1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các yếu tố quyết định đến số thu thuế ở các tỉnh thuộc khu vực miền đông nam bộ

93 179 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong phạm vi tìm hiểu của mình, tác giả chưa tìm thấy những bài nghiên cứu được thực hiện tại Việt Nam về tổng số thu thuế ở cấp độ địa phương là các tỉnh, thành phố hoặc ở một khu vực.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

**********

KHUẤT THỊ MINH THU CÁC YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH ĐẾN SỐ THU THUẾ Ở CÁC TỈNH

THUỘC KHU VỰC MIỀN ĐÔNG NAM BỘ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.HCM, Năm 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

**********

KHUẤT THỊ MINH THU CÁC YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH ĐẾN SỐ THU THUẾỞ CÁC TỈNH THUỘC KHU VỰC MIỀN ĐÔNG NAM BỘ

Chuyên ngành: Tài chính- Ngân hàng

Mã ngành: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS SỬ ĐÌNH THÀNH

TP.HCM, Năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Các yếu tố quyết định số thu thuế tại các tỉnh miền Đông Nam Bộ” là công trình nghiên cứu của riêng tôi và thực hiện dưới

sự hướng dẫn của GS.TS.Sử Đình Thành

Cơ sở lý luận tham khảo từ các tài liệu được nêu trong phần tài liệu tham khảo, số liệu và kết quả được trình bày trong luận văn là trung thực, không sao chép bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây

TP.Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018

Người thực hiện luận văn

KHUẤT THỊ MINH THU

Trang 4

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu 3

1.6 Ý nghĩa thực tiễn 4

1.7 Kết cấu luận văn 4

Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LƯỢC KHẢO NGHIÊN CỨU TRƯỚC 6 2.1 Các khái niệm chính của đề tài 6

2.1.1 Khái niệm thuế, số thu thuế 6

2.1.2 Nguồn gốc của thuế 6

2.2 Phân loại thuế 7

Trang 5

2.3 Vai trò của thuế 8

2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến số thu thuế của quốc gia/ địa phương 11

2.5 Một số nghiên cứu về số thu thuế của quốc gia/địa phương 15

2.6 Quy trình nghiên cứu 19

2.7 Mô hình nghiên cứu 21

2.7.1 Các biến sử dụng trong mô hình 21

2.7.2 Nguồn dữ liệu 22

2.8 Phương pháp nghiên cứu 23

Chương 3: THỰC TRẠNG SỐ THU THUẾ TẠI ĐỊA BÀN CÁC TỈNH MIỀN ĐÔNG NAM BỘ 27

3.1 Tổng quan về vị trí địa lý, tình hình kinh tế xã hội các tỉnh miền Đông Nam Bộ 27

3.2 Thực trạng những yếu tố ảnh hưởng đến số thu thuế các tỉnh miền Đông Nam Bộ 29

3.2.1 Thực trạng về số thu thuế 29

3.2.2 Thực trạng về phát triển kinh tế- xã hội khu vực Đông Nam Bộ 32

3.2.3 Thực trạng về lực lượng lao động 33

3.2.4 Thực trạng về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 34

3.2.5 Thực trạng việc thành lập doanh nghiệp trong nước 37

3.2.6 Tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp FDI 38

Trang 6

3.2.7 Thực trạng về phát triển cơ sở hạ tầng 39

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42

4.1 Thống kê mô tả 42

4.2 Kết quả thực nghiệm 42

4.2.1 Kết quả hồi quy theo phương pháp tác động gộp 42

4.2.2 Kết quả hồi quy theo phương pháp tác động cố định 44

4.2.3 Kết quả hồi quy theo phương pháp tác động ngẫu nhiên 46

4.2.4 Kết quả kiểm định hiện tượng thiếu biến 48

4.2.5 Kết quả kiểm định đa cộng tuyến hoàn hảo 48

4.2.6 Ma trận hệ số tương quan 49

4.2.7 Kết quả kiểm định tự tương quan 50

4.2.8 Kết quả kiểm định phương sai sai số 50

4.2.9 Kết quả kiểm định phân phối chuẩn của phần dư 51

4.2.10 Kết quả kiểm định lựa chọn giữa Pooled và FEM 53

4.2.11 Kết quả kiểm định lựa chọn giữa FEM và REM 53

4.3 Các kiểm định bổ sung 55

4.4 Kết quả hồi quy chính thức 56

4.5 Thảo luận kết quả 57

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 62

5.1 Kết luận và hàm ý chính sách rút ra từ nghiên cứu 62

Trang 7

5.1.1 Kết luận 62

5.1.2 Hàm ý chính sách 62

5.2 Một số căn cứ để đề xuất giải pháp 61

5.3 Một số giải pháp để tăng số thu thuế tại các tỉnh miền Đông Nam Bộ 63

5.4 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 75 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

5 OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Quy trình nghiên cứu 18

Bảng 3.1: Số thu thuế của các tỉnh Đông Nam Bộ 29

Bảng 3.2: Số vốn FDI đầu tư vào các tỉnh Đông Nam Bộ qua các năm 34

Bảng 3.3: Tình hình doanh nghiệp đăng kí thành lập mới 35

Bảng 3.4: Số tiền nộp ngân sách nhà nước 37

Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến trong mô hình 40

Bảng 4.2: Kết quả hồi quy theo mô hình Pooled 41

Bảng 4.3: Kết quả ước lượng theo phương pháp tác động cố định 43

Bảng 4.4: Kết quả hồi quy theo phương pháp tác động ngẫu nhiên 44

Bảng 4.5: Tổng hợp kết quả mô hình Pooled, FEM, REM 45

Bảng 4.6: Kết quả kiểm định Ramsey 46

Bảng 4.7: Kết quả kiểm định VIF 47

Bảng 4.8: Hệ số tương quan giữa các biến 47

Bảng 4.9: Kết quả kiểm định Breusch-Pagan LM 48

Bảng 4.10: Kết quả kiểm định phương sai sai số đồng nhất 49

Bảng 4.11: Kết quả kiểm định phân phối chuẩn của phần dư 50

Bảng 4.12: Tổng kết các kiểm định theo điều kiện của Gauss & Markor 50

Bảng 4.13: Kết quả kiểm định F 51

Bảng 4.14: Kết quả kiểm định Hausman 52

Trang 10

Bảng 4.15: Kết quả kiểm định Wald hiệu chỉnh 53 Bảng 4.16: Kết quả kiểm định Wooldridge 54 Bảng 4.17: Kết quả thực nghiệm chính thức 55

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Thuế đồng biến với sản lượng 12

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước, nhất là trong bối cảnh nguồn tài nguyên thiên nhiên đang dần cạn kiệt Lịch sử phát triển của loài người đã chứng minh và cho thấy việc thu thuế là yếu tố tất yếu để phát triển xã hội Ở Việt Nam, từ triều đại nhà Trần đã hình thành một số sắc lệnh thuế như thuế ruộng, thuế sản vật, v.v.v, thậm chí là cả thuế thân (Phan Hiển Minh, chương trình giảng dạy Fullbright) Sau này, nhiều loại sắc lệnh thuế được chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội Trong thời kỳ hội nhập, toàn cầu hóa, bất kỳ một quốc gia nào muốn có một nền kinh tế phát triển vững mạnh đều đòi hỏi quốc gia đó phải

có một bộ máy Nhà nước hoạt động một cách tích cực và hiệu quả Thực tế, để duy trì sự tồn tại của mình, nhà nước cần ngân sách để chi tiêu cho một bộ máy hoạt động theo chức năng, từ trung ương tới địa phương; chi cho quốc phòng; an ninh quốc gia; xây dựng cơ sở hạ tầng; chi hoạt động công ích; phúc lợi và các dịch vụ công, v.v.v Thuế còn là công cụ để Chính phủ giải quyết tình trạng phân hóa giàu nghèo thông qua chính sách tái phân phối thu nhập, đầu tư phát triển vùng miền, nhất là vùng sâu vùng xa, vùng kinh tế kém phát triển Theo Nguyễn Quốc Toản (2013), thuế đóng góp 90% tổng thu ngân sách nhà nước, điều này cho thấy tầm quan trọng của công tác thu thuế, bổ sung ngân sách cho quốc gia

Bản chất của việc thu thuế là một nhiệm vụ phức tạp Trong buổi thảo luận chống thất thu thuế diễn ra tại thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 2 năm 2017, ông Trần Ngọc Tâm, Cục trưởng Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh nêu ra những khó khăn như tình trạng chuyển giá diễn ra với cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; hiện tượng trốn thuế do sử dụng tiền mặt trong giao dịch quá lớn; hiện tượng mua, bán hóa đơn của các doanh nghiệp, v.v.v dẫn đến công tác quản lý hóa đơn, chống thất thu thuế hiện nay rất khó khăn Tìm hiểu

về các yếu tố ảnh hưởng đến số thu thuế là chủ đề được nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập trong hơn 10 năm qua Amin và cộng sự (2014) nghiên cứu tác

Trang 13

động của các yếu tố đến số thu thuế ở Pakistan giai đoạn 1980–2010 Kết quả cho thấy tham nhũng, bất ổn chính trị, độ mở thương mại, thu nhập thực bình quân đầu người và lạm phát được xem là các yếu tố chính quyết định đến số thu thuế Piancastelli (2001) dựa trên dữ liệu của 75 quốc gia phát triển và đang phát triển trong giai đoạn 1985–1995 chỉ ra GDP bình quân đầu người, tỉ trọng công nghiệp trên GDP và độ mở thương mại là các yếu tố quan trọng quyết định số thu thuế Castro

và Ramírez (2014) nghiên cứu về các yếu tố quyết định đến số thu thuế ở 34 quốc gia thành viên OECD giai đoạn 2000–2011 Sử Đình Thành và cộng sự (2015) đánh giá khả năng thu thuế của VN trong giai đoạn 1988–2013 và cho thấy khả năng thu thuế của hệ thống thuế VN vẫn do những yếu tố kinh tế quyết định Hầu hết các bài nghiên cứu mà tác giả tìm được đều thực hiện ở cấp quốc gia hoăc nhiều quốc gia trong cùng một khu vực Trong phạm vi tìm hiểu của mình, tác giả chưa tìm thấy những bài nghiên cứu được thực hiện tại Việt Nam về tổng số thu thuế ở cấp độ địa phương là các tỉnh, thành phố hoặc ở một khu vực

Đông Nam Bộ là khu vực kinh tế năng động, dẫn đầu cả nước về xuất khẩu, đầu tư trực tiếp nước ngoài, GDP, cũng như nhiều yếu tố kinh tế - xã hội khác.Theo thông tin từ Diễn đàn Kinh tế Đông Nam Bộ lần thứ hai năm 2017 thì khu vực này chiếm khoảng 40% GDP, đóng góp gần 60% thu ngân sách quốc gia, GDP tính theo đầu người cao gần gấp 2,5 lần mức bình quân cả nước; có tỷ lệ đô thị hóa cao nhất nước; tốc độ tăng trưởng kinh tế của vùng luôn cao hơn khoảng 1,4 lần đến 1,6 lần tốc độ tăng trưởng bình quân chung cả nước Với vai trò đầu tầu về kinh tế của cả nước, việc thu thuế có ý nghĩa quan trọng Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả chọn đề

tài “Các yếu tố quyết định số thu thuế tại các tỉnh miền Đông Nam Bộ” làm luận

văn thạc sĩ của mình Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích phân tích tác động của các yếu tố kinh tế, yếu tố xã hội đến số thu thuế ở 06 tỉnh thành thuộc khu vực Đông Nam Bộ giai đoạn 2000–2016

Trang 14

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu và phân tích tác động của các yếu tố đến tổng số thu thuế tại các tỉnh/ thành phố trong khu vực miền Đông Nam Bộ từ giai đoạn 2000-2016,

từ đó đưa ra những kiến nghị, các gợi ý chính sách thiết thực cho Chính phủ để có thể tăng số thuế một cách hiệu quả đồng thời có những kế hoạch, chiến lược hướng tới hiệu quả trong dài hạn

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

1 Yếu tố nào ảnh hưởng đến số thu thuế tại các tỉnh miền Đông Nam Bộ, yếu tố nào ảnh hưởng nhiều nhất đến số thu thuế nói chung và tại các tinh/ thành phố nói riêng

2 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến tổng số thu thuế trên từng địa bàn các tỉnh miền Đông Nam Bộ như thế nào?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Các yếu tố ảnh hưởng đến tổng số thu

thuế trên địa bàn các tỉnh miền Đông Nam Bộ

1.4.2 Phạm vi về không gian

Nghiên cứu được thực hiện tại 6 tỉnh, thành phố thuộc khu vực miền Đông Nam Bộ

1.4.3 Phạm vi về thời gian

Nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2005 đến 2015

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để trả lời câu hỏi nghiên cứu và kiểm định giả thuyết

Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng với sự kết hợp cả thống

kê mô tả và phân tích hồi quy Với việc tập hợp số liệu từ 6 tỉnh thành trong khu vực, phương pháp thống kê mô tả sẽ trình bày, so sánh những số liệu này, giúp tác

Trang 15

giả có thêm bằng chứng trong phân tích hồi quy Tiêp đó, để trả lời câu hỏi và kiểm định giả thuyết nghiên cứu, tác giả sẽ xây dựng mô hình hồi quy, sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian để tìm các yếu tố có ảnh hưởng đến số thu thuế

1.6 Ý nghĩa thực tiễn

Thuế là nguồn thu ngân sách chủ yếu của Chính phủ Nguồn thu này được đặt

ra nhằm mục đích hình thành nguồn tài chính tập trung để sử dụng trong việc chi tiêu công với một mục tiêu tối thượng là phát triển kinh tế, xây dựng đất nước, giảm phân hóa giàu nghèo, đầu tư cơ sở hạ tầng, v.v.v Ngoài vấn đề số thu, chính sách thuế hợp lý cũng góp phần kích thích và phát triển kinh tế, xã hội Việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến số thu thuế này sẽ cung cấp thêm bằng chứng cho các nhà quản lý, lãnh đạo tìm hiểu, qua đó duy trì ổn định nguồn thu

1.7 Kết cấu luận văn

Cấu trúc của luận văn ngoài phần tài liệu tham khảo và các phụ lục, phần nội dung chính dự kiến bao gồm 5 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu: Chương này nêu lý do chọn đề tài, tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương này trình bày nội dung liên quan đến thuế, công tác thu thuế Dựa trên những nghiên cứu trước đây

để đưa ra mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến số thu thuế

Chương 3: Thực trạng số thu thuế tại địa bàn các tỉnh miền Đông Nam Bộ Chương này trình bày tổng quan về địa bàn các tỉnh miền Đông Nam Bộ, kết quả thu thuế tại các tỉnh miền Đông Nam Bộ trong những năm qua Dựa vào lý thuyết chương 2, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố quyết định đến số thu thuế tại các tỉnh miền Đông Nam Bộ

Chương 4: Kiểm định và kết quả nghiên cứu Chương này phân tích các kết quả nghiên cứu thông qua kiểm định mô hình hồi quy theo mô hình nghiên cứu ở

Trang 16

chương 3

Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Trên cơ sở phân tích ở chương 3 và kết quả kiểm định mô hình chương 4, tác giả đưa ra kết luận và từ đó đưa ra một số giải pháp, kiến nghị, các gợi ý chính sách thiết thực cho Chính phủ để có thể tăng số thuế thu một cách hiệu quả và đồng thời có những kế hoạch, chiến lược trong dài hạn

Trang 17

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LƯỢC KHẢO NGHIÊN CỨU TRƯỚC

2.1 Các khái niệm chính của đề tài

2.1.1 Khái niệm thuế, số thu thuế

Khái niệm về thuế: Thuế được hình thành từ khi nhà nước ra đời Theo dòng

lịch sử, thuế có sự thay đổi nhất định Đến thế kỷ 19, nhà hoạt động học thuật, nhân đạo và nhân quyền của Pháp, Gaston Jèze (1869-1953) đã đưa ra khái niệm về thuế

Theo Ông “Thuế là một khoản đóng góp bằng tiền, có tính chất xác định, không

hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của nhà nước trong việc thực hiện các chức năng kinh tế-xã hội của nhà nước”

Khái niệm thuế của Gaston Jèze thể hiện ở ba đặc điểm: (1) Thuế được thu bằng tiền, không phải bằng hiện vật như trước đây, mà nguyên nhân của sự chuyển biến này là do có sự phát triển của quan hệ hàng hóa-tiền tệ; (2)Thuế là khoản thu bắt buộc do hệ thống pháp luật của nhà nước quy định Hệ thống pháp luật này sẽ xác định số tiền mà cá nhân hoặc tổ chức phải kê khai và nộp vào ngân sách, không phải do người nộp thuế ấn định hay thỏa thuận Khi người nộp thuế không tuân thủ

về số tiền nộp thuế hoặc thời gian nộp thuế sẽ được xem là vi phạm pháp luật và cơ quan thuế sẽ tiến hành xử lý theo pháp luật; (3) Thuế là khoản thu nộp vào ngân sách của Chính phủ nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước vì vậy đây là khoản thu không hoàn trả trực tiếp, không có đối khoản cụ thể

2.1.2 Nguồn gốc của thuế

Để duy trì hoạt động và thực thi những mục tiêu của Chính phủ thì cần phải

có nguồn ngân sách Lịch sử đã chứng minh từ khi có nhà nước, có Chính phủ thì

sự ra đời của thuế là một tất yếu, khách quan Để duy trì sự tồn tại của mình, nhà nước cần có những nguồn tài chính, trước hết là chi cho việc hoạt động của bộ máy nhà nước như: quốc phòng, an ninh, chi cho xây dựng và phát triển các cơ sở hạ

Trang 18

tầng; chi cho các vấn đề về phúc lợi xã hội, cộng đồng, trợ cấp xã hội; chi đầu tư cơ

sở hạ tầng, đầu tư phát triển kinh tế vùng miền, v.v.v

Để có nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu trên, Chính phủ có thể sử dụng các biện pháp đó là: khai thác tài nguyên; quyên góp của dân; dùng quyền lực nhà nước bắt buộc dân phải đóng góp Tài nguyên thì hạn chế và không phải quốc gia nào cũng có, quyên góp tiền và tài sản của dân mang hình thức tự nguyện, không ổn định và thường chỉ được sử dụng trong một số trường hợp đặc biệt để bổ sung cho những khoản chi đột xuất như thiên tai, dịch bệnh,v.v.v Vì vậy, để đảm bảo nguồn chi thường xuyên, nhà nước dùng quyền lực buộc dân phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho ngân sách nhà nước Đây là hình thức cơ bản nhất để huy động tập trung nguồn tài chính cho đất nước

Trong nền kinh tế thị trường, tùy theo mức độ thị trường hoá của các quan hệ kinh tế đặc thù của mỗi quốc gia, mà các chính phủ vận dụng các lý thuyết vào hệ thống chính sách thuế của mình một cách thích hợp Việc suy tôn học thuyết này hay học thuyết khác chỉ mang tính lịch sử, không mang tính đối kháng và điều quan trọng nhất cho các nhà hoạch định chính sách thuế các quốc gia là tìm ra những ứng dụng hiệu quả nhất, để thực hiện tốt các chức năng và nhiệm vụ của thuế trong cơ chế thị trường mà không quá chú trọng vào trường phái lý thuyết nhất định

2.2 Phân loại thuế

Khi Nhà nước mới ra đời, sản xuất hàng hoá chưa phát triển, thuế thường được thu bằng hiện vật Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xã hội, kinh tế hàng hoá - tiền tệ ra đời và phát triển, thuế được thu bằng tiền là chủ yếu Thuế thu bằng tiền, các quan hệ về thuế dưới hình thức giá trị được hình thành và ngày càng phát triển có tính hệ thống, các loại thuế khác nhau lần lượt

ra đời làm cho thuế ngày càng đa dạng, phong phú linh hoạt hơn Cho tới nay, các quốc gia trên thế giới

Trang 19

đều có những qui định cụ thể về luật thuế Ở Việt Nam, theo Dương Tấn Diệp (Kinh

tế vĩ mô, 2001) thì thuế là nguồn thu chủ yếu của Chính phủ Xét theo tính chất, thuế được chia làm hai loại là thuế trực thu và thuế gián thu

Thuế trực thu là thuế đánh trực tiếp vào thu nhập của các thành phần dân cư Nói khác đi thì người nộp thuế chính là người chịu thuế Chẳng hạn thuế thu nhập

cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế di sản hay thừa kế, thuế cộng đồng đánh vào dân cư của một địa phương, thuế tài sản, v.v.v Thuế trực thu là công cụ đắc lực trong chính sách phân phối lại thu nhập Tuy nhiên, xuất phát từ gánh nặng do thuế trực thu tạo ra nên người nộp thuế thường tìm cách trốn thuế Do đó, các quy định về quản lý đối với thuế trực thu đòi hỏi rất chặt chẽ và công bằng

Thuế gián thu là loại thuế gián tiếp đánh vào thu nhập Tính gián tiếp thể hiện khi nào mua thì mời chịu thuế, bởi vậy nó còn được gọi là thuế tiêu thụ, thuế tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ Chẳng hạn thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu, v.v.v Người nộp thuế không phải là người chịu thuế mà họ là người bán hàng, họ có vai trò nộp thuế thay cho người chịu thuế Mặc dù không phải là người trực tiếp nộp thuế nhưng quá trình kê khai, nộp thuế giúp người tiêu dùng cũng tạo những khó khăn nhất định cho doanh nghiệp và cơ quan thuế, nhất là về tính tuân thủ

2.3 Vai trò của thuế

Trên thế giới, thuế là nguồn thu chủ yếu, lâu dài và ổn định cho ngân sách nhà nước Ngay từ khi Nhà nước ra đời, để duy trì hoạt động của bộ máy quản lý, Nhà nước đặt ra các hình thức thu, trong quá khứ có cả nguồn thu bằng hàng hóa hay sản vật, đó là nguồn gốc hình thành thuế Ở Việt Nam, thuế đóng góp 90% tổng thu ngân sách (Nguyễn Quốc Toản, 2013) cho thấy vai trò và tầm quan trọng của công tác thu thuế

Thuế đóng vai trò tái phân phối thu nhập, góp phần ổn định chính trị - xã hội Chúng ta đều biết mặt trái của kinh tế thị trường là gia tăng bất bình đẳng trong thu nhập, kéo theo sự phân hóa giai cấp ngày càng rõ rệt Sự phân hóa giai cấp sẽ tạo ra

Trang 20

mâu thuẫn giai cấp là mầm mống của các cuộc đấu tranh giai cấp Vì vậy, để tạo sự

ổn định chính trị-xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, Chính phủ cần phải tiến hành phân phối lại thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội Thông qua việc thu thuế của người có thu nhập cao và trợ cấp cho người có thu nhập thấp, Chính phủ sẽ làm giảm sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, xoa dịu mâu thuẫn giai cấp, góp phần ổn định an ninh chính trị-xã hội

Thuế đóng vai trò điều tiết vĩ mô cho nền kinh tế và là công cụ để khuyến khích đầu tư vào một số ngành nghề, một số vùng miền, nhất là vùng sâu,vùng kinh

tế kém phát triển Thông qua việc tác động vào giá hàng hóa trên thị trường, Chính phủ sẽ thể hiện định hướng trong sản xuất và tiêu dùng bằng các công cụ điều tiết vĩ

mô của nền kinh tế Đối với các loại hàng hóa mà việc tiêu dùng nhiều sẽ gây nguy hại cho nền kinh tế, Chính phủ cần phải hạn chế tiêu dùng thông qua việc tăng thuế đối với các loại hàng hóa này Chẳng hạn thuốc lá, rượu bia, các mặt hàng có ảnh hưởng đến môi trường sống Ngược lại, để khuyến khích sản xuất kinh doanh hàng hóa Chính phủ sẽ giảm thuế đối với các loại hàng hóa này hay còn gọi là hàng hóa khuyến dụng Bên cạnh việc tác động tới giá hàng hóa trên thị trường để định hướng sản xuất và tiêu dùng, Chính phủ có thể ưu đãi thuế thu nhập để khuyến khích đầu tư ở khu vực tư nhân Việc ưu đãi thuế cho doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp có thể được thể hiện thông qua các qui định riêng áp dụng cho đối tượng cần ưu đãi Qui định ưu đãi thuế sẽ giúp làm giảm gánh nặng thuế, giảm chi phí góp phần làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp vì thế sẽ khuyến khích đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội Chẳng hạn đầu tư vào một số vùng kinh tế kém phát triển; đầu tư vào các ngành nghề có nhiều tiềm năng hoặc mức độ tác động rộng lớn như công nghệ phần mềm, nông nghiệp, công nghiệp chế biến, chế tạo, v.v.v nhận được những ưu đãi nhất định Ngoài ra, sự linh hoạt trong chính sách thuế như giảm thuế, giãn nợ thuế, khoanh nợ thuế, v.v.v còn giúp đỡ cho các doanh nghiệp thật sự gặp khó khăn, góp phần khắc phục tình trạng đình trệ của nền kinh tế

Thuế có chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính, tạo ra những tiền

đề khách quan cho sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế Chúng ta biết một

Trang 21

nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu nội bộ của nền kinh tế quốc dân, không phải dựa vào bên ngoài Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, xuất phát từ phạm vi hoạt động mà đòi hỏi Nhà nước phải ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật thuế để tập trung nguồn tài chính vào ngân sách Nhà nước

từ đó mới đáp ứng được nhu cầu chi vào các công việc Nhà nước đảm nhiệm đang ngày càng tăng Nhờ vào công cụ thuế được ban hành, Nhà nước có thể huy động nguồn tài chính bằng cách yêu cầu chuyển giao thu nhập theo hướng bắt buộc, giúp cho ngân sách nhà nước được duy trì ổn định Không chỉ sử dụng nguồn ngân sách

để giải quyết các vấn đề xã hội mà còn giúp Chính phủ điều chỉnh chu kỳ nền kinh

tế, duy trì sự ổn định Trong nền kinh tế thị trường thì sự phát triển theo chu kỳ là điều không thể tránh khỏi Công cụ thuế giúp Chính phủ khắc phục một phần hậu quả của tính chu kỳ, nhất là việc ngăn chặn tình trạng suy thoái

Công cụ thuế góp phần hình thành cơ cấu ngành nghề hợp lý ở nhiều quốc gia Trong nền kinh tế mở và hội nhập quốc tế, việc bố trí cơ cấu ngành cũng còn phụ thuộc vào việc lợi thế so sánh tương đối của kinh tế trong nước và với các quốc gia khác có quan hệ thương mại Không hoàn toàn dựa vào cơ chế thị trường, công

cụ thuế và trợ cấp có thể giúp các quốc gia khuyến khích đầu tư vào những ngành nghề mà họ có lợi thế hoặc cần duy trì để đảm bảo an ninh cho quốc gia Bằng cách

áp dụng công cụ thuế kết hợp với trợ giá, Nhà nước sẽ ban hành những chính sách thuế đối với hàng hóa nhập khẩu sao cho có lợi cho mục tiêu của quốc gia Tuy nhiên, việc áp dụng chính sách thuế để điều chỉnh cơ cấu phải được xem xét rất thận trọng Bởi lẽ, thuế sẽ làm méo mó các quan hệ kinh tế khi áp dụng Việc xác định điều chỉnh không đúng, sẽ tạo cơ hội tăng trưởng của các ngành kinh tế kém hiệu quả và kém cạnh tranh, làm cho hợp lực của toàn bộ nền kinh tế bị triệt tiêu ít nhiều Hơn nữa, công cụ thuế cũng có thể là nguyên nhân gây ra tình trạng trả đũa hoặc vi phạm những thỏa thuận về hợp tác, ảnh hưởng tới quan hệ thương mại của quốc gia

Thuế đóng vai trò trong việc điều tiết và định hướng tiêu dùng, qua đó góp phần định hướng sản xuất trong nước Việc áp dụng các mức thuế như thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt sẽ làm thay đổi cầu với những hàng

Trang 22

hoá, dịch vụ mà nhà nước cho là cần hạn chế hoặc nên ưu đãi Thực thế, thông qua điều chỉnh mức thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, giá cả của mặt hàng đó có thể cao hơn, từ đó có những ảnh hưởng nhất định đối với việc lựa chọn hàng hóa của người tiêu dùng Tuy nhiên, thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu cũng phải phù hợp với những quan hệ và cam kết quốc tế khi mà quốc gia đó đã tham gia, hội nhập

Thuế là nguồn thu chủ yếu để sử dụng trong việc chi ngân sách ở địa phương Thông tư 342/2016/TT-BTC quy định ở các Điều 5 về các khoản thu thuế mà địa phương được giữ lại hoặc Điều 8 về nguyên tắc cân đối ngân sách với trung ương Ngoài ra, Điều 6 của thông tư n ày quy định nguồn ngân sách của địa phương được

sử dụng để chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên của các cơ quan, đơn vị ở địa phương được phân cấp trực tiếp quản lý trong các lĩnh vực, chi trả lãi, phí và chi phí phát sinh khác từ các khoản tiền do chính quyền cấp tỉnh vay, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính địa phương, chi chuyển nguồn sang năm sau của ngân sách địa phương; chi bổ sung cân đối ngân sách, bổ sung có mục tiêu cho ngân sách cấp dưới Những khoản chi này đều hết sức quan trọng, có ý nghĩa đối với hoạt động và

sự phát triển của một địa phương

2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến số thu thuế của quốc gia/địa phương

Như đã trình bày ở trên, thuế là khoản đóng góp bằng tiền do các công dân đóng góp cho nhà nước và có tính chất bắt buộc Số thu thuế luôn gắn chặt với tình trạng kinh tế của mỗi quốc gia thông qua các chỉ số như tổng sản phẩm quốc nội (GDP), xuất nhập khẩu, đầu tư, tiêu dùng, dân số, đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, v.v.v

Ảnh hưởng của tổng thu nhập quốc gia: Thuế, dù là trực thu hay gián thu

cũng dựa vào mức độ phát triển kinh tế của quốc gia hay nói cách khác, thuế phụ thuộc vào GDP được tạo ra Theo Dương Tấn Diệp (2001), nếu xét từng loại thuế

cụ thể thì thuế suất là tỷ lệ thuế tính trên thu nhập chịu thuế; nếu xét toàn bộ nền kinh tế, đứng trên góc độ vĩ mô, thì thuế suất là tỷ lệ tính trên tổng thu nhập hay sản

Trang 23

lượng quốc gia Như vậy, sản lượng tăng sẽ kéo theo thuế thu được tăng, hay nói cách khác thuế ròng đồng biến với sản lượng

Hàm thuế: T = T0+TmY, trong đó

T: Thuế ròng;

T0: Thuế tự định, không phụ thuộc vào Y;

Tm: Thuế biên, phản ánh thay đổi của thuế

khi sản lượng thay đổi;

Y: Sản lượng quốc gia Tại điểm cân bằng

thì Y chính là tổng cầu, là giá trị GDP tính

theo phương pháp chi tiêu Hình 2.1: Thuế đồng biến với sản lượng

Nguồn: Dương Tấn Diệp, 2001 GDP bình quân đầu người được tính bằng cách chia tổng sản phẩm trong nước trong một năm cho dân số của một quốc gia trong năm tương ứng Chỉ số này

có thể được ước lượng theo giá thực tế, tính bằng nội tệ hoặc ngoại tệ Đây là một chỉ số quan trọng để phản ánh kết quả sản xuất của một quốc gia trong một năm và đồng thời chỉ số này dùng để đánh giá sự phát triển kinh tế theo thời gian và cũng là chỉ số dùng để so sánh quốc tế về phát triển kinh tế

GDP và số thu thuế có mối quan hệ hai chiều, chặt chẽ và khăng khít Khi GDP tăng thì thuế thu được sẽ tăng theo một tỷ lệ tương ứng Chính sách thuế hợp

lý sẽ kích thích hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng, đầu tư, xuất nhập khẩu, v.v.v, từ đó góp phần cải thiện GDP theo chiều hướng gia tăng Về phía tiêu dùng, các nhà kinh tế cho rằng khi thuế thấp sẽ dẫn đến chi tiêu nhiều hơn, từ đó thúc đẩy tăng trưởng do sản xuất gia tăng Việc cắt giảm thuế sẽ tạo động lực cho doanh nghiệp sản xuất nhiều hơn, trong khi đó người tiêu dùng sẽ gia tăng chi tiêu, từ đó dẫn đến tăng trưởng kinh tế Kinh tế tăng trưởng lại kéo theo cơ hội thu thuế tăng

Độ mở thương mại: Yếu tố này thể hiện qua tổng giá trị xuất nhập khẩu so với

GDP Đây cũng là một nhân tố quan trọng, bởi thuế đánh vào thương mại quốc tế là

T

Y

T=T0+Tm.Y

Trang 24

một trong những nguồn thu chiếm tỷ trọng cao ở các quốc gia đang phát triển và các quốc gia có thu nhập trung bình Các nước có mức thu nhập trung bình trở xuống đồng nghĩa với tình trạng có tỷ trọng sản xuất nông nghiệp còn cao Đặc trưng của sản xuất nông nghiệp là có mức lợi nhuận thấp, rủi ro nhiều, dẫn đến số thu thuế sẽ hạn chế Chính vì lý do đó mà nguồn thu chủ yếu của các quốc gia này đến từ thuế hàng hóa xuất nhập khẩu, nhất là những mặt hàng xa xỉ

Ngày nay, trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu và rộng, các nước đều ký kết các hiệp định thương mại song phương hoặc đa phương, dẫn đến nguồn thu thuế

từ hàng hòa xuất nhập khẩu có có khuynh hướng giảm dần Điều này gây ra tác động tiêu cực đến việc thu thuế (Baunsgaard & Keen, 2010) Tuy nhiên, nghiên cứu của Keen và Simone (2004) cho rằng độ mở thương mại có ý nghĩa tích cực đối với

số thu thuế bởi mở cửa nền kinh tế sẽ giúp kinh tế tăng trưởng tốt và đó là lý do dẫn đến số thu thuế được cải thiện

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Chính sách thuế là một trong những

nhân tố tác động đến quyết định của nhà đầu tư nước ngoài Khi các quốc gia tạo ra các ưu đãi về thuế, tức giảm thuế, nhằm thu hút các dòng vốn đầu tư nước ngoài sẽ

có tác động tiêu cực đối với số thu thuế (Cassou, 1997; Martín-Mayoral & Uribe, 2010) Tuy nhiên, phân tích ở góc nhìn khác, nhân tố này có thể có tác động tích cực, bởi việc gia tăng dòng vốn FDI sẽ làm tăng năng lực cạnh tranh quốc gia, tăng sản lượng và gia tăng thuế (Gugler & Brunner, 2007) Như vậy đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể tác động tới nỗ lực thuế theo hai chiều hướng

Tỷ lệ hộ nghèo: Thu nhập là cơ sở để thu thuế hoặc thói quen tiêu dùng Đối

với những tỉnh hoặc thành phố có tỷ lệ hộ nghèo thấp, mức thu nhập cao thì tổng số thu thuế sẽ cao và ngược lại Như vậy, tỷ lệ hộ nghèo có mối quan hệ nghịch chiều với số thu thuế

Tỷ lệ tăng trưởng dân số: Tăng trưởng dân số là một yếu tố có ảnh hưởng

đến số thu thuế Khi tỷ lệ tăng dân số càng cao, tỷ lệ người phụ thuộc gia tăng, quy

mô hộ tăng, v.v.v sẽ dẫn tới thu nhập người dân giảm và số thu thuế cũng sẽ giảm

Trang 25

theo Chính vì vậy, theo Bird, Martínez - Vázquez và Torgler (2008) thì nhân tố này

có thể có tác động tiêu cực đến số thu về thuế

Số thu thuế ở địa phương: Tùy theo từng quốc gia mà cơ chế quản lý và thu

thuế ở địa phương có khác nhau Ở Việt Nam, cũng như trên phạm vi cả nước, số thu thuế ở địa phương chịu sự ảnh hưởng bởi tình hình sản xuất, kinh doanh, đầu tư, tiêu thụ hàng hóa, khai thác tài nguyên hoặc những vấn đề xã hội như dân số, lao động, việc làm, tỷ lệ hộ nghèo, v.v.v Tuy nhiên, tại mỗi địa phương, tình hình kinh

tế, xã hội khác nhau nên số thu có sự chênh lệch rất lớn Để đảm bảo mọi địa phương có đủ ngân sách hoạt động, chính phủ có chính sách điều tiết nguồn thu Thông tư số 342/2016/TT-BTC quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành về nguồn thu của ngân sách địa phương Theo đó tại Điều 5 của Thông tư quy định rõ 22 khoản thu cho ngân sách địa phương, đia phương được hưởng toàn bộ Ngoài ra tại Điều 8 của thông tư này cũng xác định tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu mà địa phương được giữ lại (ngoài 22 khoản thu được quy định ở điều 5) theo quy tắc sau:

- Tuy nhiên, nhiều công trình nghiên cứu cho thấGọi A là tổng chi địa phương

- Gọi B là tổng thu địa phương (khoản thu được hưởng 100%)

- Gọi C là khoản thu có thể phân chia

- Nếu (A-B)<C, tức mức thâm hụt ngân sách địa phương thấp hơn so với khoản thu có thể phân chia thì tỷ lệ được giữ lại (GL) sẽ là:

0 100

- Trường hợp nếu A - B ≥ C thì địa phương sẽ được giữ lại 100% (khoản C) và phần chênh lệch (nếu có) sẽ được ngân sách trung ương bổ sung

để cân đối ngân sách địa phương

Tuy nhiên, nhiều công trình nghiên cứu cho thấy các địa phương gặp những khó khăn nhất định trong việc thu thuế của doanh nghiệp hoặc cá nhân trên địa bàn Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Bá Hoàng (2017) cho biết sự tuân thủ nộp thuế cá

Trang 26

nhân của người dân trên địa bàn Quận 11 thành phố Hồ Chí Minh phụ thuộc vào các nhân tố hiểu biết về thuế và nhận thức về tính công bằng thuế có ảnh hưởng tích cực đến tính tuân thủ thuế của người dân trên địa bàn Nghiên cứu của Mai Thị Lan Hương và Lê Đình Hải (2018) cho biết: để góp phần nâng cao chất lượng quản lý thuế ở chi cục thuế huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội thì cần tăng cường công tác cưỡng chế và thu nợ thuế bên cạnh công tác tuyên truyền và hỗ trợ tổ chức, cá nhân nộp thuế Ngoài ra ngành thuế cũng cần phải nâng cao năng lực cán bộ nộp thuế, đầu tư vào cơ sở vật chất và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra

Như vậy, số thu thuế ở địa phương không chỉ phụ thuộc vào tình hình kinh tế,

xã hội, hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu mà số thu thuế còn phụ thuộc vào nhận thức của người dân, tính công bằng, minh bạch cũng như những cơ chế giám sát, cưỡng chế đối với những tổ chức và cá nhân không tự giác nộp thuế, ảnh hướng đến số thu thuế của địa phương

2.5 Một số nghiên cứu về số thu thuế của quốc gia/địa phương

Thuế là lĩnh vực đã xuất hiện từ rất sớm, chính vì thế đã có nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam về đề tài này Tuy nhiên, thuế là vấn

đề kinh tế, xã hội phức tạp, mang tính địa phương và chịu sự tác động của nhiều yếu

tố khách quan, vì vậy đây vẫn là đề tài được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu ở các mức độ khác nhau, những nơi chốn khác nhau và góc nhìn khác nhau Có tác giả tiến hành nghiên cứu về số thu thuế ở các nước có thu nhập thấp, các nước nhận viện trợ hoặc tác động từ góc nhìn từ sự ổn định về chính trị, v.v.v Sự đa dạng của các công trình nghiên cứu không chỉ thể hiện ở sự phong phú về đề tài mà còn thể hiện ở quy mô Có công trình nghiên cứu trên một tỉnh/ thành, một khu vực gồm nhiều tỉnh thành, một quốc gia nhưng cũng có công trình nghiên cứu trong một vùng gồm nhiều quốc gia Trong phần này, tác giả lược khảo một số công trình nghiên cứu đi trước có liên quan đến đề tài

Bird, Martínez - Vázquez và Torgler (2008) nghiên cứu trên một phạm vi rộng, gồm 110 quốc gia thuộc nhóm đang phát triển trong giai đoạn 1990–1999 Kết quả nghiên cứu cho thấy dù là quốc gia đang phát triển nhưng GDP bình quân đầu

Trang 27

người có quan hệ đồng biến đến số thu thuế Khía cạnh hội nhập quốc tế có ảnh hưởng tới tổng số thu thuế nhưng trong thời kỳ này và ở mức thu nhập còn thấp thì tác động này không đáng kể Dân số gia tăng cùng với tỷ trọng đóng góp của ngành nông nghiệp so với GDP tăng là nguyên nhân dẫn tới mức thu thuế thấp hơn Nghiên cứu cũng tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của chính trị, theo đó, chỉ số về các quyền tự do công dân, sự ổn định về chính trị, sự minh bạch của pháp luật hay tổng hợp lại đó là một quốc gia có thể chế tốt sẽ có tác động tích cực đến số thu thuế

Cũng thực hiện nghiên cứu ở các nước đang phát triển, Gupta (2007) đã tiến hành nghiên cứu dựa trên số liệu từ 105 quốc gia đang phát triển trong khoảng thời gian 25 năm Kết quả nghiên cứu cho biết các biến có ảnh hưởng và làm gia tăng số thu thuế bao gồm: GDP bình quân đầu người, kim ngạch thương mại, viện trợ nước ngoài và các chỉ số về ổn định chính trị, kinh tế Chiều ngược lại, các yếu tố tỷ trọng đóng góp ngành nông nghiệp trong GDP, tình trạng tham nhũng có ảnh hưởng tiêu cực đáng kể tới số thu thuế Các loại thuế dù là thuế trực thu hay gián thu đều chịu ảnh hưởng của tham nhũng, bất ổn chính trị và lạm phát

Dựa trên dữ liệu của 75 quốc gia, bao gồm cả các quốc gia phát triển và đang phát triển, trong giai đoạn 1985–1995, nghiên cứu của Piancastelli (2001) đã chỉ ra GDP bình quân đầu người, tỉ trọng công nghiệp trên GDP và độ mở thương mại là các yếu tố quan trọng quyết định số thu thuế Cũng như kết quả của nhiều nghiên cứu khác, Piancastelli cho biết khi tỷ trọng đóng góp của ngành nông nghiệp trên GDP còn cao thì số thu thuế sẽ hạn chế, hay nói cách khác, tỷ trọng đóng góp của ngành nông nghiệp có quan hệ nghịch chiều so với số thu thuế của quốc gia Ngoài

ra, nghiên cứu còn tìm thấy tình trạng tham nhũng có tác động tiêu cực một cách nghiêm trọng đến số thu thuế ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình Về vấn đề viện trợ của nước ngoài, tác giả đã chia mẫu tổng thể thành ba nhóm nhỏ tương ứng với ba mức thu nhập khác nhau, kết quả cho thấy viện trợ nước ngoài có tác động tích cực đáng kể tới số thu thuế ở các quốc gia có thu nhập thấp nhưng không có ý nghĩa ở các nước thu nhập trung bình và thu nhập cao

Trang 28

Castro và Camarillo (2014) tiến hành nghiên cứu trên 34 quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD (Organization for Economic Co-operation and Development) trong giai đoạn từ năm 2001-2011 Tác giả sử dụng đồng thời kỹ thuật phân tích bảng tĩnh và bảng động để phân tích tác động của các yếu tố kinh tế, cấu trúc, thể chế và xã hội đến số thu thuế Điểm đặc biệt trong nghiên cứu này mà các nghiên cứu trước đây chưa đề cập đó là việc phân tích tác động về độ trễ của biến phụ thuộc Kết quả cho thấy độ trễ của số thu thuế có tác động tích cực, tức việc số thu thuế của năm trước cũng góp phần ảnh hưởng đến số thu của năm hiện tại Ngoài ra, kết quả cho thấy GDP bình quân đầu người cao, mức độ phát triển ngành công nghiệp mạnh và vốn đầu tư nước ngoài là những yếu

tố có ảnh hưởng tích cực tới số thu thuế Trong khi biến số đại diện cho khu vực nông nghiệp và tỉ trọng đầu tư trực tiếp nước ngoài liên quan đến hình thành tổng vốn cố định lại có tác động hạn chế Có kết quả tương tự về ảnh hưởng từ thu nhập bình quân đầu người, trong khoảng thời gian từ 1994 đến 2000, ở phạm vi gồm 16 nước Ả Rập, nghiên cứu của Eltony (2002) cho biết các yếu tố GDP bình quân đầu người cùng với tỷ trọng hàng hóa xuất nhập khẩu có ảnh hưởng cùng chiều đến tổng

số thu thuế

Từ nhiều quốc gia và nhiều châu lục khác nhau, gồm 11 nước thuộc châu Á,

19 nước Mỹ Latinh và 9 nước thành viên EU, Profeta và Scabrosetti (2010) phân tích các yếu tố quyết định đến số thu thuế của 39 quốc gia trong giai đoạn 1990–

2004 Kết quả nghiên cứu cho thấy các chỉ số về quyền dân chủ, quyền tự do công dân và quyền chính trị càng cao thì càng làm gia tăng hiệu quả của hệ thống thuế Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt về tác động của một số yếu

tố kinh tế đến số thu thuế tính theo châu lục Cụ thể, nghiên cứu tìm thấy GDP bình quân đầu người và tỷ lệ nợ trên GDP không có ý nghĩa trong việc quyết định số thu thuế ở các nước thuộc khu vực châu Á nhưng lại có tác động mạnh ở các nước thuộc khu vực Mỹ Latinh Tỷ trọng nông nghiệp trên GDP tăng làm hạn chế số thu thuế ở Mỹ Latinh nhưng trong giai đoạn này lại không có ý nghĩa ở châu Á Độ mở của nền kinh tế có tác động tích cực đến số thu thuế ở châu Á và châu Âu, nhưng độ

Trang 29

mở của nền kinh tế làm hạn chế số thu thuế ở Mỹ Latinh Mặc dù kết quả này còn phụ thuộc rất nhiều vào phạm vi thu thập dữ liệu nhưng sự khác biệt đó đặt ra vấn đề liệu rằng yếu tố văn hóa, địa lý có ảnh hưởng đến số thu thuế hay không?

Amin và cộng sự (2014) nghiên cứu tác động của các yếu tố đến số thu thuế

ở Pakistan giai đoạn 1980–2010 Trong khoảng thời gian 30 năm, các yếu tố gồm bất ổn chính trị, khối lượng thương mại, thu nhập thực bình quân đầu người và lạm phát là những yếu tố chính ảnh hưởng đến số thu thuế

Nghiên cứu của Teera (2003) được thực hiện ở Uganda Kết quả nghiên cứu cho thấy số thu thuế bị ảnh hưởng bởi tình trạng trốn thuế, độ mở thương mại, tỷ trọng nông nghiệp Tác giả cho rằng khi tỷ trọng nông nghiệp trong GDP tăng thì tổng thu thuế sẽ giảm Đối với các nước đang phát triển thì thương mại nước ngoài đóng góp lớn vào số thu thuế của chính phủ

Dioda (2012) sử dụng dữ liệu bảng cho 32 quốc gia thuộc khu vực Mỹ Latinh

và Caribbean trong khoảng thời gian từ 1990–2009 để đánh giá ý nghĩa thống kê của một số biến góp phần quyết định tới tỉ trọng số thu thuế trên tổng GDP Các kết quả chỉ ra các biến có ảnh hưởng đáng kể đến số thuế thu được bao gồm: Quyền tự

do công dân, số lao động nữ, cơ cấu dân số theo độ tuổi, sự ổn định về chính trị, trình độ giáo dục, mật độ dân số và quy mô của kinh tế ngầm

Nghiên cứu của Ayenew (2016) được thực hiện dựa trên dữ liệu trong giai đoạn từ năm 1975 đến 2013 để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến số thu thuế ở Ethiopia trong dài hạn Kết quả nghiên cứu cho thấy GDP bình quân đầu người, viện trợ nước ngoài và tỷ trọng công nghiệp ảnh hưởng tích cực đến số thu thuế trong khi đó các lạm phát là yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến số thu thuế

Một số nghiên cứu trong nước như: Sử Đình Thành và cộng sự (2015) đánh giá khả năng thu thuế của Việt Nam trong giai đoạn 1988–2013 và cho thấy khả năng thu thuế của hệ thống thuế Việt Nam vẫn do những yếu tố kinh tế quyết định Mức thu nhập cao hơn, độ mở thương mại rộng hơn và tỉ trọng nông nghiệp trên GDP thấp hơn có thể dẫn tới khả năng thu và tổng thu thuế cao hơn

Trang 30

Nghiên cứu luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009), “Hoàn thiện

quản lý thu thuế nhà nước nhằm tăng cường sự tuân thủ thuế của các doanh nghiệp (nghiên cứu tình huống ở Hà Nội) Kết quả nghiên cứu chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng

tới quản lý thu thuế bao gồm đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp, đặc điểm tâm

lý của doanh nghiệp, đặc điểm ngành của doanh nghiệp, yếu tố xã hội, yếu tố kinh

tế, yếu tố luật pháp và yếu tố thuộc về cơ quan thuế

Tóm lại, hầu hết các nghiên cứu cho thấy yếu tố kinh tế quan trọng nhất và có tác động mạnh đến số thu thuế Trong đó, tốc độ tăng trưởng GDP và độ mở thương mại có tác động tích cực, nhưng tỉ trọng nông nghiệp trên GDP lại có tác động tiêu cực Tác động của những yếu tố khác là chưa rõ ràng, kết quả vẫn còn phụ thuộc nhiều vào thời gian, khu vực và quy mô mẫu nghiên cứu

2.6 Quy trình nghiên cứu

Trên cơ sở đề xuất của John W.Creswell (2014) và kinh nghiệm của bản thân, tác giả xây dựng quy trình nghiên cứu cho luận văn như sau:

Bảng 2.1 : Quy trình nghiên cứu

Mục tiêu Lý thuyết Phân tích Kết quả Thảo luận

Trang 31

Nguồn: Tác giả

Bước 1: Tác giả trích dẫn một số đánh giá, số liệu về thu thuế để thấy được ý

nghĩa của việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến số thu thuế trong thực tế hiện nay Từ đó xác định mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới số thu thuế của từng địa phương

Bước 2: Tác giả lược khảo các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, quản lý Nhà

nước tỏng lĩnh vực kinh tế để xác định khung phân tích Từ đó, tác giả tiến hành thu thập và tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm cả trong và ngoài nước để xác định các yếu tố quyết định đến số thu thuế của địa phương Trên cơ sở phân tích đặc điểm địa lý, trình độ phát triển, các biến sử dụng, thời gian nghiên cứu, kết quả nghiên cứu … đối chiếu với các dữ liệu thu thập được của 6 tỉnh Đông Nam Bộ, từ

đó tác giả xác định hướng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu cho đề tài này

Tổng hợp

lý thuyết nghiên cứu

Thu thập dữ liệu

từ các nguồn

Phân tích

Phân tích các yếu tố quyết định đến số thu thuế của từng địa phương

Kiểm định

độ phù hợp

và kiểm chứng mô hình lý thuyết

Tổng hợp và xử

lý dữ liệu trước khi phân tích

Mục tiêu

nghiên

cứu

Lý thuyết nghiên cứu nền

Các nghiên cứu trước liên quan

Xây dựng mô hình nghiên cứu

lý thuyết

Phân tích thống

kê mô tả các biến nghiên cứu

Trang 32

Bước 3: Tác giả tiến hành thu thập dữ liệu từ các nguồn đáng tin cậy, so sánh

dữ liệu giữa các nguồn để tìm kiếm sai biệt (nếu có), đồng nhất dữ liệu về cùng một phương pháp đo lường, xử lý các dữ liệu chưa phù hợp, rồi thực hiện các bước nghiên cứu định lượng về phương pháp ước lượng, kiểm định giả thuyết, tính toán các chỉ số, tính toán tốc độ tăng trưởng, phân tích ở dạng thống kê mô tả

Bước 4: Tác giả dùng các phần mềm phân tích thống kê và kinh tế lượng để

phân tích dữ liệu, ước lượng và kiểm định tác động của các biến độc lập như tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân, tốc độ tăng trưởng lực lượng lao động, tỉ lệ hộ nghèo, tỉ lệ thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài so với GDP … tác động như thế nào đến số thu thuế của 6 tỉnh Đông Nam Bộ trong giai đoạn 2005-2015 Từ kết quả thu được, căn cứ vào thực tế về những điều kiện kinh tế xã hội, tác giả sẽ bình luận và

lý giải kết quả nghiên cứu cũng như rút ra ý nghĩa thực tế của kết quả nghiên cứu

Bước 5: Tác giả khẳng định (hay bác bỏ) tác động của thu nhập bình quân

đầu người, tốc độ tăng dân số của tỉnh, tốc độ tăng trưởng lực lượng lao động, tỉ lệ

hộ nghèo, tỉ lệ thu hút vốn FDI/GDP, việc có cảng biển/sân bay quốc tế … đến số thu thuế của 6 tỉnh Đông Nam Bộ theo phạm vi nghiên cứu của đề tài Đồng thời đưa ra các hàm ý chính sách và gợi mở một số giải pháp

2.7 Mô hình nghiên cứu

2.7.1 Các biến sử dụng trong mô hình

Dựa vào cơ sở lý thuyết, những nghiên cứu trước và đặc biệt là thực trạng về

dữ liệu mà tác giả có thể tiếp cận, trong đề tài này tác giả sẽ sử dụng một số biến như sau:

GDP: Tổng thu nhập quốc gia, giá trị đại diện cho trình độ phát triển kinh tế của quốc gia, được đo bằng log của GDP bình quân đầu người

Dân số: Tỷ lệ tăng dân số, tỉ lệ lực lượng lao động tại các tỉnh, thành phố theo thống kê của Tổng cục thống kê thuộc khu vực miền Đông Nam Bộ qua các năm

FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài, được đo bằng log của tỷ số giữa GDP trên FDI Trong bối cảnh các địa phương đều đẩy mạnh việc thu hút vốn FDI thông qua những chính sách ưu đãi, nhất là ưu đãi về thuế, thì tác động của tỷ số này sẽ cho

Trang 33

biết mức độ đóng thuế của các doanh nghiệp FDI so với các doanh nghiệp trong nước

Tỷ lệ hộ nghèo: tỷ lệ hộ nghèo tại các tỉnh, thành phố theo thống kê của Tổng cục thống kê thuộc khu vực miền Đông Nam Bộ qua các năm

Sân bay - cảng biển: Các nghiên cứu trước ở phạm vi quốc gia sử dụng biến

độ mở thương mại Nghiên cứu này được thực hiện cho các tỉnh, do vậy tác giả thay thế bằng biến sân bay cảng biển Đây là biến dummy, hàm ý tỉnh nào có sân bay hoặc cản biển quốc tế sẽ nhận giá trị bằng 1, không có cả sân bây và cảng biển sẽ nhận giá trị là 0

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ các báo cáo tổng kết thuế cuối năm tại các tỉnh/ thành phố thuộc khu vực miền Đông Nam Bộ và từ Tổng Cục Thống Kê

và để thoả mãn tính đồng nhất của kết quả ước lượng buộc tác giả phải loại bỏ các quan sát trong giai đoạn này Dữ liệu sau năm 2015 các tỉnh có công bố, nhưng có

sự chuyển đổi trong phương pháp thống kê từ GDP sang GDP thực (còn gọi là GRDP), việc này làm cho dữ liệu bị thiếu đồng nhất về phương pháp thống kê nên tác giả cũng phải loại ra trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này

Để đảm bảo tính khoa học, độ tin cậy của kết quả ước lượng và kiểm định mô hình, đồng thời là cơ sở giúp các tác giả nghiên cứu sau có điều kiện so sánh, tra cứu, trích dẫn số liệu, dữ liệu phục vụ riêng cho nghiên cứu này tác giả đã trích dẫn đầy đủ ở phần phụ lục

Trang 34

2.8 Phương pháp nghiên cứu

Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định các yếu tố tác động và mức độ tác động của các yếu tố đến số thu thuế của các địa phương thuộc 6 tỉnh Đông Nam Bộ

Do đó, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để phân tích hồi quy, kiểm định các khuyết tật của mô hình nghiên cứu (nếu có), rồi đưa ra kết quả nghiên cứu chính thức Dữ liệu sau khi được thu thập và xử lý, tác giả tiến hành phân tích bằng phần mềm phân tích định lượng Stata Do đây là nghiên cứu cho 6 tỉnh, trong thời gian 11 năm, nên dữ liệu thu thập là dữ liệu dạng bảng Với dữ liệu dạng bảng, tác giả sẽ tiến hành áp dụng các ký thuật phân tích định lượng như sau:

a Phương pháp tác động gộp (Mô hình Pooled)

Thực chất, phương pháp tác động gộp (Mô hình Pooled) được xây dựng dựa

trên giả định tất cả các quan sát (dữ liệu) trong dữ liệu bảng là đồng nhất Khi đó mối quan hệ giữa biến phụ thuộc Y với các biến độc lập X1, X2 Xk được minh họa như sau:

Như vậy trong uit sẽ tồn tại 2 yếu tố, yếu tố không quan sát được nhưng không đổi theo thời gian (ký hiệu là υi) và yếu tố không quan sát được nhưng thay đổi theo thời gian (ký hiệu là εi) Với mỗi đơn vị chéo, υi là yếu tố không quan sát được và không thay đổi theo thời gian, nó đặc trưng cho mỗi đơn vị chéo Nếu υitương quan với bất kỳ biến Xt nào thì ước lượng hồi quy từ hồi quy Y theo Xt sẽ bị ảnh hưởng chéo bởi những nhân tố không đồng nhất không quan sát được Thậm chí, nếu υi không tương quan với bất kỳ một biến giải thích nào thì sự có mặt của nó

Trang 35

cũng làm cho cho các ước lượng bình phương tối thiểu OLS (Ordinary Least Square) không hiệu quả và sai số tiêu chuẩn không có hiệu lực Như vậy, nhược điểm của mô hình Pooled là không xem xét đến sự khác biệt của các đơn vị chéo (các đơn vị chéo có tung độ góc giống nhau) Diễn giải điều này trong thực tế, tức là

mô hình Pooled giả định 6 tỉnh Đông Nam Bộ có những điều kiện để phát triển kinh

tế giống nhau

b Phương pháp tác động cố định (Mô hình FEM)

Có rất nhiều lý do để tin rằng giả định 6 tỉnh Đông Nam Bộ có những điều kiện để phát triển kinh tế giống nhau là không phù hợp, vì mỗi tỉnh có diện tích đất, trữ lượng tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý là khác nhau Hơn nữa, trong quá trình phát triển thì quy mô dân số, trình độ của dân cư, rồi chính sách/quan điểm về phát triển kinh tế cũng không hoàn toàn tương đồng

Phương pháp tác động cố định (Mô hình FEM) được xây dựng để khắc phục những hạn chế của mô hình Pooled, khi đó phương trình minh họa tác động của các biến độc lập X đến biến phụ thuộc Y thể hiện như sau:

c Phương pháp tác động ngẫu nhiên (Mô hình REM)

Trong phương pháp tác động ngẫu nhiên (mô hình REM) thì thành phần uitđược chia thành 2 thành phần nhỏ gồm: thành phần bất định (kí hiệu là εit) và thành phần ngẫu nhiên (kí hiệu là ωi) Giả định rằng, ωi có phân phối chuẩn và phương sai không đổi (tức là E(ωi) = 0 và Var(ωi) = 2

 , Cov(ωi,ωs) = 0) khi đó N biến ngẫu

Trang 36

nhiên ωi được gọi là tác động ngẫu nhiên Khi đó phương trình thể hiện tác động ngẫu nhiên được viết thành:

vị được giả sử là ngẫu nhiên và không tương quan đến các biến giải thích

Với một mẫu dữ liệu, để lựa chọn được mô hình tối ưu giữa 3 mô hình Pooled, FEM và REM thì cần tiến hành các kiểm định bổ sung Để lựa chọn giữa

mô hình Pooled và mô hình FEM, tác giả dựa vào kiểm định F test, với giả thuyết được phát biểu như sau:

Giả thuyết H0: Mô hình Pooled phù hợp hơn mô hình FEM

Giả thuyết H1: Mô hình Pooled kém phù hợp hơn mô hình FEM

Trị thống kê F được phần mềm tự tính toán, với mức ý nghĩa α thì miền bác

bỏ là: F > Fα;(k-1,n-k) hay p_value < α Nếu p_value < α thì bác bỏ giả thuyết H0 chấp nhận H1, tức là mô hình Pooled kém phù hợp hơn so với mô hình FEM Khi

đó, chọn mô hình FEM cho các phân tích tiếp theo

Để lựa chọn giữa mô hình FEM và mô hình REM, tác giả dựa vào kiểm định Hausman test, với với giả thuyết được phát biểu như sau:

Giả thuyết H0: υi và các biến độc lập không có tương quan

Giả thuyết H1: υi và các biến độc lập có tương quan

Giá trị chi-square sẽ được phần mềm tính toán với mức ý nghĩa là p_value Nếu p_value < α thì bác bỏ giả thuyết H0 chấp nhận H1, tức là mô hình REM kém phù hợp hơn so với mô hình FEM Khi đó, chọn mô hình FEM cho các phân tích

Trang 37

tiếp theo Phần kiểm định lựa chọn mô hình và các phân tích tiếp theo được tác giả trình bày chi tiết trong chương 4 của luận văn

Trang 38

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG SỐ THU THUẾ TẠI ĐỊA BÀN CÁC TỈNH

MIỀN ĐÔNG NAM BỘ 3.1 Tổng quan về vị trị địa lý, tình hình kinh tế xã hội các tỉnh miền Đông Nam Bộ

Căn cứ vào Nghị định 92/2006/NĐ-CP, ngày 07 tháng 09 năm 2006 của Chính Phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội

và Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 01 năm 2008 về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP thì Nam Bộ của Việt Nam được chia thành hai phần: Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long Hiện nay, vùng Đông Nam Bộ gồm 5 tỉnh và 1 thành phố: Bà Rịa-Vũng tàu, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh và Thành phố Hồ chí Minh Về vị trí địa lý, Đông Nam

Bộ hội tụ đầy đủ các yếu tố để phát triển toàn diện cả về kinh tế và xã hội Đông Nam Bộ là khu vực tập trung nhiều đô thị, là vùng giàu tài nguyên đất đai, rừng và khoáng sản Phía Tây và Tây-Nam giáp đồng bằng sông Cửu Long nơi có tiềm năng lớn về nông nghhiệp, là vựa lúa lớn nhất nước ta; phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông, giàu tài nguyên hải sản, dầu mỏ và khí đốt và thuận lợi xây dựng các cảng biển tạo ra đầu mối liên hệ kinh tế thương mại với các nước trong khu vực và quốc tế; phía Tây Bắc giáp với Campuchia có cửa khẩu Tây Ninh tạo mối giao lưu rộng rãi với Campuchia, Thái Lan, Lào, Mianma Với vị trí này đến nay Đông Nam

Bộ đã hình thành và hoàn thiện mạng lưới giao thông đường bộ, đường thủy và đường hàng không kết nối với nhiều địa phương, nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á

Về đất đai, diện tích đất tự nhiên của vùng là 23.564 km2, chiếm 7,3% diện tích của cả nước Đất nông nghiệp là một thế mạnh của vùng Trong tổng quỹ đất có 27,1% đang ược sử dụng vào mục đích nông nghiệp Có 12 nhóm đất với 3 nhóm đất rất quan trọng là đất nâu đỏ trên nền bazan, đất nâu vàng trên nền bazan, đất xám trên nền phù sa cổ Ba nhóm đất này có diện tích lớn và chất lượng tốt thuận lợi cho nhiều loại cây trồng phát triển như cao su, cà phê, điều, lạc, mía, đỗ tương

và cây lương thực Đất chưa sử dụng chiếm 22,7% diện tích đất tự nhiên (so với cả

Trang 39

nước là 42,98%) Tỷ lệ đất sử dụng trong nông nghiệp, lâm nghiệp, đất chuyên dùng và đất thổ cư khá cao so với mức trung bình của đất nước Về tiềm năng phát triển, khu vực Đông Nam Bộ có các sông lớn như hệ thống sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, sông Thị Vải…Sông Sài Gòn và sông Thị Vải là nơi tập trung các cảng chính của khu vực như cảng Sài Gòn, cảng Cái Mép, cảng Thị Vải Đây vừa là điều kiện để phát triển kinh tế của vùng, vừa là đầu mối trung chuyển cho các vùng lân cận

Về tài nguyên khoáng sản, trữ lượng dầu khí của vùng được dự báo là 4-5 tỷ tấn dầu và 485 - 500 tỷ m3 khí có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế vùng và kinh tế quốc dân Quặng bôxit trữ lượng khoảng 420 triệu tấn phân bố ở Bình Phước, Bình Dương Các khoáng sản khác như đá ốp lát (chiếm 27% giá trị khoáng sản trên đất liền) phân bố ở Tánh Linh (Bình Thuận), Phú Túc (Đồng Nai), cao lanh trữ lượng xấp xỉ 130 triệu tấn phân bố ở Bình Dương, Bình Phước; mỏ cát thuỷ tinh phân bố ở Bình Châu (Bà Rịa - Vũng Tàu) cung cấp nguyên liệu cho nhà máy sản xuất thuỷ tinh của vùng và cho xuất khẩu

Về du lịch, Đông Nam Bộ được đánh giá cao về tiềm năng du lịch với Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm tổ chức các sự kiện kinh tế chính trị lớn của cả nước Khu vực này cũng có bờ biển trải dài, bãi biển đẹp và nhiều khu nghỉ mát nổi tiếng như: Bãi Sau, bãi Dứa (Vũng Tàu); khu nghỉ dưỡng Hồ Cốc, khu du lịch Bình Châu (Bà Rịa) Bờ biển dài 350 km với vùng biển Ninh Thuận - Bà Rịa Vũng Tàu là một trong bốn ngư trường trọng điểm của nước ta với trữ lượng cá khoảng 290-704 nghìn tấn chiếm 40% trữ lượng cá của vùng biển phía Nam Diện tích có khả năng nuôi trồng thuỷ sản là khoảng 11,7 nghìn ha là điều kiện để Đông Nam Bộ phát triển các chương trình đánh bắt xa bờ, nuôi trồng thủy sản

Về kinh tế, Vùng Đông Nam Bộ được xác định là vùng kinh tế đông lực quan trọng hàng đầu của nước ta, là “cửa ngõ” kinh tế và cầu nối của Việt Nam ra thế giới Đến nay, vùng Đông Nam bộ chiếm khoảng 40% GDP của cả nước, đóng góp gần 60% thu ngân sách quốc gia, GDP tính theo đầu người cao gần gấp 2,5 lần mức bình quân cả nước; có tỷ lệ đô thị hóa cao nhất nước; tốc độ tăng trưởng kinh tế của

Trang 40

vùng luôn cao hơn khoảng 1,4 lần đến 1,6 lần tốc độ tăng trưởng bình quân chung

cả nước Được sự quan tâm và chú trọng đầu tư của Chính phủ, Đông Nam Bộ là vùng có hệ thống kết cấu hạ tầng khá đồng bộ, tập trung các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học, trung tâm y tế; nguồn nhân lực dồi dào và có kỹ năng, do đó là địa bàn có môi trường đầu tư hấp dẫn Trong vùng đã hình thành mạng lưới đô thị vệ tinh, trong một không gian mở thông thoáng, liên kết với nhau thông qua các tuyến trục và vành đai đang được xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh - hạt nhân phát triển vùng - là trung tâm đầu mối dịch vụ và thương mại tầm cỡ khu vực và quốc tế, đặc biệt là dịch vụ du lịch, dịch vụ tài chính, ngân hàng, viễn thông, dịch vụ cảng… Vùng Đông Nam Bộ còn là "Trung tâm hội nhập quốc tế" lớn nhất nước với Cảng biển trung chuyển quốc tế Cái Mép - Thị Vải (đã định hình), Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và Cảng hàng không trung chuyển quốc tế Long Thành (sẽ được xây dựng)

Về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, theo thống kê từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), vùng kinh tế trọng điểm phía Nam hiện có 12.000

dự án với tổng vốn đầu tư hơn 145 tỷ USD Dự kiến, trong giai đoạn 2016 – 2020, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào vùng sẽ đạt gần 60 tỷ USD, chiếm hơn một nửa tổng vốn FDI của cả nước Qua đó, có thể thấy rõ sự vượt trội của khu vực này về năng suất và tăng trưởng so với các vùng còn lại khi chiếm khoảng 50% tổng giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước

3.2 Thực trạng những yếu tố ảnh hưởng đến số thu thuế các tỉnh miền Đông Nam Bộ

3.2.1 Thực trạng về số thu thuế

Thuế là công cụ kinh tế quan trọng để Chính Phủ điều tiết vĩ mô nền kinh tế

và là nguồn thu chính của Ngân sách quốc gia/địa phương Một trọng những yêu cầu quan trọng của chính sách thuế là phải thu đúng, thu đủ, thu kịp thời theo quy định của pháp luật Trong những năm qua, sự biến động của kinh tế thế giới đã tác động không nhỏ đến kinh tế Việt Nam và các kinh tế các vùng Việc Việt Nam hội nhập sâu hơn với kinh tế thế giới đã tạo ra cả cơ hội phát triển, nhưng cũng không ít

Ngày đăng: 03/01/2019, 00:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w