MỞ ĐẦU A. TÓM TẮT NỘI DUNG CHÍNH ĐÃ THU HOẠCH QUA KHOÁ BỒI DƯỠNG Qua thời gian học tập, được bồi dưỡng kiến thức thuộc lớp bồi dưỡng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên THCS hạng II được Quý thầy, cô của trường Đại học sư phạm Hà Nội II truyền đạt những kiến thức và kỹ năng gồm những nội dung: Chuyên đề 1. Lý luận về nhà nước và hành chính nhà nước. Chuyên đề 2. Chiến lược và chính sách phát triển giáo dục và đào tạo. Chuyên đề 3. Quản lý giáo dục và chính sách phát triển giáo dục trong cơ chế thị trường định hướng XHCN. Chuyên đề 4. Giáo viên với công tác tư vấn học sinh trong trường THCS. Chuyên đề 5. Tổ chức hoạt động dạy học, xây dựng và phát triển kế hoạch giáo dục ở trường THCS. Chuyên đề 6. Phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên THCS hạng II. Chuyên đề 7. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường THCS. Chuyên đề 8. Thanh tra kiểm tra và một số hoạt động đảm bảo chất lượng trường THCS. Chuyên đề 9. Sinh hoạt tổ chuyên môn và công tác bồi dưỡng giáo viên trong trường THCS. Chuyên đề 10. Xây dựng mối quan hệ trong và ngoài nhà trường để nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển trường THCS. Đây là những nội dung hết sức bổ ích và cần thiết cho người quản lí, giáo viên giảng dạy trong việc thực thi nhiệm vụ tại đơn vị đang công tác. Với 10 chuyên đề đã giúp cho học viên nhận thức được nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn mới trong công tác dạy và học. Qua một thời gian học tập bản thân đã tiếp thu được nhiều kiến thức bổ ích qua đó tôi đã rút ra một số bài học và kiến nghị nhằm phục vụ cho quá trình công tác sau này tuy nhiên do thời gian hoàn thiện ngắn, việc nghiên cứu chưa được sâu và kinh nghiệm bản thân có hạn do đó dù đã cố gắng rất nhiều nhưng bài viết này chắc chắn còn những hạn chế, rất mong được sự đóng góp ý kiến của Quý thầy cô và các bạn để bài viết được hoàn chỉnh hơn. Nội dung đầu tiên được nghiên cứu thuộc chuyên đề 1 “Lý luận về nhà nước và hành chính nhà nước”, qua chuyên đề 1 em nhận thức được các vấn đề cơ bản sau: Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của nhà nước. Đó chính là hoạt động quản lý gắn liền với hệ thống các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước bộ phận quan trọng của quyền lực chính trị trong xã hội, có tính chất cưỡng chế đơn phương đối với xã hội. Quản lý nhà nước được hiểu trước hết là hoạt động của các cơ quan nhà nước thực thi quyền lực nhà nước. Chuyên đề 2 “Chiến lược và chính sách phát triển giáo dục và đào tạo” nội dung cơ bản của chuyên đề là:Cùng với sự phát triển chung của các lĩnh vực trong toàn xã hội trước tác động của toàn cầu hóa, lĩnh vực giáo dục chịu ảnh hưởng trực tiếp của các tác động quá trình trên, do đó nền giáo dục của thế giới đang phát triển theo nhiều biến đổi. Tuy nhiên, Đảng và Nhà nước luôn khẳng định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển; giáo dục vừa là mục tiêu vừa là động lực để phát triển kinh tế xã hội. Chuyên đề 3 “Quản lý giáo dục và chính sách phát triển giáo dục trong cơ chế thị trường định hướng XHCN” nội dung cơ bản của chuyên đề là:QLNN về giáo dục và đào tạo là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với quá trình giáo dục và đào tạo, hành vi hoạt động của các tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động giáo dục và đào tạo do hệ thống cơ quan nhà nước tiến hành nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, đáp ứng nhu cầu về giáo dục và đào tạo của nhân dân. Chuyển từ cách giáo dục theo truyền thống sang tạo dựng cách học, thói quen học suốt đời và xây dựng học tập. Chuyên đề 4 “Giáo viên với công tác tư vấn học sinh trong trường THCS” nội dung cơ bản của chuyên đề là:Tư vấn tâm lý là quá trình nhà tư vấn vận dụng những tri thức, phương pháp và kỹ thuật tâm lý học nhằm trợ giúp đối tượng được tư vấn nhận ra chính mình, từ đó thay đổi hành vi, thái độ, tự tái lập lại thế cân bằng tâm lý của bản thân mình. Chuyên đề 5 “Tổ chức hoạt động dạy học, xây dựng và phát triển kế hoạch giáo dục ở trường THCS” nội dung cơ bản của chuyên đề là:Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn gồm hoạt động dạy và hoạt động học luôn luôn tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau. Sự tương tác giữa dạy và học mang tính chất cộng tác, trong đó dạy giữ vai trò chủ đạo.Hoạt động dạy và hoạt động học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện ở mối quan hệ tương tác giữa các thành tố: mục tiêu, nội dung, phương pháp của hoạt động dạy và hoạt động học. Chuyên đề 6 “Phát triển năng lực nghề nghiệp giáoviên THCS hạng II” nội dung cơ bản của chuyên đề là: Xuất phát từ đặc trưng của nhà trường hiện đại, yêu cầu về phẩm chất và năng lực của người giáo viên, là chuyển mục tiêu và nội dung đào tạo từ chủ yếu cung cấp tri thức sang đào tạo năng lực, chuyển phương thức tổ chức đào tạo theo định hướng tức là hình thành và phát triển kiến thức, kỹ năng và năng lực sư phạm, phẩm chất, nhân cách nghề của người giáo viên theo nguyên lý hoạt động, thông qua việc nghiên cứu và giải quyết các tình huống sư phạm, phát triển năng lực nghề nghiệp của giáo viên theo chu trình: đào tạo bồi dưỡng thường xuyên. Chuyên đề 7 “Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường THCS” nội dung cơ bản của chuyên đề là: Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định. Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao động, kiến thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó.Năng lực của người học là khả năng làm chủ hệ thống tri thức, kĩ năng, thái độ... và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho họ trong cuộc sống. Chuyên đề 8 “Thanh tra kiểm tra và một số hoạt động đảm bảo chất lượng trường THCS” nội dung cơ bản của chuyên đề là:“Thanh tra là kiểm tra, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”. Trong cuốn sách “thuật ngữ pháp lý phổ thông” do Nhà xuất bản Pháp lý in năm 1986, định nghĩa thanh tra được xem là một biện pháp (phương pháp) của kiểm tra. Nhiệm vụ thanh tra được uỷ quyền cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm. Thanh tra gắn liền với chức năng quản lý nhà nước. Để làm được nhiệm vụ, Thanh tra có thể dựa vào bộ máy chuyên môn của mình và quần chúng. “Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét”. Kiểm tra là chức năng của mọi chủ thể quản lý, không phân biệt ở cấp nào trong bộ máy quản lý nói chung và trong bộ máy quản lý nhà nước nói riêng. Chuyên đề 9 “Sinh hoạt tổ chuyên môn và công tác bồi dưỡng giáo viên trong trường THCS” nội dung cơ bản của chuyên đề là: Tổ chuyên môn là một bộ phận của nhà trường, gồm một nhóm giáo viên (từ 3 người trở lên) cùng giảng dạy về một môn học hay một nhóm môn học hay một nhóm viên chức làm công tác thư viện, thiết bị giáo dục, tư vấn học đường... được tổ chức lại để cùng nhau thực hiện các nhiệm vụ theo mục tiêu, chiến lược của tổ, của nhà trường đề ra. Chuyên đề 10. Xây dựng mối quan hệ trong và ngoài nhà trường để nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển trường THCS nội dung cơ bản của chuyên đề là: Xã hội hóa giáo dục và xây dựng xã hội học tập, Xây dựng môi trường giáo dục, Phát triển quan hệ giữa các trường THCS với các bên liên quan Qua tham gia nội dung lớp học em thấy tâm đắt nhất với nội dung yêu cầu về năng lực của người giáo viên trung học cơ sở, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục của Việt Nam trong thời kỳ mới, em xin trình bày nội dung này. Theo những tổng kết mới đây, các nhà khoa học đã cho rằng: lịch sử phát triển của giáo dục nhân loại gắn liền với sự thay đổi vai trò, vị thế của người thầy; và nền giáo dục của thế giới đang phát triển ở thời kỳ thứ tư. Thời kỳ thứ nhất là thời kỳ chuyển giao trực tiếp tri thức (người thầy cần có khả năng truyền đạt lại những tri thức mà mình đã thu nhận được đến với học trò). Thời kỳ thứ hai là thời kỳ cải tiến phương thức truyền đạt (ứng với sự ra đời của kĩ thuật ấn loát) để học trò dễ tiếp thu hơn. Thời kỳ thứ ba là thời kỳ soạn thảo những sách học chuyên biệt và thời kỳ thứ tư là thời kỳ của việc học tập có hướng dẫn. Nếu như ở thời kỳ thứ nhất, yêu cầu đối với người thầy là khả năng đọc rộng và truyền đạt tốt; thì ở thời kỳ thứ hai, năng lực đó sẽ là lựa chọn và sắp xếp các bài học và truyền đạt theo lối thử nghiệm mò mẫm; ở thời kỳ thứ ba sẽ là việc truyền đạt kết hợp với sử dụng sách giáo khoa và tài liệu học tập. Như vậy từ “ống dẫn thông tin” đến “chất xúc tác của quá trình hướng dẫn thông tin” hiện nay, vai trò và vị thế của người thầy đã có những thay đổi khá khác biệt. Chúng ta đã bước sang thời kỳ mới, thời kỳ công nghệ 4.0 đang và nhất định sẽ có rất nhiều những đổi thay to lớn trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Trong đó giáo dục và đào tạo đã hình thành và bước đầu phát triển mạnh mẽ các khuynh hướng mới như đa dạng hoá các loại hình giáo dục, sử dụng công nghệ thông tin trong dạyhọc, diễn đàn khoa học trên mạng Internet ... Đảng ta cũng đã quyết định đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội và xác định rõ muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dụcđào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững. Chúng ta cũng định hướng được ràng trong giáo dụcđào tạo giáo dục đại học giữ vai trò nòng cốt, bởi vì giáo dục đại học có mục tiêu là đào tạo những con người có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là công nghệ thông tin, đang làm thay đổi nhanh chóng diện mạo của thế giới, thúc đẩy nhanh chóng tốc độ hội nhập và toàn cầu hoá, theo đó làm thay đổi mục tiêu, nội dung và phương pháp dạyhọc đại học. Nội dung giáo dục đại học ngày nay mang tính hiện đại và phát triển, phương pháp giáo dục coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo và tạo tiền đề để họ có khả năng tự học suốt đời. Từ những yêu cầu trên nhiều trường THCS đã tập trung các nguồn lực vào việc đổi mới phương pháp giảng dạy. Có nhiều giải pháp được đưa ra nhằm nâng cao chất lượng chất lượng đào tạo, song những giải pháp có thể được coi là cơ bản và quyết định là xác định và xây dựng nhận thức về vai trò trách nhiệm của người thầy trong quá trình giảng dạy, tích cực đổi mới phương pháp dạyhọc hiệu quả, tăng cường hệ thống tài liệu và trang thiết bị dạy học, gắn kết đào tạo với nghiên cứu khoa học. Trong bài viết này tôi chỉ muốn đề cập đến vai trò và trách nhiệm của người thầy trong đổi mới phương pháp giảng dạy ở THCS trên cơ sở thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cho HS THCS. Nghề giáo là một nghề đặc biệt, cũng là một lao động nhưng sản phẩm là con người, công cụ lao động là nhân cách của chính mình: dùng nhân cách để đào tạo nhân cách. Do đó đòi hỏi ở người GV một phẩm chất đạo đức và năng lực rất cao. không thể kể hết những yếu tố cụ thể, chỉ xét những điểm chung nhất mà một GV không thể thiếu: Về phẩm chất: Phải có một nhân cách mẫu mực, yêu nghề mến trẻ. Phải luôn luôn là tấm gương sáng cho mọi người, phải giữ tư cách đạo đức trong nhà trường, gia đình và xã hội. nói chung trong mọi lúc mọi nơi luôn là nười mẫu mực. Trong giảng dạy, đặt hiệu quả giáo dục lên hàng đầu, thưởng phạt công minh, không thiên vị, tất cả vì học sinh. Về năng lực: xét 2 mặt là kiến thức giáo dục và kiến thức chuyên môn Dạy học không phải chỉ là dạy các chuyên môn của mình, mà còn mặt giáo dục. người ta còn gọi là dạy chữ và dạy người. khi có đủ tư cách đạo đức gương mẫu, GV hướng hs hình thành nhân cách đạo đức tốt, tránh những thói hư tật xấu…. điều này luôn lồng ghép khi giảng dạy. Kiến thức chuyên môn: hiển nhiên là phải có kiến thức sâu rộng, nắm vững chuyên môn, phương pháp dạy khoa học, và luôn đổi mới cho phù hợp. “biết mười dạy một, để học sinh học một biết mười”. Để đạt được tất cả những điều này tôi nghỉ phải đốt đuốc mà tìm, nhưng không phải là không có. Những gì tôi trình bài là những gì chung nhất mà một GV cần có, và còn phải biết áp dụng cho từng tình huống cụ thể II. Giải quyết vấn đề 1. Cấu trúc nhân cách của người thầy giáo Cấu trúc nhân cách của mỗi người gồm: phẩm chất (đức) và năng lực (tài). + Phẩm chất là thái độ của con người đối vối hiện thực (tự nhiên, xã hội, người khác, bản thân); là hệ thống những thuộc tính tâm lý biểu hiện các mối quan hệ xã hội cụ thể của người đó; thường thể hiện qua hành động, hành vi, cách ứng xử… + Năng lực là mặt hiệu quả của tác động (tác động vào con người, vào sự việc). + Phẩm chất và năng lực đều bao hàm ba yếu tố cơ bản: nhận thức, tình cảm, ý chí. Phẩm chất của nhân cách gồm: ý thức, niềm tin đạo đức (nhận thức), tình cảm đạo đức, ý chí dạo đức. Năng lực: năng lực trí tuệ (nhận thức), tình cảm trí tuệ và hành động trí tuệ (ý thức). Cấu trúc nhân cách của người thầy giáo: + Phẩm chất: thế giới quan khoa học, lý tưởng đào tạo thế hẹ trẻ, lòng yêu trẻ, lòng yêu nghề nghiệp, những phẩm chất đạo đức phù hợp với hoạt động của người thầy. + Năng lực sư phạm: năng lực hiểu học sinh trong quá trình dạy học và giáo dục, tri thức, tầm hiểu biết, năng lực chế biến tài liệu học tập, năng lực dạy học, ngôn ngữ, vạch dự án phát triển nhân cách học sinh, giao tiếp sư phạm, “cảm hóa” học sinh, tổ chức hoạt động sư phạm… Năng lực của người thầy giáo (năng lực sư phạm) có 3 nhóm năng lực sư phạm: Nhóm năng lực dạy học Nhóm năng lực giáo dục Nhóm năng lực tổ chức hoạt động sư phạm 1.1. Nhóm năng lực dạy học Năng lực hiểu học sinh trong quá trình dạy học: Tri thức và tầm hiểu biết của người thầy giáo: đây là một năng lực cơ bản + Người thầy giáo phải có tri thức sâu về chuyên môn và có tâm hiểu biết rộng bởi vì: Người thầy giáo phải có nhiệm vụ hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh ( thế hệ trẻ). Để thực hiện nhiệm vụ đó thầy giáo phải trang bị cho họ những tri thức, kỹ năng, kỹ sảo, quan điểm và thái độ....(nhất là tri thức khoa học do mình phụ trách). Thầy giáo là người tổ chức quá trình tái tạo những tri thức loài người để phát triển tâm lý con người mới. Thầy giáo là nhà giáo dục có hoạt động rất đa dạng và phong phú, không chỉ giảng dạy chuyên môn và còn hình thành thế giới quan cho trẻ. Đồng thời người thầy giáo có tri thức và tầm hiểu biết để tạo ra uy tin của mình. + Người thầy giáo có tri thức và tầm hiểu biết được thể hiện: Nắm vững và hiểu biết rộng môn mình phụ trách. Thường xuyên theo dõi xu hướng, những phát minh khoa học thuộc môn mình phụ trách và môn học khác. Đồng thời biết tiến hành nghiên cứu khoa học và hứng thú đối với nó. Có năng lực tự học, tự bồi dưỡng để hoàn thiện trí thức cho mình. Vậy để có năng lực này người thầy giáo phải có nhu cầu mở rộng tri thức và tầm hiểu biết của mình, luôn luôn cố gắng học hỏi và tự học để đào sâu và mở rộng tri thức. Đồng thời thầy giáo phải tự rèn luyện cho mình kỹ năng tự học. Năng lực chế biến tài liệu học tâp Người thầy giáo không phải truyền đạt một cách máy móc và dập khuôn từng câu, từng chữ trong sách giáo khoa hay tài liệu, mà phải biết chế biến tài liệu sao cho phù hợp với logic phát triển khoa học, vừa phải hợp với nhận thức của học sinh để giúp cho học sinh để hiểu , hiểu bài sâu sắc và vững chắc hơn. a) Người thầy giáo biết chế biến tài liệu học tập được thể hiện. Đánh giá đúng tài liệu: xác lập được mối yêu cầu kiến thức của chương trình với trình độ nhận thức của học sinh. Để đảm bảo được yêu cầu chung về kiến thức của chương trình, làm cho tài liệu đó vừa sức với học sinh. Người thầy giáo biết tổ chức cho trẻ giành được tri thức khoa học đã đượcc gởi gắm trong tài liệu, truyền được sức sống của kiến thức đó có ý nghĩa sâu sắc đối với cuộc sống của họ. Người thầy giáo phải nắm bắt được logic phát triển của tri thức, hiểu thấu đáo, chính xác tài liệu phải biết chế biến nhào nặn bổ sung tài liệu Thầy giáo phải có khả năng phân tích, hệ thống hóa kiến thức. Đồng thời có sáng tạo khi chế biến tài liệu để cung cấp cho học sinh những kiến thức chính, bổ ích, chính xác, có liên hệ giữa kiến thức cũ với mới, kiến thức bộ môn này với kiến thức bộ môn khác, biết vận dụng vào thực tiễn cuộc sống b) Nắm vũng kỹ thuật dạy học mới: Kết quả chiếm lĩnh đối tượng học tập phụ thuộc vào phương pháp dạy của thầy, do đó thầy phải biết cách dạy, nâng cao trình độ dạy. Tức là thầy phải nắm vững kỹ thuật dạy học mới. Kỹ thuật dạy học mới là thầy tổ chức , điều khiển hoạt động của trò nhắm giúp trò chủ động, tích cực, sáng tạo lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. Người thầy giáo nắm vững những kỹ thuật dạy học mới được biểu hiện ở những chỗ: + Biết tạo cho học sinh ở vị trí người phát minh trong quá trình dạy học. + Ttruyền đạt tài liệu rõ ràng, dễ hiểu và làm cho nó trở nên vừa sức với học sinh + Gây được hứng thú và kích học sinh suy nghĩ tích cực và độc lập + Tạo ra tâm thế có lợi cho sự lĩnh hội, học tập Vậy muốn có năng lực này, người thầy giáo cần phải học tập, nghiên cứu nghiêm túc cả về lý luận cơ bản, cả về lý luận nghiệp vụ. Đồng thời phải rèn luyện tay nghề công phu, có sáng kiến c) Năng lực ngôn ngữ: đây là một năng lực quan trọng của người thầy giáo Trong dạy học thầy giáo dùng ngôn ngữ như là công cụ để truyền thụ kiến thức mới, kiểm tra kiến thức cũ,thuyết phục học sinh tin vào chân lý. Ngôn ngữ còn giúp người thầy giáo thực hiện chức năng dạy học và giáo dục, nó truyền đạt những thông tin đến học sinh, thúc đẩy sự chú ý va suy nghĩ của học sinh vào bài giảng, đồng thời điều khiểnđiều chỉnh hoạt động nhận thức của học sinh Năng lực ngôn ngữ của người thầy giáo phải được biểu hiện ở cả nội dung và hình thức của ngôn ngữ: + Về nôi dung: chứa đựng mật độ thông tin lớn, diễn tả trình bày phải chính xác, cô đọng, thâm uyên về sự hiểu biết, suy nghĩ sâu sắc. Lời nói phản ánh được tính kế tục , đảm bảo thông tin liên tục, logic của vấn đề. Đặc biệt nhân cách của người thầy giáo là hậu thuẫn vững chắc cho lời nói của mình. + về hình thức: Hình thức ngôn ngữ của người thầy Phải giản dị, sinh động, giàu hình ảnh, có ngữ điệu, sáng sủa, biểu cảm, cách phát âm phải chuẩn, không sai ngữ pháp. Ngôn ngữ của thầy giáo còn thúc đẩy một cách tối đa sự chú ý va suy nghĩ của học sinh vào bài giảng, tránh câu nói dài, rườm rà, cấu trúc phức tạp, thuật ngữ khó hiểu. Do đó thầy giáo cần phải suy nghĩ để lựa chọn hình thức trình bày ngăn gọn đôi khi pha lẫn sự khôi hài, dí dỏm để các em tích cực suy nghĩ học tập sôi nỏi và tiếp thu tốt hơn. Tóm lại ngôn ngữ của thầy giáo phải súc tích về nội dung, giản dị về hình thức. Người thầy giáo cần rèn luyện ngôn ngữ của mình thường xuyên, chuyên cần để có năng lực ngôn ngữ, ngôn ngữ ngày càng phát triển. 1.2 Về năng lực giáo dục: 1. Năng lực vạch dự án phát triển nhân cách học sinh Đó là năng lực biết dựa vào mục đích giáo dục, yêu cầu đào tạo hình dung trước cần phải giáo dục cho từng học sinh những phẩm chất nhân cách nào và hướng hoạt động của mình để đạt tới hình mẫu trọn vẹn của người mới. Năng lực này thường được biểu hiện ở chỗ: Vừa có kĩ năng tiên đoán sự phát triển của những thuộc tính này hay khác của từng học sinh, vừa nắm được nguyên nhân sinh ra cũng như mức độ phát triển của những thuộc tính đó. Có sự sáng rõ về những biểu hiện nhân cách của những học sinh khác sẽ thu được trong tương lai dưới ảnh hưởng của những dự án phát triển nhân cách do mình xây dựng Hình dung được hiệu quả của các tác động giáo dục nhằm hình thành nhân cách theo dự án. Năng lực vạch dự án phát triển nhân cách học sinh được tạo nên bởi yếu tố tâm lí như: óc tưởng tượng sư phạm, tính lạc quan sư phạm, niềm tin vào sức mạnh giáo dục, niềm tin vào con người và óc quan sát sư phạm. 2. Năng lực giao tiếp sư phạm Giao tiếp là một thành phần cơ bản của hoạt động sư phạm. Những hình thức chủ yếu của công tác giáo dục và học tập diễn ra trong điều kiện giao tiếp như: giảng bài, phụ đạo, thi cử, công tác cá biệt, lao động, vui chơi. Không có giao tiếp thì hoạt động của giáo viên và học sinh không thể diễn ra. Vì vậy, người giáo viên cũng phải có năng lực giao tiếp sư phạm. Đó là năng lực nhận thức nhanh chóng những biểu hiện bên ngoài và những diễn biến tâm lý bên trong của học sinh và bản thân, đồng thời biết sử dụng hợp lý các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách tổ chức, điều chỉnh quá trình giao tiếp nhằm đạt mục đích giáo dục. Kỹ năng giao tiếp sư phạm Kỹ năng định vị: Xác định vị trí trong giao tiếp , biết đặt vị trí của mình vào vị trí của đối tượng để tạo ra điều kiện để đối tượng chủ động , thoải mái giao tiếp với mình. Kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp: Biết thu hút đối tượng , tìm đề tài giao tiếp phù hợp, xác định được hứng thú , nguyện vọng của đối tượng. Kỹ năng này còn thể hiện ở các khả năng: + Kỹ năng làm chủ trạng thái xúc cảm của bản thân: biết điều khiển và điều chỉnh các diễn biến tâm lý của mình cho phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp. + Kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp: trong giao tiếp phải biết lựa chọn các từ ngữ một cách có văn hóa có giáo dục và biết biểu hiện ngữ điệu. Năng lực giao tiếp sư phạm không chỉ thể hiện trong việc tiếp xúc giữa thầy và trò mà còn có sự tiếp xúc với đồng nghiệp với phụ huynh học sinh và các tổ chức xã hội. 3. Năng lực xử lý khéo léo sư phạm Trong quá trình giáo dục người thầy đứng trước nhiều tình huống sư phạm khác nhau, điều đó đòi hỏi người thầy phải có hiểu biết về tâm lí trẻ, hiểu những gì đang diễn ra trong tâm hồn các em, mặt khác phải có sự giải quyết linh hoạt sáng tạo những tình huống sư phạm của từng cá nhân và tập thể. Để thực hiện tốt điều này người thầy phải có sự khéo léo và năng lực ứng biến xử lý tài tình. Biểu hiện xử lý sư phạm khéo léo: Sự nhạy bén về mức độ sử dụng bất khỳ tác động nào như: khuyến khích,trách phạt, ra lệnh… Nhanh chóng xác định được vấn đề và đưa ra hướng xử lý thích hợp Biết phát hiện kịp thời và xử lý khéo léo những vấn đề bất ngờ, không nóng vội, không thô bạo. Biến cái bị động thành chủ động, giải quyết một cách mau lẹ các vấn đề phức tạp đặt ra trong công tác dạy học và giáo dục. Ngoài ra người thầy còn quan tâm đến trẻ, nắm được tâm sinh lý lứa tuổi HS Tài ứng xử sư phạm là một bộ phận của nghệ thuật sư phạm. cho nên nó là cơ sở hình thành lương tâm nghề nghiệp, niềm tin và lòng tôn trọng người mà mình dạy dỗ. 4. Năng lực cảm hoá học sinh Muốn cảm hóa được đối tượng giáo dục của mình, muốn cho các tác động sư phạm của mình có ý nghĩa đến sự hình thành nhân cách của trẻ thì trong hệ thống năng lực không thể thiếu năng lực cảm hóa của học sinh. Đó là năng lực của giáo viên tác động trực tiếp đến HS về mặt tình cảm và ý chí. Là khả năng làm cho HS nghe theo, và làm bằng niềm tin, tình cảm. Xây dựng năng lực cảm hóa HS bằng cách: Phấn đấu và tu dưỡng để có nếp sống văn hóa cao và một phong cách mẫu mực nhằm tạo ra sự uy tín, chân chính và thực sự từ cử chỉ, hành động đến lời nói đến tinh thần lao động hăng say, sáng tạo. Xây dựng mối quan hệ thầy trò tốt đẹp: vừa nghiêm túc, vừa than mật, có thái độ yêu thương và tin tưởng HS nhằm phát huy tích cực, chủ động, sáng tạo của HS. Tác phong gương mầu: ăn nói lịch sự tế nhị, nhã nhặn, tôn trọng, của chỉ lịch thiệp, giọng điệu đàng hoàng Sức hút của sự cảm hóa không ở sâu xa mà nằm ở sự thân thiện, lịch xự, nhã nhặn của chính người thầy. 5. Cố gắng tạo uy tính với học sinh, đồng nghiệp, cấp trên Muốn tạo thành uy tín người thầy phải có các điều kiện sau. Thương yêu HS và tận tụy với nghề Công bằng đối xử, không thiên vị, thành kiến, cảm tính. Phải có chí tiến thủ có nguyện vọng phát triển, nhu cầu mở rộng tri thức và hoàn thiện kỹ năng nghề nghiệp. Có phương pháp sáng tạo và kỹ năng tác động trong dạy học và giáo dục hợp lý, hiệu quả, sang tạo. Mô phạm, noi gương về mọi mặt. 1.3. Năng lực tổ chức các hoạt động sư phạm 1. Năng lực tổ chức các hoạt động sư phạm những hoạt động cho cá nhân và tập thể trong các hoạt động sư phạm khác nhau, vừa là hạt nhân để gắn kết HS thành một tập thể, vừa là người tuyên truyền liên kết phối hợp các lực lượng giáo dục. Năng lực tổ chức hoạt động sư phạm thể hiện ở chỗ: Tổ chức và cổ vũ HS thực hiện các hoạt động học tập, ngoại khóa, cũng như ngoại khóa ở trên lớp, trong sân trường hay ngoài nhà trường. Biết đoàn kết HS thành 1 thể thống nhất, lành mạnh và có kỷ luật, có nề nếp đảm bảo mọi hoạt động của cá nhân, tập thể đều diễn ra thuận lợi và đạt kết quả cao. Tổ chức vận động nhân dân, cha mẹ HS tham gia vào sự nghiệp giáo dục theo một mục tiêu xác định. Biết vạch kế hoạch: suy nghĩ một cách chín chắn, sâu sắc các tình huống giáo dục, đặc điểm đối tượng để lên kế hoạch lập ra yêu cầu trước mắt và lâu dài để đảm bảo nguyên tắc, linh hoạt của kế hoạch Có nghị lực dung cảm tin vào sự đúng đắn của kế hoạch và biện pháp giáo dục. Giáo dục thường được hiểu theo nghĩa chung là phương cách học tập theo đó kiến thức, kỹ năng và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu. Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học. Theo đó, các yếu tố tương tác trong quá trình giáo dục là người dạy – người học – mục tiêu – nội dung – phương pháp – môi trường dạy học, trong đó mục tiêu của chương trình giáo dục chi phối đến toàn bộ các yếu tố khác. Chương trình dạy học truyền thống được các nhà khoa học gọi là “chương trình giáo dục định hướng nội dung” – trong đó, nội dung các môn học được xây dựng trên cơ sở kế thừa thành tựu của các ngành khoa học tương ứng. Ưu điểm của chương trình này là kiến thức cần hình thành cho học sinh được trình bày theo hệ thống lớp học và cấp học một cách bài bản. Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu nhiều mặt của thực tiễn và sự tăng tốc như vũ bão của công nghệ thông tin trên thế giới hiện nay, chương trình giáo dục định hướng nội dung đã tỏ ra không còn ưu thế. Các nước có nền giáo dục tiên tiến đã nhanh chóng chuyển sang “chương trình giáo dục định hướng năng lực” – tức thay vì trả lời câu hỏi “học sinh học được kiến thức gì” nay chuyển sang trả lời câu hỏi “học sinh học để làm được gì”? Như vậy, dạy học theo định hướng phát triển năng lực cũng có thể được hiểu là thông qua quá trình dạy học, học sinh có khả năng vận dụng được một cách thuần thục các kiến thức, kỹ năng và phẩm chấtthái độ đã được học vào các tình huống thực tiễn, luôn luôn chủ động và thành công trong công việc của mình. Quá trình phát triển năng lực là quá trình liên tục trải nghiệm, vì vậy, quá trình giáo dục theo định hướng năng lực cũng chính là quá trình giáo viên hướng dẫn học sinh vừa hình thành năng lực phổ thông vừa hình thành năng lực học tập suốt đời Bác Hồ từng khẳng định: “Không có thầy giáo thì không có giáo dục. Nhiệm vụ của thầy cô giáo là rất quan trọng và rất vẻ vang”. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng ghi nhận: “Nghề dạy học là nghề cao quí trong các nghề cao quí”; đồng thời chỉ rõ trách nhiệm giảng dạy của đội ngũ nhà giáo: “Học sinh học nhiều, nhớ nhiều là điều đáng khuyến khích, nhưng quyết đó không phải là điều chủ yếu. Điều chủ yếu là dạy suy nghĩ, dạy sáng tạo… Vấn đề là: Dạy cái gì? Học cái gì? Luyện tập cho học sinh cái gì là chủ yếu: bộ óc hay chỉ là trí nhớ?… Phải dạy cho học sinh biết suy nghĩ, suy nghĩ bằng trí óc của mình và diễn tả sự suy nghĩ đó theo cách của mình thế nào cho tốt nhất. Ngày nay, sự hiểu biết của con người luôn luôn đổi mới. Cho nên, dù học được trong nhà trường bao nhiêu chăng nữa cũng chỉ là rất có hạn. Thế thì cái gì là quan trọng? Cái quan trọng là rèn luyện bộ óc, rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp học tập, phương pháp tìm tòi, phương pháp vận dụng kiến thức, phương pháp vận dụng tốt nhất bộ óc của mình. Bởi vì bộ óc của con người có thể phát huy được tất cả cái hay, cái mới và phát huy mãi mãi. B. KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG CỦA BẢN THÂN SAU KHOÁ BỒI DƯỠNG. Từ các chuyên đề đã học em có những liên hệ: 1.Đối với bản thân: Bản thân tôi đã tốt nghiệp đại học, đã có 5 năm công tác trực tiếp tham gia công tác giảng dạy bộ môn SINH HỌC và CÔNG NGHỆ, kiệm nhiệm công tác thí nghiệm thực hành bộ môn sinh học, tôi nhận thấy việc học thêm để nâng cao trình độ và chuyên môn nghiệp vụ là rất cần thiết. Đây là việc cần phải được các giáo viên làm thường xuyên hàng ngày để theo kịp sự phát triển của xã hội, của thế giới, hàng ngày, hàng giờ các thành tựu khoa học trên thế giới liên tục được đổi mới, cập nhất nếu ta không chịu học hỏi ta sẽ trở thành người lạc hậu, lỗi thời. Trước khi tham gia khóa học bản thân em luôn hoàn thành tốt công việc được giao. Sau khi tham gia khóa học em sẽ tiếp túc cố gắng phấn đấu để thực hiện các công việc có hiệu quả hơn. Để trang bị cho mình các kiến thức cơ bản và cần thiết bắt kịp sự tiến bộ của thế giới tôi thấy bản thân tôi và mỗi giáo viên nói chung và bản thân tôi nói riêng cần phải làm những việc sau đây: Một là: Không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy(thực hiện dạy học theo các chủ để, thực hiện các chuyên đề, các nghiên cứu bài học ... do tổ , nhà trường và phòng giáo dục đề ra) Hai là: Tăng cường hơn nữa công tác dự giờ thăm lớp trao đổi kinh nghiệm chuyên môn. Ba là: Tham gia các hoạt động văn hoá, văn nghệ, sinh hoạt ngoại khoá do trường và các tổ chức xã hội chỉ đạo. Bốn là: Sử dụng triệt để các đồ dùng giảng dạy sẵn có để phục vụ công tác giảng dạy, sử dụng các phương tiện hiện đại hỗ trợ cho việc giảng dạy ... Sáng tạo làm các đồ dùng bổ sung cho việc gảng dạy. Sáu là: Kết hợp với tổ trưởng, ban giám hiệu chỉ đạo các tổ viên làm tốt các kế hoạch cá nhân, kế hoạch bộ môn. Xây dựng cho mình một kế hoạch cá nhân để hoàn thiện tốt mọi công việc mà chi bộ và ban giám hiệu giao cho (bản thân tôi đang là tổ trưởng tổ KHTN). Sáu là: Không ngừng học hỏi nâng cao trình độ, gần gũi thương yêu học sinh giúp các em tiếp cận kiến thức tốt nhất, đạt và vượt chỉ tiêu bộ môn. Bảy là: Nâng cao năng lực sư phạm, tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của HS, tạo sự thân thiện, gần gũi hòa đồng với HS nhưng nghiêm minh. 2. Với trường THCS a. Sinh hoạt tổ chuyên môn: Khi được học tập các chuyên đề tôi nhận thấy rằng : Sinh hoạt chuyên môn là hoạt động hết sức quan trọng và là việc làm thường xuyên của mỗi nhà trường phổ thông, là một trong những hình thức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên, giúp giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn và phương pháp giảng dạy. Công tác sinh hoạt chuyên môn lâu nay nhiều nhà trường chỉ đạo và thực hiện rất tốt, trường tôi cũng vậy nó đã đem lại hiệu quả đáng trân trọng. Biết vận dụng linh hoạt sáng tạo ý kiến chỉ đạo của cấp trên phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị. Biết vạch ra kế hoạch việc gì cần làm, việc gì ưu tiên trước, làm thế nào để đạt hiệu quả cao nhất. Biết trăn trở những việc chưa làm được, hiệu quả còn thấp… Hiện nay cũng không ít giáo viên mong sao nhà trường đưa ra càng ít hoạt động càng tốt; chuyên môn đưa ra càng ít nội dung sinh hoạt càng đỡ vất vả. Họ có tư tưởng đến giờ lên lớp dạy hết tiết quy định, soạn bài đầy đủ, khi nào có thao giảng, dự giờ thì chuẩn bị khá kỹ một chút để đừng bị xếp loại yếu hoặc trung bình, thời gian còn lại về chăm sóc gia đình hoặc kiếm thêm thu nhập. Cho nên việc góp ý cho chuyên môn họ cũng không mấy nặn mà. Để sinh hoạt tổ chuyên môn thực sự có hiệu quả, trước hết Ban giám hiệu nhà trường phải thường xuyên dự sinh hoạt với các tổ chuyên môn nhằm nắm bắt chỉ đạo công việc đã triển khai, đồng thời có định hướng cho từng hoạt động. Phải lựa chọn đội ngũ giáo viên làm tổ trưởng, tổ phó thực sự có năng lực để làm việc, vì tổ trưởng, tổ phó là người kế cận, giúp việc cho Ban giám hiệu thực hiện các hoạt động chuyên môn. Phải xây dựng được nề nếp sinh hoạt chuyên môn để tạo thói quen và nhận thức đầy đủ hơn về tầm quan trọng của việc sinh hoạt chuyên môn cho giáo viên. Không để buổi sinh hoạt chuyên môn chỉ nghe triển khai công việc hành chính hoặc góp ý mấy tiết dạy, mà phải làm cho buổi sinh hoạt chuyên môn thực sự đi vào chiều sâu, đúng nghĩa của nó. Để buổi sinh hoạt chuyên môn thực sự đi vào chiều sâu, thì tổ trưởng phải xây dựng kế hoạch cụ thể tuần nào, tháng nào tập trung vào những nội dung gì ( tạm gọi là kế hoạch sinh hoạt chuyên môn). Những nội dung trong kế hoạch phải trọng tâm, phải thiết thực tập trung vào những vấn đề như đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giảng dạy, quản lý học sinh… Mà đã được tổ thảo luận, trao đổi thống nhất thực hiện. Muốn tổ chức một buổi sinh hoạt chuyên môn đem lại hiệu quả cao thì đòi hỏi phải có sự nghiên cứu, chuẩn bị kỹ trước đó để đỡ mất thời gian trong buổi sinh hoạt. Không những chỉ có người thực hiện chuẩn bị mà tất cả các thành viên trong tổ đều phải nghiên cứu chuẩn bị Để trách buổi sinh hoạt chuyên môn bị kéo dài thời gian, hoặc không thống nhất được mục tiêu đề ra đòi hỏi tổ trưởng (người chủ trì) phải định hướng nội dung trọng tâm cần tập trung thảo luận, trao đổi, góp ý. Không góp ý lan man hoặc lợi dụng sinh hoạt chuyên môn để hạ bệ lẫn nhau. Tạo điều kiện cho tất cả các thành viên trong tổ đều được trao đổi, học hỏi lẫn nhau. Không nên chỉ có một vài ý kiến tham gia ban đầu rồi sau đó các thành viên còn lại nói “Tôi cũng đồng ý như ý kiến trên”. Thời lượng cho sinh hoạt chuyên môn tổ là không có nhiều, thường thì vài tiết hoặc vài tiếng đồng hồ cho nên cần hạn chế triển khai công việc hành chính hoặc triển khai nhanh gọn trọng tâm, các nội dung khác đưa lên bảng thông báo. Thời gian còn lại dành cho tập trung trao đổi, thảo luận, phân tích, góp ý…nội dung chuyên môn. Một điểm cần lưu ý là lâu nay trong sinh hoạt chuyên môn chúng ta thường chỉ nêu ra các biện pháp, giải pháp, cách thức… thực hiện của thầy (người dạy) mà chưa chú ý đến việc hoạt động của trò trong quá trình tiếp thu lĩnh hội kiến thức. Cho nên khi tổ chức góp ý, đánh giá cũng chỉ tập trung xoay quanh các hoạt động của thầy. Còn trò học ra sao, phản ứng thế nào, lĩnh hội được cái gì…ít được quan tâm. Điều này thường dễ thấy trong góp ý tiết dạy của đồng nghiệp. Cho nên bắt buộc phải đổi mới sinh hoạt chuyên môn, đổi mới từ tư duy nhận thức cho giáo viên, cách thức tổ chức, nội dung sinh hoạt cho đến cách nhìn nhận đánh giá… Tổ trưởng với Ban Giám hiệu: Xác định rõ vị trí người tổ trưởng là cầu nối giữa Hiệu trưởng và giáo viên trong tổ về thông tin 2 chiều nhằm mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng giáo dục. Hiệu trưởng có thông tin để đánh giá chính xác giáo viên, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của họ từ đó phân công giáo viên hợp lý, đạt hiệu quả tốt; chuyển tải cho giáo viên trong tổ các chỉ đạo chuyên môn của Hiệu trưởng và cơ quan quản lý cấp trên. Để thực hiện thì phải có sự trao đổi thông tin qua lại giữa giáo viên và cán bộ quản lý đê nắm bắt tình hình và thực hiện có hiệu quả Tổ chức thực hiện chỉ đạo chuyên môn của Hiệu trưởng và cơ quan quản lý cấp trên về các hoạt động dạy học, giáo dục: Thực hiện kế hoạch, chương trình giáo dục, chuẩn kiến thức kĩ năng, đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra, đánh giá…qua các hoạt động cụ thể như bồi dưỡng giáo viên, học sinh, dự giờ, thăm lớp… b. Đổi mới phương pháp dạy học nâng cao chất lượng giờ lên lớp bằng cách phối hợp nhiều phương pháp: Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống. Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng. Để nâng cao hiệu quả của các phương pháp dạy học này người giáo viên trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật làm mẫu trong luyện tập. Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống có những hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học mới, có thể tăng cường tính tích cực nhận thức của học sinh trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề.Việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực bắt buộc cả giáo viên và học sinh phải có sự chuẩn bị hết sức chu đáo, học sinh phải chủ động và tích cực hợp tác trong mọi hoạt động. Yêu cầu giáo viên phải có sự thay đổi về quan điểm, về cách tiếp cận trong việc lựa chọn phương pháp dạy học, hình thức tổ chức lớp học cũng như thay đổi cách đánh giá học sinh – dạy học gắn với phát triển năng lực. Muốn làm được điều đó trước hết người giáo viên phải có sự thay đổi trong cách tiếp cận, phải giúp cho học sinh làm chủ quá trình học tập. Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học. Việc phối hợp đa dạng các phương pháp và hình thức dạy học trong toàn bộ quá trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học. Dạy học toàn lớp, dạy học nhóm, nhóm đôi và dạy học cá thể là những hình thức xã hội của dạy học cần kết hợp với nhau, mỗi một hình thức có những chức năng riêng. Tình trạng độc tôn của dạy học toàn lớp và sự lạm dụng phương pháp thuyết trình cần được khắc phục, đặc biệt thông qua làm việc nhóm. Trong thực tiễn dạy học ở trường trung học hiện nay, nhiều giáo viên đã cải tiến bài lên lớp theo hướng kết hợp thuyết trình của giáo viên với hình thức làm việc nhóm, góp phần tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh. Tuy nhiên hình thức làm việc nhóm rất đa dạng, không chỉ giới hạn ở việc giải quyết các nhiệm vụ học tập nhỏ xen kẽ trong bài thuyết trình, mà còn có những hình thức làm việc nhóm giải quyết những nhiệm vụ phức hợp, có thể chiếm một hoặc nhiều tiết học, sử dụng những phương pháp chuyên biệt như phương pháp đóng vai, nghiên cứu trường hợp, dự án. Mặt khác, việc bổ sung dạy học toàn lớp bằng làm việc nhóm xen kẽ trong một tiết học mới chỉ cho thấy rõ việc tích cực hoá “bên ngoài” của học sinh. Muốn đảm bảo việc tích cực hoá “bên trong” cần chú ý đến mặt bên trong của phương pháp dạy học, vận dụng dạy học giải quyết vấn đề và các phương pháp dạy học tích cực khác. Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin hợp lý hỗ trợ dạy học sử dụng mạng điện tử (ELearning), mạng trường học kết nối. Sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo Ngày nay người ta chú trọng phát triển và sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học như “động não”, “tia chớp”, “bể cá”, bản đồ tư duy... Chú trọng các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn Phương pháp dạy học có mối quan hệ biện chứng với nội dung dạy học, việc sử dụng các phương pháp dạy học đặc thù có vai trò quan trọng trong dạy học bộ môn. Các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn được xây dựng trên cơ sở lý luận dạy học bộ môn. Ví dụ: sinh học thì việc dạy và học phải gắn liền với việc tham quan, quan sát mẫu vật thật để hình thành kiến thức. Bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho học sinh Phương pháp học tập một cách tự lực đóng vai trò quan trọng trong việc tích cực hoá, phát huy tính sáng tạo của học sinh. Có những phương pháp nhận thức chung như phương pháp thu thập, xử lý, đánh giá thông tin, phương pháp tổ chức làm việc, phương pháp làm việc nhóm, có những phương pháp học tập chuyên biệt của từng bộ môn. Bằng nhiều hình thức khác nhau, cần luyện tập cho học sinh các phương pháp học tập chung và các phương pháp học tập trong bộ môn. Để thúc đẩy phong trào thi đua và nâng cao chất lượng thì việc thanh kiểm tra nội bộ phải được làm thường xuyên. Ngay từ đầu năm với sự chỉ đạo của hiệu trưởng các tổ lên kế hoạch kiểm tra cụ thể cho cả năm học,k từ kế hoạch tổ trưởng, tổ phó và các giáo viên có kinh nghiệm được tham gia kiểm tra. Hình thức kiểm tra bao gồm: + Kiểm tra thường xuyên: (do tổ trưởng và tổ phó thực hiện) Kiểm tra việc soạn giảng hàng tuần vào đầu tuần Kiểm tra tiến độ vào điểm trên mạng và sổ điểm cá nhân. Kiểm tra giờ dạy: Dự giờ (1 tháng 1lần1GV) Kiểm tra chuyên đề: (Nghiệp vụ sư phạm) + Kiểm tra đột suất: Dự giờ đột suất. Kiểm tra đột suất giáo án ... Qua kiểm tra tổ trưởng sẽ giúp hiệu trưởng, hiệu phó phát hiện ra việc làm đúng, chưa đúng của các giáo viên để nhắc nhở các giáo viên làm chưa đúng cần chỉnh sửa lại. Những việc làm đúng cần tuyên dương một cách kịp thời .... Để khắc phục dần những khó khăn khi thực hiện việc dạy học theo định hướng năng lực học sinh theo em cần làm một số việc sau: Kết hợp tốt các phương pháp dạy học truyền thống với các phương pháp dạy học tích cực. Xác định các phương pháp dạy học theo đặc thù bộ môn bên canh những phương pháp dạy học truyền thống cần chú ý các phương pháp dạy học tích cực như: phương pháp trực quan, phương pháp làm việc theo nhóm, phương pháp đóng vai… Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và CNTT hợp lý hỗ trợ dạy học. Để ngày càng nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động dạy và học theo định hướng phát triển năng lực học sinh, em có một số đề xuất, kiến nghị sau: Sở Giáo dục và Đào tạo, lãnh đạo nhà trường tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên được tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn, nghiệp vụ. Phòng giáo dục, nhà trường đầu tư, trang bị tốt hơn về cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị dạy học hiện đại tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực. III.KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 1. Kết luận: Sau khi kết thúc khóa học bồi dưỡng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên THCS hạng II, tôi thấy bản thân đã được cung cấp đầy đủ kiến thức lý luận về hành chính , đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Được cập nhất các xu thế, chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam trong bối cảnh hiện nay; quan điểm, mục tiêu và các giải pháp đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, bài kinh nghiệm trong phát triển các năng lực cốt lõi của người giáo viên. Từ đó vận dụng thành thạo những kiến thức về nghiệp vụ chuyên môn để thực hiện các nhiệm vụ được giao. Qua đây tôi xin trân trọng cảm ơn Sở Giáo dục và đào tạo TP Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện mở lớp bồi dưỡng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên THCS hạng II tại Quận Gò Vấp để bản thân tôi và nhiều giáo viên THCS trong Quận đã được tham dự. Xin trân thành cảm ơn các thầy cô giáo của trường ĐH Sài Gòn dành hết tâm huyết để truyền giảng lại nội dung kiến thức và trao đổi những kinh nghiệm quý báu cho chúng tôi được học hỏi, mở mang thêm kiến thức về chuyên môn và nghiệp vụ để áp dụng vào thực tế giảng dạy tại đơn vị. Xin trân trọng cảm ơn 2. Kiến nghị: Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng giáo dục, lãnh đạo nhà trường tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên được tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn, nghiệp vụ. Tăng cường đầu tư, trang bị tốt hơn về cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị dạy học hiện đại tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực. IV.TÀI LIỆU THAM KHẢO 1,Các thuộc tính tâm lý điểm hình của nhân cách, Lê Thị Bừng (chủ biên), NXB ĐHSP 2008 2.Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Lê Văn Hồng (chủ biên), NXB ĐH quốc gia Hà Nội 2007 3.Giáo trình tâm lý học đại cương, GS.TS Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), NXB ĐHSP 2005 4. Đề cương bài giảng tâm lý học sư phạm, ThS Lê Thị Phi, NXB ĐHSP – ĐHĐN 2008. 5. http:estih.edu.vnvithequantrongcuanguoithaytrongdoimoigiaoduchiennay Như vậy qua khóa bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp giáo viên THCS hạng II em thấy đây là một khóa học bổ ích cho mỗi cán bộ giáo viên tham gia học tập. Mỗi cán bộ giáo viên đều học tập và tích lũy cho mình những kiến thức quý báu từ các chuyên đề và áp dụng trong quản lý nhà trường và trong công tác dạy học để ngày càng nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo cho địa phương
Trang 1UBND THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
BÀI THU HOẠCH
KHÓA BỒI DƯỠNG THEO TIÊU CHUẨN CHỨC DANH
Trang 2Chuyên đề 1 Lý luận về nhà nước và hành chính nhà nước.
Chuyên đề 2 Chiến lược và chính sách phát triển giáo dục và đào tạo
Chuyên đề 3 Quản lý giáo dục và chính sách phát triển giáo dục trong cơ chế thị trường định hướng XHCN
Chuyên đề 4 Giáo viên với công tác tư vấn học sinh trong trường THCS
Chuyên đề 5 Tổ chức hoạt động dạy học, xây dựng và phát triển kế hoạch giáo dục ở trường THCS
Chuyên đề 6 Phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên THCS hạng II
Chuyên đề 7 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường THCS.Chuyên đề 8 Thanh tra kiểm tra và một số hoạt động đảm bảo chất lượng trường THCS
Chuyên đề 9 Sinh hoạt tổ chuyên môn và công tác bồi dưỡng giáo viên trong trường THCS
Chuyên đề 10 Xây dựng mối quan hệ trong và ngoài nhà trường để nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển trường THCS
Đây là những nội dung hết sức bổ ích và cần thiết cho người quản lí, giáo viên giảng dạy trong việc thực thi nhiệm vụ tại đơn vị đang công tác Với 10 chuyên đề đã giúp cho học viên nhận thức được nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn mới trong công tácdạy và học Qua một thời gian học tập bản thân đã tiếp thu được nhiều kiến thức bổ ích qua đó tôi đã rút ra một số bài học và kiến nghị nhằm phục vụ cho quá trình công tác sau
Trang 3này tuy nhiên do thời gian hoàn thiện ngắn, việc nghiên cứu chưa được sâu và kinh nghiệm bản thân có hạn do đó dù đã cố gắng rất nhiều nhưng bài viết này chắc chắn cònnhững hạn chế, rất mong được sự đóng góp ý kiến của Quý thầy cô và các bạn để bài viếtđược hoàn chỉnh hơn.
Nội dung đầu tiên được nghiên cứu thuộc chuyên đề 1 “Lý luận về nhà nước và hành chính nhà nước”, qua chuyên đề 1 em nhận thức được các vấn đề cơ bản sau:
Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuấthiện và tồn tại của nhà nước Đó chính là hoạt động quản lý gắn liền với hệ thống các cơ quan thựcthi quyền lực nhà nước - bộ phận quan trọng của quyền lực chính trị trong xã hội, có tính chất cưỡng chế đơn phương đối với xã hội Quản lý nhà nước được hiểu trước hết là hoạt động của các
cơ quan nhà nước thực thi quyền lực nhà nước
Chuyên đề 2 “Chiến lược và chính sách phát triển giáo dục và đào tạo” nội dung
cơ bản của chuyên đề là:Cùng với sự phát triển chung của các lĩnh vực trong toàn xã hội trước tác động của toàn cầu hóa, lĩnh vực giáo dục chịu ảnh hưởng trực tiếp của các tác động quá trình trên, do đó nền giáo dục của thế giới đang phát triển theo nhiều biến đổi Tuy nhiên, Đảng và Nhà nước luôn khẳng định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu,đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển; giáo dục vừa là mục tiêu vừa là động lực để phát triển kinh tế - xã hội
Trang 4Chuyên đề 3 “Quản lý giáo dục và chính sách phát triển giáo dục trong cơ chế thị trường định hướng XHCN” nội dung cơ bản của chuyên đề là:QLNN về giáo dục và đào tạo là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với quá trình giáo dục và đào tạo, hành vi hoạt động của các tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động giáo dục và đào tạo do hệ thống cơ quan nhà nước tiến hành nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, đáp ứng nhu cầu về giáo dục và đào tạo của nhân dân Chuyển từ cách giáo dục theo truyền thống sang tạo dựng cách học, thói quen học suốt đời và xây dựng học tập.
Chuyên đề 4 “Giáo viên với công tác tư vấn học sinh trong trường THCS” nội dung cơ bản của chuyên đề là:Tư vấn tâm lý là quá trình nhà tư vấn vận dụng những tri thức, phương pháp và kỹ thuật tâm lý học nhằm trợ giúp đối tượng được tư vấn nhận ra chính mình, từ đó thay đổi hành vi, thái độ, tự tái lập lại thế cân bằng tâm lý của bản thân mình
Chuyên đề 5 “Tổ chức hoạt động dạy học, xây dựng và phát triển kế hoạch giáo
dục ở trường THCS” nội dung cơ bản của chuyên đề là:Quá trình dạy học là một hệ toàn
vẹn gồm hoạt động dạy và hoạt động học luôn luôn tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau Sự tương tác giữa dạy và học mang tính chất cộng tác, trong đó dạy giữ vai trò chủ đạo.Hoạt động dạy và hoạt động học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện ở mối quan hệ tương tác giữa các thành tố: mục tiêu, nội dung, phương pháp của hoạt động dạy và hoạt động học
Chuyên đề 6 “Phát triển năng lực nghề nghiệp giáoviên THCS hạng II” nội dung
cơ bản của chuyên đề là: Xuất phát từ đặc trưng của nhà trường hiện đại, yêu cầu vềphẩm chất và năng lực của người giáo viên, là chuyển mục tiêu và nội dung đào tạo từchủ yếu cung cấp tri thức sang đào tạo năng lực, chuyển phương thức tổ chức đào tạotheo định hướng tức là hình thành và phát triển kiến thức, kỹ năng và năng lực sư phạm,phẩm chất, nhân cách nghề của người giáo viên theo nguyên lý hoạt động, thông qua việcnghiên cứu và giải quyết các tình huống sư phạm, phát triển năng lực nghề nghiệp củagiáo viên theo chu trình: đào tạo - bồi dưỡng thường xuyên
Trang 5Chuyên đề 7 “Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường THCS” nội dung cơ bản của chuyên đề là:
Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao động, kiến thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó.Năng lực của người học là khả năng làm chủ hệ thống tri thức, kĩ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho họ trong cuộc sống
Chuyên đề 8 “Thanh tra kiểm tra và một số hoạt động đảm bảo chất lượng trường THCS” nội dung cơ bản của chuyên đề là:“Thanh tra là kiểm tra, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp” Trong cuốn sách “thuật ngữ pháp lý phổ thông”
do Nhà xuất bản Pháp lý in năm 1986, định nghĩa thanh tra được xem là một biện pháp (phương pháp) của kiểm tra Nhiệm vụ thanh tra được uỷ quyền cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm Thanh tra gắn liền với chức năng quản lý nhà nước Để làm được nhiệm vụ, Thanh tra có thể dựa vào bộ máy chuyên môn của mình và quần chúng “Kiểmtra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” Kiểm tra là chức năng của mọi chủ thể quản lý, không phân biệt ở cấp nào trong bộ máy quản lý nói chung và trong bộ máy quản lý nhà nước nói riêng
Chuyên đề 9 “Sinh hoạt tổ chuyên môn và công tác bồi dưỡng giáo viên trong
trường THCS” nội dung cơ bản của chuyên đề là: Tổ chuyên môn là một bộ phận của nhà
trường, gồm một nhóm giáo viên (từ 3người trở lên) cùng giảng dạy về một môn học haymột nhóm môn học hay một nhóm viên chức làm công tác thư viện, thiết bị giáo dục, tư vấn học đường được tổ chức lại để cùng nhauthực hiện các nhiệm vụ theo mục tiêu, chiến lược của tổ, của nhà trường đề ra
Trang 6Chuyên đề 10 Xây dựng mối quan hệ trong và ngoài nhà trường để nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển trường THCS nội dung cơ bản của chuyên đề là: Xã hội hóagiáo dục và xây dựng xã hội học tập, Xây dựng môi trường giáo dục, Phát triển quan hệ
giữa các trường THCS với các bên liên quan
Qua tham gia nội dung lớp học em thấy tâm đắt nhất với nội dung yêu cầu về nănglực của người giáo viên trung học cơ sở, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục của Việt Namtrong thời kỳ mới, em xin trình bày nội dung này
Theo những tổng kết mới đây, các nhà khoa học đã cho rằng: lịch sử phát triển của giáodục nhân loại gắn liền với sự thay đổi vai trò, vị thế của người thầy; và nền giáo dục củathế giới đang phát triển ở thời kỳ thứ tư Thời kỳ thứ nhất là thời kỳ chuyển giao trực tiếptri thức (người thầy cần có khả năng truyền đạt lại những tri thức mà mình đã thu nhậnđược đến với học trò) Thời kỳ thứ hai là thời kỳ cải tiến phương thức truyền đạt (ứng với
sự ra đời của kĩ thuật ấn loát) để học trò dễ tiếp thu hơn Thời kỳ thứ ba là thời kỳ soạnthảo những sách học chuyên biệt và thời kỳ thứ tư là thời kỳ của việc học tập có hướngdẫn Nếu như ở thời kỳ thứ nhất, yêu cầu đối với người thầy là khả năng đọc rộng vàtruyền đạt tốt; thì ở thời kỳ thứ hai, năng lực đó sẽ là lựa chọn và sắp xếp các bài học vàtruyền đạt theo lối thử nghiệm mò mẫm; ở thời kỳ thứ ba sẽ là việc truyền đạt kết hợp với
sử dụng sách giáo khoa và tài liệu học tập Như vậy từ “ống dẫn thông tin” đến “chất xúctác của quá trình hướng dẫn thông tin” hiện nay, vai trò và vị thế của người thầy đã cónhững thay đổi khá khác biệt
Chúng ta đã bước sang thời kỳ mới, thời kỳ công nghệ 4.0 đang và nhất định sẽ có rấtnhiều những đổi thay to lớn trong mọi lĩnh vực của cuộc sống Trong đó giáo dục và đàotạo đã hình thành và bước đầu phát triển mạnh mẽ các khuynh hướng mới như đa dạnghoá các loại hình giáo dục, sử dụng công nghệ thông tin trong dạy-học, diễn đàn khoahọc trên mạng Internet Đảng ta cũng đã quyết định đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiệnđại hoá nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bước đilên chủ nghĩa xã hội và xác định rõ muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắnglợi phải phát triển mạnh giáo dục-đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản
Trang 7của sự phát triển nhanh và bền vững Chúng ta cũng định hướng được ràng trong giáodục-đào tạo giáo dục đại học giữ vai trò nòng cốt, bởi vì giáo dục đại học có mục tiêu làđào tạo những con người có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, cókiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổquốc.
Những tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là công nghệ thông tin, đang làm thay đổi nhanhchóng diện mạo của thế giới, thúc đẩy nhanh chóng tốc độ hội nhập và toàn cầu hoá, theo
đó làm thay đổi mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy-học đại học Nội dung giáo dụcđại học ngày nay mang tính hiện đại và phát triển, phương pháp giáo dục coi trọng việcbồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duysáng tạo và tạo tiền đề để họ có khả năng tự học suốt đời
Từ những yêu cầu trên nhiều trường THCS đã tập trung các nguồn lực vào việc
đổi mới phương pháp giảng dạy Có nhiều giải pháp được đưa ra nhằm nâng cao chấtlượng chất lượng đào tạo, song những giải pháp có thể được coi là cơ bản và quyết định
là xác định và xây dựng nhận thức về vai trò trách nhiệm của người thầy trong quá trìnhgiảng dạy, tích cực đổi mới phương pháp dạy-học hiệu quả, tăng cường hệ thống tài liệu
và trang thiết bị dạy học, gắn kết đào tạo với nghiên cứu khoa học
Trong bài viết này tôi chỉ muốn đề cập đến vai trò và trách nhiệm của người thầy trongđổi mới phương pháp giảng dạy ở THCS trên cơ sở thực hiện các giải pháp nhằm nângcao chất lượng đào tạo cho HS THCS
Nghề giáo là một nghề đặc biệt, cũng là một lao động nhưng sản phẩm là con
người, công cụ lao động là nhân cách của chính mình: "dùng nhân cách để đào tạo nhâncách" Do đó đòi hỏi ở người GV một phẩm chất đạo đức và năng lực rất cao không thể
kể hết những yếu tố cụ thể, chỉ xét những điểm chung nhất mà một GV không thể thiếu:
*Về phẩm chất: Phải có một nhân cách mẫu mực, yêu nghề mến trẻ Phải luôn
luôn là tấm gương sáng cho mọi người, phải giữ tư cách đạo đức trong nhà trường, giađình và xã hội nói chung trong mọi lúc mọi nơi luôn là nười mẫu mực Trong giảng dạy,
Trang 8đặt hiệu quả giáo dục lên hàng đầu, thưởng phạt công minh, không thiên vị, tất cả vì họcsinh.
*Về năng lực: xét 2 mặt là kiến thức giáo dục và kiến thức chuyên môn
-Dạy học không phải chỉ là dạy các chuyên môn của mình, mà còn mặt giáo dục người tacòn gọi là dạy chữ và dạy người khi có đủ tư cách đạo đức gương mẫu, GV hướng hshình thành nhân cách đạo đức tốt, tránh những thói hư tật xấu… điều này luôn lồng ghépkhi giảng dạy
-Kiến thức chuyên môn: hiển nhiên là phải có kiến thức sâu rộng, nắm vững chuyên môn,phương pháp dạy khoa học, và luôn đổi mới cho phù hợp “biết mười dạy một, để họcsinh học một biết mười” Để đạt được tất cả những điều này tôi nghỉ phải đốt đuốc màtìm, nhưng không phải là không có Những gì tôi trình bài là những gì chung nhất mà một
GV cần có, và còn phải biết áp dụng cho từng tình huống cụ thể
II Giải quyết vấn đề
1 Cấu trúc nhân cách của người thầy giáo
- Cấu trúc nhân cách của mỗi người gồm: phẩm chất (đức) và năng lực (tài)
+ Phẩm chất là thái độ của con người đối vối hiện thực (tự nhiên, xã hội, người
khác, bản thân); là hệ thống những thuộc tính tâm lý biểu hiện các mối quan hệ xã hội cụthể của người đó; thường thể hiện qua hành động, hành vi, cách ứng xử…
+ Năng lực là mặt hiệu quả của tác động (tác động vào con người, vào sự việc)
+ Phẩm chất và năng lực đều bao hàm ba yếu tố cơ bản: nhận thức, tình cảm, ý
chí Phẩm chất của nhân cách gồm: ý thức, niềm tin đạo đức (nhận thức), tình cảm đạođức, ý chí dạo đức Năng lực: năng lực trí tuệ (nhận thức), tình cảm trí tuệ và hành độngtrí tuệ (ý thức)
- Cấu trúc nhân cách của người thầy giáo:
+ Phẩm chất: thế giới quan khoa học, lý tưởng đào tạo thế hẹ trẻ, lòng yêu trẻ, lòngyêu nghề nghiệp, những phẩm chất đạo đức phù hợp với hoạt động của người thầy
+ Năng lực sư phạm: năng lực hiểu học sinh trong quá trình dạy học và giáo dục, trithức, tầm hiểu biết, năng lực chế biến tài liệu học tập, năng lực dạy học, ngôn ngữ, vạch
Trang 9dự án phát triển nhân cách học sinh, giao tiếp sư phạm, “cảm hóa” học sinh, tổ chức hoạtđộng sư phạm…
Năng lực của người thầy giáo (năng lực sư phạm)
Năng lực hiểu học sinh trong quá trình dạy học:
Tri thức và tầm hiểu biết của người thầy giáo: đây là một năng lực cơ bản
+ Người thầy giáo phải có tri thức sâu về chuyên môn và có tâm hiểu biết rộng bởi vì:
- Người thầy giáo phải có nhiệm vụ hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh ( thế
hệ trẻ) Để thực hiện nhiệm vụ đó thầy giáo phải trang bị cho họ những tri thức, kỹ năng,
kỹ sảo, quan điểm và thái độ (nhất là tri thức khoa học do mình phụ trách)
- Thầy giáo là người tổ chức quá trình tái tạo những tri thức loài người để phát triển tâm
lý con người mới
- Thầy giáo là nhà giáo dục có hoạt động rất đa dạng và phong phú, không chỉ giảng dạychuyên môn và còn hình thành thế giới quan cho trẻ Đồng thời người thầy giáo có trithức và tầm hiểu biết để tạo ra uy tin của mình
+ Người thầy giáo có tri thức và tầm hiểu biết được thể hiện:
- Nắm vững và hiểu biết rộng môn mình phụ trách
- Thường xuyên theo dõi xu hướng, những phát minh khoa học thuộc môn mình phụtrách và môn học khác Đồng thời biết tiến hành nghiên cứu khoa học và hứng thú đối vớinó
- Có năng lực tự học, tự bồi dưỡng để hoàn thiện trí thức cho mình Vậy để có năng lựcnày người thầy giáo phải có nhu cầu mở rộng tri thức và tầm hiểu biết của mình, luônluôn cố gắng học hỏi và tự học để đào sâu và mở rộng tri thức Đồng thời thầy giáo phải
tự rèn luyện cho mình kỹ năng tự học
Năng lực chế biến tài liệu học tâp
Trang 10- Người thầy giáo không phải truyền đạt một cách máy móc và dập khuôn từng câu, từngchữ trong sách giáo khoa hay tài liệu, mà phải biết chế biến tài liệu sao cho phù hợp vớilogic phát triển khoa học, vừa phải hợp với nhận thức của học sinh để giúp cho học sinh
để hiểu , hiểu bài sâu sắc và vững chắc hơn
a) Người thầy giáo biết chế biến tài liệu học tập được thể hiện
- Đánh giá đúng tài liệu: xác lập được mối yêu cầu kiến thức của chương trình với trình
độ nhận thức của học sinh Để đảm bảo được yêu cầu chung về kiến thức của chươngtrình, làm cho tài liệu đó vừa sức với học sinh
- Người thầy giáo biết tổ chức cho trẻ giành được tri thức khoa học đã đượcc gởi gắmtrong tài liệu, truyền được sức sống của kiến thức đó có ý nghĩa sâu sắc đối với cuộc sốngcủa họ Người thầy giáo phải nắm bắt được logic phát triển của tri thức, hiểu thấu đáo,chính xác tài liệu phải biết chế biến nhào nặn bổ sung tài liệu
- Thầy giáo phải có khả năng phân tích, hệ thống hóa kiến thức Đồng thời có sáng tạokhi chế biến tài liệu để cung cấp cho học sinh những kiến thức chính, bổ ích, chính xác,
có liên hệ giữa kiến thức cũ với mới, kiến thức bộ môn này với kiến thức bộ môn khác,biết vận dụng vào thực tiễn cuộc sống
b) Nắm vũng kỹ thuật dạy học mới:
- Kết quả chiếm lĩnh đối tượng học tập phụ thuộc vào phương pháp dạy của thầy, do đóthầy phải biết cách dạy, nâng cao trình độ dạy Tức là thầy phải nắm vững kỹ thuật dạyhọc mới
Kỹ thuật dạy học mới là thầy tổ chức , điều khiển hoạt động của trò nhắm giúp trò chủđộng, tích cực, sáng tạo lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
Người thầy giáo nắm vững những kỹ thuật dạy học mới được biểu hiện ở những chỗ:+ Biết tạo cho học sinh ở vị trí người phát minh trong quá trình dạy học
+ Ttruyền đạt tài liệu rõ ràng, dễ hiểu và làm cho nó trở nên vừa sức với học sinh
+ Gây được hứng thú và kích học sinh suy nghĩ tích cực và độc lập
+ Tạo ra tâm thế có lợi cho sự lĩnh hội, học tập
Trang 11Vậy muốn có năng lực này, người thầy giáo cần phải học tập, nghiên cứu nghiêm túc cả
về lý luận cơ bản, cả về lý luận nghiệp vụ Đồng thời phải rèn luyện tay nghề công phu,
có sáng kiến
c) Năng lực ngôn ngữ: đây là một năng lực quan trọng của người thầy giáo
- Trong dạy học thầy giáo dùng ngôn ngữ như là công cụ để truyền thụ kiến thức mới,kiểm tra kiến thức cũ,thuyết phục học sinh tin vào chân lý Ngôn ngữ còn giúp ngườithầy giáo thực hiện chức năng dạy học và giáo dục, nó truyền đạt những thông tin đếnhọc sinh, thúc đẩy sự chú ý va suy nghĩ của học sinh vào bài giảng, đồng thời điềukhiểnđiều chỉnh hoạt động nhận thức của học sinh
- Năng lực ngôn ngữ của người thầy giáo phải được biểu hiện ở cả nội dung và hình thứccủa ngôn ngữ:
+ Về nôi dung: chứa đựng mật độ thông tin lớn, diễn tả trình bày phải chính xác, cô đọng,thâm uyên về sự hiểu biết, suy nghĩ sâu sắc Lời nói phản ánh được tính kế tục , đảm bảothông tin liên tục, logic của vấn đề Đặc biệt nhân cách của người thầy giáo là hậu thuẫnvững chắc cho lời nói của mình
+ về hình thức: Hình thức ngôn ngữ của người thầy Phải giản dị, sinh động, giàu hìnhảnh, có ngữ điệu, sáng sủa, biểu cảm, cách phát âm phải chuẩn, không sai ngữ pháp.Ngôn ngữ của thầy giáo còn thúc đẩy một cách tối đa sự chú ý va suy nghĩ của học sinhvào bài giảng, tránh câu nói dài, rườm rà, cấu trúc phức tạp, thuật ngữ khó hiểu Do đóthầy giáo cần phải suy nghĩ để lựa chọn hình thức trình bày ngăn gọn đôi khi pha lẫn sựkhôi hài, dí dỏm để các em tích cực suy nghĩ học tập sôi nỏi và tiếp thu tốt hơn
Tóm lại ngôn ngữ của thầy giáo phải súc tích về nội dung, giản dị về hình thức Ngườithầy giáo cần rèn luyện ngôn ngữ của mình thường xuyên, chuyên cần để
có năng lực ngôn ngữ, ngôn ngữ ngày càng phát triển
1.2 Về năng lực giáo dục:
1 Năng lực vạch dự án phát triển nhân cách học sinh
Trang 12Đó là năng lực biết dựa vào mục đích giáo dục, yêu cầu đào tạo hình dung trước cần phảigiáo dục cho từng học sinh những phẩm chất nhân cách nào và hướng hoạt động củamình để đạt tới hình mẫu trọn vẹn của người mới.
Năng lực này thường được biểu hiện ở chỗ:
- Vừa có kĩ năng tiên đoán sự phát triển của những thuộc tính này hay khác củatừng học sinh, vừa nắm được nguyên nhân sinh ra cũng như mức độ phát triển của nhữngthuộc tính đó
- Có sự sáng rõ về những biểu hiện nhân cách của những học sinh khác sẽ thu đượctrong tương lai dưới ảnh hưởng của những dự án phát triển nhân cách do mình xây dựng
- Hình dung được hiệu quả của các tác động giáo dục nhằm hình thành nhân cáchtheo dự án
Năng lực vạch dự án phát triển nhân cách học sinh được tạo nên bởi yếu tố tâm lí như: óctưởng tượng sư phạm, tính lạc quan sư phạm, niềm tin vào sức mạnh giáo dục, niềm tin vào con người và óc quan sát sư phạm
2 Năng lực giao tiếp sư phạm
Giao tiếp là một thành phần cơ bản của hoạt động sư phạm Những hình thức chủ yếu củacông tác giáo dục và học tập diễn ra trong điều kiện giao tiếp như: giảng bài, phụ đạo, thi
cử, công tác cá biệt, lao động, vui chơi Không có giao tiếp thì hoạt động của giáo viên vàhọc sinh không thể diễn ra Vì vậy, người giáo viên cũng phải có năng lực giao tiếp sư phạm Đó là năng lực nhận thức nhanh chóng những biểu hiện bên ngoài và những diễn biến tâm lý bên trong của học sinh và bản thân, đồng thời biết sử dụng hợp lý các phươngtiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách tổ chức, điều chỉnh quá trình giao tiếp nhằm đạtmục đích giáo dục
Kỹ năng giao tiếp sư phạm
Kỹ năng định vị: Xác định vị trí trong giao tiếp , biết đặt vị trí của mình vào vị trí của đối tượng để tạo ra điều kiện để đối tượng chủ động , thoải mái giao tiếp với mình