LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sỹ “Đánh giá thu nhập và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Cà Mau năm 2016” được hoàn thành dựa
Trang 1ĐÀO PHONG VŨ ĐÀO PHONG VŨ
ĐÁNH GIÁ THU NHẬP VÀ PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP
CỦA HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH CÀ MAU NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sỹ “Đánh giá thu nhập và phân tích các
nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Cà Mau năm 2016” được hoàn thành dựa trên kết quả nghiên cứu của bản thân tôi, được thực
hiện tại tỉnh Cà Mau, số liệu trung thực, có trích dẫn nguồn gốc rõ ràng và kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác
TP Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2018
Tác giả thực hiện
ĐÀO PHONG VŨ
Trang 4
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG……….………… 01
1.1 Lý do chọn đề tài ……… 01
1.2 Mục tiêu nghiên cứu ……… 02
1.3 Câu hỏi nghiên cứu……… 02
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……… 03
1.5 Phương pháp nghiên cứu ……… 03
1.6 Đóng góp của đề tài nghiên cứu ……… 03
1.7 Kết cấu của đề tài ……… ……… 04
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT……… 05
2.1 Các khái niệm ……… 05
2.1.1 Hộ gia đình ……… 05
2.1.2 Thu nhập ……… 05
2.1.3 Khái niệm bất bình đẳng trong phân phối thu nhập……… 07
2.1.4 Đo lường bất bình đẳng trong phân phối thu nhập ……… 07
2.1.4.1 Hạng (Rank) ……… 08
2.1.4.2 Tỉ số Kuznet (Kuznets Ratios) ……… 08
2.1.4.3 Hệ số Gini (Gini Concentration Ratio) ……… 08
2.1.4.4 Tiêu chuẩn”40%” của Ngân hàng thế giới ……… 09
2.1.4.5 Hệ số chênh lệch về TN giữa nhóm hộ giàu và nhóm hộ nghèo 10
Trang 52.2 Các các công trình nghiên cứu trước đây ……… 10
2.3 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu……… 14
2.3.1 Tổng hợp các nghiên cứu trước ……… 14
2.3.2 Mô hình nghiên cứu…….……… 16
2.3.3 Đề xuất giả thuyết nghiên cứu……… 17
2.4 Tổng quan về tỉnh Cà Mau…… ……… 24
2.4.1 Vị trí địa lý ……… 24
2.4.2 Đơn vị hành chính ……… 25
2.4.3 Khí hậu, chế độ thủy văn ……… 26
2.5 Nguồn nhân lực ……… 27
2.5.1 Dân số ……… 27
2.5.2 Lao động ……… 27
2.6 Điều kiện kinh tế ……… 27
2.7 Về văn hóa - Xã hội ……… 28
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ……… 30
3.1 Quy trình nghiên cứu của đề tài được thực hiện qua các bước sau 30 3.2 Thiết kế nghiên cứu ……… 31
3.2.1 Địa bàn nghiên cứu ……… 31
3.2.2 Lựa chọn dữ liệu thứ cấp đề tài sử dụng các dữ liệu như sau … 31
3.3 Phương pháp phân tích số liệu ……… 32
3.3.1 Phương pháp thống kê mô tả……… ………… 32
3.3.2 Phương pháp bảng chéo ……… ……… 32
3.3.3 Phương pháp hồi quy tương quan ……… ………… 33
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU……….……… 35
4.1 Tình hình lao động và thu nhập………… ……… 35
4.1.1 Lao động và cơ cấu phân theo khu vực, lao động dự trữ ……… 35
Trang 64.1.2 Lao động phân theo ngành nghề ……… 37
4.1.3 Thu nhập………… ……… 41
4.1.3.1 Thu nhập bình quân đầu người ……… 41
4.1.3.2 Cơ cấu nguồn thu ……… 45
4.2 Đo lường mức sống ……… 47
4.2.1 Chuẩn 40% của Ngân hàng thế giới ……… 48
4.2.2 Hệ số Gini ……… 49
4.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ……… 50
4.3.1 Kiểm định các biến độc lập ……… 52
4.3.2 Kết quả chạy mô hình ……… 53
4.3.3 Giải thích kết quả ……… 53
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH……… 57
5.1 Kết luận ……… 57
5.2 Hàm ý chính sách……… 59
5.3 Hạn chế nghiên cứu của đề tài ……… …… 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO
CÁC PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TN: Thu nhập
BQ: Bình quân
TNBQ: Thu nhập bình quân
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu long
NLT: Nông, lâm nghiệp và thủy sản
WB: World Bank - Ngân hàng thế giới
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu trước đây ……… 14
Bảng 2.2: Danh sách các biến đưa vào mô hình hồi quy các nhân tố ảnh
Bảng 2.3: Diện tích tự nhiên, dân số trung bình và mật độ dân số chia
theo đơn vị hành chính tỉnh Cà Mau năm 2016 ……… 25 Bảng 3.1: Số mẫu điều tra KSMS năm 2016 tỉnh Cà Mau ……… 31
Bảng 4.1: Lao động và cơ cấu phân theo khu vực và lao động dự trữ qua
các năm tỉnh Cà Mau ……… 35 Bảng 4.2: Số người trong độ tuổi lao động có hoạt động và không hoạt
động kinh tế qua các năm tỉnh Cà Mau (người) ……… 36 Bảng 4.3: Tỷ lệ dân số 15 tuổi trở lên làm việc thời gian chiếm nhiều nhất
chia theo ngành nghề tỉnh Cà Mau năm 2016 (%) ……… 38
Bảng 4.4: Thu nhập BQ người/tháng qua các năm của cả nước, khu vực
ĐBSCL và tỉnh Cà Mau (1.000 đồng) ……… 42
Bảng 4.5: Thu nhập bình quân chung và theo giới tính qua các năm tỉnh
Cà Mau (1.000 đồng) ……… 45 Bảng 4.6: Cơ cấu nguồn thu qua các năm tỉnh Cà Mau (%) ………….… 47 Bảng 4.7: Tiêu chuẩn “40%” của Ngân hàng thế giới qua các năm tỉnh Cà
Bảng 4.8: Hệ số Gini qua các năm chung cả nước, ĐBSCL và tỉnh Cà
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Trang Hình 2.1 Biểu đồ mô phỏng đường cong Lorenz ……… 9 Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu tác giả đề xuất ……… 16
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu tác giả đề xuất ……… 30 Hình 4.1: Dân số 15 tuổi trở lên làm công việc chiếm nhiều thời gian
nhất trong 12 tháng qua chia theo loại hình công việc năm 2016 (%) …… 41
Hình 4.2: Thu nhập bình quân đầu người qua các năm của cả nước,
ĐBSCL và tỉnh Cà Mau (1.000 đồng) ……… 44
Hình 4.3: Thu nhập bình quân qua các năm chung và theo giới tính tỉnh
Cà Mau (1.000 đồng) ……… 45 Hình 4.4: Cơ cấu nguồn thu qua các năm tỉnh Cà Mau (%) ……… 47
Hình 4.5: Đồ thị về phân phối của biến thu nhập BQ người/tháng của hộ 51
Hình 4.6: Đồ thị biến đổi biến thu nhập BQ bằng cách lấy logarit cơ số e
Trang 10CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã trải qua những chuyển biến tích cực trong đời sống, cũng như diễn biến về Kinh tế - Xã hội Nền kinh tế của đất nước phải đối mặt trước những khó khăn, thách thức trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu Việc nghiên cứu phân tích về thu nhập và các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập, đời sống của người dân trên địa bàn tỉnh Cà Mau nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng, xác định được nguyên nhân, giúp cho Đảng và Chính quyền các cấp hoạch định các chính sách, tìm ra các giải pháp giúp người dân nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của người dân
Trong tình hình nền kinh tế biến động như hiện nay, vấn đề được đặt ra là các nhà lãnh đạo các cấp quan tâm chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng Thông thường khi GDP bình quân đầu người tăng, chúng ta chưa đủ yếu tố khẳng định rằng thu nhập và đời sống của người dân tăng lên Điều đó chưa phản ánh được lộ trình phát triển, hay chưa đánh giá kết quả hoạch định chính sách đúng đắn trong thời gian qua
Tăng trưởng và phát triển kinh tế quyết định sự thịnh vượng của quốc gia nói chung và của một địa phương nói riêng Nói đến tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế, của toàn xã hội, mục tiêu cuối cùng là phát triển để nâng cao đời sống và thu nhập của người dân Chính vì vậy, việc nghiên cứu phân tích thu nhập và tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập, từ đó đánh giá, đề ra các hàm ý chính sách nhằm nâng cao thu nhập, có ý nghĩa hết sức to lớn đối với cả nước nói chung và của tỉnh
Cà Mau nói riêng
Cà Mau được thành lập từ năm 1997, đến nay đã trở thành đô thị loại II trực thuộc tỉnh Trong nhiều năm qua vấn đề tăng trưởng kinh tế luôn được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm với nhiều dự án lớn được kêu gọi đầu tư, với quyết tâm phát
Trang 11triển Cà Mau trở thành đô thị loại I vào năm 2020 Lộ trình đô thị hóa đã tác động mạnh mẽ tới các lĩnh vực và tác động trực tiếp đến đời sống, thu nhập của người dân trên địa bàn tỉnh nhà Tuy nhiên, do quá tập trung thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nên
ở một góc độ nào đó, các chính sách phát triển đã bỏ qua hoặc còn đánh giá thấp vai trò của con người Các nhu cầu cần thiết cho sinh hoạt của đa số người dân chưa được quan tâm nhất là người dân vùng nông thôn
Trong bối cảnh hiện nay việc đánh giá, phân tích thực trạng thu nhập của hộ gia đình là việc làm cần thiết Với mong muốn đề xuất các giải pháp nâng cao thu
nhập của hộ gia đình trên địa bàn tỉnh, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu “Đánh giá
thu nhập và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Cà Mau năm 20016” làm luận văn tốt nghiệp
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá thu nhập và sự bất bình đẳng về thu nhập của người dân giữa hai khu vực thành thị và nông thôn qua các năm 2012, 2014 và năm
2016 Đồng thời phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Cà Mau Từ đó tác giả đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao thu nhập của hộ gia đình trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
(1) Những nhân tố nào ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Cà Mau?
(2) Chiều hướng tác động của các nhân tố đến thu nhập của hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Cà Mau như thế nào?
(3) Mức độ tác động của những nhân tố đến thu nhập của hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Cà Mau như thế nào?
(4) Những hàm ý có thể đưa ra để nâng cao thu nhập của hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Cà Mau?
Trang 121.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Cà Mau
Phạm vị nghiên cứu: Hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Cà Mau
Thời gian nghiên cứu của đề tài: Đề tài được tác giả nghiên cứu và thực hiện từ tháng 10 năm 2017 đến tháng 5 năm 2018
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Định tính: Thảo luận nhóm để chỉnh sửa, góp ý các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập đưa vào mô hình hồi quy
Định lượng: Tác giả sử dụng phần mềm STATA xử lý dữ liệu điều tra mức sống dân cư của tỉnh Cà Mau để hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập trên địa bàn tỉnh Cà Mau
Dùng dữ liệu thứ cấp từ các tài liệu có sẵn, kết quả điều tra mức sống dân cư của Tổng cục Thống kê, niên giám Thống kê tỉnh; dữ liệu sơ cấp sử dụng phiếu điều tra mức sống hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Cà Mau (gồm 46 địa bàn và 690 hộ/năm),… đồng thời tác giả sử dụng đường cong Lorenz, hệ số Gini, tiêu chuẩn
“40” World Bank để phân tích, đánh giá
1.6 Đóng góp của đề tài
Nghiên cứu về thu nhập của hộ gia đình là vấn đề khó vì việc thu thập thông tin khá phức tạp, những thông tin thu thập là thông tin quá khứ, thêm vào đó, do nhận thức, đối tượng được phỏng vấn đôi khi cố tình cung cấp thông tin không chính xác Từ năm 1994 trở lại đây, vấn đề nghiên cứu TN của hộ trên cả nước được thực hiện khá nhiều thông qua cuộc điều tra thống kê như “Điều tra đa mục tiêu”,
“Điều tra mức sống” và “Khảo sát mức sống hộ gia đình” Tuy nhiên, trên địa bàn tỉnh hiện nay, chưa có nghiên cứu nào đánh giá thu nhập và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình nhằm đề xuất một số hàm ý chính sách nâng cao thu nhập của hộ gia đình trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua
Trang 131.7 Kết cấu của đề tài
Chương 1: Giới thiệu chung
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Kết luận chương 1
Chương này tác giả trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu, câu hỏi và phương pháp nghiên cứu Đối tượng, phạm vi, thời gian và bố cục của đề tài cũng được trình bày trong chương này Chương tiếp theo sẽ trình bày tổng quát các vấn đề lý thuyết nhằm hình thành các giả thuyết để đưa vào mô hình nghiên cứu
Trang 14(1) Cùng ăn, ở chung trong hộ 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua;
(2) Có chung quỹ thu chi, nghĩa là mọi khoản thu nhập của thành viên đều được đóng góp vào ngân sách chung của hộ và mọi khoản chi tiêu của họ đều lấy từ ngân sách đó
Có nhiều kiểu hộ dân cư:
- Hộ dân cư 2 thế hệ, gồm bố mẹ và các con của họ
- Hộ dân cư nhiều thế hệ, cấu thành từ chủ hộ, vợ và các con của chủ hộ; bố/mẹ chủ hộ, cháu và những người khác, mà họ có thể có quan hệ huyết thống hoặc không, cùng ăn ở chung trong một chỗ ở với thời gian 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua
- Hộ dân cư gồm hai, ba cặp vợ chồng và không có con cái
- Hộ độc thân
2.1.2 Thu nhập
Thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các thành viên trong hộ nhận được trong một thời gian nhất định (12 tháng qua), bao gồm: (1) Thu nhập từ tiền lương, tiền công; (2) Thu từ sản xuất NLT (trừ chi phí sản
Trang 15xuất và thuế sản xuất); (3) Thu từ sản xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thủy sản (trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (4) Thu khác tính vào TN (không tính tiền rút tiết kiệm, bán tài sản, vay thuần tuý, thu nợ và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được)
Các khoản TN nói trên được hiểu như sau:
- Thu nhập từ tiền công, tiền lương là toàn bộ số tiền công, tiền lương, tiền lễ, tết, các khoản thưởng, đồng phục, ăn trưa, phụ cấp công tác, trợ cấp ốm đau, trợ cấp tai nạn lao động, trợ cấp thai sản, và giá trị hiện vật quy thành tiền mà người lao động nhận được từ hoạt động làm công ăn lương trong năm nghiên cứu
- Thu nhập từ sản xuất NLT (gọi chung là nông nghiệp) của hộ là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ thuế và chi phí sản xuất mà hộ gia đình nhận được từ hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản hộ tự làm trong năm nghiên cứu Thu nhập từ sản xuất NLT của hộ bao gồm: thu nhập từ trồng trọt, thu nhập từ chăn nuôi, thu nhập từ hoạt động dịch vụ nông nghiệp, thu nhập từ hoạt động săn bắt, thuần dư ng động vật hoang dã, thu nhập từ lâm nghiệp và thu nhập từ các hoạt động đánh bắt và nuôi trồng thủy sản
- Thu nhập từ sản xuất kinh doanh ngành phi NLT (gọi chung sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp) của hộ là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ thuế và chi phí sản xuất mà hộ gia đình nhận được từ hoạt động sản xuất công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ hộ tự làm trong năm nghiên cứu
- Thu khác được tính vào thu nhập của hộ là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền mà hộ gia đình nhận được từ các khoản thu khác được tính vào thu nhập như thu cho biếu, mừng, lãi tiết kiệm,… trong năm nghiên cứu
Các khoản thu không tính vào thu nhập gồm rút tiền tiết kiệm, thu nợ, bán tài sản, vay nợ, tạm ứng và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được do liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh
Trang 16Như vậy, thu nhập của hộ gia đình là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, làm công ăn lương, hoạt động trợ cấp của Nhà nước và hoạt động trợ giúp xã hội mà hộ nhận được trong một thời gian nhất định (thường là một năm)
Thu nhập
của hộ =
Tổng thu nhập của hộ -
Tổng CP vật chất và DV
sử dụng vào hoạt động SXKD của hộ
2.1.3 Khái niệm về bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
Trong phân phối TN là có sự khác biệt nhau lớn về tình hình TN giữa các nhóm người, khu vực khác nhau trong xã hội là thể hiện sự bất bình đẳng
Sự bất bình đẳng luôn diễn ra mọi lúc, mọi nơi dưới nhiều hình thức khác nhau trong đời sống hàng ngày Trong xã hội có bất cứ một phân biệt nào như: phân biệt màu da, phân biệt chủng tộc, phân biệt tôn giáo, phân biệt nguồn gốc, khuynh hướng chính trị,… làm ảnh hưởng và làm tổn hại đến cơ hội tiếp cận hay đối xử không công bằng trong công việc và nghề nghiệp có sự khác nhau thì được coi là có sự bất bình đẳng
2.1.4 Đo lường bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
Tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập ở các lãnh thổ khác nhau, biểu hiện với những mức độ cũng khác nhau Việc cải thiện sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập đã trở thành những vấn đề nóng và trọng tâm trong quá trình phát triển kinh tế được quan tâm ở hầu hết các nước
Thước đo bất bình đẳng trong thu nhập đã được các nhà kinh tế và tổ chức thế giới sử dụng phổ biến trong phân tích và nghiên cứu kinh tế là hệ số Gini, đường cong Lorenz, hệ số chênh lệch thu nhập, tiêu chuẩn ngân hàng thế giới (WB) và chỉ
số phát triển giới
Trang 17µ: thu nhập bình quân đầu người
Ym: Thu nhập của người giàu nhất
Y1: Thu nhập của người nghèo nhất
Ý nghĩa:
- Rank cao: bất bình đẳng cao
- Rank thấp: công bằng hơn
2.1.4.2 Tỉ số Kuznet (Kuznets Ratios)
Tỷ số giữa thu nhập của X% giàu nhất trên thu nhập của Y% người nghèo nhất
Độ lệch tuyệt đối trung bình (M)
M
1
µ: Thu nhập bình quân đầu người
n: Tổng số nhóm hộ
nj: Số nhóm hộ thứ j
Yj: Thu nhập của người thứ j
2.1.4.3 Hệ số GINI (Gini Concentration Ratio)
Hệ số GINI (hệ số Logen) được tính theo công thức:
G = 1 -
∑Pi (Fi + Fi -1)
10.000 Trong đó:
Trang 18Hình 2.1 Biểu đồ mô phỏng đường cong Lorenz
Nguồn: Lý thuyết mô phỏng đường cong Lorenz
Khi đường cong Lorenz trùng với đường thẳng 450 (đường bình đẳng tuyệt đối) thì hệ số Gini bằng 0 (vì A=0), xã hội có sự phân phối thu nhập tuyệt đối Nếu đường cong Lorenz trùng với trục hoành, hệ số Gini bằng 1 (vì B=0), xã hội có sự phân phối bất bình đẳng tuyệt đối Như vậy 0 ≤ G ≤ 1
2.1.4.4 Tiêu chuẩn “40%” của Ngân hàng Thế giới
Tỷ lệ thu nhập chiếm trong tổng thu nhập dân cư của 40% dân số có mức trung bình thấp nhất trong xã hội Có một số bất bình đẳng như sau:
Trang 19- Thu nhập 40% của dân số có mức TN thấp nhất trong xã hội chiếm tỷ lệ lớn hơn 17% của tổng TN thì bất bình đẳng không cao
- Thu nhập 40% của dân số có mức TN thấp nhất trong xã hội chiếm tỷ lệ từ 12% - 17% của tổng TN thì bất bình đẳng tương đối
- Thu nhập 40% của dân số có mức TN thấp nhất trong xã hội chiếm tỷ lệ nhỏ hơn 12% của tổng TN thì bất bình đẳng cao
2.1.4.5 Hệ số chênh lệch về thu nhập giữa nhóm hộ giàu và nhóm hộ nghèo
Người ta chia tổng số hộ ra thành 5 nhóm với số hộ bằng nhau (mỗi nhóm có
số hộ bằng 20% tổng số hộ), theo mức thu nhập bình quân đầu người như sau:
2.2 Các công trình nghiên cứu trước đây
- Hoàng Văn Kình, Bob Baulch, Lê Quí Đăng, Nguyễn Văn Đông, Ngô Doãn Goắc và Nguyễn Ngọc Khoa (2001) trong nghiên cứu “Yếu tố quyết định thu nhập
từ lao động” phương pháp phân tích hồi quy được sử dụng Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình:
+ Thu nhập từ lao động bình quân đầu người của hộ gia đình phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập/giờ lao động, tiếp đó là phụ thuộc vào số giờ làm việc bình quân
và tỷ lệ người làm việc
+ Vùng có ảnh hưởng mạnh tới TN trên giờ lao động TN trên giờ lao động tăng đáng kể khi chuyển dần từ Bắc vào Nam, với tỷ lệ cao nhất tại vùng Đông Nam Bộ (có trung tâm là TP Hồ Chí Minh) Mặc dù có sự tăng trưởng kinh tế đáng
kể tại Hà Nội, thu nhập/giờ lao động ở vùng đồng bằng Sông Hồng tăng không
Trang 20nhanh như các vùng khác trong giai đoạn 1993 - 1998 Vì vậy, vị trí tính theo thu nhập của vùng này đã giảm đi Thời gian làm việc bình quân không khác nhau nhiều giữa các vùng, mặc dù có bằng chứng về tình trạng thiếu việc làm ở các vựa lúa đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long
+ Chênh lệch giữa khu vực thành thị và nông thôn đã tăng lên Sự khác nhau này hoàn toàn do sự tăng lên nhanh hơn thu nhập/giờ lao động ở khu vực thành thị
so với nông thôn; thời gian làm việc tại các vùng nông thôn trên thực tế tăng nhanh hơn so với các đô thị trung tâm, làm giảm nhẹ sự khác nhau về mức thu nhập giữa khu vực thành thị và nông thôn Sự gia tăng mức chênh lệch trong thu nhập là điều
lý giải xu hướng di cư từ các vùng nông thôn tới các thành phố Đây là nguyên nhân làm gia tăng sự không công bằng về TN ở Việt Nam trong thời kỳ 1993 - 1998 + Việc tiếp cận nhiều hơn với thị trường cũng là yếu tố rất quan trọng Các hộ gia đình sống tại những vùng có đường ô tô đi được cả năm, hoặc ít nhất là có chợ họp thường xuyên, dường như có thu nhập cao hơn những hộ sống tại những vùng
bị tách biệt (kể cả tách biệt một số tháng trong năm) với cả nước
+ Giáo dục là yếu tố hữu hiệu trong việc tăng thu nhập đặc biệt ở mức trung học cơ sở Điều này được thấy khá rõ trong nghiên cứu của các tác giả, mặc dù các phân tích dựa vào hộ gia đình hơn là dựa vào cá nhân Với trình độ học vấn cao hơn, người dân có xác xuất làm việc cao hơn và có thu nhập/giờ lao động cũng cao hơn
+ Dân tộc và tôn giáo đều tác động tương quan đến TN Dân tộc Hoa có mức thu nhập gần gấp đôi so với các hộ thuộc dân tộc khác Ngược lại, các dân tộc thiểu
số khác nghèo hơn đáng kể so với dân tộc Kinh Nguyên nhân là do trình độ học vấn của họ thấp và họ sống ở vùng sâu, vùng xa chứ không phải là do yếu tố dân tộc Các hộ theo các tôn giáo nhỏ có thu nhập thấp hơn so với hộ theo đạo Phật hoặc không theo tôn giáo nào Vì vậy thu nhập có thể tăng khi đầu tư vào đường giao thông kết nối với các làng ở vùng sâu, vùng xa; vào trình độ học vấn; bằng việc cho
Trang 21phép di cư tự do hơn và bằng việc duy trì tăng trưởng kinh tế dẫn đến nhu cầu lao động vẫn giữ ở mức cao
- Lê Cảnh Dũng, Dương Ngọc Thành, Nguyễn Văn Sánh (2005) trong nghiên cứu “Tác động đô thị hóa đến đời sống nông hộ: Nghiên cứu trường hợp phường Long Tuyền, thành phố Cần Thơ” nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp tần số và phương pháp SWOT để đánh giá Kết quả nghiên cứu cho thấy thu nhập bình quân của ngành nghề phi nông nghiệp chưa cao, có sự chuyển dịch giữa các ngành nghề nhưng chưa rõ nét diện tích đất nông nghiệp thu hẹp lại, có nhiều hiện tượng thất nghiệp xảy ra nhất là nhóm hộ nghèo và cận nghèo đặc biệt là phụ nữ
- Nguyễn Trường Huy, Lê Tấn Nghiêm, Mai Văn Nam (2005) trong báo cáo
“Thu nhập và đa dạng hóa thu nhập của nông hộ ở đồng bằng sông Cửu Long” phương pháp hồi quy tương quan được phân tích Kết quả phân tích thể hiện TN của nông hộ chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp Trong đó: lĩnh vực trồng trọt chiếm 37% trong tổng thu nhập, kế đến là thủy sản chiếm 14% và chăn nuôi chiếm 8% Ngoài ra nông hộ còn tham gia vào hoạt động phi NLT như làm thuê hưởng lương hoặc tiền công, tự kinh doanh chiếm đến 40% Bên cạnh đó, các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập cũng chính là các yếu tố hạn chế đối với khả năng đa dạng hóa
TN đối với nông hộ như: tỷ lệ lao động, diện tích đất sản xuất, trình độ văn hóa, vốn đầu tư,…
- Đề tài tốt nghiệp thạc sỹ của tác giả Lê Đăng Thanh Phong năm 2009 nghiên cứu phân tích “Đánh giá mức thu nhập và các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập thành thị và nông thôn của thành phố Cần Thơ từ năm 2004 đến năm 2008”, trong
đề tài phân tích tác giả đã chỉ ra được sự bất bình đẳng trong thu nhập Từ đó tác giả
đã đưa ra một số gợi ý, chính sách nhằm nâng cao thu nhập và phân phối thu nhập trên địa bàn thành phố Cần Thơ trong thời gian tới
Trong đề tài nghiên cứu này tác giả sử dụng biến thu nhập bình quân đầu người trên tháng làm biến phụ thuộc và các biến độc lập như: khu vực nông thôn, thành thị, tuổi chủ hộ (năm), qui mô hộ (người), giờ lao động bình quân (giờ/tuần),
Trang 22bằng cấp cao nhất của chủ hộ (trình độ), thu nhập được cho biếu tặng (nghìn đồng), thu nhập từ tiền lương tiền công (nghìn đồng), thu nhập từ ngành nghề sản xuất kinh doanh dịch vụ (nghìn đồng), thu nhập từ trồng trọt (nghìn đồng), tỷ lệ lao động trong hộ gia đình (%) để đưa vào mô hình hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập bình quân đầu người trên tháng của người dân thành phố Cần Thơ
- Đề tài tốt nghiệp thạc sỹ của tác giả Võ Thành Nhân năm 2011 “Phân tích thu nhập của hộ gia đình ở tỉnh Quảng Ngãi” đề tài nghiên cứu tác giả đã chỉ ra được những bất cập trong thu nhập, sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập giữa các vùng và khu vực, sự khác biệt về thu nhập giữa các vùng địa lý, sự khác biệt về thu nhập của từng loại hộ, thành phần dân tộc,… từ đó tác giả cũng nêu ra một số gợi ý, chính sách nhằm nâng cao TN và thực hiện công bằng trong phân phối thu nhập trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Trong đề tài nghiên cứu này tác giả sử dụng biến thu nhập của hộ gia đình làm biến phụ thuộc và các biến độc lập như: trình độ học vấn, giới tính, tuổi tác, số lao động và thời gian làm việc, số hoạt động kinh tế, quy mô vốn đầu tư, quy mô đất sản xuất để đưa vào mô hình hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
- Đề tài tốt nghiệp thạc sỹ của tác giả Vũ Trọng Nghĩa năm 2017 “Nghiên cứu Thống kê bất bình đẳng thu nhập của cư dân Việt Nam trong giai đoạn 2002 - 2014”
đề tài này tác giả đã nghiên cứu: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thu nhập và bất bình đẳng thu nhập của dân cư ở Việt Nam; Đề xuất hệ thống chỉ tiêu thống kê, đánh giá bất bình đẳng thu nhập và các nhân tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng thu nhập của dân cư Việt Nam; Đánh giá thực trạng bất bình đẳng thu nhập của dân cư Việt Nam phân theo khu vực thành thị, nông thôn và cả nước giai đoạn 2002 - 2014; Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến bất bình đẳng thu nhập của dân cư Việt Nam giai đoạn 2002 - 2014 Từ đó tác giả đề xuất các giải pháp để tăng thu nhập, giảm sự bất bình đẳng và đảm bảo công bằng xã hội trong dân cư nước ta giai đoạn tiếp theo
Trang 23Trong đề tài nghiên cứu này tác giả đã dùng biến phụ thuộc là thu nhập bình quân đầu người một tháng thực tế năm 2014 và biến độc lập gồm: Quy mô hộ gia đình, tỷ số phụ thuộc, tham gia hội đoàn thể, lao động bình quân, dân tộc chủ hộ, trình độ học vấn chủ hộ, việc làm chính của chủ hộ, giới tính của chủ hộ, có tài khoản ngân hàng, khu vực thành thị và nông thôn, vùng (6 vùng kinh tế)
2.3 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
2.3.1 Tổng hợp các nghiên cứu trước:
Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu trước đây
từ lao động
(1) Phụ thuộc vào số giờ làm việc bình quân
và tỷ lệ người làm việc;
(2) Vùng;
(3) Khu vực thành thị và nông thôn;
(4) Tiếp cận nhiều hơn với thị trường;
hộ ở đồng bằng sông Cửu Long
(1) Khu vực nông thôn, thành thị;
(2) Tuổi chủ hộ (năm);
(3) Qui mô hộ (người);
(4) Giờ lao động bình quân (giờ/tuần);
Trang 24và nông thôn của thành phố Cần Thơ từ năm 2004 đến
năm 2008
(5) Bằng cấp cao nhất của chủ hộ (trình độ);
(6) Thu nhập được cho biếu tặng (nghìn đồng), thu nhập từ tiền lương tiền công (nghìn đồng), thu nhập từ ngành nghề sản xuất kinh doanh dịch vụ (nghìn đồng), thu nhập từ trồng trọt (nghìn đồng);
(7) Tỷ lệ lao động trong hộ gia đình (%)
Võ Thành Nhân Phân tích thu
nhập của hộ gia đình ở tỉnh
(6) Quy mô vốn đầu tư;
(7) Quy mô đất sản xuất
Vũ Trọng Nghĩa Nghiên cứu
Thống kê bất bình đẳng thu nhập của cư dân Việt Nam trong giai đoạn
Trang 25(10) Khu vực thành thị và nông thôn;
(11) Vùng (6 vùng kinh tế)
Nguồn: Tác giả tổng hợp
2.3.2 Mô hình nghiên cứu
Từ các nghiên cứu trong nước và qua nghiên cứu định tính lấy ý kiến của các chuyên gia Mô hình đề xuất của tác giả là:
Hình 2.2: Mô hình nghiên cứu tác giả đề xuất
Có tài khoản ngân hàng
Hộ có ít nhất một thành viên tham gia hoạt động hội, đoàn thể
H 1
Trang 262.3.3 Đề xuất giả thuyết nghiên cứu
Biến phụ thuộc: Trong mô hình nghiên cứu này tác giả chọn biến thu nhập BQ
người/tháng thực tế của hộ gia đình tại Cà Mau làm biến phụ thuộc Thu nhập BQ thực tế là thu nhập đã loại trừ yếu tố giá về mặt thời gian và không gian Trong thực
tế Khảo sát mức sống dân cư 2016 trên địa bàn tỉnh được tiến hành điều tra, thu thập
số liệu trong 4 kỳ vào các tháng 3, 6, 9 và tháng 12 và mẫu được chọn để điều tra đủ đảm bảo suy rộng số liệu đại diện đến cấp tỉnh Do đó để so sánh được số liệu về thu nhập của các hộ hay chạy mô hình hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập thì phải loại trừ các yếu tố giá về mặt thời gian thu thập số liệu khác nhau và khu vực thu thập số liệu Để loại trừ yếu tố giá này thì số liệu thu nhập điều tra trong 4 kỳ sẽ được quy về cùng giá tháng 6 năm 2016 và loại trừ yếu tố giá theo khu vực thành thị, nông thôn
Biến độc lập: Trong thực tế có nhiều nguyên nhân hoặc nhiều yếu tố tác động
và làm ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của một hộ gia đình như: nhân khẩu học của hộ, tình trạng học vấn hay giáo dục, lao động, việc làm,…của từng thành viên trong hộ gia đình Ngoài ra, còn có những yếu tố bên ngoài cũng làm ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình như: khu vực, môi trường,…Sau khi nghiên cứu và tổ chức hội thảo từ các chuyên gia, tác giả đưa ra một số nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình trên địa tình Cà Mau để nghiên cứu cụ thể như sau:
- Hộ có ít nhất một thành viên tham gia hoạt động hội, đoàn thể: Hiện nay dân
số Cà Mau chủ yếu làm việc liên quan đến sản xuất NLT nên việc thành viên hộ tham gia các nhóm hội như hội đoàn thể, nông dân, hội phụ nữ, có tác động rất tích cực đến thu nhập hộ gia đình, vì theo đánh giá các nhóm hội này hỗ trợ rất tốt
về thông tin, kỹ thuật, nguồn vốn, cho các hộ gia đình Chính vì vậy hộ có thành viên trong gia đình tham gia các hội, đoàn thể sẽ giúp hộ gia đình tiếp cận tốt hơn đối với thông tin cũng như nguồn lực giúp nâng cao khả năng sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi của hộ gia đình từ đó nâng cao thu nhập Ngay cả đối với những hộ gia đình không làm NLT thì việc tham gia các nhóm, hội, đoàn thể cũng vô cùng quan
Trang 27trọng, đây là cầu nối giúp thành viên hộ hòa nhập xã hội tốt hơn hay tiếp cận nhiều hơn về thông tin cũng như nguồn vốn, nhất là trong thời đại kinh tế thị trường thì thông tin và nguồn vốn là hết sức quan trọng để giúp nâng cao thu nhập của hộ gia đình Trong mô hình hồi quy tác giả đưa ra biến tham gia hội đoàn thể có hai mã:
mã 1 là hộ gia đình có ít nhất một người tham gia hoạt động hội, đoàn thể như: Hội nông dân, Hội phụ nữ, Đảng và Hội cựu chiến binh; mã 0 là hộ gia đình không có bất cứ thành viên nào tham gia hoạt động hội, đoàn thể
viên tham gia hoạt động hội, đoàn thể tác động thuận chiều đến thu nhập BQ của
hộ gia đình Có nghĩa là thu nhập BQ của hộ gia đình có ít nhất một thành viên tham gia hoạt động hội, đoàn thể cao hơn thu nhập BQ của hộ gia đình không có thành viên nào tham gia hoạt động hội, đoàn thể
- Số lao động bình quân: Là toàn bộ số thành viên của hộ gia đình trong 12
tháng qua có việc làm chính thức bắt đầu từ thời điểm điều tra trở về trước, các công việc tự làm NLT, làm công ăn lương hay công việc tự làm phi NLT Lao động BQ là một trong những yếu tố quan trọng tác động rất lớn đến thu nhập của hộ gia đình, trong một hộ gia đình có nhiều lao động làm việc tạo ra thu nhập, giúp tổng thu nhập của hộ gia đình tăng lên, giảm được một phần gánh nặng đối với những người không tham gia lao động, không tạo ra thu nhập và ngược lại
đình tác động thuận chiều với thu nhập BQ của hộ gia đình Có nghĩa là thu nhập
BQ của hộ gia đình tăng lên khi hộ gia đình tăng thêm một lao động
- Tỷ lệ phụ thuộc: Tỷ lệ phụ thuộc là tỷ lệ giữa số người ngoài độ tuổi lao động
trên số người trong độ tuổi lao động (nam từ 15 đến 60 tuổi, nữ từ 15 đến 55 tuổi) Chỉ tiêu này thể hiện gánh nặng (tương đối) mà những người trong độ tuổi lao động trong gia đình phải đảm trách Theo kết quả KSMS 2016 phần lớn các hộ nghèo thường có tỷ lệ phụ thuộc lớn và ngược lại
Trang 28Trên cơ sở đó giả thuyết H 3 được đề xuất: Tỷ lệ phụ thuộc tác động nghịch chiều với thu nhập BQ của hộ gia đình Có nghĩa là thu nhập BQ của hộ gia đình giảm xuống khi tỷ lệ thuộc của hộ gia đình tăng lên 1%
- Quy mô hộ gia đình: Quy mô hộ gia đình hay số nhân khẩu BQ một hộ có
ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của từng hộ Theo số liệu điều tra KSMS hàng năm thì thường thấy nhóm hộ gia đình có quy mô nhân khẩu càng ít thì có thu nhập càng cao và ngược lại Đồng thời qua khảo sát những hộ có quy mô nhân khẩu lớn thường rơi và những hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc (Khmer)
Quy mô hộ hay số nhân khẩu trong một hộ, theo khái niệm của điều tra KSMS hàng năm là số thành viên hay số nhân khẩu trong một hộ gia đình và được xác định như sau: Một người được coi là thành viên của hộ phải thỏa 2 điều kiện sau:
(1) Cùng ăn, ở chung trong hộ 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua
(2) Có quỹ thu chi chung, nghĩa là các khoản thu nhập của từng thành viên trong hộ đều được góp vào quỹ chung của hộ và các khoản chi của họ đều lấy ra từ quỹ này để sử dụng
Ngoài ra, có 7 trường hợp khi xác định một người nào đó có phải là thành viên của hộ hay không, cụ thể:
(1) Một người được xác định là chủ hộ thì người đó được tính là thành viên của hộ, ngay cả khi người đó không ở chung, ăn chung trong hộ hơn 6 tháng
Theo khái niệm cuộc khảo sát thì chủ hộ là người có vai trò quan trọng, quyết định toàn bộ công việc lớn, nhỏ của một hộ gia đình Chủ hộ ở đây không nhất thiết là người phải có thu nhập cao nhất, nhưng với vai trò là chủ hộ thì phải điều hành, nắm được các hoạt động kinh tế, nghề nghiệp của từng thành viên trong hộ Thông thường theo định nghĩa trên thì chủ hộ trùng với sổ đăng ký hộ khẩu, nhưng khảo sát này chủ
hộ có thể khác với chủ hộ trong đăng ký hộ khẩu, tùy từng trường hợp cụ thể
(2) Trẻ em mới sinh ra luôn được xem là thành viên của hộ mặc dù sinh ra chưa đầy 6 tháng
Trang 29(3) Những người tương lai sẽ ở lâu dài trong hộ, kể cả người đó có giấy chứng nhận hoặc chưa có giấy chứng nhận như: đăng ký kết hôn, giấy chuyển đến, giấy xuất ngũ,… mặc dù người đó sống trong hộ chưa đủ 6 tháng, nhưng vẫn được xem
là thành viên của hộ gia đình, những người này bao gồm: Con dâu, con rễ, người đi làm việc, học tập, lao động ở nước ngoài, hoặc làm việc, lao động ở các cơ quan, xí nghiệp trong nước trở về hộ, người từ lực lượng vũ trang trở về, cán bộ về về nghỉ hưu, cán bộ nghỉ mất sức,
(4) Sinh viên, học sinh đi học tập ở ngoài hộ trong nước, nhưng gia đình phải nuôi thì người đó luôn được xem là thành viên của hộ đia đình
(5) Người quen, họ hàng khách đến chơi ở trong hộ được 6 tháng trở lên, được xem là thành viên của hộ gia đình nếu họ có chung quỹ thu, chi
(6) Những người làm công, người ở trọ và bà con, họ hàng, quen biết đến ở nhờ đã có gia đình riêng sống nơi khác mặc dù ở chung trong một nhà và có đóng góp tiền ăn chung với chủ hộ nhưng vẫn không được tính là thành viên của hộ (vì những người này có quỹ chi, thu riêng)
(7) Những người từng là thành viên của hộ nhưng đã chuyển đi khỏi hộ có tính chất lâu dài và người đã chết trong 12 tháng qua không được tính là thành viên của
hộ, mặc dù những người này đã sống tại hộ hơn 6 tháng qua
nghịch chiều với thu nhập BQ của hộ gia đình Có nghĩa là thu nhập BQ của hộ gia đình giảm xuống khi quy mô của hộ gia đình tăng lên
- Việc làm chính của chủ hộ: Chủ hộ đang làm nghề gì, ngành gì là một trong
các yếu tố tác động mạnh mẽ đến thu nhập của hộ gia đình Theo như xu thế hiện nay nền kinh tế của Việt Nam nói chung đang chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ từ lĩnh vực NLT sang các ngành nghề, lĩnh vực khác Tuy nhiên trên địa bàn tỉnh Cà Mau
có lợi thế lớn để phát triển ngành thủy sản, nên học viên muốn đánh giá xem những
hộ có việc làm chính là ngành thủy sản thì có khác với những hộ gia đình khác
Trang 30không Đặt mã 1 việc làm liên quan đến khai thác và nuôi trồng thủy sản, mã 0 là ngành nghề khác
thuận chiều với thu nhập BQ của hộ gia đình Có nghĩa là thu nhập BQ của hộ gia đình có chủ hộ làm việc chính là ngành thủy sản thì có khác gì so với chủ hộ có việc chính là ngành nghề khác
- Giới tính của chủ hộ: Theo kết quả nghiên cứu hầu hết giới tính của chủ hộ là
nam hay nữ có ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của hộ gia đình, thông thường qua các lần khảo sát chủ hộ là nam giới có thu nhập BQ cao hơn nữ giới Đặt mã 1 là nam và mã 0 là nữ
chiều với thu nhập BQ của hộ gia đình Có nghĩa là thu nhập BQ của hộ gia đình
có chủ hộ là nam giới cao hơn thu nhập BQ của hộ gia đình có chủ hộ là nữ giới
- Trình độ học vấn của chủ hộ: Một người lao động làm việc có trình độ học
vấn cao hay thấp có liên quan rất lớn đến thu nhập của họ, trong xu thế hiện nay người có trình độ càng cao thì nhu cầu tiếp cận và tìm kiếm việc làm càng dễ hơn người có trình độ thấp Nhiều kết quả nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy những người
có trình độ học vấn càng cao thì thường có thu nhập cao hơn người có trình độ học vấn thấp như nghiên cứu của Nguyễn Xuân Thành năm 2006 sử dụng bộ số liệu KSMS 2002 cho ra kết quả việc quy định tăng một năm học phổ thông khiến cho những người tốt nghiệp trung học phổ thông tăng tiền công, tiền lương lên 11,43% Trong việc nghiên cứu đánh giá trình độ học vấn của chủ hộ tác động lên thu nhập
BQ của hộ gia đình Ở đây tác giả quy ước trình độ học vấn của chủ hộ có được tương ứng với số năm đị học cụ thể: 5 năm tốt nghiệp tiểu học, 9 năm tốt nghiệp THCS, 12 năm tốt nghiệp THPH, 15 năm tốt nghiệp Cao đẳng, 16 năm tốt nghiệp đại học; Trường hợp nếu người nào có được bằng cấp về nghề thì sẽ được cộng thêm số năm học là: 0,5 năm đối với sơ cấp nghề, 1 năm đối với trung cấp nghề và trung học chuyên nghiệp, 2 năm đối với cao đẳng nghề Từ việc quy đổi này sẽ
Trang 31chuyển bằng cấp cao nhất của chủ hộ tương ứng với số năm đi học nhằm mục đích đánh giá mức độ tác động của số năm đi học này đến thu nhập xem liệu số năm đi học tăng lên đối với chủ hộ thì thu nhập bình quân của hộ có tăng lên hay không?
động thuận chiều với thu nhập BQ của hộ gia đình Có nghĩa là thu nhập BQ của
hộ gia đình tăng lên khi trình độ học vấn của chủ hộ tăng thêm một năm học
- Thành thị hay nông thôn: 2 biến khu vực là 2 biến bên ngoài hộ gia đình,
nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và thu nhập của người dân, theo kết quả điều tra hàng năm thì thu nhập của người dân thuộc thành thị cao hơn thu nhập người dân vùng nông thôn Đặt mã 1 là thành thị, mã 0 là nông thôn
tác động thuận chiều với thu nhập BQ của hộ Có nghĩa là thu nhập BQ của hộ gia đình thuộc khu vực thành thị cao hơn thu nhập BQ của hộ gia đình thuộc khu vực nông thôn
- Có tài khoản ngân hàng: Trong bối cảnh nền kinh tế phát triển như hiện nay,
việc người dân sử dụng thẻ tín dụng hay tài khoản ngân hàng là một xu thế tất yếu
và thông dụng, khi mọi người đều sử dụng tài khoản ngân hàng rất tiện lợi cho mọi việc giao dịch chẳn hạn như: lao động làm việc được nhận tiền công, tiền lương chuyển qua thẻ, chuyển khoản từ người này cho người khác rất nhanh chóng, sử dụng thẻ tín dụng trong việc giao dịch, mua sắm rất thuận lợi mà người dân không phải sử dụng lượng tiền mặt, ít gặp phải rủi ro như mất mát, trộm cấp, Tài khoản ngân hàng được đặt làm 2 mã: mã số 1 là hộ gia đình có sử dụng tài khoản ngân hàng và mã 0 là hộ gia đình không sử dụng tài khoản ngân hàng
động thuận chiều với thu nhập BQ của hộ gia đình Có nghĩa là thu nhập BQ của
hộ gia đình có tài khoản ngân hàng cao hơn thu nhập BQ của hộ gia không có tài khoản ngân hàng
Căn cứ vào sự lựa chọn các biến như trên, ta có mô hình hồi quy như sau:
Trang 32
Bảng 2.2: Danh sách các biến đưa vào mô hình hồi quy các nhân tố
ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình Tên biến Ký hiệu Giá trị của biến Vai trò
Logarit cơ số e của TNBQ
một người/tháng lr_mtnbq6
Biến phụ thuộc
Mã 0: Hộ không có thành viên nào tham gia
hoạt động hội, đoàn thể
Trang 33Trình độ học vấn của chủ hộ tdhvch Biến độc lập Thành thị hay nông thôn ttnt
Mã 0: Hộ gia đình không có tài khoản ngân hàng
Trung tâm tỉnh Cà Mau cách thành phố Hồ Chí Minh gần 350 km, cách Thủ
đô Hà Nội 2.085 km, ba mặt giáp biển, đồng thời tỉnh Cà Mau rất thuận lợi cho việc giao thông phát triển kinh tế đường bộ, có tuyến Quốc lộ 1 giáp ranh tỉnh Bạc Liêu nối dài đến huyện Năm Căn; Quản lộ Phụng Hiệp tỉnh Bạc Liêu nối với Trung tâm thành phố Cà Mau; cùng với quốc lộ 63 và hành lang ven biển phía Nam từ tỉnh Kiên Giang nối với Trung tâm thành phố Cà Mau; về đường sông có chiều dài bờ biển 254 km (107 km bờ biển Đông, 147 km bờ biển Tây) và có một ngư trường lớn hơn 100.000 km2 thuộc chủ quyền khai thác của Việt Nam Biển
Cà Mau tiếp giáp với vùng biển các nước như Thái Lan, Malaysia, Indonesia và là Trung tâm của vùng biển quốc tế ở Đông Nam Á Cảng Năm Căn là cảng quan
Trang 34đường biển của vùng Đông Nam Á, có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng giao thương với các nước trong vùng như: Singapore, Indonesia, Malaysia, Hiện nay tàu tài có trọng tải 10 - 15 ngàn tấn có thể cập cảng và năng lực lực bốc dở của cảng đạt 1 - 1,5 triệu tất/năm
Cà Mau có địa hình bằng phẳng và thấp hơn so với các tỉnh trong vùng ĐBSCL; có hệ thống sông ngòi, kênh rạch đan xen chằng chịt chiếm khá nhiều diện tích tự nhiên, trong đó có nhiều sông lớn, nước sâu và tạo nên mạng lưới giao thông thủy như các sông Tam Giang, Gành Hào, Bảy Háp, sông Ông Đốc, Cái Tàu, sông Trèm Trẹm,… hầu hết các sông lớn, sâu, tiếp giáp với biển nên rất thuận tiện cho giao thông đường thủy, có điều kiện cho tàu vận tải biển và tàu đánh cá có thể vào sâu trong nội địa,… từ đó mức độ nhiễm mặn của đất cũng khá cao, sông ở Cà Mau phần lớn chỉ có nước ngọt vào những tháng mùa mưa, nhưng do nhân dân biết ngăn mặn, giữ ngọt nên đã nuôi trồng nhiều cây, con hệ sinh thái ngọt rất phong phú và
đa dạng
2.4.2 Đơn vị hành chính
Cà Mau là một tỉnh mới được thành lập từ năm 1997 Đến cuối năm 2016 tỉnh
có 8 huyện, 1 thành phố trực thuộc, 101 xã, phường, thị trấn trấn; 949 ấp, khóm Chia ra: đơn vị cấp huyện, thành phố có diện tích tự nhiên, dân số và mật độ dân số
cụ thể như sau:
Bảng 2.3: Diện tích tự nhiên, dân số trung bình và mật độ dân số
chia theo đơn vị hành chính tỉnh Cà Mau năm 2016
Diện tích tự nhiên (km 2 )
Dân số trung bình (người)
Mật độ dân số (người/km 2 )
Trang 35Huyện Trần Văn Thời 697,46 190.012 272
Nguồn: Niên giám Thống kê tỉnh Cà Mau năm 2016
Trung tâm hành chính của tỉnh Cà Mau đóng trên địa phận thành phố Cà Mau, tập trung hầu hết các cơ quan hành chính nhà nước của Trung ương và của địa phương, là nơi tập trung các khu trung tâm thương mại, các doanh nghiệp chế xuất, nhập khẩu lớn của tỉnh Cà Mau với lợi thế được Trung ương đầu tư, phát triển cụm công nghiệp (Khí - Điện - Đạm), đóng trên địa bàn xã Khánh An, huyện U Minh, với vai trò là một cụm công nghiệp lớn, mang tầm cở quốc gia, trong năm qua cụm công nghiệp này đã đóng góp rất lớn vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh, đồng thời đã giải quyết việc làm và tạo tạo ra TN cho người dân địa phương
2.4.3 Khí hậu, chế độ thủy văn
Cà Mau có thời tiết, khí hậu ôn hòa, có hai mùa mưa nắng rõ rệt, mùa mưa bắt đầu tháng từ 5 kéo dài đến hết tháng 10 và mùa nắng bắt đầu tháng 11 kéo dài đến hết tháng 4 năm sau; nhiệt độ trung bình của tỉnh trong năm 2016 là 28,20C; số giờ nắng trung bình của tỉnh trong năm là 2.052,9 giờ; lượng mưa trung bình trong năm đạt 2.260,8mm và độ ẩm trung bình trong năm là 80%
Cà Mau là tỉnh có ba mặt tiếp giáp biển nên chế độ thủy triều lên, xuống tương đối nhanh ở những nơi gần biển và xuống chậm ở những nơi xa biển Mực nước cao nhất trong năm tại 3 trạm: trạm Cà Mau, sông Gành Hào cao nhất là 59cm; trạm Sông Đốc, sông Ông Đốc cao nhất trong năm là 99cm; trạm Năm Căn, sông Cửa Lớn cao nhất trong năm là 158cm Mực nước thấp nhất trong năm tại 3 trạm: trạm
Trang 36Cà Mau, sông Gành Hào thấp nhất trong năm là 4cm; trạm Sông Đốc, sông Ông Đốc thấp nhất trong năm là -19cm; trạm Năm Căn, sông Cửa Lớn thấp nhất trong năm là -105cm
2.5 Nguồn nhân lực
2.5.1 Dân số
Dân số tăng chậm, từ 1.219.128 người năm 2012 tăng lên 1.222.575 người năm 2016, tăng bình quân 0,56%/năm Năm 2016 tỷ số giới tính 100,88% (số nam/100 nữ); tỷ trọng dân số thành thị 22,55%; tỷ suất tăng dân số thành thị bình quân năm là 9,26% và mật độ dân số trung bình là 234 người/km2
2.5.2 Lao động
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh là 708.601 người, trong đó số người đang làm việc 691.725 người; Số người thất nghiệp 16.876 người, chiếm 2,38% và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chiếm 57,96%
Tỷ trọng lao động nữ thấp hơn nam giới chỉ chiếm 42,87% Phân theo 3 khu vực thì: tỷ trọng lao động trong ngành NLT chiếm 62,19%; tỷ trọng lao động trong ngành công nghiệp chiếm 10,55% và tỷ trọng lao động trong ngành thương mại, dịch vụ chiếm 27,26%
2.6 Điều kiện kinh tế
Tình hình kinh tế phát triển ổn định, đặc biệt là khu vực Công nghiệp - Xây dựng, do có sự đầu tư và đi vào hoạt động của Cụm công nghiệp Khí - Điện - Đạm Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) năm 2016 (tính theo giá so sánh 2010) đạt 35.372
tỷ đồng, tăng 60,9% so với năm 2012, tăng bình quân 12,63%/năm Trong đó: Khu vực I (Ngư - Nông - Lâm nghiệp) đạt 10.316 tỷ đồng, tăng 32,65% so năm 2012, tăng bình quân 7,32%/năm; Khu vực II (Công nghiệp - Xây dựng) đạt 10.002 tỷ đồng, tăng 19,58% so với năm 2012, BQ tăng 4,57%/năm; Khu vực III (Thương mại
- Dịch vụ) đạt 13.703 tỷ đồng, tăng 123,74% so với năm 2012, tăng bình quân 23,75%/năm và năm 2016 riêng thuế nhập khẩu, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm
Trang 37đạt 1.351 tỷ đồng Nhìn chung, cơ cấu kinh tế của tỉnh trong những năm qua chuyển dịch theo hướng, giảm tỷ trọng khu vực I, khu vực II và tăng khu vực III Cụ thể: Khu vực I năm 2012 chiếm 35,38%, đến năm 2016 giảm xuống chỉ còn 29,16%; Khu vực II năm 2012 chiếm 38,05% đến năm 2016 giảm xuống chỉ còn 28,28%; Khu vực III năm 2012 chiếm 26,58% đến năm 2016 tăng lên 38,74%
2.7 Về văn hóa - Xã hội
Trong những năm qua, bên cạnh chú trọng phát triển kinh tế, các mặt văn hóa
- xã hội cũng được quan tâm thực hiện tốt Các chính sách an sinh xã hội, công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, đào tạo nghề, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số,… được quan tâm thực hiện đồng bộ đạt nhiều kết quả
Tóm lại: Trong 5 năm qua, từ năm 2012 đến 2016 tình hình Kinh tế - Xã hội
trên địa bàn tỉnh Cà Mau phát triển khá nhanh trong điều kiện có nhiều thuận lợi cơ bản nhưng cũng không ít khó khăn thách thức, với tình hình giá cả luôn biến động như hiện nay, đồng thời việc điều chỉnh tăng lương tối thiểu của Chính phủ là một trong những yếu tố góp phần làm cho giá cả hàng hóa, dịch vụ trên thị trường biến động tăng theo Mặc dù, giá cả hàng hoá và dịch vụ gia tăng nhưng cũng không làm giảm sút sự tiêu dùng và sử dụng dịch vụ của người dân Từ đó đã thúc đẩy quá trình phát triển sản xuất là một trong những yếu tố để phát triển và tăng trưởng nền kinh
tế Ngoài ra, được sự quan tâm chỉ đạo từ phía Trung ương, Chính phủ, các Bộ, ngành và kế thừa những thành tựu đã đạt được Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân tỉnh Cà Mau không ngừng phấn đấu vượt qua khó khăn thách thức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị đã đề ra trong những năm qua
Tuy nhiên với thành tựu đã đạt được, tình hình Kinh tế - Xã hội của tỉnh vẫn còn tồn tại một số khó khăn như: tình hình sản xuất một số cây trồng nông nghiệp chưa ổn định, sản lượng tôm tăng thấp, giá tôm giảm mạnh ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân, dịch bệnh trên tôm nuôi diễn biến phức tạp, tác động bất lợi đến sản xuất và đời sống của nhân dân; kim ngạch xuất khẩu giảm, nhiều doanh nghiệp xuất, nhập khẩu gặp khó khăn, giá bán điện của điện sản xuất giảm; tình
Trang 38trạng thiên tai, cháy nổ vẫn còn xảy ra,… Từ đó đã tác động và làm ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của tỉnh
Kết luận chương 2
Chương này tác giả đã trình bày tổng quát các vấn đề lý thuyết nhằm hình thành các giả thuyết để đưa vào mô hình nghiên cứu Chương tiếp theo tác giả sẽ trình bày về phương pháp nghiên cứu để kiểm định các giả thuyết của mô hình nghiên cứu tác giả đề xuất
Trang 39CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Quy trình nghiên cứu của đề tài được thực hiện qua các bước sau
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu tác giả đề xuất
Tiến hành thảo luận
Xác định vấn đề nghiên cứu
NC các khái niệm và lý thuyết
Tìm hiểu các
NC trước đây
Xây dựng mô hình
Xây dựng mô hình chính thức
Thu thập dữ liệu
Xử lý dữ liệu
Kết quả nghiên cứu và hàm ý chính sách
Phân tích hồi quy
Trang 403.2 Thiết kế nghiên cứu
3.2.1 Địa bàn nghiên cứu
Bao gồm 46 địa bàn mẫu và 690 hộ trên địa bàn tỉnh Cà Mau
3.2.2 Lựa chọn dữ liệu thứ cấp đề tài sử dụng các dữ liệu nhƣ sau
- Niên giám thống kê các năm 2012, 2014 và năm 2016
- Ấn phẩm điều tra mức sống dân cư tỉnh Cà Mau năm 2012, 2014 và năm
Số mẫu được quy định cụ thể như sau:
Bảng 3.1: Số mẫu điều tra KSMS năm 2016 tỉnh Cà Mau