1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn CHÍNH SÁCH THU HÚT DÒNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI HƯỚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI VIỆT NAM

135 186 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 2,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNGLUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH THU HÚT DÒNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI HƯỚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI VIỆT NAM Ngành: Kinh tế học Chuyên ngành: Kinh tế qu

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHÍNH SÁCH THU HÚT DÒNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI HƯỚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế

NGUYỄN THANH NHÃ

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHÍNH SÁCH THU HÚT DÒNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI HƯỚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI VIỆT NAM

Ngành: Kinh tế học Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế

Mã số: 60310106

Họ và tên học viên: Nguyễn Thanh Nhã Người hướng dẫn: TS Nguyễn Xuân Nữ

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ có tiêu đề “Chính sách thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hướng đến phát triển bền vững tại Việt Nam” là công

trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu được sử dụng trong luận văn có nguồntrích dẫn đầy đủ và trung thực Kết quả nêu trong luận văn chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, tháng 5 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Nhã

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Xin được chân thành cảm ơn Khoa Sau Đại học, Trường Đại học Ngoạithương đã tạo điều kiện tốt nhất cho người viết hoàn thành Luận văn thạc sĩ Đặcbiệt, người viết xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Nguyễn Xuân Nữ - Giảng viênhướng dẫn - đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ người viết trong quá trình hình thành ýtưởng cũng như triển khai thực hiện đề tài

Hà Nội, tháng 5 năm 2017

Học viên thực hiện

Nguyễn Thanh Nhã

Trang 6

MỤC LỤ c

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ vii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN ix

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 8

1.1 Một số vấn đề cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài 8

1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài 8 1.1.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài 10 1.1.2.1 FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận 10 1.2.1.2 Chủ đầu tư tự quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi 10 1.2.1.3 Sự gắn bó chặt chẽ giữa FDI với chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý11 1.2.1.4 FDI là hình thức đầu tư dài hạn dài, có tính chất “bén rễ” ở bản xứ 11 1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 12 1.1.3.1 Môi trường kinh tế - chính trị - xã hội 12 1.1.3.2 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên – con người 13 1.1.3.3 Chính sách – pháp luật 13 1.1.3.4 Cơ sở hạ tầng 14 1.2 Một số vấn đề cơ bản về phát triển bền vững 14

1.2.1 Khái niệm phát triển bền vững 14

1.2.2 Nội dung của phát triển bền vững 16

1.2.2.1 Phát triển bền vững về kinh tế 16

Trang 7

1.2.2.2 Phát triển bền vững về xã hội 19

1.2.2.3 Phát triển bền vững về môi trường 20

1.2.3 Tiêu chí đánh giá phát triển bền vững 21

1.3 Mối liên hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và phát triển bền vững 21

1.3.1 Xét trên khía cạnh kinh tế 22

1.3.1.1 FDI bù đắp sự thiếu hụt về vốn của các nước nhận đầu tư, đặc biệt là các nước đang phát triển 22

1.3.1.2 FDI thúc đẩy trình độ công nghệ của nước chủ nhà 22

1.3.1.3 FDI thúc đẩy xuất khẩu và tiếp cận với thị trường thế giới 24

1.3.2 Xét trên khía cạnh xã hội 24

1.3.2.1 FDI góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm và thu nhập cho người lao động 24

1.3.2.2 FDI góp phần đổi mới tư duy lao động, nâng cao năng lực quản lý, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng 25

1.3.3 Xét trên khía cạnh môi trường 26

1.4 Chính sách thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hướng đến phát triển bền vững 26 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THU HÚT DÒNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI HƯỚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI VIỆT NAM 31 2.1 Thực trạng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam 31

2.1.1 Về số lượng vốn đăng ký và thực hiện 31

2.1.1.1 Vốn đăng ký 31

2.1.1.2 Vốn thực hiện 32

2.1.2 Về đối tác đầu tư 32

2.1.3 Về cơ cấu vốn đầu tư 34

2.1.3.1 Theo hình thức đầu tư 34

2.1.3.2 Theo ngành/ lĩnh vực 36

2.1.3.3 Theo vùng 38

Trang 8

2.2 Khuôn khổ chính sách thu hút dòng vốn FDI hướng tới phát triển bền vững tại Việt Nam 39

2.2.1 Cơ chế phân cấp quản lý FDI 39

2.2.2 Chính sách ưu đãi tài chính 41

2.2.3 Chính sách công nghệ và chuyển giao công nghệ 42

2.2.4 Chính sách khuyến khích liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước 44

2.2.5 Chính sách về môi trường 45

2.3 Đánh giá việc thực thi chính sách thu hút dòng vốn FDI hướng tới phát triển bền vững tại Việt Nam 49

2.3.1 Xét trên khía cạnh tăng trưởng kinh tế 49

2.3.2 Xét trên khía cạnh lợi ích xã hội 55

2.3.3 Xét trên khía cạnh bảo vệ môi trường 57

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THU HÚT DÒNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI HƯỚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI VIỆT NAM 62 3.1 Bối cảnh trong nước và quốc tế 62

3.1.1 Bối cảnh quốc tế 62

3.1.2 Bối cảnh trong nước 64

3.2 Định hướng thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hướng đến phát triển bền vững tại Việt Nam 68 3.3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hướng đến phát triển bền vững tại Việt Nam 70

3.3.1 Thay đổi tư duy và nhận thức của người làm chính sách về vai trò của FDI đối với phát triển trong giai đoạn mới 70

3.3.2 Tiếp tục thực hiện phân cấp nhưng phải đảm bảo tính tập trung thông qua việc nâng cao hiệu năng quản lý của Nhà nước 72

3.3.3 Rà soát các chính sách ưu đãi tài chính, điều chỉnh cách thức thực hiện ưu đãi 74

Trang 9

3.3.4 Cải tiến mạnh khâu giám sát và xử lý các vấn đề sau cấp phép đầu tư 75

3.3.5 Các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ 77

3.3.5.1 Xây dựng nguồn nhân lực có kỹ năng, trình độ làm chủ công nghệ 78

3.3.5.2 Hình thành liên kết theo chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước 79

3.3.5.3 Phát triển công nghiệp hỗ trợ 80

3.3.6 Các giải pháp nhằm bảo vệ môi trường 81

3.3.6.1 Lựa chọn nhà đầu tư 81

3.3.6.2 Tăng cường sự tham gia của xã hội vào việc giám sát các dự án FDI 84

3.3.6.3 Thực hiện các biện pháp để hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường 85

KẾT LUẬN 88 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 11

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Chữ viết

tắt Tiếng Anh Tiếng Việt

BCC Business Cooperation Contract Hợp đồng hợp tác kinh doanh

BOT Build – Operate – Transfer Xây dựng - Kinh doanh -

Chuyển giao

BT Build - Transfer Xây dựng - Chuyển giao

BTO Build – Transfer – Operate Xây dựng - Chuyển giao - Kinh

doanh

CDM Clean Development Mechanism Cơ chế phát triển sạch

CER Certified emission reduction Chứng nhận giảm phát thải khí

CSR Corporate social responsibility Trách nhiệm xã hội của doanh

nghiệp

FDI Foreign direct investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội

ILO International Labour Organization Tổ chức Lao động Quốc tế

MNCs Multinational corporations Công ty đa quốc gia

ODA Official Development Assistance Hỗ trợ phát triển chính thức

OECD Organization for Economic

Cooperation and Development

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

USD United State dollar Đồng đôla Mỹ

WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế giới

PPP Public Private Partnership Đối tác công tư

Trang 12

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN

Qua nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan tới chính sách thuhút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hướng đến phát triển bền vững tại ViệtNam, luận văn thu được một số kết quả tóm tắt như sau:

Thứ nhất, chiến lược phát triển bền vững tất yếu trở thành chiến lược phát

triển toàn cầu của thế kỷ XXI trong bối cảnh bùng nổ dân số và quá trình tăngtrưởng mạnh mẽ các nền kinh tế đã khiến con người khai thác tài nguyên và hủyhoại môi trường một cách tàn bạo, đe dọa chính sự tồn tại của nhân loại Hàng loạtcác vấn đề môi trường nghiêm trọng như biến đổi khí hậu, suy thoái đa dạng sinhhọc, suy thoái tầng ôzôn, suy thoái đất và hoang mạc hóa, ô nhiễm hóa chất, đặcbiệt là các chất hữu cơ độc hại khó phân hủy, đang thách thức sự phát triển trênphạm vi toàn thế giới Vấn đề đặt ra đối với các quốc gia hiện nay là làm thế nào đểvừa giữ được sự tăng trưởng kinh tế cao, vừa đảm bảo công bằng xã hội, vừa bảo vệđược môi trường, ứng phó có hiệu quả với tác động của biến đổi khí hậu để đạtđược mục tiêu phát triển bền vững

Thứ hai, giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và phát triển bền vững có tồn tại

mối quan hệ mật thiết Nghiên cứu cho thấy nếu được thu hút và sử dụng có hiệuquả, FDI sẽ là một nhân tố rất tích cực đóng góp cho sự phát triển bền vững của cácquốc gia, đặc biệt là các nước đi sau, có xuất phát điểm thấp về tài chính cũng nhưkhoa học và công nghệ Xét trên khía cạnh kinh tế, FDI góp phần bù đắp sự thiếuhụt về vốn của các nước nhận đầu tư đồng thời nâng cao trình độ công nghệ, thúcđẩy xuất khẩu và mở ra cơ hội tiếp cận với thị trường thế giới Xét trên khía cạnh xãhội, FDI vừa mang lại sự đổi mới trong tư duy lao động, vừa cải tiến năng lực quản

lý, từ đó phát triển nguồn nhân lực của nước chủ nhà Xét trên khía cạnh môitrường, công nghệ cao, công nghệ sạch trong các dự án FDI có chất lượng từ cácquốc gia áp dụng tiêu chuẩn nghiêm ngặt về môi trường sẽ giúp bảo vệ môi trường,

sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên ở nước tiếp nhận, đồng thời nâng cao

ý thức trách nhiệm đối với môi trường của các doanh nghiệp trong nước

Thứ ba, ở Việt Nam trong thời gian qua, chính sách thu hút dòng vốn FDI

hướng tới phát triển bền vững được thể hiện chủ yếu ở các chính sách ưu đãi về tài

Trang 13

chính, chính sách công nghệ và chuyển giao công nghệ, chính sách khuyến khíchliên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước cũng như các chínhsách về môi trường Thông qua phân tích khuôn khổ những chính sách này và việcthực thi chính sách, người viết đi đến kết luận: thu hút dòng vốn FDI hướng tới pháttriển bền vững ở nước ta đã đạt được một số thành quả nhất định, nhưng vẫn chưađược như kỳ vọng, vẫn tồn tại một khoảng cách không nhỏ giữa chính sách và thựcthi Nguyên nhân là do khuôn khổ pháp lý chưa thật hoàn thiện, còn tồn tại nhiều kẽ

hở, năng lực thể chế chưa đủ mạnh, cơ sở hạ tầng yếu kém, công nghiệp hỗ trợ nontrẻ, thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao đồng thời vẫn tồn tại tư tưởng chútrọng về lượng hơn về chất của FDI

Trên cơ sở đó, người viết đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách

thu hút dòng vốn FDI hướng tới phát triển bền vững tại Việt Nam Trước hết cần

một sự thay đổi lớn trong tư duy và nhận thức của người làm chính sách về vai tròcủa FDI đối với phát triển đất nước trong giai đoạn mới: Thay vì chỉ đóng góp phầnlớn về vốn và việc làm, FDI phải có khả năng tạo ra giá trị trong nước, nâng cao

năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam Thứ hai, cần tiếp tục thực hiện

phân cấp quản lý FDI nhưng phải đảm bảo tính tập trung thông qua việc nâng cao

vai trò của Nhà nước Thứ ba là rà soát các chính sách ưu đãi tài chính đồng thời

điều chỉnh cách thức thực hiện ưu đãi theo hướng cấp ưu đãi một cách có chọn lọc,

không ưu đãi dàn trải, ưu đãi có kèm theo ràng buộc đầu ra Thứ tư, cải tiến mạnh khâu giám sát và xử lý các vấn đề sau cấp phép đầu tư Thứ năm, tăng cường hoạt

động chuyển giao công nghệ thông qua xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao,thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước, phát triển

công nghiệp hỗ trợ Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là các giải pháp

nhằm bảo vệ môi trường, bao gồm lựa chọn khắt khe các nhà đầu tư, tăng cường sựtham gia của xã hội vào việc giám sát các dự án FDI và thực hiện các biện pháp đểhạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường

Trang 14

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh toàn cầu hiện nay, khi sự cạnh tranh nguồn lực ngày càngkhắc nghiệt, sự đe dọa do biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng thì phát triểnbền vững đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia trên thế giới, là

xu thế tất yếu của thời đại Ở Việt Nam, phát triển bền vững cũng đã trở thành mộtchủ trương lớn Quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước ta được thể hiện tronghàng loạt các văn kiện, chính sách và văn bản luật như “Chiến lược sản xuất sạchhơn trong công nghiệp đến năm 2020”, “Chiến lược Phát triển bền vững Việt Namgiai đoạn 2011 - 2020”, “Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020,tầm nhìn đến năm 2030”, “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011 –

2010 và tầm nhìn đến năm 2050”, Với đặc trưng chung của một nước đang pháttriển là chưa đủ năng lực về thể chế, chuyên gia, quy mô thị trường, cơ sở hạ tầng,chi phí đầu tư,… Việt Nam cần biết cách tận dụng lợi thế của người đi sau để đi tắtđón đầu, tập trung khai thác chức năng chuyển giao vốn, công nghệ và kỹ năngquản lý của nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI) để nhanh chóng đạt được mục tiêuphát triển bền vững

Sau gần 30 năm ban hành Luật đầu tư nước ngoài (nay là Luật Đầu tư), ViệtNam đã thu hút được một khối lượng lớn vốn FDI phục vụ cho quá trình xây dựng

và phát triển đất nước Các đóng góp rất cụ thể vào tăng trưởng, tạo nguồn thu ngânsách, tạo việc làm và thúc đẩy hội nhập quốc tế đã minh chứng rõ ràng cho vai tròquan trọng của FDI đối với nền kinh tế Tuy nhiên, thực tiễn quá trình thu hút dòng

vốn FDI tại Việt Nam trong những năm qua vẫn còn nhiều tồn tại Vấn đề thứ nhất

là, trong thời gian đầu, do đặt nặng mục tiêu phát triển kinh tế đơn thuần mà chưa

quan tâm thích đáng đến các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường, nên chúng ta mới

chỉ chú trọng về lượng mà chưa thực sự quan tâm đến chất khi thu hút và sử dụng FDI Những chính sách cởi mở và hấp dẫn, mang nhiều ưu đãi, cũng như những kẽ

hở, sự lỏng lẻo trong các quy định của Chính phủ về quy trình thẩm định, phê duyệt

và quản lý dự án đã và đang không thể cản trở được dòng vốn FDI “bẩn” tràn vàoViệt Nam, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển bền vững của đất nước

Trang 15

Từ năm 2006, Chính phủ phân cấp cho chính quyền tỉnh, thành phố quyền hạn lớnhơn đối với FDI, bên cạnh mặt tích cực là có thêm nhiều sáng kiến trong thu hútdòng vốn FDI, cũng đã gây ra tình trạng xé rào trong ưu đãi đầu tư, trải thảm đỏchào đón các nhà đầu tư với những ưu đãi không cần thiết, chỉ nhằm mục đích cạnh

tranh với địa phương lân cận Vấn đề thứ hai là, bản chất của FDI là nhằm mục đích

tối đa hóa lợi nhuận của nhà đầu tư thông qua sự di chuyển vốn quốc tế; do đó vấn

đề cốt lõi mà các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm ở đây chính là lợi ích về phía họ,còn các vấn đề liên quan đến nền kinh tế vĩ mô của các nước chủ nhà vẫn thường bị

xem nhẹ Điều này đã dẫn đến sự mâu thuẫn giữa mục tiêu của nước đầu tư với

mục tiêu của nước nhận đầu tư, gây ra nhiều ảnh hưởng xấu tới kinh tế - xã hội cũng như môi trường của nước chủ nhà Biểu hiện rất rõ là trong khi Chính phủ

Việt Nam luôn mong muốn tăng cường thu hút dòng vốn FDI vào các ngành nông,lâm thuỷ sản, công nghiệp nhẹ, đồ điện, điện tử gia dụng, công nghệ phần mềm vàcác ngành công nghiệp hỗ trợ để giải quyết nhiều vấn đề của công nghiệp hoá, hiệnđại hoá nền kinh tế thì đa số các nhà đầu tư nước ngoài lại chỉ muốn rót vốn vào cáclĩnh vực vào có khả năng sinh lợi cao như bất động sản, sân golf, vui chơi giải trí,khai thác khoáng sản, công nghiệp nặng, hoặc các hoạt động lắp ráp, gia công có tỷ

lệ giá trị gia tăng thấp nhằm khai thác triệt để lợi thế so sánh là lao động giá rẻ,nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có và thị trường tiêu thụ dễ tính Hệ quả là các dự

án FDI ở Việt Nam hiện nay đa phần là còn thiếu tính bền vững, chưa có nhiều sựchuyển giao công nghệ, chưa tạo ra được những sản phẩm có sức cạnh tranh cao, có

khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu Vấn đề thứ ba là, việc thu hút dòng

vốn FDI một cách thiếu chọn lọc và quy trình theo dõi, giám sát không đến nơi đếnchốn, theo kiểu “đem con bỏ chợ” đối với các dự án đã ký kết của không ít nhàquản lý đang khiến chúng ta phải trả giá đắt bằng sự ô nhiễm môi trường sinh thái

và nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên Đây có lẽ chính là vấn đề nhứcnhối nhất trong câu chuyện dài tập về mối quan hệ giữa dự án FDI và môi trường ởViệt Nam

Xuất phát từ những nhận thức trên, xét thấy cần phải có nghiên cứu kỹ lưỡnghơn về những điểm tích cực và hạn chế trong chính sách cũng như thực trạng thu

Trang 16

hút dòng vốn FDI hướng tới phát triển bền vững ở Việt Nam thời gian qua, nhậnbiết khoảng cách còn tồn tại giữa chính sách và thực thi để từ đó tìm ra phương án

đổi mới và hoàn thiện Người viết quyết định chọn đề tài “Chính sách thu hút

dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hướng đến phát triển bền vững tại Việt Nam” cho luận văn thạc sĩ của mình.

2 Tình hình nghiên cứu

2.1 Ở nước ngoài

Những vấn đề mang tính chất tổng quan lý luận về FDI, về phát triển bềnvững của một quốc gia từ lâu đã được giới học giả trên thế giới quan tâm Năm

2004, trong tác phẩm “Making FDI Work for Sustainable Development”, UNCTAD

đã chỉ ra những yếu tố cơ bản tạo ra những tác động đối với môi trường (chính sách,công nghệ…) và những phương pháp nhằm tối đa tác động tích cực của FDI hướngtới phát triển bền vững

Cũng có đã những công trình nghiên cứu về thực tiễn thu hút dòng vốn FDIcông nghệ cao, thân thiện với môi trường ở một số quốc gia châu Á, điển hình làcuốn sách “Low - Carbon Green Growth in Asia: Policies and Practices” do Ngânhàng phát triển châu Á (ADB) phát hành năm 2013

Tuy nhiên, cho đến nay vẫn có rất ít nghiên cứu quốc tế có đề cập trực tiếpđến vấn đề thu hút dòng vốn FDI hướng đến phát triển bền vững xét riêng vớitrường hợp của Việt Nam

2.2 Ở Việt Nam

Liên quan đến hoạt động thu hút dòng vốn FDI hướng tới phát triển bềnvững ở Việt Nam, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đã đạt được những kết quả

nhất định, cung cấp những tài liệu đáng quý như bài báo Thu hút FDI sạch cho sự

phát triển bền vững nền kinh tế Việt Nam của các tác giả Nguyễn Thị Liên Hoa,

Trần Phương Hạnh, Bùi Anh Chính đăng trên Bản tin Kinh tế - xã hội số tháng12/2009, Viện Nghiên cứu Phát triển TP HCM; bài phân tích chính sách thu hútdòng vốn FDI nhằm phát triển bền vững ngành công nghiệp Việt Nam của TS.Phạm Thị Khanh (2009); những ý kiến đóng góp tâm huyết trong bài tham luận

Trang 17

“Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển bền vững ở Việt Nam,” của GS TSKH.

Nguyễn Mại tại Hội thảo khoa học quốc gia về chính sách thương mại nhằm pháttriển bền vững ở Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020; hay bài tạp chí “Thu hút FDI gắnvới phát triển bền vững: Quan điểm và định hướng” (2013) của PGS.TS Hà VănHội

Tuy nhiên, các công trình trên chưa thực sự đi sâu phân tích mối liên hệ giữaFDI và phát triển bền vững, và cũng chưa có công trình nào tập trung làm rõ khoảngcách giữa chính sách và thực thi trong quá trình thu hút dòng vốn FDI tại Việt Namthời gian qua, cũng như sự tác động của bối cảnh phát triển mới ở nước ta đến quátrình này trong thời gian tới Có thể nói đây là khoảng trống trong nghiên cứu về

FDI hướng tới phát triển bền vững tại Việt Nam Bởi vậy, đề tài “Chính sách thu

hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hướng đến phát triển bền vững tại Việt Nam” sẽ không trùng lặp với các đề tài đã được nghiên cứu trước đó

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích thực trạng, khuôn khổ chính sách và hiệu quả thực thichính sách thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hướng đến phát triển bềnvững tại Việt Nam trong những năm gần đây, đề tài đề xuất các giải pháp cụ thểnhằm từng bước hoàn thiện chính sách thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoàihướng đến phát triển bền vững tại Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đã đề ra, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ

Trang 18

- Tìm hiểu bối cảnh phát triển mới của thế giới cũng như Việt Nam có ảnhhưởng đến vai trò, sứ mệnh của đầu tư trực tiếp nước ngoài.

- Đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện chính sách thu hút dòng vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài hướng đến phát triển bền vững tại Việt Nam trong giai đoạnmới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Chính sách thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hướng đến pháttriển bền vững tại Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: đề tài phân tích việc thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước

ngoài trên phạm vi cả nước

Về thời gian: chính sách thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hướng

đến phát triển bền vũng tại Việt Nam giai đoạn 2007 – 2017; định hướng,giải pháp đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025

Về nội dung: nghiên cứu chính sách và hiệu quả thực thi chính sách thu hút

dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hướng đến phát triển bền vững tại ViệtNam

5 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài sẽ được thực hiện trên cơ sở vận dụng quan điểm duy vật và phươngpháp luận biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lê nin; các chủ trương, chính sách củaĐảng và Nhà nước ta về quá trình thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vàđường lối phát triển bền vững

Đề tài cố gắng sử dụng những nguồn thông tin và số liệu đáng tin cậy đượccông bố chính thức từ các tổ chức uy tín của Việt Nam cũng như trên thế giới; kếthừa kết quả nghiên cứu của một số tác giả có tên tuổi trong và ngoài nước về cácvấn đề liên quan Bên cạnh đó, đề tài sẽ sử dụng các phương pháp phân tích, tổnghợp, so sánh, đối chiếu, diễn giải, quy nạp trên tinh thần kết hợp lý thuyết với thựctiễn

Trang 19

6 Những đóng góp của Luận văn

- Nghiên cứu một cách hệ thống và cụ thể những vấn đề lý luận và thực tiễn vềchính sách thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo định hướng pháttriển bền vững tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng vào nềnkinh tế thế giới;

- Đánh giá khuôn khổ chính sách và hiệu quả thực thi chính sách thu hút dòng vốnFDI hướng đến phát triển bền vững tại Việt Nam, từ đó nêu bật những kết quảđạt được và những mặt tồn tại trong chính sách

- Phân tích bối cảnh phát triển mới của thế giới và Việt Nam có tác động như thếnào đến định hướng xây dựng chính sách thu hút dòng vốn FDI trong thời giantới

- Đề xuất phương hướng và giải pháp cụ thể về xây dựng và hoàn thiện chính sáchthu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam, với trọng tâm làthúc đẩy hiệu quả của chuyển giao công nghệ trong việc nâng cao trình độ côngnghệ, năng lực cạnh tranh quốc gia cũng như góp phần bảo vệ môi trường,hướng tới phát triển bền vững

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài Lời nói đầu, Kết luận và Phụ lục, nội dung nghiên cứu của Luận vănđược kết cấu làm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài và phát triển bền

vững

Chương 2: Thực trạng chính sách thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước

ngoài hướng đến phát triển bền vững tại Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thu hút dòng vốn

đầu tư trực tiếp nước ngoài hướng đến phát triển bền vững tại Việt Nam

Qua đề tài này, người viết hi vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ vào lộ trìnhthực hiện mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam thông qua việc hoàn thiệnchính sách thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài theo định hướng nâng cao chấtlượng dự án, không thu hút đầu tư bằng mọi giá, không đánh đổi môi trường lấy

Trang 20

tăng trưởng Mặc dù đã hết sức cố gắng song do những hạn chế về kiến thức và kinhnghiệm thực tiễn cũng như giới hạn về thời gian, luận văn khó tránh khỏi nhữngthiếu sót nhất định Nội dung luận văn có thể chưa thật sâu sắc, có thể tồn tại nhữnghạn chế trong cách nhìn nhận một số khía cạnh của vấn đề và một số những luậnđiểm mang yếu tố chủ quan của tác giả Người viết rất mong nhận được ý kiến đónggóp của các thầy cô giáo để có cơ hội hoàn thiện hơn

Trang 21

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

1.1 Một số vấn đề cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài

Sự ra đời và phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là kết quả tất yếucủa quá trình quốc tế hóa và phân công lao động quốc tế Tuy ra đời muộn hơn cáchoạt động kinh tế đối ngoại khác vài ba thập kỷ nhưng FDI đã nhanh chóng xác lập

vị trí của mình trong quan hệ kinh tế quốc tế Nếu như trước những năm 60 dòngvốn FDI chủ yếu từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển hoặc giữa cácnước phát triển với nhau, thì bắt đầu từ những năm 1960 đến 1970, khi xuất hiệncác nước công nghiệp mới (NICs), dòng đầu tư lại có thêm luồng vận chuyển mới:

di chuyển giữa các nước đang phát triển với nhau

Quĩ tiền tệ thế giới (IMF) định nghĩa FDI là hoạt động đầu tư được thực hiệnnhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnhthổ của một nền kinh tế khác với nền kinh tế nước chủ đầu tư; mục đích là giànhquyền quản lý thực sự doanh nghiệp (IMF, 1993, tr.86)

Trong khái niệm mà IMF đưa ra có hai thuật ngữ cần được phân tích sâu hơn,

đó là “lợi ích lâu dài” (lasting interest) và “quyền quản lý thực sự doanh nghiệp”(effective voice in management):

- Lợi ích lâu dài: được hiểu là các mục tiêu dài hạn mà nhà đầu tư thường đặt

ra khi tiến hành FDI Mục tiêu này đòi hỏi tồn tại một mối quan hệ lâu dài giữa nhàđầu tư và doanh nghiệp nhận đầu tư, cũng như một mức độ ảnh hưởng đáng kể từphía nhà đầu tư đối với việc quản lý doanh nghiệp

- Quyền quản lý thực sự doanh nghiệp: hay còn gọi là quyền kiểm soát doanh

nghiệp (control) Đó là quyền tham gia vào các quyết định quan trọng, có ảnhhưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, như thông qua và phê chuẩncác chính sách, chiến lược hoạt động của công ty, phân chia lợi nhuận hay quyếtđịnh phần vốn góp giữa các bên,

Trang 22

Còn theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), FDI được thực hiệnnhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, đặc biệt lànhững khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanhnghiệp nói trên bằng cách:

(i) Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toànquyền quản lý của chủ đầu tư;

(ii) Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có;

(iii) Tham gia vào một doanh nghiệp mới;

(iv) Cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm) (OECD, 2008, tr.48 – 49)

Tại Việt Nam, Điều 3, Luật đầu tư số 59/2005/QH không đề cập trực tiếp đếnFDI mà chỉ diễn giải một số khái niệm có liên quan:

- Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình

để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này vàcác quy định khác của pháp luật có liên quan

- Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham giaquản lý hoạt động đầu tư

- Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) là việc nhà ĐTNN đưa vào Việt Nam vốn bằngtiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư

Tựu trung lại, có thể hiểu FDI là hình thức đầu tư do nhà ĐTNN bỏ vốn vàtham gia kiểm soát hoạt động đầu tư ở Việt Nam Về bản chất, điều này hoàn toànthống nhất với cách hiểu về FDI thông dụng trên thế giới

Như vậy, FDI chính là một loại hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó chủ đầu

tư của một nền kinh tế đóng góp một số vốn hoặc tài sản đủ lớn vào một nền kinh tếkhác để sở hữu hoặc điều hành, kiểm soát đối tượng họ bỏ vốn đầu tư, nhằm mụcđích lợi nhuận hoặc các lợi ích kinh tế khác, trên cơ sở tuân thủ Luật Đầu tư củanước sở tại

Trang 23

1.1.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1.2.1 FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận

Có tới 90% nguồn vốn FDI đang vận động trên thế giới có chủ thể là các công

ty đa quốc gia (MNCs) và bản chất của nó không gì khác hơn là phương tiện hữuhiệu nhằm tối đa hóa lợi nhuận của các công ty này Vấn đề cốt lõi mà nhà ĐTNNquan tâm chính là lợi nhuận về phía họ; cũng chính bởi vậy, các yếu tố liên quanđến kinh tế vĩ mô của nước chủ nhà thường bị xem nhẹ Điều này dẫn đến sự mâuthuẫn giữa mục tiêu của nước đầu tư với mục tiêu của nước nhận đầu tư, gây ra ảnhhưởng xấu tới các lĩnh vực kinh tế, xã hội cũng như môi trường của nước chủ nhà.Nếu nước sở tại không có quy hoạch đầu tư cụ thể và khoa học tất yếu sẽ dẫn tới sựđầu tư tràn lan, kém hiệu quả và nạn ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Các nướcđang phát triển cần hết sức lưu tâm vấn đề này trong quá trình thu hút và sử dụngFDI, để trang bị một hành lang pháp lý đủ mạnh, hướng FDI vào phục vụ cho cácmục tiêu phát triển của nước mình, tránh tình trạng FDI chỉ đơn phương phục vụcho lợi ích của chủ đầu tư

1.2.1.2 Chủ đầu tư tự quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi

Chủ ĐTNN có quyền chủ động lựa chọn lĩnh vực, hình thức đầu tư cũng nhưthị trường và quy mô đầu tư trong khuôn khổ pháp luật; đồng thời phải trực tiếpchịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình Do quyền lợi gắn chặt với dự án,

họ buộc phải cố gắng đưa ra những quyết định đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.Đặc điểm đó khiến FDI vừa mang tính khả thi và hiệu quả sử dụng vốn cao, vừakhông dính dáng đến những ràng buộc về chính trị (mặc dù vẫn chịu sự chi phối củaChính phủ) hay để lại gánh nặng nợ nần cho nước sở tại Về mặt này, FDI đượcxem là mang lại ít rủi ro hơn cho nước nhận đầu tư trong tương quan so sánh vớimột hình thức lưu chuyển vốn quốc tế khác là Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA).Đây là điều mà các nước đang phát triển và chậm phát triển rất quan tâm, vì khảnăng trả nợ của họ, nhất là trả nợ bằng ngoại tệ mạnh, thường yếu kém Viện trợODA trong nhiều trường hợp dẫn đến sự phụ thuộc một chiều hơn là giúp cho các

Trang 24

nước tiếp nhận có được sự phát triển tự thân và tham gia có hiệu quả vào phân cônglao động quốc tế.

1.2.1.3 Sự gắn bó chặt chẽ giữa FDI với chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý

Hoạt động FDI không chỉ đơn thuần đưa vốn vào nước tiếp nhận đầu tư màcùng với nó còn có cả công nghệ, kỹ thuật, bí quyết kinh doanh, sản xuất, trình độquản lý Đây là điểm hấp dẫn quan trọng của FDI, bởi hầu hết các nước đang pháttriển có trình độ khoa học công nghệ còn non trẻ, trong khi phần lớn những kỹ thuậttiên tiến được phát minh trên thế giới xuất phát từ các nước công nghiệp phát triển.Tùy theo hoàn cảnh cụ thể, mỗi quốc gia lại có cách đi riêng để rút ngắn khoảngcách và đuổi kịp các nước ở tầm trên, tuy nhiên, thông qua FDI vẫn được xem làmột phương thức thuận lợi và nhanh chóng Ngày nay, FDI đang dần trở thành kênhquan trọng nhất của việc chuyển giao công nghệ (CGCN) trên phạm vi quốc tế.Thực tế cho thấy nhiều quốc gia đã đạt được thành công trong việc hấp thụ yếu tốbên ngoài để phát triển kinh tế trong nước là nhờ chú ý đến điều này Hongkong,Singapore và Đài Loan rất tích cực khuyến khích các MNCs CGCN giúp nâng caonăng lực công nghệ bản địa

1.2.1.4 FDI là hình thức đầu tư dài hạn dài, có tính chất “bén rễ” ở bản xứ

Chủ đầu tư trực tiếp nước ngoài thường tính chuyện làm ăn lâu dài chứ khôngmang tính đầu cơ như đầu tư gián tiếp, kể cả trong trường hợp không muốn tiếp tục

dự án, họ cũng không dễ dàng thu hồi vốn trong thời gian ngắn bởi lúc này vốnđang nằm trực tiếp trong nhà xưởng, máy móc, thiết bị tại quốc gia nhận đầu tư,cần phải chuyển đổi thành tiền bằng cách bán lại hoặc thanh lý nhà máy mới có thểmang về nước được Điều này tạo ra một ưu điểm đối với nước tiếp nhận FDI làmức độ ổn định của dòng vốn tương đối cao Các nước đang phát triển vẫn thườngđược khuyến cáo xây dựng chính sách theo hướng thận trọng hơn với đầu tư giántiếp trong khi chú trọng hơn đến việc thu hút dòng vốn FDI cũng vì lí do này Kinhnghiệm rút ra từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á năm 1997 cho thấy,những nước chịu tác động nặng nề hơn cả của cuộc khủng hoảng là những nướcnhận nhiều vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài: khi nền kinh tế xảy ra biến cố, các nhàđầu tư ồ ạt rút vốn bằng cách bán tống bán tháo số cổ phiếu đang nắm giữ, dẫn đến

Trang 25

sụt giá chứng khoán, gây đổ vỡ thị trường Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, nền kinh tếcủa nước nhận đầu tư cũng sẽ vì thế mà bị phụ thuộc vào kinh tế khu vực FDI Đặcbiệt, nếu xét đến những dự án có ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế - xã hội – môitrường của nước sở tại thì đặc tính lâu dài, khó rút vốn sẽ càng làm trầm trọng thêmcác hệ lụy

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1.3.1 Môi trường kinh tế - chính trị - xã hội

Môi trường kinh tế vĩ mô ổn định là điều kiện tiên quyết của mọi ý định vàhành vi đầu tư Nguyên tắc này đặc biệt quan trọng trong hoạt động thu hút và sửdụng FDI Nền kinh tế bản địa càng ổn định thì sự an toàn và khả năng sinh lợi củađồng vốn càng được đảm bảo Mức độ ổn định kinh tế vĩ mô được đánh giá dựa trêntiêu chí chống lạm phát và ổn định tiền tệ, được thực hiện thông qua các công cụcủa chính sách tài chính tiền tệ như lãi suất, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ dự trữ bắt buộc,các công cụ thị trường mở, đồng thời phải kiểm soát được mức thâm hụt ngân sáchhoặc giữ cho ngân sách cân bằng

Dòng vốn FDI còn chịu sự chi phối của sự ổn định chính trị - xã hội Bất kỳ sựxáo trộn, bất ổn nào trong đời sống chính trị - xã hội cũng đều gây tác động khôngnhỏ đến lợi ích của nhà đầu tư, dẫn đến tình trạng giảm sút lòng tin và xa hơn nữa làquyết định rút vốn, ngừng dự án với tâm lý e sợ rủi ro Điển hình là trường hợp củanước Nga, mặc dù là một thị trường rộng lớn, nhiều tiềm năng nhưng FDI vào quốcgia này những năm gần đây đã giảm tới gần 70% trong bối cảnh căng thẳng vớiUcraina và chính sách cấm vận của phương Tây Một ví dụ ở chiều ngược lại, thờigian qua, dòng vốn FDI trên thế giới đã có một “cuộc dịch chuyển vĩ đại” sang cácquốc gia Đông Nam Á, nhờ ưu thế về hòa bình, an ninh và ổn định lâu dài của khuvực này Mặt khác, khi tình hình chính trị - xã hội không ổn định, Nhà nước không

đủ khả năng kiểm soát hoạt động của các nhà ĐTNN thì họ sẽ mặc sức hoạt độngnhằm tư lợi cá nhân, không theo định hướng, chiến lược phát triển của nước nhậnđầu tư

Trang 26

1.1.3.2 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên – con người

Vị trí địa lý thuận lợi có ý nghĩa như một lợi thế so sánh trong thu hút dòngvốn FDI thông qua việc tiết kiệm đáng kể chi phí vận chuyển, dễ dàng mở rộng racác thị trường lân cận, khai thác có hiệu quả nguồn nhân lực và thúc đẩy các doanhnghiệp tập trung hóa

Cũng như vậy, điều kiện tự nhiên của nước nhận đầu tư, thể hiện ở trữ lượngkhoáng sản, đất, rừng, nước, khí hậu cũng có ảnh hưởng quan trọng đến dòng vốnchảy vào Chúng không những tác động trực tiếp đến các yếu tố đầu vào mà cònquyết định tính chất đầu ra Thực tế cho thấy, trước khi có sự xuất hiện của TrungQuốc trên lĩnh vực thu hút ĐTNN, vốn FDI chỉ tập trung vào một số quốc gia có thịtrường rộng lớn và nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào Những năm 70, chỉ vàiquốc gia là Brazil, Indonesia, Malaysia, Mexico và Singapore đã thu hút đến hơn50% FDI của toàn thế giới Trong các thập kỷ qua, nguồn tài nguyên thiên nhiên đadạng, phong phú tại các quốc gia Đông Nam Á vẫn luôn là một trong những điểmhấp dẫn quan trọng đối với nhiều MNCs

Sức hấp dẫn của nguồn lực con người trong việc xem xét, đưa ra quyết địnhđầu tư được thể hiện ở trình độ quản lý và năng lực của người lao động Nhân lựcvừa là yếu tố để thu hút vừa là nhân tố quyết định sự sử dụng có hiệu quả FDI Bởilao động có tri thức, kĩ năng và trình độ phù hợp với yêu cầu một mặt sẽ tạo ra năngsuất cao, mặt khác sẽ giúp giảm bớt được một phần chi phí đào tạo cũng như thờigian đào tạo của các nhà ĐTNN, dẫn đến tiến độ và hiệu quả của dự án đạt đúngmục tiêu đề ra Ngược lại, trình độ thấp kém sẽ làm cho nước chủ nhà thua thiệt,đặc biệt là ở khâu tiếp nhận và hấp thu công nghệ hiện đại Ở các nước đang pháttriển, chi phí nhân công rẻ thường là lợi thế trong thu hút dòng vốn FDI vào nhữngngành thâm dụng lao động, nhưng trình độ nhân công thấp lại là nhược điểm trongviệc mời gọi đầu tư vào những ngành đòi hỏi kỹ thuật, tay nghề cao

1.1.3.3 Chính sách – pháp luật

Một hệ thống chính sách, pháp luật đồng bộ, hoàn thiện và vận hành hữu hiệu

là một trong những yếu tố tạo nên môi trường kinh doanh thuận lợi, có tác dụngđịnh hướng và hỗ trợ cho các nhà ĐTNN Điều mà chủ đầu tư thường đặc biệt quan

Trang 27

tâm là liệu có sự đảm bảo về pháp luật đối với các tài sản tư nhân và môi trườngcạnh tranh có lành mạnh hay không? Các quy định về thuế, các mức thuế và sựphân chia lợi nhuận như thế nào? Do vậy, để tạo niềm tin cho nhà ĐTNN, cácchính sách, luật pháp của nước sở tại phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản: bìnhđẳng, cùng có lợi và phù hợp với thông lệ quốc tế Vấn đề đặt ra là những cơ chếpháp lý mềm dẻo theo hướng tạo điều kiện cho các nhà ĐTNN đó không được làmảnh hưởng đến chủ quyền quốc gia, không tác động xấu đến sự phát triển chung củanền kinh tế và xã hội.

1.1.3.4 Cơ sở hạ tầng

Kết cấu hạ tầng kỹ thuật là cơ sở để thu hút dòng vốn FDI và cũng là nhân tốthúc đẩy hoạt động FDI diễn ra nhanh chóng, có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quảsản xuất kinh doanh Sự phát triển cân đối và toàn diện cơ sở hạ tầng được đề ranhư một nhu cầu hàng đầu trong việc thu hút dòng vốn FDI Hệ thống thông tin liênlạc, mạng lưới giao thông, năng lượng, hệ thống cấp thoát nước, các cơ sở dịch vụtài chính ngân hàng phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án FDI Cácnhân tố này phản ánh diện mạo, trình độ phát triển của mỗi quốc gia nói chung vàmôi trường đầu tư của quốc gia đó nói riêng Với cơ sở hạ tầng tiên tiến sẵn có, cácnhà đầu tư chỉ việc tập trung vào sản xuất kinh doanh thì thời gian thực hiện dự án

sẽ được rút ngắn Bên cạnh đó, việc giảm chi phí cho các khâu vận chuyển, thôngtin chắc chắn làm tăng hiệu quả đầu tư

1.2 Một số vấn đề cơ bản về phát triển bền vững

1.2.1 Khái niệm phát triển bền vững

Chỉ từ nửa sau của thế kỷ XX, khi chạm gần đến nguy cơ cạn kiệt tài nguyên,cũng như đứng trước sự phát sinh của hàng loạt các dấu hiệu về khủng hoảng môitrường toàn cầu, thì loài người dường như mới bắt đầu nghiêm túc nhìn nhận về tầmquan trọng của vấn đề sinh thái đối với sự tồn tại và phát triển của mình, về sự cầnthiết phải đổi mới một cách cơ bản trong tư duy cũng như hành động để tiến đếnmục tiêu phát triển bền vững (PTBV) Dấu mốc đầu tiên của sự hồi tỉnh đó có thể

kể đến Hội nghị thế giới lần thứ nhất về môi trường sống với sự tham dự của đạidiện 173 quốc gia tại Stockhom – Thụy Điển (1972)

Trang 28

Năm 1980, thuật ngữ PTBV lần đầu tiên xuất hiện trong ấn phẩm Chiến lượcbảo tồn Thế giới (được công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyênThiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung còn rất sơ khai: "Sự phát triển của nhânloại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhucầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái".

Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland(còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thếgiới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) Báo cáo này kêu gọi hướng tới một kỷnguyên mới vừa phát triển kinh tế, vừa đảm bảo an toàn môi trường và ghi rõ:

PTBV là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai ".

Cho đến nay, đây vẫn là định nghĩa về PTBV được sử dụng phổ biến nhất toàn cầu.Sau đó, tới năm 1992, tại Rio de Janeiro (Bzrazil), trong Hội nghị thượng đỉnhcủa Liên Hợp Quốc về Môi trường và phát triển, các nguyên thủ của 179 quốc gia

đã kí kết hai văn kiện lịch sử quan trọng là “Chương trình nghị sự 21” và “Tuyên bốchung về 27 nguyên tắc cơ bản của PTBV”, gửi đi một thông điệp rõ ràng tới tất cảcác cấp chính phủ trên toàn thế giới về sự cấp bách trong việc đẩy mạnh “sử dụnghợp lý và có hiệu quả các nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường một cách khoa họcđồng thời với sự phát triển kinh tế.” Mười năm sau - năm 2002, tại Nam Phi, cácquốc gia tham dự Hội nghị thượng đỉnh trái đất về PTBV (còn gọi là Hội nghị Rio+10 hay Hội nghị thượng đỉnh Johannesburg) một lần nữa tái khẳng định cácnguyên tắc đã đề ra và cam kết thực hiện đầy đủ Chương trình nghị sự 21

Như vậy, có thể thấy khái niệm PTBV được thống nhất trong tất cả các Hộinghị Quốc tế, là sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt: kinh tế, xã hội vàmôi trường “Phát triển”, tự thân nó đã bao hàm khía cạnh thay đổi theo hướng đilên, hướng tốt hơn tương đối; trong khi “bền vững” nhấn mạnh đến khả năng duytrì, tiếp nối trong một thời gian dài PTBV do đó cũng cần được hiểu như là mộtphương thức phát triển hướng tới sự cải thiện tốt hơn cái đang có, thỏa mãn nhữngnhu cầu không ngừng thay đổi, nâng cao của loài người, hướng đến phúc lợi của thế

hệ hôm nay, nhưng không để lại gánh nặng cho các thế hệ mai sau

Trang 29

1.2.2 Nội dung của phát triển bền vững

Về nguyên tắc, PTBV là quá trình vận hành đồng thời ba bình diện phát triển:kinh tế, xã hội và môi trường Do đó, tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo

vệ môi trường chính là những nội dung cơ bản, những bộ phận hợp thành hữu cơ,hay những trụ cột của PTBV

Hình 1.1 Ba trụ cột của phát triển bền vững

1.2.2.1 Phát triển bền vững về kinh tế

Về mặt kinh tế, mục tiêu PTBV hàm ý rằng nền kinh tế phải có tốc độ tăngtrưởng cao, nhưng phải gắn với phát triển hiệu quả và đặc biệt phải ổn định, tránhgây những cú sốc lớn Thực tế cho thấy có những nền kinh tế đã có sự khởi đầu khá

ấn tượng (sự gia tăng nhanh chóng của sản xuất công nghiệp, thu nhập của dân cưđược cải thiện rõ rệt, ) nhưng thời gian duy trì lại không được bao lâu Một sự tăngtrưởng quá nóng tất yếu khiến nền kinh tế rơi vào khủng hoảng, hoặc ít nhất làchậm lại trong tương lai Sau một thời gian nhất định, nền kinh tế tỏ ra “hụt hơi”,

“mất đà”, tốc độ tăng trưởng chậm dần, thậm chí chuyển sang suy thoái Đó chính

là dấu hiệu của sự phát triển không bền vững Điển hình là trường hợp của TrungQuốc:

Theo báo cáo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), trong vòng 10 năm liên tục(1990 - 2010), kinh tế Trung Quốc đạt mức tăng trưởng trung bình 9,6%, từng bướcvượt qua các quốc gia phát triển Tây Âu là Pháp, Anh, Đức Năm 2010, Trung

Trang 30

Quốc chính thức thay thế Nhật Bản để trở thành quốc gia đứng thứ hai thế giới vềkinh tế, chỉ sau Mỹ Năm 2011, Trung Quốc thậm chí vượt Mỹ trở thành quốc gia

có đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng thế giới với tỷ trọng 30% nếu xét từ sảnlượng toàn cầu Người ta đã không tiếc lời ca ngợi sự phát triển vượt bậc của TrungQuốc bằng những mỹ từ như: “sự tăng trưởng thần kỳ”, “phép màu Trung Quốc”,

“sự trỗi dậy của người khổng lồ” hay "bước chuyển quyền lực thế giới đang diễnra"… Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng mô hình tăng trưởng kinh tế của TrungQuốc về bản chất chỉ là câu chuyện về một nền kinh tế phát triển phi tự nhiên dưới

sự lãnh đạo của một nhà nước độc đoán Mô hình này đang dần bộc lộ tính khôngbền vững trong bối cảnh Trung Quốc phải chứng kiến sự tăng trưởng chậm lại cũngnhư vấn nạn tham nhũng hoành hành, tình trạng bất bình đẳng ngày càng gia tăng

và vấn đề hủy hoại nghiêm trọng hệ sinh thái Gói kích thích kinh tế khổng lồ nhằmđối phó với cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 đã dẫn đến nhiều hậu quảnhư nhiều ngành nghề năng lực sản xuất dư thừa, thị trường bất động sản cung vượtcầu và nợ công địa phương tăng cao Nhờ hàng loạt các biện pháp kích thích củaChính phủ, tăng trưởng kinh tế Trung Quốc năm 2016 cũng chỉ dừng lại ở mức6,7% - mức thấp nhất trong 25 năm qua (kể từ năm 1990) Nước này đồng thời đangphải đối mặt với tình trạng nợ nần tăng nhanh đến mức báo động Thời báo tài chính– Financial Times có đưa ra ước tính rằng tổng nợ của Trung Quốc, gồm cả nợ củakhối doanh nghiệp lẫn nợ công và nợ của toàn bộ các hộ gia đình đã tăng từ mức148% GDP năm 2007 lên 237% GDP tính tới cuối quý I/2016 (Tuấn Anh, 2016).Đây là hiện thực mà các nhà kinh tế đã dự báo - nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới saunhiều năm tăng trưởng nóng với tốc độ 2 con số buộc phải “nguội” lại, phải giảmtốc Giới đầu tư lo ngại nguy cơ nền kinh tế Trung Quốc “hạ cánh cứng” (nhanhchóng chuyển từ tăng trưởng cao sang tăng trưởng thấp, tiến gần đến suy thoái).Tăng trưởng kinh tế đã đến với những cái giá đáng kể, bao gồm thương vong quánhiều về con người, sự ô nhiễm môi trường, sự dư thừa năng suất cũng như sự bấtbình đẳng về thu nhập, sự phân rã về đạo đức Hiện nay ô nhiễm môi trường là điềuđầu tiên dư luận thế giới nhắc tới mỗi khi đề cập tới mặt trái của công thức tăngtrưởng kinh tế bằng mọi giá của Trung Quốc Để phục vụ phát triển công nghiệp,

Trang 31

Trung Quốc đã trở thành quốc gia đứng đầu thế giới về tiêu thụ năng lượng (than,thép, đồng đỏ, dầu mỏ, điện…), cũng đồng nghĩa vị trí số một về lượng xả thảicarbon Một nghiên cứu mới đây được thực hiện bởi trường Đại học Nam Kinh tiết

lộ có ít nhất 23 thành phố ở Trung Quốc đã ban hành báo động đỏ - mức cảnh báocao nhất về ô nhiễm không khí hiện nay, thậm chí có nơi mức độ ô nhiễm vượt gấp

100 lần mức cho phép của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) Cũng theo nghiên cứunày thì có tới 1/3 số người chết ở Trung Quốc do nguyên nhân liên quan đến khóibụi dày đặc (Thành Đạt, 2016) Trung Quốc cũng đang bước vào một thời kỳ vớinhững căng thẳng về mặt xã hội ngày càng bị đào sâu mà biểu hiện ra bên ngoài lànhững bất ổn và phản đối Các cuộc đình công, gây hỗn loạn của giới lao động tănglên nhanh chóng khi các doanh nghiệp – cả nhà nước và tư nhân – buộc phải sa thảihàng triệu nhân công Trước tình hình đó, Trung Quốc hiện đang nỗ lực chuyển đổi

từ tăng trưởng phi mã dựa chủ yếu vào xuất khẩu và đầu tư cơ sở hạ tầng, sang môhình tăng trưởng bền vững dựa vào tiêu dùng Để thúc đẩy tiêu dùng nội địa, chínhphủ đã tăng mức lương tối thiểu để tăng thu nhập của người dân, đồng thời nới lỏngcác biện pháp kiểm soát lãi suất để tăng lợi tức cho những người gửi tiền tiết kiệm

hộ gia đình Trung Quốc cũng hạ thuế suất và thông thoáng hơn với chính sách sửdụng đất đai để khuyến khích các ngành tiêu dùng phát triển, như thực phẩm, ô tô,

và tránh lặp lại tình trạng dư thừa sản xuất ở các ngành công nghiệp nặng như sảnxuất thép và đóng tàu Năm 2017, nước này đặt mục tiêu tăng trưởng Tổng sảnphẩm quốc nội (GDP) là 6,5% - mục tiêu tăng trưởng thấp nhất đặt ra trong vòng 25năm trở lại đây, kể từ năm 1992 (khi đó con số này là 6%)

Tính bền vững của phát triển kinh tế biểu hiện trước hết ở bản thân các thành

tố cấu thành Đó là sự bền vững của tăng trưởng kinh tế (phải cùng lúc đảm bảo cảyêu cầu về số lượng và chất lượng tăng trưởng: tăng trưởng với hiệu suất cao, mởrộng được đường giới hạn khả năng sản xuất một cách liên tục trong thời gian dài,tạo ra các giá trị đóng góp ngày càng lớn), sự bền vững của chuyển dịch cơ cấu kinh

tế (theo hướng hình thành cơ cấu kinh tế tiến bộ: tỷ trọng công nghiệp và dịch vụtrong GDP phải cao hơn so với nông nghiệp) và sự bền vững của mức độ bình đẳngtrong việc thụ hưởng thành quả phát triển kinh tế Một nền kinh tế PTBV sẽ đạt

Trang 32

mức tăng trưởng GDP và GDP đầu người cao nhưng vẫn đồng thời đảm bảo ổnđịnh kinh tế vĩ mô như lạm phát, lãi suất, nợ chính phủ, đảm bảo cân đối cán cânthương mại, đầu tư có chất lượng, có năng suất cao thông qua việc nâng cao hàmlượng khoa học và công nghệ trong sản xuất Tuy nhiên, không chỉ có vậy, tínhbền vững của phát triển kinh tế còn phụ thuộc một phần không nhỏ vào những điềukiện bên ngoài, những nhân tố thường xuyên ảnh hưởng, chi phối sự phát triển kinh

tế là xã hội và môi trường Nói cách khác, phát triển kinh tế nhưng không được làmphương hại đến xã hội và môi trường

cử, chính sách phát triển mà chỉ hô hào làm giàu (thậm chí có ý kiến cho rằng phảichấp nhận mức độ tham ô nào đó trong giai đoạn gia tốc phát triển) sẽ hủy hoại tínhcộng đồng, làm mất sự tin cậy lẫn nhau, và do đó làm suy giảm vốn xã hội Mộtthực tế không thể phủ nhận là ở trình độ phát triển nào của kinh tế cũng sẽ có nhữngvấn đề xã hội nảy sinh cần giải quyết; và PTBV đòi hỏi sự đánh đổi tối ưu, ăn khớpgiữa nhiều diễn biến xã hội và kinh tế khác nhau Đặc biệt, ở những giai đoạn mangtính chất bước ngoặt, như thời kỳ cất cánh của công nghiệp hóa ở một quốc gia,cũng trùng với thời kỳ chuyển từ trạng thái nước nghèo sang nước có thu nhập trungbình, vẫn thường hay xuất hiện nhiều vấn đề xã hội, mà nếu không giải quyết tốt, sẽtrở thành những nhân tố gây cản trở mạnh mẽ nhất đối với sự phát triển kinh tế

Xã hội ổn định và đồng thuận, có tiềm năng phát triển lớn và tâm lý phát triểntốt là những định hướng nổi trội của PTBV Các biểu hiện của tính bền vững xéttrên khía cạnh xã hội có thể kể đến như công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo, tạocông ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, an ninh được đảm bảo, ngườidân được hưởng các dịch vụ cơ bản như y tế, giáo dục… Công bằng xã hội đượchiểu không phải là thành quả của xã hội được phân chia đồng đều cho tất cả mọi

Trang 33

người, mà trước hết là sự bình đẳng trong cơ hội tiếp cận và tham gia của mọi tầnglớp dân chúng vào quá trình phát triển và từ đó, được hưởng thành quả tương ứngvới khả năng, sức lực và trí tuệ của họ Nói khác đi, xã hội cần chú trọng tạo điềukiện thuận lợi cho lĩnh vực phát triển con người và cố gắng mang tới cho tất cả mọingười cơ hội như nhau trong việc phát triển tiềm năng bản thân Đây chính lànguyên tắc then chốt để thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các giai tầng, giữanông thôn và thành thị Bên cạnh đó, một quốc gia thật sự phát triển không chỉ làquốc gia trong đó người dân có mức thu nhập cao, mà còn là một quốc gia có đờisống văn hóa, tinh thần phong phú.

1.2.2.3 Phát triển bền vững về môi trường

Môi trường, với tư cách vừa là không gian diễn ra mọi hoạt động kinh tế - xãhội của con người, vừa là hệ thống cung cấp các nguồn lực đầu vào cho quá trìnhphát triển, đóng vai trò như một thành tố nòng cốt của PTBV Mặc dù vậy, ngay từnhững ngày đầu, với mục tiêu thâu tóm những khoản lợi nhuận khổng lồ trong thờigian ngắn nhất, chủ nghĩa tư bản đã ra sức khai thác triệt để những tài nguyên thiênnhiên sẵn có Ngoài ra, sự gia tăng dân số, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển,cũng góp phần tiêu thụ một lượng lớn năng lượng chưa kịp tái tạo Sự hữu hạn củanguồn tài nguyên đi liền với nhu cầu ngày càng tăng của con người đang tạo ranhững sức ép khổng lồ cho môi trường, gây tổn thương nghiêm trọng hệ sinh thái Nguyên thủy, nhận thức về PTBV bắt nguồn từ mối quan ngại đối với một sốquốc gia chọn cách tăng trưởng kinh tế vội vã, bằng mọi giá tăng nhanh thu nhậphiện tại mà không để ý đến những nguy hại dài lâu mà lối phát triển thiển cận, mangtính chất “ăn xổi ở thì” ấy để lại cho môi trường sinh thái (tàn phá rừng, sa mạchóa ), cho trữ lượng hữu hạn của tài nguyên thiên nhiên (quặng mỏ, dầu hỏa, khíđốt…) Phát triển kinh tế mà chỉ dựa vào những loại tài nguyên có thể cạn kiệt, pháttriển mà làm hủy hoại môi trường, gây ra những hậu quả khó khắc phục về lâu dài,thì đó là một sự phát triển không bền vững Do đó, PTBV về môi trường là việc sửdụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, duy trì một nền tảng nguồn lực ổn định, tránhkhai thác quá mức các nguồn lực không thể tái sinh PTBV đặt ra yêu cầu duy trì sự

đa dạng sinh học, sự ổn định khí quyển và các hoạt động sinh thái khác, hạn chế vấn

Trang 34

đề ô nhiễm môi trường, quản lý và xử lý tốt chất thải rắn, chất thải nguy hại, ngănngừa và giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu và thiên tai Ngoài ra, PTBVđòi hỏi các doanh nghiệp từng bước thay đổi mô hình sản xuất, hướng đến sử dụng

có hiệu quả các công nghệ sản xuất sạch hơn, thân thiện với môi trường hơn

1.2.3 Tiêu chí đánh giá phát triển bền vững

Cho đến nay, trên thế giới vẫn chưa có bộ tiêu chí thống nhất để đánh giáPTBV Tuy nhiên, một số tổ chức quốc tế đã cố gắng xây dựng những bộ chỉtiêu/chỉ số dựa trên tinh thần khoa học, dễ hiểu, dễ điều tra với mong muốn giúp cácquốc gia sử dụng làm tham chiếu để giám sát, đánh giá định tính và định lượng quátrình thực hiện mục tiêu PTBV của mình Đáng quan tâm có thể kể đến Bộ 58 tiêuchí của Uỷ ban PTBV Liên hợp quốc (Commission for Sustainable Development –CSD), bộ 46 tiêu chí của Nhóm tư vấn về chỉ tiêu PTBV (CGSDI), Bộ chỉ số thịnhvượng gồm 88 tiêu chí của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN), Dấu chânsinh thái,… Trong số đó, 58 tiêu chí (giản lược từ 134 tiêu chí ban đầu) của CSDđược đánh giá là bộ tiêu chí toàn diện nhất, bao quát được hầu hết các khía cạnhkinh tế, xã hội, môi trường của PTBV (Xem Phụ lục 1); hiện đang được nhiều quốcgia (bao gồm cả Việt Nam) lựa chọn trên cơ sở tự nguyện, có điều chỉnh cho phùhợp với trình độ phát triển cụ thể, và không liên quan tới bất cứ một điều kiện nào

về tài chính, kỹ thuật và thương mại

1.3 Mối liên hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và phát triển bền vững

Trong lịch sử, từng tồn tại tư tưởng phản bác FDI dựa trên quan điểm chủ đạokhi đó cho rằng MNCs là công cụ của chủ nghĩa đế quốc mà các nước giàu sử dụng

để phá hủy chủ quyền, áp bức người lao động và khai thác kiệt quệ nguồn tàinguyên thiên nhiên của các nước đi sau Tầm nhìn chính trị này đã lên đến đỉnhđiểm vào những năm 1970 khi các nước đang phát triển cùng nhau yêu cầu một

“Trật tự kinh tế quốc tế mới”, gây ra làn sóng chỉ trích và các cuộc biểu tình bạo lựcchống lại FDI

Tuy nhiên, thực tế chứng minh rằng, nếu được thu hút và sử dụng có hiệu quả,FDI là một nhân tố rất tích cực đóng góp cho sự PTBV của các quốc gia, đặc biệt là

Trang 35

các nước đi sau, có xuất phát điểm thấp về tài chính cũng như khoa học và côngnghệ

1.3.1 Xét trên khía cạnh kinh tế

1.3.1.1 FDI bù đắp sự thiếu hụt về vốn của các nước nhận đầu tư, đặc biệt là các nước đang phát triển

Vốn đầu tư là cơ sở để tạo ra công ăn việc làm trong nước, đổi mới công nghệ,

kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động… ; từ đó tạo tiền đề tăng thu nhập, tăng tíchlũy cho sự phát triển kinh tế Tuy nhiên, để tạo vốn cho nền kinh tế nếu chỉ trôngchờ vào tích lũy nội bộ thì hậu quả khó tránh khỏi là vị thế tụt hậu trong sự pháttriển chung của thế giới Thu hút dòng vốn FDI được coi là phương thức đầu tư phùhợp nhất với các nước đang phát triển, giúp các nước này huy động được nguồn lựctài chính từ thị trường quốc tế để khắc phục tình trạng thiếu vốn kéo dài mà không

để lại gánh nặng nợ nần, đồng thời tránh khỏi tình trạng tích lũy quá căng thẳng dẫnđến những méo mó không đáng có về kinh tế Nhờ vậy, mâu thuẫn giữa nhu cầuphát triển to lớn với sự khan hiếm về tài chính được giải quyết, đặc biệt là ở thời kỳđầu của quá trình công nghiệp hóa – thời kỳ thường đòi hỏi đầu tư một tỷ lệ vốn lớnhơn các giai đoạn về sau và càng lớn hơn nhiều lần so với khả năng tự cung ứng từbên trong FDI còn là một nguồn quan trọng để bổ sung sự thiếu hụt về ngoại tệ nóiriêng, bởi FDI cho phép nước nhận đầu tư thu một phần lợi nhuận từ các công tynước ngoài và từ các hoạt động dịch vụ phục vụ cho đầu tư

1.3.1.2 FDI thúc đẩy trình độ công nghệ của nước chủ nhà

Lợi thế này của FDI được thể hiện thông qua hai khía cạnh chính là CGCN sẵn

có từ bên ngoài vào và gián tiếp thúc đẩy khả năng công nghệ của các cơ sở nghiêncứu, ứng dụng của nước sở tại

FDI được đánh giá là kênh quan trọng để thu hút công nghệ nguồn từ các nước

có nền công nghiệp tiên tiến, góp phần không nhỏ vào việc đổi mới, nâng cao hiệuquả sản xuất - kinh doanh trong quá trình hội nhập quốc tế của mỗi quốc gia Theosau dòng vốn FDI là máy móc, thiết bị và công nghệ mới, giúp các nước đang pháttriển tiếp cận gần hơn với khoa học – kỹ thuật hiện đại Ngày nay, CGCN được coinhư một tất yếu khách quan và là quy luật phát triển của nền kinh tế thế giới Cùng

Trang 36

với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, hoạt động CGCN ngày càngtrở nên phong phú và đa dạng hơn Các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại ngàynay đã làm rút ngắn tuổi thọ của công nghệ, khiến nhu cầu đổi mới công nghệ ngàycàng tăng Trong khi công nghệ phát triển nhanh, chu trình sống của công nghệ lạirất ngắn, những người đi sau muốn sở hữu công nghệ đã xuất hiện trên thị trườngthường dựa vào quá trình chuyển giao thay vì bắt đầu từ nghiên cứu Mặt khác,không một quốc gia nào trên thế giới có đủ mọi nguồn lực để làm ra tất cả các côngnghệ cần thiết một cách kinh tế, do đó cần cân nhắc giữa “mua” và “làm” Hơn nữa,

sự phát triển không đồng đều về trình độ giữa các quốc gia trên thế giới dẫn đếnviệc khai thác lợi thế CGCN là tất yếu Thu hút các MNCs có công nghệ cao sẽ tạođiều kiện thuận lợi cho chuyển giao kỹ thuật và bí quyết kinh doanh Trên thực tếtồn tại hai loại hiệu ứng lan tỏa trong FDI là lan tỏa ngang (trong một ngành côngnghiệp) và lan tỏa dọc (liên ngành) Lan tỏa ngang xảy ra giữa các MNCs và doanhnghiệp trong nước thuộc cùng một ngành, còn lan tỏa dọc xảy ra khi có sự tương tácgiữa các công ty trong nước và nước ngoài thuộc các ngành công nghiệp khác nhau.Hiệu ứng lan tỏa có thể phát triển thông qua việc thực hiện các dự án thí điểm, sau

đó triển khai trên quy mô lớn thông qua việc xây dựng liên kết sản xuất giữa cácdoanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước Theo đó, doanh nghiệp trong nước

sẽ trở thành nhà cung cấp hoặc khách hàng của doanh nghiệp FDI, hoặc có sự dịchchuyển của các kỹ sư giàu kinh nghiệm và công nhân tay nghề cao từ doanh nghiệpnước ngoài sang doanh nghiệp trong nước

Bên cạnh CGCN sẵn có, thông qua FDI, các MNCs còn góp phần tích cực đốivới tăng cường năng lực nghiên cứu và phát triển công nghệ của nước chủ nhà.Hoạt động của các doanh nghiệp FDI góp phần thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi

tư duy kinh tế thị trường của các doanh nghiệp trong nước, tạo áp lực đáng kể kíchthích các doanh nghiệp nội địa phải đầu tư đổi mới công nghệ để tạo được nhữngsản phẩm có khả năng cạnh tranh với sản phẩm của các doanh nghiệp có vốn nướcngoài trên thị trường trong nước và xuất khẩu Để tồn tại và phát triển, họ phải tựđiều chỉnh, bổ sung, nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh, đầu tư chiều sâu, đổimới thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu, Nhờ đó đã

Trang 37

gián tiếp tăng cường năng lực phát triển công nghệ bản địa và đó cũng chính làđộng lực thúc đẩy kinh tế Mặt khác, trong quá trình sử dụng công nghệ nước ngoài,các nhà đầu tư và phát triển công nghệ trong nước có cơ hội học hỏi cách thiết kế,chế tạo công nghệ nguồn, sau đó cải biến cho phù hợp với điều kiện sử dụng cụ thể

và biến chúng thành công nghệ của mình

1.3.1.3 FDI thúc đẩy xuất khẩu và tiếp cận với thị trường thế giới

Thông qua FDI, các nước đang phát triển có thể tiếp cận với thị trường thếgiới bởi hầu hết các hoạt động FDI đều do các MNCs thực hiện, mà các công ty này

có lợi thế tiềm năng trong việc tiếp cận với khách hàng bằng những hợp đồng dàihạn dựa trên cơ sở thương hiệu và uy tín của họ về chất lượng, kiểu dáng sản phẩm,dịch vụ FDI là yếu tố quan trọng nhất để tạo ra sự bùng nổ xuất khẩu (cả về mặtlượng và cơ cấu, đặc biệt là chuyển biến cơ cấu xuất khẩu theo hướng công nghiệphoá) FDI giúp các nước đang phát triển mở cửa thị trường hàng hóa nước ngoài và

đi kèm với nó là những hoạt động marketing được mở rộng không ngừng Do cáccông ty tư bản độc quyền đầu tư trực tiếp vào các nước đang phát triển mà các nướcnày có khả năng bước chân vào thị trường xa lạ, thậm chí có thể xem như “lãnh địacấm kỵ” với họ trước đây Mặt khác, xuất khẩu có mối quan hệ nhân quả với tăngtrưởng kinh tế Mối quan hệ này được thể hiện ở các khía cạnh xuất khẩu cho phépkhai thác lợi thế so sánh, hiệu quả kinh tế theo quy mô, thực hiện chuyên môn hoásản xuất; đồng thời còn tạo ra các tác động ngoại ứng như thúc đẩy trao đổi thôngtin dịch vụ, lôi kéo doanh nghiệp trong nước vào mạng lưới phân phối toàn cầu Tất

cả các yếu tố này sẽ góp phần kiến tạo một sự PTBV trong kinh tế

1.3.2 Xét trên khía cạnh xã hội

1.3.2.1 FDI góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm và thu nhập cho người lao động

Đối với các nước đang phát triển, FDI giúp đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tếthông qua việc tạo ra những doanh nghiệp mới, thu hút thêm lao động, giải quyếtmột phần nạn thất nghiệp Theo thống kê của Liên hợp quốc, số người thất nghiệp

và bán thất nghiệp của các nước đang phát triển chiếm trên 30% tổng số lao động.FDI ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội tạo ra công ăn việc làm thông qua việc cung cấp

Trang 38

lao động cho các hãng có vốn ĐTNN FDI còn tạo ra những cơ hội việc làm trongnhững tổ chức khác khi các nhà ĐTNN mua hàng hóa dịch vụ từ các nhà sản xuấttrong nước, hoặc thuê họ thông qua các hợp động gia công chế biến.

1.3.2.2 FDI góp phần đổi mới tư duy lao động, nâng cao năng lực quản lý, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng

Văn hoá - xã hội là lĩnh vực rất nhạy cảm và mang đậm bản sắc của mỗi quốcgia Tiếp nhận dòng vốn FDI, đồng nghĩa với việc nước chủ nhà mở cửa giao lưuvới nền văn hoá các dân tộc trên thế giới ĐTNN tác động mạnh vào mối quan hệgiữa giữ gìn bản sắc của dân tộc và tiếp nhận nền văn hoá bên ngoài ở các mặt quantrọng như: đổi mới tư duy; thái độ và đạo đức nghề nghiệp; lối sống, tập quán; giaotiếp ứng xử; bình đẳng giới và các vấn đề xã hội khác Chất lượng của tư duy là yếu

tố quyết định sự phát triển của xã hội; đổi mới tư duy là đổi mới cách nghĩ, cáchlàm FDI tác động rất tích cực vào quá trình này thông qua trực tiếp đào tạo các nhàquản lý bản địa có kiến thức kinh doanh hiện đại, lực lượng lao động quen dần vớitác phong công nghiệp, tính kỷ luật cao cũng như hình thành dần đội ngũ những nhàdoanh nghiệp giỏi FDI nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của nước chủ nhà theonhiều hình thức như các khoá học chính quy, không chính quy, và học thông qualàm Thông qua khoản trợ giúp tài chính hoặc mở các lớp đào tạo dạy nghề, FDIcòn góp phần quan trọng đối với phát triển giáo dục của nước chủ nhà trong các lĩnhvực giáo dục đại cương, dạy nghề, các chương trình phổ cập kiến thức cơ bản chongười lao động bản địa làm việc trong dự án, tạo cơ hội cho nhiều lao động được điđào tạo ở nước ngoài FDI gián tiếp tạo ra trong xã hội, nhất là thế hệ trẻ, một lốinghĩ mới có hiệu quả của nền kinh tế thị trường Thái độ và đạo đức nghề nghiệp cóảnh hưởng rất lớn đến hành vi và chất lượng lao động của mỗi cá nhân Do hoạtđộng trong môi trường cạnh tranh gay gắt, những người làm việc trong các dự ánĐTNN phải có thái độ nghiêm túc với công việc và đảm bảo uy tín cao đối vớikhách hàng Nhờ đó, góp phần quan trọng hình thành nên phong cách kinh doanh cóvăn hoá Phong cách này dần dần lan toả ra tới các cá nhân khác trong toàn xã hội,làm thay đổi đáng kể lối sống, tập quán của các tầng lớp dân cư theo kiểu hiện đại,tiêu dùng công nghiệp

Trang 39

1.3.3 Xét trên khía cạnh môi trường

Công nghệ cao, công nghệ sạch trong các dự án FDI có chất lượng từ các quốcgia áp dụng tiêu chuẩn nghiêm ngặt về môi trường sẽ giúp bảo vệ môi trường, sửdụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên ở nước tiếp nhận, đồng thời góp phầnnâng cao ý thức trách nhiệm đối với môi trường của các doanh nghiệp trong nước

Ở chiều ngược lại, các quốc gia đã đạt được sự PTBV tất yếu sẽ tác động tíchcực đến tâm lý và niềm tin của các nhà ĐTNN, dẫn đến việc thu hút được nhiều FDIhơn Như vậy, có thể nói giữa FDI và PTBV có mối quan hệ hai chiều, luôn tươngtác lẫn nhau

1.4 Chính sách thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hướng đến phát triển bền vững

Từ điển bách khoa Việt Nam đưa ra định nghĩa về chính sách như sau:

“Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chínhsách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào

đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất củađường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”

Theo James Anderson: “Chính sách là một quá trình hành động có mục đíchtheo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quantâm”

Cũng có những định nghĩa khác, chẳng hạn “chính sách là chuỗi những hoạtđộng mà chính quyền chọn làm hay không làm với tính toán và chủ đích rõ ràng, cótác động đến người dân”; hoặc “chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chếhóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãimột hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thựchiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xãhội” Theo đó khái niệm “hệ thống xã hội” được hiểu theo nghĩa khái quát, có thể làmột quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường…

Trang 40

Nhìn chung, hiểu một cách đơn giản, chính sách là chương trình hành động

do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộcphạm vi thẩm quyền của mình Chính sách có những đặc điểm chính sau:

- Chính sách là do một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra;

- Chính sách được ban hành căn cứ vào đường lối chính trị chung và tình hìnhthực tế;

- Chính sách được ban hành bao giờ cũng nhắm đến một mục đích nhất định;nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó; chính sách được ban hành đều có sựtính toán và chủ đích rõ ràng

Từ khái niệm trên, có thể hiểu chính sách thu hút dòng vốn FDI bao gồm một

hệ thống các chính sách, công cụ và biện pháp thích hợp mà Nhà nước áp dụng đểđiều chỉnh các hoạt động thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI vào cácngành, lĩnh vực của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, nhằm đạt được cácmục tiêu kinh tế vĩ mô đã định ra trong chiến lược phát triển của quốc gia đó

Hầu hết các Chính phủ đều có vai trò trực tiếp quản lý FDI thông qua việctạo ra khuôn khổ thể chế, chính sách hỗ trợ nhằm khuyến khích hay hạn chế dòngvốn FDI Một hệ thống chính sách thu hút dòng vốn FDI có hiệu quả sẽ kết hợp linhhoạt cả hai tác động trên

Sự khuyến khích của Chính phủ nước chủ nhà có thể chia làm bốn dạng.Dạng thứ nhất là nhằm giúp tăng thu cho các doanh nghiệp FDI Những khuyếnkhích loại này bao gồm thuế quy định thuế nhập khẩu đối với hàng hoá của doanhnghiệp FDI, miễn thuế trong một thời hạn nào đó đối với sản phẩm của nhữngdoanh nghiệp này Hầu hết các nước chủ nhà muốn khuyến khích ĐTNN đều cungcấp cho các nhà đầu tư trọn gói cơ sở hạ tầng, thường là khu chế xuất hay khu tự dothương mại Một số nước chủ nhà giúp các nhà ĐTNN giảm rủi ro phi kinh tế, đảmbảo không quốc hữu hoá hay sung công tài sản của họ Các nước chủ đầu tư cũng

ký kết với các nước nhận đầu tư những hiệp ước song phương để bảo hộ đầu tư, bảolãnh đầu tư, nhằm bảo hiểm rủi ro về chính trị đối với khả năng không chuyển đổiđồng tiền, sung công, chiến tranh hay bạo động và vi phạm hợp đồng

Ngày đăng: 03/01/2019, 12:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Tuệ Anh, Đánh giá hiệu quả điều chỉnh chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam, Báo cáo viết cho Đề tài “Hiệu quả điều chỉnh chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam” do Đại học kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội chủ trì thực hiện, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả điều chỉnh chính sách đầu tư trựctiếp nước ngoài ở Việt Nam", Báo cáo viết cho Đề tài “Hiệu quả điều chỉnhchính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
12. Nguyễn Thị Liên Hoa, Bùi Thị Bích Phương, Nghiên cứu các nhân tố tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các quốc gia đang phát triển, Tạp chí Phát triển và Hội nhập, Số 14 (24), tháng 01 – 02/2014, tr. 40 – 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các nhân tố tácđộng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các quốc gia đang phát triển
13. Hoàng Xuân Hòa, Đổi mới chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong bối cảnh tái cơ cấu nền kinh tế, Tạp chí Tài chính số 5/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoàitrong bối cảnh tái cơ cấu nền kinh tế
14. Đỗ Nhất Hoàng, 25 năm thu hút FDI: Những vấn đề tồn tại, Hội thảo về giải pháp thúc đẩy và nâng cao chất lượng dòng vốn ĐTNN vào Việt Nam, 15/3/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 25 năm thu hút FDI: Những vấn đề tồn tại
16. Hà Văn Hội, Thu hút FDI gắn với phát triển bền vững: Quan điểm và định hướng, Tạp chí Nghiên cứu Châu Phi & Trung Đông, Số 24/2013, tr. 34-44 17. Phạm Thị Khanh, Đổi mới, hoàn thiện chính sách thu hút FDI nhằm phát triểnbền vững ngành công nghiệp Việt Nam, Tạp chí Giáo dục lý luận, Số 6/2009, tr 47 – 53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu hút FDI gắn với phát triển bền vững: Quan điểm và địnhhướng", Tạp chí Nghiên cứu Châu Phi & Trung Đông, Số 24/2013, tr. 34-4417. Phạm Thị Khanh, "Đổi mới, hoàn thiện chính sách thu hút FDI nhằm phát triển"bền vững ngành công nghiệp Việt Nam
18. Trần Thị Tuyết Lan, Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Luận án Tiến sĩ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bềnvững ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
19. Nguyễn Mại, Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển bền vững ở Việt Nam, Hội thảo khoa học quốc gia về chính sách thương mại nhằm phát triển bền vững ở Việt Nam thời kỳ 2011-2020, 14/06/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển bền vững ở Việt Nam
20. Ngân hàng thế giới, Tăng trưởng xanh cho mọi người: con đường hướng tới phát triển bền vững, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng xanh cho mọi người: con đường hướng tớiphát triển bền vững
21. Phùng Xuân Nhạ, Nhìn lại vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong bối cảnh phát triển mới của Việt Nam, Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ 3, 12/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong bốicảnh phát triển mới của Việt Nam
22. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Trung tâm WTO, Báo cáo nghiên cứu: Tự do thương mại Quốc tế ở Việt Nam, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báocáo nghiên cứu: Tự do thương mại Quốc tế ở Việt Nam
23. Quốc hội, Luật số 32/2013/QH13, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số14/2008/QH12, ngày 19 tháng 6 năm 2013 24. Quốc hội, Luật số 55/2014/QH13, Luật Bảo vệ môi trường, ngày 23 tháng 06năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luậtthuế thu nhập doanh nghiệp số14/2008/QH12", ngày 19 tháng 6 năm 201324. Quốc hội, Luật số 55/2014/QH13, "Luật Bảo vệ môi trường
26. Quốc hội, Luật số 80/2006/QH11, Luật Chuyển giao công nghệ, ngày 29 tháng 11 năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Chuyển giao công nghệ
27. Nguyễn Ngọc Sơn và Phạm Hồng Chương, Chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam: mười năm nhìn lại và định hướng tương lai, NXB GTVT, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng tăng trưởng kinh tếViệt Nam: mười năm nhìn lại và định hướng tương lai
Nhà XB: NXB GTVT
28. Bùi Tất Thắng, Phát triển nhanh và bền vững kinh tế Việt Namthời kỳ 2011 – 2020, NXB KHXH, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nhanh và bền vững kinh tế Việt Namthời kỳ 2011 –2020
Nhà XB: NXB KHXH
29. Khổng Văn Thắng, Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 2000 – 2013, Tạp chí Thống kê và Cuộc sống, số 2/2015, tr. 33 – 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 2000 – 20
30. Lê Hà Thanh, Kenichi Ohno, Những vấn đề cơ bản trong hoạch định lại chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 204 tháng 6/2014, tr. 12- 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản trong hoạch định lại chínhsách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
32. Lê Thị Hà Thu, Hiệu ứng lan tỏa của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới doanh nghiệp ngành nông nghiệp Việt Nam, Tạp chí Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, số 11/2015, tr. 43 - 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu ứng lan tỏa của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới doanhnghiệp ngành nông nghiệp Việt Nam
33. Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị số 1617/CT-TTg, Về việc tăng cường thực hiện và chấn chỉnh công tác quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian tới, ngày 19 tháng 09 năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc tăng cường thực hiệnvà chấn chỉnh công tác quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian tới
34. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 1216/QĐ-TTg, Phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020, ngày 22 tháng 07 năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê duyệt Quy hoạchphát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020
35. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 1393/QĐ-TTg, Phê duyệt “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011- 2020 và tầm nhìn đến năm 2050”, ngày 25 tháng 09 năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê duyệt “Chiến lượcquốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011- 2020 và tầm nhìn đến năm 2050”

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w