Xuất phát từ nhận thực về tầm quan trọng của tái cấu trúc hệ thống NHTM và với mong muốn đề ra các giải pháp hữu ích nhằm đóng góp cho quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam thành
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết và ý nghĩa của đề tài
Trải qua hơn 20 năm đổi mới, ngành ngân hàng Việt Nam đã hoàn thànhxuất sắc nhiệm vụ của mình, luôn giữ vai trò quan trọng là huyết mạch của nền kinh tế,
là hơi thở trong mọi hoạt động của đời sống xã hội, là nhân tố không thể thiếu để tậptrung nguồn lực vốn cho phát triển đất nước Những thành tựu kinh tế xã hội rực rỡ màViệt Nam đạt được trong công cuộc đổi mới, vai trò, vị thế của Việt Nam ngày càngđược khẳng định trên trường quốc tế là có sự đóng góp rất lớn của ngành ngân hàng.Cũng vì lẽ đó mà hoạt động ngân hàng rất nhạy cảm, nếu không tạo điều kiện đảm bảo
an toàn thì dễ gây tổn thương nặng nề cho nền kinh tế
Việc mở cửa thị trường ngân hàng, tài chính là xu thế tất yếu trong bối cảnhhội nhập quốc tế, nhất là kể từ khi Việt Nam gia nhậpWTO đã mang lại rất nhiều cơ hộicũng như thách thức cho hệ thống NHTM Việt Nam Các NHTM Việt Nam phải đốimặt với cạnh tranh gay gắt hơn từ các ngân hàng nước ngoài đến từ các khu vực tàichính phát triển như Mỹ, Châu Âu, Singapore, Nhật Bản, và chịu tác động củanhững biến động trên thị trường tài chính quốc tế nhiều hơn Cuộc khủng hoảng tàichính và suy giảm kinh tế toàn cầu kéo dài từ năm 2008 và đến nay vẫn còn để lại hậuqua nặng nề ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở Mỹ mà nguyên nhân chính là sự yếu kémcủa hệ thống NHTM Điều đó buộc các quốc gia phải quan tâm, đánh giá lại toàn bộhoạt động của các NHTM Việc tái cấu trúc hệ thống NHTM đã trở nên phổ biến vàcấp thiết ở mỗi quốc gia để đảm bảo cho các NHTM thích nghi được với nhu cầu pháttriển mới trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đầu biến động Ở Việt Nam, khi mà thịtrường chứng khoán chưa phát triển, gánh nặng về vốn còn dồn lên vai các NHTM thìviệc giữ cho hệ thống NHTM ổn định và lành mạnh càng cần phải đặc biệt quan tâm
Đến nay, có thể nói nền kinh tế cũng như hệ thống NHTM Việt Nam đã cơbản vượt qua cơn khủng hoảng tài chính Tuy nhiên, những hệ lụy của nó đã bộc lộnhiều vấn đề bất ổn trong lĩnh vực ngân hàng đó là: thanh khoản khó khăn, nợ xấu códấu hiệu tăng cao, năng lực quản trị điều hành hạn chế, sản phẩm dịch vụ nghèo nàn,lợi nhuận chủ yếu từ hoạt động tín dụng, rủi ro cao ảnh hưởng đến an toàn hệ thống,
Trang 2Bên cạnh đó, vấn đề sở hữu chéo; hệ thống mạng lưới các NHTM phát triển với tốc độquá nhanh, số lượng nhiều, chất lượng hoạt động chưa cao, không ít NHTM hoạt động
vì lợi ích cục bộ, chạy đua lãi suất gây ảnh hưởng lớn đến hệ thống ngân hàng và thịtrường tiền tệ Do đó, nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời sẽ có nguy cơ xảy rarủi ro gây mất an toàn hệ thống
Xuất phát từ nhận thực về tầm quan trọng của tái cấu trúc hệ thống NHTM
và với mong muốn đề ra các giải pháp hữu ích nhằm đóng góp cho quá trình tái cấu
trúc hệ thống NHTM Việt Nam thành công, tác giả chọn đề tài: “Tái cấu trúc hệ thống
ngân hàng thương mại Việt Nam” làm đề tài luận án nghiên cứu sinh kinh tế tài
chính, ngân hàng của mình
2. Tổng quan về công trình nghiên cứu
Liên quan đến nội dung “Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại
Việt Nam” đã có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:
- Tác giả Nguyễn Hồng Sơn, bài viết “Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng: kinh nghiệmquốc tế và một số hàm ý về tư duy cho Việt Nam” tại Hội thảo quốc tế “Tái cấu trúc hệthống ngân hàng” ngày 21 tháng 11 năm 2011, trình bày các vấn đề sau: (i) Lý do táicấu trúc hệ thống ngân hàng là hệ thống ngân hàng rơi vào khủng hoảng hoặc mộtngân hàng lớn bị rơi vào khủng hoảng; (ii) vì sao cần thực hiện tái cấu trúc hệ thốngngân hàng; (iii) những nguyên tắc cần đảm bảo trong quá trình tái cấu trúc; (iv)NHTW độc lập và tăng cường năng lực Như vậy bài viết trên chỉ trình bày được lý dotái cấu trúc ngân hàng chủ yếu là do khủng hoảng kinh tế, mà chưa coi tái cấu trúc hệthống ngân hàng là công việc cần thực hiện thường xuyên, liên tục để duy trì sự ổnđịnh và phát triển Bài viết cũng chưa đánh giá được thực trạng tái cơ cấu hệ thốngNHTM và cũng chưa đề cập đến giải pháp tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam
- Tác giả Sameer Goyal, bài viết “Tái cấu trúc hệthống ngân hàng có vấn đề, các bài họctừkinh nghiệm toàn cầu “tại Hội thảo quốc tế”, “Tái cấu trúc hệthống ngân hàng” ngày
21 tháng 11 năm 2011, đềcập đến: (i) Động cơtái cấu trúc; (ii) Mục tiêu tái cấu trúc(duy trì sự ổn định của hệthống ngân hàng, ngăn ngừa sựlây lan, khôi phục niềm tinvào hệ thống ngân hàng); (ii) Những thách thức đối với ngành ngân hàng Việt Nam,dẫn chứng những bất ổn của hệthống ngân hàng Việt Nam và (iii) Gợi ý giải pháp tái
Trang 3cấu trúc Bài viết trên nhấn mạnh những dấu hiệu cho thấy bất ổn của ngành ngân hàngViệt Nam và chỉdẫn những kinh nghiệm tái cấu trúc ngân hàng Tuy nhiên bài viết cũngchỉ nêu được những vấn đề tổng quát và các giải pháp chỉ dừng lại ở kinh nghiệm.
Nhìn chung, trong tất cả các nghiên cứu mà tác giả có điều kiện tham khảo
về các nội dung liên quan đến tái cấu trúc NHTM Việt Nam, cho tới thời điểm hiện naychưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu sâu về tái cấu trúc hệ thống NHTMViệt Nam trong bối cảnh từ 2008 đến 2012 và đề xuất các giải pháp đến 2020 Vì vậy,trong luận án, tác giả đã nghiên cứu cơ sở lý luận về NHTM và tái cấu trúc hệ thốngNHTM; ý nghĩa của việc tái cấu trúc hệ thống NHTM, nội dung tái cấu trúc hệ thốngNHTM; các biện pháp tái cấu trúc hệ thống NHTM và kinh nghiệm quốc tế về tái cấutrúc hệ thống NHTM
3. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tái cấu trúc hệ thống NHTM
- Phân tích thực trạng hoạt động và thực trạng tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Namnhằm chỉ ra những hạn chế trong cấu trúc của hệ thống NHTM Việt Nam trong khoảngthời gian từ năm 2008 đến 2012 Đồng thời xác định nguyên nhân của những hạn chếtrong cấu trúc của hệ thống NHTM Việt Nam
- Đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị góp phần thúc đẩy tiến trình tái cấu trúc hệ thốngNHTM Việt Nam đến 2020
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Tái cấu trúc hệ thống NHTM
- Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam là một phạmtrù rộng nên luận án tập trung vào nghiên cứu những vấn đề: tái cấu trúc tài chính, táicấu trúc hoạt động kinh doanh, tái cấu trúc hệ thống quản trịvà tái cấu trúc sở hữu
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: được giới hạn tại mười hai NHTM đại diện chocác nhóm NHTM được phân chia theo hình thức sởhữu (NHTM Nhà nước và NHTMcổphần, trong đó NHTM Nhà nước bao gồm NHTM do Nhà nước sở hữu 100% vốnđiều lệvà NHTM cổphần do Nhà nước sởhữu trên 50% vốn điều lệ) và vốn điều lệ tínhđến ngày 31/12/2012, bao gồm: BIDV, VCB, Vietinbank, Eximbank, Techcombank,
MB, ACB, Sacombank, Maritimebank, Saigonbank, Bao Viet bank, Ocean bank
5. Phương pháp nghiên cứu
Trang 4Luận án dựa trên phương pháp thống kê, mô tả, phân tích định tính, so sánh,quy nạp, tổng hợp, logic, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn cùng tham khảo các tài liệu
để thực hiện nghiên cứu
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục các bảngbiểu, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục nội dung của luận án gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁI CẤU TRÚC
HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tính cấp thiết và ý nghĩa của đề tài
1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại
Lịch sử phát triển của hệ thống ngân hàng gắn liền với sự phát triển của nềnkinh tế hàng hóa Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại đã có tác động rất lớn
và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hànghoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTMcũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếuđược
Trang 5Theo quy định tại điều 4, Luật các Tổchức tín dụng của nước Cộng hoà xãhội chủnghĩa Việt Nam được Quốc hội khoá 12 thông qua,“Ngân hàng thương mại làloại hình ngân hàng được thực hiện toàn bộhoạt động ngân hàng và các hoạt động kinhdoanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”.
Trong đó, hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyêncác nghiệp vụsau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụthanh toán qua tàikhoản
Từnhững cách định nghĩa khác nhau trên vềNHTM, có thểrút ra:
- Ngân hàng thương mại là một tổchức trung gian tài chính làm cầu nối giữakhu vực tiết kiệm với khu vực đầu tưcủa nền kinh tếvới nghiệp vụcơbản là nhận tiềngửi, cho vay
- Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp cung cấp danh mụccác dịch vụtài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụthanh toán.Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụtài chính khác nhằm thoảmãn tối đa nhucầu vềsản phẩm dịch vụtài chính của xã hội
1.1.2. Khái niệm ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Chức năng trung gian tín dụng
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất củangân hàng thương mại Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vaitrò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn Với chức năng này,ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người chovay Lợi nhuận của ngân hàng là khoản chênh lệch giữa thu nhập từ hoạtđộng cho vay và chi phí huy động vốn, từ đó góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bêntham gia: người gửi tiền và người đi vay
Là trung gian tín dụng nên hoạt động của hệ thống NHTM có ảnh hưởng lantỏa đối với nền kinh tế, xã hội Một khi cấu trúc của hệ thống ngân hàng có bất ổn sẽlàm suy yếu hệ thống ngân hàng, nguy cơ mất an toàn của hệ thống ngân hàng sẽ cóảnh hưởng lan truyền, đe dọa sự ổn định của nền kinh tế
1.1.2.2. Chức năng trung gian thanh toán
Với chức năng này, NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và
cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài
Trang 6khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoảntiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ.
Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợinhư séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng, … Tùytheo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp Nhờ
đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ,gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào
đó để thực hiện các khoản thanh toán Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rấtnhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn Chức năng này vô hình chung
đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn,
từ đó góp phần phát triển kinh tế
1.1.2.3. Chức năng cung ứng các dịch vụ tài chính
Ngoài chức năng trung gian tín dụng, trung gian thanh toán NHTM còn cungứng các dịch vụ tài chính đa dạng cho nền kinh tế xã hội, như: tư vấn tài chính, quản lýtài chính cá nhân, kinh doanh ngoại hối, bảo lãnh,
1.1.3. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạolập và cung cấp các dịch vụ tài chính, tiền tệ cho các tổ chức kinh tế và dân cư Thànhcông trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng phụ thuộc vào các yếu tố như: nănglực quản trị điều hành, nền tảng công nghệ, đội ngũ nhân sự, chất lượng và tính đadạng của sản phẩm dịch vụ cung cấp, …
1.1.3.1. Hoạt động tạo lập nguồn vốn
Hoạt động huy động vốn là hoạt động mang tính chất tiền đề nhằm tạo lậpnguồn vốn hoạt động của ngân hàng Do đó, để đảm bảo nguồn vốn trong hoạt động 20kinh doanh của mình, các NHTM có thể thực hiện hoạt động huy động vốn từ nhữngnguồn sau:
- Vốn chủ sở hữu: là nguồn vốn ban đầu và được bổ sung trong quá trình hoạt động của
ngân hàng Vốn chủ sở hữu của mỗi ngân hàng được hình thành do tính chất sở hữucủa ngân hàng quyết định Vốn chủ sở hữu bao gồm vốn điều lệ, các quỹ trữ hình thànhtrong quá trình kinh doanh và các tài sản nợ khác của chủ sở hữu theo quy định củaNhà nước
Trang 7Các NHTM sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu để tài trợ cho việc xây dựng hội
sở, văn phòng, mua sắm tài sản cố định, các phương tiện làm việc và quản lý theo một
tỷ lệ nhất định do Nhà nước quy định Ngoài ra, các NHTM còn có thể sử dụng nguồnvốn chủ sở hữu của mình để góp vốn liên doanh, cấp vốn cho các công ty con và cáchoạt động kinh doanh khác
- Tiền gửi của khách hàng: Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân
dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hànhcác chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theonguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận Trênthực tế, các ngân hàng có thể đưa ra nhiều hình thức gửi tiền nhưng có thể xếp thànhcác loại tiền gửi chính: Tiền gửi tiết kiệm, Tiền gửi thanh toán, Tiền gửi có kỳ hạn
- Phát hành giấy tờ có giá: là chứng nhận của ngân hàng phát hành để huy động vốn
trong đó xác nhận nghĩa vụ trả một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiệntrả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa ngân hàng với người mua Ngân hàng đượcphát hành các giấy tờ có giá như: chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu đểhuy động vốn trong nước và nước ngoài Nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của kháchhàng cũng như sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các NH, các NHTM phát hànhcác loại giấy tờ có giá với nhiều loại kỳ hạn, lãi suất khác nhau và có thể ghi danh hoặckhông ghi danh
- Vay tổ chức tín dụng khác và ngân hàng Trung ương: Ngoài các hình thức huy động
vốn nói trên, khi cần thiết (nhu cầu vay vốn của khách hàng gia tăng mạnh hoặc ngânquỹ bị thiếu hụt do nhiều dòng tiền rút ra) các NHTM huy động bằng cách đi vay củacác tổ chức tín dụng khác hay vay vốn của ngân hàng Trung ương
Hoạt động tạo lập nguồn vốn đi kèm với phát sinh chi phí sử dụng vốn, vìvậy để hoạt động tạo lập nguồn vốn phát huy kết quả, NHTM cần chú trọng đến sửdụng nguồn vốn huy động
1.1.3.2. Hoạt động sử dụng vốn
Hoạt động sử dụng vốn là cơ sở tạo ra thu nhập của NHTM, đảm bảo chohoạt động tạo lập nguồn vốn phát huy tác dụng Hoạt động sử dụng vốn của NHTMbao gồm:
Trang 8- Hoạt động tín dụng: Một cách khái quát, hoạt động tín dụng của ngân hàng có thể hiểu
là hoạt động kinh doanh thông qua sự chuyển giao có thời hạn một lượng giá trị từ phíangân hàng cho người đi vay, với sự cam kết hoàn trả cả gốc và lãi từ phía người đi vaykhi đáo hạn
Hoạt động tín dụng thực hiện quá trình cung ứng vốn cho nền kinh tế nhằmđáp ứng nhu cầu sản xuất, đầu tư và tiêu dùng cho các chủ thể trong nền kinh tế Hoạtđộng cấp tín dụng của NHTM cho các tổ chức được thể hiện dưới các hình thức: Chovay, chiết khấu, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định
Tại nhiều quốc gia, hoạt động tín dụng được coi là hoạt động quan trọngnhất đối với các NHTM Bởi phần lớn lợi nhuận của các NHTM có được chủ yếu làthu từ hoạt động này
Để thiết lập quy trình tín dụng thích hợp và nâng cao hiệu quả hoạt động,hoạt động tín dụng được phân chia theo những tiêu chí khác nhau như mục đích, thờihạn, mức độ tín nhiệm, phương pháp hoàn trả, phương thức cấp tín dụng
Đặc thù của NHTM là kinh doanh tiền tệ Nếu gặp rủi ro từ hoạt động tíndụng thì không chỉ ngân hàng và người gửi tiền, đầu tư ảnh hưởng mà sẽ kéo theonhiều hậu quả cho nền kinh tế Bởi vậy đặt ra yêu cầu các NHTM phải đặc biệt chú ýdành nhiều nguồn lực để quản trị các rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động này
- Hoạt động ngân quỹ: là hoạt động duy trì khả năng thanh toán thường xuyên cho khách
hàng và ngân hàng bằng việc duy trì một mức dự trữ thanh toán bắt buộc có thể doNHTW quy định hoặc do NHTM tính toán cũng như việc đảm bảo cơ cấu của các loạitiềnđể thanh toán cho khách hàng Các khoản dự trữ này có thể là tiền mặt tại quỹ, tiềngửi tại các tổ chức tín dụng khác, hoặc giấy tờ có giá có thể chuyển thành tiền trongthời gian ngắn như tín phiếu kho bạc hoặc các chứng khoán ngắn hạn có tính thanhkhoản cao
Hoạt động này mang lại lợi ích cho cả khách hàng và ngân hàng: khách hàngkhông phải tốn nhiều thời gian và công sức trong thanh toán công nợ, được ngân hàngđảm bảo tính an toàn và hưởng lãi; ngân hàng được hưởng lợi ích từ việc khách hàngduy trì số dư trên tài khoản
- Hoạt động đầu tư: là hoạt động cho phép NHTM tự đầu tư vốn ra bên ngoài với mục
đích gia tăng lợi nhuận hay chia sẻ lợi ích và trách nhiệm với doanh nghiệp khác
Trang 9Với hoạt động này, NHTM thực hiện đầu tư trên thị trường chứng khoánthông qua việc mua các chứng khoán do chính phủ, công ty phát hành hoặc trực tiếpgóp vốn vào doanh nghiệp để có thể tạo sự đa dạng trong sử dụng cũng như giảm rủi
ro, tăng thu nhập và hỗ trợ thanh khoản khi cần thiết Hoạt động đầu tư trên thị trườngchứng khoán của các ngân hàng có thể tự thực hiện hoặc thông qua các công ty con đểtìm kiếm lợi nhuận từ việc mua – bán chứng khoán nhằm hưởng chênh lệch giá hoặchưởng thu nhập từ lãi nếu nắm giữ chứng khoán đến ngày đáo hạn Trong quá trìnhphân bổ vốn, ưu tiên của hoạt động đầu tư thấp hơn so với mục tiêu đảm bảo dự trữ bắtbuộc, dự phòng thanh khoản và cho vay
1.1.3.3. Các hoạt động khác
Đây là nhóm hoạt động ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc đadạng hoá hoạt động ngân hàng, giảm rủi ro của ngân hàng cũng như mang lại nhữngkhoản thu nhập với tỷ trọng ngày càng lớn Mục đích của các hoạt động này là nhằmtăng thêm nguồn thu nhập cho tổ chức tín dụng và thoả mãn những yêu cầu của nềnkinh tế Các hoạt động dịch vụ khác bao gồm:
- Dịch vụ bảo lãnh (thu phí): Là hình thức tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo
lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khikhách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụđã cam kết; kháchhàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận Bên được bảo lãnh
có thể là chính doanh nghiệp hoặc các tổ chức/cá nhân khác mà doanh nghiệp muốnngân hàng bảo lãnh
- Dịch vụ ủy thác
Theo “Từ điển kinh tế học hiện đại” của D.W Pearce, nghiệp vụ ủy thác là
việc tài sản của một người được giao cho người khác quản lý và thực hiện các yêu cầucủa người sở hữu Người giao tài sản không có quyền nắm giữ, quản lý tài sản Ngườinhận có trách nhiệm quản lý tài sản, không được hưởng lợi nhuận sinh ra từ tài sản màchỉ được hưởng một khoản tiền mà người ủy thác trả gọi là phí uỷ thác
Các dịch vụ ủy thác của khách hàng cá nhân bao gồm: thanh lý tài sản, điềuhành ủy thác cá nhân, ủy thác giám hộ và bảo quản tài sản, ủy thác đại diện,
Trang 10Các dịch vụ ủy thác của khách hàng doanh nghiệp bao gồm: trợ cấp hưu trí,phân chia lợi nhuận và chia tiền thưởng cổ phần, phát hành trái phiếu, mua lại các quỹ,thanh toán,
Các nội dung của dịch vụ ủy thác bao gồm ủy thác vốn, ủy thác đầu tư, ủythác thực hiện công việc
- Dịch vụ tư vấn: Ngân hàng cung cấp các dịch vụ tư vấn cho khách hàng như tư vấn về
ngân hàng gửi, thời hạn và số lượng tiền gửi hiệu quả; thẩm định và tái thẩm định các
dự án đầu tư, các phương án tài chính, các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật của dự án, các rủi
ro của dự án và các phương án tài chính của dự án; tư vấn đầu tư tài chính vào các dự
án hoặc các doanh nghiệp; tư vấn cổ phần hóa; tư vấn niêm yết, tư vấn đăng ký giaodịch chứng khoán; tư vấn thuế, …
- Dịch vụ ngân hàng giám sát: Ngân hàng cung cấp dịch vụ lưu ký và giám sát việc quản
lý quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán Các dịch vụ ngân hàng giám sát baogồm lưu ký tài sản của quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán; quản lý tách biệt tàisản của quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán và các tài sản khác của ngân hànggiám sát; giám sát nhằm đảm bảo công ty quản lý quỹ, giám đốc hoặc tổng giám đốccông ty đầu tư chứng khoán quản lý tài sản của công ty tuân thủ các quy định của LuậtChứng khoán và điều lệ quỹ đầu tư chứng khoán, điều lệ công ty đầu tư chứng khoán;thực hiện hoạt động thanh toán và chuyển giao tiền, chứng khoán liên quan đến hoạtđộng quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán theo yêu cầu hợp pháp của công tyquản lý quỹ hoặc giám đốc/tổng giám đốc công ty đầu tư chứng khoán
- Dịch vụ môi giới tiền tệ: là việc làm trung gian có thu phí môi giới để thu xếp thực hiện
các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác giữa các tổ chức tín dụng,
tổ chức tài chính khác
- Dịch vụ kinh doanh ngoại hối: bao gồm các dịch vụ liên quan đến việc mua, bán ngoại
tệ bao gồm kinh doanh ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng và kinh doanh ngoại tệvới khách hàng là các doanh nghiệp, các tổ chức hoặc cá nhân
Các ngân hàng thường giao dịch mua bán ngoại tệ với các doanh nghiệpkinh doanh trong lĩnh vực xuất nhập khẩu
Trang 11Các doanh nghiệp nhập khẩu mua ngoại tệ để thanh toán cho người bán… cánhân mua ngoại tệ để đáp ứng các nhu cầu hợp lý như đi công tác nước ngoài, đi dulịch, chữa bệnh, du học…
Cung cấp dịch vụ ngoại hối giúp các ngân hàng hưởng thu nhập từ khoảnchênh lệch tỷ giá từ hoạt động mua bán
- Các dịch vụ khác: Dịch vụ tư vấn du học, dịch vụ Bankdraft đa ngoại tệ, dịch vụ chi trả
kiều hối, dịch vụ cho thuê và quản lý kho, định giá tài sản, dịch vụ môi giới trung gian
và đại lý, dịch vụ bảo hiểm, …
1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng thương mại
1.1.4.1. Sự gia tăng nhanh chóng trong danh mục sản phẩm dịch vụ
ngân hàng
Cùng với những cơ hội từ việc toàn cầu hóa và mở cửa thị trường ngân hàng,tài chính, việc gia tăng áp lực cạnh tranh từ các tổ chức tín dụng trong nước, nướcngoài và nhu cầu ngày càng phát triển của khách hàng đã đặt các NHTM trong tìnhtrạng không ngừng nghiên cứu để mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ tài chính mà họcung cấp cho khách hàng Các NHTM đã phải phát huy tối đa những lợi thế của mình,liên tục nâng cấp công nghệ để có thể đưa ra những sản phẩm dịch vụ tốt nhất đáp ứngnhu cầu của khách hàng mới có thể tồn tại và phát triển
1.1.4.2. Sự gia tăng cạnh tranh
Sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đang ngày càng trở nên quyếtliệt không chỉ giữa các NHTM trong nước với nhau mà còn giữa NHTM trong nướcvới NHTM nước ngoài và các tổ chức được cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng
Sự cạnh tranh này được thể hiện rất rõ qua việc cạnh tranh về danh mục sản phẩm dịch
vụ cung cấp, cụ thể là các sản phẩm: tín dụng, tiết kiệm, kế hoạch hưu trí, dịch vụ tưvấn tài chính cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng Áp lực cạnh tranh đóng vai trònhư một lực đẩy tạo ra sự phát triển dịch vụ cho tương lai
1.1.4.3. Sự gia tăng chi phí vốn
Sự nới lỏng các quy định kết hợp với sự gia tăng cạnh tranh làm tăng chi phítrung bình thực tế của tài khoản tiền gửi – nguồn vốn cơ bản của ngân hàng buộccác NHTM phải trả lãi do thị trường cạnh tranh quyết định Đồng thời, việc chínhphủ nhiều quốc gia yêu cầu các ngân hàng phải sử dụng vốn sở hữu nhiều hơn –một nguồn vốn đắt đỏ - để tài trợ cho các tài sản của mình buộc NHTM phải tìm
Trang 12cách cắt giảm các chi phí hoạt động khác như giảm số nhân viên, thay thế các thiết
bị lỗi thời bằng hệ thống xử lý điện tử hiện đại đã tạo ra một khoản chi phí khôngnhỏ cho ngân hàng, lớn hơn so với các nguồn vốn truyền thống (như tiền gửi)
1.1.4.4. Sự gia tăng các nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất
Các qui định của Chính phủ đối với công nghiệp ngân hàng tạo cho kháchhàng khả năng nhận được mức thu nhập cao hơn từ việc chuyển những khoản tiềngửi trong các tài khoản tiết kiệm với lãi suất thấp và các tài khoản giao dịch khôngsinh lợi sang các tài khoản có mức lãi suất cao hơn, những tài khoản có tỷ lệ lãi suấtthay đổi theo điều kiện thị trường Vì vậy, ngân hàng phải đối mặt với những kháchhàng nhạy cảm với lãi suất hơn
1.1.4.5. Cách mạng trong công nghệ ngân hàng
Đối mặt với sự canh tranh ngày càng gay gắt hơn, từ nhiều năm gần đây cácngân hàng đã và đang chuyển sang sử dụng hệ thống hoạt động tự động và điện tửthay thế cho hệ thống dựa trên lao động thủ công, đặc biệt là trong công việc nhậntiền gửi, thanh toán bù trừ và cấp tín dụng để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của kháchhàng Những sản phẩm điển hình của cách mạng trong công nghệ ngân hàng có thể
kể đến là: máy rút tiền tự động, cho phép khách hàng truy nhập tài khoản tiền gửicủa họ 24/24 giờ; máy thanh toán tiền được lắp đặt ở các bách hóa và trung tâm bánhàng thay thế cho các phương tiện thanh toán hàng hóa dịch vụ bằng giấy; hệ thốngmáy vi tính hiện đại xử lý hàng ngàn giao dịch một cách nhanh chóng trên toàn thếgiới, …
1.2. Cơ sở lý luận về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại
1.2.1.1. Khái niệm
Tái cấu trúc hệ thống ngânhàng thương mại là thực hiện các biện pháp nhằmkhắc phục các khiếmkhuyết của hệ thống ngân hàng thương mại nhằm mục đích duy trì
sự pháttriển ổn định (bền vững, an toàn) và hiệu quả chức năng trung gian tài chínhcủa
hệ thống ngân hàng thương mại trong nền kinh tế, đặc biệt là chức năngthanh toán và trung gian tín dụng, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động củacácNHTM
1.2.1.2. Đặc điểm tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại
Tái cấu trúc hệ thống NHTM có những đặc điểm sau:
Trang 13- Một là, tính quyết liệt trong của công cuộc tái cấu: Hoạt động của NHTM có tầm ảnh
hưởng rộng khắp và lan truyền, chính vì vậy khi hệ thống ngân hàng yếu kém sẽ kéotheo sự suy yếu của tất cả các lĩnh vực khác Chỉ cần một ngân hàng đổ vỡ, nguy cơ đổ
vỡ toàn hệ thống rất lớn, và lan truyền rộng khắp còn gọi là hiện tượng Domino Chính
vì vậy tái cơ cấu hệ thống NHTM đòi hỏi phải thực hiện một cách quyết liệt
- Hai là, tái cơ cấu hệ thống NHTM là chương trình mang tầm cỡ quốcgia: Như trên
đã đề cập về tầm ảnh hưởng của hệ hống NHTM đối với nền kinh tế xã hội của mộtquốc gia, vì vậy tái cơ cấu hệ thống ngân hàng không chỉ liên quan đến riêng ngànhngân hàng mà còn liên quan đến nhiều lĩnh vực khác Nếu chỉ để riêng hệ thống ngânhàng tái cấu trúc thì sẽ không đạt mục tiêu đề ra Như vậy, tái cấu trúc hệ thống ngânhàng phải đảm bảo có sự tham gia, phối hợp tích cực, hiệu quả của nhiều cơ quan quản
lý nhà nước
1.2.2. Lý do tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại
- Lý do thứ nhất để thực hiện tái cấu trúc hệ thống NHTM khi hệ thống ngân hàng phát
sinh những vấn đề bất ổn và có nguy cơ đẩy hệ thống NHTM rơi vào khủng hoảng kéotheo nguy cơ khủng hoảng kinh tế - xã hội hoặc một ngân hàng lớn bị rơi vào khủnghoảng có nguy cơ lan rộng ra toàn hệ thống Trong trường hợp này tái cấu trúc hệthống ngân hàng là nhằm hồi sinh hệ thống NHTM
- Lý do thứ hai để thực hiện tái cấu trúc hệ thống NHTM là nhằm mục đích duy trì sự
phát triển ổn định, hiệu quả chức năng trung gian tài chính của hệ thống NHTM Khinền kinh tế phát triển sẽ đòi hỏi hệ thống NHTM phải thay đổi để thích ứng, đảm bảocác mặt hoạt động có hiệu quả Sự thay đổi trong điều kiện này phải theo nguyên lývòng xoáy ốc dẫn đến, do vậy cần thiết phải tái cấu trúc hệ thống NHTM cho mục tiêuphát triển Việc tái cấu trúc không chỉ thực hiện khi hệ thống NHTM trong tình trạng
khủng hoảng với mục tiêu hồi sinh, mà việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng còn là
công việc thường xuyên ngay cả khi hệ thống NHTM đang hoạt động bình thường hay
hoạt động tốt hướng tới mục tiêu phát triển Tái cấu trúc hệ thống NHTM nếu được
Trang 14xem là công việc thường xuyên sẽ tránh gây những hậu quả xấu cho hệ thốngngân hàng và nền kinh tế, giảm thiểu được chi phí cho việc tái cấu trúc.
1.2.3. Nội dung tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại
1.2.3.1. Tái cấu trúc tài chính
- Tăng quy mô và chất lượng vốn tự có của các NHTM
- Tạo nền tảng cho hoạt động của NHTM: Vốn tự có là nguồn vốn dài hạn để đầu tư chovăn phòng, thiết bị, công nghệ Mặt khác nó còn là nguồn vốn để góp vốn, mua cổphần của các công ty khác hoặc thành lập các công ty trực thuộc (cho thuê tài chính,bảo hiểm, công ty chứng khoán, …)
- Bảo đảm sự an toàn cho NHTM: Vốn tự có là nguồn bù đắp các tổn thất khi có rủi ro
trong cho vay và đầu tư; kinh doanh ngoại tệ, chứng khoán; rủi ro hoạt động, … màkhông có nguồn bù đắp Vì vậy, mặc dù không thể thay thế cho việc quản trị điều hànhkém hiệu quả nhưng vốn tự có của ngân hàng cần thiết như là “tấm đệm”, tăng khảnăng của ngân hàng trong việc chống đỡ những rủi ro không dự tính trước được
- Duy trì niềm tin và điều chỉnh hoạt động của NHTM: Vốn tự có một mặt tạo niềm tin
đối với khách hàng, mặt khác là yếu tố điều chỉnh chính sách của ngân hàng như chovay, đầu tư, các trạng thái kinh doanh của ngân hàng
Từ năm 1988 đến 2010, Ủy ban Basel đã 4 lần giới thiệu các hệ thống đolường tiêu chuẩn an toàn vốn tối thiểu của các NHTM (CAR) Nội dung cốt lõi quyđịnh về chí tiêu an toàn vốn tối thiểu của Basel 2 là yêu cầu các NHTM phải có tỷ lệvốn bắt buộc tối thiểu tính trên tổng tài sản điểu chỉnh theo hệ số rủi ro tín dụng, rủi rothị trường, rủi ro hoạt động ở mức an toàn là 8% trong điều kiện thông thường:
Trang 15• Vốn cấp 3: Tùy theo quy định của cơ quan giám sát ngân hàng mà các NHTM có thểđược sử dụng các khoản nợ thứ cấp ngắn hạn dành cho mục đích duy nhất đáp ứng mộtphần yêu cầu về vốn đối với rủi ro thị trường.
Vì tính ổn định và khả năng chủ động trong việc sử dụng các nguồn vốn nóitrên, tiêu chuẩn đã đặt ra quy định: Vốn cấp 1 >= Vốn cấp 2 + Vốn cấp 3
* Rủi ro tín dụng = Tổng tài sản “Có” rủi ro
* Rủi ro hoạt động: nguy cơ xảy ra tổn thất trực tiếp hay gián tiếp do quytrình xử lý nội bộ không được tuân thủ đầy đủ, do hoạt động của con người hoặc do hệthống hay là những sự kiện khách quan bên ngoài, Ủy ban Basel mong muốn các ngânhàng giữ vốn để phòng ngừa các rủi ro hoạt động gây ra Các ngân hàng có thể lựachon một trong 3 phương pháp tính vốn cần thiết dự phòng rủi ro hoạt động với mức
độ phức tạp và nhạy cảm rủi ro tăng dần: Phương pháp chỉ số cơ bản (BIA – The Basicindicator approach); Phương pháp chuẩn (TSA – The Standardized Approach); Phươngpháp đo lường nâng cao (AMA – advanced measurement Approoaches) Khi hoạt độngcủa NHTM càng phức tạp thì cần phải áp dụng phương pháp có độ phức tạp cao hơn,đồng thời không cho phép các ngân hàng chuyển ngược trở lại phương pháp đơn giản
* Rủi ro thị trường theo Ủy ban Basel đó là rủi ro xảy ra sự mất mát trongtrạng thái giao dịch khi giá cả biến động thất thường Thông thường rủi ro thị trường sẽgắn liền với bốn loại rủi ro cơ bản trên các giao dịch sổ sách đó là rủi ro lãi suất, rủi rotrạng thái vốn, rủi ro tỷ giá và rủi ro hàng hoá
1.2.3.2. Tái cấu trúc hoạt động kinh doanh
- Tái cấu trúc về sản phẩm, dịch vụ của NHTM
Sản phẩm dịch vụ ngân hàng bao hàm toàn bộ các hoạt động mà ngân hàngcung ứng cho khách hàng liên quan đến hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, …thông qua các kênh phân phối khác nhau nhằm thỏa mãn mọi nhu cầu dịch vụ tài chínhcủa khách hàng mà pháp luật cho phép
Trang 16• Mở rộng phạm vi và quy mô hoạt động ngân hàng ở khu vực có tiềm năng phát triển vàgiảm các chi nhánh, điểm giao dịch hoạt động kém hiệu quả.
- Tái cấu trúc về nhân sự
Nguồn nhân lực ở bất cứ ngân hàng nào là lợi thế so sánh quan trọng vìchính con người là yếu tố “động nhất” trong mọi quá trình sản xuất Nguồn nhân lực 36của NHTM được đánh giá thông qua hai chỉ tiêu cơ bản là số lượng lao động và chấtlượng nguồn nhân lực
• Số lượng lao động: là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh nguồn nhân lực của một NHTM Nếu
số lượng lao động hợp lý ở mỗi chi nhánh, mỗi điểm giao dịch thì sẽ tạo điều kiệnthuận lợi để mở rộng các hoạt động kinh doanh cho các chi nhánh và toàn bộ hệ thốngNHTM
• Chất lượng nguồn nhân lực: chất lượng nguồn nhân lực của một ngân hàng được đánhgiá qua các chỉ tiêu: trình độ học vấn; trình độ ngoại ngữ; trình độ tin học; các kỹ năngmềm như giao tiếp, thuyết trình, năng lực giải quyết các vấn đề phát sinh, tinh thầntrách nhiệm, sự nhiệt tình, đạo đức nghề nghiệp, kinh nghiệm chuyên môn Chất lượngnguồn nhân lực là yếu tố quan trọng góp phần trong quá trình chực hiện việc nâng caonăng lực tài chính của NHTM
- Tái cấu trúc về công nghệ
Công nghệ đóng vai trò rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay Đặc biệt làtrong thời kỳ hội nhập, sự cạnh tranh khốc liệt của các ngân hàng mạnh trên thế giới.Theo quy luật, ngân hàng yếu sẽ bị thất bại, ngân hàng mạnh sẽ giành thế chủđộng trênthị trường
- Hoàn thiện mô hình tổ chức hoạt động
• Thông thường cơ cấu tổ chức hoạt động của các NHTM trước khi tái cấu trúc thườngmang tính chồng chéo và thiếu khoa học dẫn đến việc điều hành cũng như thực hiệncác hoạt động trong hệ thống ngân hàng không có hiệu quả Bởi vậy, khi tái cấu trúcNHTM, nội dung về hoàn thiện mô hình tổ chức hoạt động ngân hàng được xem nhưmột tất yếu
• Các nội dung cơ bản khi tiến hành tái cấu trúc tổ chức và quản lý NHTM: Rà soát vàtái cấu trúc bộ máy tổ chức sao cho vừa tinh gọn vừa đảm bảo thực hiện hoạt động củangân hàng được tiến hành thông suốt, hiệu quả, phòng ngừa rủi ro hữu hiệu Phân tách
Trang 17giữa chức năng điều hành và chức năng giám sát để đảm bảo sự kiểm tra toàn diện vàcân bằng về nguồn lực.
1.2.3.3. Tái cấu trúc hệ thống quản trị
Các NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt với đặc thù là tổ chức kinh doanh
“tiền” nên có độ rủi ro cao và mức độ ảnh hưởng lớn đối với hệ thống tài chính và toán
bộ nền kinh tế Chính vì vậy, quản trị công ty đối với NHTM càng có ý nghĩa đặc biệtquan trọng
Trong điều kiện nền kinh tế thế giới luôn biến động khó lường thì quản trịcông ty nói chung và quản trị NHTM càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết Chính vì vậy,một trong những trọng tâm của quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam lànâng cao năng lực quản trị công ty của các ngân hàng, cải thiện và hướng tới chuẩnmực quốc tế về quản trị công ty, đảm bảo an toàn, tăng cường tính minh bạch, từ đónâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững
1.2.3.4. Tái cấu trúc sở hữu
Sở hữu là quan hệ cơ bản, quan hệ xuất phát trong quan hệ sản xuất Khiphân tích đặc trưng của mọi phương thức sản xuất người ta phải chỉ rõ vai trò quy địnhcủa các quan hệ sở hữu đó với các quan hệ sản xuất và đối với toàn bộ các mặt của xãhội nói chung Bản chất của sở hữu là lợi ích, trước hết là lợi ích kinh tế Nếu không cólợi ích thì bản thân sở hữu sẽ không có ý nghĩa
Trong lĩnh vực ngân hàng, sở hữu quyết định chức năng, nhiệm vụ, phạm vihoạt động và việc tuân thủ quy định pháp luật của từng loại hình NHTM 40 Theo hìnhthức sở hữu, có thể phân chia các NHTM thành những nhóm sau:
- Ngân hàng thuộc sở sữu tư nhân: Là ngân hàng do cá thể thành lập bằng vốn của cánhân Loại ngân hàng này thường nhỏ, phạm vi hoạt động thường là trong từng địaphương và thường gắn liền với doanh nghiệp và cá nhân ở địa phương
- Ngân hàng thuộc sở hữu của các cổ đông (Ngân hàng thương mại cổ phần): Ngân hàngnày được thành lập thông qua phát hành cổ phiếu, việc nắm giữ các cổ phiếu cho phépngười sở hữu có quyền tham gia quyết định các hoạt động của ngân hàng, tham giachia cổ tức từ thu nhập của ngân hàng đồng thời phải chịu tổn thất có thể xảy ra Cácngân hàng cổ phần có khả năng huy động vốn nhanh, quy mô lớn, vì vậy các NHTMCP
Trang 18thường là các ngân hàng lớn và có phạm vi hoạt động rộng, đa năng, có nhiều chinhánh hoặc công ty con.
- Ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước: là loại hình ngân hàng mà vốn sở hữu do nhà nướccấp Các ngân hàng này thường được thành lập nhằm thực hiện một số mục tiêu nhấtđịnh của chính phủ Các NHTM thuộc sở hữu công thường được nhà nước hỗ trợ về tàichính và bảo lãnh phát hành giấy nợ, do vậy rất ít khi bị phá sản
- Ngân hàng liên doanh: được hình thành trên góp vốn của hai hay nhiều bên, thường làgiữa ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài để tận dụng lợi thế của nhau
1.2.4. Vai trò của ngân hàng trung ương trong quá trình tái cấu trúc hệ
thống ngân hàng thương mại
Với vị trí là cơ quan quản lý của các NHTM, NHTW chịu trách nhiệm đảmbảo an toàn hoạt động cho toàn bộ hệ thống NHTM sẽ không thể đứng ngoài quá trìnhtái cấu trúc Vai trò quan trọng của NHTW khi tham gia vào quá trình tái cấu trúc hệthống NHTM thể hiện qua những nội dung:
1.2.4.1. Tổ chức quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại
Với vai trò là đầu kéo của quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM, NHTW tổchức quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM qua những công việc cụ thể sau:
- Rà soát, đánh giá tình hình hoạt động của toàn hệ thống NHTM: Thông qua việc ràsoát, đánh giá toàn diện hoạt động của các NHTM, NHTW nhận diện những mặt yếukém của hệ thống NHTM về cấu trúc tài chính, cấu trúc hoạt động kinh doanh, cấu trúc
về quản trị và cấu trúc sở hữu Trên cơ sở đó NHTW tiến hành phân loại các NHTMthành các nhóm: lành mạnh, trung bình, yếu kém nhằm thiết lập phương án tái cấu trúc
hệ thống ngân hàng
- Lập phương án tái cấu trúc hệ thống NHTM trình chính phủ phê duyệt: Trong phương
án tái cấu trúc NHTM cần làm rõ quan điểm tái cấu trúc, định hướng tái cấu trúc và cácbiện pháp thực hiện, trong đó:
• Quan điểm tái cấu trúc lại hệ thống NHTM cần chỉ rõ mục tiêu, nguyên tắc thực hiện(tự nguyện hay xử lý đặc biệt) và tiêu chuẩn của NHTM phải đạt được sau khi tái cấutrúc
• Định hướng tái cấu trúc cần chỉ rõ những nội dung cần tái cấu trúc theo từng nhómNHTM Các nhóm NHTM có thể chia theo sở hữu, cũng có thể chia theo cấp độ: lànhmạnh, trung bình, yếu kém
Trang 19• Các biện pháp thực hiện chia theo từng nhóm ngân hàng và theo từng nội dung tái cấutrúc.
1.2.4.2. Ngân hàng Trung ương điều phối, hỗ trợ thực hiện tái cấu trúc
hệ thốngNHTM
NHTW đánh giá kết quả thực hiện tái cấu trúc theo từ ng giai đoạn và đưa rađiều chỉnh biện pháp hay chấn chỉnh kịp thời những bất cập trong quá trình thực hiệntái cấu trúc hệ thống NHTM Những công việc cụ thể của NHTW gồm có:
- Ngân hàng Trung ương hỗ trợ giải quyết vấn đề thanh khoản: Quá trình tái cấu trúc sẽlàm cho thị trường tài chính trở nên bất ổn, rủi ro tín dụng tăng cao, lòng tin giữa cácthành viên thị trường suy giảm Vì vậy, với vai trò là người cho vay cuối cùng, NHTWcần phải giải quyết tốt vấn đề thanh khoản để tạo dựng lại niềm tin và đảm bảo tính ổnđịnh của thị trường tài chính
- Ngân hàng Trung ương làm trung gian giữa các ngân hàng thương mại: Trong quá trìnhtái cấu trúc, các hình thức như: mua lại, hợp nhất hay sáp nhập là những biện pháp rấtphổ biến để ngăn chặn một cuộc khủng hoảng hệ thống ngân hàng đã được áp dụng tạirất nhiều quốc gia Tuy nhiên, trên thực tế, các NHTM thường không chủ động sápnhập ngay cả khi tình hình đã trở nên cực kỳ khó khăn do việc điều phối lợi ích giữacác bên tham gia là rất phức tạp Vì vậy, NHTW phải đóng vai trò là cơ quan trunggian, là cầu nối cho việc đàm phán tái cấu trúc giữa các bên có liên quan
- Ngân hàng Trung ương thực hiện và làm đầu mối hoàn chỉnh các quy định pháp luật cóliên quan đến hoạt động ngân hàng thương mại: Trong quá trình tái cấu trúc, có rấtnhiều vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn, thậm chí là những vấn đề chưa từng xảy ratrong lịch sử mà pháp luật hiện hành chưa bao quát hết Vì vậy, để có thể hỗ trợ đắc lựccho các ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động của mình trong giai đoạn phát triểnmới, NHTW làm đầu mối để hoàn thiện hệ thống pháp luật đã ban hành đồng thời xâydựng các văn bản pháp luật trong quyền hạn của mình và tham mưu cho Chính phủ đểcải thiện các quy định pháp luật có liên quan
- Ngân hàng Trung ương kiểm soát môi trường vĩ mô: Các biện pháp tái cấu trúc hợp lý
là điều kiện cần, môi trường vĩ mô là điều kiện đủ Tuy nhiên các yếu tố môi trường vĩ
mô thường thay đổi không ngừng vì vậy để quá trình tái cấu trúc có thể diễn ra thuậnlợi, NHTW có trách nhiệm theo dõi các diễn biến kinh tế vĩ mô và điều hành chính
Trang 20sách tiền tệ phù hợp, tránh tình trạng các mối quan hệ kinh tế trên thị trường bị méomó.
- Cải thiện lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài: Khi nguồn lực trong nước là không
đủ để tài trợ cho quá trình tái cấu trúc, các nhà đầu tư nước ngoài là mục tiêu đượcchính phủ các nước hướng đến để bù đắp cho các nguồn vốn thiếu hụt Mặt khác, táicấu trúc NHTM chắc chắn không tránh khỏi những xáo trộn trong nước từ đó dẫn đếnnhững quan ngại của các nhà đầu tư nước ngoài về triển vọng ổn định, phát triển củaquốc gia đó Vì vậy, việc cải thiện lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài để họ có thểyên tâm đầu tư vào các NHTM trong nước là điều vô cùng quan trọng, đặc biệt là đốivới các quốc gia có nguồn ngân quỹ hạn hẹp
1.2.4.3. Ngân hàng Trung ương đánh giá, đúc rút bài học kinh nghiệm
về tái cấutrúc hệ thống ngân hàng thương
Việc đánh giá chương trình tái cấu trúc hệ thống NHTM cần thực hiện trongsuốt quá trình tái cấu trúc ngân hàng theo từng giai đoạn mà còn cần thực hiện sau khikết thúc toàn bộ chương trình Đánh giá chương trình cần tập trung vào các vấn đề: kếtquả đạt được, những hạn chế, nguyên nhân và đúc rút bài học kinh nghiệm Tái cấutrúc hệ thống ngân hàng không phải là công việc có tính nhất thời mà là công việc phảithực hiện thường xuyên, vì vậy việc đánh giá và rút bài học kinh nghiệm sẽ hữu íchcho các chương trình tiếp theo
1.2.5. Những khó khăn và rủi ro của quá trình thực hiện tái cấu trúc hệ
thống ngân hàng thương mại
Quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM có thể gặp một số khó khăn, rủi ronhư sau:
- Thứ nhất, cơ sở luật pháp và cơ sở dữ liệu không đầy đủ có thể làm cho quá trình tái
cấu trúc hệ thống NHTM có thể kéo dài hơn dự kiến, dẫn đến chi phí gia tăng, hoặckhông thực hiện đầy đủ mục tiêu đề ra, làm cho hiệu quả của chương trình tái cấu trúcgiảm sút
- Thứ hai, trong trường hợp tỷ lệ các NHTM trong nước ở trong tình trạng thiếu thanh
khoản, có nợ xấu cao, chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều so với số lượng NHTM hoạtđộng hiệu quả để có khả năng mua lại, thâu tóm các NHTM yếu kém quá trình tái cấu
Trang 21trúc có thể bị ngưng trệ, khi đó hoạt động tái cấu trúc có thể phải trông chờ đến ngânhàng nước ngoài.
- Thứ ba, mất niềm tin đối với hệ thống NHTM do những ngân hàng thuộc sở hữu nhà
nước có thể có cơ chế bảo lãnh ngầm đối với người gửi tiền Trong khi đó, các ngânhàng tư nhân không được đảm bảo có thể khiến luồng tiền ồ ạt rút khỏi những ngânhàng này
- Thứ tư, khó khăn do những mâu thuẫn về lợi ích phát sinh trong quá trình tái cấu trúc.
Đó là những mâu thuẫn có liên quan đến lợi ích của người gửi tiền, lợi ích 46 củanhóm cổ đông khác nhau, lợi ích của các nhóm ngân hàng khác nhau, lợi ích của ngườivay, …
- Thứ năm, khó khăn do những chi phí phát sinh: trong quá trình tái cấu trúc và khả
năng chịu đựng của nền kinh tế Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, chi phí cho quá trìnhtái cấu trúc có thể từ 20% lên đến 50% GDP nếu việc tái cấu trúc diễn ra sau khủnghoảng (ở Hàn Quốc 20% GDP; ở Thái Lan hơn 30% GDP và ở Indonesia hơn 50%GDP)
- Thứ sáu, rủi ro “Quá lớn để không thể sụp đổ”: do một số NHTM sẽ trở nên “quá lớn”
hay quá quan trọng sau tái cấu trúc, dẫn đến tình trạng chi phối hệ thống NHTM, việckiểm soát hoạt động ngân hàng sẽ trở nên khó khăn hơn
1.3.Kinh nghiệm quốc tế về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại và bài
học cho Việt Nam
1.3.1. Kinh nghiệm quốc tế về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại
1.3.1.1. Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Cuộc khủng hoàng tài chính – ngân hàng Hàn Quốc có nguyên nhân chủ yếubắt nguồn từ việc đầu tư tràn lan và vay nợ quá mức của các tập đoàn kinh tế cũng nhưquy định an toàn hoạt động ngân hàng lỏng lẻo, quản trị rủi ro yếu kém và thiếu sựminh bạch trong công tác tài chính của hệ thống các tổ chức tín dụng và bùng phát từcuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 Vì vậy, để ngăn chặn khủng hoảng, Chínhphủ Hàn Quốc đã thực hiện một kế hoạch kinh tế tổng thể: tập trung ổn định kinh tế vĩ
mô và tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, doanh nghiệp và thị trường lap động trong đótái cấu trúc hệ thống ngân hàng là một trong những mục ưu tiên hàng đầu của HànQuốc ở giai đoạn này
Trang 22Chính phủ Hàn Quốc đã xây dựng một lộ trình, thứ tự các bước thực hiện táicấu trúc hệ thống ngân hàng như sau:
- Tiến hành rà soát và phân loại ngân hàng: tiến hành áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế để
đánh giá tình hình tài chính, các khoản nợ xấu và tiến hành phân loại các ngân hàngthành 3 nhóm làm cơ sở cho quá trình hợp nhất và sáp nhập, bao gồm:
* Nhóm các ngân hàng dẫn đầu (nhóm các ngân hàng lớn);
* Nhóm các ngân hàng trung bình (chủ yếu tập trung vào hoạt động bán lẻ);
* Nhóm các ngân hàng nhỏ phục vụ cho các vùng địa phương đặc biệt.Mục tiêu chính của việc phân loại này là nhằm tạo ra các ngân hàng lớn saukhi hợp nhất và sáp nhập có đủ năng lực về tài chính để có thể cạnh tranh hiệu quả đốivới các ngân hàng nước ngoài cũng như nâng cao hiệu quả kinh doanh của các ngânhàng này; thu hẹp phạm vi hoạt động của các ngân hàng có quy mô vừa để tập trungvào phát triển các hoạt động kinh doanh chính
- Giải quyết nợ xấu ngân hàng: Chính phủ Hàn Quốc đã thành lâp các Công ty quản lý
nợ xấu Hàn Quốc (viết tắt là KAMCO) để mua lại các khoản nợ xấu từ các TCTD có
kế hoạch sáp nhập và hợp nhất
- Hợp nhất, sáp nhập và mở rộng hình thức sở hữu: Sau khi đánh giá được mức vốn thực
có của các NHTM, Chính phủ Hàn Quốc đã tiến hành các bước đi mạnh mẽ để khuyếnkhích trên cơ sở tự nguyện hoặc bắt buộc các NHTM phải sáp nhập lại với nhau để trởthành các ngân hàng hàng đầu có khả năng cạnh tranh hiệu quả với các ngân hàng nướcngoài, hoặc tăng bốn để đảm bảo mức vốn tối thiểu an toàn cho hoạt động kinh doanhngân hàng, thậm chí rút giấy phép cũng như buộc phải tuyên bố phá sản Tháng7/1998, Chính phủ Hàn Quốc đã buộc 5 ngân hàng đóng cửa do có tỷ lệ an toàn vốn tốithiểu dưới 8% và yêu cầu các ngân hàng này phải hợp nhất và sáp nhập lại với nhau đểđảm bảo đạt được mức an toàn vốn tối thiểu
- Nâng cao chất lượng thanh tra, giám sát và an toàn hoạt động ngân hàng cũng như ban hành các quy định về an toàn hoạt động ngân hàng phù hợp với thông lệ quốc tế.
- Tăng cường sự tham gia của tổ chức bảo hiểm tiền gửi vào tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thông qua một nền tảng pháp lý minh bạch: Luật Bảo vệ người gửi tiền ban hành
năm 1995 là tiền đề cho việc thành lập Công ty Bảo Hiểm tiền gửi (KDIC) quy định rõmục tiêu hoạt động của KDIC là bảo vệ tiền gửi của người gửi tiền và duy trì ổn địnhtài chính tại Hàn Quốc với các chức năng chính gồm: quản lý quỹ Bảo hiểm tiền gửi;
Trang 23giám sát rủi ro; xử lý đổ vỡ; thu hồi nợ và điều tra Trong quy trình xử lý, KDIC đãgiảm thiểu rủi ro đạo đức, thực hiện điều tra và truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với cánhân, tổ chức gây ra đổ vỡ tại các tổ chức tài chính.
1.3.1.2. Kinh nghiệm của Thái Lan
Khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 đã khiến hệ thống ngân hàng củaThái Lan chao đảo nghiêm trọng, bắt buộc phải tái cấu trúc khắc nghiệt để vượt quakhủng hoảng và hoạt động ổn định hơn Nhằm chống đỡ với sự yếu kém của ngànhngân hàng, Chính phủ Thái Lan đã áp dụng một số biện pháp cải cách, bao gồm:
- Thứ nhất, đóng cửa một số định chế tài chính không còn khả năng tiếp tục hoạt động.
Lý do đưa ra quyết định này là xuất phát từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997(nguyên nhân do không quản lý được nguồn vốn lớn từ nước ngoài vào Thái Lan).Song song đó, chiến lược sáp nhập, hợp nhất các định chế tài chính cũng được tiếnhành và kết quả là Bank Thai ra đời (do sự hợp nhất của 13 công ty tài chính vàUnionbank), Ngân hàng First Bangkok city hợp nhất với Krung Thaibank và được táicấp vốn 200 tỷ Bath Còn lại Bangkokbank được bán lại hoàn toàn cho công ty quản lýtài sản
- Thứ hai, để tái cấp vốn cho các định chế tài chính có thể duy trì hoạt động, Thái Lan
đã lên một chương trình hỗ trợ vốn do Bộ tài chính Thái Lan đảm trách: thành lập cáccông ty quản lý tài sản, đóng cửa các định chế tài chính quá yếu kém, củng cố và táicấp vốn những tổ chức tài chính có khả năng duy trì hoạt động, Thái Lan đã co mộtchương trình tái cấp vốn cho các định chế tài chính này
- Thứ ba, đối với việc xử lý các khoản nợ xấu (Non- Performing loans), chiến lược của
Thái Lan là phân loại các khoản nợ không hoạt động (chiếm khoảng 47,7% tổng số cáckhoản cho vay) và tách chúng ra khỏi bảng cân đối tài sản của các NTHM Sau đóđược mang ra bán đấu giá Để làm được điều này, Thái Lan đã thành lập Uỷ ban tái cơcấu khu vực tài chính và Công ty quản lý tài sản vào tháng 10/1997
- Thứ tư, bên cạnh đó Thái Lan cũng đã đưa ra một khung pháp lý thuận lợi cho công
cuộc tái cơ cấu nợ này như Luật phá sản được thông qua, thành lập toà ánchuyên giảiquyết các vụ phá sản
Kết quả là hệ thống ngân hàng của Thái Lan đã được tái cấu trúc mặc dù chỉ
có 2 NHTM đóng cửa, sáp nhập; 56 công ty tài chính bị đóng cửa, 13 công t khác và 5
Trang 24ngân hàng được sáp nhập Các ngân hàng còn lại đều đã tăng được đủ số vốn quy địnhsau 12 tháng; tuy nhiên quá trình tăng vốn vẫn tiếp tục sau đó để đạt được tiêu chuẩn
về phân loại nợ và trích lập dự phòng theo chuẩn quốc tế vào năm 2000
1.3.2. Những bài học rút ra cho Việt Nam
Từ những lý luận chung về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và kinh nghiệmthực tiễn của một số nước có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam nhưsau:
- Thứ nhất, nhận thức đúng tính cấp thiết của hoạt động tái cấu trúc hệ thống NHTM thể
hiện qua quyết tâm chính trị cao đồng thời vận động sự ủng hộ của toàn xã hội cũngnhư các nhà tài trợ là nhân tố quan trọng giúp cho quá trình tái cấu trúc thành công
- Thứ hai, tái cấu trúc NHTM nên kết hợp quá trình tự tái cấu trúc và quá trình tái cấu
trúc của chính phủ Nếu chỉ để các NHTM tự nguyện tái cấu trúc thì hiệu quả mang lạithấp, vì vậy cần có chương trình tái cấu trúc mang tầm cỡ quốc gia
- Thứ ba, tái cấu trúc hệ thống NHTM phải kết hợp nhiều biện pháp tái cấu trúc và thực
thi một cách tổng thể nhưng linh hoạt Các giải pháp tái cấu trúc cần được tiến hànhđồng bộ với sự tham gia của nhiều cơ quan quản lý khác nhau, trong đó đặc biệt quantrọng là vai trò của NHTW, Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi và do đó việc thành lập một Ủyban tái cấu trúc để có thể điều tiết một cách thống nhất các hoạt động của các cơ quantrên trong suốt quá trình tái cấu trúc là cần thiết nhằm tăng cường hiệu quả và tránhchồng chéo
- Thứ tư, hệ thống NHTM không phải là một hệ thống độc lập mà ngược lại có sự liên
kết chặt chẽ với hầu hết các khu vực của nền kinh tế Mô hình NHTM đa năng cũngcho thấy sự gắn kết rất chặt giữa ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm
- Thứ năm, đánh giá đúng thực trạng, bản chất và mức độ nghiêm trọng của những yếu
kém trong hệ thống NHTM, xác định đúng nguyên nhân và đưa ra chương trình tái cơcấu tổng thể Đồng thời tiến hành rà soát và thực hiện phân loại ngân hàng để có biệnpháp thực hiện cụ thể
- Thứ sáu, tốc độ cải cách nhanh nhạy và hợp lý Trong quá trình tái cấu trúc, sự xáo
trộn và những đổ vỡ trên thị trường có thể tăng lên cao hơn mức trầm trọng thực tếxuất phát từ những yếu tố tâm lý và sự thiếu hụt thông tin
- Thứ bảy, chi phí cho tái cấu trúc cần được hạn chế ở mức thấp nhất, đặc biệt là gánh
nặng đối với tài khóa Để thực hiện được việc đó thì quá trình tái cấu trúc cũng cần
Trang 25được tiến hành theo “cơ chế thị trường” nhiều hơn và hạn chế ở mức thấp các biệnpháp quản lý mệnh lệnh hành chính.
- Thứ tám, ổn định hệ thống tài chính và khôi phục lòng tin của công chúng đối với khả
năng quản lý kinh tế, ổn định vĩ mô của Chính phủ
- Thứ chín, cần có sự can thiệp trên cả hệ thống bao gồm tất cả các tổ chức tài chính có
vấn đề bất kể hình thức sở hữu và mô hình hoạt động
- Thứ mười, tái cấu trúc hệ thống NHTM không thể tách rời với tái cấu trúc hệ thống
doanh nghiệp bởi chính những yếu kém của hệ thống doanh nghiệp là tác nhân chủ yếuđem đến những khoản nợ xấu, nợ quá hạn và tạo ra những căng thẳng về thanh khoảncũng như hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng – tài chính
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1, luận án đã trình bày tổng hợp có hệ thống những lý luận cơbản về ngân hàng thương mại (khái niệm, chức năng, phân loại NHTM, các nhân tốảnh hưởng đến hoạt động của NHTM) Hoạt động của NHTM có tầm ảnh hưởng rộngkhắp, do vậy một khi hệ thống ngân hàng yếu kém sẽ gây ra những hậu quả xấu tớitoàn bộ nền kinh tế, xã hội
Trong phần trọng tâm của chương 1 luận án trình bày cơ sở lý luận chung vềtái cấu trúc hệ thống NHTM, trong đó luận án làm rõ khái niệm tái cấu trúc hệ thốngNHTM, lý do tái cấu trúc, nội dung tái cấu trúc hệ thống NHTM Trong chương 1, luận
án đã nhấn mạnh lý do tái cấu trúc hệ thống NHTM không chỉ để hồi sinh hệ thốngNHTM khi có tình trạng yếu kém, mà còn là công việc phải thực hiện thường xuyên đểduy trì sự ổn định và phát triển hệ thống NHTM Đồng thời, luận án cũng đã làm rõnhững khó khăn và rủi ro trong quá trình tái cấu trúc, vai trò của NHTW trong quátrình tái cấu trúc hệ thống NHTM
Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cũng đã được luận án đề cập ở cuốichương là tài liệu tham khảo để rút ra bài học kinh nghiệm nhằm vận dụng vào quátrình tái cấu trúc hệ thống NHTM ở Việt nam
Những lý luận hệ thống hóa trong chương 1 là nội hàm khoa học hình thànhkhung lý thuyết nhằm định hướng cho quá trình nghiên cứu thực hiện mục tiêu đề tài
Trang 26CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
2.1. Khái quát quá trình hình thành và phá triển hệ thống ngân hàng Việt
Trang 27thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng, ngoại hối, ngân hàng; đồngthời thực hiện chức năng hoạt động kinh doanh của các Ngân hang thương mại Sự rađời của Ngân hàng Quốc gia ViệtNamlà một bước ngoặt lịnh sử trong lĩnh vực tiền tệ,tín dụng ở nước ta Lần đầu tiên trong lịch sử, dưới chính thể dân chủ mới, nước ta đãthành lập được một ngân hàng mang đầy đủ tính chất độc lập, tự chủ của đất nướcđược xây dựng theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin.
Trong thời kỳ này, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được thành lập và hoạtđộng độc lập tương đối trong hệ thống tài chính, thực hiện trọng trách đầu tiên theo chủtrương của Đảng và nhà nước là để thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu; tổ chức quản lýviệc phát hành tiền, điều hoà lưu thông tiền tệ; đấu tranh đẩy lùi lạm phát nhằm củng
cố sức mua của đồng tiền; thực hiện quản lý Kho bạc Nhà nước, góp phần tăng thu, tiếtkiệm chi, thống nhất quản lý thu chi ngân sách; phát triển tín dụng ngân hàng phục vụsản xuất, lưu thông hàng hoá, tăng cường lực lượng kinh tế quốc doanh; quản lý hoạtđộng kim dung bằng biện pháp hành chính; và quản lý ngoại hối và đấu tranh tiền tệvới địch
2.1.2. Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1955 – 1975)
Trong thời kỳ này, Ngân hàng Quốc gia đã thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản:
- Củng cố thị trường tiền tệ, giữ cho tiền tệ ổn định, góp phần bình ổn vật giá , tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc khôi phục kinh tế.
- Phát triển công tác tín dụng nhằm phát triển sản xuất lương thực, đẩy mạnh khôi phục
và phát triển nông, công, thương, nghiệp góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Miền Bắc và giải phóng Miền Nam.
Tháng 01/1960, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Ngân hàng Nhànước Việt Nam cho phù hợp với tinh thần của Hiến pháp mới
Đặc điểm cơ bản của mô hình tổ chức và hoạt động của ngân hàng một cấpthời kỳ này là: một Ngân hàng Nhà nước duy nhất, có tổ chức trên khắp các địa bànhành chính tới cấp huyện, hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất cả nước; hệthống Ngân hàng Nhà nước thực hiện đồng thời hai chức năng quản lý Nhà nước vàhạch toán kinh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng ngân hàng
Đó là một hệ thống tổ chức tương đối hoàn chỉnh, phù hợp với yêu cầu của
cơ chế kế hoạch hoá tập trung mang tính hành chính bao cấp
Trang 282.1.3. Thời kỳ Thống nhất đất nước và khôi phục kinh tế (1975 – 1985)
Đây là giai đoạn 10 năm khôi phục kinh tế sau chiến tranh giải phóng thốngnhất nước nhà và xây dựng hệ thống ngân hàng của chính quyền cách mạng, tiến hànhthiết lập hệ thống trong cả nước và thanh lý hệ thống ngân hàng của chế độ cũ ở miềnNam Theo đó, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam của chính quyền Việt Nam cộng hoà (ởmiền Nam) đã được quốc hữu hoá và sáp nhập vào hệ thống Ngân hàng Nhà nước ViệtNam, cùng thực hiện nhiệm vụ thống nhất tiền tệ trong cả nước, phát hành các loại tiềnmới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thu hồi các loại tiền cũ ở cả haimiền Nam – Bắc vào năm 1978
Đặc điểm cơ bản của mô hình hệ thống tổ chức hoạt động của hệ thống Ngânhàng Nhà nước thời kỳ này vẫn là ngân hàng một cấp và mang đầy đủ các đặc điểmcủa mô hình cũ Đến cuối những năm 80, hệ thống NHNN về cơ bản vẫn hoạt độngnhư là một công cụ ngân sách, chưa thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ theonguyên tắc thị trường Sự thay đổi về chất trong hoạt động của hệ thống ngân hàng –chuyển dần sang hoạt động theo cơ chế thị trường chỉ được bắt đầu khởi xướng từ cuốinhững năm 80, và kéo dài cho tới ngày nay
2.1.4. Giai đoạn 1986 đến 1990
Thực hiện tách dần chức năng quản lý Nhà nước ra khỏi chức năng kinhdoanh tiền tệ, tính dụng, chuyển hoạt động ngân hàng sang hạch toán, kinh doanhXHCN Cơ chế mới về hoạt động ngân hàng đã được hình thành Tháng 5/1990, haipháp lệnh Ngân hàng ra đời đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống Ngânhàng Việt Namtừ cấp 1 sang cấp 2 Mỗi cấp được pháp luật phân biệt rạch ròi:
- Ngân hàng Nhà nước thực thi nhiệm vụ quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanhtiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng; thực thi nhiệm vụ của một Ngânhàng Trung ương là ngân hàng duy nhất phát hành tiền; là ngân hàng của các ngânhàng và là Ngân hàng của Nhà nước; NHTW là cơ quan tổ chức việc điều hành chínhsách tiền tệ, thực hiện nhiệm vụ giữ ổn định giá trị đồng tiền là mục tiêu làm nhiệm vụchủ yếu và chi phối căn bản các chính sách điều hành cụ thể với hệ thống các ngânhàng cấp 2;
Trang 29- Cấp Ngân hàng kinh doanh thuộc lĩnh vực lưu thông tiền tệ , tín dụng và dịch vụ ngânhàng trong toàn nền kinh tế quốc dân do các định chế tài chính Ngân hàng và phi ngânhàng thực hiện.
2.1.5. Giai đoạn 1991 đến 2007
- Năm 1993 Việt Nam bình thường hóa các mối quan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệQuốc tế như IMF, WB, ADB
- Năm 1995, Ngân hàng phục vụ Người nghèo được thành lập
- Năm 1997 Quốc hội thông qua Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật tổ chứctín dụng tạo nền tảng pháp lý căn bản và mạnh mẽ hơn cho hệ thống Ngân hàng tiếptục đổi mới hoạt động phù hợp với cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế Ngân hàngPhát triển Nhà Đồng bằng sông Cửu Long được thành lập
- Năm 1999, Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam ra đời với chức năng bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của người gửi tiền
- Năm 2000, NHNNVN đã tích cực chỉ đạo thực hiện cơ cấu lại tài chính và hoạt độngcủa các NHTMNH và các NHTMCP
- Năm 2002, thực hiện tự do hóa lãi suất cho vay VND của các tổ chức tín dụng, đây làbước cuối cùng tự do hóa hoàn toàn lãi suất thị trường tín dụng ở cả đầu vào và đầu ra
Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng được đưa vào vận hành chính thức từ tháng5/2002, các dịch vụ ngân hàng điện tử xuất hiện (E-Banking, Internet banking, )
- Năm 2003, tiến hành cơ cấu lại theo chiều sâu hoạt động phù hợp với chuẩn quốc tếđối với các Ngân hàng thương mại; thành lập Ngân hàng chính sách xã hội trên cơ sởNgân hàng phục vụ người nghèo để tiến tới tách bạch tín dụng chính sách với tín dụngthương mại theo cơ chế thị trường; tiến hành sửa bước một Luật Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam
- Sau khoảng thời gian dài ngân hàng Nhà nước Việt Nam tham gia đàm phán gia nhậpWTO, ngày 11 tháng 1 năm 2007, WTO nhận được được quyết định phê chuẩn chínhthức của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam Kể từ đây, Việt Nam trở thành thànhviên đầy đủ của WTO
2.1.6. Giai đoạn 2008 đến 2012
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008 tác
động rất tiêu cực đến kinh tế nước ta Thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội và Chínhphủ, Ngân hàng Nhà nước đã điều hành chính sách tiền tệ chủ động và linh hoạt, từ ưu
Trang 30tiên kiềm chế lạm phát cao năm 2008 sang tập trung ngăn chặn suy giảm kinh tế năm
2009, khôi phục đà tăng trưởng năm 2010 và kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô,
hỗ trợ tăng trưởng kinh tế năm 2011, 2012
2.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Hệ thống ngân hàng Việt Nam không ngừng mở rộng về quy mô, đa dạng vềtính chất hoạt động loại hình sở hữu Trong đó, các NHTM Việt Nam được chia thành
2 nhóm dựa vào quan hệ sở hữu: một là nhóm các NHTMNN do Nhà nước sở hữu trên50% vốn, hai là nhóm các NHTMCP
Việc mở rộng về quy mô, hoạt động và đa dạng về hình thức sở hữu của hệthống ngân hàng Việt Nam đã góp phần rất quan trọng trong việc thúc đẩy phát triểnkinh tế Tuy nhiên, việc có gần 100 NHTM với quy mô nhỏ và sản phẩm dịch vụ tương
tự nhau đã tạo ra thách thức rất lớn về nguồn lực cũng như quản lý rủi ro Sự cạnhtranh không lành mạnh đã xuất hiện cùng với các yếu kém của hệ thống ngân hàng ViệtNam thể hiện qua các điểm: thanh khoản khó khăn; nợ xấu tăng cao; chất lượng quảntrị điều hành hạn chế; sản phẩm dịch vụ nghèo nàn; lợi nhuận chủ 66 yếu từ hoạt độngtín dụng, rủi ro cao ảnh hưởng đến an toàn hệ thống; hệ thống mạng lưới các NHTMphát triển với tốc độ quá nhanh, số lượng nhiều, chất lượng hoạt động giảm sút, không
ít ngân hàng hoạt động vì lợi ích cục bộ, chạy đua lãi suất gây ảnh hưởng lớn đến hệthống ngân hàng và thị trường tiền tệ
Bảng 2.1: Số lượng NHTM Việt Nam giai đoạn 1991 – 2012
(*) Các NHTM có vốn Nhà nước chiếm trên 50% được gọi là NHTMNN
Trang 31Nguồn: Báo cáo thường niên của NHNN Việt Nam
2.2.1. Vốn điều lệ và tỷ lệ an toàn vốn tối thiếu
2.2.1.1. Vốn điều lệ
Vốn điều lệ được xem là vấn đề cốt lõi trong hoạt động kinh doanh của cácNHTM Vốn điều lệ có ý nghĩa rất lớn đối với sự tồn tại và phát triển của NHTM vì nókhông chỉ là yếu tố hoạt động mà còn là yếu tố bảo vệ và yếu tố điều chỉnh Từ năm
2008 đến nay, các NHTM Việt Nam đã bắt đầu tích cực tăng vốn điều lệ để đạt đượcmức vốn điều lệ theo quy định của Nghị định 141/2006/NĐ-CP và Nghị định10/2011/NĐ-CP ngày 26/01/2011 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định141
Theo số liệu tổng hợp từ báo cáo tài chính của các NHTM Việt Nam [14] và
xử lý của tác giả, tổng vốn điều lệ của các NHTM Việt Nam (bao gồm NHTMNN vàNHTMCP) liên tục tăng qua các năm, cụ thể: ngày 31/12/2008: 110.924 tỷ đồng; ngày31/12/2009: 98.923 tỷ đồng, ngày 31/12/2010: 206.409 tỷ đồng; ngày 31/12/1011:242.029 tỷ đồng và ngày 31/12/2012 đạt 280.384 tỷ đồng
Bảng 2.2: Quy mô vốn điều lệ của các NHTM Việt Namgiai đoạn 2008 – 2012
ĐVT: tỷ đồng
Nguồn: Báo cáo thường niên của các NHTM Việt Nam và xử lý của tác giả
Trang 32Số liệu bảng 2.2 cho thấy vốn điều lệ của các NHTM Việt Nam giai đoạn
2008 – 2012 liên tục qua các năm: năm 2009 tăng 30,61% so với năm 2008; năm 2010tăng 42,22% so với năm 2009; năm 2011 tăng 17,46% so với năm 2010; năm 2012tăng 15,85% so với năm 2011, trong đó, khối NHTMNN tăng 36,82% (đạt mức106.073 tỷ đồng) và khối NHTMCP tăng 5,96% (đạt mức 174.311 tỷ đồng)
2.2.1.2. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
Theo Thông tư số 13/2010/TT-NHNN của NHNN có hiệu lực từ 2010, tỷ lệ
an toàn vốn tối thiểu (CAR) của các NHTM là 9% Nhìn chung, hầu hết các NHTMViệt Nam đều đã đạt được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định Bảng 2.3 cho thấy
hệ số CAR của một số NHTM Việt Nam điển hình:
Bảng 2.3: Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu một số NHTM Việt Nam
ĐVT: %
Nguồn: Báo cáo thường niên của các NHTM Việt Nam
Theo khuyến nghị của Basel III, khi xác định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu thìngoài rủi ro tín dụng cần tính cả rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động và tỷ lệ an toàn
Trang 33vốn tổi thiểu xu hướng sẽ phải nâng lên mức 13% Trong bảng 2.3 hệ số CAR chỉ mớitính rủi ro tín dụng.
2.2.2. Tình hình hoạt động kinh doanh
2.2.2.1. Hoạt động huy động vốn
Tình hình huy động vốn của toàn hệ thống ngân hàng liên tục tăng qua cácnăm, tuy nhiên tốc độ tăng không ổn định, có xu hướng suy giảm Những năm đầukhủng hoảng tài chính toàn cầu tốc độ tăng trưởng huy động vốn duy trì trên 20%,nhưng những năm tiếp theo tỷ lệ tăng vốn huy động chỉ đạt trên 12% (xem biểu đồ2.1)
Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng huy động vốn của hệ thống ngân hàng
Việt Nam giai đoạn 2008 - 2012
ĐVT: %
Nguồn: Báo cáo thường niên của các NHNN Việt Nam
Theo số liệu từ NHNN, huy động vốn của toàn hệ thống ngân hàng việt Namnăm 2012 tăng khá mạnh, đạt mức 16% Đứng đầu về tốc độ tăng trưởng huy động vốn
là NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội Theo báo cáo hợp nhất của ngân hàng này, huy
Trang 34động vốn đã tăng 123% và đạt 77.598 tỷ đồng, nguyên nhân chủ yếu là do nguồn tiềngửi tăng mạnh sau khi hợp nhất với NHTMCP phát triển nhà Hà Nội Về mức huyđộng vốn, Agribank dẫn đầu hệ thống ngân hàng với 540.000 tỷ đồng Lần lượtđứng ở vị trí thứ hai là BIDV, vị trí thứ 3 là Vietinbank và VCB ở vị trí thứ 4.
Trong số các ngân hàng lớn thì ACB rơi vào khủng hoảng do sự cố một sốlãnh đạo ngân hàng bị bắt dẫn đến lượng tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng bị rút
ra khá mạnh Chính vì vậy tỷ lệ tăng trưởng huy động vốn năm 2012 của ACB so vớicuối năm 2011 là giảm 11,9%
Bảng 2.4: Huy động vốn của một số NHTM Việt Nam năm 2012
Nguồn: Báo cáo thường niên của các NHTM Việt Nam năm 2012
Trang 352010 tốc độ tăng trưởng vẫn duy trì ở mức cao là 31,19% nhưng tốc độ tăng
đã giảm mạnh từ năm 2011 đến năm 2012 do chính sách tiền tệ thắt chặt để chống lạmphát, thanh khoản của một số NHTMCP gặp khó khăn và một số TCTD chưa chấphành nghiêm các quy định lãi suất huy động tối đa của NHNN nên được giao chỉ tiêutăng trưởng tín dụng thấp
Biểu đồ 2.2: Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng
Việt Nam giai đoạn 2008 - 2012 ĐVT: %
Nguồn: Báo cáo thường niên của NHNN Việt Nam
Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng liên tục tăng qua các năm cho thấy hệthống ngân hàng Việt Nam đã có đóng góp rất lớn vào việc phát triển nền kinh tế
Trong hai năm 2009 và 2010 tín dụng ngân hàng tăng mạnh nhưng GDP lạikhông tăng tương xứng phản ánh hiệu quả đầu tư kém (bảng 2.5) Từ năm 2011, vớinhững biện pháp thắt chặt tín dụng từ phía NHNN, tăng trưởng tín dụng giảm dần vànăm 2012 đạt 8,91% nhưng tăng trưởng kinh tế vẫn đạt 5,03% cho thấy đầu tư có hiệuquả hơn
Trang 36Bảng 2.5: Tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong mối
quan hệ với tăng trưởng GDP giai đoạn 2008 - 2012 ĐVT: tỷ đồng
Nguồn: Báo cáo thường niên của NHNN Việt Nam
Biểu đồ 2.3 cho thấy tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam giaiđoạn 2008 - 2012 có xu hướng tăng Cụ thể: năm 2008 là 2,17%; năm 2009 là 2,05%;năm 2010 là 2,16%; năm 2011 là 3,3% và năm 2012 tăng vọt lên 8,6%
Mặc dù NHNN công bố tỷ lệ nợ xấu là như vậy nhưng theo đánh giá củahãng xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings năm 2011 tỷ lệ này không thể thấp hơn hai con
số (vào khoảng 13%) Lý do khiến cho có sự sai lệch so với con số do NHNN ViệtNam công bố chính là cách phân loại nợ
Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2008 - 2012 ĐVT: %