TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂNLuận văn Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài hướng tới phát triển bền vững tạicác KCN của đồng bằng sông Hồng đã đạt được những kết quả nghiên cứu sau
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
SOMBOUN PHILAVONG
Trang 2HÀ NỘI - 2017
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Mã số: 60310106
Học viên: SOMBOUN PHILAVONG Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN THỊ NGỌC
QUYÊN
Trang 4HÀ NỘI - 2017
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng bài viết này là công trình nghiên cứucủa bản thân tôi và chưa từng được công bố trên bất kì phươngtiện truyền thông nào Đây là chuyên đề do tôi đọc tài liệu, tựnghiên cứu và viết và trích dẫn đều rõ ràng Tôi xin hoàn toàn chịutrách nhiệm về công trình nghiên cứu này
Học viên
Somboun Philavong
Trang 6MỤC LỤC
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
BVMT Bảo vệ môi trường
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
BT Build - Tranfer Hợp đồng xây dựng - chuyển giaoBTO Build - Tranfer - Operate Hợp đồng xây dựng - chuyển giao
- kinh doanhBOT Build - Operate - Tranfer Hợp đồng xây dựng - kinh doanh
- chuyển giaoFDI Foreign Direct Invest ment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
R&D Research & Development Nghiên cứu và triển khai
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Trang 10TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Luận văn Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài hướng tới phát triển bền vững tạicác KCN của đồng bằng sông Hồng đã đạt được những kết quả nghiên cứu sau đây:
Thứ nhất, Luận văn đã hệ thống hóa lại lý thuyết về phát triển bền vững, theo
đó phát triển bền vững vùng kinh tế phải được thể hiện ở việc phối hợp được cả 3mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường Đồng thời khẳng định vai trò quan trọng củaviệc phát triển bền vững trong phát triển kinh tế vùng
Thứ hai, Luận văn cũng hệ thống hóa lý luận chung về FDI, khẳng định rằngvai trò của FDI là rất quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế Qua đó,luận văn đã xây dựng khung lý thuyết cho việc phân tích tác động của FDI tới cáckhu công nghiệp theo hướng phát triển bền vững, và chỉ ra những yếu tố ảnh hưởngđến thu hút FDI vào các khu công nghiệp theo hướng phát triển bền vững
Thứ ba, Luận văn đã tham khảo thực tiễn thu hút FDI vào các khu côngnghiệp theo hướng phát triển bền vững tại một số nước tiêu biểu là Thái Lan, ĐàiLoan, Hàn Quốc - những quốc gia cùng trong khu vực châu Á và là những quốc giađiển hình để Việt Nam học hỏi kinh nghiệm
Thứ tư, Luận văn phân tích và đánh giá thực trạng thu hút FDI vào các khucông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng tại Việt Nam - khu vực đóng vai trò đầutàu kinh tế của khu vực miền Bắc, theo hướng phát triển bền vững, thông qua nhữngnhân tố thu hút FDI vào các khu công nghiệp bao gồm: yếu tố công nghệ, yếu tố về
cơ cấu ngành nghề, yếu tố về xã hội - môi trường
Thứ năm, Luận văn đã nêu ra một số điểm còn tồn tại và chỉ rõ nguyên nhântrong quá trình thu hút FDI vào các khu công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồngtheo hướng phát triển bền vững
Thứ sáu, Luận văn dưa ra các quan điểm, định hướng và chiến lược trongviệc thu hút FDI vào các khu công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng theo hướngphát triển bền vững
Trang 11Thứ bảy, trên cơ sở đó, Luận văn đề ra các giải pháp để thu hút FDI theohướng phát triển bền vững cho các khu công nghiệp tại đồng bằng sông Hồng giaiđoạn tới, bao gồm các giải pháp về hoạt động quản lý nhà nước, nhóm giải pháp về cơ
sở hạ tầng - công nghiệp phụ trợ - chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hoạt động đào tạo nângcao chất lượng nguồn nhân lực và các giải pháp về tiêu chuẩn kiểm soát nội bộ
Trang 12LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình phát triển mỗi địa phương, mỗi khu vực, khôngchỉ cần đạt được mức tăng trưởng cao mà sự tăng trưởng đó cầnlan tỏa tới các vấn đề xã hội và cuối cùng đều đảm bảo vì conngười Đó mới chính là phát triển đúng nghĩa và bền vững Để tạonguồn lực mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, thuhút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đang và sẽ đượcquan tâm rất lớn trong hiện tại cũng như tương lai Cùng với quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vai trò của vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài ngày càng trở nên quan trọng Với mục tiêu trởthành nước công nghiệp vào năm 2020 của Việt Nam thì vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài càng ngày càng đóng góp nhiều cho nềnkinh tế Việt Nam.Trong quá trình phát triển kinh tế đất nước và hộinhập với thế giới, Việt Nam đang mạnh mẽ triển khai công nghiệphóa - hiện đại hóa đất nước trên khắp tất cả các địa phương Hòatheo xu thế này, các tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng đãnhanh chóng đi đầu trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài triển khai trong các khu công nghiệp, khu chế xuất
Sau hơn 20 năm hình thành và phát triển, nguồn vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài đầu tư vào các khu công nghiệp đã đem lạinhững thành tựu to lớn cho vùng, làm tăng giá trị sản xuất côngnghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ của các địaphương Bên cạnh đó, thành công trong việc thu hút vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài vào các khu công nghiệp đã giúp cơ sở hạtầng của vùng đồng bằng sông Hồng được hoàn thiện, tình hìnhkinh tế xã hội cải thiện rõ rệt, mức thu nhập của người dân đượctăng lên nhanh chòng
Nhận thấy vai trò to lớn của việc thu hút vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài vào các khu công nghiệp trong quá trình phát triển
kinh tế của các tỉnh phía Bắc, em quyết định lựa chọn đề tài: “Thu
Trang 13hút đầu tư trực tiếp nước ngoài hướng tới phát triển bền vững tại các KCN của đồng bằng sông Hồng” làm đề tài
nghiên cứu của luận văn thạc sỹ.
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
KCN là một đề tài đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoàinước quan tâm nghiên cứu Ngay từ những năm đầu thập kỷ 90của thế kỷ 20, trước xu thế coi việc xây dựng các KCN và KCX nhưmột giải pháp quan trọng thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở cácnước đang phát triển, một số hội nghị, hội thảo, các công trìnhnghiên cứu về KCN đã được phổ biến
Về nhóm các nghiên cứu về phát triển Khu công nghiệp:
Luận án Tiến sĩ Kinh tế "Các giải pháp hoàn thiện và phát triển
KCN ở Việt Nam" của Trần Ngọc Hưng [2004], đã đề xuất một số
giải pháp về cơ chế, chính sách nhằm phát triển hơn nữa các KCN
ở Việt Nam
Luận án Tiến sĩ Kinh tế "Hoàn thiện công tác xúc tiến đầu tư
nhằm phát triển các KCN ở Việt Nam" của Nguyễn Thị Thu Hương
[2004], đã đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xúctiến đầu tư để thu hút và lấp đầy các KCN của Việt Nam
Xuất phát từ vai trò quan trọng của FDI đối với phát triển kinh
tế - xã hội, ở Việt Nam kể từ năm 1987, khi luật Đầu tư nước ngoài
có hiệu lực, đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về họcthuật và tổng kết thực tiễn về đóng góp của FDI vào phát triển bềnvững về kinh tế
Nhóm những nghiên cứu về thu hút FDI vào các khu công
nghiệp:
Lê Xuân Bá (2006), trong nghiên cứu “ Tác động của đầu tư
trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” đã kết hợp
cả ba phương pháp nghiên cứu là phân tích định tính qua số liệuthống kê; điều tra bằng bảng hỏi và phân tích định lượng nhằm
Trang 14đánh giá tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam thôngqua hai kênh quan trọng là vốn đầu tư và tác động tràn
Nhóm tác giả Nguyễn Thị Tuệ Anh, Vũ Xuân Nguyệt Hồng, Trần
Toàn Thắng, Nguyễn Mạnh Hải (2006),‘‘Tác động của đầu tư trực
tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam’’, Dự án
CIEM-SIDA Nâng cao năng lực nghiên cứu chính sách để thực hiện chiếnlược phát triển KT-XH của Việt Nam thời kỳ 2001-2010, Hà Nội
Tác giả Vũ Văn Hưởng ( 2007) trong nghiên cứu “ Tác động của
FDI đến tăng trưởng kinh tế: Nhìn từ mô hình kinh tế lượng” đã sử
dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá tác động của FDI đến GDPbình quân đầu người và tác động của FDI đến xuất khẩu Côngtrình đã đưa ra kết luận rằng, tỷ lệ vốn FDI trên tổng số vốn đầu
tư toàn xã hội có tác động tích cực đến GDP trên đầu người và vốnFDI cũng tác động tích cực đến hoạt động xuất khẩu ở Việt Nam
Tác giả Trần Thị Tuyết Lan (2014) trong luận án tiến sĩ “Đầu tư
trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững ở vùng kinh
tế trọng điểm Bắc Bộ”, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
Đây là nghiên cứu mới nhất về mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếpnước ngoài với phát triển bền vững Trong luận án tác giả đã nêu
ra quan điểm về đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triểnbền vững ở vùng kinh tế trọng điểm là hoạt động đầu tư của tổchức, cá nhân nước ngoài vào vùng kinh tế trọng điểm của nướckhác, đáp ứng yêu cầu của quy hoạch, định hướng phát triển vùngđó; có tác động tích cực đến sự phát triển của vùng nhằm đảm bảokết hợp hài hòa, hợp lý giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội vàbảo vệ môi trường không chỉ đối với vùng kinh tế trọng điểm, màcòn tác động lan tỏa đến các vùng khác cả trong hiện tại và tươnglai.Đóng góp của FDI vào phát triển bền vững về xã hội là nội dung
đã được rất nhiều học giả quan tâm nghiên cứu Tiêu biểu chonhững nghiên cứu này bao gồm:
Trang 15Tác giả Trần Thanh Bình (2007), trong nghiên cứu “Nghiên cứu
tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến mục tiêu phát triển bền vững về xã hội ở Việt Nam” đã làm rõ mối quan hệ giữa
vốn FDI đối với PTBV về xã hội ở Việt Nam, một khía cạnh nghiêncứu mà theo tác giả là chưa có nhiều Trong đề tài, nghiên cứu vềtác động của vốn FDI đến mục tiêu PTBV xã hội ở Việt Nam đượctác giả tập trung nghiên cứu và đánh giá một số tác động chủ yếu,
có ý nghĩa quan trọng đối với mục tiêu phát triển bền vững xã hộicủa Việt Nam, như tạo công ăn việc làm, giảm đói nghèo, vấn đềchênh lệch mức sống, bất bình đẳng xã hội và một số xung đột lợiích có thể xảy ra từ nguồn vốn này Theo tác giả, tác động của khuvực FDI đối với các mục tiêu xã hội là mang tính hai mặt (bao gồm
cả mặt tích cực và tiêu cực) Một mặt, FDI có xu hướng thúc đẩytăng năng suất, dẫn đến tăng việc làm, tăng thu nhập cho mộtnhóm người này, nhưng mặt khác, nó lại dẫn đến thất nghiệp chomột nhóm người khác Hay FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vàgiảm nghèo, tuy nhiên, nhóm dễ tổn thương lại có nguy cơ rơi vàotình trạng nghèo hoặc bị tái nghèo do ít có cơ hội hưởng lợi hoặcgián tiếp chịu thiệt hại
Tác giả Tạ Đình Thi (2007) với luận án tiến sĩ “Chuyển dịch cơ
cấu kinh tế trên quan điểm phát triển bền vững của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ - Việt Nam” của trường Đại học Kinh tế quốc
dân, Hà Nội đã làm rõ những vấn đề chủ yếu về lý luận và thựctiến liên quan đến cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, pháttriển bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên quan điểm pháttriển bền vững; xây dựng được các nhóm chỉ tiêu đánh giá sự bềnvững của chuyển dịch cơ cấu kinh tế về kinh tế, xã hội, môi trường.Tác giả cũng đã xây dựng quan điểm, đề xuất được định hướng vàcác giải pháp chủ yếu bảo đảm chuyển dịch cơ cấu kinh tế trênquan điểm phát triển bền vững của vùng
Trang 16Nghiên cứu (2011) “Đánh giá chính sách khuyến khích đầu tư
trực tiếp nước ngoài trên quan điểm phát triển bền vững ở Việt Nam” được thực hiện trong khuôn khổ dự án Hỗ trợ xây dựng và
thực hiện Chương trình Nghị sự thế kỷ 21 của Việt Nam VIE/01/021
do UNDP tài trợ cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Vụ Khoa học Giáodục Tài nguyên Môi trường điều hành Đây là một công trìnhnghiên cứu có tính hệ thống và khá toàn diện Nghiên cứu đãphân tích tác động, ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoàitrên quan điểm phát triển bền vững được phân tích một cách toàndiện, chi tiết trên cả ba khía cạnh: kinh tế - xã hội - môi trường vàđược phân tích trên hai góc độ: ảnh hưởng trực tiếp của chínhsách đầu tư trực tiếp nước ngoài tới PTBV ở Việt Nam và ảnh hưởnggián tiếp qua khả năng bền vững của bản thân nguồn vốn FDI Quaphần phân tích tác động, công trình nghiên cứu cũng kết luận rằngFDI ở Việt Nam có tác động tích cực và tiêu cực về cả kinh tế, xãhội và môi trường trong mục tiêu PTBV Trong quá trình hoạt độngcủa các dự án có thể nảy sinh những xung đột về xã hội và môitrường Tuy nhiên, các vấn đề về xã hội và môi trường không phải
là cái giá phải trả để thu hút FDI Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tácđộng tích cực của FDI đến vấn đề kinh tế và xã hội là chủ yếu Cáctác động tiêu cực về môi trường là do chưa được các cơ quan quản
lý nhà nước và nhà đầu tư quan tâm một cách đúng mức, lợi íchngắn hạn còn được coi trọng hơn lợi ích dài hạn Ngoài ra, đa số cáctác động tiêu cực về xã hội và môi trường không chỉ là do FDI gây
ra, mà là hậu quả chung của quá trình phát triển, quá trình CNH đấtnước
Các nghiên cứu trong nước viết về FDI và tác động của nó đếntăng trưởng kinh tế rất nhiều, song hầu hết đánh giá FDI có tácđộng tích cực, số khác lại cho rằng, FDI có tác động đến tăngtrưởng kinh tế và các vấn đề xã hội, môi trường, nhưng phải cóđiều kiện Phần lớn các công trình nghiên cứu ở Việt Nam đềukhẳng định mặt tích cực của FDI đến tăng trưởng, phát triển kinh
Trang 17tế - xã hội, song cũng nêu mặt trái của FDI tác động tiêu cực đếnnền kinh tế, nhưng đều lý giải là do yếu kém trong quản lý của Nhànước, các Bộ, ngành và chính quyền địa phương, chứ không cho là
do bản chất của FDI gây ra
Có thể thấy các công trình trong nước đã luận giải khá rõ vềđóng góp của FDI vào phát triển bền vững về kinh tế cũng như vaitrò của FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội như chuyển dịch cơcấu kinh tế, chuyển giao khoa học - công nghệ, thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế Tuy nhiên để phát triển bền vững không phải chỉriêng khía cạnh kinh tế, xã hội hay môi trường bền vững mà cầnphải phát triển bền vững trên cả ba trụ cột: kinh tế, xã hội, môitrường, đây là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện trongthời gian tới Bên cạnh đó, chưa có các công trình tập trung nghiêncứu về vấn đề thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp tại khuvực đồng bằng sông Hồng theo hướng phát triển bền vững toàn
diện các yếu tố trên Do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài “Thu hút FDI
vào các khu công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng theo hướng phát triển bền vững”.
3 Mục đích nghiên cứu
3.1 Mục tiêu
Ngiên cứu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các khucông nghiệp theo hướng phát triển bền vững tại các KCN đồngbằng sông Hồng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn sẽ tập trung vào một số nhiệm vụ sau đây:
- Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về đóng góp của vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài vào sự phát triển bền vững của các khu côngnghiệp
Trang 18- Phân tích thực trạng thu hút FDI vào việc phát triển các KCN theohướng phát triển bền vững trên địa bàn khu vực đồng bằng sôngHồng trong giai đoạn vừa qua.
- Xác định hệ thống quan điểm, định hướng và giải pháp tăng cườngthu hút FDI phát triển bền vững tại các khu công nghiệp của đồngbằng sông Hồng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là quá trình thu hútđầu tư trực tiếp nước ngoài hướng tới phát triển bền vững vào cáckhu công nghiệp ở khu vực đồng bằng sông Hồng Nội hàm củaphát triển bền vững tại các khu công nghiệp trên địa bàn khu vựcđồng bằng sông Hồng được xác định trên ba trụ cột chính: bềnvững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường.4.2 Phạm vi nghiên cứu.
- Không gian: Các khu công nghiệp trên địa bàn khu vực đồng bằngsông Hồng, tập trung chủ yếu các nhóm ngành công nghiệp chếtạo sản xuất ở 06 tỉnh điển hình của khu vực như Bắc Ninh, Hà Nội,Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Hải Dương… Đề tài có sử dụngmột vài số liệu của quốc gia khác và một số vùng trên cả nước để
so sánh
- Thời gian: trong giai đoạn 2003-2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, đề tài sử dụng kết hợpphương pháp nghiên cứu tại bàn tài liệu, nghiên cứu các khung lýthuyết, với mục đích tổng hợp và phân tích các tư liệu khoa họctrong quá trình nghiên cứu nhằm xác định các cơ sở chung vàchuyên môn sau khi xác định được nhiệm vụ nghiên cứu của đềtài
Đồng thời thu thập các kết quả thống kê đáng tin cậy từ các cơquan, viện nghiên cứu tại Việt Nam cũng như kế thừa các côngtrình nghiên cứu trong nước đến vấn đề thu hút FDI vào các khucông nghiệp
Trang 196 Kết cấu của đề tài.
Ngoài lời mở đầu, kết luận, phần tài liệu tham khảo, phần mụclục, bài viết gồm 3 chương, như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phát triển bền vững và
thu hút FDI hướng tới phát triển bền vững
Chương 2: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
các KCN vùng đồng bằng sông Hồng tại Việt Nam
Chương 3: Định hướng và giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài hướng tới phát triển bền vững tại các KCN vùng đồngbằng sông Hồng
Trang 20CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
VÀ THU HÚT FDI HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại
không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học” Tuy nhiên, chiến lược này chỉ nhấn mạnh phát
triển bền vững ở góc độ bền vững về sinh thái với ba mục tiêu: duytrì hệ sinh thái cơ bản và những hệ hỗ trợ sự sống; bảo tồn tính đadạng di truyền; bảo đảm sử dụng bền vững các loài và các hệ sinhthái
Khái niệm “phát triển bền vững” được công bố chính thức vàphổ biến rộng rãi vào năm 1987 qua Báo cáo Brundtland (còn gọi
là báo cáo Tương lai chung của Việt Nam) của Ủy ban Môi trường
và Phát triển Thế giới (WCED) thuộc Liên hiệp quốc Báo cáo này
ghi rõ "phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được
những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai" Mục tiêu của
phát triển bền vững mà WCED đưa ra là làm thế nào để đạt đượcphát triển ở hiện tại mà không ảnh hưởng đến cuộc sống và sựphát triển sau này
Nội hàm về phát triển bền vững được tái khẳng định tại Hộinghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển ở Rio de
Trang 21Janero (Brazil) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về pháttriển bền vững ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002.Phát triển bền vững được khái quát hóa theo ba mặt, gồm pháttriển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường Ba mặt nàykết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà với nhau trong quá trình pháttriển Các đại biểu cũng thống nhất những nguyên tắc cơ bản, phátđộng một chương trình hành động vì sự phát triển bền vững có tênChương trình nghị sự 21 (AGENDA-21) Từ đó, Chương trình Nghị sự
21 về Phát triển bền vững và Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ đãtrở thành chiến luợc phát triển của toàn cầu và được tập trungthực hiện
Phát triển bền vững được biết đến ở Việt Nam vào khoảng cuốithập niên 80 đầu thập niên 90 Trên cơ sở những khái niệm đã có
và từ sự phát triển thực tế của đất nước, các nhà nghiên cứu kinh tếcủa Việt Nam đã đưa ra quan điểm về phát triển bền vững là cơ sở
để thực hiện những mục tiêu phát triển của đất nước Đó là sự pháttriển lành mạnh, trong đó sự phát triển của cá nhân này không làmthiệt hại đến lợi ích của các cá nhân khác, sự phát triển của cá nhânkhông làm thiệt hại đến lợi ích của cộng đồng, sự phát triển củacộng đồng người này không làm thiệt hại đến lợi ích của cộng đồngngười khác, sự phát triển của thế hệ hôm nay không xâm phạm đếnlợi ích của các thế hệ mai sau và sự phát triển của loài người không
đe doạ sự sống còn hay làm suy giảm nơi sinh sống của các sinhvật khác trên hành tinh
Với việc làm rõ khái niệm của PTBV, Việt Nam đưa ra khái quát
về PTBV vùng kinh tế hiện nay như sau: PTBV vùng kinh tế là sự phát triển đảm bảo sự kết hợp chặt chẽ giữa bền vững về kinh tế với bền vững về xã hội và bảo vệ môi trường trong nội tại các vùng kinh tế và có tác động lan tỏa tích cực đến
sự phát triển bền vững của quốc gia Trong phạm vi nghiên
Trang 22cứu của luận văn, PTBV các khu công nghiệp vùng KT đồng bằngsông Hồng được xem xét là sự PTBV bản thân các khu côngnghiệp, hướng đến toàn bộ vùng KT đồng bằng sông Hồng, baogồm tính bền vững trong cả ba lĩnh vực: bền vững về kinh tế, bềnvững về xã hội và bền vững về môi trường.
1.1.1.2 Đặc điểm của phát triển bền vững
Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới năm 2002 về Phát triển bềnvững đã đánh dấu một sự mở rộng của các định nghĩa tiêu chuẩn
đó là việc xác định ba trụ cột của phát triển bền vững: kinh tế, xã
hội và môi trường Tuyên bố Johannesburg đã chỉ rõ "một trách
nhiệm tập thể để thúc đẩy và tăng cường các trụ cột phụ thuộc lẫn nhau và hỗ trợ lẫn nhau phát triển - phát triển kinh tế bền vững, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường ở cấp quốc gia, khu vực và toàn cầu".
Trang 231.1.2 Nội dung của phát triển bền vững
Phát triển bền vững vùng kinh tế phải được thể hiện ở việcphối hợp được cả 3 mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường Nó mangtính tổng hợp, bao gồm nhiều yếu tố cấu thành khác nhau nhưkinh tế, chính trị, xã hội, kỹ thuật, văn hoá Mục tiêu của pháttriển ngày nay phải là nâng cao điều kiện và chất lượng cuộc sốngcủa loài người, tạo nên cuộc sống công bằng và bình đẳng giữa cácthành viên Để đạt được mục tiêu ấy, trong quá trình phát triển,các quốc gia phải xác định được một cách hợp lý các mục tiêu cụthể của 3 nội dung phát triển này để tạo nên phát triển bền vững,trong đó: (1) mục tiêu bền vững kình tế là lựa chọn một tốc độtăng trưởng hợp lý trên cơ sở một cơ cấu kình tế phù hợp và cóhiệu quả nhất; (2) Bền vững về xã hội tập trung vào việc thực hiệntừng bước các nội dung về tiến bộ xã hội và phát triển con người,
cụ thể là thực hiện tiến bộ nâng cao dân trí, công bằng xã hội, xóađói giảm nghèo và giải quyết việc làm; (3) Bền vững về môi trườngbao gồm khai thác và sử dụng tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả nguồntài nguyên; bảo vệ và chống ô nhiễm môi trường, thực hiện tốt quátrình tái sinh và cải thiện chất lượng tài nguyên môi trường, phòngchống cháy và chặt phá rừng
Phát triển bền vững vùng kinh tế bao gồm các cấu thành vềnội dung như sau:
- Phát triển bền vững về kinh tế: thể hiện phát triển có hiệu quả
các nguồn lực hiện có của mỗi vùng, tăng qui mô của GDP, tạo ra
sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệphoá, hiện đại hoá
- Phát triển bền vững về xã hội: thể hiện ở đời sống tinh thần
được nâng lên không ngừng về đảm bảo dịch vụ y tế, giáo dục,văn hoá, thể thao, bình đẳng cơ hội việc làm, bình đẳng thu nhậphưởng thụ cho mọi tầng lớp dân cư của các vùng lãnh thổ
Trang 24- Phát triển bền vững về môi trường: thể hiện ở hoạt động của
vùng kinh tế phải gắn liền với các phương án BVMT trong vùng,đảm bảo khai thác hợp lý và sử dụng có hiệu quả nguồn tàinguyên thiên nhiên; thực hiện tái sinh nguồn tài nguyên, chốnghiện tượng làm suy thoái và gây ô nhiễm môi trường; phát triểnkinh tế luôn gắn với bảo vệ môi trường sinh thái nhằm giảm thiểucác tác động tiêu cực của ô nhiễm môi trường trong quá trình pháttriển vùng kinh tế
1.2 Tổng quan về FDI và một số yếu tố thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại nước tiếp nhận đầu tư
1.2.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
• Khái niệm
FDI (Foreign Direct Invesment) - Đầu tư trực tiếp nước ngoài làmột hình thức đầu tư tư nhân quốc tế Từ lâu, đây là một nguồnvốn quan trọng tạo ra ự kết nối trực tiếp, bền vững và lâu dài giữacác nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới Trên thế giới hiệnnay có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm FDI
Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế IMF, FDI được định nghĩa là “một
khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chức trong một nền kinh thế giới (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác” ( The
IMF’s Balance of Payment Manual 1993) Mục đích của nhà đầu tưtrực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanhnghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó
Luật Đầu tư Việt Nam năm 2014 có quy định nhà đầu tư nước
ngoài được hiểu là “ các nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức
thanh lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam” (Luật Đầu tư 2014, Điều 03) Như vậy,
theo cách hiểu này thì FDI được định nghĩa rộng hơn so với quy
Trang 25định trong Luật đầu tư năm 2005: “FDI là việc nhà đầu tư nước
ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kì một tài sản nào
để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này”,
tuy nhiên về cơ bản, Luật này cũng thống nhất cách hiểu về FDItheo thông dụng trên thế giới
Từ những khái niệm trên có thể đưa ra khái niệm chung nhất
về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau:
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại hình di chuyển vốnquốc tế, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếpquản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn Sự ra đời và pháttriển của đầu tư trực tiếp nước ngoài là kết quả tất yếu của quátrình quốc tế hóa và phân công lao động quốc tế”
1.2.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến thu hút FDI tại nước tiếp nhận đầu tư
1.2.2.1 Vị trí địa lý - điều kiện tự nhiên
Khi quyết định đầu tư vào một quốc gia nào đó thì vị trí địa lý
là một trong những yếu tố quan trọng Một nước có vị trí địa lýthuận lợi cho việc giao lưu vận chuyển hàng hóa, máy móc,… mới
có thể trở thành bàn đạp để những nước đi đầu tư thực hiện mụcđích của mình Vì vậy, nó có ý nghĩa như một lợi thế so sánh nhằmthu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Cũng như vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của nước tiếp nhậnđầu tư cũng trở thành một lợi thế so sánh nhằm thu hút đầu tưtrực tiếp nước ngoài Điều kiện tự nhiên có thể là các điều kiện vềkhoáng sản, đất, rừng, nước, khí hậu hay không gian của nướcnhận đầu tư Nó không những ảnh hưởng trực tiếp đến các yếu tốđầu vào mà còn quyết định tính chất đầu ra
1.2.2.2 Tình hình phát triển kinh tế thế giới và quốc gia
Trang 26Do đặc tính của FDI là hết sức nhạy cảm với các biến động củamôi trường kinh tế quốc tế, đây là nhân tố khách quan tác độngđến các dòng vốn đầu tư nước ngoài vào các nước Khi nền kinh tếthế giới có sự ổn định sẽ tác động tích cực đến sự di chuyển cácdòng vốn đầu tư nước ngoài, làm cho quá trình thu hút đầu tư củacác nước thuận lợi hơn rất nhiều, ngược lại khi môi trường kinh tếthế giới không ổn định, tình trạng lạm phát cao, suy thoái kinh tếdiễn ra nhiều nơi thì sẽ rất khó khăn cho các nước tiếp nhận dòngvốn từ các nhà đầu tư nước ngoài
Ổn định môi trường kinh tế vĩ mô của nước tiếp nhận vốn đầu
tư như ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội là điều kiện hết sức quantrọng để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài Các nhà đầu tư nướcngoài sẽ rất hạn chế khi tham gia đầu tư vào những nước có môitrường kinh tế vĩ mô kém ổn định vì khi đầu tư vào những nơi này
sẽ tạo ra những rủi ro kinh doanh mà các nhà đầu tư không thểlường trước được
Khi có sự bất ổn về môi trường kinh tế vĩ mô, rủi ro tăng caothì các dòng vốn FDI trên thế giới sẽ chững lại và vốn đầu tư sẽ dichuyển đến những nơi an toàn và có mức sinh lời cao hơn, ngay cảkhi đã đầu tư rồi mà có sự bất ổn nhất là bất ổn về chính trị thì cácnhà đầu tư nước ngoài sẽ tìm mọi cách để rút lui vốn
Vì vậy, môi trường kinh tế vĩ mô của nước sở tại có tác độngtrực tiếp tạo điều kiện hoặc cản trở việc thu hút vốn của các nhàđầu tư nước ngoài và muốn thu hút được vốn từ các nhà đầu tưnước ngoài thì các nước phải ổn định được môi trường kinh tế vĩ
mô trước
1.2.2.3 Sự ổn định về an ninh, chính trị quốc gia
Sự ổn định an ninh - chính trị quốc gia có ý nghĩa quyết địnhđến việc huy động và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư, đặc biệt là
Trang 27đầu tư nước ngoài Tình hình chính trị không ổn định, đặc biệt làthể chế chính trị (đi liền với nó là sự thay đổi luật pháp) thì mụctiêu và phương thức thực hiện mục tiêu cũng thay đổi Hậu quả làlợi ích của các nhà ĐTNN bị nên lòng tin của các nhà đầu tư bịgiảm sút Mặc khác, khi tình hình chính trị - xã hội không ổn định,Nhà nước không đủ khả năng kiểm soát hoạt động của các nhàĐTNN, hậu quả là các nhà đầu tư hoạt động theo mục đích riêng,không theo định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội củanước nhận đầu tư Do đó hiệu quả sử dụng vốn FDI rất thấp.
1.2.2.4 Môi trường pháp luật
Hệ thống pháp luật của nước sở tại bao gồm các luật liên quanđến hoạt động đầu tư như Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, LuậtBảo vệ môi trường…và các văn bản hướng dẫn luật, các quy định
về hoạt động đầu tư đối với người nước ngoài, các văn bản vềquản lý Nhà nước trong hoạt động đầu tư…đây chính là hành langpháp lý đảm bảo sự an tâm cho các nhà đầu tư nước ngoài Hệthống pháp luật được xây dựng theo hướng thông thoáng, đầy đủchặt chẽ là cơ sở tạo môi trường đầu tư thuận lợi Hoạt động FDIliên quan đến nhiều chủ thể tham gia và có yếu tố nước ngoài vìvậy các văn bản ngoài yếu tố đồng bộ, chặt chẽ, tránh chồng chéogây khó hiểu, còn phải phù hợp với thông lệ quốc tế Các nhà đầu
tư nước ngoài khi đầu tư vào một nước nào đó thì họ sẽ quan tâmđến cá nhân họ khi đầu tư được bảo vệ như thế nào, tài sản của họ
có được đảm bảo không, các quy định chuyển phần lợi nhuận vềnước họ ra làm sao…đây cũng chính là nhân tố ảnh hưởng đến cácquyết định đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài Mặt khác, hệ thốngpháp luật không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tưnước ngoài mà còn có chức năng ngăn cản những tác động tiêucực mà các nhà đầu tư cố tình vi phạm ảnh hưởng đến lợi ích cộngđồng, an ninh quốc gia và tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa các
Trang 28nhà đầu tư Đồng thời với việc xây dựng hệ thống pháp luật, phảixây hệ thống chính sách kinh tế liên quan đến đầu tư nước ngoàithực sự mềm dẻo, hấp dẫn cũng là điều kiện quan trọng để thu hútvốn FDI như:
- Chính sách ưu đãi về thuế: để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài,các quốc gia phải có chính sách miễn giảm thuế nhất định, thôngthường trong những năm đầu triển khai dự án các nhà đầu tư đượcgiảm thuế, thậm chí miễn thuế và tăng dần ở những năm sau đókhi các nhà đầu tư nước ngoài có lợi nhuận Để đảm bảo lợi ích cho
cả nước nhận đầu tư và cả nhà đầu tư nước ngoài, mức thuế được
ưu đãi phụ thuộc vào chính sách ưu tiên về ngành, lĩnh vực, vùngkinh tế mà quốc gia khuyến khích đầu tư như ưu đãi về thuế đốivới những dự án sử dụng công nghệ hiện đại, thời gian đầu tư dài,quy mô lớn, hướng về xuất khẩu, sử dụng nhiều lao động, sử dụngnhiều nguyên liệu trong nước, sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư Hệthống thuế sẽ càng hiệu quả nếu càng rõ ràng, đơn giản, dễ ápdụng và mức thuế phù hợp (so với lãi suất, lợi nhuận bình quân, sovới mức thuế ở các nước trong khu vực…) các thủ tục thuế, cũngnhư các thủ tục quản lý FDI khác phải được tinh giảm hợp lý, tránhvòng vèo nhiều khâu trung gian, công khai và thuận lợi cho đốitượng chịu quản lý và nộp thuế
1.2.2.5 Thủ tục hành chính
Thủ tục hành chính là một yếu tố rất quan trọng góp phần tạonên sự thành công của việc thu hút vốn FDI Thủ tục hành chínhcàng đơn giản, gọn nhẹ, rõ ràng thì sức hút của môi trường đầu tưđối với các nhà đầu tư nước ngoài càng lớn Thủ tục hành chínhảnh hưởng đến tất cả các hoạt động đầu tư, nếu thủ tục hànhchính không được quan tâm sát sao dễ tạo ra hiện tượng nhũngnhiễu, tiêu cực từ đó làm tăng chi phí kinh doanh, làm mất lòng tincủa các nhà đầu tư nước ngoài Ngoài quy trình thực hiện chung,
Trang 29cách thực hiện tục hành chính của mỗi địa phương là khác nhau, vìvậy có những nơi nhà đầu tư gặp rất nhiều khó khăn trong việc xincấp giấy phép đầu tư, đăng ký kinh doanh… Sự đơn giản hóa cácthủ tục hành chính sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nướcngoài trong quá trình đăng ký, triển khai thực hiện dự án đầu tưcũng như giảm các chi phí cả về vật chất và thời gian, tạo dựngđược độ tin cậy của các nhà đầu tư nước ngoài.
1.2.2.6 Hệ thống cơ sở hạ tầng
Sự phát triển cơ sở hạ tầng là một điều kiện vật chất hàng đầu
để các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vốn FDI Cơ sở hạ tầng baogồm mạng lưới giao thông, mạng lưới thông tin liên lạc, hệ thốngcung cấp năng lượng, cấp thoát nước, các công trình công cộngphục vụ sản xuất kinh doanh như cảng biển, sân bay,…cơ sở hạtầng tốt là một trong các yếu tố quan trọng giúp các nhà đầu tưnước ngoài giảm các chi phí gián tiếp trong sản xuất kinh doanh và
có thể triển khai các hoạt động đầu tư Thực tế thu hút tại các địaphương trong cả nước cho thấy các dòng vốn chỉ đổ vào nơi nào có
hạ tầng phát triển, đủ khả năng phục vụ cho hoạt động sản xuấtkinh doanh của các nhà đầu tư Mạng lưới giao thông cũng đónggóp một phần quan trọng vào thu hút vốn FDI, là cơ sở để vậnchuyển vật liệu, đi tiêu thụ sản phẩm và quan trọng nhất là cácđầu mối giao thông tiếp giáp với thế giới như cảng biển, cảng hàngkhông… Các tuyến đường giao thông trọng yếu cũng làm cầu nối
sự giao lưu phát triển kinh tế giữa các địa phương của một quốcgia Một mạng lưới giao thông đa phương tiện và hiện đại sẽ giúpcác nhà đầu tư giảm được chi phí vận chuyển không cần thiết
Hệ thống thông tin liên lạc là nhân tố quan trọng trong bốicảnh bùng nổ thông tin như hiện nay, khi mà thông tin về tất cảcác biến động trên thị trường ở mọi nơi được truyền tải liên tụctrên thế giới Chậm trễ trong thông tin liên lạc sẽ đánh mất cơ hội
Trang 30kinh doanh Môi trường đầu tư hấp dẫn dưới con mắt của nhà đầu
tư đó phải có hệ thống thông tin liên lạc rộng lớn và cước phí rẻ.Ngoài ra, hệ thống các ngành dịch vụ như: tài chính ngân hàng,bưu chính viễn thông, tư vấn hay cung cấp năng lượng và nướcsạch… đảm bảo cho việc sản xuất quy mô lớn và liên tục, các dịch
vụ này nếu không đáp ứng được nhu cầu sản xuất thì sẽ gây rấtnhiều trở ngại cho nhà đầu tư
1.2.2.7 Nguồn lực về con người
Một trong những yếu tố xã hội quan trọng của thu hút vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài vào địa phương là chất lượng nguồn nhânlực và giá cả sức lao động Đây là một trong những yếu tố rất cầnthiết để các nhà đầu tư lập kế hoạch kinh doanh Một nhà đầu tưmuốn mở một nhà máy thì trên phương diện nguồn nhân lực nhàđầu tư sẽ chọn khu vực có thể đáp ứng được cả về số lượng vàchất lượng của lao động, ngoài ra giá cả sức lao động là một trongnhững chỉ tiêu đánh giá của các nhà đầu tư Chất lượng lao động làmột lợi thế cạnh tranh đối với các nhà đầu tư vào lĩnh vực có hàmlượng công nghệ cao hay có sử dụng nhiều công nghệ hiện đại.Ngoài ra, yếu tố văn hoá cũng ảnh hưởng tới yếu tố lao động như
sự cần cù, tính kỷ luật, ý thức trong lao động…
Vì vậy, yếu tố lao động là một trong những điều kiện tác độngtới các nhà đầu tư nước ngoài khi tiến hành kinh doanh Tuy nhiên,
để có lực lượng lao động tốt thì lại phụ thuộc vào hệ thống giáodục, đào tạo, chất lượng đào tạo nghề…
1.3 Tổng quan về thu hút FDI vào các KCN theo hướng phát triển bền vững
1.3.1 Khái niệm về Khu công nghiệp
• Khái quát chung về sự hình thành:
Trên thế giới loại hình Khu công nghiệp (KCN) đã có một quátrình lịch sử phát triển hơn 100 năm nay bắt đầu từ những nước
Trang 31công nghiệp phát triển như Anh, Mỹ cho đến những nước có nềnkinh tế công nghiệp mới như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore,…vàhiện nay vẫn đang được các quốc gia học tập và kế thừa kinhnghiệm để tiến hành công nghiệp hóa Tùy điều kiện từng nước màKCN có những nội dung hoạt động kinh tế khác nhau và có nhữngtên gọi khác nhau nhưng chúng đều mang tính chất và đặc trưngcủa KCN Hiện nay trên thế giới có hai mô hình phát triển KCN,cũng từ đó hình thành hai cách tiếp cận khác nhau về KCN.
- Theo cách tiếp cận của các nước thuộc nhóm NICs: Khu côngnghiệp là khu vực lãnh thổ rộng lớn, có ranh giới địa lý xác định,trong đó chủ yếu là phát triển các hoạt động sản xuất công nghiệp
và có đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ đa dạng; có dân cư sinhsống trong khu Ngoài chức năng quản lý kinh tế, bộ máy quản lýcác khu này còn có chức năng quản lý hành chính, quản lý lãnhthổ KCN theo quan điểm này về thực chất là khu hành chính - kinh
tế đặc biệt như các công viên công nghiệp ở Đài Loan, Thái Lan vàmột số nước Tây Âu
- Theo cách tiếp cận của nhóm các nước đang phát triển: Khucông nghiệp là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, ở đó tậptrung các doanh nghiệp công nghệp và dịch vụ sản xuất côngnghiệp, không có dân cư sinh sống và được tổ chức hoạt động theo
cơ chế ưu đãi cao hơn so với các khu vực lãnh thổ khác Theo quanđiểm này, ở một số nước và vùng lãnh thổ như Malaysia,Indonesia, đã hình thành nhiều KCN với qui mô khác nhau vàđây cũng là loại hình KCN Việt Nam đang áp dụng hiện nay
Theo nghị định của Chính phủ số 29/2008/NĐ-CP ngày14/03/2008 quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh
tế thì khái niệm khu công nghiệp được hiểu như sau:
Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý
Trang 32xác định được thành lập theo điều kiện trình tự và thủ tục theo quy định của chính phủ.
Tóm lại, KCN là đối tượng đặc thù của quản lý nhà nước vềkinh tế trong các giai đoạn phát triển với các đặc điểm về mục tiêuthành lập, giới hạn hoạt động tập trung vào công nghiệp, ranh giớiđịa lý và thẩm quyền ra quyết định thành lập
Như vậy là có điểm gặp nhau giữa nhu cầu về dịch chuyển vốnđầu tư và sức hấp dẫn của thị trường tiêu thụ tiềm năng giữa cácnước phát triển và các nước đang phát triển Sự xuất hiện và pháttriển các mô hình khu công nghiệp dưới nhiều hình thức là một tấtyếu khách quan đã được thừa nhận và cần vận dụng phù hợp vớibối cảnh của từng quốc gia và từng địa phương trong mỗi quốc gia
• Đặc điểm của khu công nghiệp
Hiện nay các khu công nghiệp phát triển mạnh mẽ ở các quốcgia, đặc biệt là các nước đang phát triển và có sự khác nhau vềquy mô địa điểm và phương thức xây dựng nhưng các KCN đềumang các đặc điểm chủ yếu sau:
- Về tính chất hoạt động: Là nơi tập trung các doanh nghiệp sản
xuất công nghiệp và các dịch vụ công nghiệp mà không có dân cư.KCN là nơi thu hút các đơn vị sản xuất các sản phẩm công nghiệphoặc các đơn vị kinh doanh dịch vụ gắn liền với sản phẩm côngnghiệp
- Về cơ sở hạ tầng: Các KCN đều xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng
tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhưđường sá, điện nước,…
- Về tổ chức quản lý: Mỗi khu công nghiệp đều thành lập các ban
quản lý từ trung ương đến địa phương Các ban quản lý trung ương
do các bộ tham gia quản lý, các cơ quan quản lý địa phương nằmtại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Trang 331.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư nước ngoài vào KCN theo hướng phát triển bền vững
Quá trình thu hút FDI vào các khu công nghiệp chịu ảnhhưởng của rất nhiều yếu tố khác nhau từ khách quan đến chủquan Nhìn chung các quan điểm về các yếu tố ảnh hưởng đến thuhút FDI có thể được tập hợp theo hai nhóm chính, đó là các quanđiểm xuất phát từ cách tiếp cận vĩ mô - là nhóm các yếu tố thuộc
về cơ quan nhà nước và quan điểm xuất phát từ cách tiếp cận vi
mô - là nhóm các yếu tố thuộc về các doanh nghiệp khu côngnghiệp, cụ thể như sau:
1.3.2.1 Nhóm các yếu tố thuộc về Nhà nước
• Chiến lược thu hút và sử dụng FDI trong các KCN theo hướng phát triển bền vững
Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011
-2020 đã được ban hành Dựa vào chiến lược chung của quốc gia,từng vùng từng địa phương đã đặt ra những chiến lược PTBV chotừng vùng và cho từng địa phương trong tất cả các lĩnh vực kinh tế
và khu vực địa lý Mục tiêu của chiến lược là tăng trưởng bền vững,
có hiệu quả, đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên
và môi trường, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vữngchắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốcgia
Theo đó, các chỉ tiêu giám sát và đánh giá PTBV quốc gia lầnđầu tiên được chính thức đưa ra, gồm: các chỉ tiêu tổng hợp (GDPxanh, chỉ số phát triển con người, chỉ số bền vững môi trường); cácchỉ tiêu về kinh tế (hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, năng suất laođộng xã hội, mức giảm tiêu hao năng lượng để sản xuất ra mộtđơn vị GDP, chỉ số giá tiêu dùng, cán cân vãng lai ); các chỉtiêu về xã hội (tỷ lệ nghèo, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ lao động đang
Trang 34làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo, tỷ số giới tính khi sinh,
hệ số bất bình đẳng trong phân phối thu nhập ); các chỉ tiêu vềtài nguyên và môi trường (tỷ lệ che phủ rừng, tỷ lệ đất được bảo
vệ, diện tích đất bị thoái hoá )
Dựa trên những chỉ tiêu nói trên, các địa phương đã xây dựngChiến lược và vạch ra các định hướng ưu tiên nhằm PTBV trong giaiđoạn 2011 - 2020, cụ thể:
Về kinh tế, cần duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững, từng
bước thực hiện tăng trưởng xanh, phát triển năng lượng sạch, nănglượng tái tạo; thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững; đảm bảo
an ninh lương thực, phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững;PTBV các vùng và địa phương
Về xã hội, tập trung đẩy mạnh công tác giảm nghèo theo
hướng bền vững; tạo việc làm bền vững; thực hiện tiến bộ và côngbằng xã hội; thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội; ổn địnhquy mô, cải thiện và nâng cao chất lượng dân số; phát triển vănhoá hài hoà với phát triển kinh tế, xây dựng và phát triển gia đìnhViệt Nam; PTBV các đô thị, xây dựng nông thôn mới, phân bố hợp lýdân cư và lao động theo vùng; nâng cao chất lượng giáo dục và đàotạo để nâng cao dân trí và trình độ nghề nghiệp thích hợp với yêucầu của sự phát triển đất nước, vùng và địa phương;
Về môi trường, chống thoái hoá, sử dụng hiệu quả và bền
vững tài nguyên đất; bảo vệ môi trường nước và sử dụng bền vữngtài nguyên nước; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, bền vữngtài nguyên khoáng sản; bảo vệ môi trường biển, ven biển, hải đảo
và phát triển tài nguyên biển; bảo vệ và phát triển rừng; giảm ônhiễm không khí và tiếng ồn ở các đô thị lớn và khu công nghiệp
• Môi trường chính trị - xã hội
Sự ổn định chính trị - xã hội có ý nghĩa quyết định đến việc
Trang 35huy động và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư, đặc biệt là đầu tưnước ngoài Tình hình chính trị không ổn định, đặc biệt là thể chếchính trị (đi liền với nó là sự thay đổi luật pháp) thì mục tiêu vàphương thức thực hiện mục tiêu cũng thay đổi Hậu quả là lợi íchcủa các nhà ĐTNN bị giảm (họ phải gánh chịu một phần hay toàn
bộ các thiệt hại đó) nên lòng tin của các nhà đầu tư bị giảm sút.Mặc khác, khi tình hình chính trị - xã hội không ổn định, Nhà nướckhông đủ khả năng kiểm soát hoạt động của các nhà ĐTNN, hậuquả là các nhà đầu tư hoạt động theo mục đích riêng, không theođịnh hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước nhậnđầu tư Do đó hiệu quả sử dụng vốn FDI rất thấp Kinh nghiệm chothấy, khi tình hình chính trị -xã hội bất ổn thì các nhà đầu tư sẽngừng đầu tư hoặc không đầu tư nữa Chẳng hạn, sự lộn xộn ở Ngatrong thời gian qua đã làm nản lòng các nhà đầu tư mặc dù Nga làmột thị trường rộng lớn, có nhiều tiềm năng Tuy nhiên, nếu chínhphủ thực hiện chính sách cởi mở hơn nữa thì chỉ làm giảm khảnăng thu hút các nhà ĐTNN, cá biệt có trường hợp trong chiếntranh vẫn thu hút được FDI song đó chỉ là trường hợp ngoại lệ đốivới các công ty thuộc tổ hợp công nghiệp quân sự muốn tìm kiếm
cơ hội buôn bán các phương tiện chiến tranh hoặc là sự đầu tư củachính phủ thông qua hình thức đa phương hoặc song phương nhằmthực hiện mục đích riêng Rõ ràng, trong trường hợp này, việc sửdụng FDI không đem lại hiệu kinh tế - xã hội cho nước tiếp nhậnđầu tư
• Lao động
Nguồn lao động vừa là nhân tố để thu hút vừa là nhân tố sửdụng có hiệu quả FDI Bởi con người có khả năng hợp tác kinhdoanh cao, trình độ lao động phù hợp với yêu cầu, năng lực quản
lý cao thì sẽ tạo ra năng xuất cao Bên cạnh đó, các nhà ĐTNN sẽgiảm một phần chi phí đào tạo và bớt được thời gian đào tạo nên
Trang 36tiến độ và hiệu quả của các dự án sẽ đạt đúng theo mục tiêu đề ra.Trình độ thấp kém sẽ làm cho nước chủ nhà thua thiệt, đặc biệt là
ở các khâu của quá trình quản lý hoạt động FDI Sai lầm của cáccán bộ quản lý nhà nước có thể làm thiệt hại về thời gian, tài chínhcho nhà ĐTNN và cho nước chủ nhà Vì vậy, nước chủ nhà phải tíchcực nâng cao trình độ dân trí của người lao động để không chỉ cónâng cao khả năng tiếp cận công nghệ, kỹ thuật tiên tiến mà cònnâng cao kỹ thuật quản lý kinh tế
1.3.2.2 Nhóm các yếu tố thuộc về các doanh nghiệp khu công nghiệp
• Cơ sở hạ tầng
Kết cấu hạ tầng kỹ thuật là cơ sở để thu hút FDI và cũng lànhân tố thúc đẩy hoạt động FDI diễn ra nhanh chóng, có ảnhhưởng quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh Đây là mốiquan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư trước khi ra quyết định.Khu công nghiệp tại khu vực có hệ thống thông tin liên lạc, mạnglưới giao thông, năng lượng, hệ thống cấp thoát nước, các cơ sởdịch vụ tài chính ngân hàng tạo điều kiện cho các dự án FDI pháttriển thuận lợi Mức độ ảnh hưởng của mỗi nhân tố này phản ánhtrình độ phát triển của mỗi quốc gia, địa phương và mỗi khu côngnghiệp, môi trường đầu tư hấp dẫn.Trong quá trình thực hiện dự
án, các nhà đầu tư chỉ tập trung vào sản xuất kinh doanh, thời gianthực hiện các dự án được rút ngắn, bên cạnh đó việc giảm chi phícho các khâu vận chuyển, thông tin sẽ làm tăng hiệu quả đầu tư
• Năng lực tài chính của các DN KCN
Mục tiêu thu hút các doanh nghiệp có năng lực tài chính mạnh
đầ tư vào KCN có ý nghĩa quan trọng góp phần thực hiện thắng lợicác nội dung PTBV các KCN, đặc biệt là các DN KCN có năng lực tàichính mạnh sẽ kiểm soát được các rủi ro về kinh tế, chủ động kiểmsoát được các yếu tố đầu vào và đầu ra quá trình sản xuất, gia
Trang 37tăng được sản lượng, gia tăng giá trị sản xuất, có điều kiện đểquan tâm đến các vấn đề xã hội, tạo dựng hình ảnh và uy tín trênthị trường bằng việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ chất lượng, giáthành hạ tăng khả năng cạnh tranh Trái lại, các DN KCN có khảnăng tài chính hạn chế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến PTBV các KCN,không thể đầu tư nhà máy, xí nghiệp theo đúng tiến độ cam kết,thời gian triển khai dự án kéo dài, khả năng tiếp cận các cơ hội thịtrường thấp, thực hiện trách nhiệm xã hội với nhân dân và ngườilao động hạn chế,…
• Khoa học công nghệ và trình độ quản lý của các DN KCN
Trong nền kinh tế hội nhập và cạnh tranh, thì trình độ côngnghệ của các DN KCN được coi là một trong những công cụ thựchiện phương hướng PTBV các KCN Thực tế này, đã và đang đặt racho các DN KCN những yêu cầu bức thiết về đầu tư công nghệ mới,công nghệ nguồn và đầu tư đổi mới công nghệ nhằm nâng caochất lượng sản phẩm, hạ thấp giá thành sản phẩm, tạo ưu thế đểcạnh tranh trên thị trường Như vậy, đầu tư công nghệ mới, đầu tưđổi mới công nghệ sẽ giúp các DN KCN cải thiện và nâng cao chấtlượng sản phẩm, củng cố, duy trì và phát triển thị phần, đa dạnghóa mẫu mã sản phẩm, giảm tiêu hao nguyên nhiên vật liệu, cảithiện điều kiện làm việc và tăng năng suất lao động,… do đó các
DN KCN khi được đầu tư công nghệ mới hiện đại, tiên tiến, đâu tưđổi mới công nghệ theo hướng đi tắt đón đầu sẽ góp phần thựchiện tốt các nội dung PTBV các KCN đồng thời khắc phục và hạnchế các mặt tiêu cực ảnh hưởng tới PTBV các KCN
Khi các DN KCN đã có trình độ công nghệ ở mức đáp ứng đượccác yêu cầu cạnh tranh về thị phần hàng hóa sản phẩm thì đòi hỏikéo theo DN KCN cũng cần có lực lượng lãnh đạo, quản lý DN cótrình độ quản lý DN tương xứng với mức độ thay đổi về trình độcông nghệ Do đó, việc xây dựng, phát triển và hạn chế các khuyết
Trang 38tật do hệ thống quản trị DN gây ra, đòi hỏi cán bộ lãnh đạo, quản
lý DN KCN cần thường xuyên trao đổi, học tập nâng cao trình độquản trị DN về mọi mặt để góp phần tích cực vào thực hiện các nộidung PTBV các KCN và hạn chế những tác động tiêu cực do trình
độ quản trị DN yếu kém ảnh hưởng tới PTBV các KCN
• Chất lượng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp KCN
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh đang tập trung các Dự án đầu tưsản xuất công nghiệp có quy mô lớn về tài chính và quy mô lớn về
sử dụng lực lượng lao động, đặc biệt là lực lượng lao động tronglĩnh vực sản xuất điện, điện tử và các nhóm ngành công nghệ caokhác Do đó, chất lượng nguồn nhân lực của các DN KCN để đápứng các mục tiêu của DN có ý nghĩa quan trọng vì vậy để các DNKCN bảo đảm được chất lượng nguồn nhân lực phục vụ chính chomục tiêu phát triển của mình gắn với mục tiêu PTBV các KCN, các
DN KCN cần tập trung vào một số vấn đề chủ yếu sau:
Doanh nghiệp KCN cần xây dựng cần xây dựng được nội quy,quy chế hoạt động của DN gắn với yêu cầu hội nhập để bảo đảmtrình độ người lao động luôn được giáo dục, đào tạo và đào tạo lạiđáp ứng với yêu cầu về vị trí và tiêu chuẩn việc làm của DN KCN.Thường xuyên chăm lo công tác bồi dưỡng nâng cao trình độcho người lao động, đặc biệt là đội ngũ lao động quản lý và nhữngngười có năng lực tốt trong điều hành, vận hành và làm chủ cáccông nghệ mới
Đi kèm việc đào tạo nâng cao trình độ cho người lao động, DNKCN cần chăm lo đào tạo các kỹ năng mềm cho lực lượng lao động
để người lao động tự nguyện học tập, tự nguyện tham gia, giúp đỡnhau trong công việc và trong học tập nhằm góp phần vào nângcao năng suất lao động và nâng cao đời sống vật chất và tinh thầncho người lao động
Trang 39Khi các DN KCN có lực lượng lao động có chất lượng sẽ gópphần thực hiệt tốt các nội dung phát triển bền vững các KCN vềkinh tế và xã hội cũng như nâng cao thức chấp hành và bảo vệ môitrường của DN KCN và KCN.
1.4 Kinh nghiệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN theo hướng phát triển bền vững tại một số nước trên thế giới
1.4.1 Thái Lan
Mặc dù xuất hiện khá muộn so với các nước ở vùng Đông Nam
Á khác (năm 1970 Thái Lan mới có KCN đầu tiên), nhưng các KCNcủa Thái Lan phát triển khá tốt theo hướng bền vững Cho đến naytrên lãnh thổ Thái Lan đã có 55 KCN Các KCN này là nơi thu hútđầu tư hiệu quả và tạo nên thành tựu to lớn trong phát triển cácngành CN, nhất là ngành CN ô tô và điện tử Hiện nay Thái Lan lànhà sản xuất xe hơi lớn nhất khu vực ASEAN và đang hướng tới vịtrí thứ 10 trên toàn cầu Gần một nửa các nhà sản xuất, lắp ráp ôtôlớn nhất thế giới đã đặt nhà máy tại Thái Lan như Ford, GeneralMotors, BMW, Daimler Chrysler, Mitsubishi, Mazda, Toyota, Isuzu,Nissan, Honda, Yamaha và Suzuki Thái Lan cũng là nhà sản xuất ổcứng lớn thứ hai thế giới, cung cấp tới 40% sản lượng cho thế giới,chỉ sau Trung Quốc
Thành công chủ yếu trong PTBV các KCN ở Thái Lan được biếtđến qua một số kinh nghiệm sau:
Thứ nhất, Chính phủ Thái Lan đã khuyến khích phát triển đa
dạng các loại hình KCN Mặc dù số KCN không lớn, nhưng Chínhphủ Thái Lan khuyến khích phát triển nhiều mô hình KCN khácnhau phù hợp với mục tiêu đầu tư của các DN KCN tập trung sảnxuất hàng hóa tiêu thụ trong nước được chú trọng phát triển ngay
từ đầu nhằm cung cấp hàng tiêu dùng nội địa cho khu vực nôngthôn rộng lớn và các dự án đầu tư CN nặng cần thiết
Trang 40Thứ hai, Chính phủ Thái Lan đã xây dựng hệ thống chính sách
ưu đãi đầu tư vào KCN khá hiệu quả Các nhà đầu tư đưa vốn vàođầu tư trong KCN thường được hưởng một số ưu đãi Các khuyếnkhích bằng thuế, bao gồm: miễn, giảm thuế nhập khẩu máy móc,thiết bị; giảm thuế nhập khẩu nguyên liệu; miễn, giảm thuế thunhập doanh nghiệp; giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp; khấutrừ hai lần chi phí vận chuyển, điện và nước; bổ sung 25% khấu trừchi phí xây dựng và lắp đặt cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp; miễnthuế nhập khẩu đối với nguyên liệu và nguyên liệu thiết yếu sửdụng để sản xuất hàng xuất khẩu Các khuyến khích không bằngthuế, bao gồm: cho phép công dân nước ngoài vào Thái Lan đểnghiên cứu cơ hội đầu tư; cho phép đưa vào Thái Lan những laođộng kỹ năng cao và chuyên gia để thực hiện việc xúc tiến đầu tư;cho phép sở hữu đất đai; cho phép mang lợi nhuận ra nước ngoàibằng ngoại tệ Về thủ tục đầu tư, theo ủy ban đầu tư Thái Lan, cókhoảng trên 20 cơ quan của Chính phủ Thái Lan tham gia vào quytrình thẩm định, thành lập doanh nghiệp để thực hiện đầu tư củanhà đầu tư nước ngoài tại Thái Lan Quá trình thành lập doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Thái Lan trải qua 2 bước: đăng
ký Giấy phép kinh doanh nước ngoài và đăng ký kinh doanh thànhlập doanh nghiệp
Thứ ba, Chính phủ Thái Lan đã quan tâm đến khía cạnh PTBV
các KCN ngay từ khâu quy hoạch hệ thống hạ tầng giao thông, xử lý
ô nhiễm, cung cấp dịch vụ xã hội cho người lao động trong các KCN,nhất là dịch vụ đào tạo nghề, hạn chế thành lập KCN ở các vùng cótiềm năng phát triển du lịch, chú trọng thu hút công nghệ cao vàgắn lợi thế thu hút đầu tư với từng vùng cụ thể Như vậy, nhờ quyhoạch các KCN theo phân vùng kinh tế, Thái Lan vừa tận dụng được
ưu thế đầu tư của các vùng đã tương đối phát triển, đồng thời dùngnguồn lực tài chính tập trung ưu đãi cho vùng khó khăn nhằm phát