1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tác động của hệ thống kiểm soát nội bộ đến hiệu quả công tác thu thuế tại các cơ quan thuế trên địa bàn TP hồ chí minh

160 164 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 4,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện tại, theo tìm hiểu của tác giả đối với các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến các nhân tố của hệ thống KSNB ảnh hưởng đến hiệu quả thu thuế tại các cơ quan thuế, tác gi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

BÙI THỊ QUỲNH NHƯ

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI

BỘ ĐẾN HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THU THUẾ TẠI CÁC CƠ QUAN THUẾ TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Trang 2

BÙI THỊ QUỲNH NHƯ

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI

BỘ ĐẾN HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THU THUẾ TẠI CÁC CƠ QUAN THUẾ TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Kế toán

Mã ngành: 8340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TRẦN ANH HOA

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Đánh giá tác động của hệ thống kiểm soát nội

bộ đến hiệu quả công tác thu thuế tại các cơ quan thuế trên địa bàn TP Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của bản thân tôi và được hoàn thành dưới sự

hướng dẫn của cô Trần Anh Hoa Nội dung và số liệu nêu trong đề tài là hoàn toàn

do chính tôi nghiên cứu và thực hiện Những kiến nghị khoa học của đề tài chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

HỌC VIÊN THỰC HIỆN

Bùi Thị Quỳnh Như

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Câu hỏi nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Đóng góp của nghiên cứu 5

7 Kết cấu của luận văn 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 6

1.1 Những nghiên cứu ngoài nước 6

1.1.1 Những nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực công 6

1.1.2 Những nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác thu thuế 8

1.2 Những nghiên cứu trong nước 9

1.2.1 Những nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực công 9

1.2.2 Những nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ trong lĩnh vực thuế 11

1.3 Nhận xét tổng quan các nghiên cứu trước 14

1.4 Khoảng trống nghiên cứu và định hướng nghiên cứu của tác giả 15

1.4.1 Khoảng trống nghiên cứu 15

1.4.2 Định hướng nghiên cứu của tác giả 15

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LÝ THUYẾT NỀN 17

2.1 Một số vấn đề chung về hệ thống kiểm soát nội bộ 17

2.1.1 Khái niệm kiểm soát nội bộ và hệ thống kiểm soát nội bộ 17

2.1.2 Lịch sử ra đời và phát triển của hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực công 18

2.1.3 Mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực công 20

2.1.4 Giới hạn của hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực công 21

Trang 5

2.2 Các nhân tố cấu thành của hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực công 21

2.2.1 Môi trường kiểm soát 21

2.2.2 Đánh giá rủi ro 23

2.2.3 Hoạt động kiểm soát 24

2.2.4 Thông tin và truyền thông 25

2.2.5 Giám sát 26

2.3 Cơ sở lý luận về thuế và quản lý thuế 26

2.3.1 Khái niệm thuế 27

2.3.2 Đặc điểm của thuế 27

2.3.3 Chức năng của thuế 27

2.3.4 Công tác quản lý thu thuế và chống thất thu thuế 28

2.3.4.1 Khái niệm quản lý thu thuế và chống thất thu thuế 28

2.3.4.2 Vai trò của quản lý thu thuế và chống thất thu thuế 29

2.3.4.3 Nguyên tắc của quản lý thu thuế và chống thất thu thuế 29

2.4 Tổng quan về cơ quan Thuế và ngành Thuế TP Hồ Chí Minh 30

2.4.1 Khái niệm về cơ quan Thuế và tổ chức bộ máy ngành Thuế 30

2.4.2 Chức năng nhiệm vụ của các cơ quan thuế và đặc điểm hoạt động thu thuế của ngành Thuế TP Hồ Chí Minh 32

2.5 Các lý thuyết nền có liên quan 34

2.5.1 Lý thuyết đại diện 34

2.5.2 Nhóm Lý thuyết về hành vi - tâm lý xã hội - quan hệ con người 35

2.6 Mối quan hệ giữa hệ thống KSNB và hiệu quả công tác thu thuế 37

2.6.1 Mục tiêu và hiệu quả công tác thu thuế 37

2.6.2 Mối quan hệ giữa hệ thống KSNB và hiệu quả công tác thu thuế 37

2.7 Mô hình nghiên cứu đề xuất 38

2.7.1 Mô hình nghiên cứu 38

2.7.2 Giả thuyết nghiên cứu 39

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

3.1 Quy trình nghiên cứu 40

3.1.1 Thiết kế nghiên cứu 40

3.1.2 Nguồn dữ liệu, phương pháp thu thập và phân tích nghiên cứu 42

Trang 6

3.1.2.1 Nghiên cứu định tính 42

3.1.2.2 Nghiên cứu định lượng 46

3.2 Điều chỉnh thang đo 48

3.2.1 Thang đo Hiệu quả công tác thu thuế 48

3.2.2 Thang đo các thành phần của hệ thống KSNB (khung lý thuyết của mô hình nghiên cứu) 49

3.3 Thực hiện nghiên cứu định lượng 52

3.3.1 Mẫu nghiên cứu 53

3.3.2 Thực hiện khảo sát 54

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 56

4.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 56

4.2 Đánh giá thang đo 57

4.2.1 Phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha 57

4.2.2 Đánh giá độ giá trị thang đo – EFA 59

4.2.2.1 Thang đo các thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ 59

4.2.2.2 Thang đo hiệu quả công tác thu thuế 65

4.3 Kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu 66

4.3.1 Phân tích tương quan 66

4.3.2 Phân tích hồi quy 67

4.3.2.1 Kiểm định sự phù hợp của mô hình hồi quy 68

4.3.2.2 Kiểm định giả thuyết về ý nghĩa của các trọng số hồi quy 69

4.3.3 Dò tìm sự vi phạm các giả định trong hồi quy tuyến tính 72

4.3.3.1 Giả định liên hệ tuyến tính giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập cũng như hiện tượng phương sai thay đổi (heteroskedasticity) 72

4.3.3.2 Giả định về phân phối chuẩn của phần dư 73

4.3.3.3 Giả định không có mối tương quan giữa các biến độc lập (đo lường hiện tượng đa cộng tuyến) 73

4.4 Bàn luận từ kết quả nghiên cứu 74

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 78

5.1 Kết luận 78

5.2 Hàm ý chính sách 78

5.2.1 Đối với Ban lãnh đạo các cơ quan thuế 79

Trang 7

5.2.1.1 Hàm ý liên quan đến Giám sát 79

5.2.1.2 Hàm ý liên quan đến Môi trường kiểm soát 81

5.2.1.3 Hàm ý liên quan đến Đánh giá rủi ro 82

5.2.1.4 Hàm ý liên quan đến Thông tin và truyền thông 83

5.2.1.5 Hàm ý liên quan đến Hoạt động kiểm soát 84

5.2.2 Đối với các cơ quan Nhà nước và ngành Thuế 85

5.3 Các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 86

KẾT LUẬN CHUNG 88 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CoBIT: Control Objectives for Information and Related Technologies

INTOSAI: International Organization of Supreme Audit Institutions

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Bảng tổng hợp tóm tắt các nghiên cứu trước 12

Bảng 3.1: Thang đo Hiệu quả công tác thu thuế 49

Bảng 3.2: Thang đo các thành phần của hệ thống KSNB 50

Bảng 3.3: Thống kê tình hình khảo sát 55

Bảng 4.1 Thống kê mẫu khảo sát 57

Bảng 4.2: Kiểm định độ tin cậy các thang đo bằng Cronbach’s Alpha 58

Bảng 4.3: Hệ số KMO và kiểm định Barlett các thành phần của hệ thống KSNB lần thứ nhất 60

Bảng 4.4: Bảng phương sai trích lần thứ nhất 60

Bảng 4.5: Bảng ma trận nhân tố sau khi xoay lần thứ nhất 61

Bảng 4.6: Hệ số KMO và kiểm định Barlett các thành phần của hệ thống KSNB lần thứ ba (lần cuối) 62

Bảng 4.7: Bảng phương sai trích lần thứ ba (lần cuối) 63

Bảng 4.8: Bảng ma trận nhân tố sau khi xoay lần thứ ba (lần cuối) 63

Bảng 4.9: Hệ số KMO và kiểm định Barlett hiệu quả công tác thu thuế 65

Bảng 4.10: Bảng phương sai trích 65

Bảng 4.11: Bảng ma trận nhân tố 66

Bảng 4.12: Ma trận tương quan giữa các biến 67

Bảng 4.13: Thống kê mô tả các biến phân tích hồi quy 67

Bảng 4.14: Đánh giá mức độ phù hợp của mô hình 68

Bảng 4.15: Tổng kết mô hình 68

Bảng 4.16: Phân tích ANOVA 69

Bảng 4.17: Kết quả các trọng số hồi quy 69

Bảng 5.1: Bảng sắp xếp thứ tự quan trọng theo hệ số Beta của các nhân tố 79

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 2.1: Khái quát quy trình đánh giá rủi ro của COSO 23

Hình 2.2: Cơ cấu tổ chức bộ máy ngành Thuế theo các cấp từ Trung ương đến địa phương 32

Hình 2.3: Mô hình nghiên cứu đề xuất 38

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 41

Hình 4.1: Kết quả mô hình hồi quy 71

Hình 4.2: Đồ thị phân tán giữa giá trị dự đoán và phần dư 72

Hình 4.3: Đồ thị phân tán của phần dư chuẩn hóa 73

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thuế đã tồn tại và có một quá trình phát triển lâu dài trong lịch sử loài người

Sự xuất hiện của Thuế gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước và sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ Nó được xem là một khoản đóng góp mang tính bắt buộc đối với các thể nhân và pháp nhân, được quy định thông qua hệ thống pháp luật của Nhà nước Ở nước ta từ những năm 1990, Thuế đã thực sự trở thành nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước Thuế không chỉ đơn thuần là một nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước mà thuế còn gắn liền với các vấn đề về sự tăng trưởng kinh tế, về sự công bằng trong phân phối và sự ổn định xã hội Do đó, Thuế đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của một quốc gia (Yuniati, 2017)

TP Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế có quy mô lớn nhất nước Vì vậy, ngành thuế TP Hồ Chí Minh cũng giữ một vai trò quan trọng trong công tác thu Ngân sách Nhà nước của cả nước

Công tác chống thất thu thuế là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản lý thuế hiện nay nhằm góp phần đảm bảo nguồn thu cho Ngân Sách Nhà Nước (NSNN) và tạo sự công bằng về nghĩa vụ thuế đối với Người nộp thuế Tuy nhiên, trong thời gian qua vẫn còn nhiều bất cập trong các quy định về thuế: nhiều thủ tục rườm rà, thiếu minh bạch; chính sách thuế “sớm nắng chiều mưa”, không rõ ràng; hoạt động thanh tra, kiểm tra còn chồng chéo, gây tốn kém và khó khăn cho doanh nghiệp; hay các hành vi tham nhũng, nhũng nhiễu của công chức thuế vẫn còn xảy ra, công chức thuế bắt tay với các doanh nghiệp để giúp doanh nghiệp trốn thuế vv

Vì vậy, có thể nói công tác thu thuế, chống thất thu thuế, nâng cao hiệu quả công tác thu thuế, chất lượng quản lý thuế gắn với cải cách hành chính là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản lý thuế hiện nay nhằm góp phần đảm bảo nguồn thu cho Ngân Sách Nhà Nước (NSNN) và tạo sự công bằng về nghĩa vụ thuế đối với Người nộp thuế

Trang 12

Để có những cơ chế, chính sách, những quyết định phù hợp nhằm nâng cao chất lượng quản lý thuế trong công tác thu thuế thì hệ thống kiểm soát nội bộ (HTKSNB) chính là một công cụ đắc lực và rất cần thiết đối với hoạt động tài chính Nhà nước: ngăn chặn và phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu sai sót, khuyến khích hoạt động hiệu quả, tăng cường trách nhiệm giải trình và đạt được sự tuân thủ các quy trình đã thiết lập (INTOSAI 2004)

Kiểm soát nội bộ (KSNB) là một công cụ quản lý và cũng là một nội dung rất quan trọng trong lĩnh vực kế toán và tài chính Đó là khía cạnh cơ bản của trách nhiệm quản lý để cung cấp cho các bên liên quan một sự đảm bảo hợp lý rằng tổ chức của họ được kiểm soát hiệu quả và thông tin họ nhận được là chính xác và đáng tin cậy Phát triển một hệ thống kiểm soát nội bộ mạnh mẽ cung cấp sự đảm bảo này Theo Aramide and Bashir (2015), áp lực toàn cầu gần đây về kiểm soát tham nhũng và quản lý quỹ công là yếu tố chính đòi hỏi phải thực hiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong mọi tổ chức kể cả khu vực công và khu vực tư nhân

Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện tại các đơn vị khu vực công trong nước cũng như ngoài nước đã khẳng định tầm quan trọng của hệ thống KSNB, mối quan

hệ chặt chẽ và tích cực của nó đối với phát hiện và ngăn ngừa các gian lận, nâng cao tính tin cậy của các thông tin phục vụ cho quản lý, nâng cao kết quả hoạt động, là công cụ tốt để đạt được các mục tiêu của tổ chức (Amudo và Inanga, 2009; Babatunde (2013); Okelo và Lagat (2016))

Với những vấn đề đã nêu trên, tác giả nhận thấy rằng vấn đề trọng tâm mà ngành thuế TP Hồ Chí Minh cần thực hiện trong giai đoạn hiện nay là việc nâng cao hiệu quả công tác thu thuế thông qua công cụ đắc lực chính là hệ thống KSNB Hiện tại, theo tìm hiểu của tác giả đối với các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến các nhân tố của hệ thống KSNB ảnh hưởng đến hiệu quả thu thuế tại các cơ quan thuế, tác giả nhận thấy rằng trên thế giới đã có một số tác giả nghiên cứu và nhận định hệ thống KSNB có tác động tích cực đến hiệu quả công tác thu thuế như nghiên cứu của Matamande và cộng sự (2012); Ibrahim (2017); Yuniati (2017); tuy nhiên tại Việt Nam nói chung và TP.Hồ Chí Minh nói riêng thì có rất ít nghiên cứu thực hiện về hệ thống KSNB của lĩnh vực thuế, các nghiên cứu đa số

Trang 13

thực hiện theo phương pháp định tính như nghiên cứu của Nguyễn Việt Tường (2014), Nguyễn Trường Giang (2014), Phạm Vũ Thúy Hằng (2015), chưa có thang

đo lường cụ thể, hay có sử dụng mô hình định lượng để nhận diện và xem xét mức

độ ảnh hưởng của các nhân tố hệ thống KSNB đến công tác thu thuế thì chỉ có nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Huyền (2015), tuy nhiên nghiên cứu này cũng chỉ thực hiện tại một đơn vị cụ thể; và chưa có một công trình nghiên cứu nào ở trong nước xác định và đưa ra bằng chứng về các nhân tố của hệ thống KSNB có tác động đến công tác thu thuế tại các cơ quan thuế Vì vậy, việc thực hiện đề tài:

“Đánh giá tác động của hệ thống kiểm soát nội bộ đến hiệu quả công tác thu thuế tại các cơ quan thuế trên địa bàn TP Hồ Chí Minh” là một đề tài cấp thiết

cần thực hiện nghiên cứu nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của hệ thống kiểm soát nội bộ đến công tác thu thuế tại các cơ quan thuế trên địa bàn TP Hồ Chí Minh, dựa trên kết quả nghiên cứu đạt được để từ đó tác giả đưa ra các hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác thu thuế, kiểm soát các rủi ro trọng yếu ảnh hưởng đến việc hoàn thành mục tiêu thu ngân sách của đơn vị, góp phần đảm bảo thu đúng, thu đủ nguồn thu cho NSNN

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá tác động của hệ thống kiểm soát nội bộ đến hiệu quả công tác thu

thuế tại các cơ quan thuế trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

3 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi 1: Các nhân tố nào của hệ thống kiểm soát nội bộ có ảnh hưởng đến hiệu quả công tác thu thuế tại các cơ quan thuế trên địa bàn TP Hồ Chí Minh?

Câu hỏi 2: Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố của hệ thống kiểm soát nội bộ đến hiệu quả công tác thu thuế tại các cơ quan thuế trên địa bàn TP Hồ Chí Minh?

Trang 14

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: hệ thống kiểm soát nội bộ của cơ quan thuế và sự tác động của nó đến hiệu quả công tác thu thuế tại các cơ quan thuế trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

- Đối tượng thu thập dữ liệu: ban lãnh đạo, các chuyên viên am hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ đang công tác tại các cơ quan thuế trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

- Phạm vi nghiên cứu:

o Về không gian: địa bàn TP Hồ Chí Minh (gồm Cục Thuế TP Hồ Chí

Minh và 24 Chi cục Thuế quận, huyện)

o Thời gian nghiên cứu: Thời gian thực hiện luận văn của tác giả từ

tháng 3 đến tháng 9 năm 2018

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Dữ liệu nghiên cứu

- Dữ liệu sơ cấp: các bảng khảo sát thu thập từ các chuyên gia, chuyên viên am hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ

- Dữ liệu thứ cấp: Các Thông tư, Quyết định, Công văn, Báo cáo, Kế hoạch của Bộ Tài Chính, Tổng Cục Thuế, Cục Thuế TP.Hồ Chí Minh liên quan đến công tác KSNB

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp: kết hợp sử dụng 2 phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng

 Nghiên cứu sơ bộ định tính: Thực hiện thảo luận nhóm với các cấp lãnh đạo và công chức làm công tác kiểm tra nội bộ tại các đơn vị để phân tích, đánh giá các nhân tố của hệ thống kiểm soát nội bộ đang hiện hữu tác động đến hiệu quả công tác thu thuế, sau đó thực hiện tiếp việc khảo sát chuyên gia để điều tra mức độ đồng ý hay không đồng ý với các biến đo lường hệ thống KSNB tác động đến hiệu quả công tác thu thuế

 Nghiên cứu định lượng: tiến hành khảo sát bằng bảng câu hỏi được tác giả thiết kế dựa trên thang đo Likert 5 mức độ Sử dụng phần mềm SPSS 22 để

Trang 15

xử lý, phân tích số liệu và đưa ra kết quả nghiên cứu về sự tác động của các nhân tố thuộc hệ thống KSNB đến hiệu quả công tác thu thuế tại các cơ quan thuế trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

6 Đóng góp của nghiên cứu

 Về mặt lý thuyết: Luận văn đã xác định các yếu tố của hệ thống kiểm soát nội bộ, đưa ra bằng chứng về sự tác động của hệ thống KSNB tới hiệu quả công tác thu thuế tại các cơ quan thuế trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

 Về mặt thực tiễn: Luận văn đã phân tích và đánh giá được hiệu quả các yếu tố của hệ thống kiểm soát nội bộ đang hiện diện tại các cơ quan thuế; từ đó đưa ra các hàm ý góp phần nâng cao hiệu quả công tác thu thuế, đặc biệt là kiểm soát tốt các rủi ro ảnh hưởng đến nhiệm vụ thu NSNN của các cơ quan thuế trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm 5 chương:

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và lý thuyết nền

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Trang 16

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

1.1 Những nghiên cứu ngoài nước

1.1.1 Những nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực công

Qua một thời gian tìm hiểu và tham khảo nhiều tài liệu đối với các vấn đề liên quan đến đề tài mà tác giả đang nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng có rất nhiều đề tài nghiên cứu về hệ thống KSNB và tác động của nó đến khu vực công tại nhiều quốc gia trên thế giới

Những nghiên cứu của các tác giả về sự yếu kém, thiếu hụt của hệ thống KSNB đã cho rằng nếu tổ chức không quan tâm đến hệ thống KSNB hay hệ thống KSNB được xây dựng không phù hợp với hướng dẫn của INTOSAI, điều này có thể dẫn đến việc quản lý kém trong chi tiêu khu vực công hay tác động tiêu cực đến việc quản lý các dự án vốn (Amudo và Inanga, 2009; Ayodele và Michael, 2011; Nwachukwu và Emoh, 2011; Adepeju và Isa, 2014) Các tác giả đã khuyến cáo các chính phủ cần có trách nhiệm thiết lập một kiểm soát nội bộ hiệu quả để đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu trong quản lý, và nên tuân thủ nghiêm ngặt hệ thống kiểm soát nội bộ vì lợi ích tốt nhất của công dân Còn theo nghiên cứu của Rahahleh (2011) thì cho rằng sự thiếu hụt nguồn lao động có trình độ, không xây dựng đầy đủ các thành phần của hệ thống KSNB hay có nhiều sự kiểm soát chồng chéo trong khu vực công đã dẫn đến việc vận hành hệ thống KSNB trong các tổ chức công cộng ở Jordan gặp nhiều vấn đề, ảnh hưởng không nhỏ đến việc quản lý quỹ công chúng ở nhiều cơ quan tại Jordan

Hiện nay, quản trị trong khu vực tư lẫn khu vực công đã trở thành vấn đề toàn cầu do sự cố liên tục của các vấn đề quản trị, gian lận, không hiệu quả, tham nhũng, kiểm soát nội bộ kém và quản lý tài chính như sự sụp đổ của ENRON – tập đoàn năng lượng lớn nhất nước Mỹ, hay trường hợp gian lận của WorldCom, Parmalat, sự quản lý thiếu hiệu quả của chính phủ các quốc gia dẫn đến nợ công lớn hay gặp nhiều vấn đề về tài chính, dự án công không hiệu quả vv Điều này đã làm cho các cơ quan chính phủ, các nhà lãnh đạo quan tâm đặc biệt hơn nữa đến việc thực hành kiểm soát nội bộ trong khu vực hành chính công Theo nghiên cứu của

Trang 17

Azizal và Aziz (2015), tác giả đã đưa ra đánh giá tình trạng thực hành hiện tại của

hệ thống kiểm soát nội bộ giữa các chương trình dịch vụ khác nhau của khu vực công ở Malaysia Nghiên cứu này thu thập dữ liệu sơ cấp dựa trên một bảng khảo sát câu hỏi trong số các bộ phận của 109 phòng ban và các cơ quan thuộc 24 bộ liên bang, trong đó có Bộ trưởng Thủ tướng Malaysia Nhìn chung, hệ thống kiểm soát nội bộ của nhóm chương trình tài chính là mạnh mẽ Tuy nhiên, việc kiểm soát nội

bộ trong hệ thống kỹ thuật, thông tin, giáo dục và y tế & sức khỏe nằm dưới điểm kiểm soát nội bộ trung bình của tổng thể Khu vực công ở Malaysia cần tập trung hơn vào kiểm soát nội bộ và hệ thống đánh giá thích hợp để trở thành một khu vực đáng tin cậy và hiệu quả

Bên cạnh đó, nhằm ngăn chặn các tình trạng tham nhũng, gian lận, việc thực hiện quản trị trong khu vực công của chính phủ cũng cần phải quản lý tài chính minh bạch và tăng cường trách nhiệm giải trình hơn nữa dưới sự giám sát chặt chẽ của công chúng Các nghiên cứu của các tác giả Babatunde (2013), Aramide và Bashir (2015), Aziz và cộng sự (2015), đều cho rằng hệ thống KSNB của tổ chức có ảnh hưởng đến trách nhiệm giải trình Nghiên cứu hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách nên tăng cường đảm bảo hệ thống KSNB phù hợp và hiệu quả để thiết lập và nâng cao trách nhiệm giải trình nhiều hơn giữa các phòng ban và cơ quan chính phủ khác nhau

Một hệ thống kiểm soát nội bộ tốt sẽ mang lại lợi ích cho một tổ chức trong việc ngăn chặn các tình huống rủi ro cũng như giúp tổ chức hoạt động hiệu quả Trong khu vực công thì hệ thống KSNB cần được thành lập để đảm bảo hợp lý rằng các hoạt động tài chính được thực hiện một cách minh bạch và có trách nhiệm Theo nghiên cứu của Okelo và Lagat (2016) thì tác giả đã thực hiện nghiên cứu nhằm thiết lập hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ về quản lý tài chính tại chính quyền quận Baringo ở Kenya Tác giả đã kết luận rằng hệ thống kiểm soát nội bộ là thành phần không thể tách rời của các quy trình quản lý của một tổ chức trong khu vực công

Tóm lại, các nghiên cứu trên tác giả tổng hợp đều nhằm khẳng định được sự cần thiết của hệ thống KSNB trong khu vực công, các nhà lãnh đạo cần nhận thức

Trang 18

rõ về tầm quan trọng của hệ thống KSNB nhất là trong công tác quản lý rủi ro để nhằm hoàn thành các mục tiêu trong quản lý tài chính, tăng cường tính minh bạch

và trách nhiệm giải trình của đơn vị

1.1.2 Những nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác thu thuế

Thuế là một lĩnh vực có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế của một quốc gia (Yuniati, 2017), nền tài chính của quốc gia đó sẽ lành mạnh khi có được nguồn thu chủ yếu từ thuế, và khi nền kinh tế càng phát triển thì khoản thu từ thuế ngày càng tăng Thuế cũng được coi là một khoản thu quan trọng nhất vì khoản thu này mang tính chất ổn định Do đó, các tác giả trên thế giới cũng đã nghiên cứu khá nhiều về lĩnh vực này, riêng đối với nghiên cứu về hệ thống KSNB đối với công tác thu thuế, tác giả tìm được một số đề tài liên quan đến ngành thuế mà tác giả đang nghiên cứu để từ đó kế thừa và sửa đổi cho phù hợp với tình hình tại Việt Nam

Theo nghiên cứu của Matamande và cộng sự (2012) thì cho rằng thu thuế là một yếu tố quan trọng trong quản lý tài chính, độ lớn của ngân sách phụ thuộc rất nhiều vào số tiền thuế thu được Bài nghiên cứu xem xét hiệu quả của hệ thống KSNB trong việc thu thuế và quản lý chi tiêu công tại các cơ quan thuế ở Zimbabwe (ZIMRA) Tác giả cho rằng hệ thống KSNB có ý nghĩa trong việc tăng hiệu quả thu thuế cũng như giảm rò rỉ chi tiêu công Các nhà chính sách nên tăng cường và cải thiện hệ thống KSNB để đạt được kết quả tốt nhất trong quản lý quỹ công

Sự hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ là rất quan trọng bởi vì các tác động của nó đối với việc tạo doanh thu trong một tổ chức, ngăn chặn được gian lận của nhân viên (Ewa & Uduuayang, 2012) Tác giả Ibrahim (2017) đã tiến hành một phân tích thực nghiệm về các yếu tố của hệ thống kiểm soát nội bộ tác động đến thu nhập doanh thu tại các cơ quan Federal Inland Revenue Service (FIRS) thuộc khu vực công ở Nigeria kết quả nghiên cứu đã cho thấy rằng các thành phần của hệ thống KSNB bao gồm môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát có tác động đáng kể đến công tác thu thập doanh thu trong FIRS

Trang 19

Hiện nay, vấn đề tham nhũng xảy ra trên tất cả các lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục vv không những ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới Trong đó, vấn đề tham nhũng, quan liêu trong ngành Thuế vẫn được đề cập khá nhiều Điều này chứng tỏ sự thiếu hiệu quả hay sự yếu kém của hệ thống KSNB của các đơn vị trong việc quản lý (Amudo và Inanga, 2009) Tác giả Yuniati (2017) đã thực hiện nghiên cứu nhằm mục đích kiểm tra hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội

bộ đối với hiệu quả của việc thu thuế Dựa trên dữ liệu đã được thu thập và kiểm tra cho thấy hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả hơn bao gồm môi trường quản lý, thiết lập mục tiêu, xác định sự kiện, đánh giá rủi ro, phản ứng rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông và giám sát được áp dụng trong cơ quan thuế có thể tăng hiệu quả của việc thu thuế thu nhập, phòng ngừa các rủi ro về tham nhũng, hối

lộ của các đơn vị trên tất cả các quốc gia hiện nay

1.2 Những nghiên cứu trong nước

1.2.1 Những nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực công

Khi đất nước ta chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường thì nền kinh tế của nước ta đã có những bước thay đổi và phát triển mạnh mẽ Từ đây, nhu cầu của các bên liên quan ngày càng gia tăng trong vấn đề minh bạch tài chính không chỉ của các doanh nghiệp tư nhân mà còn là các đơn vị thuộc khu vực công

Để đáp ứng nhu cầu đó, đất nước ta cần có một nền tảng căn bản các lý thuyết về KSNB cũng như việc xây dựng hệ thống KSNB để làm cơ sở cho việc quản lý Quy chế về kiểm toán độc lập đã được chính phủ ban hành vào năm 1994 Những năm sau đó, các chuẩn mực kiểm toán cũng đã được ban hành để hình thành nên các định nghĩa về hệ thống KSNB, trong đó chuẩn mực kiểm toán số 315 đã nêu rõ về

“Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị kiểm toán và môi trường của đơn vị”

Những năm sau đó, Luật Kế toán 2015 và các Thông tư cũng đã hướng dẫn và quy định về việc phải xây dựng Hệ thống KSNB trong các đơn vị kế toán, các ngân hàng, các tổ chức tín dụng vv Tuy nhiên, trên thực tế vai trò của Hệ thống KSNB

Trang 20

trong các đơn vị ở Việt Nam, đặc biệt là trong các đơn vị thuộc khu vực hành chính công nói chung và các đơn vị thuộc ngành Thuế nói riêng vẫn còn khá mờ nhạt

Trước hết, tại các trường Đại học, cao đẳng việc nghiên cứu về hệ thống KSNB được khá nhiều tác giả quan tâm Tác giả Trần Thị Giang Tân (2012) đã xuất bản cuốn: “Kiểm soát nội bộ” trình bày rất chi tiết các thông tin về KSNB và hệ thống KSNB theo khuôn mẫu của COSO Các tác giả Phạm Thị Hoàng (2013), Nguyễn Thị Thu Hậu (2014), Nguyễn Thị Hoàng Anh (2014) và một số tác giả khác

đã nghiên cứu nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB tại các trường đại học, cao đẳng Các bài nghiên cứu đã Hệ thống hóa lý luận về hệ thống KSNB theo COSO và đi sâu nghiên cứu hệ thống KSNB tại khu vực công theo INTOSAI, tìm hiểu thực trạng, phân tích và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị cụ thể và thiết thực nhằm hoàn thiện và nâng cao hệ thống kiểm soát nộ bộ tại các trường Đại học, cao đẳng khu vực công lập

Để khám phá việc xây dựng và thực hành KSNB trong các cơ quan hành chính; các tác giả Lê Đoàn Minh Đức và cộng sự (2016) đã thực hiện nghiên

cứu“Khảo sát hệ thống kiểm soát nội bộ tại các cơ quan hành chính”, bài đăng trên

Tạp chí Tài chính kỳ I, số tháng 8/2016, tác giả đã đưa ra những nhận xét và đánh giá về hệ thống KSNB đang hiện diện tại cơ quan hành chính Nhà nước hiện nay, bài viết cũng đưa ra những kiến nghị mang tính định hướng nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công việc tại các cơ quan hành chính; góp phần hoàn thành tốt nhiệm

vụ được Nhà nước giao và tuân thủ đúng quy định quản lý tài chính

Đối với các nghiên cứu tại các lĩnh vực cụ thể, cụ thể như nghiên cứu về hệ thống các bệnh viện công lập, các tác giả Trần Trịnh Như Quỳnh (2017), Nguyễn Ngọc Tuyền (2017) đã nghiên cứu về tác động của các yếu tố cấu thành đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các bệnh viện công lập tại TP.HCM và tỉnh Phú Yên Kết quả đều cho thấy 5 yếu tố cấu thành đều có ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các bệnh viện công lập

Đối với lĩnh vực kho bạc, các nghiên cứu của các tác giả Bùi Thanh Huyền (2011), Lê Thị Phương Nam (2014) đã nghiên cứu nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB tại một đơn vị cụ thể là Kho bạc Nhà nước Quận 10 và Kho bạc Nhà nước

Trang 21

Tỉnh Bình Thuận, các nghiên cứu này chỉ thực hiện bằng phương pháp định tính, chưa có số liệu thống kê để chứng minh cụ thể sự ảnh hưởng của hệ thống KSNB đến hoạt động của Kho bạc Trong khi đó, kế thừa và phát triển hơn từ các nghiên cứu trước, tác giả Phạm Huyền Trang (2017) đã Hệ thống hoá các cơ sở lý luận liên

quan đến những nội dung về hệ thống KSNB Nghiên cứu đã xác định 5 nhân tố và

mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB các KBNN trên địa bàn TPHCM, đó là: đánh giá rủi ro, môi trường kiểm soát, thông tin

và truyền thông, hoạt động kiểm soát, giám sát Từ đó, tác giả Xây dựng giải pháp

cụ thể và các kiến nghị để nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại Kho bạc Nhà nước trên địa bàn TP.HCM

Đối với lĩnh vực ngân hàng, có khá nhiều tác giả đã thực hiện nghiên cứu, tuy nhiên có nghiên cứu của tác giả Hồ Tuấn Vũ (2017) là nổi bật vì đã chỉ ra 7

nhân tố ảnh hưởng đến sự hữu hiệu của hệ thống KSNB trong các ngân hàng

thương mại Việt Nam, ngoài 5 nhân tố của hệ thống KSNB bao gồm: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát thì tác giả đã khám phá ra 2 nhân tố mới là nhân tố thể chế chính trị và lợi ích nhóm Từ đó, tác giả đưa ra những hàm ý chính sách nhằm tăng cường sự hữu hiệu của hệ thống KSNB trong các ngân hàng thương mại Việt nam

1.2.2 Những nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ trong lĩnh vực thuế

Các tác giả Nguyễn Việt Tường (2014), Nguyễn Trường Giang (2014), Phạm

Vũ Thúy Hằng (2015) và một số tác giả khác đã nghiên cứu thực trạng hệ thống KSNB tại các Chi cục Thuế theo 5 yếu tố cấu thành cơ bản của hệ thống KSNB theo COSO và theo INTOSAI, từ đó các tác giả đưa ra các giải pháp hoàn thiện nhằm tổ chức và thực thi hiệu quả hệ thống KSNB trong công tác kiểm tra thuế, thu thuế và chống thất thu thuế tại các Chi cục thuế được nghiên cứu Tuy nhiên, các bài nghiên cứu trên đều thực hiện theo phương pháp định tính, chưa có thang đo lường cụ thể, và chỉ nghiên cứu tại một đơn vị cụ thể

Tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền (2015), Luận văn thạc sĩ kinh tế, “Các yếu

tố của hệ thống kiếm soát nội bộ ảnh hưởng tới hoạt động thu thuế tại Chi cục Thuế Quận 9”, nghiên cứu đã nêu lên được thực trạng hệ thống KSNB tại Chi cục Thuế

Trang 22

Quận 9, tác giả đã nêu ra 5 yếu tố của hệ thống KSNB có tác động tới hoạt động thu thuế, xây dựng được thang đo cụ thể, tuy nhiên nghiên cứu này cũng chỉ nghiên cứu cho phù hợp với đặc thù của một đơn vị là Chi cục Thuế Quận 9

Bảng 1.1: BẢNG TỔNG HỢP TÓM TẮT CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ

Tác giả (năm) Mục tiêu nghiên

cứu

Phương pháp nghiên cứu

Kết quả đạt được

Amudo và

Inanga, 2009

Phân tích tác động của sự thiếu hụt hệ thống kiểm soát

nội bộ

Dữ liệu bảng

Biến phụ thuộc: Sự hữu hiệu hệ thống KSNB

Biến độc lập: Các nhân

tố của hệ thống KSNB;

công nghệ thông tin

Nghiên cứu đưa ra kết luận rằng sự thiếu hụt hệ thống kiểm soát nội bộ có tác động tiêu cực đáng kể đến công tác quản lý

nhiệm giải trình

Dữ liệu bảng

Biến phụ thuộc: Trách nhiệm giải trình tài chính

Biến độc lập: Các nhân

tố của hệ thống KSNB

Hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách nên tăng cường đảm bảo hệ thống KSNB phù hợp

và hiệu quả để thiết lập và nâng cao trách nhiệm giải trình nhiều hơn giữa các phòng ban

để cải thiện hiệu quả của tổ

chức

Trang 23

Tác giả (năm) Mục tiêu nghiên

cứu

Phương pháp nghiên cứu

Kết quả đạt được

Matamande và

cộng sự (2012)

Hệ thống KSNB tác động đến thu thuế và quản lý chi tiêu công tại các

cơ quan thuế ở Zimbabwe

Ibrahim

(2017)

Các yếu tố của hệ thống kiểm soát nội bộ tác động đến thu nhập doanh thu tại các

cơ quan (FIRS) thuộc khu vực công ở Nigeria

Nghiên cứu định lượng Phân tích thực nghiệm Biến phụ thuộc: Thu nhập doanh thu

Biến độc lập: Các nhân

tố của hệ thống KSNB

Kết quả nghiên cứu đã cho thấy rằng các thành phần của hệ thống KSNB có tác động đáng

kể đến công tác thu thập doanh thu trong FIRS

Yuniati (2017) Kiểm tra hiệu quả

của hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hiệu quả của việc thu thuế

Nghiên cứu định lượng Biến phụ thuộc: Hiệu quả công tác thu thuế

Biến độc lập: Các nhân

tố của hệ thống KSNB

Hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả hơn có thể tăng hiệu quả của việc thu thuế thu nhập, phòng ngừa các rủi ro về tham nhũng, hối lộ của các đơn vị trên tất cả các quốc gia hiện nay

Nghiên cứu định lượng Biến phụ thuộc: tính hữu hiệu của hệ thống KSNB

Biến độc lập: Các nhân

tố của hệ thống KSNB

Kết quả đều cho thấy 5 yếu tố cấu thành đều có ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB

Trang 24

Tác giả (năm) Mục tiêu nghiên

cứu

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu hỗn hợp Biến phụ thuộc: tính hữu hiệu của hệ thống KSNB

Biến độc lập: 5 nhân tố của hệ thống KSNB, thể chế chính trị, lợi ích nhóm

Tác giả đã khám phá thêm 2 nhân tố mới là nhân tố thể chế chính trị và lợi ích nhóm ngoài các nhân tố của hệ thống KSNB có ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các NHTM

Nghiên cứu định tính

là chính, chưa có thang

đo lường cụ thể, và chỉ nghiên cứu tại một đơn

vị cụ thể

Giải pháp hoàn thiện nhằm tổ chức và thực thi hiệu quả hệ thống KSNB trong công tác kiểm tra thuế, thu thuế và chống thất thu thuế tại các Chi cục thuế được nghiên cứu

Nguyễn Thị

Thanh Huyền

(2015)

Các yếu tố của hệ thống kiếm soát nội bộ ảnh hưởng tới hoạt động thu thuế tại Chi cục Thuế Quận 9

Nghiên cứu định lượng Biến phụ thuộc: Hiệu quả thu thuế

Biến độc lập: Các nhân

tố của hệ thống KSNB

Tác giả đã chỉ ra 5 yếu tố của

hệ thống KSNB có tác động tới hoạt động thu thuế, xây dựng được thang đo cụ thể, tuy nhiên nghiên cứu này cũng chỉ nghiên cứu cho phù hợp với đặc thù của một đơn vị là Chi cục Thuế Quận 9

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ các nghiên cứu trong và ngoài nước)

1.3 Nhận xét tổng quan các nghiên cứu trước

Sau khi tìm hiểu các bài nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài của luận văn, tác giả có một số nhận xét sau:

Trang 25

Các công trình nghiên cứu đã cho thấy được hệ thống KSNB là một đề tài vẫn được nhiều tác giả lựa chọn để nghiên cứu cho đến nay Việc nghiên cứu vận dụng hệ thống KSNB trong khu vực công đã được thực hiện khá phổ biến ở những dòng, lĩnh vực nghiên cứu khác nhau

Các đề tài nghiên cứu của nước ngoài đã nêu lên được sự hiện diện của hệ thống KSNB trong các đơn vị, nhận thấy tầm quan trọng của hệ thống KSNB, nhằm tăng cường hơn nữa tính minh bạch hay trách nhiệm giải trình tài chính trong quản

lý tài chính của các đơn vị thuộc khu vực công hiện nay, đặc biệt là đề cao vai trò của hệ thống KSNB trong việc tác động tích cực tới công tác thu nhập của đơn vị

Đối với các nghiên cứu trong nước, tác giả nhận thấy rằng các đề tài đã tập trung nghiên cứu lý luận về hệ thống KSNB, việc thực hiện KSNB theo hướng dẫn của COSO hay INTOSAI; nghiên cứu hệ thống KSNB tại một đơn vị cụ thể; ảnh hưởng của hệ thống KSNB theo các khía cạnh khác nhau, các lĩnh vực khác nhau (như nghiên cứu tại các ngân hàng, kho bạc, bảo hiểm, bệnh viện, trường học vv), nhận ra các mặt còn tồn tại để từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện

1.4 Khoảng trống nghiên cứu và định hướng nghiên cứu của tác giả

1.4.1 Khoảng trống nghiên cứu

Từ việc nhận xét các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài của luận văn, tác giả nhận thấy có rất ít đề tài nghiên cứu đến hệ thống KSNB của lĩnh vực thuế tại Việt Nam, hay nói cách khác là nghiên cứu một cách hệ thống, trực tiếp về sự tác động của các nhân tố thuộc hệ thống KSNB đến hiệu quả công tác thu thuế; trong khi đó thuế là một lĩnh vực có vai trò rất quan trọng với bất

kỳ quốc gia nào như tác giả đã đề cập ở trên; các nghiên cứu đa số thực hiện theo phương pháp định tính, chưa có thang đo lường, nếu có thang đo thì cũng chỉ được nghiên cứu nhằm phù hợp với đặc thù của một tổ chức cụ thể, chưa mở rộng nghiên cứu tại một lĩnh vực ví dụ như lĩnh vực thuế Do đó, tác giả cho rằng đây chính là khoảng trống nghiên cứu để tác giả có thể thực hiện đề tài này

1.4.2 Định hướng nghiên cứu của tác giả

Tác giả sẽ tiếp tục kế thừa và phát triển các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã công bố để thực hiện nghiên cứu về các nhân tố của hệ thống KSNB

Trang 26

tác động tới hiệu quả công tác thu thuế tại các cơ quan thuế Các nhân tố trên theo INTOSAI 2004 bao gồm: Môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin và truyền thông, Giám sát Tác giả sẽ thực hiện nghiên cứu tại các

cơ quan thuế trên địa bàn TP Hồ Chí Minh bởi vì TP Hồ Chí Minh là đô thị lớn nhất nước ta, một trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ, đầu mối giao lưu quốc tế, có vị trí chính trị quan trọng của cả nước, do đó nơi đây cũng tập trung nguồn thu lớn nhất cho NSNN Việc nâng cao được hiệu quả công tác thu thuế tại địa bàn TP Hồ Chí Minh sẽ góp phần rất lớn vào công tác thu NSNN của nước Việt Nam

TÓM TẮT CHƯƠNG 1:

Chương này tác giả đã tổng quan về các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến hệ thống KSNB trong khu vực công và ngành Thuế dựa trên cơ sở chọn lọc các nghiên cứu tiêu biểu đã được công bố, nêu lên được các đóng góp của các đề tài cũng như các hạn chế còn chưa được nghiên cứu để từ đó tác giả đưa ra khoảng trống nghiên cứu và sự cần thiết phải thực hiện đề tài này

Trang 27

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LÝ THUYẾT NỀN

2.1 Một số vấn đề chung về hệ thống kiểm soát nội bộ

2.1.1 Khái niệm kiểm soát nội bộ và hệ thống kiểm soát nội bộ

Kiểm soát nội bộ là một khái niệm đã được thảo luận rất nhiều trong các tài liệu nghiên cứu hiện nay Nó không phải là một thủ tục hay chính sách được thực hiện tại một thời điểm nhất định mà nó là một quy trình hoạt động được vận hành liên tục ở tất cả mọi cấp độ trong đơn vị nhằm cung cấp một sự đảm bảo hợp lý để giảm thiểu các rủi ro và đạt được mục tiêu chung của tổ chức, quá trình này sẽ thay đổi liên tục để thích ứng với mọi thay đổi mà tổ chức sẽ phải đối mặt

Theo COSO năm 2013 - Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống

gian lận khi lập báo cáo tài chính đã định nghĩa như sau: “Kiểm soát nội bộ là một quy trình đưa ra bởi Ban quản trị của doanh nghiệp, nhà quản lý và các nhân sự khác, được thiết kế để đưa ra sự đảm bảo cho việc đạt được mục tiêu về hoạt động, báo cáo và tuân thủ”

Theo chuẩn mực kiểm toán số 315 ban hành kèm theo thông tư 214/2012/TT-BTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 của Bộ Tài Chính đã nêu ra khái

niệm về kiểm soát nội bộ: “Kiểm soát nội bộ là quy trình do Ban quản trị, Ban giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan”

Theo khoản 1 điều 39 Luật Kế toán năm 2015 nêu rằng: “Kiểm soát nội bộ

là việc thiết lập và tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra

Hiện nay, có rất nhiều quan điểm về hệ thống KSNB khác nhau do yêu cầu

và góc độ nhìn nhận khác nhau Trong đó, quan điểm chung được thừa nhận rộng

rãi nhất hiện nay là “Hệ thống KSNB là toàn bộ các chính sách, những quy định, các thủ tục kiểm soát, các bước công việc do lãnh đạo đơn vị xây dựng và áp dụng nhằm quản lý và điều hành hoạt động của đơn vị đạt kết quả Hệ thống KSNB nhằm

Trang 28

vào 3 vấn đề lớn, đó là: Tuân thủ luật pháp và quy định; Đảm bảo mục tiêu của hoạt động (hiệu quả hoạt động và hiệu năng quản lý); Đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính”

Theo tác giả Thịnh Văn Vinh (2016), bài đăng trên Tạp chí Tài chính kỳ I, số tháng 11/2016 đã nêu ra rằng “Kiểm soát nội bộ và hệ thống kiểm soát nội bộ cùng

có chung mục đích, đều do con người xây dựng, thiết lập nhưng chúng có những điểm khác nhau Kiểm soát nội bộ thường đi vào kiểm soát với những chính sách, thủ tục, nguyên tắc, quy định có tính hệ thống được thừa nhận rộng rãi, phổ biến Còn khi nói hệ thống kiểm soát nội bộ là nói đến các chính sách, thủ tục, các bước kiểm soát do lãnh đạo đơn vị xây dựng có tính chất bao trùm tất cả mọi lĩnh vực trong đơn vị Vậy, hệ thống KSNB bao gồm cả KSNB và bản thân con người cùng với những phương tiện có tính chất kỹ thuật, cấu trúc hướng vào kiểm soát mang tính bền vững, ổn định, đảm bảo và lâu dài”

Hệ thống KSNB hiệu quả khi tổ chức thường xuyên đánh giá chất lượng thông tin hoạt động, xem xét các chính sách liên quan đến kiểm soát tài sản, đánh giá của nhân viên, tuân thủ các luật lệ, thủ tục, quy định liên quan của tổ chức (Aramide, Mustapha và Bashir, 2015)

2.1.2 Lịch sử ra đời và phát triển của hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực công

Thuật ngữ “Kiểm soát nội bộ” đã được đề cập lần đầu tiên bởi Cục dự trữ Liên bang Hoa Kỳ vào năm 1929 với định nghĩa như sau: “KSNB là công cụ để bảo

vệ tiền và các tài sản khác đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động, đây là 1

cơ sở để phục vụ cho việc lấy mẫu thử nghiệm của kiểm toán viên” Từ những năm

1970 – 1980, nền kinh tế thế giới đặc biệt là Hoa Kỳ phát triển mạnh mẽ, bên cạnh

đó không tránh khỏi các tai tiếng về các vụ gian lận Năm 1985, tổ chức COSO - Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận khi lập báo cáo tài chính đã

ra đời và công bố báo cáo COSO vào năm 1992, được sửa đổi và cập nhất mới vào năm 2013 cho phù hợp với tình hình kinh doanh đã có những thay đổi lớn sau 20 năm ban hành, đây được xem là tài liệu đầu tiên trên thế giới nghiên cứu một cách

có hệ thống và đầy đủ về KSNB Những năm sau đó, báo cáo COSO đã phát triển

Trang 29

theo nhiều hướng khác nhau, từ việc phát triển theo hướng Công nghệ thông tin (CoBIT) đến phát triển theo hướng quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM 2004) Có thể xem báo cáo COSO chính là một khuôn mẫu lý thuyết cơ bản để từ đó các nhà nghiên cứu sẽ phát triển và hoàn thiện nó hơn trong các bối cảnh nền kinh tế và môi trường kinh doanh khác nhau

Xã hội phát triển, kiểm toán nội bộ và hệ thống kiểm soát nội bộ không chỉ nằm trong phạm vi hoạt động của đơn vị mà nó vượt ra khỏi phạm vi nội bộ đơn vị nhằm đáp ứng yêu cầu sử dụng thông tin của các đối tượng bên ngoài Luật Kế toán năm 2015 đã chỉ rõ trách nhiệm của đơn vị kế toán phải xây dựng, thiết lập một hệ thống kiểm soát nội bộ có hiệu quả, hiệu lực và tin cậy, tổ chức kiểm toán nội bộ với những nhiệm vụ được quy định cụ thể theo luật định Với những lợi ích mà hệ thống kiểm soát nội bộ mang lại, nhiều đơn vị như các công ty, các ngân hàng đã rất quan tâm đến hoạt động KSNB và thực hiện xây dựng hệ thống KSNB trong tổ chức của mình

Đối với khu vực công, KSNB cũng rất được quan tâm Năm 1992, Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) đã ban hành hướng dẫn về KSNB

áp dụng riêng cho khu vực công (INTOSAI 1992) Năm 2001, INTOSAI quyết định cập nhật các hướng dẫn của INTOSAI 1992 về các tiêu chuẩn kiểm soát nội bộ để xem xét tất cả các diễn biến có liên quan và gần đây trong kiểm soát nội bộ và kết hợp với báo cáo COSO có tên là Internal Control - Integrated Framework trong tài liệu INTOSAI và được công bố vào năm 2004 (INTOSAI 2004) Bằng cách thực hiện mô hình COSO trong các hướng dẫn, INTOSAI không chỉ nhằm mục đích cập nhật lý luận về kiểm soát nội bộ mà còn cung cấp khuôn mẫu chung về kiểm soát nội bộ dành riêng cho khu vực công

Khác biệt với định nghĩa COSO và hướng dẫn trong INTOSAI năm 1992, khía cạnh đạo đức và trách nhiệm giải trình đã được thêm vào trong INTOSAI

2004 Việc đưa vào các mục tiêu kiểm soát nội bộ là hợp lý, vì tầm quan trọng của hành vi đạo đức cũng như phòng ngừa, phát hiện gian lận và tham nhũng trong khu vực công đã trở nên nổi bật hơn kể từ những năm 90

Trang 30

Theo Tạp chí Tài chính kỳ I, số tháng 8/2016, bài viết đã nghiên cứu về hệ thống KSNB cho khu vực công theo những hướng dẫn của INTOSAI, bằng phương pháp nghiên cứu hợp lý, tác giả đã nhận diện một cách có hệ thống về KSNB trong các cơ quan hành chính “Kết quả là các thành phần trong hệ thống KSNB cũng đang tồn tại trong cơ chế hoạt động tại các cơ quan hành chính nhưng chưa được hệ thống lại, cũng như chưa được ban hành bằng văn bản cụ thể Bên cạnh đó, cũng còn một số điểm liên quan hệ thống kiểm soát cần phải hoàn thiện và phát triển hơn nữa nhằm thực hiện tốt hơn nữa nhiệm vụ do Nhà nước giao phó” (Lê Đoàn Minh Đức và cộng sự, 2016)

2.1.3 Mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực công

Đối với khu vực công thì theo INTOSAI 2004 đã chỉ ra rằng hệ thống KSNB

có 4 mục tiêu chung sau:

 Thúc đẩy các hoạt động hữu hiệu, hiệu quả, kinh tế và đạo đức

 Thực hiện trách nhiệm giải trình

 Tuân thủ luật pháp và các quy định

 Bảo vệ các nguồn lực nhằm chống lại việc thất thoát, phá hủy

Tầm quan trọng của hành vi đạo đức, phòng ngừa và phát hiện gian lận, tham nhũng trong khu vực công được nhấn mạnh hơn kể từ những năm 90 Đạo đức công

vụ là điều kiện trước hết để công chức thực hiện công bằng trong thi hành công vụ, đảm bảo được niềm tin của công chúng vào nền hành chính công hiện nay

Theo INTOSAI (2004), Trách nhiệm giải trình là quá trình mà các tổ chức hoặc cá nhân cung cấp dịch vụ công chịu trách nhiệm về các quyết định và hành động của họ, bao gồm quản lý quỹ công, công bằng và tất cả các khía cạnh của hiệu suất hoạt động Điều này sẽ được thể hiện bằng cách phát triển, duy trì và cung cấp thông tin tài chính và phi tài chính có liên quan và đáng tin cậy, các thông tin đó sẽ được công khai kịp thời qua các báo cáo cho các bên liên quan

Như vậy, mục tiêu của hệ thống KSNB bao phủ lên toàn bộ quá trình hoạt động của đơn vị, từ việc thúc đẩy tính hữu hiệu hiệu quả trong các hoạt động, hạn chế rủi ro, đảm bảo độ tin cậy của thông tin và báo cáo, tuân thủ các chính sách, quy định, và cuối cùng là bảo vệ tài sản công của đơn vị, trong đó INTOSAI đã nhấn

Trang 31

mạnh hai vấn đề về tầm quan trọng của hành vi đạo đức và trách nhiệm giải trình khi thi hành công vụ trong các đơn vị thuộc khu vực công hiện nay

2.1.4 Giới hạn của hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực công

Theo INTOSAI (2004), một hệ thống KSNB cho dù được hình thành và vận hành tốt thế nào thì cũng chỉ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý, không thể cung cấp

sự đảm bảo tuyệt đối về việc đạt được mục tiêu của tổ chức vì luôn có nguy cơ rằng

hệ thống KSNB sẽ được thiết kế kém hiệu quả hoặc không hoạt động ổn định như

dự định vì các lý do sau đây:

- Hệ thống KSNB phụ thuộc vào yếu tố con người, khi con người thiếu chú

ý, bất cẩn, thiếu thận trọng, mệt mỏi, không tập trung thì sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ

- Chi phí cho hệ thống KSNB không thể vượt quá lợi ích mà hệ thống đó mang lại Tùy vào mức độ rủi ro của kiểm soát mà ban quản lý xem xét việc quyết định chấp nhận rủi ro hay thiết lập một kiểm soát mới

- Thay đổi tổ chức và thái độ quản lý làm cho các thủ tục của KSNB bị lạc hậu, do đó nhà quản lý cần phải liên tục cập nhật hệ thống KSNB thường xuyên và kịp thời

Những hạn chế đã được nêu để tránh những kỳ vọng quá mức về hiệu quả

mà hệ thống KSNB mang lại cho đơn vị Do đó, tùy vào ngành nghề, quy mô, văn hóa và phong cách quản lý mà hệ thống KSNB được xây dựng cho phù hợp

2.2 Các nhân tố cấu thành của hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực công

Tương tự như Báo cáo COSO 2013, INTOSAI 2004 cập nhật mới so với INTOSAI 1992 đã chỉ ra rằng KSNB bao gồm 5 nhân tố cấu thành: Môi trường kiểm soát; Đánh giá rủi ro; Hoạt động kiểm soát; Thông tin và truyền thông; Giám sát

2.2.1 Môi trường kiểm soát

Môi trường kiểm soát thiết lập một giai điệu (tone) riêng cho tổ chức đó và ảnh hưởng đến ý thức kiểm soát của nhân viên Đây được xem là yếu tố nền tảng cho tất cả các thành phần khác còn lại của hệ thống KSNB Các yếu tố của môi

Trang 32

trường kiểm soát bao gồm: tính toàn vẹn và cam kết về giá trị đạo đức, cam kết về năng lực nhân viên, triết lý và phong cách của nhà lãnh đạo, cơ cấu tổ chức và chính sách nguồn nhân lực

- Tính toàn vẹn và cam kết về giá trị đạo đức được xem là yếu tố quan trọng

để góp phần vào một môi trường kiểm soát hiệu quả, tạo thành các chuẩn mực về hành vi cho các nhân viên trong các hành động hằng ngày của họ Các cán bộ công chức Nhà nước phải tuân thủ các quy tắc ứng xử đã được quy định trong các nội quy, quy chế làm việc Ban lãnh đạo có thể khuyến khích tính toàn vẹn bằng cách:

 Thiết lập bộ quy tắc ứng xử

 Tuân thủ các giá trị đạo đức và quy tắc ứng xử của đơn vị

 Khen thưởng các nhân viên tuân thủ các cam kết về giá trị đạo đức

 Thiếp lập và tuân thủ việc thực thi kỷ luật đối với các vi phạm đạo đức

Nhà quản lý cũng cần nhận thức được tầm quan trọng của tinh thần và thái độ trong quá trình xử lý công việc hàng ngày của nhân viên Họ sẽ sẵn sàng thực thi nhiệm vụ với tinh thần trách nhiệm cao nhất, có kỷ cương kỷ luật nếu tổ chức luôn tạo cho họ cơ hội thăng tiến, công nhận năng lực của họ, ý kiến của họ được đánh giá cao, họ được xem trọng và là một phần trong sứ mệnh đạt được mục tiêu của tổ chức, các hình thức tuyên dương khen thưởng công bằng

- Cam kết về năng lực nhân viên: “năng lực” là những kỹ năng, kiến

thức và khả năng khi thực hiện một nhiệm vụ được giao Ban lãnh đạo đảm bảo năng lực của nhân viên bằng cách thiếp lập các chính sách và thực hành nguồn nhân lực hiệu quả (Mahadeen và cộng sự, 2016) Ban lãnh đạo và nhân viên đều phải hiểu được tầm quan trọng trong việc xây dựng và thực hiện KSNB trong tổ chức Mỗi các nhân đều tham gia vào hệ thống KSNB với vai trò và trách nhiệm cụ thể của mình

- Triết lý và phong cách của nhà lãnh đạo thể hiện qua thái độ của Ban

lãnh đạo được thể hiện qua các hành động, các quyết định của họ khi điều hành đơn

vị Nếu các nhà lãnh đạo đều đề cao vai trò của hệ thống KSNB thì những cá nhân khác trong tổ chức sẽ nhận thức được và sẽ tận tâm trong việc xây dựng hệ thống

Trang 33

KSNB trong tổ chức của mình Mặt khác, nếu các thành viên của tổ chức đều không nhận thấy mối quan tâm quan trọng dành cho hệ thống KSNB thì chắc chắn rằng

mục tiêu kiểm soát của tổ chức sẽ không đạt được hiệu quả

- Cơ cấu tổ chức bao gồm việc phân chia trách nhiệm và quyền hạn

giữa các thành viên trong tổ chức một cách phù hợp với năng lực và chuyên môn

của họ và xây dựng một hệ thống báo cáo thích hợp giữa các phòng ban

- Chính sách nguồn nhân lực bao gồm tuyển dụng nhân sự, định hướng,

giáo dục và đào tạo, đánh giá, bổ nhiệm, khen thưởng và kỷ luật Việc tuyển dụng các nhân viên có năng lực, đáng tin cậy về mặt đạo đức là việc cần thiết để cung cấp

một sự kiểm soát có hiệu quả

2.2.2 Đánh giá rủi ro

Theo COSO 2013 và INTOSAI 2004 thì đánh giá rủi ro là một quá trình gồm các bước sau:

 Xác định hay nhận diện rủi ro

 Phân tích, đánh giá rủi ro

 Xây dựng các biện pháp đối phó rủi ro Nội dung các bước được minh họa qua hình 2.1 như sau:

Hình 2.1: Khái quát quy trình đánh giá rủi ro của COSO

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ COSO 2013 và INTOSAI 2004)

Nhận diện rủi ro yêu cầu nhà lãnh đạo cần xác định và phân loại các rủi ro có thể xảy ra bao gồm rủi ro bên trong và bên ngoài, rủi ro ở cấp nào, loại nào, bản chất của rủi ro, lý do xảy ra rủi ro…vv đặc biệt trong khu vực công thì ban lãnh đạo

- Xác định mục tiêu;

- Thiết lập cơ chế

nhận dạng rủi ro

- Thiệt hại;

- Xác suất xảy ra

- Phân tán rủi ro;

BIỆN PHÁP

Trang 34

cần xác định những rủi ro về gian lận hay tham nhũng có thể ảnh hưởng đến quá trình thực hiện mục tiêu hay kế hoạch được Nhà nước giao phó

Để quyết định được cách xử lý rủi ro thì ngoài việc xác định rủi ro còn phải đánh giá mức độ của rủi ro, khả năng xảy ra và tác hại của nó Phương pháp đánh giá rủi ro có nhiều loại và thay đổi theo từng loại rủi ro, nó được coi là một nghệ thuật hơn là khoa học Vì vậy, việc đánh giá rủi ro có hệ thống theo các khuôn khổ nhất định nhằm phân loại rủi ro, xếp hạng theo thứ tự ưu tiên các rủi ro cần giải quyết (ví dụ các rủi ro có khả năng xảy ra cao) để phân bổ nguồn lực một cách thích hợp

Sau khi nhận diện và đánh giá rủi ro thì nhà quản lý sẽ phát triển các biện pháp để đối phó với rủi ro, với bốn loại đối phó sau: Phân tán rủi ro, chấp nhận rủi

ro, né tránh rủi ro và xử lý hạn chế rủi ro Trong hầu hết các trường hợp, rủi ro sẽ phải được xử lý và đơn vị cần phải thực hiện và duy trì một HTKSNB hữu hiệu để giữ rủi ro ở một mức chấp nhận được Điều quan trọng cần lưu ý là đơn vị không thể loại bỏ tất cả rủi ro nên các biện pháp đối phó cần thực hiện sao cho có sự phù hợp giữa lợi ích và chi phí, đảm bảo hợp lý rằng các mục tiêu của đơn vị đang được thực hiện Một vấn đề nữa là khi có sự thay đổi về điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp thì cũng kéo theo sự thay đổi liên tục về rủi ro mà đơn vị sẽ phải đối mặt, vì vậy quá trình nhận diện, đánh giá và xử lý rủi ro là một quá trình lặp đi lặp lại liên tục của các nhà lãnh đạo Họ cần phải thường xuyên xem xét lại các hồ sơ rủi ro để điều chỉnh cho phù hợp với từng thời điểm

2.2.3 Hoạt động kiểm soát

Các hoạt động kiểm soát là các chính sách và thủ tục được thiết lập để giải quyết các rủi ro nhằm đạt được các mục tiêu của đơn vị Để có hiệu quả, các hoạt động kiểm soát cần phải:

• Thích hợp (nghĩa là, quyền kiểm soát đúng nơi và phù hợp với rủi ro liên quan);

• Hoạt động liên tục theo kế hoạch trong suốt thời gian kiểm soát;

• Đạt được hiệu quả về mặt chi phí;

• Toàn diện, hợp lý và trực tiếp liên quan đến các biện pháp kiểm soát

Trang 35

Các hoạt động kiểm soát bao gồm một loạt các chính sách và thủ tục đa dạng như sau:

- Thủ tục ủy quyền và phê duyệt: Đây được xem là thủ tục đảm bảo người

quản lý có thể kiểm soát và hạn chế được vấn đề giải quyết công việc không đúng thẩm quyền, bởi người được ủy quyền chỉ được thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi

và trách nhiệm được giao, tuân thủ đúng các quy định của luật pháp Các văn bản

ủy quyền phải được công bố công khai, và được xem xét cập nhật kịp thời nếu có sự thay đổi

- Phân chia trách nhiệm: Để giảm các nguy cơ rủi ro về sai sót, lãng phí hay

các hành vi sai phạm do cố ý thì một nhiệm vụ sẽ không để cá nhân hay bộ phận nào giải quyết từ lúc bắt đầu cho đến kết thúc Tất cả các công việc đều phải phân chia cho nhiều người, nhiều bộ phận gắn liền với trách nhiệm được giao Khi đó, công việc của người này, bộ phận này sẽ được kiểm soát bởi người hay bộ phận khác Các nhiệm vụ chính bao gồm ủy quyền, ghi chép, xử lý và đánh giá Ngoài ra, việc luân chuyển nhân viên định kỳ cũng hạn chế được các việc tham nhũng, tiêu cực hay những rủi ro xảy ra nếu một nhân viên công tác quá lâu tại một vị trí

- Kiểm soát quyền truy cập hệ thống: thực hiện phân quyền truy cập vào tài

nguyên hệ thống hoặc ứng dụng gắn với trách nhiệm được giao của từng cá nhân, đảm bảo an toàn của hệ thống cũng như biết được trách nhiệm thuộc về cá nhân nào nếu có rủi ro hay sai sót xảy ra

- Kiểm tra, xác minh, đối chiếu: các công việc quan trọng phải được kiểm tra

xác minh trước và sau khi xử lý Định kỳ, đối chiếu sổ sách với chứng từ thích hợp

- Rà soát việc điều hành, thực hiện nhiệm vụ: Dựa trên những nguyên tắc, quy

định, mục tiêu cụ thể để thực hiện rà soát lại việc thực hiện nhiệm vụ của tổ chức Nếu qua rà soát cho thấy các hoạt động diễn ra không theo đúng như mục tiêu đặt ra ban đầu hay không đúng với các quy chuẩn, quy định thì cần tiến hành cải tiến hay điều chỉnh mục tiêu

2.2.4 Thông tin và truyền thông

Thông tin và truyền thông là điều cần thiết để thực hiện tất cả các mục tiêu kiểm soát nội bộ Điều này có thể đạt được bằng cách phát triển và duy trì thông tin

Trang 36

tài chính và phi tài chính đáng tin cậy và có liên quan và truyền đạt thông tin này bằng các phương tiện công khai kịp thời trong các báo cáo Thông tin liên quan đến hoạt động của tổ chức sẽ tạo ra khả năng để đánh giá hiệu quả hoạt động của tổ chức Khả năng ra quyết định của nhà lãnh đạo sẽ bị ảnh hưởng bởi các thông tin có tính thích hợp, kịp thời, cập nhật, chính xác và có thể sử dụng được

Việc truyền thông hiệu quả là điều tất yếu để đảm bảo khả năng hệ thống KSNB hoạt động hữu hiệu Tất cả nhân viên sẽ nhận được một thông điệp rõ ràng

từ ban quản lý đứng đầu để kiểm soát trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ của họ Ngoài truyền thông nội bộ, nhà quản cũng lý phải đảm bảo có đầy đủ các phương tiện giao tiếp và thu thập thông tin từ bên ngoài, vì truyền thông bên ngoài có thể cung cấp thông tin đầu vào và tác động rất lớn đến việc đạt được mục tiêu của tổ chức

2.2.5 Giám sát

Giám sát nhằm mục đích rằng các hoạt động của tổ chức được thực hiện đúng như các mục tiêu đã dặt ra hoặc được sửa đổi cho phù hợp khi các điều kiện bên ngoài cũng như bên trong nội bộ thay đổi Điều này được thực hiện thông qua việc giám sát thường xuyên hoặc giám sát định kỳ hoặc kết hợp cả hai

- Giám sát thường xuyên: việc giám sát mang tính chất định kỳ thông qua

công việc hàng ngày của các nhân viên nhằm ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm quy định, không tiết kiệm, không hiệu quả của hệ thống KSNB

- Giám sát định kỳ: tùy thuộc vào mức độ rủi ro và hiệu quả của thủ tục giám

sát thường xuyên mà lựa chọn pham vi và tần suất thực hiện giám sát định kỳ Khi đưa ra quyết định đó, tổ chức nên xem xét bản chất và mức độ thay đổi, từ cả các sự việc bên trong và bên ngoài, và các rủi ro liên quan của chúng; thẩm quyền và kinh nghiệm của các nhân viên thực hiện các đánh giá rủi ro và kiểm soát liên quan; và kết quả giám sát thường xuyên Các đánh giá cụ thể bao gồm việc đánh giá hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ và đảm bảo đạt được kết quả mong muốn

2.3 Cơ sở lý luận về thuế và quản lý thuế

Trang 37

2.3.1 Khái niệm thuế

Cho đến thời điểm này, khái niệm về thuế vẫn được nêu ra trong khá nhiều các sách báo trên thế giới nhưng vẫn chưa có khái niệm thống nhất tuyệt đối

Theo quy định tại Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 thì định nghĩa rằng: “Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế”

Thuế là một khoản đóng góp được xem là bắt buộc đối với các thể nhân và pháp nhân thuộc đối tượng chịu thuế để phục vụ cho nhu cầu chi tiêu của đất nước Hai nhà kinh tế Mỹ là K.P.Makkohhell và C.L.Bryu đã nêu một khái niệm khác về thuế tương đối hoàn chỉnh trong cuốn “Economics” như sau: “Thuế là khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc là chuyển giao bằng hàng hóa dịch vụ) của các Công ty và các hộ gia đình cho Chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được một cách trực tiếp hàng hóa hoặc dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà là Tòa án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật”

2.3.2 Đặc điểm của thuế

Thuế có hai đặc điểm chính sau:

 Thuế là một khoản thu mang tính bắt buộc Tính bắt buộc là bởi vì không có người dân nào tự nguyện trả các dịch vụ công mà họ nhận được, nên Nhà nước phải dùng quyền lực để nhân dân nộp thuế đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu công

 Thuế là một khoản đóng góp không mang tính hoàn trả trực tiếp Có nghĩa là số tiền thuế người dân đóng góp không phải đòi hỏi Nhà nước phải hoàn trả đúng bằng số lượng và khoản thu nhưng được xem là một khoản Nhà nước vay mượn và sẽ hoàn trả qua các việc đầu tư và cung cấp hàng hóa công, vì vậy người dân có quyền ý kiến nếu số thuế đóng quá cao trong khi lợi ích nhận được từ dịch

vụ công lại quá thấp

2.3.3 Chức năng của thuế

- Đảm bảo nguồn thu cho NSNN: là phương tiện huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước bù đắp cho các khoản chi ngân sách

Trang 38

- Phân phối lại đảm bảo công bằng cho xã hội: gánh nặng thuế phải được phân chia một cách công bằng, tuy nhiên sự công bằng này chỉ đảm bảo tương đối

- Điều tiết nền kinh tế vĩ mô: khắc phục những bất cân bằng của thị trường nhằm thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện để tăng thu nhập của các tầng lớp nhân dân

2.3.4 Công tác quản lý thu thuế và chống thất thu thuế

2.3.4.1 Khái niệm quản lý thu thuế và chống thất thu thuế

Quản lý thu thuế là hoạt động của cơ quan thuế Nhà nước các cấp dựa trên cơ

sở của luật và để thi hành luật nhằm thực hiện chức năng tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động thu thuế của Nhà nước Hoạt động quản lý thuế đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng kết quả thu NSNN

Công tác thu thuế được xem là nhiệm vụ trọng tâm là ngành Thuế cả nước cần thực hiện Trong quá trình thu thuế sẽ luôn gặp phải những thuận lợi cũng như khó khăn nhất định Một trong những khó khăn luôn tồn tại đó là vấn đề thất thu thuế Thất thu thuế được hiểu là hiện tượng: khi những khoản tiền được tạo ra từ hoạt động sản xuất kinh doanh của các tổ chức hay cá nhân cần phải nộp vào NSNN, nhưng vì những lý do kể cả từ phía Nhà nước hay phía người nộp thuế mà các khoản tiền này không được nộp vào NSNN Bao gồm các lý do cụ thể sau:

- Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu của các doanh nghiệp khi kinh doanh

là phải tối đa hóa được lợi nhuận, để làm được điều này, các doanh nghiệp luôn tìm mọi cách để tăng thu, giảm chi và nhất là giảm được những khoản chi phí phải bỏ ra

để nộp vào NSNN Do đó, họ có thể thực hiện các hành vi trốn thế, gian lận số tiền thuế, hoặc chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước, điều này gây thất thu khá lớn cho NSNN

- Trình độ quản lý, bộ máy tổ chức, trình độ chuyên môn của cán bộ thuế còn yếu kém, không hiệu quả, dẫn đến việc không phát hiện ra những sai sót, gian lận của người nộp thuế Hay vì chính sách thuế sửa đổi liên tục, còn nhiều những sơ hở làm cho người nộp thuế hiểu sai hay cố tình hiểu sai, tìm đủ mọi cách để trốn thuế Hoặc cũng vì lợi ích của cá nhân mà cán bộ thuế thông đồng với người nộp thuế để

Trang 39

làm giảm số thuế nộp vào NSNN, dẫn đến thất thu thuế, ảnh hưởng đến lợi ích chung của đơn vị

- Cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền các cấp (cụ thể như công an kinh tế, quản lý thị trường, bảo hiểm vv) chưa phối hợp hay tạo điều kiện thuận lợi, chưa

có sự phối hợp chặt chẽ với cơ quan thuế các cấp trong công tác quản lý thuế

Vì vậy, việc chống thất thu thuế là một vấn đề quan trọng không những của Việt Nam mà còn của các quốc gia khác trên thế giới Mặc dù ngành thuế ngày càng

có nhiều nỗ lực, nhưng các biện pháp chống thất thu thuế xem ra chưa hữu hiệu, dường như mới chỉ thu được thuế của các đơn vị và công dân gương mẫu trong nghĩa vụ thuế, vẫn chưa có các biện pháp chế tài cụ thể đối với những người cố tình trốn thuế

2.3.4.2 Vai trò của quản lý thu thuế và chống thất thu thuế

Quản lý thu thuế và chống thất thu thuế là một trong các nhiệm vụ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, trong đó các cơ quan quản lý thuế có nhiệm vụ quan trọng nhất Thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý thu thuế không những đảm bảo sự vận hành thông suốt hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước, mà còn có tác động tích cực tới quá trình thu, nộp thuế vào NSNN, chống thất thu thuế Vai trò chính trong công tác quản lý thu thuế và chống thất thu thuế bao gồm:

- Quản lý thu thuế có vai trò quyết định trong việc đảm bảo nguồn thu từ thuế được tập trung chính xác, kịp thời, thường xuyên, ổn định vào NSNN

- Thông qua hoạt động quản lý thu thuế góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật cũng như các quy định về quản lý thuế

- Thông qua quản lý thu thuế, Nhà nước thực hiện kiểm soát và điều tiết các hoạt động kinh tế của các tổ chức, cá nhân trong xã hội

2.3.4.3 Nguyên tắc của quản lý thu thuế và chống thất thu thuế

Việc quản lý thu thuế và chống thất thu thuế phải tuân theo những nguyên tắc nhất định sau đây (theo quy định tại điều 4 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006):

 Tuân thủ pháp luật

 Đảm bảo tính hiệu quả

Trang 40

 Thúc đẩy ý thức tự tuân thủ của người nộp thuế cũng như đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế

 Công khai, minh bạch, bình đẳng

 Tuân thủ và phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế

2.4 Tổng quan về cơ quan Thuế và ngành Thuế TP Hồ Chí Minh

2.4.1 Khái niệm về cơ quan Thuế và tổ chức bộ máy ngành Thuế

Cơ quan Thuế là đơn vị ngành dọc, trực thuộc Bộ Tài Chính, hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất trong toàn ngành, sử dụng các kinh phí được NSNN cấp để hoạt động trong lĩnh vực quản lý thuế

Theo quy định tại điều 2, Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 thì ”Cơ quan thuế gồm Tổng cục thuế, Cục thuế, Chi cục thuế”, thực hiện các chức năng quản lý Nhà nước đối với các khoản thu nội địa bao gồm: thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác thuộc NSNN

Theo quy định tại điều 1, Quyết định số 115/2009/QĐ-TTg ngày 28/09/2009 của Thủ tướng Chính phủ thì “Tổng cục Thuế là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về các khoản thu nội địa trong phạm vi cả nước, bao gồm: thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của ngân sách nhà nước (sau đây gọi chung là thuế); tổ chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật” Tại điều 3 có quy định “Tổng cục Thuế được tổ chức thành hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương theo đơn vị hành chính, bảo đảm nguyên tắc tập trung thống nhất” Cơ quan Tổng cục Thuế ở Trung ương gồm:

Vụ Chính sách; Vụ pháp chế; Vụ Dự toán thu thuế; Vụ Tuyên truyền - Hỗ trợ người nộp thuế; Vụ Kê khai và Kế toán thuế; Vụ Quản lý nợ và Cưỡng chế nợ thuế; Vụ Thanh tra - Kiểm tra thuế; Vụ Quản lý thuế doanh nghiệp lớn; Vụ Quản lý thuế Doanh nghiệp nhỏ và vừa và Hộ kinh doanh, cá nhân; Vụ Hợp tác Quốc tế; Vụ Kiểm tra nội bộ; Vụ Tổ chức cán bộ; Vụ Tài vụ - Quản trị; Văn phòng; Cục Công nghệ Thông tin; Trường Nghiệp vụ Thuế; Tạp chí Thuế

Theo quy định tại điều 1, Quyết định số 108/QĐ-BTC ngày 14/01/2010 của

Bộ Tài Chính thì “Cục Thuế ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Cục Thuế) là tổ chức trực thuộc Tổng cục Thuế, có chức năng tổ chức

Ngày đăng: 03/01/2019, 00:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm