TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨUĐể thực hiện đề tài “Tăng cường hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội SHB”, tác giả đã tiến hành nghiên cứu cơ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ
TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN SÀI GÒN – HÀ NỘI (SHB)
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
TRẦN THỊ HƯƠNG TRÀ
Trang 2HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Tăng cường hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Sài Gòn - Hà Nội (SHB)
Ngành: Tài chính – Ngân hàng – Bảo hiểm Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS, TS NGUYỄN THỊ QUY
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ngườihướng dẫn khoa học của luận văn – PGS, TS Nguyễn Thị Quy, đã tận tình hướngdẫn, đưa ra những đánh giá xác đáng giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô Trường Đại họcNgoại Thương Hà Nội, Ban lãnh đạo, các đồng nghiệp Ban Định chế tài chính -Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, cùng bạn bè và người thân đã giúp đỡ, hỗ trợtôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tác giả: Trần Thị Hương Trà
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin
và kết quả nghiên cứu trong luận văn là do tôi tự tìm hiểu, đúc kết và phân tích mộtcách trung thực, phù hợp với thực tế
Tác giả: Trần Thị Hương Trà
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
DANH MỤC ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ ix
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU x
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6
1.1 Tính thanh khoản và rủi ro thanh khoản trong hoạt động của Ngân hàng thương mại 6
1.1.1 Khái niệm tính thanh khoản của Ngân hàng thương mại 6
1.1.2 Cung, cầu thanh khoản và trạng thái thanh khoản ròng 7
1.1.3 Rủi ro thanh khoản 8
1.1.3.1 Khái niệm rủi ro thanh khoản 8
1.1.3.2 Biểu hiện của rủi ro thanh khoản 9
1.1.3.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản 10
1.1.3.4 Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản đến hoạt động kinh doanh của NHTM 12
1.2 Quản trị rủi ro thanh khoản của Ngân hàng thương mại 13
1.2.1 Khái niệm quản trị rủi ro thanh khoản của NHTM 13
1.2.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng quản trị rủi ro thanh khoản 14
1.2.2.1 Các chỉ tiêu định tính 14
1.2.2.2 Các chỉ tiêu định lượng 15
1.2.3 Nội dung quản trị rủi ro thanh khoản NHTM 17
1.2.3.1 Tổ chức quản trị rủi ro thanh khoản 17
1.2.3.2 Nhận diện rủi ro thanh khoản 19
1.2.3.3 Đo lường rủi ro thanh khoản 21
1.2.3.4 Kiểm soát rủi ro thanh khoản 25
1.2.3.5 Xử lý rủi ro thanh khoản 29
Trang 61.2.4 Vai trò của quản trị rủi ro thanh khoản đối với hoạt động của NHTM
31
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro thanh khoản NHTM 32
1.2.5.1 Nhân tố chủ quan 32
1.2.5.2 Nhân tố khách quan 33
1.3 Kinh nghiệm quản trị rủi ro thanh khoản của một số ngân hàng trên thế giới và bài học cho Việt Nam 33
1.3.1 Kinh nghiệm về quản trị rủi ro thanh khoản của một số NHTM trên thế giới 33
1.3.1.1 Rủi ro thanh khoản ở các NHTM Nga năm 2004 33
1.3.1.2 Rủi ro thanh khoản ở Anh – Thảm họa Northern Rock 34
1.3.1.3 Rủi ro thanh khoản ở các NHTM Mỹ - Ngân hàng Lehman Brothers .35
1.3.2 Bài học kinh nghiệm về quản trị rủi ro thanh khoản cho các NHTM Việt Nam 36
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN – HÀ NỘI (SHB) 37
2.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) 37
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 37
2.1.2 Cơ cấu tổ chức 38
2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh trong thời gian gần đây 39
2.1.3.1 Số liệu kết quả kinh doanh và một số chỉ tiêu tài chính cơ bản 39
2.1.3.2 Công nghệ thông tin và sản phẩm, dịch vụ 44
2.1.3.3 Hoạt động quản trị rủi ro 45
2.1.3.4 Phát triển mạng lưới 45
2.2 Thực trạng rủi ro thanh khoản của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội.45 2.2.1 Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng tới tính thanh khoản tại SHB 45
2.2.1.1 Nhân tố khách quan đến từ nền kinh tế 45
2.2.1.2 Nhân tố chủ quan đến từ chính SHB 46
2.2.2 Thực trạng rủi ro thanh khoản tại SHB 48
Trang 72.3 Thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn –
Hà Nội ……….58
2.3.1 Cơ sở pháp lý của hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản 58
2.3.1.1 Quy định của NHNN Việt Nam 58
2.3.1.2 Quy định của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội 61
2.3.2 Bộ máy tổ chức quản lý thanh khoản 61
2.3.3 Thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội 63
2.3.3.1 Nhận diện rủi ro thanh khoản 63
2.3.3.2 Đo lường rủi ro thanh khoản 66
2.3.3.3 Kiểm soát rủi ro thanh khoản 70
2.3.3.4 Xử lý rủi ro thanh khoản 73
2.4 Đánh giá hoạt động quản rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội 76
2.4.1 Những kết quả đạt được 76
2.4.2 Hạn chế 78
2.4.3 Nguyên nhân 79
2.4.3.1 Nguyên nhân khách quan 79
2.4.3.2 Nguyên nhân từ phía SHB 81
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG 83
QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN – HÀ NỘI (SHB) 83
3.1 Định hướng và mục tiêu tăng cường quản trị rủi ro thanh khoản của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội trong thời gian tới 83
3.1.1 Các mục tiêu chủ yếu 83
3.1.2 Định hướng tăng cường quản trị rủi ro thanh khoản của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội 84
3.1.2.1.Định hướng của NHNN Việt Nam về quản trị rủi ro thanh khoản 84
3.1.2.2 Định hướng của SHB trong việc tăng cường quản trị rủi ro thanh khoản 84
Trang 83.2 Giải pháp tăng cường hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân
hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội 85
3.2.1 Xác định mục tiêu, chiến lược quản trị thanh khoản phù hợp 85
3.2.2 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị rủi ro thanh khoản 86
3.2.3 Xây dựng và hoàn thiện chính sách quản trị rủi ro thanh khoản 87
3.2.4 Hoàn thiện công tác thông tin, báo cáo 87
3.2.5 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý thanh khoản 87
3.2.6 Tăng cường công tác chăm sóc khách hàng 88
3.3 Kiến nghị nhằm tăng cường hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội 88
3.3.1 Kiến nghị đối với Chính phủ 88
3.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 89
3.3.2.1 Điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt 89
3.3.2.2 Hoàn thiện hành lang pháp lý 90
3.3.2.3 Xây dựng chính sách và quy trình kiểm soát, đo lường rủi ro 92
3.3.2.4 Tăng cường công tác kiểm soát, giám sát hoạt động của NHTM 92
3.3.2.5 Củng cố và phát triển thị trường tiền tệ và thị trường vốn thứ cấp 93
3.3.2.6 Hoàn thiện các văn bản pháp quy, hướng dẫn cho thị trường tài chính phái sinh 94
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO x
PHỤ LỤC 1: BẢNG CÂN ĐỐI THANH KHOẢN CỦA SHB THEO KỲ HẠN GIAI ĐOẠN 2014-2016 xii
PHỤ LỤC 2: MẪU BÁO CÁO MCO NH TMCP SÀI GÒN - HÀ NỘI xiii
Trang 9DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
1 ALCO Asset-Liability Committee (Ủy ban Quản lý tài sản nợ-có)
11 NLP Net liquidity position (Trạng thái thanh khoản ròng)
Trang 105 Bảng 2.4 Tốc độ tăng trưởng tín dụng và huy động vốn SHB 2014-2016 47
6 Bảng 2.5 Tỷ trọng đầu tư vào giấy tờ có giá của SHB 2014-2016 47
10 Bảng 2.9 Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn 51
15 Bảng 2.14 Chỉ số vị thế ròng của các NH trên thị trường 2 56
Trang 12TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài “Tăng cường hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại
Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội (SHB)”, tác giả đã tiến hành
nghiên cứu cơ sở lý luận về rủi ro thanh khoản và quản trị rủi ro thanh khoản, trên
cơ sở đó đi sâu vào phân tích thực trạng các nhân tố khách quan đến từ nền kinh tế
và các nhân tố chủ quan đến từ chính ngân hàng SHB ảnh hưởng tới thực trạng rủi
ro thanh khoản của Ngân hàng trong giai đoạn 2014-2016, sau đó phân tích thựctrạng rủi ro thanh khoản của SHB thông qua các chỉ số thanh khoản
Tiếp theo, tác giả phân tích công tác quản trị rủi ro thanh khoản của SHBtrong đó chủ yếu nhấn mạnh các phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản thôngqua các báo cáo dòng tiền cộng dồn và các báo cáo về chỉ số thanh khoản theo quyđịnh của Ngân hàng nhà nước Từ đó, đánh giá các mặt SHB đã đạt được, nhữngvấn đề còn hạn chế và nguyên nhân từ phía khách quan và chủ quan
Cuối cùng, luận văn đã đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hoạt độngquản trị rủi ro thanh khoản tại SHB và một số kiến nghị đối với Chính phủ và Ngânhàng Nhà nước nhằm tăng cường hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản đối vớiSHB nói riêng và các NHTM nói chung
Trang 13LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định và pháttriển nền kinh tế Trong những năm qua, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
đã có những đổi mới sâu sắc đóng góp vào việc ổn định tiền tệ, thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở rộng quan hệkinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới Những lợi ích mà hệ thống ngânhàng mang lại cho nền kinh tế nói chung và mức lợi nhuận mang lại cho chủ sở hữunói riêng là vô cùng lớn Tuy nhiên, các hoạt động của ngân hàng đồng thời cũng làmột trong những hoạt động mang lại nhiều rủi ro nhất Trong số đó, rủi ro thanhkhoản là một trong những rủi ro đặc thù của hoạt động kinh doanh ngân hàng, bêncạnh những loại rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thị trường, rủi
ro hoạt động Xuất phát từ tính liên kết hệ thống một cách chặt chẽ, một ngân hànggặp rủi ro thanh khoản sẽ ảnh hưởng tới hoạt động bình thường của các ngân hàngkhác, và rộng hơn là đe dọa đến sự an toàn trong hoạt động của toàn bộ hệ thốngngân hàng
Trong thời gian vừa qua, trước những tác động tiêu cực của sự bất ổn địnhnền kinh tế vĩ mô và các chính sách của Nhà nước, thanh khoản của hệ thống ngânhàng thương mại đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng, cá biệt có một số ngân hàng rơivào tình trạng thiếu thanh khoản Điều này không chỉ gây ảnh hưởng nghiêm trọngđến hoạt động kinh doanh của bản thân ngân hàng mà còn tác động đến thị trườngtiền tệ và toàn bộ nền kinh tế nói chung Đứng trước những vấn đề đó, các ngânhàng đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản trị rủi ro thanh khoảntrong hoạt động kinh doanh của mình
Xuất phát từ thực tế nêu trên, việc tìm hiểu cách tiếp cận hiện đại trong quảntrị rủi ro thanh khoản, ứng dụng nó để phân tích hoạt động quản trị rủi ro thanhkhoản trong hệ thống NHTM Việt Nam nói chung và Ngân hàng thương mại cổphần (TMCP) Sài Gòn – Hà Nội nói riêng là cần thiết, góp phần tăng cường hoạt
động quản trị rủi ro thanh khoản trong ngân hàng Đề tài “Tăng cường hoạt động
Trang 14quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội” được lựa
chọn nhằm đáp ứng nhu cầu trên
2 Tình hình nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới đã có một số tác giả nghiên cứu về vấn đề quản lý rủi ro thanhkhoản, có thể kể đến một số tác giả sau:
- Guglielmo Michael R (2007) trong bài nghiên cứu “Managing LiquidityRisk” đã đề cập 06 bước để tăng cường thanh khoản và quản trị RRTK mà Ủy banALCO cũng như các nhà quản lý phải quan tâm bao gồm: xác định mức thanhkhoản mà NH đang có; dự đoán mức thanh khoản mà NH cần; thiết lập một hệthống cảnh báo sớm; thử kiểm tra sức chịu đựng nhu cầu và tính sẵn có của vốn;vạch ra các phản ứng của nhà quản lý; lên kế hoạch cho cả quá trình và kiểm tranguồn thanh khoản định kỳ Trong đó Guglielmo đặc biệt nhấn mạnh đến việc cácnhà quản lý phải xác định được mức thanh khoản mà NH đang nắm giữ là baonhiêu, trên cơ sở đó mới có thể định hướng cho việc quản trị RRTK cho NH mình
- Gianfranco A Vento (2009) với nghiên cứu về “Bank Liquidity RiskManagement and Supervision: Which Lessons from recent Market Turmoil?” đãphân tích các kỹ thuật đo lường RRTK và phương pháp giám sát thanh khoản Theo
đó tác giả đưa ra khung định lượng để đo lường RRTK gồm các phương pháp tiếpcận chứng khoán, phương pháp tiếp cận dựa trên dòng tiền và phương pháp hỗnhợp Trong phần giám sát thanh khoản, tác giả chỉ ra một vài phương pháp tiếp cậngiám sát thanh khoản của một số nước Châu Âu như Anh, Đức, Pháp và Italia đểminh chứng cho nghiên cứu của mình
- Rudofl Duttweiler (2009) với công trình nghiên cứu “Quản lý thanh khoảntrong ngân hàng” đã mở rộng phạm vi xem xét đến quá trình thiết lập các yếu tốthuộc về cấu trúc cho một khuôn khổ giám sát đối với công tác quản lý thanh khoảnnhằm đánh giá tính hợp lý của những khái niệm và quy trình được giới thiệu khichúng vượt qua các quy định về giám sát và pháp lý
Các công trình nghiên cứu trong nước
- “Tăng cường năng lực quản trị rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mạiViệt Nam” Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành của Tiến sĩ Tô Ngọc Hưng (2007)
Trang 15Trong nghiên cứu này tác giả chỉ đi vào tìm hiểu một số chỉ số thanh khoảncủa NH để đánh giá xem liệu NH có chống đỡ được khi RRTK xảy ra hay không,trên cơ sở đó tác giả đưa ra những giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường năng lựcquản lý RRTK tại NHTM Việt Nam, đảm bảo tính khoa học, khả thi và phù hợp củacông tác quản lý rủi ro, góp phần nâng cao hiệu quả và đảm bảo an toàn hoạt độngkinh doanh của NHTM.
- “Giải pháp nâng cao chất lượng quản trị tài sản Nợ, tài sản Có tại Ngânhàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam” Luận án Tiến sĩ kinh tế củatác giả Trịnh Hồng Hạnh (2015)
Luận án đã hệ thống hóa, làm sang tỏ lý luận về quản trị TSN-TSC củaNHTM từ việc khái quát lại những đặc trưng của TSN, TSC từ đó xác định rõnhững mục tiêu, phạm vi, nội dung của quản trị TSN-TSC Trên cơ sở đó, luận ánđưa ra quan điểm về chất lượng quản trị TSN-TSC của NHTM và xây dựng hệthống các chỉ tiêu đánh giá chất lượng quản trị TSN-TSC của NHTM cũng như chỉ
ra các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng quản trị TSN-TSC
Mặc dù đã có những đóng góp có giá trị khoa học lớn nhưng nhìn chung, hầuhết những công trình nghiên cứu nói trên đều chưa tiếp cận được một cách toàn diện
về quản lý RRTK tại NHTM, bao gồm việc kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để làm
rõ mục tiêu và những nội dung cơ bản của quản lý RRTK, làm rõ thực trạng thanhkhoản và quản lý rủi ro thanh khoản tại một NHTM cụ thể từ đó đề xuất các giảipháp đồng bộ, phù hợp với thực trạng của bản thân NH Những “khoảng trống” trênđây đã gợi mở cho tác giả những hướng nghiên cứu với mong muốn Luận văn thạc
sỹ “Tăng cường hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại NH TMCP Sài Gòn –
Hà Nội” là luận văn nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về các nội dung của
RRTK và quản lý RRTK tại NH, là cơ sở lý luận để đánh giá thực trạng RRTK vàquản lý RRTK tại SHB, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường hoạt độngquản trị RRTK tại NH này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, làm rõ thực trạng rủi ro thanh khoản,công tác quản trị rủi ro thanh khoản tại NH TMCP Sài Gòn – Hà Nội, luận văn đềxuất những giải pháp nhằm tăng cường quản trị rủi ro thanh khoản tại NH này trongthời gian tới
Trang 16 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết cơ bản về rủi ro thanh khoản và hoạtđộng quản trị rủi ro thanh khoản của Ngân hàng thương mại
- Phân tích thực trạng công tác quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàngTMCP Sài Gòn – Hà Nội, ảnh hưởng của nó đến trạng thái thanh khoản hiện tại củangân hàng
- Đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường hoạt động quản trị rủi ro thanhkhoản tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu rủi ro thanh khoản và công tác quản trị rủi rothanh khoản tại Ngân hàng thương mại
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp nghiên cứu tổng quan tài liệu để xây dựng cơ sở lý thuyết vềthanh khoản, rủi ro thanh khoản và quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động kinhdoanh của các NHTM hiện nay
- Phương pháp phân tích số liệu để thấy được rủi ro thanh khoản tại SHB
- Phương pháp tiếp cận lịch sử - logic; Phương pháp phân tích – tổnghợp – hệ thống hóa để đánh giá thực trạng khả năng phòng ngừa rủi ro thanhkhoản tại SHB
Trang 176 Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa, làm sáng tỏ những cơ sở lý luận về rủi ro thanh khoản vàquản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động của Ngân hàng thương mại
- Làm rõ thực trạng rủi ro thanh khoản và công tác quản trị rủi ro thanhkhoản tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội Phân tích những nguyên nhân ảnhhưởng tới kết quả công tác quản trị rủi ro thanh khoản tại NH TMCP Sài Gòn – HàNội
- Đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luậnvăn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động của Ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp nhằm tăng cường hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội
Trang 18CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tính thanh khoản và rủi ro thanh khoản trong hoạt động của Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm tính thanh khoản của Ngân hàng thương mại
Trong tài chính, thuật ngữ “thanh khoản” được sử dụng trong nhiều phạm vikhác nhau
Dưới góc độ tài sản: thanh khoản được hiểu là khả năng chuyển hóa thành
tiền của tài sản Theo Giáo sư Peter Rose (Quản trị ngân hàng thương mại, 2008),một tài sản có tính thanh khoản cao khi nó thỏa mãn đồng thời ba đặc điểm: có mộtthị trường sẵn sàng để có thể được chuyển thành tiền nhanh chóng; giá của tài sảnphải ổn định, dù tài sản giá trị lớn thế nào hay cần được bán nhanh ra sao, thị trườngvẫn đủ “sâu” để chấp nhận với mức giá thay đổi không đáng kể; thị trường của tàisản phải có khả năng đảo chiều để cho người bán có thể mua lại tài sản với mức tổnthất không đáng kể
Như vậy, tính thanh khoản của tài sản được đo lường thông qua thời gian vàchi phí để chuyển hóa tài sản thành tiền Một tài sản có tính thanh khoản cao nếuthời gian để chuyển hóa thành tiền ngắn, chi phí về chuyển nhượng thấp bao gồmcác chi phí về giao dịch, chênh lệch giữa giá bán tài sản ngay tức thì và giá trị thịtrường của tài sản
Dưới góc độ doanh nghiệp nói chung, thanh khoản là lượng tiền và tương
đương tiền mà doanh nghiệp sở hữu Nhưng thuật ngữ này khi được sử dụng dưới
góc độ quản trị NH lại được hiểu là khả năng ngân hàng đáp ứng kịp thời và đầy đủ
các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như chi trảtiền gửi, cho vay, thanh toán và các giao dịch tài chính khác
Theo bộ quy tắc về “Nguyên tắc quản lý và giám sát rủi ro thanh khoản” của
Basel ban hành tháng 9/2008 thì “Thanh khoản là khả năng của ngân hàng vừa có
thể tăng thêm tài sản vừa đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị những thiệt hại quá mức cho phép”.
Trang 19Như vậy, có thể hiểu rằng tính thanh khoản của ngân hàng là trạng thái luôn
có trong tay một lượng vốn khả dụng với chi phí thấp đúng tại thời điểm ngân hàng có nhu cầu hoặc khả năng nhanh chóng huy động được vốn thông qua con đường vay nợ hay bán tài sản Tính thanh khoản của ngân hàng phải được xem xét
ở từng thời điểm cụ thể và ở những thời điểm khác nhau thì tính thanh khoản củangân hàng có thể là khác nhau
1.1.2 Cung, cầu thanh khoản và trạng thái thanh khoản ròng
Theo Peter Rose (Quản trị ngân hàng thương mại, 2008) và Trần Huy Hoàng(Quản trị ngân hàng thương mại, 2011) yêu cầu thanh khoản của một ngân hàng có thểđược xem xét qua mô hình cung cấp về thanh khoản Trong đó:
hàng, là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng
hàng, các khoản vay làm giảm quỹ của ngân hàng Những hoạt động tạo ra cầu vềthanh khoản trong lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng
Những nghiệp vụ của cung cầu thanh khoản:
-Các khoản tiền gửi đang đến
-Doanh thu từ việc bán các khoản dịch
vụ
-Thu hồi tín dụng đã cấp
-Bán các tài sản đang kinh doanh và sử
dụng
-Vay mượn từ thị trường tiền tệ
- Khách hàng rút các khoản tiền gửi
- Yêu cầu cấp các khoản tín dụng cóchất lượng cao
- Hoàn trả các khoản vay mượn phitiền gửi
- Chi phí phát sinh khi kinh doanh cácsản phẩm và dịch vụ
- Thanh toán cổ tức cho các cổ đông
Ở bất cứ thời điểm nào, các nguồn cung và nhu cầu thanh khoản đến cùnglúc và tạo thành trạng thái thanh khoản ròng và có thể được tính như sau:
NLPt = Tổng cung thanh khoản – Tổng cầu thanh khoản
Trang 20Như vậy trạng thái thanh khoản ròng là chệnh lệch giữa tổng cung và tổngcầu thanh khoản tại một thời điểm.
Ở đây xảy ra một trong ba trường hợp:
NLPt > 0: điều này có nghĩa là ngân hàng ở trong tình trạng thặng dư thanhkhoản (liquidity surplus) Trạng thái này mang lại những thiệt hại cho NH do NHđang dư thừa tiền dự trữ không sinh lời Do vậy các NH cần phải đưa ra các quyếtđịnh để sử dụng hiệu quả các khoản dư thừa vốn khả dụng đó
NLPt < 0: điều này có nghĩa là ngân hàng ở trong tình trạng thâm hụt thanhkhoản (liquidity deficit), tức NH đang thiếu hụt tiền để chi trả Để tiếp tục tồn tại,
NH phải xác định bổ sung thanh khoản ngay từ nguồn nào và với chi phí bao nhiêunhằm giúp NH trở lại trạng thái cân bằng thanh khoản
NPLt=0: NH có được trạng thái thanh khoản cân bằng, đây là trạng thái hoànhảo nhưng rất khó đạt được trong thực tế hoạt động của NH
1.1.3 Rủi ro thanh khoản
1.1.3.1 Khái niệm rủi ro thanh khoản
Từ trạng thái thâm hụt thanh khoản của NH, có thể hiểu RRTK xảy ra khi
NH rơi vào tình trạng thiếu hoặc không đủ đáp ứng các nghĩa vụ tài chính thườngxuyên Như vậy RRTK là loại rủi ro khi NH không có khả năng cung ứng đầy đủlượng tiền cho nhu cầu thanh khoản tức thời; hoặc cung ứng nhưng với chi phí cao
Theo định nghĩa của Ủy ban Basel (2008), “Rủi ro thanh khoản là rủi ro mà
một định chế tài chính không đủ khả năng tìm kiếm đầy đủ nguồn vốn để đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà không làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh hàng ngày và cũng không gây tác động đến tình hình tài chính”.
Theo Rudolf Duttweiler (Quản lý thanh khoản trong ngân hàng, 2009),
“Thanh khoản đại diện cho khả năng thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi
đến hạn – đến mức tối đa và bằng đơn vị tiền tệ được quy định Do thực hiện bằng tiền mặt, thanh khoản chỉ liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ Việc không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán sẽ dẫn đến tình trạng thiếu khả năng thanh khoản”.
Như vậy, rủi ro thanh khoản là loại rủi ro phát sinh khi ngân hàng không
đủ khả năng đáp ứng dòng tiền rút ra khỏi ngân hàng tại một thời điểm nào đó, hoặc phải huy động vốn với chi phí cao để đáp ứng các nhu cầu về vốn khả dụng.
Trang 21Một TCTD gặp rủi ro thanh khoản khi nó bị lâm vào tình trạng thiếu vốn khảdụng, không có khả năng vay mượn để đáp ứng kịp tShời yêu cầu rút tiền gửi, yêucầu vay vốn, và các yêu cầu về tiền mặt khác Trong hoàn cảnh này, các TCTDhoặc buộc phải vay “nóng” với chi phí quá cao, hoặc phải bán các tài sản với giáthấp hơn để chi trả cho những yêu cầu tiền mặt cấp bách của nó và do đó làm tăngchi phí, giảm lợi nhuận.
1.1.3.2 Biểu hiện của rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản xuất hiện khi:
- NH thiếu ngân quỹ để đáp ứng nhu cầu chi trả tiền cho người gửi tiền vàthanh toán các khoản nợ ngắn hạn mà NH đã vay
- NH thiếu ngân quỹ để giải ngân cho các hợp đồng tín dụng đã thỏa thuận
- NH thiếu ngân quỹ để đáp ứng nhu cầu của các bên đối tác của NH dẫn đếntổn thất cho NH
Một số dấu hiệu cho thấy NH đang đối mặt với rủi ro thanh khoản:
- Lãi suất huy động vốn của các NH đã có những diễn biến bất thường: Lãisuất huy động vốn các kỳ hạn ngắn lại cao hơn lãi suất huy động các kỳ hạn dài, các
NH chỉ tập trung huy động vốn ngắn hạn Điều này phản ánh việc hệ thống NHđang thiếu hụt thanh khoản, mục đích huy động vốn của các NH lúc này chủ yếu lànhằm đảm bảo khả năng thanh khoản chứ không phải vì mục tiêu sinh lời
- Lãi suất vay trên thị trường liên ngân hàng tăng lên nhanh chóng: Nguyênnhân chính của hiện tượng này là do các NH đều đang có vấn đề về thanh khoản,trong điều kiện tình hình huy động vốn từ dân cư và doanh nghiệp không thuận lợibuộc các NH phải chấp nhận đi vay với lãi suất cao trên thị trường liên ngân hàng
để giải quyết nhu cầu thanh khoản trước mắt của các NH
- Thiếu khả năng đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng: Cho vay là mộttrong những hoạt động quan trọng nhất của NHTM vì hoạt động này tạo ra nhiều lợinhuận nhất và kéo theo các nghiệp vụ khác phát triển Do đó, khi NH không đápứng đầy đủ và kịp thời các cam kết tín dụng thì chứng tỏ NH đang thiếu nguồn cungthanh khoản
- Sự biến động giá cổ phiếu của NH: Khi giá cổ phiếu của NH có xu hướng
Trang 22lớn đến tâm lý của người gửi tiền Người dân có xu hướng rút tiền khỏi NH để gửitiền sang NH khác hoặc đầu từ vào những kênh có lợi nhuận cao hơn Trong khi đócác khoản vay đến hạn thanh toán không được thanh toán dẫn đến cầu thanh khoảnlớn hơn cung thanh khoản khiến cho NH rơi vào tình trạng rủi ro thanh khoản.Ngược lại, giá cổ phiếu tăng hoặc ổn định sẽ củng cố lòng tin của công chúng vàokhả năng thanh khoản của NH.
- Tình trạng khách hàng rút tiền hàng loạt, dẫn đến hiệu ứng lan tỏa dâychuyền làm cho các NH phải tập trung nguồn vốn để phục vụ cho nhu cầu rút tiềncủa khách hàng
- Lỗ từ việc bán tài sản: Khi NH bán tài sản một cách vội vã và sẵn sàng chịu
lỗ lớn chứng tỏ NH đang gặp phải một vấn đề nào đó trong vấn đề thanh khoản.Bán tài sản có nghĩa là NH sẽ phải chấp nhận mất đi những khoản thu nhập tạo ra từtài sản trong tương lai cũng như các chi phí giao dịch trả cho người môi giới liênquan đến việc bán tài sản
1.1.3.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản
Nguyên nhân gây nên rủi ro thanh khoản có nhiều và nó đến từ mọi phíatrong hoạt động kinh doanh ngân hàng: Từ chủ quan, khách quan, từ bản thân ngânhàng, từ khách hàng, cơ chế chính sách, từ các loại rủi ro khác đưa lại Tuy nhiên,trên góc độ nghiên cứu để tìm giải pháp hiệu quả đối với quản trị rủi ro thanhkhoản, khóa luận đưa ra những loại nguyên nhân chủ yếu sau:
Thứ nhất, sự mất ổn định yếu tố vĩ mô của nền kinh tế: hoạt động kinh doanh
của NHTM luôn gắn liền với những biến động của môi trường kinh doanh Các yếu
tố về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội luôn có tác động trực tiếp và gián tiếp tới cácquyết định và phương hướng kinh doanh của Ngân hàng thương mại Khi sự bất ổncủa nền kinh tế xảy ra có thể tạo ra khủng hoảng và gây ra rủi ro thanh khoản cho
hệ thống các Ngân hàng thương mại
Thứ hai, thay đổi trong điều hành chính sách tiền tệ của NHTW thông qua
các công cụ như quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở, lãi suấtsuất chiết khấu và tái chiết khấu các giấy tờ có giá
- Nghiệp vụ thị trường mở (OMO) là hoạt động của NHTW mua hoặc bán
cho NHTM trái phiếu chính phủ, trái phiếu kho bạc Nhà nước Khi muốn tăng cung
Trang 23tiền, NHTW mua trái phiếu từ các NHTM, số tiền mà NHTW trả cho NHTM làmtăng cung tiền cho nền kinh tế đồng thời cũng làm tăng cung thanh khoản choNHTM Ngược lại, khi muốn giảm cung tiền, NHTW bán trái phiếu cho cácNHTM, số tiền mà NHTW thu về làm giảm cung ứng tiền tệ của nền kinh tế đồngthời cũng làm giảm cung thanh khoản của NHTM.
- Quy định về tỷ lệ Dự trữ bắt buộc là biện pháp điều chỉnh mà NHTW bắtbuộc các NHTM phải duy trì một tỷ lệ dự trữ tiền gửi tối thiểu tại NHTW Nếu tỷ lệ
dự trữ bắt buộc cao thì sẽ làm cho nguồn cung thanh khoản của NHTM giảm vàngược lại
- Lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu là lãi suất NHTW sử dụng trong chiếtkhấu hoặc tái chiết khấu các giấy tờ có giá của NHTM Nếu lãi suất này thấp, tứcchi phí vay tiền từ NHTW rẻ, đây sẽ là nguồn vốn giá rẻ mà các NHTM có thể dễdàng huy động để đáp ứng cầu thanh khoản
Thứ ba, thay đổi trong việc lựa chọn kênh đầu tư của các nhà đầu tư: việc
lựa chọn hay thay đổi kênh đầu tư không chỉ phụ thuộc vào bối cảnh kinh tế màcòn phụ thuộc vào nguồn vốn, con người hay cơ sở của công cụ đầu tư thay thế
Ví dụ như khách hàng chuyển tiền gửi tiết kiệm bằng đồng nội tệ, ngoại tệ sangtích trữ vàng hoặc đầu tư vào chứng khoán để tìm kiếm lợi nhuận cao hơn.Việcthay đổi kênh đầu tư của các nhà đầu tư bên ngoài sẽ dẫn đến rủi ro thanh khoảncho ngân hàng, khi các nhà đầu tư không gửi tiền vào ngân hàng mà sử dụngkênh đầu tư khác
Thứ tư, do chu kỳ kinh doanh của khách hàng: Theo thời vụ ở những tháng
cuối năm các doanh nghiệp thường đẩy mạnh hoạt động kinh doanh, quyết toáncông nợ cho những doanh nghiệp khác, chi trả lương thưởng cho cán bộ nhân viên,thực hiện cam kết giải ngân cho các đối tác, giải quyết hàng tồn kho, nhập khẩuhàng hóa tạo nên nhu cầu tiền nhiều vào những tháng cuối năm làm tăng cầu vềthanh khoản cho NHTM Bên cạnh đó, sự thay đổi trong tâm lý khách hàng cũng làmột nguyên nhân gây rủi ro thanh khoản do sự bất ổn tâm lý sẽ nhanh chóng nhânrộng trong dân cư, khi đó nếu ngân hàng không có những biện pháp xử lý kịp thời
có thể gây ra những hậu quả khó lường
Trang 24Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, sự mất cân đối về kỳ hạn giữa tài sản nợ và tài sản có: do ngân
hàng huy động các khoản tiền gửi ngắn hạn để cho vay các khoản tín dụng dài hạn.Như vậy, kỳ hạn của tài sản có dài hơn tài sản nợ làm cho dòng tiền của tài sản cókhông cân xứng với dòng tiền cần để đáp ứng việc thanh toán khi đến hạn của tàisản nợ, gây khó khăn cho ngân hàng trong việc tìm nguồn bù đắp
Thứ hai, chiến lược quản trị rủi ro thanh khoản không phù hợp và kém hiệu
quả: Chiến lược quản trị rủi ro thanh khoản là yếu tố hết sức quan trọng, với chiếnlược phù hợp và hiệu quả giúp ngân hàng giảm thiểu được các rủi ro xảy ra mà vẫnđảm bảo khả năng sinh lời cần thiết Nhưng nếu chiến lược không phù hợp và kémhiệu quả sẽ không dự báo được các rủi ro về thanh khoản, do đó ngân hàng sẽkhông đưa ra được các biện pháp phòng ngừa và xử lý kịp thời khi phát sinh
Thứ ba, do năng lực quản trị yếu kém: ngân hàng không quản trị chặt chẽ
thanh khoản dẫn đến thiếu khả năng chi trả, ngân hàng cho vay hay đầu tư quá liềulĩnh cụ thể ngân hàng tập trung cấp tín dụng vào một số khách hàng lớn, cho vay tậptrung ở một số ngành hoặc trong tổng nguồn huy động có một khách hàng chiếm tỷtrọng nên khi khách hàng lớn gặp khó khăn không trả nợ vay hay khách hàng cầnrút vốn một cách bất ngờ sẽ dẫn đến rủi ro thanh khoản cho ngân hàng
1.1.3.4 Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản đến hoạt động kinh doanh của NHTM
Rủi ro thanh khoản xảy ra sẽ bắt buộc các ngân hàng phải cắt giảm nguồncung tín dụng cũng như tăng lãi suất huy động và/hoặc lãi suất vay vốn để đáp ứngnhu cầu nguồn vốn trong giai đoạn khó khăn Điều này sẽ làm sụt giảm mạnh lợinhuận cũng như uy tín của ngân hàng, sự tín nhiệm của khách hàng và có thể đánhmất thương hiệu của ngân hàng
Nghiêm trọng hơn, một ngân hàng kinh doanh bị lỗ liên tục hoặc thườngxuyên không đủ khả năng thanh khoản có thể dẫn đến một cuộc rút tiền quy mô lớn
và con đường phá sản là tất yếu và lúc này đây ngân hàng sẽ sụp đổ hoàn toàn Như
đã đề cập ở các phần trên, tâm lý khách hàng có hiệu ứng dây chuyền và hoạt độngcủa các ngân hàng cũng mang tính hệ thống Việc phá sản của một ngân hàng sẽ
Trang 25dẫn đến sự hoảng loạn của người gửi tiền, kéo theo sự rút tiền hàng loạt ở các ngânhàng khác và lúc này kéo theo sự sụp đổ của toàn hệ thống chứ không chỉ của mộtngân hàng riêng lẻ.
Rủi ro thanh khoản có thể dẫn đến sự sụp đổ của một ngân hàng, kéo theo sựsụp đổ của toàn hệ thống chứ không chỉ của một ngân hàng riêng lẻ Chính vì điềunày nên hầu như không một nước nào để cho một ngân hàng sụp đổ mà sẽ có biệnpháp hỗ trợ kịp thời, nhanh chóng nhằm tránh đổ vỡ hệ thống tài chính của quốc gia
Khi nguồn vốn của hệ thống ngân hàng khan hiếm, lãi suất cho vay sẽ tănglên, đẩy chi phí vốn đầu vào của các doanh nghiệp cũng tăng theo và việc tiếp cậnnguồn vốn khó khăn Do đó tăng trưởng của nền kinh tế chắc chắn sẽ bị giảm sút
Như vậy có thể nói rằng tác động của rủi ro thanh khoản đến một ngân hàng
là rất lớn và nó không chỉ nằm ở phạm vi cá thể mà có thể ảnh hưởng lan rộng đếntoàn hệ thống tài chính cũng như nền kinh tế của một quốc gia Vì vậy hoạt độngquản trị rủi ro thanh khoản hiện nay càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết
1.2 Quản trị rủi ro thanh khoản của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm quản trị rủi ro thanh khoản của NHTM
Bản chất hoạt động kinh doanh của các NHTM là dùng uy tín để thu hútnguồn vốn và dùng năng lực quản trị rủi ro để sử dụng nguồn vốn và phát triển dịch
vụ khác một cách hiệu quả Do đó, hoạt động kinh doanh của ngân hàng bao gồmrất nhiều rủi ro Các ngân hàng cần đánh giá cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan
hệ rủi ro - lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được những lợi ích xứng đáng vớimức rủi ro có thể chấp nhận đựợc Ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro màngân hàng gánh chịu là hợp lý và kiểm soát được chứ không thể chối bỏ rủi ro Quátrình đánh giá và và kiểm soát rủi ro đó được gọi là quản trị rủi ro
“Quản trị rủi ro của các NHTM có thể hiểu là quá trình tác động có tổ chức,
có hướng đích của các nhà quản trị ngân hàng lên các đối tượng quản trị và khách thể kinh doanh nhằm mục tiêu phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh từ đó nâng cao mức độ an toàn, khả năng sinh lời và đạt được các mục tiêu tăng trưởng ngắn hạn và dài hạn của các ngân hàng.” (Nguyễn Thị Quy, 2008)
Trang 26Quản trị rủi ro thanh khoản được coi là một lĩnh vực quan trọng trong quảntrị tài chính đối với tất cả các định chế tài chính Các định chế tài chính trong quátrình hoạt động đều có hình thức đi vay ngắn hạn và cho vay dài hạn, do vậy cầnphải có hình thức quản lý để đối phó với tình trạng thiếu thanh khoản tiềm tàng.
Như vậy, “Quản lý RRTK là quá trình nhận dạng, đo lường, kiểm soát và tài
trợ những nguy cơ rủi ro về việc NH không thể đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nhu cầu thanh khoản cho khách hàng.” (Nguyễn Thị Mùi, 2006, tr.326)
Việc xây dựng một hệ thống quản trị rủi ro có vai trò sống còn đối với hoạtđộng ngân hàng Hoạt động quản trị rủi ro giúp xác định và kiểm soát rủi ro ở mức
có thể chấp nhận được Chủ tịch tập đoàn tài chính Citigroup Walter Wriston đã nói
lên vai trò quan trọng của hoạt động quản trị rủi ro như sau “Toàn bộ cuộc sống
trong ngân hàng là quản trị rủi ro” Hoạt động quản trị rủi ro do đó là một bộ phận
cốt lõi trong toàn bộ các hoạt động ngân hàng Hiệu quả kinh doanh của NHTM tùythuộc vào năng lực quản trị rủi ro và là thước đo năng lực của một NHTM
1.2.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng quản trị rủi ro thanh khoản
Để đánh giá chất lượng quản trị RRTK của NHTM, trước tiên cần đánh giáxem NH đã hội tụ được các yếu tố cơ bản và chất lượng của các yếu tố đó như thếnào để thực hiện được quá trình quản trị RRTK, đồng thời đánh giá xem quá trìnhquản trị RRTK có đạt được những mục tiêu đặt ra hay không, đạt ở mức độ nào.Quản trị RRTK được coi là đạt chất lượng cao nếu hoàn thiện được các yếu tố cơbản của quá trình quản trị RRTK và các mục tiêu đặt ra đều được thực hiện mộtcách tốt nhất Cụ thể, có thể đánh giá quản trị RRTK qua hai nhóm chỉ tiêu là chỉtiêu định tính và chỉ tiêu định lượng
1.2.2.1 Các chỉ tiêu định tính
Nhóm các chỉ tiêu định tính phản ánh chất lượng quản trị RRTK là các chỉtiêu thuộc về các yếu tố cơ bản để thực hiện được quá trình quản trị RRTK tốt nhất.Theo thông lệ quốc tế về quản trị RRTK, cần đánh giá những yếu tố cơ bản sau:
- Chính sách quản trị RRTK có được xây dựng và truyền đạt, hướng dẫnthực hiện một cách có hiệu quả hay không Trong chính sách quản trị RRTK có baoquát được hết các khía cạnh, nội dung thuộc chức năng của quản trị RRTK haykhông
Trang 27- Quy trình quản trị RRTK có hiệu quả trong việc xác định, đo lường, kiểmsoát và giám sát hay không.
- Tổ chức bộ máy quản trị RRTK có được thiết lập và đảm bảo tính độc lập
và tập trung trong việc thực hiện quản trị RRTK hay không
- Hệ thống thông tin quản trị có tập trung và cung cấp được những thông tin
có giá trị, đầy đủ, chính xác và kịp thời cho phép công tác quản trị RRTK đạt mụctiêu tốt nhất hay không
- Thông tin kiểm toán nội bộ về quản trị RRTK có đầy đủ và có hiệu quảkhông Phạm vi và mức độ thường xuyên kiểm toán có phù hợp không
- Tín hiệu thị trường cũng là một trong những chỉ tiêu định tính mà nhà quảntrị cần xem xét đến Về hình thức, nhà quản trị RRTK cần chú ý tới một số các dấuhiệu sau đây: Lòng tin của công chúng, sự vận động trong giá cổ phiếu, phần bù rủi
ro trên chứng chỉ tiền gửi các khoản đi vay khác, tổn thất trong việc bán tài sản, khảnăng đáp ứng yêu cầu tín dụng của khách hàng, nhu cầu vay vốn từ NHTW…
Nếu một trong số các vấn đề đặt ra ở trên có dấu hiệu bất thường về nhu cầuhay biến động, nhà quản trị cần xem xét cẩn thận chính sách và thực tế quản trịthanh khoản của NH để quyết định xem NH cần phải thực hiện những thay đổi gì
1.2.2.2 Các chỉ tiêu định lượng
Một trong những mục tiêu quan trọng của quản trị RRTK là phải đảm bảoduy trì được khả năng thanh khoản của NH với chi phí thấp nhất Về mặt địnhlượng, để đánh giá chất lượng quản trị RRTK cần xem xét đến các khía cạnh sau:
- Phương pháp nào được sử dụng để đo lường trạng thái thanh khoản của
NH, NH có thiết lập các hạn mức thanh khoản hay không, và các chỉ tiêu về trạngthái thanh khoản có được kiểm soát nằm trong hạn mức đó không ?
- Cụ thể, các chỉ tiêu đánh giá chất lượng quản trị RRTK của NH bao gồm:Một số chỉ tiêu về đảm bảo an toàn hoạt động NH được quy định trongThông tư 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 quy định giới hạn, tỷ lệ bảo đảm antoàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài vàThông tư 06/2016/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư36/2014/TT-NHNN:
Trang 28 Tỷ lệ dự trữ thanh khoản (Tài sản có tính thanh khoản cao/Tổng nợ phải trả ≥
10%): Phản ánh mối quan hệ giữa các loại tài sản có tính thanh khoản cao có khả năng
chuyển nhanh thành tiền để thanh toán nợ và tổng nghĩa vụ nợ phải trả của Ngân hàng Tỷ
lệ này càng cao thì khả năng đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán ngắn hạn của Ngân hàngcàng cao
Chỉ số thanh toán 30 ngày với tiền VND (Tài sản có tính thanh khoản
cao/Dòng tiền ra ròng trong 30 ngày tiếp theo đối với đồng Việt Nam ≥50%): Tài sản có
tính thanh khoản cao có khả năng chuyển thành tiền ngay lập tức cho phép Ngân hàng đápứng nhu cầu thanh toán ngắn hạn đến 30 ngày đối với tiền VND
Chỉ số thanh toán 30 ngày với tiền USD (Tài sản có tính thanh khoản
cao/Dòng tiền ra ròng trong 30 ngày tiếp theo đối với USD và các ngoại tệ khác quy đổi
sang USD ≥10%): Tài sản có tính thanh khoản cao có khả năng chuyển thành tiền ngay
lập tức cho phép Ngân hàng đáp ứng nhu cầu thanh toán ngắn hạn đến 30 ngày đối với tiềnUSD và các ngoại tệ khác quy đổi sang USD
Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (≤80%): Cho phép Ngân hàng đánh
giá mức độ sử dụng vốn huy động vào hoạt động tín dụng Trạng thái thanh khoản củaNgân hàng giảm khi tỷ lệ này càng cao (đặc biệt là nếu cơ cấu cho vay chủ yếu là cáckhoản vay kỳ hạn dài)
Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (≤60%): Phản ánh mức độ
sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn của Ngân hàng Dưới góc độ thanh khoản, tỷ
lệ này càng cao, rủi ro thanh khoản của ngân hàng càng tăng
Bên cạnh đó, chỉ tiêu về khe hở thanh khoản và hạn mức khe hở thanh khoản
được sử dụng rộng rãi trong các NH Theo đó, các nhà quản trị RRTK còn có thể dự
đoán cung cầu thanh khoản, dự đoán chênh lệch cung cầu (khe hở, GAP) thanhkhoản, từ đó đưa ra chính sách quản trị rủi ro thanh khoản Thực chất phương phápnày cuối cùng xác định được các GAP năng động theo các dải thời hạn khác nhau
NH thường sắp xếp các luồng tiền vào và luồng tiền ra theo các thời hạn 1 ngày, 1tuần, 1 tháng, 3 tháng,…
GAP năng động = Tổng cung thanh khoản – Tổng cầu thanh khoản
= GAP tĩnh +/- Dự báo
GAP năng động này cần được kiểm soát trong một hạn mức nhất định
Trang 29Bảng 1.1: Thang đáo hạn dựa trên kỳ hạn hợp đồng
TRONG 1 NGÀY
Thặng dư/ (Thâm hụt)
Tài sản đến hạn 100 Các khoản nợ đến hạn
phải trả
50
Tiền thu từ bán tài sản 50 Các khoản nợ bị rút khác 30
Rút vốn từ các khoản
được cam kết
10 Rút vốn của khách hàng
theo hợp đồng tín dụng đãký
Tài sản đến hạn 100 Các khoản nợ đến hạn
phải trả
70
Tiền thu từ bán tài sản 55 Các khoản nợ bị rút khác 40
Rút vốn từ các khoản
được cam kết
10 Rút vốn của khách hàng
theo hợp đồng tín dụng đãký
50
1.2.3 Nội dung quản trị rủi ro thanh khoản NHTM
1.2.3.1 Tổ chức quản trị rủi ro thanh khoản
Để quản trị rủi ro trong hoạt động NH, các NH cần thiết lập cơ cấu tổ chức
để phân chia trách nhiệm quản trị với từng loại rủi ro Một trong những hệ thốngquản trị rủi ro được áp dụng thành công tại các NHTM hiện đại và được các chuyêngia quốc tế khuyến nghị áp dụng rộng rãi tại Việt Nam là mô hình 3 vòng bảo vệ,trong đó: Vòng bảo vệ thứ nhất là các bộ phận kinh doanh; Vòng bảo vệ thứ hai là
bộ phận quản lý rủi ro; Vòng bảo vệ thứ ba là bộ phận kiểm toán nội bộ
Điểm ưu việt của mô hình 3 lớp bảo vệ là tất cả các thành viên trong hệ thốngđều phải tham gia vào quá trình quản trị rủi ro Do vậy, mô hình này đảm bảo mọi rủi
ro trong mỗi tác vụ của NH được nhận diện, kiểm soát và giảm thiểu ở mức thấpnhất
Trang 30Quản lý rủi ro thanh khoản nằm trong thể thống nhất của hệ thống quản lýrủi ro và là một trong những hoạt động trọng tâm của quản trị tài sản – nợ (ALM)tại NHTM Một mô hình quản lý thanh khoản của các NHTM thường bao gồm:
Ủy ban quản lý rủi ro:
o Đảm bảo hoạt động của ngân hàng phù hợp với chiến lược thanh khoản
Trang 31khoản tại các đơn vị mình quản lý.
Bộ phận kiểm soát nội bộ hoạt động độc lập so với hệ thống quản lý rủi
ro, thực hiện kiểm tra và đánh giá tính hiệu quả của các chính sách, khung quản lýrủi ro; đảm bảo tính tuân thủ của quy trình quản lý rủi ro và chất lượng, nội dungcác phương pháp đo lường
1.2.3.2 Nhận diện rủi ro thanh khoản
Nhận biết rủi ro thanh khoản là một trong những khâu quan trọng trong quátrình quản trị rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại Để nhận biết rủi rothanh khoản, các nhà quản trị rủi ro trong ngân hàng phải chú ý những điểm sau:
Yếu tố đầu tiên để nhận biết rủi ro thanh khoản đó là tình hình biến động củanền kinh tế Đây là nhân tố dễ dàng có ảnh hưởng đến tính thanh khoản của NHTM.Nếu nền kinh tế phát triển ổn định và lành mạnh, các doanh nghiệp và tổ chức vaytiền của ngân hàng sẽ dễ dàng trả được nợ Do đó, ngân hàng sẽ quản lý tốt được tỷ
lệ nợ xấu của mình Thêm vào đó, nền kinh tế phát triển lành mạnh khiến cho ngườidân cũng trở nên tin tưởng hơn vào hệ thống ngân hàng và điều tất yếu là lượng tiềngửi vào ngân hàng sẽ tăng lên Ngược lại, khi nền kinh tế có các dấu hiệu bất ổn,suy thoái, lạm phát, ngay lập tức người dân sẽ rút bớt lượng tiền gửi của mình về đểđảm bảo an toàn Lượng nợ xấu, nợ khó đòi của ngân hàng cũng tăng lên… Vì vậy,các nhà quản trị rủi ro trong ngân hàng cần luôn theo dõi những biến động của nềnkinh tế không chỉ trong nước, trong khu vực mà phải trên toàn thế giới Một ví dụđiển hình về tác động của nền kinh tế đến tình hình thanh khoản trong thời gian qua
đó là cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ sau đó đã lan rộng ra toàn thế giới và các ngânhàng của Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng nặng nề và có nhiều lúc tính thanh khoảncủa một số ngân hàng ở nước ta đã bị đe dọa nghiêm trọng
Thứ hai, các nhà quản trị rủi ro trong ngân hàng cần liên tục theo dõi các
chính sách quyết định của NHNN Đây là một trong những yếu tố tác động mạnh
mẽ và trực tiếp nhất đến khả năng thanh khoản của ngân hàng Rất nhiều các quyếtđịnh chính sách của NHNN có thể ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản củaNHTM Ví dụ như khi NHNN yêu cầu tăng tỷ lệ dữ trữ bắt buộc, yêu cầu mua mộtlượng giấy tờ có giá hay sự thay đổi về quy định tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay
Trang 32trung dài hạn, hệ số rủi ro đối với các khoản phải đòi để kinh doanh bất động sảnđược sửa đổi trong thông thư 06 thời gian gần đây…Vì vậy, các nhà quản trị rủi rotrong ngân hàng cần phải dự đoán trước được tình hình thị trường, linh hoạt trướccác quyết định chính sách của NHNN, đồng thời phải có các biện pháp hợp lý đểđảm bảo khả năng thanh khoản của ngân hàng luôn được duy trì ở mức ổn định,không làm ảnh hưởng đến uy tín đồng thời cũng không lưu giữ quá nhiều các tài sản
có độ thanh khoản cao làm ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng
Thứ ba, khi ngân hàng phải đối mặt với những tin đồn xấu Điều này tất yếu sẽ
ảnh hưởng đến niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng Họ sẽ có xu hướng rúttiền ra khỏi ngân hàng để gửi sang ngân hàng khác Trong khi đó, các khoản cho vayhay đầu tư của ngân hàng chưa thu hồi đến cầu thanh khoản lớn hơn cung khiến chongân hàng gặp phải rủi ro thanh khoản Một ví dụ điển hình đó là vụ ngân hàngNorthern Rock của Anh hay ngân hàng Phương Nam, ngân hàng ACB ở nước tatrong thời gian qua Vì vậy, ngay khi xuất hiện những tin đồn như vậy, các nhà quảntrị ngân hàng cần có biện pháp xử lý kịp thời như thông cáo báo chí để trấn an tinhthần của khách hàng, yêu cầu sự giúp đỡ của NHNN và huy động nguồn vốn kịp thờinhư vốn vay liên ngân hàng hay vay các tổ chức tín dụng khác để đề phòng các kháchhàng rút tiền tránh nguy cơ thâm hụt thanh khoản rồi dẫn đến rủi ro thanh khoản
Thứ tư, các nhà quản trị rủi ro trong ngân hàng thường xuyên phải tính toán
lượng cung cầu thanh khoản trong ngân hàng bằng các phương pháp lượng hóa rủi
ro thanh khoản Bất cứ khi nào cầu thanh khoản vượt khỏi lượng cung thanh khoảntheo một tỷ lệ nhất định thì có nghĩa là ngân hàng đang phải đối mặt với thâm hụtthanh khoản Nếu hiện tượng này kéo dài thì có nghĩa là ngân hàng đang phải đốimặt với rủi ro thanh khoản Dễ dàng nhận thấy nhất đó là căn cứ vào tốc độ tăngtrưởng nguồn vốn và tốc độ tăng trưởng tín dụng Nếu dư nợ tín dụng của ngânhàng tăng quá nhanh so với nguồn vốn huy động được đó là dấu hiệu báo trướcngân hàng có khả năng phải đối mặt với rủi ro thanh khoản Khi đó, ngân hàng cũngcần có biện pháp để giảm thiểu khe hở thanh khoản bằng việc đi vay liên ngân hàng,hay thực hiện nghiệp vụ thị trường mở tại NHNN, có các chính sách để tăng cườngnguồn vốn huy động từ dân…
Trang 33Nếu như xuất hiện bất kỳ vấn đề nào trên đây thì nhà quản trị ngân hàng cầnphải xem xét cẩn thận các chính sách và thực tiễn hoạt động kinh doanh của ngânhàng để từ đó tìm ra nguyên nhân và phương pháp giải quyết nhằm cải thiện khảnăng thanh khoản của ngân hàng.
1.2.3.3 Đo lường rủi ro thanh khoản
Theo Peter Rose, tác giả cuốn Commercial Banking Management, trong
những năm gần đây, một số phương pháp đo lường RRTK đã được phát triển baogồm: Phương pháp tiếp cận cấu trúc nguồn vốn; Phương pháp tiếp cận nguồn vốn
và sử dụng vốn; Phương pháp chỉ số thanh khoản và một số phương pháp khác Mỗiphương pháp nêu trên đều được xây dựng dựa trên một số giả định là NH chỉ có thểước lượng gần đúng mức cầu thanh khoản thực tế tại một thời điểm nhất định Đóchính là lý do vì sao nhà quản lý thanh khoản phải luôn sẵn sàng điều chỉnh mức dựtính về yêu cầu thanh khoản mỗi khi NH nhận được thông tin mới
Với phương pháp này, bước đầu tiên là tiền gửi và các nguồn vốn khác nhaucủa ngân hàng được chia thành nhiều nhóm dựa trên khả năng vốn bị rút ra khỏingân hàng, ví dụ như:
(i) Nhóm vốn “nóng” là vốn vay và tiền gửi nhạy cảm với lãi suất được
dự tính sẽ bị rút khỏi ngân hàng trong kỳ kế hoạch
(ii) Nhóm vốn kém ổn định gồm các khoản tiền gửi của khách hàng trong
đó một phần đáng kể (25% - 30%) sẽ có thể bị rút ra khỏi ngân hàng tại một thờiđiểm nào đó trong kỳ kế hoạch
(iii) Nhóm vốn ổn định (hay còn gọi là tiền gửi cơ sở hay vốn cơ sở) làkhoản mục vốn được tin tưởng rằng ít có khả năng bị chuyển khỏi ngân hàng
Tiếp theo, nhà quản lý thanh khoản phải dành riêng một phần vốn thanhkhoản tùy theo những nguyên tắc quản lý đối với mỗi nhóm vốn nêu trên Dự trữthanh khoản này có thể bao gồm tiền gửi có thể sử dụng tức thời tại các ngân hàngkhác, đầu tư vào trái phiếu kho bạc và các hợp đồng mua lại,…Do vậy, dự trữ thanhkhoản đằng sau vốn tiền gửi và phi tiền gửi của ngân hàng được xác định:
Dự trữ thanh khoản vốn = ∑ tỷ lệ dự trữ thanh khoản xác định của nhóm x(nhóm vốn tiền gửi và phi tiền gửi – dự trữ bắt buộc)
Trang 34Nhu cầu vay tiền của khách hàng là một phần của nhu cầu về vốn thanhkhoản Nếu như ngân hàng không được phép từ chối nhu cầu xuất phát từ phíangười gửi tiền, thì nhu cầu vay tiền từ khách hàng lại có thể từ chối (đối với nhữngkhách hàng có nhu cầu vay mới) Tuy nhiên, công tác quản trị ngân hàng sẽ là yếunếu ngân hàng luôn phải từ chối khách hàng vay tiền có chất lượng cao vì lý dothanh khoản, bởi nó đồng nghĩa với việc ngân hàng đánh mất cơ hội đầu tư sinh lờicho ngân hàng Điều này gợi ý rằng, nhà quản trị ngân hàng phải cố gắng dự tínhcon số vốn vay tối đa tiềm năng và cần có lượng dự trữ thanh khoản hay năng lựcvay vốn hợp lý, tương đương với 100% phần chênh lệch giữa tổng dư nợ thực tế vàtổng cho vay tối đa tiềm năng Do đó:
Tổng yêu cầu thanh khoản của ngân hàng = ∑ tỷ lệ dự trữ thanh khoản xácđịnh của nhóm x (nhóm vốn tiền gửi và phi tiền gửi – dự trữ bắt buộc) + 100 x (quy
mô cho vay tối đa tiềm năng – tổng dư nợ hiện tại)
Đi sâu vào phương pháp này, bộ phận quản trị thanh khoản sẽ cố gắng làm rõtrạng thái thanh khoản tốt nhất và xấu nhất tiềm năng mà ngân hàng có thể gặp phải
và phân bổ xác suất cho tất cả các trường hợp có thể
Cách đo lường này bắt đầu với thực tế là: Khả năng thanh khoản tăng khitiền gửi tăng và cho vay giảm; và khả năng thanh khoản giảm khi tiền gửi giảm vàcho vay tăng Bất cứ khi nào nguồn thanh khoản và sử dụng thanh khoản khôngbằng nhau, ngân hàng phải đối mặt với khe hở tài trợ (financing gap) Khe hở nàyđược đo bằng độ chênh lệch giữa tổng nguồn vốn huy động trung bình và tổng dư
đó khe hở tài trợ còn được tính theo công thức:
“Khe hở tài trợ = Tài sản thanh khoản + Nhu cầu tài trợ”
Sau đây là một ví dụ về khe hở tài trợ của Ngân hàng A:
Trang 35Tài sản (triệu USD) Nợ (triệu USD)
Khe hở tài trợ của Ngân hàng A bằng 5, nó được bù đắp bằng việc vay nợtrên thị trường tiền tệ
Yêu cầu thanh khoản còn có thể được ước tính dựa trên kinh nghiệm và mứctrung bình ngành Điều này có nghĩa yêu cầu thanh khoản được ước tính dựa trênchỉ số thanh khoản và các chỉ báo khác của trạng thái thanh khoản, cụ thể như sau:(i) Chỉ số thanh khoản: đo lường tổn thất mà một ngân hàng gánh chịu khiphải bán tháo (bán ngay lập tức) tài sản để đáp ứng nhu cầu thanh khoản so với mứcgiá của tài sản đó trên thị trường (ở điều kiện bình thường) Tuy nhiên để bán đượctài sản với mức giá chấp nhận được ngân hàng sẽ cần mất nhiều thời gian hơn trongkhi ngân hàng lại có nhu cầu bán gấp Do đó luôn luôn tồn tại sự chênh lệch giữa 2mức giá này (mức giá bán tháo Pi và mức giá thị trường P*
Trong đó: wi: tỷ trọng của tài sản thứ i trong danh mục tài sản
Pi: Giá bán tháo tài sản của tài sản thứ i
+ Chỉ số thanh toán 30 ngày với tiền VND và ngoại tệ;
+ Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung hạn, dài hạn;
+ Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
Bên cạnh đó, các NH còn sử dụng một số chỉ số khác nhằm đo lường phục
vụ mục tiêu quản lý thanh khoản:
Trang 36 Tỷ lệ khả năng chi trả (Tổng TSC có thể thanh toán ngay/Tổng TSN sẽ
đến hạn thanh toán ngay): Chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh khoản của ngân hàng
trong tương lai, phản ánh trạng thái thanh khoản ngắn hạn của ngân hàng bằng việcdùng các TSC có thể thanh toán ngay để đáp ứng các nghĩa vụ trả nợ đến hạn thanhtoán Nếu chỉ số khả năng thanh toán càng cao thì ngân hàng được xem là có khảnăng thanh khoản ngắn hạn càng cao và ngược lại Theo chuẩn mực quốc tế, cácngân hàng nên duy trì chỉ tiêu này tối thiểu ở mức 25%
Chỉ tiêu chứng khoán thanh khoản (Chứng khoán Chính phủ/Tổng
TSC): Các chứng khoán thanh khoản bao gồm trái phiếu và tín phiếu kho bạc (gọi
chung là chứng khoán chính phủ), là những chứng khoán có độ thanh khoản caonhất Chỉ tiêu này càng cao tình trạng thanh khoản càng tốt
Chỉ số trạng thái tiền mặt (Tiền mặt + Tiền gửi tại các TCTD
khác/Tổng TSC): Chỉ tiêu này thể hiện khả năng thanh toán nhanh của ngân hàng tại
thời điểm báo cáo Về lý thuyết, nếu chỉ số trạng thái tiền mặt càng lớn thì ngânhàng càng có khả năng thanh khoản tức thời để xử lý các nhu cầu tiền mặt tức thời.Tuy nhiên, các chỉ tiêu này quá cao thì lại làm giảm lợi nhuận của ngân hàng bởi vìđây là các tài sản không sinh lời hoặc hầu như không sinh lời cho ngân hàng
Phương pháp “thang đáo hạn” được sử dụng để đo lường và theo dõi thanhkhoản NH Thực chất phương pháp này dựa vào việc so sánh các luồng tiền ra vàvào trong mỗi ngày hoặc trong một thời kì nhất định để xác định được trạng tháithanh khoản ròng (nhu cầu tài trợ ròng) mỗi ngày hoặc trạng thái thanh khoản tíchlũy cho một thời kì Để thực hiện đo lường theo phương pháp này, NH cần sắpxếp các luồng tiền vào theo thứ tự vào thời gian đến hạn của các TSC và các luồngtiền ra theo thứ tự đến hạn của các TSN Từ đó có thể tính toán được mức chênhlệch luồng tiền vào và luồng tiền ra của NH trong mỗi thời kì, mức chênh lệch nàyphản ánh nhu cầu thanh khoản của NH tại thời kì đó
Các NH thường sắp xếp các luồng tiền vào và luồng tiền ra theo các thangđáo hạn là 1 ngày, 1 tuần, 1 tháng, 3 tháng… Luồng tiền vào bao gồm các TSC đếnhạn; bán các TSC chưa đến hạn; nhận các khoản tiền gửi mới; đi vay mới và cáckhoản thu khác (như lãi cho vay, phí dịch vụ…) Luồng tiền ra thường bao gồm:
Trang 37TSN đến hạn; giải ngân các hợp đồng tín dụng và các cam kết ngoại bảng; chi trảtiền lãi, tiền lương và chi nghiệp vụ; ngoài ra còn có các luồng tiền ra khác (không
dự tính được)
Ngoài ra, phương pháp này còn có thể sử dụng để dự báo trạng thái thanhkhoản cho các kịch bản kinh tế khác nhau như điều kiện bình thường, điều kiện NHgặp khó khăn và điều kiện cả nền kinh tế gặp khó khăn (các NH khác trong nềnkinh tế đều gặp khó khăn trong huy động vốn và chất lượng tín dụng toàn hệ thốnggiảm sút)
Kết hợp phương pháp này với phân tích, dự báo tình hình kinh tế tổng thểgiúp NH xây dựng những biện pháp đối phó kịp thời cho từng tình huống Như vậy
có thể thấy rằng quản lý thanh khoản ở đây là quản lý trong sự phân tích trạng thái
động chứ không phải theo trạng thái tĩnh mà chúng ta vẫn thường làm khi tính toán
các chỉ tiêu đảm bảo khả năng thanh khoản
1.2.3.4 Kiểm soát rủi ro thanh khoản
Kiểm soát rủi ro là trọng tâm của quản trị rủi ro Đó chính là việc sử dụngcác biện pháp, ký thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động để ngănngừa, phòng tránh hoặc giảm thiểu các tổn thất, những ảnh hưởng không mongmuốn có thể xảy ra đối với ngân hàng Qua nhiều năm, các nhà quản lý ngân hàng
đã phát triển một số chiến lược nhằm giải quyết vấn đề thanh khoản của ngân hàng:quản trị rủi ro thanh khoản tài sản, quản trị rủi ro thanh khoản nợ và quản trị rủi rothanh khoản kết hợp
Đây là phương pháp quản trị thanh khoản truyền thống và cổ điển nhất.Trong chiến lược này, “ngân hàng nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao, chủyếu là tiền mặt và các chứng khoán dễ bán Khi nhu cầu thanh khoản xuất hiện,ngân hàng sẽ sử dụng phần dự trữ tiền mặt vượt quá và tiến hành bán một số tài sảncho tới khi toàn bộ nhu cầu được đáp ứng Trên thực tế, để đảm bảo hiệu quả trongviệc sử dụng vốn và tối đa hóa lợi nhuận, các ngân hàng sẽ không để lượng dự trữtiền mặt vượt quá quá nhiều, thay vào đó họ nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản
Trang 38cao Vì thế chiến lược này còn được gọi là chiến lược chuyển đổi tài sản bởi vì vốnthanh khoản được tạo ra chủ yếu từ việc chuyển tài sản phi tiền mặt thành tiền mặt.
Để quản trị rủi ro thanh khoản theo chiến lược này, ngân hàng có thể lựachọn những tài sản:
(i) Các khoản dự trữ ngân quỹ, bao gồm:
Dự trữ bắt buộc
Dự trữ thanh toán (dự trữ sơ cấp)
Các ngân hàng luôn phải cân nhắc để làm sao đạt được lượng dự trữ tiềnmặt/tiền gửi tối ưu (vừa đảm bảo được nhu cầu thanh khoản, các quy định củaNHNN về dự trữ bắt buộc và vừa tối đa hóa hiệu quả sử dụng nguồn vốn) Vớinhững ngân hàng có quy mô nhỏ, lượng dự trữ bắt buộc có thể không đủ đáp ứngnhu cầu thanh khoản và buộc họ phải để thêm phần dự trữ vượt quá Tuy nhiên đốivới những ngân hàng lâu đời, có quy mô lớn thì khối lượng tiền gửi tại NHNN đểđảm bảo đủ dự trữ bắt buộc theo quy định tương đối cao, nhiều khi còn vượt lêntrên nhu cầu thanh khoản hàng ngày của họ Điều này dẫn đến sự lãng phí trongviệc sử dụng vốn Vì vậy các ngân hàng này có thể tính toán lượng tiền mặt/tiền gửitối ưu và an toàn từ đó tính toán chi phí - lợi ích giữa việc không đảm bảo dự trữ bắtbuộc theo đúng quy định và chỉ đảm bảo phần dự trữ tối ưu trên để đưa ra phương
án hiệu quả và phù hợp cuối cùng
(ii) Dự trữ ngoài ngân quỹ (dự trữ thứ cấp): các khoản dự trữ này chủ yếutập trung vào việc đầu tư chứng khoán có tính lỏng cao, dễ chuyển đổi thành tiền đểđáp ứng nhu cầu thanh khoản khi cần thiết như: tín phiếu kho bạc, trái phiếu chínhphủ, thương phiếu chấp nhận thanh toán, giấy nợ ngắn hạn,…
Phương pháp này có ưu điểm là các yêu cầu thanh khoản được giải quyếtnhanh chóng, kịp thời và ngân hàng chủ động hơn trong việc đối phó với các áp lực
về thanh khoản Tuy nhiên, chuyển đổi tài sản không phải là một phương pháp quản
lý thanh khoản có chi phí thấp Thứ nhất, bán tài sản có nghĩa là ngân hàng sẽ mất
đi những khoản thu nhập tạo ra từ tài sản trong tương lai Đồng thời, việc bán tàisản đều liên quan tới chi phí giao dịch, hoặc chúng có thể được bán trên những thịtrường đang đi xuống với giá thấp gây tổn thất về vốn cho ngân hàng Bên cạnh đó,việc bán tài sản để tăng cường thanh khoản cho ngân hàng sẽ làm cho hình ảnh của
Trang 39ngân hàng thể hiện qua bảng cân đối kế toán yếu đi (giảm phần tài sản) Ngoài ra,với việc đầu tư vào các tài sản thanh khoản, ngân hàng sẽ phải bỏ qua tỷ lệ thu nhậpcao mà nó mong muốn đạt được từ những tài sản khác có rủi ro cao hơn nhưngmang lại lợi tức lớn hơn (chi phí cơ hội).
Trong phương pháp này, đại bộ phận các thiếu hụt thanh khoản của ngânhàng được đáp ứng bằng cách đi vay mượn dưới các hình thức Do đó, chiến lượcnày còn được gọi là chiến lược “vay thanh khoản” Một số hình thức được sử dụngtrong chiến lược này là:
(i) Tạo thanh khoản từ việc đi vay: các khoản vay từ các TCTD khác trên thịtrường liên ngân hàng và/hoặc vay từ cửa sổ chiết khấu của NHNN
(ii) Tạo thanh khoản qua tiền gửi: đó là việc ngân hàng nhận tiền gửi của các
cá nhân và tổ chức kinh tế dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn vàcác loại tiền gửi khác
Ngân hàng có thể quản lý thanh khoản tương đối hiệu quả thông qua việc tạo
ra các gói sản phẩm huy động tiền gửi linh hoạt với các điều khoản có lợi cho ngânhàng và cả khách hàng Ví dụ như chứng chỉ tiền gửi có lãi suất thả nổi và khôngđược quyền rút trước hạn, sản phẩm tiền gửi có quyền được rút vốn trước hạnnhưng khách hàng sẽ phải chịu mức lãi suất thấp hơn… Với công cụ huy động vốn
đa dạng, linh hoạt, ưu đãi về lãi suất cho khách hàng đi kèm với các điều khoảnràng buộc liên quan, ngân hàng có thể giảm bớt một phần lợi nhuận thu được tuynhiên lại hạn chế khả năng rút tiền từ phía khách hàng
(iii)Tạo thanh khoản qua thị trường tiền tệ/thị trường vốn: các ngân hàngphát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi để huy động vốn của các tổ chức,
cá nhân trong nước và ngoài nước
Chiến lược quản lý thanh khoản nợ là một phương pháp quản trị thanh khoảnnăng động, các trường hợp thiếu hụt thanh khoản được giải quyết khá linh hoạt, chủyếu thông qua các hình thức vay mượn trên thị trường tiền tệ; đồng thời giảm tớimức thấp nhất tài sản Có dự trữ và do đó tránh được tình trạng ứ đọng vốn, tậptrung vốn để đầu tư vào các khoản mục sinh lời, tạo điều kiện để tăng thu nhập chongân hàng Ngoài ra, quản lý thanh khoản nợ có khả năng tự điều chỉnh chi phí -mức lãi suất đưa ra để vay vốn Nếu ngân hàng đi vay cần thêm vốn, nó chỉ cần
Trang 40nâng lãi suất cho tới khi nhận được đủ vốn, ngân hàng cũng có thể giảm lãi suất đểhạn chế dòng vốn đổ vào.
Quản trị tài sản Nợ không làm thay đổi quy mô bảng cân đối tài sản và kếtcấu tài sản Có, nhưng làm thay đổi kết cấu tài sản Nợ Mọi điều chỉnh của ngânhàng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản chỉ diễn ra bên tài sản Nợ Qua đó cho thấy,nếu ngân hàng quản trị tài sản Nợ một cách hiệu quả, thì chiến lược kinh doanh bêntài sản Có sẽ không bị ảnh hưởng bởi những sự rút tiền gửi quá mức thông thường
Do vậy, sử dụng chiến lược quản trị tài sản Nợ ngày nay được phát triển nhanh vànhiều đối với các ngân hàng
Tuy nhiên, vay thanh khoản là cách tiếp cận rủi ro trong việc giải quyết vấn
đề thanh khoản của ngân hàng bởi vì lãi suất và quy mô tín dụng sẵn có trên thịtrường tiền tệ có thể thay đổi nhanh chóng Thông thường ngân hàng phải muathanh khoản trong những trường hợp khó khăn - cả về giá cả và tính sẵn có Chi phívay vốn của ngân hàng do đó thường khó xác định chắc chắn, làm giảm tính ổn địnhtrong thu nhập Hơn nữa, do phụ thuộc quá lớn vào thị trường tiền tệ nên ngân hàngthường rơi vào trạng thái bị động
Do những rủi ro cố hữu của việc dựa quá nhiều vào vay thanh khoản và mứcchi phí đáng kể của việc dự trữ thanh khoản, một phương pháp đang được rất nhiềungân hàng hiện đại thực hiện là phối hợp cả quản lý thanh khoản tài sản và quản lýthanh khoản nợ
Theo chiến lược quản lý thanh khoản phối hợp, một phần nhu cầu thanhkhoản dự tính sẽ được đáp ứng bằng việc dự trữ tài sản thanh khoản trong khi phầncòn lại của nhu cầu thanh khoản sẽ được giải quyết bằng việc vay thanh khoản
Các nhu cầu thanh khoản của NHTM được chia thành 3 bộ phận: nhu cầuthanh khoản thường xuyên, nhu cầu thanh khoản thời vụ và nhu cầu thanh khoảnđột xuất
(i) Các nhu cầu thanh khoản thường xuyên phát sinh khá thường xuyên, đềuđặn hàng ngày, tương đối ổn định nên ngân hàng có thể dự đoán và kế hoạch hóađược, các nhu cầu này được đáp ứng bằng các tài sản Có dự trữ dưới dạng tiền mặt,tiền gửi, các giấy tờ có giá có tính thanh khoản cao
(ii) Các nhu cầu thanh khoản thời vụ tuy không phát sinh thường xuyên nhưngNHTM có thể dự đoán và kế hoạch hóa được, do đó NHTM thường chủ động kí các