1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn thạc sĩ “Phát triển hoạt động cho vay của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam”

86 157 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam là tổ chức tài chính nhà nước trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường có chức năng tiếp nhận các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước;

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 8

1.1 Tổng quan về hoạt động cho vay 8

1.1.1 Khái niệm về cho vay 8

1.1.2 Đặc trưng và chức năng của cho vay 10

1.1.3 Các tổ chức thực hiện hoạt động cho vay 12

1.1.4 Các nghiệp vụ cơ bản của hoạt động cho vay 13

1.1.5 Quy trình hoạt động cho vay 14

1.2 Tổng quan về Quỹ Bảo vệ môi trường 18

1.2.1 Tổ chức tài chính phi ngân hàng 18

1.2.2 Quỹ Bảo vệ môi trường 19

1.3 Các tiêu chí đánh giá hoạt động cho vay 21

1.3.1 Chỉ tiêu định tính: 22

1.3.2 Chỉ tiêu định lượng: 22

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay 25

1.4.1 Các nhân tố chủ quan (hay nhóm nhân tố từ phía TCTD) 26

1.4.2 Các yếu tố khách quan 27

1.5 Kinh nghiệm về nâng cao chất lượng cho vay và bài học cho Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam 29

1.5.1 Kinh nghiệm về nâng cao chất lượng cho vay 29

1.5.2 Bài học cho Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam 32

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA QUỸ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM 33

2.1 Tổng quan về Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam 33

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam 33 2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam 35

2.1.3 Vị trí chức năng và nhiệm vụ của Quỹ BVMT Việt Nam 38

2.1.4 Nguồn vốn hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam 40

2.1.5 Các hoạt động chính của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam 41

2.2 Phân tích hoạt động cho vay của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam 45

2.2.1 Quy trình hoạt động cho vay của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam 45

2.2.2 Phân tích tình hình hoạt động cho vay của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam 55

Trang 2

2.3 Đánh giá những thành công và tồn tại của hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo

vệ môi trường Việt Nam 65

2.3.1 Thành công 652.3.2 Tồn tại và nguyên nhân 66

CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA QUỸ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM 70 3.1 Định hướng chiến lược về phát triển hoạt động cho vay của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam đến năm 2020 70

3.1.1 Định hướng phát triển chung 703.1.2 Định hướng phát triển hoạt động cho vay 71

3.2 Một số giải pháp phát triển hoạt động cho vay của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam 72

3.2.1 Giải pháp phát triển hoạt động cho vay của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam 723.2.2 Một số kiến nghị nhằm phát triển hoạt động cho vay của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam 81

KẾT LUẬN 84 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam là tổ chức tài chính nhà nước trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường có chức năng tiếp nhận các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước; các nguồn tài trợ, đóng góp, ủy thác của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nhằm hỗ trợ tài chính cho các hoạt động bảo vệ môi trường trên phạm vi toàn quốc Tại Quyết định số 78/2014/QĐ-TTg ngày 26 tháng 12 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ Quy định về tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam và Quyết định số 899/QĐ-Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam ngày 15 tháng 4 năm

2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam có quy định đối tượng được cho vay ưu đãi từ Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam là tổ chức, cá nhân có các dự án đầu tư thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường; dự án đầu tư thực hiện việc phòng, chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường mang tính quốc gia, liên ngành, liên vùng hoặc giải quyết các vấn đề môi trường cục bộ nhưng có phạm vi ảnh hưởng lớn

Trên thực tế, Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam đang có hoạt động cho vay khá khả quan, trong quá trình hơn 10 năm hoạt động và phát triển, Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam đã giải ngân cho vay với hai hình thức chính: cho vay với lãi suất ưu đãi và

hỗ trợ lãi suất sau đầu tư trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Tuy nhiên, hoạt động cho vay của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam đã và đang bộc lộ nhiều hạn chế như: 1) số lượng khách hàng của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam chưa thường xuyên, chủ yếu

do khách hàng tự tìm hiểu và tiếp cận; 2) doanh số cho vay của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam phát triển chưa ổn định, phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh khách quan; 3) cơ chế cho vay còn nhiều vướng mắc chưa phát huy được hết nguồn lực của Quỹ Hoạt động cho vay của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam là hoạt động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nguồn vốn của Quỹ Mặt khác, hoạt động cho vay của Quỹ là một công cụ quan trọng trong việc khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào công tác bảo

vệ môi trường Chính vì vậy, việc đưa ra các biện pháp phát triển hoạt động cho vay của Quỹ là nhiệm vụ quan trọng đối với sự phát triển của Quỹ trong giai đoạn tới

Trang 4

Từ các lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Phát triển hoạt động cho vay của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ kinh tế, chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng – Bảo hiểm

2 Tình hình nghiên cứu:

2.1 Các công trình đã nghiên cứu

Đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, luận án, luận văn và các bài báo khoa học đề cập đến việc nâng cao chất lượng cho vay tại các TCTD Tuy nhiên, qua nghiên cứu tổng thể cho thấy, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc tìm kiếm các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại các NHTM, trong khi việc tìm ra các biện pháp nâng cao chất lượng cho vay tại các tổ chức tài chính phi ngân hàng ít được quan tâm nghiên cứu Vì vậy, tác giả lựa chọn các luận án, luận văn, bài báo khoa học về việc nâng cao chất lượng tín dụng tại các NHTM để tìm hiểu và tham khảo

Luận án Tiến sỹ của Nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Tuấn về “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam”, Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2015: Luận án đã trình bày những vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng của NHTM cũng như kinh nghiệm nâng cao chất lượng tín dụng của NHTM nước ngoài và bài học cho các NHTM Việt Nam Luận án cũng đã phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng và đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam như: Hoàn thiện chính sách tín dụng và nâng cao chất lượng công tác thu thập, xử lý thông tin trong quản lý chất lượng tín dụng; Nâng cao tính cân đối trong công tác huy động và sử dụng nguồn vốn, công tác kiểm tra, kiếm soát nội bộ; Phát triển hệ thống công nghệ thông tin tín dụng, hiện đại hóa công nghệ hệ thống ngân hàng và nâng cao công tác tổ chức; Hoàn thiện hệ thống công cụ bảo đảm chất lượng tín dụng; Đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ tín dụng, sử dụng hiệu quả các công cụ bảo hiểm tín dụng và thực hiện đồng bộ các giải pháp khác

Luận văn Thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Hiệp về “Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội - Chi nhánh Vĩnh Phúc”, Học viện Ngân hàng, năm 2013: Luận văn đã hệ thống hóa lý luận cơ bản về tín dụng và chất lượng tín dụng của NHTM, đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng

Trang 5

tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội - Chi nhánh Vĩnh Phúc như: Đa dạng hóa các nghiệp vụ huy động vốn phù hợp với các đối tác trên địa bàn; Nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng ở các khâu thẩm định khách hàng, thẩm định tính pháp lý, thẩm định về thị trường, thẩm định kỹ thuật, thẩm định năng lực tài chính của khách hàng vay vốn; Xác định phương thức cho vay, thời hạn cho vay phù hợp với từng đối tượng khách hàng; Xây dựng và thực hiện chính sách khách hàng năng động đáp ứng thực tiễn; Chuyên môn hóa các hoạt động về thẩm định khách hàng và quản lý nợ; Ngăn ngừa, hạn chế và xử lý các khoản nợ quá hạn; Đa dạng hóa danh mục cho vay nhằm giảm thiểu rủi ro; Nâng cao hoạt động kiểm tra, kiểm soát của ngân hàng đối với khách hàng và từng khoản vay vốn; Đẩy mạnh hoạt động Marketing đi kèm với hiện đại hóa công nghệ ngân hàng; Nâng cao trình độ nghiệp vụ và trách nhiệm của CBTD Luận án Tiến sỹ của Nghiên cứu sinh Ngô Đức Tiến về “Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định cho vay dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam”, Học viện Tài chính, năm 2015: Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về thẩm định cho vay dự án đầu tư, trình bày thực trạng thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam, đánh giá những kết quả, hạn chế cũng như nguyên nhân của những tồn tại trong hoạt động thẩm định dự án và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định cho vay dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam như: Nâng cao chất lượng thông tin đầu vào phục vụ thẩm định cho vay dự

án đầu tư; Hoàn thiện cẩm nang thẩm định dự án cho vay dự án đầu tư; Xây dựng triển khai mô hình thẩm định dự án; Hoàn thiện công tác tổ chức điều hành, tăng cường hoạt động hỗ trợ thẩm định dự án

Thẩm định dự án trong NHTM: Kinh nghiệm từ Techcombank của Tác giả Lê Minh, bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 3 -2014 Bài viết đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định dự án đầu tư bao gồm các yếu tố như con người, thông tin, trang thiết bị phục vụ cho quá trình thẩm định Tác giả cũng đưa ra giải pháp nhằm hạn chế tỷ lệ nợ xấu tăng cao tại Techcombank thông qua việc quy chuẩn hóa quy trình thẩm định dự án đầu tư và áp dụng cho toàn bộ hệ thống

2.2 Những vấn đề còn tồn tại và hướng nghiên cứu

Trên cơ sở tiếp cận và kế thừa các công trình nghiên cứu của các tác giả trước đây, tác giả nhận thấy ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào đề cập

Trang 6

một cách có hệ thống lý luận về chất lượng cho vay và các chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá chất lượng cho vay của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam, một tổ chức tài chính nhà nước hoạt động trong lĩnh vực môi trường

Căn cứ vào thực tế tồn tại nêu trên, Luận văn đi sâu phân tích thực trạng chất lượng cho vay tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam thông qua các chỉ tiêu định tính

và tiêu chí định lượng, chỉ ra những tồn tại của hoạt động cho vay trong giai đoạn

2012 - 2016, chỉ ra nguyên nhân dẫn đến những tồn tại đó và đề xuất một số biện pháp

nhằm nâng cao chất lượng hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam

3 Mục đích nghiên cứu

Phát triển hoạt động cho vay của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam nhằm tăng lượng khách hàng của Quỹ, nâng cao vai trò của Quỹ trong lĩnh vực tài chính về bảo

vệ môi trường, khẳng định vị thế của Quỹ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: hoạt động cho vay của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam Phạm vi nghiên cứu:

Về thời gian nghiên cứu: Đánh giá thực trạng hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam trong giai đoạn 5 năm từ 2012 đến năm 2016 và đề xuất định hướng phát triển hoạt động cho vay của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam giai đoạn từ

2017 đến 2020

Về không gian nghiên cứu: đề tài chỉ tìm kiếm nghiên cứu các biện pháp phát triển hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, đề tài sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết: phân tích và tổng hợp lý thuyết, phân loại và hệ thống hóa lý thuyết

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp quan sát, phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm

6 Cấu trúc của luận văn

Trang 7

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục chữ viết tắt, mục lục và các phụ lục, nội dung cơ bản của luận văn được thể hiện ở ba chương sau đây:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay của các Tổ chức tín dụng

Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam Chương 3: Các giải pháp phát triển hoạt động cho vay Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam

Trang 8

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA

CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1.1 Tổng quan về hoạt động cho vay

1.1.1 Khái niệm về cho vay

Cho vay, là một trong các hành vi kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa Cho vay phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan

rã, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội Khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, cũng là đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa Thời kỳ này, cho vay được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa Xuất hiện sở hữu

tư nhân tư liệu sản xuất, làm cho xã hội có sự phân hóa: giàu, nghèo, người nắm quyền lực, người không có gì Khi người nghèo gặp phải những khó khăn không thể tránh thì buộc họ phải đi vay, mà những người giàu, có vật chất dư thừa của mình sẽ cho vay

để nhận lấy phần bù đắp thêm trong tương lai Tuy nhiên, vào các hình thái kinh tế - xã hội sau này, cho vay phát triển và trở nên chuyên nghiệp hơn dưới các hình thức của tín dụng

Theo tài liệu Tiền tệ, tín dụng và ngân hàng, Cho vay tiền là hợp đồng qua đó người cho vay cam kết giao cho người vay một khoản tiền và người vay tiền cam kết hoàn trả người cho vay khoản tiền tương ứng với số tiền đã vay (vốn) (Lê Văn Tư

lý vốn tín dụng có hiệu quả và phù hợp với sự vận động cũng như đặc điểm kinh tế khác nhau của đối tượng tín dụng

Trên thực tế việc phân loại cho vay theo các tiêu chí sau:

Trang 9

1.1.1.1 Phân theo mục đích sử dụng vốn:

- Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp

- Cho vay tiêu dùng cá nhân

- Cho vay mua bán bất động sản

- Cho vay sản xuất nông nghiệp

- Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu

1.1.1.2 Phân theo thời hạn cho vay

- Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn dưới 1 năm Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động

- Cho vay trung dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 1 năm Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định, đầu tư vào các dự

án đầu tư

1.1.1.3 Phân loại theo mức độ tín nhiệm của khách hàng

- Cho vay không có bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn

để quyết định cho vay

- Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác

1.1.1.4 Phân loại theo phương thức cho vay

- Cho vay từng lần

- Cho vay theo hạn mức tín dụng

1.1.1.5 Phân loại theo phương thức hoàn trả nợ vay

- Cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn

- Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ, cho vay trả góp

- Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn trả nợ cụ thể mà tùy theo khả năng của khách hàng để trả nợ bất cứ lúc nào

Trang 10

1.1.2 Đặc trƣng và chức năng của cho vay

1.1.2.1 Đặc trưng của cho vay

Bất kỳ mối quan hệ cho vay nào cũng có bốn đặc trưng cơ bản : Lòng tin, tính hoàn trả, tính thời hạn và ẩn chứa nhiều khả năng rủi ro

Một là, quan hệ cho vay dựa trên cơ sở lòng tin Người ta chỉ cho vay khi người

ta tin tưởng người đi vay có ý muốn trả nợ và có khả năng trả nợ Đồng thời người cho vay tin rằng người đi vay sử dụng lượng giá trị đó sẽ thu được lượng giá trị cao hơn, đạt hiệu quả sau một thời gian nhất định và có ý muốn trả nợ thì quan hệ tín dụng mới xảy ra Như vậy có thể nói đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ tín dụng Hai là, tính hoàn trả Đối với quan hệ tín dụng thì đây là đặc trưng cơ bản nhất và

sự hoàn trả là tiêu chuẩn phân biệt quan hệ tín dụng với các quan hệ tài chính khác Trong tính hoàn trả thì lượng vốn được chuyển nhượng phải được hoàn trả đúng hạn

về cả thời gian và về giá trị bao gồm hai bộ phận : Gốc và lãi Phần lãi phải đảm bảo cho lượng giá trị hoàn trả lớn hơn lượng giá trị ban đầu Sự chênh lệch này là giá trả cho quyền sử dụng vốn tạm thời Nói cách khác, nó là giá trị thời gian vốn hiện tại của người sở hữu, vì thế nó phải đủ hấp dẫn để người sở hữu có thể sẵn sàng hy sinh quyền

sử dụng nó Mặt khác nếu không có sự hoàn trả thì đó là quan hệ tín dụng không hoàn hảo

Ba là, tính thời hạn Xuất phát từ bản chất của tín dụng là sự tín nhiệm, người cho vay tin tưởng người đi vay sẽ hoàn trả vào một ngày trong tương lai Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời gian sử dụng theo th a thuận, người đi vay hoàn trả cho người cho vay

Bốn là, tín dụng ẩn chứa nhiều khả năng rủi ro Do sự không cân xứng về thông tin và người cho vay không hiểu rõ hết về người đi vay Một mối quan hệ tín dụng được gọi là hoàn hảo nếu người đi vay hoàn trả được đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn Tuy nhiên trong thực tế không phải mọi việc lúc nào cũng diễn ra một cách trôi chảy, không hiếm trường hợp người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ của mình đối với chủ nợ do các nguyên nhân khách quan hay chủ quan gây ra Đó là trường hợp khi đến hạn hoàn trả vốn vay, người đi vay không thể thực hiện được việc trả nợ cho

Trang 11

người cho vay dẫn đến các khoản nợ bị quá hạn Nợ xấu là biểu hiện không lành mạnh của quá trình hoạt động tín dụng, là sự báo hiệu của rủi ro

1.1.2.2 Chức năng của cho vay

Trong nền kinh tế thị trường, cho vay thực hiện ba chức năng cơ bản

Một là góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn (Nguyễn Văn Tiến

2014, tr 13)

Cho vay thu hút đại bộ phận tiền tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế và phân phối lại vốn đó nhờ đó điều hòa vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn Sự điều hòa mang tính chất tạm thời và phải trả lãi

Việc phân phối lại vốn tiền tệ dưới hình thức cho vay được thực hiện bằng hai cách: Phân phối trực tiếp và phân phối gián tiếp

• Phân phối trực tiếp là việc phân phối vốn từ chủ thể có vốn tạm thời chưa sử dụng sang chủ thể trực tiếp sử dụng vốn đó cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng Phương pháp phân phối này được thực hiện trong quan hệ tín dụng thương mại và việc phát hành trái phiếu của các công ty

• Phân phối gián tiếp là việc phân phối vốn được thực hiện thông qua các tổ chức tài chính trung gian như ngân hàng, công ty tài chính

Hai là tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho ã hội: hoạt động cho vay trước hết tạo điều kiện cho sự ra đời các công cụ lưu thông như: thương phiếu, kỳ phiếu, thẻ tín dụng, thẻ thanh toán nhờ hoạt động tín dụng mà các nguồn vốn đang nằm trong xã hội được huy động để sử dụng cho các nhu cầu của sản xuất và lưu thông hàng hóa sẽ

có tác dụng tăng tốc độ chu chuyển vốn trong phạm vi toàn xã hội

Ba là phản ánh và kiểm soát các hoạt động kinh tế: sự vận động vốn của tín dụng phần lớn là sự vận động gắn liền với sự vận động của vật tư, hàng hóa, chi phí trong các xí nghiệp của tổ chức kinh tế Vì vậy, tín dụng không những phản ánh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà còn thực hiện việc kiểm soát các hoạt động ấy nhằm ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực lãng phí, vi phạm pháp luật, trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

Trang 12

1.1.3 Các tổ chức thực hiện hoạt động cho vay

Theo quy định của pháp luật hiện hành, các tổ chức thực hiện hoạt động cho vay

là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô

và quỹ tín dụng nhân dân

Sơ đồ 1.1 Hệ thống các tổ chức tín dụng

(Nguồn: Ngân hàng nhà nước)

Trang 13

Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác

Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường uyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán

Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng

Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính

và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác

Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nh

Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác ã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống

1.1.4 Các nghiệp vụ cơ bản của hoạt động cho vay

Dựa trên bốn đặc trưng cơ bản của cho vay bao gồm lòng tin, tính hoàn trả, tính thời hạn và ẩn chứa rủi ro mà có các nghiệp vụ cơ bản của hoạt động cho vay: Để đảm bảo độ tin cậy, cần có nghiệp vụ thẩm định bao gồm các hoạt động kiểm tra, thẩm định

hồ sơ, năng lực khách hàng, thông tin của khách hàng và khả năng hoàn trả của khách hàng Trong quá trình cho vay, cần có nghiệp vụ kiểm tra, giám sát mục đích sử dụng vốn đảm bảo thực hiện đúng trong các th a thuận cho vay; Để đảm bảo tính hoàn trả

và tính thời hạn cần có nghiệp vụ xử lý và thu hồi nợ; Để giảm thiểu rủi ro mà các khoản vay có thể xảy ra cần có nghiệp vụ quản lý rủi ro

Trang 14

1.1.5 Quy trình hoạt động cho vay

Quy trình cho vay là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của TCTD trong việc cho vay Quy trình này bao gồm nhiều bước theo một trật tự nhất định Có thể khái quát quy trình cho vay theo sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.2 Quy trình cho vay

(Nguồn: Nghiệp vụ ngân hàng thương mại)

Trang 15

- Thông tin về năng lực pháp lý và năng lực hành vi của khách hàng

- Thông tin về khả năng sử dụng và hoàn trả vốn của khách hàng

- Thông tin về bảo đảm tín dụng

Để thu thập được những thông tin căn bản như trên, TCTD thường yêu cầu khách hàng phải lập và nộp cho TCTD các loại giấy tờ sau:

- Hồ sơ về phương án sản xuất kinh doanh và phương án trả nợ

- Hồ sơ về tài sản đảm bảo: các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh nợ vay

- Các giấy tờ khác theo yêu cầu của TCTD

Thẩm định hồ sơ vay và lập tờ trình

Thẩm định là việc thu thập và xử lý những thông tin liên quan đến khách hàng, phương án vay vốn, tài sản đảm bảo nợ vay… để làm cơ sở ra quyết định cho vay

Trang 16

- Thông tin sử dụng trong công tác thẩm định:

+ Thông tin do khách hàng cung cấp

+ Thông tin đã được lưu trữ tại TCTD

+ Thông tin từ các đối tượng khác cung cấp

- Thẩm định khách hàng

+Kiểm tra tư cách pháp lý

+ Đánh giá khả năng tài chính

- Thẩm định phương án vay vốn

+ Đánh giá tính khả thi

+ Phân tích hiệu quả kinh tế

+ Đánh giá khả năng tài trợ

- Thẩm định tài sản đảm bảo nợ vay

+ Kiểm tra tính hợp lệ của tài sản đảm bảo

+ Xác định giá trị còn lại của tài sản đảm bảo

Đây là bước quan trọng và cũng là bước dễ phạm phải sai lầm nhất Có hai loại sai lầm cơ bản thường xảy ra trong bước này:

- Quyết định chấp thuận cho vay đối với một khách hàng không tốt

- Từ chối cho vay đối với một khách hàng tốt

Trang 17

Cả hai loại sai lầm này đều dẫn đến thiệt hại đáng kể cho TCTD Loại sai lầm thứ nhất dễ dẫn đến thiệt hại do nợ quá hạn hoặc nợ không thể thu hồi, tức là thiệt hại về tài chính Loại sai lầm thứ hai dễ dẫn đến thiệt hại về uy tín và mất cơ hội cho vay Nhằm hạn chế sai lầm, trong bước quyết định tín dụng, TCTD thường chú trọng hai vấn đề:

- Thu thập thông tin và xử lý thông tin một cách đầy đủ và chính ác làm cơ sở

Ký hợp đồng

Sau khi ra quyết định tín dụng, kết quả có thể là chấp thuận hoặc từ chối cho vay, tùy vào kết quả phân tích và thẩm định ở bước trước Nếu chấp thuận cho vay, cán bộ tín dụng sẽ hướng dẫn khách hàng ký kết hợp đồng tín dụng và làm tiếp các bước tiếp theo (ký kết các hợp đồng liên quan khác như hợp đồng thế chấp, hơp đồng cầm cố…, thực hiện thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm và quản lý tài sản đảm bảo nợ vay) Nếu

từ chối vay, TCTD sẽ có văn bản trả lời và giải thích lý do cho khách hàng được rõ

Giải ngân

Giải ngân là bước tiếp tiếp theo sau khi hợp đồng tín dụng đã được ký kết Giải ngân là phát tiền vay cho khách hàng trên cơ sở mức tín dụng đã cam kết trong hợp đồng Tuy là bước tiếp theo sau của quyết định tín dụng, nhưng giải ngân cũng là bước quan trọng vì nó có thể góp phần phát hiện và chấn chỉnh kịp thời nếu có sai sót ở các bước trước Ngoài ra, cách thức giải ngân còn góp phần kiểm tra và kiểm soát xem vốn tín dụng có được sử dụng đúng mục đích cam kết hay không Nguyên tắc giải ngân là luôn luôn gắn liền hoạt động tiền tệ với hoạt động hàng hóa hoặc dịch vụ đối ứng nhằm đảm bảo khả năng thu hồi nợ sau này Tuy vậy, giải ngân cũng phải tuân thủ nguyên tắc đảm bảo thuận lợi, tránh gây khó khăn và phiền hà cho khách hàng

Trang 18

Tổ chức giám sát và thu hồi nợ

Sau khi đã giải ngân, TCTD cần phải làm các bước: Kiểm tra theo dõi tình hình

sử dụng vốn của khách hàng, tình hình tài chính, và công nợ của khách hàng; kiểm tra, đánh giá lại tài sản bảo đảm nợ vay; thu nợ

Tất toán khoản vay

Hồ sơ vay chỉ tất toán khi bên vay thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho TCTD Khi đó, TCTD cần phải ký thanh lý hợp đồng tín dụng, hoàn trả tài sản đảm bảo nợ vay cho khách hàng và lưu trữ hồ sơ vay

Xử lý nợ vay

Nếu đến hạn trả nợ, bên đi vay không trả được nợ cho TCTD và không được đồng ý gia hạn/ điều chỉnh kỳ hạn nợ thì TCTD tiến hành xem xét chuyển nợ quá hạn, tiếp tục theo dõi để thu hồi nợ

1.2 Tổng quan về Quỹ Bảo vệ môi trường

1.2.1 Tổ chức tài chính phi ngân hàng

1.2.1.1 Khái niệm

Các tổ chức tài chính phi ngân hàng là những trung gian tài chính hoạt động, kinh doanh trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ, được thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn và không cung cấp hệ thống thanh toán

Ngày nay, do nhu cầu mở rộng phạm vi hoạt động, đa dạng hóa các nghiệp vụ của mỗi tổ chức tài chính trung gian nên khó phân biệt một cách rõ rệt tổ chức tài chính trung gian là NHTM với các tổ chức tài chính phi ngân hàng khác Sự tách biệt cũng như sự đan en cạnh tranh lẫn nhau về nghiệp vụ, nội dung và phạm vi hoạt động của các trung gian tài chính có nhiều mặt tích cực, đồng thời lại có những hạn chế nhất định, tác động không tốt tới sự phát triển kinh tế Bởi vậy, tuỳ theo sự phát triển nền kinh tế - xã hội ở mỗi nước, các Chính phủ thường can thiệp vào việc thiết lập các tổ chức tài chính trung gian, quy định giới hạn, nội dung và phạm vi hoạt động của mỗi loại để phát huy cao nhất thế mạnh của mỗi loại trong hệ thống các tổ chức tài chính trung gian

Trang 19

1.2.1.2 Vai trò của các tổ chức tài chính phi ngân hàng

Các tổ chức tài chính phi ngân hàng có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế

- xã hội, góp phần làm đa dạng hóa các dịch vụ, tài chính cho nền kinh tế, đem lại những lợi ích thiết thực tạo cơ hội sinh lời cho các nguồn tiết kiệm nh lẻ thúc đẩy

cạnh tranh

Các hoạt động của các tổ chức tài chính phi ngân hàng đem lại các hợp đồng bảo hiểm, các dịch vụ cung cấp thông tin, cho các khách hàng, giúp bảo vệ tài chính

và phân tán rủi ro

1.2.1.3 Sự khác nhau giữa tổ chức tài chính phi ngân hàng và các NHTM

Tổ chức tài chính phi ngân hàng khác với NHTM ở các điểm sau:

- Tổ chức tài chính phi ngân hàng chủ yếu sử dụng vốn chủ sở hữu, không huy động tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn của dân chúng, không nhận tiền gửi của cá nhân,

tổ chức với thời hạn ngắn để cho vay và đầu tư Trong khi, NHTM là một định chế tài chính nhận tiền gửi theo mọi yêu cầu của khách hàng và sử dụng tiền đó để cho vay, NHTM được mở tài khoản thanh toán và thực hiện chức năng thanh toán cho khách hàng

- Tổ chức tài chính phi ngân hàng không thực hiện các dịch vụ thanh toán và tiền mặt, không sử dụng vốn làm phương tiện thanh toán cho khách hàng Vì vậy, tổ chức tài chính phi ngân hàng không bị NHNN quản lý, giám sát chặt chẽ như NHTM

1.2.2 Quỹ Bảo vệ môi trường

1.2.2.1 Khái niệm

Theo từ điển Bách khoa toàn thư, từ “Quỹ” được sử dụng để mô tả một thực thể pháp lý riêng biệt Các quỹ là các tổ chức hợp pháp (pháp nhân) và/hoặc cá nhân hợp pháp (thể nhân), có thể có một sự đa dạng của hình thức và có thể làm theo các quy định khác nhau tùy thuộc vào thẩm quyền mà họ được tạo ra

Theo quan điểm về quản lý Nhà nước, “Quỹ Bảo vệ môi trường là một tổ chức tài chính được lập ra để hỗ trợ việc sử dụng và bảo tồn tài nguyên bền vững”

Hiện nay, tại các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi, khi các vấn đề về thị trường vốn, tài chính chưa phát triển, chi phí giao dịch cao, thông tin không đầy đủ đã gây ra những khó khăn, hạn chế trong việc đầu tư bảo vệ môi trường

Trang 20

Chính vì vậy, các Quỹ Bảo vệ môi trường được thành lập tại các quốc gia, các địa phương nhằm hỗ trợ cho các hoạt động liên quan đến công tác bảo vệ môi trường Nguồn tài chính của Quỹ Bảo vệ môi trường được lấy từ nhiều nguồn khác nhau nhau như phí, các khoản bồi thường thiệt hại về môi trường, tiền phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường,… Cơ chế cấp vốn của Quỹ Bảo vệ môi trường tương đối thống nhất thông qua các hình thức cấp kinh phí cho vay với lãi suất ưu đãi hoặc không lãi suất Ngoài ra còn một số hình thức như hỗ trợ lãi suất sau đầu tư đối với các đơn vị đã vốn vay ngân hàng, cho vay vốn thông qua một ngân hàng trung gian,… Như vậy, Quỹ Bảo vệ môi trường là tổ chức tài chính được thành lập ở trung ương hoặc địa phương để hỗ trợ tài chính cho các hoạt động đầu tư bảo vệ môi trường

1.2.2.2 Đặc điểm của Quỹ Bảo vệ môi trường

Quỹ Bảo vệ môi trường là một tổ chức tài chính phi ngân hàng với hoạt động chủ yếu là cung cấp vốn cho đầu tư bảo vệ môi trường Điểm khác biệt giữa Quỹ Bảo

vệ môi trường và các tổ chức tài chính phi ngân hàng khác là ở mục đích hoạt động Quỹ Bảo vệ môi trường là một tổ chức tài chính hoạt động không vì mục đích lợi nhuận Quỹ Bảo vệ môi trường hoạt động với mục tiêu là hỗ trợ tài chính một cách có hiệu quả cho các chương trình, dự án, các hoạt động, phòng, chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường

Quỹ Bảo vệ môi trường có thể coi là một tổ chức tài chính phi ngân hàng bởi một số điểm khác biệt của Quỹ so với các ngân hàng Quỹ Bảo vệ môi trường có thể huy động vốn dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng không nhận tiền gửi của dân cư

và các tổ chức kinh tế dưới hình thức mở tài khoản; không làm trung gian thanh toán cho khách hàng Với vai trò là một tổ chức tài chính phi ngân hàng, Quỹ Bảo vệ môi trường trở thành một trung gian tài chính dẫn chuyển vốn từ người có vốn đến những người cần vốn cho đầu tư bảo vệ môi trường

Tóm lại, Quỹ Bảo vệ môi trường là một tổ chức tài chính phi ngân hàng, hoạt động trong lĩnh vực môi trường và không vì mục đích lợi nhuận

1.2.2.3 Hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường

a Nguồn vốn hoạt động

- Ngân sách nhà nước cấp

Trang 21

- Phí, lệ phí và các khoản bồi thường thiệt hại về môi trường

- Lệ phí bán/chuyển CERs từ các dự án CDM tại Việt Nam

- Nhận tài trợ, hỗ trợ, đóng góp tự nguyện, ủy thác đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước dành cho bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu

- Các nguồn vốn hợp pháp khác

b Các hình thức hỗ trợ tài chính

+ Cho vay vốn với lãi suất ưu đãi;

+ Hỗ trợ lãi suất vay vốn cho các dự án đầu tư vay vốn từ các TCTD khác theo quy định của pháp luật;

+ Tài trợ, đồng tài trợ cho các hoạt động bảo vệ môi trường;

+ Hợp tác với các tổ chức tài chính, các quỹ môi trường trong và ngoài nước để đồng tài trợ, cho vay vốn các dự án bảo vệ môi trường phù hợp với các tiêu chí và chức năng, nhiệm vụ của Quỹ;

+ Hỗ trợ cho các hoạt động phổ biến, tuyên truyền về CDM; thực hiện trợ giá cho các sản phẩm của dự án CDM theo quy định của pháp luật;

+ Hỗ trợ giá điện đối với các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu theo quy định của pháp luật;

+ Hỗ trợ tài chính đối với các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu theo quy định của pháp luật;

+ Thực hiện các chương trình, đề án, dự án và nhiệm vụ khác do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường giao;

1.3 Các tiêu chí đánh giá hoạt động cho vay

Đối với bất kỳ một hoạt động nào, người ta đều có thể đánh giá trên nhiều góc độ

và cách nhìn Cũng như vậy, hoạt động cho vay có thể đánh giá dưới góc độ là khách hàng hoặc góc độ của người quản lý Với khách hàng, đánh giá chất lượng cho vay chỉ

có thể đánh giá theo các chỉ tiêu định tính như: thái độ của CBTD, khoảng thời gian chờ đợi quyết định cho vay, thủ tục và yêu cầu cho vay… Các nhà quản lý TCTD đánh giá chất lượng hoạt động cho vay có thể sử dụng các chỉ tiêu định lượng như tổng dư

Trang 22

dợ, chỉ số nợ xấu… Nhìn chung, để đánh giá hoạt động cho vay ta có thể sử dụng một

số tiêu chí như sau:

1.3.1 Chỉ tiêu định tính:

Chỉ tiêu định tính là những chỉ tiêu mang tính tương đối, rất khó ác định và thường được dùng để đánh giá chất lượng của hoạt động cho vay một cách khái quát Các chỉ tiêu định tính thường bao gồm:

- Thủ tục cho vay: Thủ tục làm việc, yêu cầu về giấy tờ đơn giản; Thời gian làm việc nhanh chóng, không gây phiền hà sẽ tạo cho khách hàng tâm lý thoải mái, tạo niềm tin và hình ảnh tốt đối với TCTD

- Quy chế cho vay: Phục vụ tốt nhất cho khách hàng nhưng phải đảm bảo tuân thủ đúng quy chế cho vay vốn tín dụng Thực hiện tuần tự, chuẩn xác trong công tác thẩm định về dự án, khả năng tài chính, năng lực pháp lý của khách hàng, về tài sản đảm bảo… nhằm đưa ra được quyết định hợp lý nhất vừa phục vụ tốt khách hàng vừa phòng ngừa rủi ro tín dụng cho TCTD

- Cơ sở vật chất, khả năng ứng dụng công nghệ, kỹ thuật hiện đại trong quá trình cho vay nhằm rút ngắn thời gian phục vụ nhưng vẫn đảm bảo thu thập, lưu trữ đầy đủ thông tin để giúp TCTD có thể khai thác, phát hiện và ngăn ngừa rủi ro

Các chỉ tiêu định tính rất khó ác định và chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của CBTD và người quản lý cũng như các mối quan hệ của họ với khách hàng Vì vậy, trên thực tế khi nói đến chất lượng tín dụng người ta chú ý nhiều đến các chỉ tiêu mang tính định lượng

1.3.2 Chỉ tiêu định lƣợng:

1.3.2.1 Doanh số cho vay và số lượng khách hàng vay:

Doanh số cho vay là tổng số tiền mà một TCTD đã cho các khách hàng vay trong một thời kỳ nhất định Đây là chỉ tiêu phản ánh quy mô cho vay của TCTD đối với nền kinh tế, là chỉ tiêu phản ánh chính xác, tuyệt đối về hoạt động cho vay trong một khoảng thời gian Do đó, nếu kết hợp doanh số cho vay và số lượng khách hàng vay của các thời kỳ liên tiếp thì có thể thấy được u hướng hoạt động cho vay của TCTD 1.3.2.2 Dư nợ cho vay:

Trang 23

Dư nợ cho vay là số tiền mà khách hàng vay đang còn nợ chưa trả tại một thời điểm, nói cách khác, nó là chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền mà TCTD cấp cho nền kinh tế tại một thời điểm nhất định Tổng dư nợ thấp chứng t TCTD không có khả năng mở rộng được mạng lưới khách hàng, hoạt động cho vay yếu kém, khả năng tiếp thị khách hàng chưa tốt Tuy nhiên, không phải chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng cho vay càng tốt bởi lẽ khi TCTD cho vay vượt quá mức giới hạn cũng là lúc bắt đầu chấp nhận rủi ro về cho vay Chỉ tiêu tổng dư nợ phản ánh quy mô cho vay đồng thời cũng phản ánh uy tín của TCTD

1.3.2.3 Tỷ lệ nợ quá hạn

Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đã đến hạn th a thuận trong Hợp đồng cho vay Khi một món nợ không trả được vào kỳ hạn trả nợ, toàn bộ nợ gốc của Hợp đồng sẽ được chuyển thành nợ quá hạn Theo quy định của NHNN tại Điều 6.10 Mục 1 Chương II Văn bản hợp nhất 22/VBHN-NHNN ngày 04/6/2014, để quản lý các khoản nợ một cách hiệu quả, các tổ chức tín dụng phải phân loại các khoản nợ thành 05 loại:

- Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm:

+ Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn;

+ Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại;

+ Các khoản nợ đáp ứng đủ điều kiện phân loại vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn

- Nhóm 2: Nợ cần chú ý, bao gồm:

+ Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;

+ Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả

nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu);

+ Các khoản nợ đáp ứng đủ điều kiện phân loại vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn hoặc phải xếp vào nhóm có rủi ro cao hơn

Trang 24

- Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm:

+ Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Điểm b Khoản này;

+ Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;

+ Các khoản nợ đáp ứng đủ điều kiện phân loại vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn hoặc phải xếp vào nhóm có rủi ro cao hơn

- Nhóm 4: Nợ nghi ngờ, bao gồm:

+ Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;

+ Các khoản nợ đáp ứng đủ điều kiện phân loại vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn hoặc phải xếp vào nhóm có rủi ro cao hơn

- Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn, bao gồm:

+ Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn;

+ Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý;

+ Các khoản nợ phải xếp vào nhóm có rủi ro cao hơn

Các khoản nợ thuộc nhóm 2, 3, 4, 5 được gọi là nợ quá hạn, các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4, 5 được gọi là nợ xấu

(Nguồn: Ngân hàng nhà nước)

Trang 25

Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn và tổng dư nợ của TCTD tại một thời điểm nhất định thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng cho vay của một TCTD

Tỷ lệ nợ quá hạn =

Nợ quá hạn

x 100%

Tổng dư nợ

(Nguồn: Giáo trình quản trị Ngân hàng thương mại)

Chỉ tiêu này cho biết trong tổng dư nợ có bao nhiêu phần trăm là nợ quá hạn Tỷ

lệ nợ quá hạn thấp biểu hiện chất lượng hoạt động cho vay tại TCTD có độ an toàn cao tức là mức độ rủi ro thấp Tuy vậy, trên thực tế để đánh giá chính ác hơn chất lượng hoạt động cho vay của một TCTD người ta chia tỷ lệ nợ quá hạn thành hai loại: tỷ lệ

nợ quá hạn có khả năng thu hồi và tỷ lệ nợ quá hạn không có khả năng thu hồi TCTD

có tỷ lệ nợ quá hạn cao nhưng trong đó bao nhiêu phần trăm là nợ có khả năng thu hồi

và bao nhiêu phần trăm là nợ không có khả năng thu hồi, khi đó ta mới có thể đánh giá chính ác được chất lượng cho vay

Nợ quá hạn là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cho vay, vì vậy nếu kiểm soát tốt nợ quá hạn thì chất lượng cho vay sẽ cao và ngược lại

(Nguồn: Giáo trình quản trị Ngân hàng thương mại)

Chỉ tiêu này phản ánh trong tổng dư nợ có bao nhiêu phần trăm là nợ xấu Nợ xấu tăng làm tăng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, đồng thời chứng t chất lượng cho vay thấp, năng lực tài chính, năng lực quản lý cũng như năng lực hoạt động của tổ chức tín dụng là kém

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay

Chất lượng cho vay là kết quả của cả một quá trình tính từ khi hoạt động cho vay được TCTD xét duyệt, phát ra cho đến khi được thu hồi Trong quá trình đó có rất nhiều những tác động gây rủi ro dẫn đến việc TCTD không thu hồi được vốn và phải

Trang 26

chịu thua thiệt Để quản lý chất lượng cho vay đòi h i phải hiểu rõ về các nhân tố gây ảnh hưởng tới nó

1.4.1 Các nhân tố chủ quan (hay nhóm nhân tố từ phía TCTD)

- Chính sách cho vay: chính sách cho vay phản ánh định hướng cơ bản cho hoạt động cho vay, nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của TCTD Để đảm bảo và nâng cao chất lượng cho vay, TCTD cần phải có chính sách cho vay phù hợp với đường lối phát triển kinh tế, đồng thời kết hợp được lợi ích của người gửi tiền, của TCTD và người vay tiền

- Quy trình cho vay: quy trình cho vay là trình tự tổ chức thực hiện các bước kỹ thuật nghiệp vụ cơ bản, chỉ rõ cách làm, trình tự các bước từ khi bắt đầu đến khi kết thúc một giao dịch thuộc chức năng, nhiệm vụ của cán bộ tín dụng và lãnh đạo TCTD

có liên quan Quy trình cho vay là yếu tố quan trọng, nếu nó được tổ chức khoa học, hợp lý sẽ cho phép bảo đảm thực hiện các khoản vay có chất lượng

- Kiểm soát nội bộ: đây là hoạt động mang tính thường xuyên và cần thiết đối với mọi TCTD Công tác kiểm tra nội bộ hoạt động kinh doanh của TCTD càng thường xuyên, chặt chẽ sẽ càng làm cho hoạt động cho vay đúng hướng, thực hiện đúng các nguyên tắc, yêu cầu thể lệ trong qui chế cho vay cũng như qui trình cho vay Kiểm soát nội bộ là biện pháp mang tính chất ngăn ngừa, hạn chế những sai sót của cán bộ tín dụng, giúp cho hoạt động cho vay kịp thời sửa chữa, tạo điều kiện thuận lợi nâng cao chất lượng cho vay

- Tổ chức nhân sự: con người luôn là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong mọi hoạt động kinh doanh nói chung và tất nhiên nó cũng không loại trừ kh i hoạt động của một TCTD Muốn nâng cao được hiệu quả trong kinh doanh, chất lượng trong hoạt động cho vay, TCTD cần phải có một đội ngũ cán bộ tín dụng gi i, được đào tạo có hệ thống, am hiểu và có kiến thức phong phú về thị trường đặc biệt trong lĩnh vực tham gia đầu tư vốn, nắm vững những văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động cho vay Trong bố trí sử dụng, người cán bộ tín dụng cần phải được sàng lọc

kỹ càng và phải có kế hoạch thường xuyên bồi dưỡng những kiến thức cần thiết để bắt kịp với nhịp độ phát triển và biến đổi của nền kinh tế thị trường Ngoài ra, họ còn phải

có tiêu chuẩn về đạo đức và sự liêm khiết, bởi lẽ nếu người cán bộ tín dụng thiếu trách nhiệm hay cố tình vi phạm có thể sẽ gây tổn thất rất lớn cho TCTD

Trang 27

- Thông tin tín dụng: hoạt động cho vay muốn đạt được hiệu quả cao, an toàn cần phải có hệ thống thông tin hữu hiệu phục vụ cho công tác này Vai trò và yêu cầu thông tin phục vụ công tác cho vay và kinh doanh TCTD là hết sức quan trọng Muốn nâng cao chất lượng cho vay, TCTD cần xây dựng được hệ thống thông tin đầy đủ và linh hoạt, nhờ đó cung cấp các thông tin chính xác, kịp thời, tăng cường khả năng phòng ngừa rủi ro cho vay

1.4.2 Các yếu tố khách quan

1.4.2.1 Nhóm nhân tố từ phía khách hàng

- Uy tín, đạo đức của người vay

Trong quy trình cho vay các TCTD thường chỉ đưa ra quyết định cho vay sau khi

đã phân tích cẩn thận các yếu tố có liên quan đến uy tín và khả năng trả nợ của người vay nhằm hạn chế thấp nhất các rủi ro do chủ quan của người vay có thể gây nên Đạo đức của người vay là một yếu tố quan trọng của qui trình thẩm định, tính cách của người vay không chỉ được đánh giá bằng phẩm chất đạo đức chung mà còn phải kiểm nghiệm qua những kết quả hoạt động trong quá khứ, hiện tại và chiến lược phát triển trong tương lai Thực tế kinh doanh đã cho thấy, tính chân thật và khả năng chi trả của người vay có thể thay đổi sau khi món vay được thực hiện Khách hàng có thể lừa đảo TCTD thông qua việc gian lận về số liệu, giấy tờ, quyền sở hữu tài sản, sử dụng vốn vay không đúng mục đích, không đúng đối tượng kinh doanh, phương án kinh doanh,…Việc khách hàng gian lận tất yếu sẽ dẫn đến những rủi ro cho TCTD

Uy tín của khách hàng cũng là một yếu tố đáng quan tâm, uy tín của khách hàng

là tiêu chí để đáng giá sự sẵn sàng trả nợ và kiên quyết thực hiện các nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng từ phía khách hàng Uy tín của khách hàng được thể hiện dưới nhiều khía cạnh đa dạng như: chất lượng, giá cả hàng hoá, dịch vụ, sản phẩm, mức độ chiếm lĩnh thị trường, chu kỳ sống của sản phẩm, các quan hệ kinh tế tài chính, vay vốn, trả

nợ với khách hàng, bạn hàng và TCTD Uy tín được khẳng định và kiểm nghiệm bằng kết quả thực tế trên thị trường qua thời gian càng dài càng chính ác Do đó, TCTD cần phân tích các số liệu và tình hình trong suốt quá trình phát triển của khách hàng với những thời gian khác nhau mới có kết luận chính xác

- Năng lực, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của khách hàng

Trang 28

Chất lượng cho vay phụ thuộc rất lớn vào năng lực tổ chức, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của người vay Đây chính là tiền đề tạo ra khả năng kinh doanh có hiệu quả của khách hàng, là cơ sở cho khách hàng thực hiện cam kết hoàn trả đúng hạn nợ TCTD cả gốc lẫn lãi Nếu trình độ của người quản lý còn bị hạn chế về nhiều mặt như học vấn, kinh nghiệm thực tế,…thì doanh nghiệp rất dễ bị thua lỗ, dẫn đến khả năng trả nợ kém, ảnh hưởng xấu đến chất lượng cho vay của TCTD

1.4.2.2 Nhóm nhân tố thuộc môi trường

- Môi trường kinh tế

Tính ổn định hay bất ổn định về kinh tế và chính sách kinh tế của mỗi quốc gia luôn có tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường Tính ổn định về kinh tế mà trước hết và chủ yếu là ổn định về tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ, khống chế lạm phát là những điều mà các doanh nghiệp kinh doanh rất quan tâm và ái ngại vì nó liên quan trực tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Nền kinh tế ổn định sẽ là điều kiện, môi trường thuận lợi để các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh và thu được lợi nhuận cao, từ đó góp phần tạo nên sự thành công trong kinh doanh của TCTD Trong trường hợp ngược lại,

sự bất ổn tất nhiên cũng bao chùm đến các hoạt động của TCTD, làm ảnh hưởng tới chất lượng cho vay, gây tổn thất cho TCTD

- Môi trường chính trị

Môi trường chính trị đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong kinh doanh, đặc biệt đối với các hoạt động kinh doanh TCTD Tính ổn định về chính trị trong nước sẽ là một trong những nhân tố thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả Nếu xẩy ra các diễn biến gây bất ổn chính trị như: chiến tranh, ung đột đảng phái, cấm vận, bạo động, biểu tình, bãi công,…có thể dẫn đến những thiệt hại cho doanh nghiệp và cả nền kinh tế nói chung (làm tê liệt sản xuất, lưu thông hàng hoá đình trệ,… Và như vậy, những món tiền doanh nghiệp vay TCTD sẽ khó được hoàn trả đầy đủ và đúng hạn, ảnh hưởng xấu đến chất lượng cho vay

- Môi trường pháp lý

Một trong những bộ phận của môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và NHTM nói riêng là hệ thống pháp luật Với

Trang 29

một môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh, thiếu tính đồng bộ, thống nhất giữa các luật, văn bản dưới luật, đồng thời với nó là sự sắc nhiễu của các có quan hành chính có liên quan sẽ khiến cho doanh nghiệp gặp phải những khó khăn, thiếu đi tính linh hoạt cần thiết, vốn đưa vào kinh doanh dễ bị rủi ro Do đó, ây dựng môi trường pháp lý lành mạnh sẽ tạo thuận lợi trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong đó có các NHTM

- Môi trường cạnh tranh

Có thể nói đây là yếu tố tác động mạnh mẽ đến chất lượng cho vay nói riêng và hoạt động kinh doanh chung của NHTM Sự tác động đó diễn ra theo hai chiều hướng: thứ nhất, để chiếm ưu thế trong cạnh tranh TCTD luôn phải quan tâm tới đầu tư trang thiết bị tốt, tăng cường đội ngũ nhân viên có trình độ, củng cố và khuyếch trương uy tín và thế mạnh của TCTD Hướng tác động này đã tạo điều kiện nâng cao chất lượng cho vay Tuy nhiên, ở hướng thứ hai, dưới áp lực của cạnh tranh gay gắt các TCTD có thể b qua những điều kiện cho vay cần thiết khiến cho độ rủi ro tăng lên, làm giảm chất lượng cho vay

- Môi trường tự nhiên

Các yếu tố rủi ro do thiên nhiên gây ra như lũ lụt, hoả hoạn, động đất, dịch bệnh,… có thể gây ra những thiệt hại không lường trước được cho cả người vay và TCTD Mặc dù những rủi ro này là khó dự đoán nhưng bù lại nó chiếm tỷ lệ không lớn, mặt khác TCTD thường được chia sẻ thiệt hại với các Công ty Bảo hiểm hoặc được Nhà nước hỗ trợ

1.5 Kinh nghiệm về nâng cao chất lượng cho vay và bài học cho Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam

1.5.1 Kinh nghiệm về nâng cao chất lượng cho vay

Hoạt động cho vay của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam tương đối giống với hoạt động tín dụng tại các TCTD khác Vì vậy, Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm nâng cao chất lượng cho vay của các NHTM, Công ty Tài chính và một số Quỹ Bảo vệ môi trường trên thế giới có mô hình hoạt động tương tự,

từ đó rút ra bài học kinh nghiệm

Trang 30

1.5.1.1 Kinh nghiệm từ các NHTM của Malaysia: Bài học về quản lý nợ xấu Các NHTM đều có quỹ dự phòng chung ít nhất là 1% trên tổng dư nợ Ngoài ra, còn có quỹ dự phòng đặc biệt cho các khoản nợ tổn thất và nợ nghi ngờ

Nợ tổn thất là nợ không có khả năng thu hồi, số tiền này cần được xóa sổ hoặc

bù đắp bằng quỹ dự phòng

Nợ nghi ngờ là nợ được coi như không có khả năng thu hồi vì khó đánh giá số tiền mất nên đặt một tỷ lệ 50%

1.5.1.2 Thất bại của Tổng công ty Tài chính Dầu khí Việt Nam: Bài học về quản

lý nợ xấu, nâng cao trình độ chuyên môn CBTD và việc phân bổ vốn vay cho các đối tượng khách hàng khác nhau

Tổng Công ty Tài chính Dầu khí Việt Nam (PVFC) là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tiền thân là Công ty Tài chính Dầu khí, được thành lập từ năm 2000 với phương châm hoạt động “Vì sự phát triển vững mạnh của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN ”

Với sứ mệnh quan trọng là thu xếp nguồn vốn cho PVN, PVFC đã chủ động hợp tác với các TCTD, định chế tài chính lớn trong và ngoài nước; xây dựng và triển khai

kế hoạch, thu xếp vốn kịp thời, đáp ứng nhu cầu về vốn cho PVN và các đơn vị thành viên triển khai các dự án đầu tư đúng tiến độ, bảo đảm yêu cầu tăng trưởng của ngành Dầu khí PVFC cũng đã tham gia với tư cách là đơn vị tư vấn cổ phần hóa thành công cho các đơn vị lớn trong và ngoài ngành Dầu khí Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động tín dụng của PVFC còn bộc lộ nhiều hạn chế như sau:

- Công tác thu hồi nợ chưa tốt, nợ quá hạn của năm trước chưa được xử lý, thu hồi được cơ cấu lại và chuyển sang năm sau Với chủ trương ưu tiên, khuyến khích thực hiện cấp tín dụng ưu đãi đối với các khách hàng trong ngành dầu khí nên một số doanh nghiệp trong ngành phát sinh nợ quá hạn nhưng PVFC vẫn tiếp tục cho vay thêm hoặc gia hạn nợ để đơn vị phục hồi sản xuất

- PVFC đã cho vay theo kế hoạch Nhà nước, cho vay theo ủy thác của Chính phủ, cho vay đối với các doanh nghiệp quốc doanh cao với các công trình dài hạn chủ yếu thuộc lĩnh vực xây dựng, giao thông, thủy điện Khi đến hạn trả nợ, các doanh

Trang 31

nghiệp này thường không trả được nợ đúng hạn, phải gia hạn thêm hoặc xử lý theo hướng dẫn của Chính phủ như đưa vào danh mục nợ khoanh hay được Nhà nước bù lỗ

- Tỷ lệ nợ xấu của PVFC chiếm tỷ trọng lớn và có u hướng tăng lên (năm 2012

tỷ lệ nợ xấu khoảng 4,5%, cao hơn so với mức hơn 2% của năm 2011 , điều này đồng nghĩa với việc PVFC phải đối mặt với việc rủi ro mất vốn là khá cao

- Nguồn lực cán bộ tín dụng còn hạn chế, ít kinh nghiệm Do đó, công tác đánh giá, thẩm định tính khả thi, hiệu quả của các dự án vay vốn trung dài hạn chưa tốt Tài sản đảm bảo nợ vay, phát mại tài sản đảm bảo tiền vay gặp nhiều khó khăn và làm giảm sút giá trị của tài sản

- PVFC đã tập trung cho vay vào một số khách hàng lớn như Tập đoàn công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) và Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines), vì vậy khi các doanh nghiệp này không trả được nợ sẽ đẩy nợ quá hạn, nợ xấu của PVFC tăng lên và PVFC vẫn đang tiếp tục làm việc với Vinashin, Vinalines

và các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền về phương án ử lý và thu hồi các khoản cho vay này

Đến tháng 8/2012, Chính phủ đã yêu cầu PVN không duy trì PVFC và theo đó PVFC sẽ thực hiện chuyển đổi thông qua hợp nhất với một NHTM Tháng 9/2013, PVFC và Ngân hàng TMCP Phương Tây đã chính thức sáp nhập thành Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam (PVcom Bank)

1.5.1.3 Kinh nghiệm từ một số Quỹ Bảo vệ môi trường trên thế giới:

- Quỹ chuyên dụng để kiểm soát ô nhiễm (Trung Quốc): Bài học về việc mở rộng quy mô nguồn vốn hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn đầu tư bảo vệ môi trường của khách hàng và duy trì hoạt động lâu dài của Quỹ

Nguồn vốn hoạt động của Quỹ chuyên dụng để kiểm soát ô nhiễm từ thuế, phí ô nhiễm và tiền phát sinh từ quá trình hoạt động, một phần được bổ sung từ nguồn ngân sách của chính quyền địa phương Hoạt động hỗ trợ tài chính chủ yếu là tài trợ không hoàn lại và cho vay với lãi suất ưu đãi đối với các dự án kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường không khí, đất, nước

Quỹ chuyên dụng để kiểm soát ô nhiễm dành 20-30% tổng nguồn vốn phục vụ mục đích tài trợ không hoàn lại cho các dự án đầu tư kiểm soát ô nhiễm Nguồn vốn

Trang 32

còn lại được phục vụ mục đích cho vay với lãi suất ưu đãi Hoạt động của Quỹ chuyên dụng để kiểm soát ô nhiễm đạt được một số kết quả nhất định trong việc hỗ trợ tài chính cho các dự án kiểm soát và xử lý ô nhiễm Tuy nhiên, do quy mô nguồn vốn còn

nh , Quỹ không đáp ứng đủ nhu cầu cần hỗ trợ tài chính của các dự án môi trường

- Quỹ FUNBIO (Brazil) và Quỹ FMCN (Mexico): Bài học về việc giới hạn lĩnh vực ưu tiên hỗ trợ tài chính nhằm hạn chế việc phân tán vốn vay vào nhiều lĩnh vực sẽ

dễ dẫn đến rủi ro tín dụng

Đây là hai trong rất nhiều Quỹ Bảo vệ môi trường trên thế giới chỉ lựa chọn đầu

tư một số lĩnh vực môi trường nhất định, danh mục cho vay quá đa dạng sẽ khiến nguồn vốn bị phân tán và dễ dẫn đến rủi ro tín dụng Quỹ FUNBIO (Brazil ưu tiên cho các dự án có liên quan đến hoạt động bảo tồn, Quỹ FMCN (Mexico) tập trung tài trợ không hoàn lại cho các chương trình nằm trong ba mục tiêu: bảo tồn hệ sinh thái và các loại động thực vật, sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên và cuối cùng là tăng cường thể chế và giáo dục môi trường (Ricardo B, 1998)

1.5.2 Bài học cho Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam

Qua kinh nghiệm của một số tổ chức về nâng cao chất lượng cho vay có thể rút

ra một số bài học cho Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam:

- Nâng cao hoạt động tìm kiếm khách hàng, từ đó có có thông tin về các khách hàng tốt, nâng cao số lượng khách hàng và doanh số cho vay của Quỹ

- Xây dựng danh mục lĩnh vực cho vay và phân bổ vốn vay giữa các lĩnh vực hợp

lý, tránh tình trạng cho vay tập trung vào một số đối tượng khách hàng nhất định sẽ dễ dẫn đến rủi ro cho vay

- Khả năng tồn tại và hiệu quả lâu dài của Quỹ phụ thuộc chặt chẽ vào mục tiêu bảo tồn vốn cũng như đảm bảo nguồn thu ổn định Để làm tốt điều này, Quỹ cần chú trọng vào hai khía cạnh, thứ nhất hạn chế rủi ro mất vốn và thứ hai là tăng cường các nguồn thu cho Quỹ

- Thường uyên đào tạo và bồi dưỡng kiến thức cho CBTD, từng bước xây dựng đội ngũ CBTD am hiểu quy trình nghiệp vụ, có khả năng phân tích, đánh giá độc lập, chuyên sâu, đảm bảo an toàn tín dụng cũng như nâng cao chất lượng tín dụng của Quỹ

Trang 33

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA QUỸ

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM 2.1 Tổng quan về Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam

Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 82/2002/QĐ-TTg ngày 26/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập, tổ chức

và hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam

Quỹ được thành lập để huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; tiếp nhận các nguồn vốn đầu tư của Nhà nước nhằm hỗ trợ các chương tình, dự

án, các hoạt động, nhiệm vụ bảo vệ môi trường trên phạm vi cả nước Quỹ là tổ chức tài chính Nhà nước thực hiện chức năng tài trợ chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường và chịu sự quản lý nhà nước về tài chính của Bộ Tài chính Quỹ hoạt động không vì mục đích lợi nhuận nhưng phải bảo toàn vốn điều lệ và tự bù đắp chi phí quản lý, được miễn nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước đối với các hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật về thuế và pháp luật về ngân sách nhà nước

Quỹ tiếp nhận các nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, các nguồn tài trợ, đóng góp, ủy thác của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nhằm hỗ trợ tài chính cho các chương trình dự án, các hoạt động bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, phòng, chống, khắc phục ô nhiễm và sự cố môi trường mang tính quốc gia, liên ngành, liên vùng hoặc giải quyết các vấn đề môi trường cục bộ nhưng phạm vi ảnh hưởng lớn Đối tượng được hỗ trợ tài chính từ Quỹ là tổ chức, cá nhân có các dự án đầu tư hoặc phương án đề nghị tài trợ thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, phòng, chống, khắc phục ô nhiễm và sự cố môi trường mang tính quốc gia, liên ngành, liên vùng hoặc giải quyết các vấn đề môi trường cục bộ nhưng phạm vi ảnh hưởng lớn (gọi chung là các dự án đầu tư

Trang 34

Bảng 2.1: Quá trình hình thành và phát triển của Quỹ Bảo vệ môi trường

16/7/2002 Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam chuyển sang trực thuộc Bộ Tài

Nguyên và Môi trường

06/10/2003

Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 93/2003/TT-BTC hướng dẫn thực hiện chế độ quản lý tài chính đối với Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam

31/12/2007 Cho vay với lãi suất ưu đãi đạt 100 tỷ đồng

03/3/2008

Chính phủ ban hành Quyết định số 35/2008/QĐ-TTg về tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam trong đó tăng vốn điều lệ lên thành 500 tỷ đồng

13/10/2008

Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Quyết định số BTNMT quy định Điều lệ Tổ chức và Hoạt động của Quỹ BVMT Việt Nam

2031/QĐ-13/01/2014

Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 02/2014/QĐ-TTg về tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam thay thế Quyết định số 35/2008/QĐ-TTg

26/12/2014

Ban hành Quyết định 78/2014/QĐ-TTg Về tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam thay thế Quyết định 02/2014/QĐ-TTg trong đó quy định vốn điều lệ của Quỹ BVMT Việt Nam là 1000

tỷ đồng

15/4/2015 Ban hành Quyết định số 899/QĐ-BTNMT về Điều lệ Tổ chức và Hoạt

động của Quỹ BVMTVN thay thế Quyết định số 2031/QĐ-BTNMT

28/08/2015

Ban hành Thông tư số 132/2015/TT-BTC về Hướng dẫn cơ chế quản

lý tài chính đối với Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam thay thế Thông

tư số 93/2003/TT-BTC ngày 10/06/2003

(Nguồn: Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam)

Trang 35

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam

Thực hiện Quyết định số 899/QĐ-BTNMT về Điều lệ Tổ chức và Hoạt động của Quỹ BVMTVN hiện nay, cơ cấu tổ chức của Quỹ BVMTVN gồm có: Hội đồng quản

lý, Ban Kiểm soát và Cơ quan điều hành nghiệp vụ

Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam

(Nguồn: Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam)

Hội đồng quản l

Hội đồng quản lý Quỹ BVMTVN bao gồm Chủ tịch và các thành viên của Hội đồng Chủ tịch Hội đồng quản lý là Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Hội đồng quản lý Quỹ BVMT Việt Nam gồm Giám đốc Quỹ và lãnh đạo cấp Vụ của các Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Căn cứ vào đề nghị của các Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét, quyết định danh sách các ủy viên Hội đồng quản lý Quỹ và hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm (trừ Giám đốc Quỹ là ủy viên làm việc theo chế độ chuyên trách)

Hội đồng quản lý là cơ quan có trách nhiệm và quyết định cao nhất về kế hoạch phát triển, định hướng hoạt động cho vay của Quỹ BVMTVN, cụ thể:

PHÒNG

KẾ HOẠCH - PHÁT TRIỂN

PHÒNG TÍN DỤNG XLMT TẬP TRUNG

PHÒNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ, QUẢN LÝ RỦI

RO VÀ PHÁP CHẾ

PHÒNG CDM

PHÒNG TÍN DỤNG XLMT KHÔNG TẬP TRUNG

PHÒNG TÀI TRỢ

BAN QUẢN

LÝ DỰ

ÁN WB

Trang 36

- Quyết định kế hoạch phát triển, định hướng các hoạt động tín dụng;

- Phê duyệt kế hoạch tài chính hàng năm của Quỹ BVMTVN căn cứ trên Kế hoạch hoạt động hàng năm được phê duyệt bởi Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường;

- Giám sát, kiểm tra việc thực hiện hoạt động tín dụng theo các quy định của Nhà nước về tín dụng đầu tư, Điều lệ của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam và các quyết định của Hội đồng quản lý;

- Phê duyệt kế hoạch hoạt động của Ban Kiểm soát, em ét các báo cáo kết quả kiểm soát của Ban Kiểm soát về hoạt động tín dụng

Ban kiểm soát

Ban Kiểm soát gồm có Trưởng Ban Kiểm soát và một số thành viên, số lượng tối

đa không quá 5 người

Trưởng Ban Kiểm soát, Kiểm soát viên do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường bổ nhiệm, bổ nhiệm lại hoặc miễn nhiệm trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ; nhiệm kỳ của Ban kiểm soát là 03 năm Ban Kiểm soát hoạt động theo chế độ chuyên trách

Ban kiểm soát thực hiện kiểm tra, kiểm soát đối với hoạt động của Quỹ BVMTVN theo kế hoạch được HĐQL phê duyệt, cụ thể:

- Kiểm tra việc chấp hành chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước và Nghị quyết của Hội đồng quản lý trong hoạt động tín dụng của Quỹ BVMTN;

- Kiểm tra hoạt động của hệ thống kiểm tra và kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng của Quỹ BVMTVN

Cơ quan điều hành nghiệp vụ

Cơ quan điều hành nghiệp vụ của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam gồm: Giám đốc, các Phó Giám đốc, Kế toán trưởng và các phòng, ban nghiệp vụ

- Giám đốc Quỹ BVMT Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường bổ nhiệm trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch Hội đồng quản lý Giám đốc là đại diện theo pháp luật trong các hoạt động của Quỹ ở trong và ngoài nước, chịu trách nhiệm trước pháp luật

và Hội đồng quản lý về toàn bộ hoạt động nghiệp vụ của Quỹ

Trang 37

Giám đốc chịu trách nhiệm điều hành và quản lý hoạt động tín dụng của Quỹ theo chiến lược, chính sách và kế hoạch tín dụng được HĐQL phê duyệt:

+ Chủ trì ây dựng quy định lĩnh vực ưu tiên, tiêu chí lựa chọn các dự án đầu tư được hỗ trợ tài chính trong từng thời kỳ và các văn bản khác có liên quan trình Hội đồng quản lý Quỹ em ét, quyết định;

+ Trình Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt Kế hoạch hoạt động của Quỹ; + Trình HĐQL phê duyệt kế hoạch tài chính hàng năm của Quỹ;

+ Quyết định cho vay, bảo lãnh vay vốn theo các quy định tại Điều lệ Quỹ và trong phạm vi do Chủ tịch Hội đồng quản lý phân cấp;

+ Báo cáo HĐQL các nội dung liên quan đến hoạt động tín dụng của Quỹ;

+ Ban hành các văn bản quy định về:

Quy chế hoạt động nghiệp vụ tín dụng của Quỹ;

Tổ chức hoạt động kiểm tra và kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng;

Căn cứ vào yêu cầu công việc, Giám đốc có thể uỷ quyền cho một Phó Giám đốc phụ trách hoạt động tín dụng với nội dung và thời gian thích hợp

- Phó giám đốc

Phó Giám đốc Quỹ là người giúp Giám đốc Quỹ chỉ đạo, điều hành một số mặt công tác của Quỹ theo sự phân công của Giám đốc Quỹ và chịu trách nhiệm trước Giám đốc Quỹ và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân công Trong trường hợp Giám đốc Quỹ vắng mặt, một Phó Giám đốc Quỹ được ủy quyền giải quyết các công việc của Quỹ và báo cáo Giám đốc Quỹ về kết quả thực hiện Hiện tại Quỹ BVMT Việt Nam có 02 Phó Giám đốc

- Các phòng nghiệp vụ

Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các phòng, ban nghiệp vụ giúp việc Cơ quan điều hành Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam do Giám đốc Quỹ quyết định sau khi có ý kiến chấp thuận của Chủ tịch Hội đồng Quản lý Quỹ

Hiện tại, cán bộ cấp Trưởng phòng gồm có 08 cán bộ và cấp Phó Trưởng phòng

có 12 cán bộ Tổng số cán bộ, viên chức và người lao động của Quỹ là 85, được bố trí tại 08 phòng: 02 Phòng Tín dụng (Phòng Tính dụng ử lý môi trường tập trung và

Trang 38

Phòng Tín dụng ử lý môi trường không tập trung ; Phòng Tài Trợ; Cơ chế phát triển sạch; Kế hoạch phát triển; Tài chính - Kế toán; Kiểm soát nội bộ, quản lý rủi ro và pháp chế; Văn phòng Ngoài ra còn có 01 Ban quản lý dự án WB

Toàn bộ cán bộ công nhân viên đều có trình độ từ đại học trở lên, đội ngũ cán bộ Quỹ được đào tạo trong lĩnh vực Kinh tế, Tài chính, Ngân hàng, Luật và Môi trường,

cơ bản đáp ứng được yêu cầu công việc và định hướng phát triển của Quỹ

Hai phòng Tín dụng chịu trách nhiệm hoạt động cấp và quản lý cho vay và bảo lãnh theo phân công của Giám đốc Quỹ BVMTVN.Phòng Tín dụng là bộ phận trực tiếp triển khai các hoạt động nghiệp vụ nhằm thực hiện chính sách và kế hoạch tín dụng tới các đối tượng khách hàng

Phòng Kiểm soát nội bộ, Quản lý rủi ro và Pháp chế (sau đây gọi tắt là Phòng Quản lý rủi ro thực hiện:

+ Tham mưu Giám đốc Quỹ các vấn đề liên quan đến rủi ro trong quá trình ây dựng và triển khai chính sách tín dụng;

+ Kiểm tra, giám sát thường uyên việc thực hiện quy trình, quy chế của Giám đốc Quỹ đối với hoạt động tín dụng

2.1.3 Vị trí chức năng và nhiệm vụ của Quỹ BVMT Việt Nam

Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam có chức năng cho vay lãi suất ưu đãi, tài trợ,

hỗ trợ lãi suất cho các chương trình, dự án, các hoạt động, nhiệm vụ bảo vệ môi trường

và ứng phó với biến đổi khí hậu không nằm trong kế hoạch ngân sách trên phạm vi toàn quốc

2.1.3.2 Nhiệm vụ của Quỹ BVMTVN

Trang 39

Tại điều 4 Quyết định số 78/2014/QĐ-TTg ngày 26/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định về nhiệm vụ của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam như sau:

- Tiếp nhận, quản lý và sử dụng các nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, các nguồn tài trợ, đóng góp, ủy thức của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nhằm

hỗ trợ tài chính cho các hoạt động bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn quốc

- Cho vay vốn với lãi suất ưu đãi đối với các dự án bảo vệ môi trường trên phạm

- Nhận ký quỹ phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản với các tổ chức,

cá nhân được phép khai thác khoáng sản

- Nhận ký quỹ đảm bảo phế liệu nhập khẩu đối với các tổ chức và cá nhân trong nhập khẩu phế liệu

- Thực hiện một số cơ chế, chính sách tài chính đối với dự án đầu tư theo cơ chế phát triển sạch (CDM), bao gồm:

+ Tổ chức theo dõi, quản lý, thu lệ phí bán chứng chỉ giảm phát thải khí nhà kính được chứng nhận (CERs được Ban chấp hành quốc tế về CDM cấp cho các dự án CDM thực hiện tại Việt Nam;

+ Chi hỗ trợ cho các hoạt động phổ biến, tuyên truyền nâng cao nhận thức về dự

án đầu tư theo cơ chế phát triển sạch (CDM); xem xét, phê duyệt tài liệu dự án CDM; quản lý và giám sát dự án CDM;

+ Trợ giá đối với sản phẩm của dự án CDM

- Hỗ trợ giá điện đối vớ dự án điện gió nối lưới theo quyết định của Thủ tướng

Trang 40

Chính phủ và theo quy định của pháp luật hiện hành

- Hỗ trợ tài chính đối với các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu theo quy định của pháp luật

- Tổ chức thẩm định, phê duyệt mức, thời gian và hình thức hỗ trợ tài chính cho các dự án, nhiệm vụ bảo vệ môi trường sử dụng vốn hỗ trợ đầu tư từ Quỹ theo Điều lệ

tổ chức và hoạt động của Quỹ

- Trình Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét, quyết định các nội dung và hình thức hỗ trợ phát sinh trong quá trình hoạt động

- Thực hiện các chương trình, dự án và nhiệm vụ khác do thủ tướng Chính phủ,

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường giao

2.1.4 Nguồn vốn hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam

Theo điều 7 Quyết định số 78/2014/QĐ-TTg ngày 26/12/2014 của Thủy tướng Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam thì nguồn vốn hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam gồm:

- Vốn điều lệ do ngân sách Nhà nước cấp: từ 500 (năm trăm tỷ lên 1.000 (một nghìn) tỷ đồng trong 3 năm (2015-2017 ; đến năm 2017, được cấp đủ 1.000 (một nghìn) tỷ đồng

- Vốn bổ sung hằng năm từ các nguồn:

+ Ngân sách nhà nước chi sự nghiệp môi trường cấp bù kinh phí tài trợ cho các

dự án, nhiệm vụ bảo vệ môi trường đã thực hiện hàng năm và bổ sung vốn hoạt động cho Quỹ;

+ Các khoản bồi thường thiệt hại về môi trường và đa dạng sinh học thu vào ngân sách nhà nước;

+ Lệ phí bán, chuyển các chứng chỉ giảm phát thải khí nhà kính được chứng nhận (CERs thu được từ các dự án CDM thực hiện tại Việt Nam;

+ Các khoản tài trợ, hỗ trợ, đóng góp tự nguyện, ủy thác đầu tư của các tổ chức,

cá nhân trong và ngoài nước dành cho lĩnh vực bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu;

+ Các nguồn vốn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật

Ngày đăng: 03/01/2019, 08:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w