt Nam trong khuôn khổ một liên bang Đông Dương do Pháp kiểm soát để đổilấy áp lực buộc quân Trung Hoa rút đi Một tháng sau, khi quân Trung Hoa ra đi,thì quân Pháp tiến vào Hà Nội và hiển nhiên là đụng đầu với Việt Minh Ngày 20-

11, một cuộc đụng độ nhỏ giữa các nhân viên hải quan Pháp và binh sĩ Việt Minh

ở Hải Phòng đã dẫn đến việc Pháp gửi tối hậu thư đòi trao lại hải cảng cho họ.Tám ngày sau, quân Pháp dùng vũ lực chiếm Hải Phòng trong khi Tướng Giáp rútcác lực lượng của mình về các căn cứ an toàn về vùng nông thôn Quân âm mưu

Trang 16

Pháp lật đổ chính quyền của ông Hồ ở Hà Nội và ngày 19 và 20 tháng 12 năm

1946 Cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất bùng nổ

Lúc đầu quân Pháp chiếm ưu thế, giành được quyền kiểm soát các thành phốlớn và các đường giao thông trên toàn miền Bắc Từ tháng 10 đến tháng 11 năm

1947, họ còn tiến hành các hoạt động lùng sục quy mô lớn lên phía bắc Hà Nộinhằm bắt các nhà lãnh đạo cộng sản Khi những cuộc lùng sục này thất bại, ngườiPháp quay trở lại chính sách thực dân, lập đồn bốt trên khắp vùng tạm chiến.Trong hơn một năm, chiến lược này dường như có hiệu quả nhưng trên thực tếTướng Giáp đang xây dựng lại lực lượng và mở rộng sự kiểm soát của cộng sản ởnhững làng xóm xa xôi, chủ yếu là ở Việt Bắc, một vùng ở phía đông bắc ViệtNam Đến tháng 4 năm 1949, ông đã có khoảng 300.000 quân du kích và sẵn sàngtiến công

Tướng Giáp bắt đầu cuộc tiến công vào tháng 2 năm 1950, chiếm đồn Lai Khêgần biên giới Trung Quốc, sau đó ông tiến về phía đông để tiến công Cao Bằng,Lạng Sơn ở phía đông bắc Bắc Kỳ Đông Khê - một tiền đồn ở giữa Cao Bằng vàThất Khê đã bị chiếm vào ngày 21-5 nhưng sau đó Việt Minh phải rút lui khi mộttiểu đoàn nhảy dù Pháp can thiệp Ngay khi mùa mưa chấm dứt, tướng Giáp tiếncông lần thứ hai Đông Khê cắt đứt đường tiếp viện từ phía nam lên cho Cao Bằng,buộc quân Pháp phải rút bỏ ngày 3-10

Đây là một quyết định tệ hại Lực lượng đồn trú rút lui trải dài dọc quốc lộ 4

đã bị các lực lượng du kích tiến công và lực lượng tiếp viện từ Thất Khê cũng bịđánh tan Quân Pháp thả một tiểu đoàn nhảy dù để thu hút bớt lực lượng địchnhưng đơn vị này cũng bị tiêu diệt Quân Pháp rút bỏ Lạng Sơn trong sự hoảngloạn Cho đến lúc những tàn binh cuối cùng của các đơn vị đồn trú ở đơn vị biêngiới về đến nơi an toàn ở đồng bằng sông Hồng gần Hà Nội và Hải Phòng thìngười Pháp đã mất 6.000 quân

tin chắc quân Pháp sắp bị đánh bại, Tướng Giáp nhanh chóng chuyển sang tiếncông Hà Nội biến các đơn vị du kích thành đơn vị chính quy sẵn sàng chiến đấu.Nhưng quân Pháp, dưới sự chỉ huy của tướng De Lettre Tassigny cũng nhanhchóng phục hồi lực lượng, đặt một loạt căn cứ phòng thủ xung quanh Hà Nội (gọi

là phòng tuyến De Lettre) có pháo binh, không quân và một lực lượng dự bị khôngvận yểm trợ Khi các sư đoàn 308 và 312 của Tướng Giáp dời vùng núi định đánhchiếm Vĩnh Yên, 40 dặm tây bắc Hà Nội, vào ngày 13 tháng Giêng, 1951, thì De

Trang 17

Lettre tập trung lực lượng đánh trả gây tổn thất khá lớn cho Việt Minh lần đầu tácchiến chính quy.

Cuối tháng 3, một lần nữa ông lại tung ba sư đoàn, mỗi sư đoàn khoảng 11.000nghìn quân tiến công Mạo Khê, cách Hải Phòng 29 dặm về phía bắc De Lettrebèn chuyển sang tiến công Ngày 14 tháng 11, quân Pháp nhảy dù chiếm HòaBình, 25 dặm phía tây De Lettre và nhanh chóng được tăng viện Nhưng TướngGiáp không chịu thất bại Ông triển khai lực lượng để cô lập quân Pháp với HàNội, gây cho họ thiệt hại đến nỗi tướng Raul Salan, người kế nhiệm De Lettre phải

ra lệnh rút quân khỏi Hòa Bình ngày 22 tháng 2 năm 1952 Cuộc chiến còn lâumới kết thúc

(Theo Những trận đánh quyết định của John Rimlott)

Trang 18

Việt Minh đã thắng (Dư luận Mỹ trước và sau cách mạng tháng Tám)

Dưới sự lãnh đạo của Việt Minh, của Nguyễn ái Quốc, trong những năm trướcCách mạng tháng Tám năm 1945, Việt Nam đã đứng hẳn về phía Đồng minh,chống phát-xít Đức, ý, Nhật ở nước ngoài, có những người Mỹ thường quan hệchặt chẽ với ta, cộng tác với ta Ngay trên chiến khu Việt Bắc, có trường quân sựViệt - Mỹ Với nhân dân và những người Mỹ thiện chí, ta luôn coi là bạn và hếtlòng bao che, ủng hộ, khi vì những lý do khác nhau họ rơi vào tay Nhật

Trước và sau Cách mạng Tháng Tám, nhiều bạn Mỹ từng viết những lời lẽ ưu

ái với Việt Minh với phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam

Từ trước ngày Tổng khởi nghĩa của ta, báo National Heral đã viết:

" Hiện nay, Mặt trận độc lập Việt Nam (tức Việt Nam độc lập đồng mình Việt Minh - chú thích của người sưu tầm) là một Mặt trận quốc gia của tất cả cácđảng phái và đang chuẩn bị thành lập mọt chính phủ quân sự lâm thời để cộng tácvới đồng minh Khi Đồng minh đổ bộ mở cuộc tổng phản công, họ sẽ được cácnhà cầm quyền Việt Minh đón tiếp Hiện nay, tổ chức này có tới 50.000 người đãđược huấn luyện quân sự và tổ chức thành các đơn vị du kích chống Nhật, ủng hộĐồng minh và đấu tranh giành độc lập " (Theo La vérité sur lé Việt Nam)

-Trong thư của 9 đoàn thể chính trị Mỹ gửi Liên hiệp quốc (do báo Cứu quốctrích đăng lại số ra ngày 28-1-1946) các đoàn thể trên đòi " Hội nghị Liên hiệpquốc phải làm kết liệu ngay chủ nghĩa đế quốc ở Đông Dương (tức là ở Việt Nam,Lào, Cao Miên - chú thích của người sưu tầm) và ở tất cả những nơi nào có nạnxâm lăng của đế quốc "

Dư luận ủng hộ nền độc lập của Tổ quốc ta, ngợi ca Việt Nam càng rộ lênnhiều hơn sau cách mạng tháng Tám

Báo Cứu quốc số 171 ra ngày 23 tháng 2 năm 1946 đăng ý kiến của một nhàbáo Mỹ:

" hồi năm 1940, tôi đã có dịp qua Đông Dương Lúc ấy vừa vào tay NhậtBản So sánh trình độ dân Việt Nam ngày ấy với bây giờ (nghĩa là với thời kỳ sautháng 9 năm 1945 - chú thích của người sưu tầm) tôi thật lấy làm lạ Bây giờ chỉ

có những kẻ cận thị mới không công nhận sự quan trọng và ý nghĩa sâu xa của cácphong trào độc lập bên á Đông "

Trang 19

Phóng viên Palerhope (Hãng thông tấn Associated Press ở Huế)nói rõ:

"Dân tộc Việt Nam là một dân tộc văn minh như các dân tộc khác trên thế giới,những điều kiện sinh hoạt và văn hóa không khác nhau mấy, rất xứng đáng đượcthế giới công nhận hoàn toàn độc lập Tôi rất sáng suốt nhận thấy Pháp đã cố ý đingược phong trào và người Anh đã loạn óc làm những việc ương ngạnh vì quyềnlợi riêng (ám chỉ hành động xấu xa của người Anh nhân danh Đồng minh vào giảigiáp quân phát-xít Nhật ở Nam Bộ đã đồng lõa với thực dân xâm lược Pháp trongviệc Pháp tái chiếm Sài Gòn và những nơi khác ở miền Nam Việt Nam sau ngày

25 tháng 8 năm 1945 - chú thích của người sưu tầm " (báo Cứu quốc số 171 ngày23-2-1946)

Trên The Struggle For Indochina (Chiến đấu Đông Dương) phát hành ởCalifornia Mỹ - tác giả Ellen I Hammer thừa nhận:

" Đâu đâu Việt Minh cũng tỏ ra có tài tổ chức Đó là điều thừa hưởng củaĐảng Cộng sản ở các tỉnh, Việt Minh đều tổ chức được các ủy ban cách mạngtỉnh và đứng đầu (cả nước) là ủy ban trung ương toàn quốc (tức Chính phủ lâmthời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo - chúthích của người sưu tầm)

Ngoài ra không có một chính phủ nào thực tế tồn tại trước Việt Minh và không

có một nhóm độc lập có tổ chức để cạnh tranh với Việt Minh Vì vậy, tháng 8 năm

1945, Việt Minh trở thành một Mặt trận quốc gia rộng lớn, đoàn kết được rất nhiềungười Việt Nam không phân biệt xu hướng chính trị và có cơ sở trong quầnchúng

Qua thực tế, Ellen I Hammer khẳng định: "Từ trước tới giờ, Việt Nam chưabao giờ đoàn kết như vậy Vua (ý nói Bảo Đại - chú thích của người sưu tầm) vàdân chúng, công giáo và nho giáo, bảo thủ và cộng sản tất cả đều ủng hộ nướccộng hòa trẻ tuổi"

Virginia Thompson và Richard Adlaft lại viết trong The Leff wing in East Asia (phía bên trái Đông Nam á) xuất bản tại Nữu ước Mỹ):

South" Thật là ngạc nhiên khi thấy Việt Minh đã thắng đối thủ (Đồng Minh Hội chú thích của tác giả) và thực tế đã thiết lập ở Hà Nội một chính quyền lâm thời.Chắc rằng thắng lợi của Việt Minh chủ yếu là do có một tổ chức cao và được sạủng hộ và nhất là do có tài năng và uy tín của Hồ Chí Minh Ngoài ra từ năm

-1943, chương trình Việt minh đã chắc chắn đặt trên nền tảng quốc gia độc lập và

Trang 20

dân chủ, nó có thể hơn bất cứ một chương trình (nào) trước đây (đã công bố) haysau này của Đồng minh Hội (là một tổ chức phản động do Nguyễn Hải Thần đứngđầu và Tàu Tưởng đưa về nước để phá cách mạng ta ngay từ ngày chế độ mới

"trứng nước" - chú thích của người sưu tầm)

Những đánh giá tương tự của hết thảy những ai đó lương tri, tôn trọng chínhnghĩa và sự thật không riêng ở Mỹ mà ở khắp thế giới cách nay hơn nửa thế kỷ đốivới Việt Nam, đối với Việt Minh còn rất nhiều Trước đây "việt Minh đã thắng",chắc chắn với đường lối "đổi mới", "mở cửa", "hòa bình, hữu nghị, tôn trọng lẫnnhau, không xâm phạm vào chủ quyền của nhau", v.v và v.v được Nhà nước takiên trí thực hiện giờ đây, Việt Nam mình sẽ thắng đói, thắng nghèo, thắng lạchậu; Việt Nam mình sẽ tiến mạnh lên xây dựng thành công một nước giàu mạnh,công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Kỷ niệm 52 năm ngày Quốc khánh; chúng ta nhằm thẳng "cái đích" đó vươnlên

Vũ Lân

Trang 21

Tướng Salan và những bức điện hoảng loạn

Lê KimTrong số các tướng chỉ huy của Pháp trực tiếp xâm lược Việt Nam, RaoulSalan được các nhà sử học Pháp đánh giá là một sĩ quan Pháp kỳ cựu, hiểu biếtĐông Dương nhiều nhất so với các tướng khác Salan là một trong những ngườitrực tiếp vạch kế hoạch, đồng thời cũng là người trực tiếp chỉ huy cuộc hành quântiến công lên Việt Bắc Thu Đông năm 1947 Cuộc tiến công này đã được Phápsoạn thảo, chuẩn bị và tiến hành như thế nào?

Theo chính Salan tiết lộ trong tập 2 cuốn hồi ký 4 tập do Nhà xuất bản Xi-tê(Pháp) xuất bản năm 1971, thì mục đích cuộc tiến công này là nhằm tận dụng yếu

tố bất ngờ, tập trung lực lượng đánh trúng cơ quan đầu não kháng chiến của ViệtNam, bắt sống Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số thành viên trong ban lãnh đạoĐảng và Chính phủ Việt Nam Xaln suy luận, một khi Chủ tịch Hồ Chí Minh vàphần lớn ban lãnh đạo đã nằm gọn trong tay Pháp thì cả bộ óc và linh hồn cuộckháng chiến nhất định tan rã, Pháp sẽ nhanh chóng khuất phục được nhân dân ViệtNam, tiến tới bình định toàn cõi Đông Dương

Salan nhấn mạnh trong hồi ký: "Tôi còn nói rõ, tôi là người chịu trách nhiệmduy nhất về chiến dịch này, được đặt tên là chiến dịch mùa Thu 1947, phù hợp vớicác huấn thị của chính phủ Pháp Chính tôi là người trực tiếp soạn thảo các kếhoạch, ban hành các chỉ thị, đề xuất các mệnh lệnh chiến đấu Tôi đã trực tiếp ralệnh cho:

- Trung tá Sauvagnac, chỉ huy binh đoàn S, nhảy dù xuống Bắc Kạn

- Trung tá Beauré, chỉ huy binh đoàn B, theo đường bộ tiến lên Cao Bằng,khóa chặt đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc

- Trung tá Communal, chỉ huy binh đoàn C, tiến theo sông Lô và sông Gâm,khóa chặt sườn phía Tây của khu căn cứ địa Việt Minh, sát trục đường Việt Trì -Chiêm Hóa "Để trực tiếp theo dõi, đôn đốc cuộc hành quân, tôi đã sử dụng mộtchiếc máy bay loại nhẹ của Hải quân Đây là chiếc Ca-ta-lia-na, tốc độ trung bìnhnhưng bay được lâu, bố trí nhiều thiết bị thông tin có thể duy trì liên lạc thườngxuyên với các đơn vị dưới đất"

Mũi tiến công chủ yếu mà Salan ấp ủ nhiều hy vọng nhất, là trận nhảy dùxuống Bắc Kạn Có thể nói, trận nhảy dù này đã được tiến hành rất đúng bài bản.Khoảng 11 giờ sáng ngày 7 tháng 10, lúc chiếc máy bay Catalina chở Satan đang

Trang 22

lượn vòng trên vùng trời Bắc Kạn, Salan đã nhận được bức điện đầu tiên của chỉhuy binh đoàn S nhảy dù từ dưới mặt đất gửi lên, báo tin:

- Đại đội đi đầu đã chiếm bệnh viện tỉnh, kho bác, nhà máy điện thị xã

- Đang đánh rộng ra nhiều nơi trong thị xã, phát hiện nhà để xe, kho hàng củanhà buôn người Hoa

- Địch (Việt Minh - T.G) bị hoàn toàn bất ngờ

- Cuộc hành quân tiến triển tốt Ta (Pháp T.G) chỉ có vài người bị thương.Tuy nhiên, có một "sự kiện" đã khiến cho Salan phải dành toàn bộ chương 6,

từ trang 119 đến tràn 122 để viết thêm như sau:

"Những bức điện nói trên do thiếu tá Hải quân Husson phụ trách điện đài trênchiếc Ca-ta-li-na, chuyển cho tôi vào hồi 11 giờ, cho biết cuộc hành quân đã tiếnhành bình thường như đã định Nhưng, đến 11 giờ 10 phút, thiếu tá Husson lạitrình tôi một bức điện nữa, ghi nguyên văn như sau:

"Binh đoàn S gửi Tổng tư lệnh, nhờ chuyển gấp về Hà Nội: Chúng tôi đã tómđược chính phủ Việt Minh"

Rồi, vào lúc 11 giờ 20, 11 giờ 45, 11 giờ 35, 11 giờ 45 lại liên tiếp có điện:

- Đúng rồi Không nghi ngờ gì nữa

- Tôi có một bức thư của Hồ Chí Minh

- Hồ Chí Minh đã bị làm tù binh, đề nghị chấm dứt chiến tranh

- Đúng rồi Không nghi ngờ gì cả Chúng tôi vẫn tiếp tục cuộc hành quân Tôi

sẽ cho giải Hồ Chí Minh về đại bản doanh"

Salan bộc lộ trong hồi ký: "Mới đầu tôi rất ngạc nhiên và vui sướng CảHusson và Luquet cùng đi với tôi cũng rất mừng Nhưng rồi chúng tôi suy nghĩ tựhỏi: Có đúng không? Và nếu đúng thật thì quả là tuyệt

Tôi quyết định quay trở về Hà Nội Dù hãy còn đôi chút dè dặt tôi thấy vẫnphải báo cáo với Tổng cao ủy là người đại diện chính phủ Pháp Tôi tự xác định,tôi không có quyền giấu giếm những bức điện này, mặc dù trong ý nghĩ, tôi thấy

nó vẫn khó hiểu?"

Sáng hôm sau, từ đại bản doanh đặt tại Hà Nội, Salan vẫn tiếp tục nhận đượcđiện của Binh đoàn S từ Bắc Kạn giử về, Salan viết:

"Hồi 9 giờ 30 phút ngày 8 tháng 10, chúng tôi nhận được điện của binh đoàn S

từ Bắc Kạn do tổng đài tại Hà nội chuyển tới: "Tăng viện gấp Chúng tôi đang bị

Trang 23

đánh" Bức điện đã làm tôi lo ngại Tôi vội lệnh cho trung tá Dela Baume chuyểnngau tiểu đoàn dù đang chuẩn bị nhảy xuống Chợ Đồn theo kế hoạch, nhảy xuốngBắc Kạn để tăng viện cho Sauvagnac Nhưng sau đó binh đoàn S vẫn liên tiếp gửiđiện về kêu cứu Tôi lại phải cho thêm một tiểu đoàn dù nữa của Fossey nhảyxuống Bắc Kạn, đáng lẽ theo kế hoạch thì tiểu đoàn này nhảy xuống Chợ Đồn.

Và rồi tôi lại nhận được một bức điện hoàn toàn ngược lại, cũng vẫn do binhđoàn S chuyển về, nội dung như sau: "Đề nghị ngài ra lệnh phóng thích cho tôi đểtôi được thương lượng với ngài về ngừng bắn ký tên: Hồ Chí Minh"

Cho tới lúc này Salan để hiểu rõ "Không làm gì có chuyện đã bắt được CụHồ" Nhưng tại sao có bức điện ký tên Hồ Chí Minh mà nhân viên điện đài trênchiếc Ca-ta-li-na đã nhận được? Salan bộc lộ trong hồi ký: "Theo tôi phán đoànthì, hoặc là nhân viên điện đài trên chiếc Ca-ta-li-na bị điên, hoặc là hắn đã lừachúng tôi" Lúc này đã 14 giờ Tôi phải sang sân bay Gia Lâm để đón các nhàchức trách chính quyền Chiếc Đa-cô-ta từ Sài Gòn bay ra chở hai người là Tổngcao ủy và Đô đốc Baltet, cả hai đều vui vẻ tươi cười sẵn sàng khen ngợi tôi Tôivội nói ngay:

- Chúng tôi đã bị lừa

Đô đốc nói ngay:

- Kẻ chịu trách nhiệm về việc này sẽ bị xử bắn trước hàng quân

Một ủy ban điều tra được thành lập đứng đầu là đại tá hải quân Barrierè, viên

hạ sĩ quan phụ trách điện đìa, chịu trách nhiệm thu và ghi lại các tin điện bị thẩmvấn rất kỹ trong nhiều ngày nhưng không có kết quả ủy ban điều tra chỉ có thể kếtluận, hoặc đây là một trạng thái hoảng loạn tâm thần của Tanguy, viên hạ sĩ quanchuyên nghe điện, thường tự hào có đôi tai rất thính, không thể nhầm lẫn; hoặcđây là một "tác phẩm" của kẻ thứ ba

Trang 24

NĂM 1998

Tướng bốn sao Hen-ri Na-va là vị tướng thứ bảy làm tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương (1953-1954) khi đang đảm trách chức tham mưu trưởng lục quân khối NATO ở Trung âu, là người kết thúc bi thảm-đã chôn vùi sự nghiệp trên bán đảo Đông Dương, với sự kết thúc vĩnh viễn chế độ thống trị của thực dận Pháp đã tồn tại gần thế kỷ ở đây Chứng kiến từ đầu đến cuối mọi diễn biến của sự kiện Điện Biên Phủ, trong cuốn hồi

ký “Thời điểm của những sự thật” xuất bản năm 1979, Na-va đã viết về “số mệnh của Véc-đoong châu á” này như sau:

TRậN CHIếN LƯợC ĐIệN BIÊN PHủ CHIếN TRANH NHìN Từ PHíA BÊN KIA Tại sao Điện Biên Phủ?

Tại sao tôi cho chiếm Điện Biên Phủ và chấp nhận giao chiến ở đấy? Muốnhiểu phải quay lại tình hình cuối 10-1953, khi Việt Minh bỏ ý định tiến công đồngbằng, hướng nỗ lực lên miền thượng du Bắc Bộ và Bắc Lào Về mặt quân sự, việcbảo vệ Thượng Lào đối với ta (quân Pháp) cần thiết biết nhường nào, nếu ta khôngmuốn chứng kiến cái cảnh chỉ vài tháng nữa toàn bộ miên Trung và miền NamĐông Dương sẽ bị sụp đổ Nhưng bảo vệ Lào như thế nào? Theo nguồn tin giải mãthì con đường từ Tuần Giáo, Điện Biên Phủ tốt hơn, là con đường đại quân ViệtMinh sẽ đi Ta tính toán có thể 1-12-1953 họ sẽ tới Điện Biên Phủ và cuối tháng sẽtới Luông Phạ-bang Việc bảo vệ Lào một cách trực tiếp tuyệt đối là không thểbảo đảm được bằng cách đánh theo kiểu vận động chiến Vậy cần phải có biệnpháp khác, đó là thiết lập các “căn cứ không - bộ”, các “con nhím” hay “các tâpđoàn cứ điểm” sẽ chặn được đối phương tiến công lớn

Nhưng có thể tổ chức phòng thủ, đặt tập đoàn cứ điểm đó ở đâu? Nếu chọnLai Châu, nơi duy nhất ta còn giữ được ở Tây Bắc, thì vừa khó phòng thủ lại vừaqúa xa đường tiến của Việt Minh mà ta phải chặn Vậy điểm duy nhất thích hợpcho xây dựng một căn cứ không - bộ theo ý định của ta là Điện Biên Phủ để chặnđứng đối phương

Tổ chức chỉ huy tầm chiến lược

Trận giao chiến sẽ xảy ra mang tầm cỡ chiến lược toàn Đông Dương nên về

lý thuyết nó phải được giao cho một cơ quan chỉ huy đặc biệt, trực thuộc Tổng chỉhuy Đông Dương Nhưng trên thực tế, làm như thế không thuận Để chỉ huy, duy

Trang 25

nhất chỉ có Bộ tham mưu lục quân và không quân ở Hà Nội là có khả năng, bởi chỉ

nó mới có phương tiện Thế là quyền chỉ huy từ đầu chí cuối được giao cho một

Bộ chỉ huy gồm Tướng Cô-nhi chỉ huy lục quân Bắc Bộ và tướng Đờ-sô chỉ huykhông quân chiến thuật phía Bắc Tuy nhiên do tầm quan trọng chiến lược đối vớitoàn Đông Dương nên tôi đã cử phó tướng Bô-đê của tôi thường trực ở Hà Nội.Bản thân tôi cũng luôn có mặt ở Hà Nội cả trước và trong trận đánh, đặc biệt làtrong những thời kỳ gay cấn nhất Tướng Cô-nhi có quyền quyết định tất cả những

gì liên quan trận đánh, những gì thuộc cấp tổng chỉ huy thì do tôi quyết định Đại

tá thiết giáp Đờ Cát, người đã chiến đấu ở I-ta-li-a, Đức, Pháp, hai lần phục vụ ởBắc Bộ được chọn chỉ huy Điện Biên Phủ

Tổ chức phòng ngự “bất khả xâm phạm”

Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là tập hợp những gì được phòng thủ mạnhnhất và chưa từng có ở Đông Dương Đặc biệt tôi đã tổ chức thêm cụm cứ điểm I-da-ben làm trận địa pháo chi viện cho khu Trung tâm; đưa lên thêm 1 tiều đoàn xetăng, bổ sung các vũ khí đặc biệt như súng phun lửa, máy hồng ngoại Tôi cònquyết định dành ra 5 tiểu đoàn dù đóng quanh Hà Nội, sẵn sàng chi viện Điện BiênPhủ cho nhanh

Trước khi xảy ra trận đánh, nhiều quan khách đã lên thăm Điện Biên Phủ:Plê-ven, Bộ trưởng quốc phòng; Đờ Sơ - vi-nhê, Bộ chiến tranh; các tướng Ê-ly,Tổng tham mưu trưởng quân đội; Blăng, tham mưu trường lục quân; Phay, thammưu trường không quân; Hinh, tham mưu trưởng quân đội Việt Nam; Ô-đa- ni-en,trưởng phái đoàn viện trợ quân sự Mỹ Trả lời câu hỏi của tôi về trình độ, khảnăng phòng thủ của tập đoàn cứ điểm, ông Đờ Sơ-vi-nhê đã trả lời tôi một cáchkiên quyết: “Thật là bất khả xâm phạm Vả lại họ không dám tiến công đâu”.Tướng B.lăng chỉ trả lời gọn: “Đây là Véc-đoong châu á”

Sụp đổ, tuyệt vọng: đầu hàng

Giữa lúc ở Điện Biên Phủ, trận đánh sẽ được tiến hành trong những điềukiện thuận lợi thì một sự kiện quan trọng đã xảy ra làm đảo lộn mọi vấn đề Đó lànước Pháp yêu cầu mở hội nghị ở Giơ- ne-vơ Việt Minh hoàn toàn biết trước và ýthức được họ có thể chờ đợi được những gì ở hội nghị Để giành toàn thắng, việtMinh tiến công trên tất cả các mặt trận, nhàm kiềm chế, phân tán các lực lượngmặt đất và trên không cảa Pháp, nhưng nỗ lực chù yếu là nhằm vào Điện BiênPhủ Đây là nơi đối phương muốn giành được thắng lợi vang dội, đánh bại ý chícủa Pháp và bảo đảm cho thắng lợi chính trị ở Giơ-ne-vơ Sau các đợt tiến công,ngày 1-5 Việt Minh bắt đầu tổng công kích Theo yêu cầu cùa tướng Cô-nhi, ngày2-5 tôi sẽ ném xuống nốt tiểu đoàn dù thứ năm - tiểu đoàn 1 thuộc địa Đến đêm

Trang 26

mồng 6, rạng ngày 7 tình hình trở nên tuyệt vọng’ tôi đã ra những mệnh lệnh dứtkhóát: Cấm đầu hàng Sáng 7-5 tướng Đờ Cát, được sự đồng ý của Cô-nhi va tôiquyết định đến đêm sẽ rút, nhưng Việt Minh đã khẩn trương tấn công Khu trungtâm mất lúc 17 đến 19 giờ ngày 7-5 Đến tối đội quân ở I-da-ben định mở đườngchạy sang Lào nhưng không kết quả Chúng ta mất khoảng 16.000 người Tổn thấtcủa không quân là 36 chiếc máy bay bị bắn rơi và phá hủy, bị thương là 150 chiếccùng 70 người chết, mất tích

Trước đó về cuộc can thiệt để giải vây do Mỹ đề nghị và Chính phủ Phápchấp nhận đã được nghiên cứu đến chi tiết Tướng Ê-ly hỏi y kiến tôi và tôi đã trảlời: Sự can thiệp ồ ạt của không quân Mỹ có thể cứu nguy cho Điện Biên Phủ Cuộccan thiệp này - mang mật danh “Chim kền kền” được nghiên cứu chi tiết với các chỉhuy không quân Mỹ ở Thái Bình Dương, có thể sử dụng khoảng 300 máy bay từ cáctàu và 60 máy bay phóng pháo hạng nặng xuất phát từ Phi-líp-pin Nhưng rốt cuộclệnh thi hành chẳng thấy ban bố và Tổng thống Ai-xen-hao từ chối không can thiệpnữa Chiến dịch “Chim kền kền” bị “sảy thai” sớm, việc mất Điện Biên Phủ dẫn đến

“sụp đổ tinh thần” của nước Pháp Chính là vào cái ngày quyết định họp Hội nghịGiơ-ne-vơ (khi hội nghị Béc-lin kết thúc 18-2) mà số phận của Điện Biên Phủ đãđược định đoạt và thương lượng trong những điêu kiện như vậy thì có khác gì phómặc chúng ta vào tay Việt Minh Tôi đánh giá hiệp định Giơ-ne-vơ là một sự “đầuhàng” Ngay đến tận bây giờ, tôi vẫn chưa thấy có chữ nào khác đúng hơn!

NGUYễN HảI

(Lược thuật, giới thiệu)

Về TRậN TIÊN YÊN (NINH BìNH)

Và LƠ-CLéC CON

HàN THụY VũĐầu năm 1952 tiểu đoàn 884, trung đoàn 48, Đại đoàn 320 chúng tôi tiếnsấu vào Tiên Yên, nằm trong vùng sau lưng địch huyện Yên Khánh, tỉnh NinhBình, nhằm tiêu diệt đồn Bến Xanh Tiểu đoàn vừa đứng chân đêm 3-1-1952, sángmồng 4-1 địch dựa vào 4 vị trí xung quanh, huy động 2 tiểu đoàn lính Âu-Phi vàngụy có pháo binh, tàu chiến, xe bọc thép, máy bay tăng cường, tiến hành bao vâycàn quét nhằm diệt gọn quân ta ở khu vực Tiên Yên

Trang 27

Tiểu đoàn 884, dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Kim Tuấn, có trung đoàn phóTrần Qụang Liên đi cùng, nhận được lệnh, đã nhanh chóng chuyển đội hình từđánh công kiên sang vận động chống càn quét Trận chống càn quét thắng lợi rực

rỡ, được Bác Hồ tặng danh hiệu “Tiểu đoàn Tiên Yên” và Bộ Tổng tư lệnh tặngthưởng huân chương Quân công hạng nhì

Gần đây chúng tôi tìm được 2 tài liệu có ý nghĩa: “Nhật ký tác chiến của

đồn Yên Cư Hạ” gọi tắt là TL1 (Chụp bản gốc viết tay) và “Chân dung trung úy

Hăng-ri Lơ-cléc” in thành cuốn sách mỏng, gọi tắt là TL2 Trận Tiên Yên đã được

lịch sử quân đội ta ghi nhận bằng những nét vàng- son Nay chúng ta nhìn lại trận

Tiên Yên do chính đối phương ghi nhận cũng là có ích

TL1 ghi:'“Ngày 3 tháng 1 (1952) nhiều cuộc Chuyển quân của một số đơn

vị Việt Minh được xác định trong vùng “ngón tay” (dải đất hẹp tạo ra bởi dòngsông Đáy, tương đương vị trí 3 làng Tiên Yên, Nhuận Hải Vận Thịnh)”

TL2: “7 giờ (ngày 4-1) các đơn vị vào vị trí như kế hoạch quy định củacuộc càn quét” Địch tập trung lực lượng có xe bọc thép tăng cường, sau nhiều đợtpháo bắn chuẩn bị ác liệt, tiến vào theo nhiều hướng” “Đến 9 giờ 30 đại đội 2tiến tới ngã tư (tọa độ 261-442) và bố trí đối diện (quân ta) ở phía bắc và phíatây đại đội 3 được lệnh tiến chậm lại và họ bắt đầu chạm trán với một số đơn vịViệt Minh trong làng Đông Khu bắc (250-349) Họ phát hiện rất đông quân địchxuất hiện đột ngột chỉ cách họ vài chục mét, họ xin được lui quân khoảng 200 méttới một ngôi chùa (267-435) và xin pháo binh chi viện Pháo binh đã bắn liên tục

từ 9 giờ 30 tới 10 giờ”

“Từ 11 giờ 45 đến 12 giờ 45, máy bay ném 8 quả bom na-pan va bắnphá 12 giờ 45 pháo binh đã bắn 100 quả đạn và cối 81 mi-li-mét, bắn 50 quả vàotọa độ 250- 440 (xóm Trung, xóm cổng thuộc Nhuận Hải, Vân Thịnh) 12 giờ 50đại đội 2, tiểu đoàn Âu-Phi tiến công và vào được làng Phân đội xe bọc thép tiếntheo đã càn quét tới cuối làng Quân Việt Minh phản kích rất mãnh liệt, lính Phingười An-giê-ri bị hất rã và bị vượt qua Hai xe bọc thép dẫn đầu bị tràn ngập, mộttrong 2 chiếc bị ba-dô- cabán hạ, đội xe bị bắt sống Đại đội 4 được đẩy lên tiếpứng phía sau đại đội 2 Đại đội 2 được lệnh chuyển sạng làm đội dự bị Lúc nàycác đơn vị Việt Minh xuất hiện rất đông Có đụng độ với đại đội 263 ở chợ BếnXanh Quân địch mở nhiều mủi tiến công từ 14 giờ tới 15 giờ vào phía tây và tâynam Bắc Khu là những nơi họ xuất hiện rất đông Tối 15 giờ sau đợt pháo bắn 200quả vào tọa độ 250-440, đại đội 4 mở cuộc tiến công vượt qua đội hình đại đội 2.Đồng thời đại đội 264 đánh vào Trung Khu có hỏa lực chi viện của đại đội 3 vàphía sau có đại đội 1 hỗ trợ Quân Việt Minh phản kích rất mạnh không đếm xỉa

Trang 28

tới những đợt pháo binh bắn phá Trong hoàn cảnh phân đội xe bọc thép không tìmđược đường rút, đại đội 4 tiến phía sau bị một lực lượng rất đông quân địch bámđánh không ngừng, được lệnh rút lui Đại đội 264 bám được rìa làng Trung Khu(245-441) Họ lập tức bị đánh trả rất ác liệt với sức mạnh cực kỳ to lớn (khoảng 3đại đội) và bị nhận chìm Trung uy Ma-lê (Mallet) chỉ huy đại đội bị thương nặng.Đại đội 264 rút lui hỗn độn về phía đại đội 1 Đại đội này cũng đã bị đối mặt giáp

lá cà xáo trộn với quân phản kích địch Sự phối hợp của đại đội 1 trở thành vôvọng Trung úy Lơ-clec (Leclerc) chỉ huy đại đội 1 hạ lệnh rút lui Lúc này quânđịch đã đánh thảng vào đại đội 1 và họ đã bị rối loạn cực độ Họ bị cắt làm đôi, 1

bộ phận chạy về khu nghĩa địa 232-434, tại đây trung úy Lơ-clec bị thương nặng,một bộ phận chạy về Hạ Đồng cùng trung úy Pô-ti-rông (Potiron) chỉ huy phó đạiđội Đại đội 264 cũng bị cắt làm đôi, một bộ phận chạy theo đại đội 1, một bộphận chạy về Phướng Mai Quân Việt Minh tiếp tục phát triển tới con đường VânBồng - Phúc Nhạc, áp sát và uy hiếp vị trí Vân Bồng”

Đến đây chúng ta thấy một phần diễn biên ác liệt của trận chống địch quét

tạ Viên Yên do chính họ nhận xet đánh giá Người viết bài này muốn dành ít dòng

về trung úy Lơ-cléc Cuộc kháng chiến chống sâm lược thực dân của nhân dân ta

đã hạ bệ bao nhiêu tướng lĩnh Pháp lừng danh, ngốn bao sinh mạng binh lính xâmlược, trong đó có nhiều sĩ quan quý tộc con dòng cháu giống Nhớ ngày 29-5-1951trong trận ta tiêu diệt Gối Hạc (Ninh Bình), tên Béc-na Đờ Lát con trai tướng ĐờLát Đờ Tát-xi-nhi đã bỏ mạng Nay trong trận Tiên Yên, đến lượt Hăng-ri Lơ-cléccon trai tướng Phi-líp Lơ-cléc, tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương năm

1945, chết bỏ xác tại trận

Phải nhận rằng chàng trai Lơ-cléc con này lạ một thanh niên của một nước

Pháp yêu tự do Năm 17 tuổi anh ta đã tham gia cuộc kháng chiến chống xâm lược

phát-xít Đức “Anh đã góp phần tích cực trong các hoạt động bí mật và giànhthắng lợi trong nhiều tình huống hiểm nghèo bên cạnh quân đồng minh” Đếntháng 8-1944 anh được tuyên dương là “tấm gương của lòng qủa cảm và tận tụyphục vụ Tổ quốc” tiếp đó anh ta còn mấy lần bị thương trong cuộc chiến tranhgiải phóng nước Pháp

Cuối tháng 12-1945, được phong thiếu úy, anh ta đã chọn sư đoàn 2 thiếtgiáp, một lực lượng xung kích sẽ đưa chiến tranh sang Viễn Đông Anh ta cùngđơn vị đổ bộ lên Hải Phòng, rồi Lạng Sơn và Hà Nội (18-3-1946) Anh ta chạmtrán với “quân Việt Minh” và nhân dân Việt Nam Đến đây lý tưởng “phụng sự Tổquốc” và “lòng quả cảm’" của Lơ-clec con đa biến anh ta thành một tên xầm lượcthực dân với đầy đủ thói tàn ác, dã man Quân ta đã cho y nếm lựu đạn ở Phủ Lạng

Trang 29

Thương và ngay 19 tháng 12 tại Hà Nội, y lại ăn đạn, vết thương đã găm y 5 thángtrên giường bệnh Y luẩn quẩn với nhưng y nghĩ “trả lại cho đất nước những giá trịđích thực”, buồn bực vì “không còn một quân đội hùng mạnh như trong cuộcchiến tranh trước (giải phóng nước Pháp)” và “người ta không coi trọng chấtlượng bằng số lượng” Có vẻ y đã trưởng thành nhiều trong tư tưởng của mộtngười chỉ huy Nhưng duy có một câu hỏi cốt tử về bản chất của cuộc chiến tranh

ở Việt Nam thì y cũng như các tên trùm thực dân không bao giờ đặt ra hoặc chegiấu kín Y ngày càng trượt dài và lao sâu vào cuộc chiến tranh thực dân xâm lượcphi nghĩa và đặc biệt vô nghĩa với nhân dân Pháp Số phận của y đã được địnhđoạt tại Tiên Yên như của cả đạo quân xâm lược mấy năm sau

Tập “Chân dung trung úy Hăng-ri Lơ- cléc” đã ghi lại nhũng phút cuốicùng của y như sau: “Đến 14 "giờ 15, trung úy Lơ-cléc nhận lệnh tấn công TrungKhu, nối liên lạc với đại đội 264 (quân ngụy) do trung úy Ma-lê (Mallet) chỉ huy

Dự định đợt tiến công chia làm hai bước: đại đội 264 đánh chính diện, đại đội 1tiến công bên sườn khi đại đội kia nổ súng Sau cuộc cối 60 bắn chuẩn bị, trung úyMa-lê đứng dậy tung đại đội xung phong, quân Việt phản kích: trung úy Ma-lê bịgiết ngay từ loạt đạn đầu Quân Việt triển khai cuộc phản kích trên ba hướng: một,đối mặt đại đội 264 (ngụy), mặt khác vào đại đội 1, mũi thứ ba bao vây đại đội này

từ bên trái Đại đội 264, mất người chỉ huy, quay lui giữa rất đông quân địch bámriết mãnh liệt Thoạt đầu, trung úy tơ-cléc định ngăn chặn làn sóng phản kích,nhưng chính đơn vị anh ta cũng bị tràn ngập, liền ra lệnh cho binh sĩ rút lui khỏiTrung Khu Họ rất khó khăn khi bị bật ra ngoài ruộng, một bộ phận nhỏ của đạiđội và Lơ-cléc tới được một nghĩa địa ở phía tây Trung Khu Anh đã bị thươngnặng vào đùi Trung úy Đại, một trong những chỉ huy phân đội cố vác anh trên vaichạy trốn Nhưng quân Việt bám sát không rời Đại dùng lựu đạn chống trả sau

đó không còn một tin tức nào về những giây phút cuối của trung úy Lơ-cléc, thihài không bao giờ còn tìm thấy”

Vậy là Lơ-cléc bố, tướng Phi-líp Lơ-cléc từng là tổng chỉ huy quân xâmlược Pháp ở Đông Dương đã mất xác trong một tai nạn máy bay mập mờ ờ châuPhi, nay đến lượt Lơ-cléc con cũng không thoát được một kết cục bi thảm Phảichăng đó là số phận tất yếu của những tên lính thực dân xâm lược?

SK&NC

Trang 30

NĂM 1999

VIệT MINH Là “NHữNG NGƯờI CON LỗI LạC”

CủA “MộT NHÂN DÂN SÔI NổI NHIệT TìNH”

Ma-ri và Béc-na là giáo viên trường trung học An-be Xa-rô, sau ngày Nhật đảo chinh Pháp (9-3- 1945), là những người Pháp trong đoàn người đã tình nguyện rời Tam Đảo “di tản” sang vùng chiến khu của Việt Minh, vì như

họ nói “ Chúng tôi cảm thấy rằng, những con đường nhỏ ỏ bên kia đèo Thái Nguyên là con đường dẫn tới tự do nơi mà hoạt động của Việt Minh còn là

bi ẩn đối với chúng tôi ” Họ đã kể lại sự thật, “những điều mắt thấy, tai nghe” qua thư gửi cho những người bạn Pháp của họ đang ở Hà Nội:

Ngày 16-7-1945, khi quân ta tấn công đồn Nhật ở Tam Đảo, đã tìm cáchthông báo cho những người Pháp biết trước và tổ chức cho họ rút ra để bảo đảm antoàn cho họ Và họ, “với những chiếc ba lô đã sẵn sàng”, đã “quyết định chọn conđường mạo hiểm, sau khi đã bắt mối liên lạc được với mấy cán bộ Việt Minh” chỉhuy trận đánh-Ma-ri kể tiếp-Chồng tôi và một người bạn trẻ chạy đi bới dưới đất 2khẩu súng đã giấu không cho quân Nhật tịch thu rồi tất cả hướng theo đường đèo

mà tiến Đi theo có 7 bạn và một nhóm mười người khác nữa Với ba lô nặng trĩunhưng tâm hồn nhẹ nhõm đặt niềm tin vào những người hướng dẫn

Giữa những tiếng súng và lựu đạn nổ, chúng tôi được khỏe khoắn lại vìnhững gương mặt cởi mở, những nụ cười thẳng thắn, những bàn tay chìa ra nắmlấy chúng tôi khi chúng tôi đi qua ”

Từ chổ “bí ẩn” đối với họ, khi được tiếp xúc và sống trong khu giải phónggian khổ, những người Pháp này đã “khám phá” hiểu ra ràng: “ Việt Minh khôngphải là những người “làm giặc”, cũng không phải là những người ghet Pháp màchỉ là những người ghét chủ nghĩa phát xít và muốn giải phóng xứ sở của mìnhkhỏi ách Nhật Bản Đó là những phần tử đầy sức sống mạnh mẽ nhất, của một đấtnước đầy năng động va sức lực dồi dào Cuộc “di tản” khiến chúng tôi tiếp xúcđược với những con người lỗi lạc và đó là một trong những niềm vui lớn củachúng tôi ”

Từ chỗ “khám phá” ra “bí ẩn, họ đi đến khẳng định: “ Chúng tôi khôngthể nghi ngờ gì về sự hoàn hảo của một tổ chức (Việt Minh) đã đạt tới mức thầnkỳ Hơn cả những cuộc dạo chơi dưới trăng, hơn cả những mùi vị tuyệt vời củanhững món ăn An Nam Chúng tôi được nếm niềm vui thắt chặt những quan hệtrực tiếp và chân thật với những người chỉ huy trẻ tuổi, thông minh, hào hứng, và

Trang 31

ngoài họ, với tất cả một nhân dân sôi nổi nhiệt tình ” Vùng chiến khu cách mạng

đã “chinh phục” những người Pháp “di tản” bởi lối sống cách mạng đẹp đẽ làm họkinh ngạc: Tôi không thể ghi nhận hết được tính liêm khiết tuyệt vời mà ViệtMinh đã cho lên ngôi được trong toàn bô vùng mình - Ma-ri Béc-na kể tiếp: Như

“tệ ăn cắp đã hoàn toàn xóa bỏ được, ở mỗi nhà mà chúng tôi trú ngụ chúng tôivất lại mọi thứ để đi ra chỗ tắm, nhưng không hề mất một thứ gì Viên trung úyngười Mỹ (thuộc nhóm “Con nai” OSS do thiếu tá Tô-mát chỉ huy, hợp tác vóiViệt Minh chống Nhật) hôm qua đã kể với chúng tôi sự ngưỡng mộ của ông ta đốivới nhân dân này: Một cái két toàn tiền vàng bị bật nắp khi được thả dù, trận mưavàng dội xuống sát một ngôi làng mà chỉ sau chừng 20 phút cả một đám đông chạy

đi tìm để trả lại tất cả số tiền vàng không thiếu một đồng!”

Những người Pháp này tiếp xúc với Việt Minh, đã ngạc nhiên từ vui sướngnày đến vui sướng khác: “ Những người du kích thông báo cho chúng tôi biếtnhững chiến công và niềm hy vọng của họ Tất cả họ đối xử với chúng tôi bằngmột tình bạn tuyệt vời Ông An, một nhà trí thức trẻ đã dẫn chúng tôi đến nơi ởhiện thời mà những điều ngạc nhiên vui sướng khác còn được dành cho chúngtôi Cái lý tưởng của Việt Minh và cái sức mạnh tuyệt diệu mà họ đã làm thấmnhuần vào toàn thể nhân dân An Nam Tất cả đều muốn Đông Dương tự do ởkhắp nơi, mọi người nông dân, tất cả đều đấu tranh chống Nhật và nỗi căm hờncủa họ càng được nung nóng thêm bởi vô vàn ký ức về những cuộc tàn sát, cànquét, tra tấn Tất cả đều sẵn sàng chiến đấu dũng cảm và hy sinh cho mục tiêu Tất

cả, nam và nữ, rất nhiều nữ du kích, từ những phụ nữ miền núi béo tròn đến những

cô gái trẻ rất đồng bằng, thanh mảnh, tất cả đều rắn rỏi tiến lên hướng tối cùng mộtmục đích Tất cả đều đáng kính trọng và hoàn toàn khiêm tốn ”

Nhưng đối với họ, “Việt Minh là những người con lỗi lạc” vì “tất cả thểhiện một đầu óc thông tuệ trong sức mạnh tổ chức: mỗi làng có ủy ban của mình,

có liên hệ chặt chẽ với ủy ban xã, huyện, tỉnh Nơi nơi đều có truyền thông,những trung tâm huấn luyện Ông Văn (Võ Nguyên Giáp), người chỉ huy màchúng tôi thấy có uy tín nhất, đã nói với chúng tôi bằng những lời giản dị và kiênquyết, những cố gắng lâu dài của Việt Minh để bắt liên lạc được với người Pháp

và làm cho người Pháp hiểu Điều không may là đã nói với một chính quyền đếquốc, mà chính quyền ấy chỉ đáp lại bằng sự tăng thêm những cuộc đàn áp Trước và sau sự kiện 9-3, thì đảng của những kẻ phản bội thân Nhật lại khai thácnhững hiểu nhầm, hằn thù giữa người Pháp với người Việt, để khơi sâu cái hốngày càng sâu thêm khiến nổ ra những sự cố đáng tiếc

Trang 32

ở thời điểm cách nay 54 năm, khi mà nhân dân Việt Nam chuẩn bị Tổngkhởi nghĩa giành lấy chính quyền từ tay phát xít Nhật, thì các chính khách Pháp đếquốc cả ở chính quyền cũng như ở các nước thuộc địa vẫn đầy tham vọng, chờ cơhòng lập lại ách thống trị ở Đông Dương, thì những dòng viết của những ngườiPháp “từ phía bên kia” trong “Bức thư gửi những người bạn ở Hà Nội” của họ, lànhững lời đáng trân trọng.

HOàNG ANH lược thuật (Theo tư liệu của Viện thông tin khoa học xã hội)

Trang 33

NĂM 2001 ĐốI VớI NGƯờI PHáP, CUộC CHIếN TRANH ở ĐÔNG DƯƠNG CHỉ Là

“MộT CUộC CHIếN TRANH BẩN THỉU”

HUỳNH HạNH*Hai chục năm sau ngày Đờ Lát qua đời (11-1-1952), bà Si-mô-nê Đờ Lát cho

ra mắt cuốn hồi ức về chồng bà-viên danh tướng số 1 của nước Pháp sau ngày quađời được truy phong Thống chế, và về người con trai độc nhất-trung úy Béc-na ĐờLát tử trận khi ta diệt đồn Gối Hạc ở Ninh Bình ngày 29-5-1951

Sau thảm bại trong chiến dịch Biên Giới thu đông 1950 ở Cao Bắc Lạng,hai binh đoàn Lơ-pa-giơ và Sác-tông bị đòn tơi tả đã làm cho lính Pháp và kiềudân Pháp ở Hà Nội càng thêm hoàng mang Đại tướng Guin (Tổng tham mưutrưởng) sau khi sang thị sát tình hình Đông Dương trở về đã viết báo cáo gửi riêngcho Bộ trưởng quốc phòng, rồi khước từ đề nghị trở lại Đông Dương Báo cáo đóđược chuyển cho đại tướng Đờ Lát, để rồi sau đó Đờ Gôn khẳng định quyết định

cử Đờ Lát sang Đông Dường nắm toàn quyền cả quân sự và chính trị “Chúng tavừa mắc một thất bại nghiêm trọng ở Bắc Kỳ, nhưng ta vẫn phải duy trì cuộc chiếntranh này, vì nó can hệ đến sự toàn vẹn của khối liện hiệp Pháp” Và ngày 6-12-

1950, tin chính thức công bố: “Tướng Đờ Lát đã được cử làm cao ủy kiêm Tổngchỉ huy quân lực Pháp ở Đông Dương, với toàn quyền chính trì và quân sự trongtay ”

Vậy là “viên tướng số 1” của nước Pháp trong khi vẫn giữ chức Tổng chihuy lục quân các nước trong khối NATO đồng thời vẫn được đưa sang ĐôngDương chỉ huy quân viễn chinh hòng cứu vãn tình thế vì lúc đó không có ai thaythế được Đờ Lát sang Đông Dương mang theo một phần lớn bộ sậu của mình: Sa-lăng, người phó tướng thông thạo từng ở Đông Dương mấy chục năm; An-lắc,người sẽ làm tham mứu trưởng; Coóc-nây và Gu-sôn phụ trách võ phòng; A-vin-lắc chánh văn phòng; nguyên thống đốc Gau-tơ làm phụ tá số 2 phụ trách các vấn

đề dân sự Vừa đến Sài Gòn ngày 17, Đờ Lát sau khi buộc phải bay lên Đà Lạt

“chào xã giao” vị quốc trưởng Bảo Đại mà ông ta coi thường, tìm cách kéo BảoĐại ra “mặt trận” miền Bắc thì Bảo Đại lại khéo từ chối không đi Đờ Lát vộicùng tướng Bô-ơ-đơ La-tua bay ra Đà Nẵng, rồi 19 ra Hà Nội để kịp dự lễ nhậmchức bên Hồ Gươm Trước một số đơn vị tiêu biểu diễu binh diễu võ dương oai

Đơ Lát hùng hồn tuyên bố: “Tôi đến đây với các trung úy, đại úy Dù trong bất cứtình huống nào, các anh cũng sẽ được chỉ huy! ” Để làm yên lòng đội quân viễn

Trang 34

chinh và cả những người dân Pháp đang hoang mang sau đại bại trong chiến dịchBiên Giới, đàng muốn rời Hà Nội, Đờ Lat nhắn vợ sang sống cùng tại Hà Nội.

Bà Si-mô-nê Đờ Lát đến Hà Nội là thủ phủ của miền Bắc lần đầu tiên, được

đi thăm thú các di tích danh thắng như Văn Miếu - Quốc Tử Giám, đền QuánThánh và tiếp xúc với nhiều nam nữ sinh thạo tiếng Pháp nhất, có người đã từnghọc ở Pa-ri về Bà thấy lạ lắm, và thật bất ngờ hơn khi có một thiếu nữ rất thôngminh đã tự nguyện làm người dẫn đường hướng dẫn cho bà, ngồi cạnh người lái xe

Bà khổng biết thân nhân của người phụ nữ tình nguyện này, mà chỉ biết chị ta cónhững câu chuyện có phần “ngang ngạnh” làm bà đặc biệt chú ý Và vào một ngày

mà tình hình thật là đáng nghiêm trọng đối với người Pháp ở Hà Nội, chị ta dẫn bađến thăm đền Hai Bà Trưng đã nói với bà khi đến đây bằng một giọng khó hiểu vàhỏi “ngang ngạnh” gây hấn: “ở Pháp, bà có một Jeanne d Arc Còn chúng tôi, chúngtôi có Hai Bà kia! ”!

Bà vợ vị đại tướng số 1 của nước Pháp qua các cuộc viếng thăm và nhữnglời giải thích nhận được, càng thấy rõ đối với người Việt-bà viết: “Vai trò củanhững người chết và của những danh nhân trở nên thánh thần, đã có tầm quantrọng như thế nào trong tâm lính của người Việt Việt Nam, đối với những ngườiPháp nói chung lúc đó cuộc chiến tranh ở Đông Dương chỉ là “một cuộc chiếntranh bẩn thỉu”, nhưng đối với Bơ-nắc, đứa con trai độc nhất của bà thuộc tầng lớpquý tộc đã tình nguyện sang đó “chiến đấu” từ mùa thu 1949 vì Say mê với lýtưởng được quan niệm như cuộc chiến “vì danh dự tổ quốc” không đâu Anh xếptrung úy ấy viết thư về cho bà đã thổ lộ “đã có đôi chút thất vọng”, vì “Quân Việtlàm được gần như hầu hết những gì họ muốn, còn chúng ta chẳng làm được gìmấy để chống lại họ ” Rồi khi thất bại lớn của quân Pháp trên đường số 4-conđường lửa-đã “nướng” hai binh đoàn tinh nhuệ của Pháp thì Bơ-nắc lại viết thư vềcho mẹ: “Con được tướng Va-luy đánh điện gọi về Hà Nội Đã được đi đến bệnhviện thăm những người bị thương đưa từ Cao Bằng, Thất Khê về Thật chả thú vị

gì lắm Rồi lễ gắn huân chương cho những người đã chạy thoát Con có quen biếthai S1 quan của đại đội 3e BCCP và 3 người khác trong đại đội BEP, tưởng chừngnhư đã bị già đi đến 10 tuổi, vẻ mặt rất đỗi kinh hoàng Họ trở về được thì thật là

kỳ lạ Nhưng con nghĩ rằng chúng con đã bị chỉ huy bởi những đứa ngu ”, và chúng con cần phải được biết vì sao chúng con đến ở đây và chỉ được chỉ huy gặpchăng hay chớ, thiếu tính toán lâu dài”

Nay bố của Bơ-nác, đại tướng Đờ Lát sang đã hùng hồn tuyên bố: “Tôi đếnđây với các trung úy, đại úy Dù trong bất cứ tình huống nào, các anh cũng sẽđược chỉ huy!” Nhưng cũng như cậu con trai “cưng” của ông ta, Đờ Lát không thể

Trang 35

hiểu được là đội quân viễn chinh thực dân của nước Pháp đang phải đối đầu vớimột cuộc chiến tranh nhân dân của Việt Nam trường kỳ kháng chiến Trong khi đểcho vợ đi thăm thú các nơi ở Hà Nội, Đờ Lát đã bí mật lên Vĩnh Yên, đến chỉ huy

sở của Va-nu xem noi “tiền tuyến”, chỉ cách Hà Nội không đây 50km Người tổngchỉ huy quân viễn chinh Pháp thừa sáng suốt để hiểu rằng, chỉ một lòng dũng cảmkhông thôi thì chưa đủ xoay chuyển tình thế về lâu dài Thế là Đờ Lát tập hợp tất

cả các nhà tư sản Pháp ở Hà Nội và Sài Gòn, nói cho họ hiểu: “Nếu các vị còn sởhữu các nhà máy xi măng, các đồn điền cao su, các nhà máy dệt nếu các vị còn

có thể khai thác các hầm mỏ than, nói gọn lại là còn “làm ra tiền” được thì đó làbởi các vị đã được binh lính của tôi bảo vệ Một số người trong họ đã tử vong ởđây, những người khác đã để lại một phần sức khỏe của họ, và số người khác nữa

đã mất ở nơi đây sự cân bằng của đời sống gia đình Còn đối với các vị, tôi yêucầu các vị hãy mở hầu bao ra, hãy chi ra những ngân khoản Thật là công bằng nếutôi nói với các vị: Hãy gom góp để tài trợ cho họ và gia đình họ” Rồi vị tổng chihuy lục quân khối NATO Đờ Lát còn trở về Pháp, sang Xin-ga-po, sang tận Mỹtìm một hướng đi đến với những nhân vật cao cấp nhất của Mỹ và Anh như Ai-xen-hao, Tru-man, Mông-tơ- gô-ve-ry, Mắc Đu-lớt, Ha-đin để nói với họ rằng:

“đối với Đông Dương, nước Pháp đã cởi mất đến chiếc sơ mi cuối cùng của mình

Và cuộc chiến không phải vì lợi ích riêng của nước Pháp này Cuộc chiến tranh ấyphải là công cuộc chung của khối các nước chống cộng cùng tham gia tiền bạc vàxương máu”

Nhưng Đờ Lát đã không có đủ thời gian để đợi các bạn đồng minh, đã quaytrở lại chiến trường Đông Dương, một mình đương đầu với những khó khăn đãlường trước, và viên tướng số 1 của nước Pháp đã thụ bệnh, một căn bệnh hiểmnghèo-ung thư Sau cái chết của Bơ-nắc, đứa con trai độc nhất trong một trận

“chạm súng” với Việt Minh ở núi Non Nước-Ninh Bình, Đờ Lát càng dần dầnnghiệm thấy là đúng, câu mình đã nói với bạn bè hôm từ biệt ở Pa-ri để sang nhậnnhiệm vụ ở Đông Dương: “Tôi có tất cả để mất ở đấy, mà khồng có gì để được!”

Vì sau cái chết của đứa con trai, viên danh tướng Đờ Lát cũng phải về nằm ở bệnhviện Pa-ri và qua đời ngày 11-1-1952 mà không biết mình được truy phong Thốngchế, và sau đó thì đội quân viễn chinh Pháp của ông ta cũng đại bại ở Điện BiênPhủ năm 1954

Theo sách “Giăng Đờ Lát, chồng tôi”

Trang 36

NĂM 2002

ĐƯờNG Số 4 TấN THảM KịCH CAO BằNG

PI-E SáC-TÔNG được phong hàm đại tá ngày 2-1-1949, đến 7-10- 1950 thì bịbắt tại dãy núi Cốc Xá- Cao Bằng trong chiến dịch Biên giới Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ đã ký kết, P.Sác-tông được trao trả về Pháp Năm 1975 ông ta đã cho xuất bảncuốn “Đường số 4: tấn thảm kịch Cao Bằng” được thai nghén từ khi còn “nằm nghỉ”

4 năm trong trại tập trung số 1 của Quân đội nhân dân Việt Nam

Khi “nằm nghỉ” dài trong trại tập trung tù binh của Việt Minh P.Sác-tôngviết nhật ký: “Tôi bị bắt làm tù binh của Việt Nam Bây giờ tôi đang ở bên kia chiếntuyến Tôi suy tưởng Lần đầu tiên tôi có thời gian để suy tưởng”, vì “chính trongmột trại tù binh của Việt Nam, tôi mới bắt đầu được tự do ”

Ngày 17-7-1950, Sác-tông được giao giữ chức vụ chỉ huy trưởng Phân khubiên giới 2 tự trị Cao Bằng, thì tháng 9-10 nổ ra chiến dịch Cao-Bắc-Lạng (chiếndịch Đường số 4-Biên giới) Sác-tông ở trong tù “được tự do”, “suy tưởng” lạiphân tích khá chính xác về ý đồ chiến lược của ta khi mở đầu chiến dịch Biên Giớibằng trận đột phá vào cụm cứ điểm Đông Khê chứ không đánh vào thị xã CaoBằng: “…Các ông biết rõ pháo đài Cao Bằng của chúng tôi rất kiên cố, có hầmngầm, có kho dự trữ hơn 100.000 tấn vũ khí, đạn dược; có kho lương thực, khoquân trang, có cả bệnh xá, nhà ăn được xây dựng theo kiểu chiến lũy Ma-gi-nô.Bên ngoài thành, chúng tôi bố trí một hàng rào bảo vệ vững chắc, gồm hơn 10 cứđiểm lớn-nhỏ trên những quả đồi để phòng thủ tuyến ngoài Lại co pháo lớn sẵnsàng tiêu diệt bất cứ mục tiêu nào từ xa Chúng tôi còn có một sân bay được sửachữa lại và mở rộng hơn để các loại máy bay chiến đấu, ném bom và tiếp viện cóthể dễ dàng hạ cánh và cất cánh Mạng lưới tình báo của chúng tôi rất rộng và biết

rõ hai đơn vị chủ lực 316 và 308 của các ông đã tập trung đến Cao Bằng, nhưngcác ông sẽ không đánh vào thị xã mà sẽ đánh những điểm yếu hơn ở phía dướiđường số 4 Các ông chẳng dại gì đột phá vào thị xã này, bởi vì các ông sẽ bị tổnthất ít nhất là 10.000 quân Quả như tôi dự đoán, các ông đã đánh và tiêu diệt cứđiểm Đông Khê Tướng Giáp đã bỏ chỗ cứng, đánh trước chỗ mềm hơn ”

Trang 37

Suy tưởng lại về chiến dịch Biển Giới, Sác-tông trong một bức thư gửi vềPa-ri (16-2-1952) kể: “Trong cuộc chiến đấu đặc biệt ác liệt ở Đông Khê (16-18/9/1950) và sau đó vài tuần, trong trận chiến đấu đẫm máu rút khỏi đồn binhCao Bằng (3-7/10), nhiều lần chúng tôi đã có dịp đánh giá đạo quân non trẻ vàdũng cảm của Việt Nam Cho đến lúc đó, chúng tôi cho rằng Việt Minh (trước kiachúng tôi gọi như vậy) là một nhóm phiên loạn trang bị tồi Tuy nhiên một vàicuộc đụng độ đã gây bất lợi cho chúng tôi trong những tháng trước Họ đánhchiếm Đông Khê lần đầu tiên từ ngày 25 đến 27-5-1950, đánh chiếm Phố Lu ngày14-2-1950 làm cho chúng tôi choáng váng ” Thảm họa đối với quân Pháp ởđường 4 như Lu-xi-en Bô-đa, phóng viên chiến tranh đã nhận xét: Đây thực sự làmột bước ngoặt lớn, không ngờ, trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương ở Phố Lu,đây là cuộc chiến tranh mới của tướng Giáp, cuộc chiến tranh mãnh liệt và khoahọc ở đây là những đơn vị mạnh, tấn công và đánh vận động chiến rất khoa học,theo đúng những nguyên lý của kỹ thuật quân sự, lại có kết hợp biện chứng Mác-xít ” Cái “khoa học”, “biện chứng” đó không những đã đưa đến chiến thắng tolớn của Việt Minh ở Đông Khê khi mở đầu chiến dịch Biên Giới mà đi tới “đậpnát” tan tành “Kế hoạch nghi binh” của tổng chỉ huy Ca-pen-ti-ơ đưa 10.000 quânlên Thái Nguyên “nghi binh” mà chẳng làm gì, để cho quân của Sác-tông ở CaoBằng rút lui Cuộc rút lui được tính toán kỹ để chọn 1 trong 3 phương án: Rútbằng đường không, chỉ trong 2-3 ngày với khoảng mấy chục máy bay, về LạngSơn; làm cuộc “trường chinh” theo đường 3 qua Bắc Cạn, về Thái Nguyên;phương án 3 là theo đường số 4 Ca-pen-ti-ơ đã “sai lầm” khi chọn phương án 3,

“bất ngờ” lệnh cho P.Sác-tông rút từ Cao Bằng xuống Đông Khê (Lạng Sơn),

“nhưng điểm hẹn trên đường số 4 đã là điểm hẹn gặp cái chết” Bởi sự gặp gỡ củahai cánh quân đã thực hiện ở chỗ mà các sư đoàn quân Việt đã mai phục, giăngsẳn bẫy, tướng Giáp đang đứng chờ sẵn “miếng mồi” của mình Ông cầm chắc tiêudiệt được chúng Và thế trận đã diễn ra đúng như vậy

Sắc-tông suy tưởng, phân tích rồi chửi tuốt tuột các tướng lĩnh và nhữngngười cầm đầu Bộ chỉ huy quân sự Pháp, gọi các tướng Ca-pen-ti-ơ, A-lếch-xan-đri, Mác-san la những đứa ngu Sác-tông viết tiếp: Nếu phải rút bỏ thị xã CaoBằng trong cuộc hành quân mang mật danh “Bão táp” , chúng tôi sẽ đi theo đường

số 3 qua đèo Ngân Sơn hoặc đi theo đường số 3 qua đèo Lê-a xuống Bắc Cạn, rồi

Trang 38

điện cho cánh quân ở Thái Nguyên lên trong cuộc hành quân nghi binh đã được dựkiến để đón chúng tôi, đồng thời quấy rối hậu phương các ông Như thế hậuphương các ông sẽ rối loạn mà chúng tôi thì sẽ bảo toàn được lực lượng Tại saochúng tôi cứ phải đi theo con đường số 4 có quân chủ lực cùa các ông mai phụcsẵn chờ đón chúng tôi? ” Sác-tông phân tích rồi kết luận: “Đó là sai lầm của bọntướng lĩnh chúng tôi Đó là sự bất lực của Bộ chỉ huy Pháp trong việc điều hànhchiến tranh, sự chủ quan đánh giá quá thấp đối phương ” Sác-tông kết tội: “Tấnthảm kịch Cao Bằng do bọn cầm đầu quân đội viễn chinh Pháp gây ra Chính bọntướng lĩnh mới đáng là tù binh của Việt Minh ” Sự “bất lực”, “chủ quan”, của

Bộ chỉ huy Pháp, của bọn tướng lĩnh chỉ huy như Sác-tông nói, dẫn đến “Tấn thảmkịch Cao Bằng” trong chiến dịch đường số 4 là: “Kế hoạch của tướng Giáp đãđược thực hiện hầu như toàn vẹn Chỉ có vài đại đội lê dương quả cảm cầm cựđược dài hơn chút ít so với dự kiến Còn kết quả cuối cùng đúng như ông Giáp chờđợi: thảm họa đổ vỡ hoàn toàn của quân Pháp xảy ra”: Cánh quân của Lơ-Pa-giơ

từ Thất Khê qua đèo Bông Lau lên chưa “hội” được với quân của Sác-tông từ thị

xã Cao Bằng xuống ở “điểm hẹn” thì đã bị quân của tướng Giáp căng ra đánh chotan tành Còn số thiệt hại của quân Pháp ở Cao Bằng, như thủ tướng Plề-ven đãphải thú nhận trước Quốc hội đã là: 4.800 người chết và mất tích, mất 8222 súngtrường, gần 1800 súng liên thanh các loại, 112 khâu moóc-chi-ê và 113 đại bác;còn ở Lạng Sơn, bộ tổng tham mưu lục quân Pháp ở Viễn Đông thông báo mấthơn 10.000 vũ khí, 453 ô tô và xe thiết giáp, 133 đại bác và súng cối, 1 vạn đạnpháo các loại, 60 vạn lít xăng và vô số lương thực, quân trang

P Sác-tông tức giận đối với Bộ chỉ huy Pháp, với các tướng chỉ húy ởĐông Dương là phải, nhưng như Pi-e La-buốc-sê 46 năm sau khi viết cuốn sáchtổng kết về “Phương pháp Việt Minh”, nhắc lại thảm bại của Pháp trong chiếndịch Biên Giới-đường số 4 đã đánh giá kết luận: “Tướng Giáp với 7 vạn bộ độichính quy và không biết bao nhiêu là du kích ở khắp nơi, đã trở thành một đối thủbất khả chiến thắng Khi ông chỉ huy quân lực của mình, ông chứng tỏ đã tiến đếntầm cỡ một tướng soái vĩ đại đối với những người đương nhiệm người Âu củaông!”

HạNH MINH

Trang 39

(Lược thuật theo các hồi ký của các cựu tướng lĩnh, sĩ quan Pháp từng tham gia chiến dịch đường số 4).

Trang 40

Năm 2003

Việt Bắc - "Những con đường đẫm máu" đối với quân Pháp

Thu đông 1947, với tham vọng đánh "đòn đè bẹp đối phương", "cất vó" Chínhphủ kháng chiến của Hồ Chí Minh, quân Pháp huy động ba binh đoàn với khoảng12.000 quân cả không - thủy - lục quân; chia làm ba cánh tiến công lên ATK (Antoàn khu) - Việt Bắc Cánh đường không quân dù do Cô-va-nhắc chỉ huy phối hợpvới cánh đường thủy và bộ do Com-muy-nan và Bô-phrê chỉ huy ngược sôngHồng, sông Lô, sông Gâm, đường số 4 tiến lên hợp quân ở Đài Thị, Chiêm Hóa,Tuyên Quang; hòng quây Việt Bắc lại để càn quét tiêu diệt chủ lực Việt Minh và

"cất vó" các cơ quan đầu não kháng chiến của ta Thế nhưng, quân Pháp đã hoàntoàn thất bại:

Đường không: Đây là "trận nhảy dù lớn nhất" như tên Mo-rô khoe với bạntrong thư Song lính dù của Xô-va-nhắc ngay khi vừa đặt chân xuống thị xã BắcKạn đã bị chặn đánh, và như tên Phích-ken sau đó gửi thư về gia đình kể lại:

"Những tốp nhay dù xuống Bắc Kạn, thiệt hại khá nhiều " Còn lính dù ken thì kể với bạn: "Chúng tôi có nhiều đứa chết, bị thương và ốm " Sau khinhảy dù xuống Bắc Kạn quân Pháp "sa lầy", bị bao vây và tiêu diệt, như viên độiSút-tô kêu lên, thú nhận: "Từ khi chúng tôi nhảy dù xuống đất đến giờ, luôn luôn

Sơ-mi-bị Việt Minh bao vây Chỉ có máy bay tiếp tế cho chúng tôi Mỗi khi chúng tôi đi

là bị Việt Minh từ trên núi bắn xuống liền Than ôi, có nhiều bạn đã hy sinh vàgửi xương nơi đất Việt" Lính, đội thì như vậy, còn sĩ quan Ma-la-van cũng phảithốt lên những lời thán phục "việt Minh chịu khó và kiên quyết lạ thường Hàngngũ ta (quân Pháp) chết và bị thương nhiều nên thưa thớt dần "

Đường bộ: quân dù Pháp do Xô-va-nhắc chỉ huy nhảy xuống Việt Bắc bị baovây, tiêu diệt, "thưa thớt dần", còn cánh quân của Bô-phrê chỉ huy "bò dần" cuốicùng cũng lên tới đến Cao Bằng và Bắc Kạn định lật sang phía tây hội quân vớicánh quân do Com-muy-nan chỉ huy từ phía đông lên, nhưng cả hai cánh quân nàyđều bị đánh cho tơi bời Trong trận rơi vào trận địa phục kích của quân ta ngày 20tháng 10, trung úy Ba-y-a gửi thư về cho vợ bên Pháp thú nhận kể lại: "Ta (quânPháp) chết 31 người, trong đó có 2 sĩ quan Và trong những ngày này lại thêmthiếu úy Uy-be, thiếu úy Béc-tơ-răng và 41 người nữa tử trận Còn trên đường BắcKạn - Chợ Đồn, "vừa kéo quân ra cách đồn mấy cây số đã bất thình lình bị ViệtMinh phục kích ta mất thêm 25 người" Trên đèo Bông Lau (Thất Khê, Lạng Sơn

Ngày đăng: 04/01/2019, 20:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w