1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tiểu thuyết về chiến tranh việt nam thời hậu chiến trong văn học việt nam và mỹ

172 264 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 172
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tƣợng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là các tác phẩm tiểu thuyết viết về chiến tranh Việt Nam thời hậu chiến trong văn học Việt Nam và Mỹ, những chủ đề chính yếu, những

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

_

TRẦN ĐĂNG TRUNG

TIỂU THUYẾT VỀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM

THỜI HẬU CHIẾN TRONG VĂN HỌC

VIỆT NAM VÀ MỸ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Hà Nội – 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN ĐĂNG TRUNG

TIỂU THUYẾT VỀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM

THỜI HẬU CHIẾN TRONG VĂN HỌC

XÁC NHẬN NCS ĐÃ CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ

CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN

Người hướng dẫn khoa học Chủ tịch hội đồng đánh giá

Luận án Tiến sĩ

Hà Nội– 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng công bố trong công trình của tác giả nào khác

Tác giả luận án

Trần Đăng Trung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đối với PGS.TS Đoàn Đức Phương (Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội), thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận án này

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thành viên trong các Hội đồng đánh giá luận án bởi những góp ý của các Hội đồng sẽ giúp tôi có những tiến bộ nhanh hơn trên con đường học tập và nghiên cứu

Tôi cũng xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp, những chỗ dựa vững chắc cả về vật chất lẫn tinh thần cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận án

Tác giả luận án

Trần Đăng Trung

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……… 1

1 Lý do chọn đề tài……… 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu……… 4

4 Phương pháp nghiên cứu……… 4

5 Đóng góp mới của luận án……… 5

6 Cấu trúc của luận án……… 5

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU……… 6

1.1 Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam thời hậu chiến ở Việt Nam……… 6

1.2 Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam thời hậu chiến ở Mỹ……… 13

1.3 Triển vọng nghiên cứu tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam thời hậu chiến từ góc độ so sánh ……… 22

Tiểu kết……… 27

Chương 2 TIỂU THUYẾT VỀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HẬU CHIẾN……… 28

2.1 Chiến tranh và những vấn đề đặt ra cho sáng tạo nghệ thuật……… 28

2.1.1 Văn hóa chiến tranh……… 28

2.1.2 Thi phápchiến tranh……… 38

2.2 Thời hậu chiến và sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật về chiến tranh 41

2.2.1 Sự “cởi trói” văn nghệ ở Việt Nam thời kỳ Đổi mới và ý thức tự do sáng tạo của nhà văn……… 42

2.2.2 Sự trở về của những người thất bại và dòng văn học phản tư về cuộc chiến……… 48

Trang 6

Tiểu kết……… 55

Chương 3 NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG CỦA TIỂU THUYẾT VỀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM THỜI HẬU CHIẾN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM VÀ MỸ……… 56

3.1 Cuộc đời người lính……… 56

3.1.1 Tuổi trẻ thơ ngây và lòng hăm hở chiến trận……… 56

3.1.2 Trải nghiệm kinh hoàng và sự thơ ngây đánh mất……… 59

3.1.3 Thời hậu chiến và những hậu quả chiến tranh……… 63

3.1.4 Trăn trở, suy tư và sự viết……… 69

3.2 Chân diện mục của chiến tranh……… 74

3.2.1 Nơi chốn phi nhân tàn bạo……… 74

3.2.2 Những góc khuất và những tiếng nói câm lặng……… 79

3.2.3 Một thế giới man dã kì ảo……… 82

3.3 Cái nhìn nhân bản về con người……… 87

3.3.1 Con người dưới góc nhìn phi chiến tuyến……… 87

3.3.2 Con người với những phương diện bản năng……… 92

3.3.3 Con người và sự bất diệt của nhân tính……… 96

Tiểu kết……… 101

Chương 4 NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT CỦA TIỂU THUYẾT VỀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM THỜI HẬU CHIẾN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM VÀ MỸ……… 102

4.1 Những quan điểm khác biệt về cuộc chiến……… 102

4.1.1 Chiến tranh chống Mỹ - một cuộc chiến chính nghĩa……… 102

4.1.2 Chiến tranh Việt Nam - một cuộc chiến phi lý……… 109

4.2 Những truyền thống khác biệt……… 117

4.2.1 Chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo của người Việt……… 117

4.2.2 Bản chất xâm lược và những huyền thoại của người Mỹ……… 124

4.3 Những hệ giá trị khác biệt……… 131

4.3.1 Chủ nghĩa tập thể và chiến tranh nhân dân……… 131

Trang 7

4.3.2 Chủ nghĩa cá nhân và cuộc chiến nghịch dị……… 138

Tiểu kết……… 146

KẾT LUẬN……… 147 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 152 PHỤ LỤC……… 164

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chiến tranh Việt Nam là một biến cố đặc biệt quan trọng trong lịch sử hiện đại của hai dân tộc Việt Nam và Mỹ Những tác động to lớn của nó đến mọi mặt đời sống xã hội được thể hiện một cách sâu sắc và khá toàn diện qua các sáng tác tiểu thuyết thời kỳ hậu chiến ở cả hai nền văn học Các tác giả của dòng văn học phản tư

về cuộc chiến này phần lớn là những cựu chiến binh, những người đã từng mặc áo lính và trực tiếp cầm súng, sau khi chiến tranh kết thúc, trở về và lựa chọn con đường trở thành nhà văn để ghi lại những trải nghiệm và suy tư của bản thân về những gì họ đã chứng kiến và nếm trải Những sáng tác này không chỉ có ý nghĩa, giá trị to lớn về mặt tư liệu, mà nhiều trong số đó còn là những tác phẩm văn học đặc sắc, có chất lượng nghệ thuật cao, có những đóng góp, cách tân đáng kể cho nền văn học nói chung và nghệ thuật tiểu thuyết nói riêng ở cả hai quốc gia

Lâu nay chúng tamới chỉ có điều kiện tiếp xúc với những sáng tác văn học về chiến tranh Việt Nam của những nhà văn trong nước, những người đã từng kinh qua chiến tranh và sau khi hòa bình lập lại trở thành những cây bút chủ lực ở mảng đề tài này Hiểu biết của chúng ta về những trải nghiệm, suy nghĩ, cảm xúc của những người lính, những con người ở phía bên kia chiến tuyến thực sự vẫn còn rất hạn chế Bởi lẽ đó, cái nhìn của chúng ta về cuộc chiến phần nào mới chỉ mang tính chất một chiều, không thực sự đầy đủ và toàn vẹn.Cũng như vậy, vì nhiều rào cản khác nhau, công chúng Mỹ ít được tiếp cận với những sáng tác về chiến tranh từ phía Việt Nam khiến cho sự nhìn nhận và đánh giá về cuộc chiến của họ bị đóng khung trong những lối mòn và cách suy cảm hạn hẹp Người Mỹ cần phải biết đến những trải nghiệm của người khác, những người thường phải hứng chịu khổ đau do chính sách hiếu chiến của họ, để thoát ra khỏi sự tự phụ thái quá của một quốc gia luôn lấy mình làm trung tâm, chuẩn mực cho toàn thế giới Chiến tranh, cũng như bất kì sự kiện lịch sử nào khác, không thể và không nên bị nhìn nhận chỉ theo một quan điểm, một cách đánh giá, một lập trường Đặc biệt trong lĩnh vực văn học, việc bỏ qua những kinh nghiệm được đúc kết sâu sắcvà những hình thức biểu hiệnkhác

Trang 9

biệtthông qua nghệ thuật của những người từng tham chiến ở phía bên kia, thực sự

là một hạn chế rất đáng kể trong công việc nghiên cứu văn học chiến tranh, với tư cách như những sáng tạo phản ánh thân phận con người và những phản ứng, suy nghĩ, tình cảm của con người khi đối diện với một hoàn cảnh khốc liệt, tàn bạo có tính chất thử thách cao độ và nghiệt ngã đối với nhân tính Việc mở rộng sự quan tâm nghiên cứu đến những sáng tác văn học của các nhà văn bên kia chiến tuyến, đối với cả hai phía, thực sự sẽ mở ra một chân trời tri thức mới Do đó, nghiên cứu trong tương quan so sánh những sáng tác về chiến tranh thời kì hậu chiến ở cả hai nền văn học Việt Nam và Mỹ nhiều khả năng sẽ đem lại những phát hiện mới mẻ,

có giá trị về mặt học thuật

Đã hơn 40 năm kể từ thời điểm lá cờ của quân giải phóng miền Nam tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, đánh dấu sự kết thúc của cuộc chiến kéo dài suốt hơn hai thập kỷ ở Việt Nam, hai đất nước đã có nhiều chuyển biến sâu sắc về mọi mặt của đời sống Lịch sử đã bước sang một trang mới với những yêu cầu mới được đặt

ra trong công cuộc hội nhập với quốc tế Hai kẻ thù từng không đội trời chung trong quá khứ giờ đây đã trở thành đối tác quan trọng, cùng nhau hợp tác và phát triển vì một tương lai tươi sáng, thịnh vượng cho cả đôi bên Sau khi chính thức bình thường hóa quan hệ vào năm 1995, Việt Nam và Mỹ đã có nhiều chính sách về kinh

tế, chính trị, cũng như văn hóa nhằm thắt chặt sự tin tưởng lẫn nhau giữa hai nước Trên địa hạt văn chương, các nhà văn - cựu chiến binh, những người lính một thời từng đối đầu sống mái trên chiến trường nay lại là những người đi tiên phong trong quá trình thúc đẩy sự thông hiểu lẫn nhau giữa hai dân tộc Nhiều chuyến thăm, hội thảo trao đổi về văn học cũng như những vấn đề liên quan đến văn hóa, lịch sử của hai nước được tổ chức đều đặn Tác phẩm của các nhà văn mang áo lính của Việt Nam đã được dịch sang tiếng Anh và xuất bản tại Mỹ Tuy chậm trễ hơn nhưng một

số tác phẩm nổi tiếng viết về chiến tranh Việt Nam của những người trong cuộc từ phía Mỹcũng đã được chuyển ngữ và phổ biến rộng rãi ở Việt Nam Những giao lưu, trao đổi về học thuật giữa hai quốc gia đã trở nên thuận lợi và hữu hảo hơn Từ những thực tiễn thuận lợi đó, giới nghiên cứu giờ đây đã có cơ hội được tiếp cận

Trang 10

trực tiếp với những sáng tác văn học viết về chiến tranh từ cả hai phía, qua đó có điều kiện nhìn nhận một cách toàn diện và sâu sắc hơn về những di sản tinh thần quý báu của cuộc chiến, rút ra những bài học hữu ích từ quá khứ, đồng thời có một thái độ đúng đắn và cầu thị trong hiện tại cũng như tương lai để vun đắp tình hữu nghị giữa hai đất nước, hai dân tộc ngày càng tốt đẹp và bền chặt

Đề tài nghiên cứu là một hướng đi với nhiều hứa hẹn sẽ đem đến những kiến giải thú vị, có giá trị về dòng văn học phản tư sau chiến tranh, một hiện tượng văn học phổ biến ở cả Việt Nam và Mỹ, qua đó đóng góp thêm vào những tri thức nhân văn về chiến tranh, một lĩnh vực hiện vẫn đang còn nhiều khoảng trống Chiến tranh

là một đề tài phổ quát và vĩnh hằng trong đời sống con người Cách thức từng dân tộc, từng cá nhân phản ứng trước hiện thực khốc liệt này, đặc biệt là thông qua sáng tác nghệ thuật, có thể giúp chúng ta hiểu biết thêm về văn hóa riêng của mỗi quốc gia, nhận biết được những đặc tính phổ quát toàn nhân loại,đồng thời hé lộ những khía cạnh khuất lấp của nhân tính con người

2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các tác phẩm tiểu thuyết viết về chiến tranh Việt Nam thời hậu chiến trong văn học Việt Nam và Mỹ, những chủ đề chính yếu, những khuynh hướng nghệ thuật và những quan điểm giá trị trong các sáng tác văn học này

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Do những điều kiện hạn hẹpvề mọi phương diện, chúng tôi chỉ có thể đi sâu khảo sát một bộ phận trong khối lượng sáng tác đồ sộ này Luận án tập trung chủ yếu vào những tiểu thuyết tiêu biểu của các nhà văn - cựu binh của cả hai phía, những người có kinh nghiệm thực tế trên chiến trường, trải nghiệm một cách trực tiếp chiến tranh và vì vậy xác lập một thẩm quyền nhất định khi sáng tác về đề tài này Vì những nguyên nhân khách quan và chủ quan, chúng tôi chưa thể đề cập tới những sáng tác của các tác giả phía Việt Nam Cộng hòa, một góc nhìn đến nay vẫn còn chưa được quan tâm đúng mực

Trang 11

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án lý giải các hiện tượng văn học này từ bối cảnh đặc thù của giai đoạn hậu chiến ở mỗi quốc gia, làm sáng tỏ những ảnh hưởng của văn hóa, truyền thống, lịch sử của mỗi dân tộc tới quá trình sáng tạo nghệ thuật, đi sâu phân tích từng tác phẩm cụ thể để làm nổi rõ những vấn đề liên quan Từ góc nhìn đối sánh, luận án chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt của hai dòng tiểu thuyết qua đó làm sâu

sắc thêm nhận thức về cuộc chiến từ góc độ văn chương

4.Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện, luận án sử dụng một số phương pháp nghiên cứu

cơ bản sau:

- Phương pháp tiếp cận từ góc độ văn hóa học: nhằm chỉ ra những đặc trưng của văn hóa chiến tranh tác động tới sáng tác văn học thời chiến và giai đoạn hậu chiến,làm rõ những ảnh hưởng của văn hóa Việt Nam và Mỹ tới các sáng tác tiểu thuyết thời hậu chiến

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học:nhằm chỉ ra những mô thức nghệ thuật trong các sáng tác tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam thời hậu chiến, phân tích những đặc trưng về thẩm mỹ của các tác phẩm này

- Phương pháp xã hội học văn học:để lý giải và cắt nghĩa những sáng tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam thời hậu chiến trong bối cảnh xã hội đương thời

- Phương pháp so sánh: để làm rõ được những điểm tương đồng và khác biệt của hai dòng tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam thời hậu chiến trong văn học Việt Nam và Mỹ

Trang 12

-Phương pháp nghiên cứu liên ngành: luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu văn học kết hợp với lịch sử, chính trị học, xã hội học, tâm lý học, phân tâm học, nhân loại học để tiếp cận và phân tích đối tượng nghiên cứu

5 Đóng góp mới của luận án

Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống các tác phẩm tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam thời hậu chiến trong văn học Việt Nam và Mỹ

từ góc nhìn so sánh với tham vọng nhìn nhận sự phản ánh cuộc chiến trong văn học

từ cả hai phía,làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt của hai dòng văn học trong cách thức lý giải và cắt nghĩa, cách thức suy cảm và tái hiện chiến tranh Từ những quan điểm nghiên cứu mới mẻ dưới góc độ văn hóa học và thi pháp học, luận

án soi sáng lại những hiện tượng văn học chiến tranh quen thuộc của Việt Nam dưới những chiều kích, khía cạnhkhác biệt, đưa ra những diễn giải khác hơn so với những cách tiếp cận trước đây.Bên cạnh đó, luận án cũng là một dẫn nhập tổng quan về các sáng tác tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam ở phía Mỹ vốn không được quan tâm và biết đến nhiều trong tình hình nghiên cứu trong nước hiện nay, đồng thời cung cấp một cách đọc mang tinh thần giải thực dân từ quan điểm Việt Nam với các sáng tác phía Mỹ.Bởi lẽ đó, đây là một công trình mang tính chất gạch nối, bổ sung chosự khuyết thiếuở cả hai mảng nghiên cứu về văn học chiến tranh của hai quốc gia

6 Cấu trúc luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận án có cấu trúc 4 chương:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2 Tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam trong bối cảnh hậu chiến Chương 3 Những điểm tương đồng của tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam thời hậu chiến trong văn học Việt Nam và Mỹ

Chương 4 Những điểm khác biệt của tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam thời hậu chiến trong văn học Việt Nam và Mỹ

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam thời hậu chiến ở Việt Nam

Sau ngày đất nước thống nhất, cuộc chiến dai dẳng hơn hai thập niên chính thức khép lại, nhưng có lẽ sự viết về chiến tranh, theo ý nghĩa toàn vẹn của nó, chỉ mới thực sự bắt đầu Từ những sáng tác nóng hổi vừa bước ra khỏi chiến tranhtới những sáng tác với độ lùi cần thiết để mang đến một cái nhìn nhiều chiều, đa dạng

và sâu sắc hơn, dòng tiểu thuyết viết về chiến tranh thời kỳ hậu chiến có thể coi như một trong những hiện tượng tiêu biểu nhất của văn học Việt Nam sau 1975 Các sáng tác này, một mặt, kế thừa truyền thống viết về chiến tranh giai đoạn trước đó, mặt khác, đã có những cách tân lớn về cách thức tiếp cận đề tài cũng như lối viết

Sự nở rộ cả về số lượng lẫn chất lượng của các tác phẩm viết về chiến tranh cũng góp phần quan trọng trong việc đưa tiểu thuyết, từ vị trí ít nổi bật (so với thơ ca, ký hay truyện ngắn), dần trở thành thể loại trung tâm của nền văn học, phản ánh đúng đắn và đậm nét tinh thần của thời đại mới Trước hiện tượng văn học mang tính chất đột khởi đó, giới nghiên cứu, phê bình dĩ nhiên không thể đứng ngoài cuộc Từ những bài viết mang tính chất điểm sách, những cuộc tranh luận xung quanh các tác phẩm gây tiếng vang tới những công trình học thuật luận bàn, phân tích một cách nghiêm cẩn, các nghiên cứu về tiểu thuyết về chiến tranh thời kỳ hậu chiến thực sự

đã có tác động rất mạnh mẽ, tích cực tới quá trình đổi mới lý luận và phê bình văn học, như một cú hích giúp hệ thống thoát ra khỏi trạng thái trì trệ, xơ cứng tồn tại trong một khoảng thời gian dài Sự mới lạ và hết sức đa dạng, khó nắm bắt của thực tiễn văn học, như một tất yếu, đã dẫn tới sự xuất hiện của những luồng tư tưởng mới, những góc nhìn mới ngõ hầu làm sáng tỏ các đối tượng cần lý giải và định giá Nhiều trường phái nghiên cứu, phê bình đưa ra những quan điểm, phương pháp đọc

và sự luận giải tác phẩm theo những cách rất khác biệt, nhiều khi trái ngược nhau Tất cả đã góp phần tạo nên một đời sống văn học đầy sôi động và hứng khởi thời hậu chiến, đặc biệt là trong giai đoạn Đổi mới

Trang 14

Nhìn một cách tổng thể, có thể chia lịch sử nghiên cứu, phê bình những sáng tác tiểu thuyết về chiến tranh thời hậu chiến ra hai giai đoạn lớn: giai đoạn từ sau

1975 đến giữa thập niên 1980 và giai đoạn từ giữa thập niên 1980 tới nay Trong giai đoạn đầu tiên, do chưa thực sự có nhiều bứt phá, đổi mới trong sáng tác tiểu thuyết về chiến tranh và sáng tác văn học nói chung, các nghiên cứu, phê bình thời

kỳ này vẫn chủ yếu gói gọn trong hệ thống lý thuyết cũ với nhãn quan nghiên cứu Mác-xít theo quán tính truyền thống trước đó Xu hướng chính trong việc phân tích

và đánh giá văn học vẫn là đọc nội dung và bình luận trên cơ sở hiện thực Bên cạnh

đó, một số tác giả đã chú ý nhiều hơn tới phương diện hình thức nghệ thuật của các sáng tác tiểu thuyết, nhưng những tìm tòi, khám phá trên phương diện này mới chỉ dừng lại ở mức độ thoáng qua, chưa thực sự có hệ thống Từ giữa thập niên 80 của thế kỷ trước trở về sau, nghiên cứu, phê bình văn học có bước chuyển mình mạnh

mẽ, nói theo nhà phê bình Đỗ Lai Thúy, đã diễn ra một sự chuyển đổi hệ hình lý thuyết Các sáng tác tiểu thuyết viết về chiến tranh cũng được nhìn nhận lại từ những góc độ mới mẻ, khác biệt Hàng loạt những lý thuyết và cách đọc mới như thi pháp học, phân tâm học, cấu trúc thể loại được vận dụng vào việc lý giải và đánh giá những sáng tác tiểu thuyết thuộc mảng đề tài này, đem lại những nhận thức mới, có giá trị Có thể nói, đây là thời kỳ mà lý luận phê bình văn học đã thực sự đồng hành và có những tác động tích cực tới thực tiễn sáng tác văn học nói chung

và dòng tiểu thuyết viết về chiến tranh nói riêng

Khuynh hướng nghiên cứu, phê bình dựa trên quan điểm Mácxít là một cách đọc phổ biến các sáng văn học viết về chiến tranh thời hậu chiến Theo đó, vấn đề phản ánh hiện thực được đặt lên hàng đầu Tác phẩm có chân thực hay không là tiêu chí quan trọng nhất trong cách nhìn nhận và đánh giá này Bên cạnh đó, có thể thấy

rõ ở đây sự ảnh hưởng mạnh mẽ của các quan điểm chính trị chính thống Sáng tác văn học chỉ đạt tới giá trị hiện thực và nghệ thuật khi nó thể hiện được tính chất chính nghĩa của cuộc chiến tranh thống nhất đất nước vĩ đại một cách chân thực, sâu sắc Hiện thực, vì vậy, không được hiểu một cách chung chung mà mang tính khuynh hướng rất đậm nét Điều này thể hiện rõ ràng trong những bài viết điểm

Trang 15

sách và tổng kết trên các tạp chí về văn học như Mấy vấn đề của tiểu thuyết viết về

đề tài chiến tranh cách mạng [18] của Phan Cự Đệ, Đọc Năm 1975 họ đã sống như thế của Trần Hữu Tá [55], Về một vài hướng tiếp cận với đề tài chiến tranh của

Trần Cương [13], Sự thật chiến tranh và tác phẩm văn học viết về chiến tranh [22]

và Trước hết cần phân biệt rõ chiến tranh nào? của Nam Hà [23], Vài suy nghĩ về

phản ánh sự thật trong chiến tranh của Chu Lai [29], Đề tài chiến tranh cách mạng những thuận lợi và trắc trở của Nguyễn Bảo [3] Và, như một nỗ lực tổng kết các

sáng tác chiến tranh những năm 80 của thế kỷ trước dưới góc nhìn phản ánh luận,

nhà nghiên cứu Đinh Xuân Dũng cho xuất bản tập tiểu luận phê bình Hiện thực

chiến tranh và sáng tạo văn học [15] Bên cạnh đó, những tác phẩm nào đi chệch

khỏi quỹ đạo chính thống đều bị phê phán, phủ định Khi nhận xét về tiểu thuyết

Sao đổi ngôi của Chu Văn, Nguyễn Văn Lưu bác bỏ cái nhìn khác biệt mang màu

sắc cá nhân về chiến tranh của tác phẩm: “Cái nhìn về chiến tranh và người lính như vậy mới chỉ là cái bề ngoài, là cái dễ nhìn, còn rất xa bản chất” [35] Đặc biệt, khi

Nỗi buốn chiến tranh của Bảo Ninh xuất hiện và làm chấn động văn đàn, đã có hàng

loạt những ý kiến chỉ trích gay gắt tác phẩm vì xuyên tạc, bóp méo sự thật Nhà

nghiên cứu Đỗ Văn Khang lên án tác phẩm trong bài tiểu luận phê bình Nghĩ gì khi

đọc Thân phận tình yêu [27]; và gần mười năm sau đó, khi đánh giá lại những thành

tựu văn học thời đổi mới, ông vẫn gọi đó là loại “văn mộng du” và kiên quyết khẳng

định rằng Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh có cái nhìn lệch lạc, bệnh hoạn và

phiến diện về “bản chất cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc” [27, tr 111-114] Ngoài ra, bên cạnh xu hướng tập trung vào xem xét và phân tích nội dung tác phẩm

để đối chiếu với hiện thực, một số nhà nghiên cứu, phê bình cũng đã cố gắng chú ý tới những yếu tố về mặt hình thức, tổ chức của các sáng tác tiểu thuyết Bùi Việt Thắng đi sâu vào phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật, đặc biệt nhấn mạnh tới mối quan hệ giữa sự kiện lịch sử và tâm lý con người như một nét đổi mới khác biệt của tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975 [58] Lại Nguyên Ân chỉ ra “thủ pháp

trao quyền kể chuyện” cho nhân vật giúp cho Sao đổi ngôi của Chu Văn “vừa có cốt

cách dân gian lại vừa giữ được những đường nét chính của tiểu thuyết hiện đại” [1]

Trang 16

Những nghiên cứu này cho thấy một nỗ lực nhằm phân tích và đánh giá các tiểu thuyết một cách toàn diện và chú trọng nhiều hơn tới những phương diện nội tại của tác phẩm thay vì chỉ tập trung vào đối chiếu với những yếu tố bên ngoài

Tiếp cận từ góc độ thi pháp học là một khuynh hướng khác trong nghiên cứu, phê bình các sáng tác tiểu thuyết về chiến tranh thời hậu chiến Đây là một hướng đi mới mẻ trong nghiên cứu, phê bình văn học, chỉ thực sự xuất hiện và nở rộ trong giai đoạn sau đổi mới Dường như đối lập với quan điểm phản ánh luận Mácxít ngự trị trước đó vốn chỉ tập trung vào nội dung hiện thực, thi pháp học dựa trên nền tảng phân tích kĩ lưỡng các bình diện hình thức nội tại của tác phẩm, lý giải và tìm ra ý nghĩa sâu xa của chúng trong quá trình hình thành nên chỉnh thể nghệ thuật văn chương Hàng loạt những nghiên cứu, phê bình theo phương pháp này tập trung sự

chú ý đặc biệt vào Nỗi buồn chiến tranhcủa Bảo Ninh, một tác phẩm “rối rắm”,

phức tạp và khó đọc nhất của văn học giai đoạn đổi mới Cuốn tiểu thuyết như một thứ “thuốc thử” cho công hiệu và tính chính đáng của trường phái lý luận phê bình mới mẻ này Với ngòi bút kết hợp nhuần nhuyễn sự tài hoa nghệ sỹ và tinh thần khoa học nghiêm túc, Đỗ Đức Hiểu cho rằng Bảo Ninh đã “xây dựng, sáng tạo một thế giới chiến tranh cá tính hóa triệt để” Nhà nghiên cứu nhấn mạnh tính chất chỉnh thể, độc lập về mặt nghệ thuật của tác phẩm để từ đó đi sâu vào khám phá những yếu tố thuộc về hình thức Về mặt kết cấu, tác phẩm là sự tổng hòa của ba yếu tố tình yêu, chiến tranh, nghệ thuật, mà ông ví như ba “nhịp” của một bài ca Bên cạnh

đó, Đỗ Đức Hiểu cũng chú trọng đến việc khảo sát hệ thống từ ngữ được sử dụng trong tác phẩm làm nổi bật lên những nét đặc sắc trong nghệ thuật của cuốn tiểu thuyết Bài viết của tác giả với những nhận định và phát hiện hết sức tinh tế, mang tính chất mở đường, đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề thuộc về phương diện nghệ thuật

của tác phẩm [25, tr 265-271] Trong tiểu luận Thời gian trong Thân phận của tình

yêu, nhà nghiên cứu Đào Duy Hiệp lại tiến hành khảo sát hết sức công phu và tỉ mỉ

các phương thức tổ chức thời gian trong tiểu thuyết Tác giả quan tâm đến sự sai trật

tự niên biểu, các thủ pháp nghệ thuật liên quan đến thời gian như hồi cố hay đón trước; đồng thời chỉ ra cấu trúc thời gian cốt truyện, như là sự đồng hành của “thời

Trang 17

gian trải nghiệm” và “thời gian tâm linh”, là một nét đặc sắc của tác phẩm Những phân tích nghiêm túc và hết sức chi tiết về thời gian trong tiểu thuyết đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề nội tại ẩn sâu trong cấu trúc tác phẩm [24, tr 267-289] Từ một góc

nhìn khác, Nguyễn Đăng Điệp trong tiểu luận Kĩ thuật dòng ý thức qua Nỗi buồn

chiến tranhcủa Bảo Ninh tập trung vào phương diện kết cấu nghệ thuật của tác

phẩm Nhà nghiên cứu chỉ ra thủ pháp nghệ thuật chủ đạo được nhà văn sử dụng là lối viết theo dòng ý thức và đưa ra nhận định về kỹ thuật viết này trong tiểu thuyết của Bảo Ninh trong sự đối sánh với các nhà văn cả ở trong nước và trên thế giới Từ

đó, nhà nghiên cứu cho rằng trong văn học Việt Nam, Bảo Ninh, với cuốn tiểu thuyết của mình, lần đầu tiên đã vận dụng một cách triệt để kĩ thuật dòng ý thức như một nguyên tắc nghệ thuật chi phối toàn bộ cách thức tổ chức tác phẩm [35, tr 399-

408] Phạm Xuân Thạch trong tiểu luận Nỗi buồn chiến tranh: Viết về chiến tranh

thời hậu chiến – từ chủ nghĩa anh hùng đến nhu cầu đổi mới bút pháp cũng đưa ra

một nhận định tương đồng khi cho rằng Nỗi buồn chiến tranh mang dáng dấp của

một tiểu thuyết dòng tâm tưởng theo kiểu phương Tây Đồng thời, nhà nghiên cứu còn chỉ ra những đặc điểm trong kết cấu tác phẩm như sự thiếu vắng các xung đột bên ngoài giữa người với người, việc tiểu thuyết không được phân chia thành chương hồi một cách rành mạch, sự phi nhân quả hay phi trật tự thời gian của các sự kiện, hồi ức… và đặc biệt là khuynh hướng “hướng nội và chủ quan hóa triệt để” trong tiểu thuyết Ngoài ra, thông qua những phân tích xác đáng, thuyết phục, Phạm Xuân Thạch đã làm sáng tỏ ý nghĩa biểu tượng ẩn sâu của các nhân vật trong tiểu thuyết Theo sự phân loại của nhà nghiên cứu, xoay quanh Kiên, nhân vật chính trong tác phẩm, có ba tuyến nhân vật: những người phụ nữ, những đồng đội và những người thân (cha, mẹ, dượng) Từ đó, Phạm Xuân Thạch lý giải vai trò, cùng những giá trị biểu trưng của từng loại hình nhân vật đó trong tiểu thuyết Có thể thấy, thi pháp học, mà cốt lõi là một cách đọc sâu tác phẩm văn học trong tính chỉnh thể, tự trị và độc lập của nó, đã đem lại những kiến giải mới mẻ, độc đáo, rất có giá trị về những sáng tác tiểu thuyết chiến tranh thời hậu chiến mà đặc biệt và tiêu biểu

nhất là Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh [35, tr 236-251]

Trang 18

Kể từ giai đoạn đầu Đổi mới, với chính sách cởi mở, tự do hơn với các giá trị khác biệt, hàng loạt những trước tác kinh điển về mặt học thuật trong lĩnh vực nghiên cứu văn chương trên thế giới lần lượt được chuyển ngữ sang tiếng Việt, tạo nên một sự kích thích rất lớn cho nền lý luận phê bình Trong số đó, những công trình của nhà ngữ văn Nga Bakhtin có lẽ là nổi bật và có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất Hướng đi của Bakhtin, nghiên cứu lịch sử và đặc trưng của các thể loại văn học (cái theo ông mới là là “nhân vật chính” thực sự của tấn kịch văn học), dần trở thành một phương pháp được nhiều học giả Việt Nam tiếp thu và ứng dụng Những sáng tác tiểu thuyết viết về chiến tranh thời kỳ hậu chiến cũng nhanh chóng trở thành đối tượng nghiên cứu, phê bình từ góc nhìn thể loại Bùi Việt Thắng, trong tiểu luận

Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 – nhìn từ góc độ thể loại, đã đưa ra một nhận xét xác

đáng về sự chuyển đổi từ hình thức “vĩ mô” của cấu trúc theo hướng lịch sử-sự kiện sang hình thức “vi mô” của lịch sử-tâm hồn trong sự vận động của thể loại tiểu thuyết nói chung và các sáng tác viết về chiến tranh nói riêng [35, tr 182-191] Theo đó, trong các tiểu thuyết viết sau năm 1980, đặc biệt là từ giai đoạn Đổi mới trở đi, những yếu tố thuộc về tâm lý cá nhân, thuộc về thế giới bên trong của con

người được khai thác triệt để và trở thành trung tâm của tiểu thuyết Nỗi buồn chiến

tranhcủa Bảo Ninh, theo quan điểm của nhà nghiên cứu, là một tác phẩm điển hình

cho khuynh hướng này Nhà văn Nguyên Ngọc, trong bài viết Văn xuôi Việt Nam

hiện nay – lôgic quanh co của các thể loại, những vấn đề đang đặt ra và triển vọng,

lại chú ý tới tính chất đối thoại, như một đặc trưng riêng biệt của văn xuôi và đặc

biệt là thể loại tiểu thuyết, tồn tại trong những sáng tác thời kỳ hậu đổi mới mà Nỗi

buồn chiến tranh là một ví dụ tiêu biểu Sự đối thoại hóa, trong cả cấp độ tổ chức

tác phẩm lẫn từng lời văn, là một biểu hiện của “sự lưỡng lự hiền minh” chối từ mọi kết luận và phán quyết chắc chắn, độc đoán, phiến diện về cuộc sống và con người

Đó là biểu hiện cao nhất của tinh thần dân chủ, đa nguyên – linh hồn của giai đoạn đổi mới với biểu hiện bên ngoài của nó là sự trỗi dậy mãnh liệt của các thể loại văn xuôi đặc biệt là tiểu thuyết [35, tr 161-181] Nguyễn Thanh Tú lại đưa ra một cái nhìn khác khi khảo sát tiến trình vận động của cái mà nhà nghiên cứu gọi là thể loại

Trang 19

“tiểu thuyết sử thi” trong một thời kỳ rất dài từ 1945 đến nay Theo đó, dựa trên độ đậm nhạt khác nhau của chất sử thi, tác giả mô hình hóa sự vận động và phát triển

của thể loại này như “một dao động hình sin, điểm bắt đầu là Xung kích, Con trâu,

Vùng mỏ…, lên cao với Đất nước đứng lên và cực đại là Dấu chân người lính… rồi

đi xuống đến cực tiểu là Nỗi buồn chiến tranh… và đi lên với Đất trắng, Chim én

bay, Ăn mày dĩ vãng, Ngày rất dài, Những bức tường lửa, Thượng Đức, Xiêng Khoảng mù sương, Xuân Lộc…” [67] Tham vọng học thuật và sự khảo sát công

phu của nhà nghiên cứu là một điều đáng khích lệ, nó đã cho thấy được phần nào những đường nét chính trong tiến trình vận động những sáng tác tiểu thuyết viết về chiến tranh kể từ 1945 đến nay, mặc dù việc xếp một số tác phẩm vào thể loại tiểu thuyết sử thi vẫn còn là một vấn đề đáng bàn Nghiên cứu tiểu thuyết viết về chiến tranh từ góc độ thể loại quả thực là một đường hướng nghiên cứu vừa toàn diện bao quát, vừa tập trung vào được những đặc trưng căn cốt nhất của văn chương nghệ thuật

Bên cạnh đó, một số hướng nghiên cứu mới mẻ ảnh hưởng từ các trường phái lý luận phê bình phương Tây hiện đại như phân tâm học, nữ quyền luận… cũng được các nhà nghiên cứu áp dụng khi đề cập tới vấn đề tình dục trong các sáng tác tiểu thuyết viết về chiến tranh thời hậu chiến, một chủ đề gần như là cấm kỵ suốt thời gian dài trước đó Đoàn Cầm Thi khi phân tíchvấn đề tình dục qua các tác phẩm viết về chiến tranh của Nguyễn Minh Châu, Võ Thị Hảo, Dương Hướng, Võ Thị Xuân Hà, đưa ra một kết luận đáng chú ý: “Các tác giả đều tập trung phân tích những tổn thất do chiến tranh gây ra về mặt tình yêu và tình dục (…) khi viết về bi kịch cá nhân trong và sau chiến tranh, các nhà văn Việt đã linh cảm được vai trò thiết yếu của vô thức, của giấc mộng, của ám ảnh nhục dục trong tâm lý con người” [60] Nguyễn Thị Xuân Dung cũng nhận thấy ở những trang viết về bản năng tính dục trong các sáng tác về chiến tranh một ý nghĩa nhân bản:

Trong tiểu thuyết viết về chiến tranh từ 1986-1996, ta thấy hầu như tác phẩm nào cũng có đề cập đến chuyện bản năng, tình yêu - tình dục của con người và thể hiện nó một cách tự nhiên, chân thực Điều đó càng

Trang 20

phản ánh rõ hơn bộ mặt trần trụi của chiến tranh và số phận khốc liệt của con người trong hiện thực tàn bạo ấy, qua đó hợp lý hóa đời sống bản năng của con người, đề cao nó trong một tinh thần nhân văn cao đẹp; lên

án, phê phán chiến tranh là một thế lực phi nhân tính đã tước đoạt, cướp mất của con người quyền được sống với chính những nhu cầu bình thường và thiết yếu của họ [14]

Sự xuất hiện của những tiếng nói tương đối mới mẻ, khác lạ trong nghiên cứu, phê bình văn học này là một dấu hiệu tích cực, cung cấp những cái nhìn đa chiều và đa dạng hơn về những sáng tác văn học chiến tranh

Ngoài ra, hailuận án tiến sĩ văn họcTiểu thuyết về chiến tranh trong văn học

Việt Nam sau 1975 – những khuynh hướng và sự đổi mới nghệ thuật (2012)của

Nguyễn Thị Thanh bảo vệ tại Đại học Sư phạm Hà Nội vàTiểu thuyết Việt Nam sau

1975 viết về chiến tranh (2015) của Ngô Thị Quỳnh Nga bảo vệ tại Viện Hàn lâm

Khoa học Xã hội Việt Nam có thể coi như những công trình học thuật đầu tiên tại Việt Nam đặt vấn đề nghiên cứu các sáng tiểu thuyết về chiến tranh một cách tổng thể và hệ thống Hai luận án đã tổng hợp và khái quát được một số đặc điểm và khuynh hướng vận động của dòng tiểu thuyết chiến tranh sau 1975, đưa ra một số kiến giải có giá trị về các tác phẩm riêng lẻ

1.2 Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam thời hậu chiến ở

Mỹ

Với người Mỹ, chiến tranh Việt Nam không chỉ đơn thuần là một cuộc xung đột vũ trang, hơn thế rất nhiều, nó đã trở thành một “não trạng”, một nỗi ám ảnh khôn nguôi Viết về cuộc chiến, vì vậy, là một nhu cầu tự thân, một thôi thúc nội tại với tất cả những ai đã từng chia sẻ cái trải nghiệm chung thấm thía đó Hơn bất cứ cuộc chiến tranh thời hiện đại nào khác mà nước Mỹ từng can dự, Việt Nam là sự kiện sản sinh ra khối lượng sáng tác văn học đồ sộ nhất, đa dạng và phức tạp nhất với số lượng tác phẩm ngày càng gia tăngtheo thời gian Dường như ngay cả khi cuộc chiến đã kết thúc một thời gian khá dài, người Mỹ vẫn không ngừng suy tư, trăn trở về đề tài này Trong tổng thể các sáng tác văn học đó, tiểu thuyết chiếm số

Trang 21

lượng áp đảo và đạt nhiều thành tựu đáng kể hơn cả Sáng tác tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam đã trở thành một trào lưu rộng khắp, một dòng chảy liên tục trong đời sống văn học Mỹ Đứng trước một hiện tượng nổi bật như vậy, nhiều nhà nghiên cứu đã cho ra đời những công trình với tham vọng tổng kết, khát quát những đặc trưng cơ bản, phân tích những tác phẩm tiêu biểu và định giá chất lượng nghệ thuật của dòng tiểu thuyết viết về chiến tranh Việt Nam

Philip Beidler trong chuyên luận Văn học Mỹ và trải nghiệm Việt Nam [83]

đã xác định đối tượng nghiên cứu của mình là “sự cắt nghĩa mang tính văn chương” của người Mỹ về cuộc chiến tại Việt Nam Đó có thể coi như một nỗ lực của các nhà văn và cả độc giả nhằm tìm kiếm một ý nghĩa mang tính cá nhân hay tập thể cho tất cả đống bộn bề đầy mập mờ, rối rắm, hỗn độn mà chiến tranh gây ra Một cách gián tiếp, đó cũng có thể được coi như một sự thanh tẩy cảm xúc của những người lính-nhà văn từng tham chiến và cả dân tộc của họ thông qua việc tái hiện lại trải nghiệm chiến tranh Bên cạnh đó, Beidler chỉ ra ảnh hưởng của những huyền thoại phổ biến và truyền thống văn học Mỹ tới các sáng tác về Việt Nam Khi viết

về đề tài này, các tác giả, dù ý thức hay vô thức, đã hòa trộn những cái nhìn mới với những huyền thoại truyền thống được tạo lập từ trước Nhiều yếu tố trong văn học

về trải nghiệm Việt Nam đã được định hình từ trước ở những sáng tác của các nhà văn Mỹ tiền bối như James Fenimore Cooper, Mark Twain, và Herman Melville; chẳng hạn như những câu chuyện lịch sử về quá trình khai khẩn và định cư được viết bởi những người thực dân đầu tiên hay những huyền thoại muộn hơn xung quanh đời sống ở miền Tây nước Mỹ Beidler tiếp tục khảo sát tiến trình của văn học chiến tranh Việt Nam, từ giai đoạn sơ khởi những năm 1958-1970, thời kỳ trung gian 1970-1975, và giai đoạn hậu chiến sau 1975 với sự xuất hiện của những

sáng tác văn học mới Trong công trình tiếp theo của mình, Viết lại nước Mỹ: Thế

hệ những tác giả văn học chiến tranh Việt Nam [84], Beidler lại tiến hành nghiên

cứu một cách toàn diện tiểu sử, sự nghiệp văn chương và tác phẩm của các cây bút nổi bật nhất trong dòng văn học chiến tranh Việt Nam tại Mỹ Họ đa số là những cựu binh từng tham gia cuộc chiến và sáng tác sau khi chiến tranh kết thúc Cuốn

Trang 22

sách được chia thành bốn phần lớn tương ứng với các thể loại chính: ở tiểu thuyết, Beidler tập trung vào những tác giả như Tim O’Brien, Philip Caputo, Robert Olen Butler, James Webb, Winston Groom, Larry Heinemann; ở kịch, là David Rabe; ở thơ, là John Balaban, W D Ebrbart, David Huddle, Yusef Komunyakaa, Walter McDonald, Bruce Weigl; và ở tự truyện, là Gloria Emerson, Frances Fitzgerald, Robert Stone, Michael Herr Những nghiên cứu của Philip Beidler mang tính tổng hợp và khái quát cao; đó vừa như những giới thiệu cơ bản, lại vừa là những cuốn lược sử về văn học chiến tranh Việt Nam của người Mỹ

Trong công trình Bước đầu nghiên cứu: Những tự sự Mỹ về Việt Nam[132],

Thomas Myers đưa ra những ngữ cảnh để có thể hiểu được nội dung và hình thức của các tự sự Mỹ về chiến tranh Việt Nam Myers khảo sát những huyền thoại và tín điều cũng như truyền thống văn học Mỹ (cụ thể là dòng tiểu thuyết lịch sử và chiến tranh) tác động tới các tác phẩm này Ông cho rằng những sáng tác về Việt Nam hay nhất là những tác phẩm vượt qua được thứ chủ nghĩa hiện thực trận mạc đơn thuần để kết nối hay tương tác với những yếu tố lịch sử, văn hóa, văn học, những huyền thoại phổ biến hay những cuộc chiến trước đó của nước Mỹ Chính vì vậy, trong các tự sự này, chiến tranh Việt Nam mặc dù có vẻ như một trải nghiệm hoàn toàn khác biệt, thực chất lại thể hiện một sự tiếp nối và phát triển một số truyền thống lâu bền của người Mỹ; do đó, trải nghiệm mang tính dân tộc này cần đến cả văn bản lẫn những ngữ cảnh bên ngoài để có thể thấu hiểu trọn vẹn Tiếp theo, Myers khảo sát những chủ đề và phương thức biểu hiện cốt yếu trong những tự sự hay nhất về chiến tranh Việt Nam của các tác giả Mỹ Ông chỉ ra rằng các tác phẩm theo xu hướng hiện thực chủ nghĩa thuần túy, thường xuất hiện ở thời điểm đầu giai đoạn hậu chiến, mặc dù gây ấn tượng mạnh với độc giả qua những trải nghiệm và cảm xúc mãnh liệt của chiến trận, song, dường như lại quá bị ám ảnh bởi tiểu tiết

mà quên mất việc tái dựng lại bối cảnh rộng hơn hay đưa đến những ý nghĩa chiêm nghiệm sâu sắc Những tác phẩm này, vì vậy, thường trở thành một thứ hiện thực

ảnh chụp hay một dạng cứ liệu giản đơn Những sáng tác thành công hơn, như Một

ngày rất nóng(One Very Hot Day) của David Halberstam hay Thung lũng thứ

Trang 23

13(The 13 th Valley)của John Del Vecchio, sẽ kết hợp nhuần nhuyễn hiện thực với

hư cấu; chúng không chỉ dừng lại ở những chi tiết của cá nhân mà còn liên hệ tới cả những trải nghiệm tập thể; chúng chọn lọc, sắp xếp các yếu tố một cách tinh tế và đưa ra những đánh giá sâu sắc hơn Trong những cuốn tự truyện nổi tiếng về cuộc

chiến tại Việt Nam, như Nếu tôi chết trên chiến trường(If I Die in a Combat Zone) của Tim O’Brien hay Lời đồn chiến tranh(A Rumor of War) của Philip Caputo,

Myers nhận thấy các tác giả cố gắng đưa ra những lời bộc bạch chân thành và bài học lịch sử qua việc đối chọi hiện thực trực tiếp mà bản thân trải nghiệm với những

mô thức quen thuộc về chủ nghĩa anh hùng, lý tưởng đạo đức và hành động của người Mỹ Cả O’Brien và Caputo đều hoài nghi và phủ định những giá trị chiến tranh như lòng dũng cảm, sự hy sinh, tính chính đáng… được khắc họa tràn ngập trong lịch sử và những huyền thoại phổ biến của phương Tây Tác phẩm của họ là những lời đối thoại, thách thức lại cả một truyền thống lãng mạn hóa và lý tưởng hóa chiến tranh của người Mỹ, vạch trần mặt nạ của sự lừa mị và phơi bày sự thật trần trụi Theo Myers, những binh lính Mỹ tại Việt Nam phải đối diện với những nghịch lý quái gở Họ cảm thấy đồng thời vừa là thủ phạm, vừa là nạn nhân của cuộc chiến tàn bạo này Những người lính như bị mắc kẹt trong một cỗ máy chiến tranh độc đoán bất lường, những đợt hành quân và chiến dịch vô mục đích, cùng những lập luận nực cười theo kiểu: cần phải san phẳng những ngôi làng để bảo vệ chúng Đối diện với những hiện thực nghịch dị đó, nhiều tác giả, chẳng hạn như

Gustav Hasford trong Lính sắp xuất ngũ (The Short-Timers) hay Charles Durden trong Không kèn, không trống(No Bugles, No Drums), đã sử dụng hài hước đen

(black humor) như một thủ pháp nghệ thuật chủ đạo nhằm lột tả tính chất phi lý của cuộc chiến Bên cạnh đó, Myers còn cho rằng chiến tranh Việt Nam, với tư cách là cuộc chiến “hậu hiện đại” đầu tiên của nước Mỹ, khiến cho những kiểu truyền đạt thông tin và tái hiện lịch sử theo truyền thống trở nên bất lực Cái đại tự sự chính thống của giới lãnh đạo, vẫn cố gắng mô tả cuộc chiến theo một chủ nghĩa lãng mạn kiểu Mỹ, đối lập chát chúa với hiện thực trên chiến trường (chẳng hạn khi họ tuyên

bố sự kiện Tết Mậu Thân là một chiến thắng mang tính quyết định của quân đội Mỹ

Trang 24

và Việt Nam Cộng hòa) Các phương tiện truyền thông như truyền hình, phát thanh cũng không thể đưa ra diễn giải khác biệt về cuộc chiến Những sự thật về chiến tranh Việt Nam, những bài học rõ ràng nhất đều đã bị bỏ sót hay cố tình tảng lờ đi

Bộ máy tuyên truyền, căn bệnh “lãng quên lịch sử” của người Mỹ, cùng sự ghẻ lạnh của cộng đồng trước sự trở về của các cựu binh càng làm tình trạng hiểu lầm tai hại

về cuộc chiến trở nên trầm trọng Đứng trước những khó khăn này, các tác giả, như

Michael Herr với Những bản trình báo(Dispatches) hay Tim O’Brien với Đi tìm

Cacciato(Going After Cacciato), đã sáng tạo ra những hình thức thẩm mỹ khác lạ

để tái hiện dạng thức lịch sử mới này Họ nhấn mạnh vai trò của trí tưởng tượng trong việc lột tả sự thật, biến đổi và sáng tạo lại hiện thực nhằm tạo lập những ký ức chiến tranh, đi sâu vào những ngóc ngách tâm thức cá nhân để diễn đạt trải nghiệm cộng đồng Cuối cùng, nếu trong hai cuộc Thế chiến trước đó, binh lính Mỹ trở về với vị thế của kẻ chiến thắng giữa những cuộc chào mừng long trọng, thì những người lính bước ra từ cuộc chiến Việt Nam lại bị coi như những kẻ thất bại Nước

Mỹ, với những huyền thoại về chiến thắng và sự thành công đã làm nên bản sắc cộng đồng, không thể đón nhận những đứa con thảm hại đó Thậm chí, họ còn bị coi như những kẻ tội đồ, như chỗ để trút giận cho lương tâm và thể diện quốc gia Truyền thông và phim ảnh xây dựng hình ảnh của họ như những kẻ tâm thần, cuồng bạo, biến thái Những đau đớn thể xác và chấn thương tinh thần cũng bám riết, dằn vặt người lính nhiều năm sau chiến tranh Tất cả những khó khăn, đau khổ đó của đời sống hậu chiến được khai thác và khắc họa thấm thía trong những tác phẩm như

Trầm tư trong rừng(Meditations in Green) của Stephen Wright hay Những nỗi buồn của nước Mỹ(The American Blues) của Ward Just

Trong chuyên luận Những câu chuyện về chiến tranh Việt Nam: Sự ngây thơ

đã mất [113], Tobey Herzog cung cấp cho độc giả một sự dẫn nhập tương đối toàn

diện và hệ thống về các sáng tác tự sự Mỹ xoay quanh chiến tranh Việt Nam Herzog đưa ra năm bối cảnh chủ đề (thematic contexts) quan trọng giúp người đọc mới tiếp cận với các tác phẩm này không bị bỡ ngỡ và có thể nhanh chóng thông hiểu Thứ nhất, tiếp thu những nghiên cứu của Paul Fussell, Herzog chỉ ra tinh thần

Trang 25

mỉa mai và cấu trúc ba phần thường gặp trong các tự sự Mỹ về chiến tranh Việt

Nam, tiêu biểu là ở cuốn hồi ký Lời đồn chiến tranh của Philip Caputo và tiểu thuyết Đi tìm Cacciatocủa Tim O’Brien Chiến tranh bao giờ cũng đầy mỉa mai vì

mọi cuộc chiến đều tồi tệ hơn mong đợi, và bất kì người lính nào cũng trải qua trạng thái hy vọng tiêu tan Điều này dẫn đến cấu trúc ba phần đặc trưng cho các sáng tác

về chiến tranh, tương ứng với từng giai đoạn trải nghiệm của người lính: sự ngây thơ (innocence), trải nghiệm (experience) và suy tư (consideration) Thứ hai, Herzog chỉ ra “hội chứng John Wayne” như một yếu tố tác động mãnh liệt vào quá trình định hình những hiểu biết sai lạc về chiến tranh và Việt Nam của tầng lớp thanh niên Mỹ ngây thơ trước cuộc chiến John Wayne, một đạo diễn kiêm diễn viên ngôi sao của Hollywood, người thường vào vai những siêu anh hùng mang đậm những đặc điểm lý tưởng kiểu Mỹ, đã trở thành thần tượng của cả một thế hệ những người lính trẻ trước khi bước vào chiến tranh, tạo nên trong tâm trí họ những

ảo tưởng sâu sắc về chủ nghĩa anh hùng, tính chính nghĩa và tất thắng của quân đội

Mỹ tại Việt Nam Sự ám ảnh về John Wayne trở thành một hội chứng phổ biến của binh lính Mỹ; nhiều người trong số họ thậm chí còn không thể thoát khỏi nó ngay

cả khi chiến tranh đã kết thúc Thứ ba, nhiều tự sự về chiến tranh Việt Nam khắc họa cuộc hành trình của người lính đối diện với những nhập nhằng, lưỡng nan về đạo đức, cảm xúc, tâm lý trong cuộc chiến tại một môi trường và nền văn hóa xa lạ, phải chống chọi với những kẻ thù thường không nhìn thấy Trong hoàn cảnh chiến tranh, khi đã trút bỏ hết những ràng buộc của văn minh, họ tự nhận thấy trong chính bản thân mình cái ác, bóng tối, những cảm xúc nguyên thủy, sự hỗn loạn hoang dại

và cả nỗi kinh hoàng Thứ tư, đặt sáng tác tự sự về Việt Nam trong phạm trù rộng hơn của những truyện kể chiến tranh hiện đại, Herzog chỉ ra những cảm xúc lặp lại của đời lính về sự vô nghĩa và bất lực của bản thân trong chiến tranh, những cách thức giống nhau mà người lính trên chiến trường cảm nhận trạng thái mất mát đi sự ngây thơ, tính mục đích và khả năng tự chủ số phận, cũng như những nỗ lực của họ trong việc kiểm soát bản thân cùng hoàn cảnh Sự khảo sát này cho thấy những tương đồng và tiếp nối của các truyện kể về Việt Nam đối với dòng văn học chiến

Trang 26

tranh hiện đại cũng như một bản chất phổ quát và tình huynh đệ vĩnh cửu giữa các chiến binh Cuối cùng, Herzog chỉ ra một sự thật có tác động mạnh mẽ tới bản thân những người lính và sáng tác của họ: chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến khác biệt Đây là cuộc chiến lâu dài nhất, phức tạp nhất, tổn thất nặng nề nhất và cũng là lần thất bại duy nhất của người Mỹ Những đặc điểm riêng biệt đó khiến cho các tác giả nhiều khi cảm thấy cần đến những hình thức truyện kể khác biệt để diễn tả cuộc chiến này

Milton Bates trong công trình Những cuộc chiến chúng ta mang tới Việt Nam:

Xung đột văn hóa và truyện kể [82] lại đưa ra một hướng tiếp cận khác với các tác

phẩm tự sự về chiến tranh Việt Nam Tác giả cho rằng cuộc chiến tại Việt Nam thực chất phản ánh những vấn đề nội tại của nước Mỹ mà ảnh hưởng của chúng vươn xa tới tận những người lính trên chiến trường Bates chỉ ra đó là những xung đột văn hóa, những “cuộc chiến” nhỏ lồng trong cuộc chiến lớn, giữa những nhóm người mang viễn kiến khác nhau về sự mở rộng lãnh thổ nước Mỹ, giữa người Mỹ da đen

và người Mỹ da trắng, giữa tầng lớp hạ lưu và tầng lớp thượng lưu, giữa nam giới

và phụ nữ, và giữa hai thế hệ già trẻ của nước Mỹ Các xung đột xoay quanh những vấn đề về biên giới, chủng tộc, giai cấp, giới tính và thế hệ này tác động tới những sáng tác truyện kể về chiến tranh Việt Nam cả trên phương diện nội dung lẫn hình thức nghệ thuật Trước hết, Bates cho rằng cuộc chiến tại Việt Nam thực ra chỉ là một sự tiếp nối tự nhiên của cái gọi là “vận mệnh hiển nhiên” (manifest destiny), một quan điểm hình thành vào thế kỷ XIX về tính chính đáng và tất yếu phải mở rộng lãnh thổ của nước Mỹ ra toàn châu lục mà trọng tâm là bành trướng về phía Tây Ý tưởng này dựa trên một niềm tin đoan chắc vào sự vượt trội của những giá trị Mỹ cũng như nghĩa vụ phải truyền bá, phổ biến rộng rãi những điều tốt đẹp đó Những binh lính tham chiến tại Việt Nam, vì vậy, cũng mang sứ mệnh đạo đức và tinh thần cao cả, hệt như những tổ tiên từ thế kỷ trước của họ đã chinh phục và khai hóa cho những thổ dân châu Mỹ Sự chia rẽ của người Mỹ trong việc can thiệp quân

sự vào Việt Nam, ủng hộ hay phản đối cuộc chiến, thực chất phản ánh những tranh luận, mâu thuẫn xung quanh quan điểm trên Bên cạnh đó, Bates nhận thấy rằng

Trang 27

chiến tranh Việt Nam diễn ra vào đúng thời điểm mà nước Mỹ đang đứng trước một bước ngoặt trong ý thức về chủng tộc, khi những xung đột về màu da đã trở nên căng thẳng tột độ, cần phải được giải quyết triệt để Thái độ phân biệt, kỳ thị chủng tộc cũng như quá trình hòa nhập và được chấp nhận của người da đen vào cộng đồng chung của nước Mỹ, như những đối lập gay gắt, được thể hiện rõ nét qua đời sống binh lính tại Việt Nam Tiếp theo, dựa trên quan điểm Mácxít về lao động, tha hóa và bóc lột, Bates đã chỉ ra cách thức mà tầng lớp bần cùng bị sử dụng như công

cụ để đạt tới mục đích của những kẻ thống trị trong chiến tranh Việt Nam Những người lính bị lợi dụng và coi rẻ thậm chí còn hơn cả những thứ vũ khí và máy móc

mà họ được trang bị Quá trình bóc lột nặng nề này không chỉ trong chiến tranh mà còn tiếp tục kéo dài suốt thời kỳ hậu chiến Tất cả những sự bất công đó phản ánh những phân hóa giai cấp sâu sắc trong xã hội Mỹ Từ một góc nhìn khác, áp dụng quan điểm và phương pháp nghiên cứu của các nhà nữ quyền luận, Bates đặt ra vấn

đề thú vị về nam tính và chiến tranh Theo đó, ông chỉ ra rằng những hình ảnh phụ

nữ trong chiến tranh Việt Nam đều được nhìn nhận và tạo lập dưới con mắt của nam giới, và do đó, bị áp đặt bởi những giá trị nam quyền Họ bị xem như những công cụ xác thịt nhằm thỏa mãn nhu cầu giải tỏa và giải trí của đàn ông trong chiến tranh

Ẩn sâu sau đó là những mâu thuẫn, xung đột âm ỉ mà không kém phần dữ dội giữa đàn ông và phụ nữ cũng như vấn đề bình đẳng giới đang nổi cộm tại nước Mỹ vào thời điểm này Về vấn đề xung đột thế hệ, Bates viện dẫn tới lý thuyết của Freud để phân tích những căng thẳng trong mối quan hệ giữa những người cha từng chiến thắng trong Thế chiến II và những người con bị cưỡng ép phải gia nhập vào cuộc chiến tại Việt Nam

Trong công trình Can dự và viết về chiến tranh Việt Nam [143], Donald

Ringnalda chỉ ra một niềm tin sai lầm của cả nhiều nhà văn và nhà nghiên cứu về văn học chiến tranh Việt Nam khi họ cố gắng tìm một logic, ý nghĩa và trật tự cho cuộc chiến đặc biệt này Trái lại, Ringnalda cho rằng cần phải chấp nhận thực tế rằng chiến tranh Việt Nam, với người Mỹ, là một trải nghiệm vô nghĩa,hỗn độn và phi lý Ringnalda chứng minh luận điểm của mình thông qua việc khảo sát và phân

Trang 28

tích những tác phẩm mà theo ông phản ánh đầy đủ hơn cả tính chất chân xác này của cuộc chiến ở những tác giả như Stephen Wright, Michael Herr, Tim O'Brien, Peter Straub, Bill Ehrhart, John Balaban, Walter McDonald, Yusef Komunyakaa, Bruce Weigl, D F Brown, Emily Mann, David Rabe, Amlin Gray, Arthur Kopit,

and Steve Tesich Jim Neilson trong Tiểu thuyết chiến tranh: Văn hóa văn chương

Mỹ và truyện kể về Việt Nam [133] nghiên cứu quá trình tiếp nhận các sáng tác văn

xuôi hư cấu về chiến tranh Việt Nam Tác giả chỉ ra ảnh hưởng của ý thức hệ, các tập đoàn xuất bản, truyền thông đại chúng, giới hàn lâm tới các nghiên cứu, đánh

giá về mảng văn học này Philip Melling, ở công trình Việt Nam trong văn học Mỹ

[128], nghiên cứu các sáng tác văn học về chiến tranh Việt Nam trong tương quan

với truyền thống Thanh Giáo của nước Mỹ Ở công trình Chiến tranh Việt Nam

trong lịch sử, văn học và điện ảnh [151], Mark Taylor tiến hành một nghiên cứu

liên ngành đa lĩnh vực để khảo sát sự thể hiện chiến tranh Việt Nam trong đời sống văn hóa tinh thần nói chung của người Mỹ

Bên cạnh một số công trình mang tính chuyên khảo kể trên, những tiểu luận riêng lẻ về những vấn đề của tiểu thuyết chiến tranh Việt Nam còn được tập hợp

trong một số tuyển tập nghiên cứu gồm nhiều tác giả như Tìm và diệt: Tuyển tập

nghiên cứu, phê bình các tác phẩm văn học và điện ảnh về chiến tranh Việt Nam

[147], Mười bốn bãi đáp: Những hướng tiếp cận văn học chiến tranh Việt Nam [116], Tái khám phá nước Mỹ: Tuyển tập tiểu luận phê bình văn học và điện ảnh về

chiến tranh Việt Nam [102]

Ngoài ra, cũng phải kể đến một số luận án tiến sĩ tiêu biểu ở các trường đại học của Mỹ về các vấn đề nghiên cứu có liên quan tới văn học chiến tranh Việt

Nam như Những hướng tiếp cận phê bình với nghiên cứu văn hóa Mỹ: Chiến tranh

Việt Nam trong lịch sử, văn học và điện ảnh (1987) của Martin Victor tại Đại học

Iowa, Ghi nhớ và sống sót: Sự tái hiện chiến tranh Việt Nam và những hậu quả của

nó trong tiểu thuyết Mỹ-Phi(2003) của Shirley Hanshaw tại Đại học Mississippi, Đa bội các khả thể: Tim O’Brien và sự biến đổi kinh nghiệm Việt Nam(2003) của

Christen Clark tại Đại học Bang Michigan, Văn học, sân khấu và điện ảnh về chiến

Trang 29

tranh Việt Nam dưới góc nhìn hậu hiện đại và hậu thực dân (2003) của Lori Reagan

tại Đại học Auburn, “Nó ở đó”: Viết về bạo lực trong ba tiểu thuyết chiến tranh

hiện đại của Mỹ (2004) của Stacey Peebles tại Đại học Texas Austin, “Viết một câu chuyện về chiến tranh”: Những sáng tác của các nữ nhà văn Mỹ về chiến tranh Việt Nam (2004) của Danielle Hinrichs tại Đại học Claremont

1.3 Triển vọng nghiên cứu tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam thời hậu chiến

từ góc độ so sánh

Trong suốt một thời gian dài, những nghiên cứu về văn học chiến tranh Việt Nam thời kỳ hậu chiến bị bó hẹp trong khuôn khổ quốc gia - dân tộc của mỗi bên tham chiến Những câu chuyện cùng những trải nghiệm chiến tranh được nhìn nhận, cắt nghĩa và lý giải như một di sản riêng biệt của Việt Nam hay Mỹ Hiện tượng này

có nhiều nguyên nhân Trước hết, do hoàn cảnh chiến tranh kéo dài cùng những hận thù và đối nghịch gay gắt, những tiếng nói khác biệt từ phía bên kia nhiều khi gây nên sự khó chịu, thậm chí xúc phạm đối với nhiềungười tiếp nhận Việc nghiên cứu những sáng tác của những người đồng bào thân thuộc bao giờ cũng dễ dàng hơn so với những kẻ thù xa lạ.Thứ nữa, trong suốt thời gian chiến tranh và khá lâu sau đó,

sự hiểu biết về ngôn ngữ và văn hóa giữa Việt Nam và Mỹ còn hết sức hạn chế khiến cho việc tiếp nhận các sáng tác văn học, vốn dĩ yêu cầu rất nhiều tri thức liên quan về mỗi dân tộc, gặp nhiều khó khăn, trở ngại Đa số các nghiên cứu khởi đầu

về chiến tranh Việt Nam ở phía Mỹ đều chỉ xuất phát từ những tài liệu bằng các ngôn ngữ phương Tây, đứng từ quan điểm của người Mỹ khi đánh giá về cuộc chiến Chỉ trong khoảng hơn chục năm gần đây, các học giả trẻ phía Mỹ, những người thuộc thế hệ trưởng thành sau chiến tranh, được trang bị những kiến thức và hiểu biết cần thiết về ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử Việt Nam, mới có thể bắt đầu học cách nhìn nhận cuộc chiến từ lăng kính của người Việt Bên phía Việt Nam, do hoàn cảnh khách quan của thời cuộc khi đất nước bị đóng cửa và ngăn cấm giao lưu với quốc tế một thời gian khá lâu, những hiểu biết về thế giới bên ngoài còn rất ít ỏi Chúng ta gần như hoàn toàn không có điều kiện biết đến sự tồn tại của các sáng tác văn chương về chiến tranh của phía Mỹ, chưa nói đến việc đọc và khảo sát một cách

Trang 30

chi tiết các tác phẩm đó.Những cầu nối giao lưu của các cựu chiến binh, những người đi đầu trong công cuộc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, đa phần chỉ gói gọn trong những trao đổi cá nhân về cuộc chiến và một số hoạt động dịch thuật nhỏ lẻ.Một vài tác phẩm của những nhà văn mang áo lính của Việt Nam như Lê Lựu hay Bảo Ninh đã được dịch sang tiếng Anh và xuất bản tại Mỹ và chậm trễ hơn, một số sáng tác nổi tiếng viết về chiến tranh Việt Nam của những người trong cuộc

từ phía Mỹnhư Larry Heinemann hay Tim O’Brien cũng đã được chuyển ngữ và phổ biến rộng rãi ở trong nước.Tuy vậy, số lượng các tác phẩm được phiên dịch này còn rất ít ỏi, chưa đáp ứng được nhu cầu to lớn của độc giả và giới nghiên cứu ở hai nước trong việc tìm hiểu và thưởng thức các sáng tác văn học về cuộc chiến của phía bên kia Cuối cùng,việc xem xét những tác phẩm văn chương vượt thoát khỏi giới hạn của một quốc gia - dân tộc về một đề tài nhạy cảm như chiến tranh Việt Nam cũng tiềm ẩn nguy cơ khiến cho những tiền giả định vững chắc về cuộc chiến của mỗi bên bị thách thức, gây nên những tranh luận và phản ứng gay gắt cũng như những phiền lụy đối với công việc nghiên cứu Tuy vậy, bất chấp những cản trở đó, các sáng tác tiểu thuyết nói riêng và văn học về chiến tranh Việt Nam nói chung vẫn cần phải được nghiên cứu từ một góc nhìn xuyên quốc gia bởi lẽ cuộc chiến, về bản chất, là một xung đột và trải nghiệm đậm đặc tính quốc tế, đa diện và đa phương Bất cứ sự gò ép và loại bỏ nào những cái nhìn khác biệt của bất kể bên tham chiến nào cũng sẽ ảnh hưởng tiêu cực và làm méo mó tới nhận thức chung về chiến tranh Với tinh thần đó, một số những nghiên cứu gần đây của các học giả tâm huyết đã nỗ lực trình bày một cách toàn diện các tác phẩm văn học và tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam dưới góc độ so sánh

Trong công trình tổng kết thành tựu nghiên cứuvăn học chiến tranh Việt

Nam tại Bắc Mỹ qua hơn bốn mươi năm và vạch hướng đi cho tương laiChiến tranh

Việt Nam: Những chủ đề trong văn học Bắc Mỹ đương đại,Brenda Boyle,sau khi

điểm qua các khuynh hướng và đặc điểm chính của dòng văn học hậu chiến Mỹ, phê phán mạnh mẽ việc các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã tạo lập nên những “điển phạm”, những tác phẩm được xem như tiêu biểu và có giá trị nhất, mà trong đó

Trang 31

những trải nghiệm thống khổ của người Việt Nam trong suốt cuộc chiến bị tảng lờ Việc các sáng tác này chỉ tập trung nhấn mạnh vào hình ảnh người Mỹ, những chiến binh khốn khổ vật lộn với nghịch cảnh, thực chất đã che khuất và loại trừ đi những tiếng nói của người Việt, ở cả hai phía từng can dự vào chiến tranh, và cả những người Mỹ gốc Việt sau đó Boyle dành hẳn một chương trong cuốn sách để khảo sát

về các tác phẩm phía Việt Nam đã được dịch sang tiếng Anh mà bà có điều kiện

tiếp cận Thông qua những tiểu thuyết như Những thiên đường mù, Tiểu thuyết vô

đề của Dương Thu Hươnghay Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Boyle chỉ ra

rằng những khổ đau và khốc hại mà người Việt Nam phải hứng chịu vì cuộc chiến

do phía Mỹ gây ra quá lớn đến mức thái độ “tự mê” của các sáng tác và nghiên cứu phía Hoa Kỳ trở nên ngược ngạo và kệch cỡm Không phải chỉ những binh lính Mỹ mới bị thương tổn, mới biết đến đau đớn; còn rất nhiều những nạn nhân khác của cuộc chiến mà vô tình hay hữu ý đã bị lãng quên và gạt ra khỏi những câu chuyện

về chiến tranh Việc tự lấy mình làm trung tâm của mọi thứ, một tâm thế phổ biến của người Mỹ, chẳng những hoàn toàn không phù hợp mà còn ẩn chứa nhiều nguy

cơ khiến cho những sai lầm tai hại trong quá khứ lặp lại[86]

Từ vị trí của một người Mỹ gốc Việt, trong tiểu luận Ghi nhớ chiến tranh,

ước mơ hòa bình: Về chủ nghĩa thế giới, sự đồng cảm, và văn học, học giả Viet

Thanh Nguyen cũng chỉ ra một thực tế rằng mặc dù chiến tranh Việt Nam đã được tái hiện lại dưới rất nhiều hình thức: văn học, điện ảnh, lịch sử, chính trị… nhưng tất cả đều xoay quanh một câu chuyện nổi bật được ông định danh là tấn kịch sướt mướt của những người đàn ông da trắng bị chấn thương (melodrama of traumatized white manhood).Cái câu chuyện thương tâm đó đã được thổi phồng lên và phổ biến rộng rãi, trở thành một cách diễn giải chủ đạo và trung tâm về chiến tranh Việt Nam của người Mỹ.Tác giả phê phán quan điểm này bằng việc đọc sâu một số tác phẩm của những nhà văn thuộc sắc tộc thiểu số trong lòng nước Mỹ và những nhà văn phía quân đội đồng minh (Nhật Bản, Hàn Quốc) kể về cuộc chiến từ góc nhìn của

họ, qua đó lột tả sự chán ghét chiến tranh và cả lòng căm phẫn của những người da màu vì sự đàn áp của người da trắng trong thời chiến cũng như thời bình Họ đồng

Trang 32

cảm với những nạn nhân của cuộc chiến, những người Việt Nam bị giày xéo dưới

sự xâm lăng của quân đội Mỹ, cùng chung số phận bị đàn áp như họ Viet Thanh Nguyen cho rằng những suy cảm này rất gần gũi với những gì được thể hiện trong những sáng tác phía Việt Namnhư cuốn nhật ký của Đặng Thùy Trâm nơi lòng căm thù quân xâm lược được đẩy lên cao trào Có một sự đồng cảm gắn kết những con người bị áp bứcvượt qua mọi giới hạn về chiến tuyến và sắc tộc; có một câu chuyện chung của những màu da dưới ách chà đạp đã bị che khuất và lãng quên đi bởi những tự sự lấy người da trắng làm trung tâm.Theo Viet Thanh Nguyen, văn học về chiến tranh Việt Nam hiện đang bị kẹt trong một thứ chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi chỉ nhấn mạnh tới trải nghiệm và đau khổ của nhóm người này mà làm mờ đi những nhóm người khác Ông đề nghị một thái độ mang tính quốc tế chủ nghĩa (cosmopolitan) trong các sáng tác văn chương về đề tài này và kèm theo đó là một

sự đồng cảm mang tính bao gộp và phổ quát hơn [122].Tiếp nối tinh thần của tiểu luận trên, Viet Thanh Nguyen phát triển đầy đủ và trọn vẹn hơn ý tưởng của mình

trong chuyên luận dày dặn Không có gì chết đi: Việt Nam và ký ức chiến tranh Tác

giả vạch trần sự bất bình đẳng trong việc ghi nhớ những ký ức về cuộc chiến tại Việt Nam Với sức mạnh vượt trội của một siêu cường và cả một ngành công nghiệp văn hóa hùng hậu, Hoa Kỳ đã thành công trong việc biến những câu chuyện của mình trở thành phổ biến và chính thống trên toàn thế giới Chiến tranh Việt Nam nghiễm nhiên được nhìn nhận và lý giải thông qua lăng kính của người Mỹ, một hiện tượng đặc biệt và có lẽ là duy nhất trong lịch sử nhân loại, khi những kẻ thất bại giành được quyền viết lại lịch sử.Mọi cuộc chiến đều được diễn ra hai lần, một trên chiến trường và một trong ký ức Người Mỹ đã thua trong cuộc chiến đầu tiên, nhưng thật mỉa mai, họ lại thắng trong cuộc chiến thứ hai Bằng một sự khảo sát hết sức công phu và bao quát các hình thức lưu giữ ký ức chiến tranh từ những tác phẩm văn chương, nghệ thuật, những viện bảo tàng, đài tưởng niệm, đến những nghĩa trang liệt sĩ, khu di tích phục vụ du lịch ở hầu khắp các quốc gia từng có liên

hệ với cuộc chiến không chỉ Việt Nam và Mỹ mà còn cả ở Hàn Quốc,Lào, Campuchia và một số quốc gia Đông Nam Á khác, Viet Thanh Nguyen bóc tách

Trang 33

từng lớp trầm tích lịch sử được thể hiện qua từng tạo vật để cho thấy tính phức tạp,

đa bội và đa phương của trải nghiệm chiến tranh vốn dĩ luôn có khuynh hướng bị đơn giản hóa và lược quy vào những khuôn khổ quốc gia - dân tộc cứng nhắc và khiên cưỡng Sự lấn lướt hoàn toàn của ký ức chiến tranh của người Mỹ so với các quốc gia từng can dự khác tạo nên một sự bất công to lớn khi một nhóm người này được nhớ đến nhiều hơn hẳn so với các nhóm người khác, khi những trải nghiệm của phía này được gợi nhắc lặp đi lặp lại trong khi những phía khác bị tảng lờ và rơi vào quên lãng Viet Thanh Nguyen vạch trần toàn bộ cái cơ chế tạo nên sự bất bình đẳng này; việc ký ức của phía Hoa Kỳ được khuếch đại quá mức là một phần không thể tách rời trong sự vận hành của cỗ máy chiến tranh, như một tổ hợp công nghiệp

- quân sự, tại quốc gia này Sự nguy hiểm của nó không chỉ đối với các quốc gia thù nghịch mà ngay cả với người dân ở chính nước Mỹ, những người thường xuyên bị tẩy não về những tội ác mà chính quyền và giới quân sự của họ đã gây ra cho biết bao dân tộc khốn khổ khác để rồi lại hào hứng lao vào những cuộc chiến tranh khác bất chấp những bài học cay đắng trong quá khứ Chiến tranh cần đến sự quên lãng

kẻ khác và xã hội Mỹ được thiết kế rất hoàn hảo cho sự lãng quên đó Cuốn sách của Viet Thanh Nguyen là một sự phê phán hết sức gay gắt chủ nghĩa bá quyền văn hóa của đế quốc Mỹ [136]

Có thể thấy, những nghiên cứu gần đây của các học giả quan tâm tới văn học chiến tranh Việt Nam đều nhận ra những hạn chế trong việc nhìn nhận và đánh giá các sáng tác này trong khuôn khổ phạm vi một quốc gia - dân tộc duy nhất, đồng thời hướng đến cái nhìn bao quát, mang tính đối sánh hơn Những công trình mang tính mở đường của các tác giả này có nhiều gợi ý đáng giá cho những nghiên cứu so sánh về văn học chiến tranh Việt Nam, một lĩnh vực tri thức còn trong đang thời kỳ

sơ khai với đầy những hứa hẹn và triển vọng

Tiểu kết: Tóm lại, những nghiên cứu về tiểu thuyết chiến tranh Việt Nam

thời hậu chiến trong văn học Việt Nam và Mỹ đã góp phần soi sáng hiện tượng văn học độc đáo này ở mỗi quốc gia Tuy vậy, những nghiên cứu từ góc độ so sánh gần như chưa xuất hiện nhiều Lý do một phần bởi quan điểm nghiên cứu từ cả hai phía

Trang 34

vẫn còn chịu nhiều tác động bởi quá khứ chiến tranh thù hận, một phần vì sự thông hiểu lẫn nhau giữa hai quốc gia, dân tộc còn nhiều hạn chế Song, trong thời gian gần đây, hoạt động giao lưu văn hóa, văn học, như một cầu nối hàn gắn và hòa giải,

đã tạo điều kiện thuận lợi cho những sáng tác văn học ở cả hai nước được chuyển ngữ và tiếp nhận rộng rãi Chiến tranh cũngđã lùi xa, Việt Nam và Mỹ đã bình thường hóa quan hệ và đang từng bước trở thành những đối tác tin cậy của nhau Vì vậy, chính trong thời điểm này, một nghiên cứu so sánh về dòng văn học cùng chung đề tài này giữa hai đất nước là cần thiết hơn bao giờ hết Nghiên cứu này một mặt sẽ tiếp thu những thành tựu nghiên cứu đơn lẻ kể trên, mặt khác sẽ mang đến một cái nhìn đối sánh, một góc nhìn văn học về cuộc chiến từ cả hai phía; qua đó, hứa hẹn sẽ đưa đến những kiến giải mới mẻ, những kết quả có giá trị Đây cũng là một cách để ghi nhớ lịch sử cũng như góp phần mở ra tương lai tốt đẹp, hòa hảo

giữa Việt Nam và Mỹ

Trang 35

Chương 2 TIỂU THUYẾT VỀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM

TRONG BỐI CẢNH HẬU CHIẾN 2.1 Chiến tranh và những vấn đề đặt ra cho sáng tạo nghệ thuật

2.1.1 Văn hóa chiến tranh

Chiến tranh là một hoàn cảnh đặc biệt, đó là điều mà bất cứ ai cũng có thể nhận thấy Paul Fussell, một chuyên gia hàng đầu về văn học chiến tranh, đã đưa ra khái niệm “văn hóa chiến tranh” để xác định những tính chất, đặc điểm của hoàn cảnh đặc biệt này Trước hết, Paul Fussell đối lập văn hóa chiến tranh với văn hóa thời bình, một môi trường phần nhiều tuân theo lý tính và khả đoán, nơi mọi thứ có thể lý giải và cắt nghĩa theo cách thông thường Chiến tranh, trái lại, tràn ngập sợ hãi, xương máu, tàn bạo, những hành động phi lý đến nực cười và cả những kết quả đầy mỉa mai Sự khác biệt hoàn toàn này khiến cho những công dân bình thường rất khó có thể hiểu nổi văn hóa chiến tranh Ngay cả trong cuộc chiến, theo Fussell, những cá nhân thực sự hiểu sâu sắc về trải nghiệm này, những người lính trực tiếp cầm súng chiến đấu và đối diện hiểm nguy, cũng chỉ là thiểu số nếu so với phần nhiều những người có can dự nhưng chỉ chứng kiến bên ngoài như các sĩ quan chỉ huy, lính hậu cần, công binh… Khoảng cách giữa những người sống sót “chân chính” qua chiến tranh với những người chứng kiến nhiều khi gây nên những cuộc tranh luận gay gắt giữa một bên là những người thực sự hiểu chiến tranh và bên kia

là những người tưởng rằng mình hiểu hay những kẻ được hưởng lợi từ sự hiểu nhầm đó Vì vậy, văn hóa chiến tranh tạo ra sự một kết nối giữa những người trực tiếp chiến đấu, nhưng lại chia tách họ với những người khác Giữa hai nhóm người này, sự hòa giải về quan điểm, thái độ nhiều khi trở thành bất khả Một đặc điểm khác của văn hóa chiến tranh là nó tất yếu phải là một nền văn hóa tuân phục (obedience culture) Vào thời chiến, những nguyên tắc tổ chức quân sự được áp đặt lên toàn bộ xã hội Trong quân đội, sự tuân lệnh tuyệt đối, không được thắc mắc, ngay cả khi đó có thể là bất công, trở thành điều đầu tiên mà mỗi người lính phải học Về lâu dài, nền văn hóa tuân phục này triệt tiêu đi tính độc đáo, trói buộc tư

Trang 36

tưởng, khuyến khích sự hòa nhập vô tư và cả sự gian dối trong xã hội Bên cạnh đó, văn hóa chiến tranh cũng là nền văn hóa duy nhất đề cao sĩ khí, và đây là một đặc điểm quan trọng Bởi lẽ, trong chiến tranh, những người lính thường trực phải đối diện với nguy hiểm, sợ hãi và những thứ phi nhân tính nhất khiến cho sự hứng khởi

và cả hy vọng rất dễ tiêu tan Khích lệ, cổ vũ, động viên binh lính là một phần cốt yếu trong chiến lược quân sự của mọi cuộc chiến Trong thời chiến, sự kiểm duyệt

là không thể tránh khỏi và nó được hỗ trợ bởi các uyển ngữ chung chung hay những ngôn từ sai lạc được lập trình sẵn nhằm che đậy hay giảm bớt đi những sự thật trần trụi, những điều phản cảm, chướng tai gai mắt Tất cả được biến thành những câu chuyện huyền thoại về chủ nghĩa anh hùng, chiến thắng và lòng cao thượng; và các

sự kiện thảm họa được đưa vào trật tự, tính toàn thể theo một cách hết sức lạc quan Đặc điểm cuối cùng mà Fussell chỉ ra, văn hóa chiến tranh tất yếu mang tính thù nghịch và lưỡng phân Trong chiến tranh, chỉ có thể là ta - địch, tốt - xấu, chính nghĩa - phi nghĩa…, không có chỗ cho thỏa hiệp, hòa giải thậm chí ngay cả những đối thoại dù là nhỏ nhất Vì vậy, chiến tranh rất dễ khơi gợi lên những tình cảm đạo đức, chủ nghĩa dân tộc, sự hiếu chiến, lý tưởng trừu tượng như những nguyên do chính đáng để chiến đấu và tiêu diệt kẻ thù Những đặc điểm kể trên của văn hóa chiến tranh theo cách Paul Fussell nhìn nhận giúp chúng ta hiểu sâu hơn về chiến tranh và cả những sáng tác văn học nghệ thuật thời chiến Trong chiến tranh, văn học nghệ thuật luôn có xu hướng bị biến thành những công cụ tuyên truyền, những

vũ khí chiến đấu nhằm phục vụ cho các hoạt động chính trị và quân sự Đó thường

là nền văn học “bị chỉ huy”, dù ít hay nhiều, bắt buộc phải tuân theo những nguyên tắc nhất định được đề xướng ra từ trước Có thể thấy rõ, văn học nghệ thuật thời chiến chịu rất nhiều ràng buộc và gần như không thể phản ánh hiện thực một cách toàn vẹn, khách quan, chân thực Cá tính nghệ sỹ ít được thể hiện và thay vào đó những mô thức nghệ thuật phổ biến Những hạn chế đó không phải lỗi của các nhà văn, nghệ sỹ mà thuộc về bản chất tất yếu của chiến tranh; và các sáng tác thời kỳ hậu chiến, trong môi trường hòa bình, sẽ dần khắc phục những điểm yếu cố hữu này

Trang 37

Chiến tranh là hoàn cảnh bất thường, thậm chí nghịch dị, của đời sống con người Nhưng để phát động một cuộc chiến và huy động sức người của cả một cộng đồng, một quốc gia, mọi chính quyền, mọi bộ máy tuyên truyền đều phải tìm cách bình thường hóa chiến tranh, biến chiến tranh trở thànhthường tình, hữu lý

Sau chiến thắng tại Điện Biên và những đàm phán tại hiệp định Genève, trên đường trở về tiếp quản thủ đô, Hồ Chí Minh cùng đội quân chiến thắng đã ghé thăm Đền Hùng như một động thái chính trị xác lập tính chính danh và sự kế thừa truyền thống lịch sử của chính quyền mới Trong bài nói chuyện thân tình giữa lãnh tụ và

bộ đội, ý tưởng về một quốc gia thống nhất, một chủ quyền liên tục khởi thủy từ các đời Hùng Vương được xác lập và đi cùng với đó là sự khẳng định ý chí quyết tâm bảo vệ Tổ quốc, giữ lấy nước nhà bằng hành động cụ thể là xây dựng quân đội mạnh mẽ cũng như đề phòng sự hiện diện của đế quốc Mỹ ở miền Nam và trên thế giới ngay cả trong tình cảnh hòa bình.Trước những biến động của tình hình thực tế khi chính quyền Ngô Đình Diệm phản bội thỏa thuận hiệp thương hai miền của hiệp định Genève và đàn áp tàn khốc những người cộng sản ở miền Nam, sự lật đổ gia tộc họ Ngô được hậu thuẫn bởi CIA khiến cho tình hình chính trị Việt Nam Cộng hòa rơi vào một chuỗi bất ổn cũng nhưsự tăng cường không ngừng ảnh hưởng và số lượng quân đội Mỹ tại miền Nam, giải pháp hòa bình ôn hòa ngày càng trở nên không thực tế và đường lối chiến tranh bạo động dần trở thành quan điểm chính thống được ủng hộ rộng rãi; phát động chiến tranh để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước trở thành yêu cầu cấp bách của thời đại Mộttruyền thống đấu tranh chống ngoại xâm xuyên suốt lịch sửđược tái hiện bởi những công trình nghiên cứu lịch sử, tư tưởng và văn chương với những tên tuổi học giả thấm nhuần quan điểm

và phương pháp luận Mácxít; với ý tưởng căn cốt lấy từ gợi dẫn của Hồ Chủ tịch, một lịch sử dựng nước và giữ nước trở thành diễn giải chính thống, được mặc nhiên thừa nhận và phổ biến rộng rãi Toàn bộ truyền thống anh dũng, hào hùng, bất khuất

đó hướng đến một thực tế trước mắt là sự đối đầu với đế quốc Mỹ, kẻ thù lớn mạnh, hung bạo nhất của thời đại Trong quá khứ, Việt Nam đã chiến đấu và chiến thắng những đại cường quốc sừng sỏ nhất như Tống, Minh, Nguyên, Thanh, Nhật, Phápvà

Trang 38

ngày hôm nay, Việt Nam sẽ tiếp tục chiến đấu và chiến thắng đế quốc Mỹ Lịch sử cũng đồng thời là sự phát triển của tinh thần cách mạng của nhân dân lao động, giai cấp công nông, từ những cuộc khởi nghĩa nông dân chống phong kiến thời trung đại tới những cuộc khởi nghĩa yêu nước chống lại thực dân Pháp thời cận hiện đại, một

ý thức hệ vô sản dần dần trưởng thành trong suốt lịch sử và với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám cùng cuộc Kháng chiến chống Pháp, một nhà nướccủa nhân dân lao động, vì lợi ích của quảng đại quần chúng, được lãnh đạo bởi một chính đảng đi theo con đường của chủ nghĩa Mác-Lênin sẵn sàng đương đầu với quốc gia đầu sỏ của thế giới tư bản trong một cuộc chiến giải phóng nhân loại, làm lại loài người, thiết lập một thế giới đại đồng hạnh phúc Một nền giáo dục xã hội chủ nghĩa được xây dựngvới mục tiêu quan trọng nhất là bồi đắp tình yêu Tổ quốc, đề cao lý tưởng

xã hội chủ nghĩa, ý thức trách nhiệm công dân, chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tinh thần hy sinh vô điều kiện cho quê hương xứ sở, cho chế độ của dân, do dân, vì dân Một nền văn nghệ được định hướng ca ngợi kì công vinh quang của chiến tranh chống Pháp, sự vĩ đại lớn lao của Đảng và lãnh tụ trong việc mang đến ánh sáng, tự do, độc lập cho đất nước, dân tộc,xoáy sâu vào nỗi đau chia cắt đất nước,

sự tàn bạo của kẻ thù ở bên kia bờ Hiền Lương cùng một tinh thần quyết chiến quyết thắng, không nao núng sợ hãi khi đối đầu với một đội quân hùng mạnh và vượt trội về mọi mặt Chiến tranh đã được chuẩn bị bởi cả một nền văn hóa hướng đến sự vũ trang về tinh thần cho con người, đặc biệt là thế hệ thanh niên Chiến tranh không có gì đáng sợ mà là điều đáng mong ước, đáng tự hào, đáng xung phong đi tới Trước tiếng gọi của Tổ quốc, của chế độ, những người trẻ tuổi sẵn sàng viết thư máu để được vào chiến trường, nơi đào luyện, rèn giũa, thử thách tốt nhất nhân cách, lý tưởng và khả năng của thanh niên

Bước ra khỏi Thế chiến thứ hai, Hoa Kỳ là quốc gia duy nhất không trực tiếp chịu sự tàn phá củacuộc chiến Dù chịu một tổn thất về nhân mạng không nhỏ nhưng nước Mỹ, với tiềm lực kinh tế và nội lực mạnh mẽ cùng vị thế “kho đạn của nền dân chủ” (arsenal of democracy) mà tổng thống Roosevelt đã xác lập, chính thức trở thành siêu cường số một trên thế giới.Theo thời gian,chủ nghĩa bài cộng

Trang 39

sản trong lòng nước Mỹ trở nên gay gắt và phong trào tố cộng, bắt cộng vô cớ lan rộng gây ra những mâu thuẫn xung đột ngày càng bức bối.Thế hệ bùng nổ dân số (Baby Boom), sinh trưởng sau Thế Chiến II, có điều kiện học hành và hưởng thụ những tiện nghi sinh hoạt tốt hơn đặc biệt là sự phổ biến của truyền hình đại chúng tới từng hộ gia đình Những sách vở, phim ảnh về cuộc đại chiến thế giới mà cha ông họ từng tham dự và chiến thắng đầy vinh quang đã trở thành những dẫn nhập đầu đời đầy hấp dẫn về chiến tranh cho thế hệ thanh niên mới lớn, mà theo quan điểm của Paul Fussell, một cựu binh từng trải: “Suốt năm mươi năm qua, cuộc chiến của phe Đồng Minh đã được tẩy rửa và lãng mạn hóa bởi những kẻ cảm tính,

ái quốc bất thường, những kẻ ngu ngốc và những kẻ khát máu đến độ không còn

nhận ra nó được nữa” [99, tr.ix].Julian Smith, trong chuyên luậnNgoảnh mặt đi:

Hollywood và Vietnam, đi xa hơn khi cho rằng Việt Nam là “cuộc chiến được tạo ra

từ phim ảnh đầu tiên của nước Mỹ… cuộc chiến đầu tiên sinh ra từ thái độ được ủng hộ, và có lẽ thậm chí được tạo ra, bởi hàng loạt các bộ phim về Thế chiến II khắc họa sự toàn năng của quân đội Hoa Kỳ” [120, tr 4] Các giá trị, mục tiêu, và bản chất chiến tranh được miêu tả trong những bộ phim này cho thấy rằng, đối với người Mỹ của những năm 1960, chiến tranh Việt Nam là một bản sao của Thế chiến

II, “Cuộc chiến vĩ đại” như cách gọi của nhân vật truyền hình Archie Bunker [148,

tr 4].Sau thắng lợi trong cuộc bầu cử, tổng thống John F Kennedy thổi vào nền chính trị Hoa Kỳ những năm đầu thập niên 60 một luồng gió mới mẻ, tươi trẻ, đặc biệt hấp dẫn và kích thích với thế hệ thanh niên đang trưởng thành Vị tổng thống tài hoa, lịch lãm, xuất thân danh gia vọng tộcvới ngoại hình của một tài tử điện ảnh, trong bài diễn văn nhậm chức của mình đã nói những lời hùng hồn về những hiểm nguy đe dọa tới sự tồn vong của nhân loại trong thời đại mới, trách nhiệm của công dân, niềm tự hào dân tộc và sứ mạng cao cả của Hoa Kỳ, quốc gia dẫn đầu thế giới:

Chúng ta không thể quên rằng chúng ta ngày hôm nay là hậu duệ của Cuộc Cách Mạng đầu tiên [của nhân loại] Hãy để thế giới biết rằng từ đây, với cả đồng minh và kẻ thù, ngọn đuốc [của cuộc cách mạng] đã được chuyển giao cho một thế hệ người Mỹ mới, sinh trưởng trong thế

Trang 40

kỷ này, rắn rỏi qua chiến tranh, được rèn giũa bởi thời kỳ hòa bình khó khăn và cay đắng, kiêu hãnh về di sản tổ tiên và không bao giờ chấp nhận sự chà đạp những giá trị nhân quyền mà quốc gia này đã luôn tận hiến, và sẽ tận hiến ngày hôm nay ở đây và trên toàn thế giới Hãy để tất

cả mọi quốc gia, dù muốn tốt hay xấu cho chúng ta, biết rằng chúng ta sẽ trả bất cứ giá nào, chịu đựng bất cứ gánh nặng nào, đối diện bất cứ khó khăn nào, ủng hộ bất cứ đồng minh nào, chống lại bất cứ kẻ thù nào, để đảm bảo sự trường tồn và thắng lợi của tự do (…).Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho chúng ta, hãy hỏi chúng ta đã làm gì cho Tổ quốc[120]

Nhà văn - cựu binh Ron Kovic, tác giả của hồi ký Sinh vào ngày Quốc

Khánh (Born on the Fourth of July) viết lại niềm xúc động, hân hoan của bản thân

và cả thế hệ ông khi được nghe những lời hùng hồn đó trực tiếp qua vô tuyến truyền hình:

Rất nhiều người chúng tôi đã tin bài diễn văn nhậm chức của John F Kennedy, “Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho chúng ta, hãy hỏi chúng ta

đã làm gì cho Tổ quốc” Hàng triệu người chúng tôiđã xúc động sâu sắc bởi những gì John F Kennedy nói vào ngày tháng 1 năm 1961 hôm đó Tôi ngồi xem tại nhà tôi, số 227 Đại lộ Toronto ở Massapeque và nước mắt chảy dài trên má tôi vì tôi nhận ra rằng mình đã tìm ra ý nghĩa của cuộc đời này Tôi cảm thấy trách nhiệm phải phụng sự đất nước mình [124, tr 30-31]

Niềm tự hào vào quá khứ oanh liệt, vinh quang của cha ông trong cuộc Thế chiến, cũng như những lý tưởng phụng sự Tổ quốc được nuôi dưỡng bởi nền văn hóa hậu chiến của Mỹ đã trở thành động lực để thanh niên trai trẻ tình nguyện tham gia chiến tranh tại một xứ sở xa xôi và hoàn toàn xa lạ với bản thân họ Rất nhiều người Mỹ đã hăm hở lao vào chiến tranh, bằng tất cả sựtrong sáng, ngây thơ của tuổi trẻ

Trong chiến tranh, xã hội luôn có khuynh hướng quân sự hóa,mọi mặt đời sống chịu ảnh hưởng bởi mô hình quản lýquân đội, trong đó có văn hóa; kiểm soát

Ngày đăng: 03/01/2019, 16:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w