1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ôn tập môn những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa mác lenin phần 2

31 288 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được những mặt hạn chế của nền sản xuất hàng hóa nước nhà, chúng ta cần có những giải pháp hiệu quả, tích cực để khắc phục vấn đề đó:  Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện

Trang 1

PHẦN 2 – KINH TẾ CHÍNH TRỊ

SẢN XUẤT HÀNG HÓA 2

ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI VÀ TỒN TẠI CỦA NỀN SX HÀNG HÓA 2

NỀN SẢN XUẤT HÀNG HÓA HIỆN ĐANG TỒN TẠI Ở VIỆT NAM: 2

CÁC THỜI KÌ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN SXHH Ở VIỆT NAM 3

HẠN CHẾ CỦA SẢN XUẤT HÀNG HÓA NƯỚC TA: 3

TÁC DỤNG CỦA NỀN SXHH HÀNG HÓA ĐỐI VỚI SỰ PT CHUNG CỦA ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM: 4

NHỮNG ƯU ĐIỂM CỦA SX HÀNG HÓA 4

SXHH CÓ NHỮNG ƯU VIỆT GÌ SO VỚI SXTN 5

HẠN CHẾ CỦA SXHH + MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC 5

KẾT BÀI: 6

HÀNG HÓA – HAI THUỘC TÍNH CỦA HÀNG HÓA – LƯỢNG GIÁ TRỊ 6

1 HÀNG HÓA VÀ HAI THUỘC TÍNH CỦA HÀNG HÓA 6

2 TÍNH CHẤT HAI MẶT CỦA LAO ĐỘNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA 9

3 LƯỢNG GIÁ TRỊ HÀNG HÓA VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LƯỢNG GIÁ TRỊ CỦA HÀNG HÓA: 9

QUY LUẬT GIÁ TRỊ 11

A) NỘI DUNG CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ: 11

B) TÁC ĐỘNG CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ: 12

VÍ DỤ THỰC TẾ 13

SỰ HIỆN DIỆN CỦA QLGT Ở VIỆT NAM 13

KẾT QUẢ CỦA VIỆC VẬN DUNG QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀO VIỆT NAM 14

NHÀ NƯỚC, NHÀ SẢN XUẤT, NGƯỜI TIÊU DÙNG 14

PHÂN TÍCH HAI PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ VÀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ SIÊU NGẠCH 15

Ý NGHĨA VIỆC NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ TRÊN 15

TIỀN CÔNG DƯỚI CNTB 16

BẢN CHẤT KINH TẾ CỦA TIỀN CÔNG 16

CÁC HÌNH THỨC TIỀN CÔNG 16

CÁC LOẠI TIỀN CÔNG: TIỀN CÔNG DANH NGHĨA VÀ TIỀN CÔNG THỰC TẾ 17

THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM: 17

THỰC CHẤT VÀ ĐỘNG CƠ TÍCH LŨY TƯ BẢN 18

ĐỘNG CƠ CỦA TÍCH LŨY TƯ BẢN 18

KẾT QUẢ CỦA QUÁ TRÌNH TÍCH LŨY TƯ BẢN CHỦ NGHĨA 19

THỰC TIỄN VẤN ĐỀ TÍCH LŨY VỐN Ở VIỆT NAM 19

Ý NGHĨA 20

TÍCH TỤ TƯ BẢN VÀ TẬP TRUNG TƯ BẢN 20

CẤU TẠO HỮU CƠ CỦA TƯ BẢN 21

PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN VÀ BẢN CHẤT CỦA CNTBĐQ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY CÓ DIỄN RA XU HƯỚNG ĐỘC QUYỀN KHÔNG? VÌ SAO? 23

*Ở VN hiện nay có diễn ra xu hướng độc quyền vì các nguyên nhân dẫn đến TBĐQ có ở VN 24

PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN, BẢN CHẤT, HÌNH THỨC BIỂU HIỆN CỦA CNTBĐQNN 25

ĐỘC QUYỀN NHÀ NƯỚC VẪN THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM 27

Trang 2

Sản xuất hàng hóa

Điều kiện ra đời và tồn tại của nền SX hàng hóa

Sản xuất của cải vật chất, là hoạt động cơ bản của con người, là cơ sở của đời sống xã hội

Xã hội loài người đã trải qua hai kiểu sản xuất là sản xuất tự cấp tự túc và sản hàng hóa Trong đókiểu sản xuất hàng hóa cao hơn kiểu sản xuất tự cấp tự túc

• Sản xuất tự cấp tự túc là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm do lao động tạo ra là nhằm để thỏa mãntrực tiếp nhu cầu của người sản xuất

• Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra để trao đổi hoặc muabán trên thị trường

Sản xuất hàng hóa ra đời từ cuối chế độ công xã nguyên thủy Từ xã hội CNTB trở về trước chủ yếu

là nền kinh tế sản xuất tự cấp tự túc So với sản xuất tự cấp tự túc thì sản xuất hàng hóa có những ưuđiểm vượt trội hơn về nhiều mặt

Sản xuất hàng hóa là một phạm trù lịch sử chỉ xuất hiện khi có đủ hai điều kiện:

Tuy nhiên, phân công lao động xã hội mới chỉ là điều kiện thứ nhất chưa đủ để sản xuất hànghóa ra đời và tồn tại C Mác đã chứng minh rằng, trong công xã thị tộc Ấn Độ thời cổ đã có sự phâncông lao động khá chi tiết, nhưng sản phẩm của lao động chưa trở thành hàng hóa bởi vì tư liệu sảnxuất là của chung nên sản phẩm của từng nhóm sản xuất chuyên môn hía cũng là của chung, công

xã phân phối trực tiếp cho từng thành viên để thõa mãn nhu cầu Ở đây không hình thành quan hệtrao đổi, do đó chưa đủ điều kiện để ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa

Vì vậy, phân công lao động xã hội mới chỉ là điều kiện cần, muốn sản xuất hàng hóa ra đời và tồntại phải có điều kiện thứ hai

b Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất (điều kiện đủ)

• Sự tách biệt này do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, mà khởi thủy là chế độ tưhữu nhỏ về tư liệu sản xuất, đã xác định người sở hữu tư liệu sản xuất là người sở hữu sản phẩm laođộng

• Chế độ tư hữu làm cho tư liệu sản xuất là của riêng mỗi người nên họ hoàn toàn quyết định quátrình sản xuất của mình Chế độ tư hữu tạo nên sự độc lập về kinh tế giữa những người sản xuất,chia cắt họ thành từng đơn vị riêng lẻ, trong quá trình sản xuất những người sản xuất có quyềnquyết định về việc sản xuất loại hàng hóa nào, số lượng bao nhiêu, bằng cách nào và trao đổi với ai.Như vậy, chế độ tư hữu làm cho những người sản xuất hàng hóa độc lập với nhau nhưng phân cônglao động lại làm cho họ phụ thuộc vào nhau Đây là một mâu thuẫn Để giải quyết mâu thuẫn nàycần phải thông qua trao đổi mua bán sản phẩm của nhau

Từ sự phân tích trên, sản xuất hàng hóa chỉ ra đời khi có đồng thời hai điều kiện cần và đủ nói trên,nếu thiếu một trong hai điều kiện ấy thì không có sản xuất hàng hóa và sản phẩm lao động khôngmang hình thái hàng hóa

Nền Sản xuất hàng hóa hiện đang tồn tại ở Việt Nam:

Ở nước ta phân công lao động xã hội cả trên mối quan hệ kinh tế quốc tế và trong nước.

Đối với trong nước: phân công lao động xã hội trên phạm vi cả nước cũng như từng ngành, từng cơ

sở Theo kết quả Thống kê 6 tháng đầu năm 2018 của Tổng cục thống kê, trong mức tăng trưởng

Trang 3

của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,93%, đóng góp 9,7% vào mứctăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,07%, đóng góp 48,9%; khu vực dịch

vụ tăng 6,90%, đóng góp 41,4%

Trong những năm trước qua, ở nước ta việc phân công lao động xã hội trong nước đang được tiếnhành trên tất cả các địa bàn Điều đó cho phép từng địa phương, từng đơn vị cơ sở tự khai thác hếttiềm năng, những thế mạnh sẵn có của đơn vị mình, đồng thời từng bước hình thành các cụm kinh tế

- kỹ thuật - dịch vụ nông thôn cũng như ở thành thị

Việt Nam ta cũng đã và đang hội nhập, tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế.Nước ta có nhiều mặt hàng xuất nhập khẩu đa dạng như gạo, cà phê, thủy hải sản, nông sản phẩm,

Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cho biết, tính chung 9 tháng đầu năm 2018, trị giá xuấtkhẩu của Việt Nam đạt 179,47 tỷ USD, tăng 15,8% so với cùng kỳ năm trước Điều này đã cho thấyđược sự phát triển mạnh mẽ của các sản phẩm hàng hóa VN tại thị trường nước ngoài cũng như sựtham gia tích cực của đất nước ta trong nền kinh tế hàng hóa của toàn thế giới

Ở nước ta có tồn tại sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất

Trong nền kinh tế hiện tại của Việt Nam tồn tại nhiều hình thức sở hữu tư liệu sản xuất khác nhaubao gồm: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, v.v Các hình thức sở hữu này là cơ sở đểtạo nên nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong nền kinh tế hàng hóa ở nước ta Đại hội XII củaĐảng khẳng định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hìnhthức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân

là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợptác và cạnh tranh theo pháp luật”

Các thời kì phát triển của nền SXHH ở Việt Nam -Giai đoạn 1986–2006

Thời kỳ 1986–2000 gọi là thời kỳ chuyển tiếp của nền kinh tế Việt Nam, từ nền kinh tế kế hoạchhóa tập trung sang vận hành theo cơ chế thị trường, nhưng không phải là thị trường hoàn toàn tự do

mà "có sự quản lý, điều tiết của nhà nước".Việt Nam tập trung triển khai Ba Chương trình kinh tếlớn: lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu Đặc biệt, các thành phần kinh tếngoài quốc doanh và tập thể được thừa nhận và bắt đầu được tạo điều kiện hoạt động Kinh tế ViệtNam bắt đầu có những chuyển biến tốt Từ chỗ phải nhập khẩu lương thực, Việt Nam đã sản xuất đủ

tự cung cấp, có dự trữ và còn xuất khẩu gạo

-Giai đoạn 2006–nay

Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 năm 2010 tăng 63,2% so với năm 2006 Bìnhquân trong thời kỳ 2006-2010, giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 tăng 13,8%/nămGiá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng bình quân 5%/năm thời kỳ 2006-2010, trong đónông nghiệp tăng 4,2%; lâm nghiệp tăng 3,1%; thuỷ sản tăng 8%.Sản xuất lâm nghiệp đã có sự pháttriển nhanh theo hướng chuyển từ khai thác sang xây dựng vốn rừng là chủ yếu và đầu tư theo cácchương trình, dự án, giao đất lâm nghiệp ổn định lâu dài cho hộ gia đình Sản xuất thủy sản tuy gặpkhông ít khó khăn trong quá trình Việt Nam gia nhập WTO và việc áp dụng thuế chống bán phá giáhàng thủy sản của Mỹ Nhưng đây vẫn là sản phẩm xuất khẩu mũi nhọn của nước ta

Hạn chế của Sản xuất hàng hóa nước ta:

 Nguồn nhân lực của nước ta tuy dồi dào nhưng chất lượng thấp, chủ yếu là lao động thủ công.Năm 2010, có đến 19,5 triệu lao động Việt Nam đang làm việc trong các ngành nghề không đòihỏi trình độ chuyên môn hoặc chuyên môn thấp Phần lớn các doanh nghiệp đều phải tự đào tạonghề cho công nhân Công nhân không lành nghề dẫn đến chất lượng sản phẩm thấp, năng suấtlao động không cao

 Tốc độ đổi mới công nghệ và trang thiết bị còn chậm, chưa đồng đều và chưa theo một địnhhướng phát triển rõ rệt:

80-90% công nghệ nước ta đang sử dụng là công nghệ nhập khẩu

Trang 4

76% máy móc, dây chuyền công nghệ nhập khẩu thuộc thập niên 50-60

➔ Làm giảm đi chất lượng của sản phẩm

 Chủ yếu các doanh nghiệp Việt Nam phải nhập khẩu nguyên vật liệu cho sản xuất Ngay cả cácsản phẩm là thế mạnh của nước ta như: dệt may, da giày, thực phẩm,… thì vẫn phải nhập khẩunguyên liệu Nhiều sản phẩm có giá thành không ổn định cũng là do phụ thuộc vào tính bấp bênhcủa nguồn nguyên liệu

Nhận thức được những mặt hạn chế của nền sản xuất hàng hóa nước nhà, chúng ta cần

có những giải pháp hiệu quả, tích cực để khắc phục vấn đề đó:

 Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; coi trọng việc ứng dụng các thành tựu khoahọc, công nghệ của loài người

 Tập trung đào tạo lao động có trình độ cao

 Xây dựng và phát triển thị trường hướng ngoại nhưng phải lấy thị trường trong nước làm cơ sở,phải có mặt hàng mũi nhọn có khả năng cạnh tranh dựa trên cơ sở thế mạnh và lợi thế so sánh

 Nhà nước cần góp phần điều tiết nền kinh tế thông qua giáo dục, pháp luật và các chính sách kinh

tế - xã hội thích hợp để tạo điều kiện cho người sản xuất, người lao động; mở rộng thị trường,nâng cao đời sống nhân dân

Tác dụng của nền SXHH Hàng hóa đối với sự PT chung của đất nước Việt Nam:

- Thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, khai thác được những lợi thế về tự nhiên, xã hội, kĩthuật của từng người, từng cơ sở sản xuất Bên cạnh đó sự phát triển của sản xuất hàng hóalại tác động trở lại, thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động xã hội, làm cho chuyênmôn hóa lao động này càng tăng,

- Đẩy mạnh quá trình xã hội hóa sản xuất Khai thác được lợi thế về tự nhiên xã hội kỹ thuậtcủa từng người, từng cơ sở, từng địa phương, kích thích sự phát triển kinh tế của cả quốc gia

- Đáp ứng nhu cầu đa dạng cho xã hội Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con ngườingày càng gia tăng cả về lượng và chất, sản xuất hàng hóa giúp cho họ có nhiều sự lựa chọnhơn để đáp ứng nhu cầu của mình Góp phần cải thiện đời sống xã hội

- Tạo ra sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, buộc mỗi người sản xuất hàng hóa phải năng động,cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất

- Tạo điều kiện giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các địa phương trong nước và quốc tế do sự pháttriển của sản xuất mang tính chất “mở”; tạo điều kiện nâng cao đời sống, văn hóa của nhândân

Những ưu điểm của SX hàng hóa

Trang 6

SXHH có những ưu việt gì so với SXTN

(Tại sao nói SXHH ra đời là bước ngoặt lớn trong sự phát triển chung của XHLN)

Tiêu chí so sánh Sản xuất tự cấp tự túc Sản xuất hàng hóa

1 Mục đích sản xuất Cho người sản xuất Cho người tiêu dùng

2 Tính chất sản xuất Không có cạnh tranh Vừa hợp tác vừa cạnh tranh

3 Trình độ phân công lao

động xã hội Đơn giản, phụ thuộc vàotự nhiên Chuyên môn hóa sản xuất ngàycàng sâu sắc

4 Trình độ kỹ thuật Thủ công, lạc hậu Cơ khí máy móc hiện đại

5 Năng suất lao động và sản

* Chính sách lao động việc làm: trong các chính sách hỗ trợ, việc hỗ trợ tín dụng ưu đãi nên ưu tiêncho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, là khu vực tạo ra nhiều công ăn việc làm nhưng lại đang gặp khókhăn trong việc tiếp cận vốn và đang có nguy cơ phá sản và thất nghiệp nhiều nhất

* Chính sách đối với người có công với cách mạng: Nhà nước đã và đang tiếp tục thực hiện nhiềugiải pháp để phát triển kinh tế xã hội miền núi như các chương trình chiến lược phát triển kinh tếmiền núi, các chương trình xoá đói giảm nghèo Điều tiết giá cả, quan hệ cung cầu trên thị trường,chính sách cho vay ưu đãi nhằm bảo đảm ổn định sản xuất và mức sống của những người có thunhập thấp

“nên mở rộng mạng lưới cho vay ưu đãi đến các vùng nông thôn, nơi tập trung 70% lực lượng laođộng, hơn 80% hộ nghèo trên toàn quốc Cùng với đó, nên có các chính sách hỗ trợ cho các chươngtrình nhà ở cho người thu nhập thấp ở các vùng giáp ranh, các khu công nghiệp, các khu nhà ở tạm,thiếu tiện nghi tối thiểu trong các thành phố.”

(Trích TCCS- Khủng hoảng kinh tế toàn cầu từ góc nhìn lợi ích)

Hạn chế những khả năng khủng hoảng thừa: Chính sách kích cầu

Trang 7

Cần có chính sách tài nguyên, bảo vệ môi trường

- Mục tiêu của chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường là sử dụng hợp lí tài nguyên, bảo vệmôi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, từng bức nâng cao chất lượng môi trường, góp phần pháttriển kinh tế - xã hội bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân

- Phương hướng:

+ Tăng cường công tác quản lí của Nhà nước về bảo vệ môi trường từ Trung ương đến địa phương.Hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường, ban hành các chính sách về phát triển kinh tếphải gắn với bảo vệ môi trường; mọi tài nguyên đưa vào sử dụng đều phải nộp thuế hoặc trả tiềnthuê

+ Thường xuyên giáo dục, tuyên truyền, xây dựng ý thức trách nhiệm bảo vệ tài nguyên, môi trườngcho mọi người dân Nhà nước tạo điều kiện để mọi người tiếp nhận các thông tin về môi trường, xâydựng nếp sống vệ sinh, tiết kiệm, đẩy mạnh các phong trào quần chúng tham gia bảo vệ môi trường.+ Coi trọng công tác nghiên cứu khoa học và công nghệ, mở rộng hợp tác quốc tế, khu vực tronglĩnh vực bảo vệ môi trường, tham gia các chương trình hợp tác để giải quyết các vấn đề về bảo vệmôi trường chung với các quốc gia có liên quan

+ Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn ô nhiễm, cải thiện môi trường, bảo tồn thiên nhiên Nhà nước

áp dụng những biện pháp hiệu quả để tăng tỉ lệ che phủ rừng, bảo vệ động, thực vật, nhất là nhữngđộng, thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng, xây dựng các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốcgia, bảo vệ đa dạng sinh học, chống ô nhiễm đất, nước, không khí

+ Khai thác, sử dụng hợp lí, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên Trước mắt, chúng ta cần chấm dứt tìnhtrạng khai thác bừa bãi gây lãng phí tài nguyên rừng, suy thái đất và ô nhiễm môi trường

Xây dựng chính sách giáo dục hợp lí: Để xóa bỏ lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền của công

dân; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của công dân trong xây dựng nền kinh tế hàng hóa theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam như hiện nay

Kết bài:

Trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nước ta không tránhkhỏi những ảnh hưởng, tác động phức tạp của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn thế giới Tuy nhiên,chúng ta đang có những điều kiện thuận lợi căn bản Một là, Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa - một nhà nước thông qua các cơ chế vận hành để bảo đảm đại diện thực sự cho lợiích và quyền lực của nhân dân Hai là, về cơ sở kinh tế - xã hội, thành phần kinh tế nhà nước vàkinh tế tập thể ở nước ta đang ngày càng trở thành nền tảng vững chắc trong nền kinh tế quốc dân

Ba là, chúng ta xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có nghĩa

là trong nền kinh tế đó, cùng với mục tiêu phát triển kinh tế phải coi trọng bảo đảm công bằng vềphân phối lợi ích và ưu tiên cho mục tiêu phát triển con người Đó chính là những điều kiện tiênquyết bảo đảm cho việc chủ động điều chỉnh các chính sách giải quyết khủng hoảng, phát triển kinh

tế có kế hoạch, thực hiện chế độ phân phối lợi ích công bằng, hợp lý, bảo vệ những nguyên tắc côngbằng xã hội và những lợi ích chính đáng của nhân dân, duy trì sự phát triển lành mạnh và bền vữngcủa nền kinh tế quốc dân cung như đất nước nói chung./

Hàng hóa – Hai thuộc tính của hàng hóa – Lượng giá trị

Tài liệu Nhóm 5 thuyết trình

Tài liệu Mác Lenin bản cũ

1 Hàng hóa và hai thuộc tính của hàng hóa a) Khái niệm hàng hóa:

Theo định nghĩa trong kinh tế - chính trị Marx - Lenin, hàng hóa là sản phẩm của lao động,

có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán.

Sản phẩm chỉ có thể trở thành hàng hóa khi thỏa mãn đủ ba điều kiện (dựa trên định nghĩa

hàng hóa trong kinh tế - chính trị Marx – Lenin):

Thứ nhất, là sản phẩm do lao động tạo ra.

Thứ hai, có công dụng nhất định (tức có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người).

Trang 8

Thứ ba, trước khi đi vào tiêu dùng phải thông qua quá trình mua bán, trao đổi.

Hàng hóa có thể tồn tại ở: Dạng vật thể (Hữu hình) nhà cửa, xe cộ

Dạng phi vật thể (Dịch vụ vô hình) du lịch, dịch

vụ Internet

b) Hai thuộc tính của hàng hóa:

Mỗi hàng hóa đều có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị Thiếu một trong hai thuộc tính

này, sản phẩm không trở thành hàng hóa

Giá trị sử dụng:

Bất cứ hàng hóa nào cũng có một hay một số công dụng nhất đinh, có thể đáp ứng nhu cầucủa con người một cách trực tiếp (tư liệu sinh hoạt) hoặc gián tiếp (tư liệu sản xuất) Ví dụ:công dụng của áo, quần là để mặc; của mỹ phẩm là để làm đẹp; của phương tiện giao thông là

để di chuyển, … Chính những công dụng này làm cho hàng hóa trở nên có ích, có khả năngphục vụ một hoặc một vài nhu cầu của con người trong đời sống xã hội, lao động và sản xuất

Trong kinh tế chính trị Marx – Lenin, giá trị sử dụng của hàng hóa được khái quát là công

dụng của hàng hóa có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người.

Khi bàn về giá trị sử dụng của hàng hóa, người ta thường chú ý đến những đặc điểm sauđây:

 Giá trị sử dụng được xem là một phạm trù vĩnh viễn (không bị quy định bởi thời gian).Bởi lẽ, công dụng, tính có ích của hàng hóa là thuộc tính tự nhiên, vốn có của hàng hóa, docác tính chất sẵn có (lí tính, hóa tính, sinh tính) quy định

 Một sản phẩm không chỉ có một công dụng nhất định, mà có thể có nhiều chức năng đểthỏa mãn nhiều nhu cầu khác nhau của con người Do đó, mỗi hàng hóa có thể có nhiều giátrị sử dụng

 Giá trị sử dụng tuy không được quy định bởi thời gian, xã hội nhưng theo thời gian, giátrị sử dụng của hàng hóa sẽ được mở rộng Giá trị sử dụng của hàng hóa được phát hiện dầndần trong sự song hành với tiến trình phát triển của khoa học – công nghệ và sự nâng caochất lượng của đội ngũ lao động, sản xuất Khi khoa học – công nghệ, kỹ thuật sản xuấtcũng như lực lượng lao động phát triển thì sản xuất sẽ được tạo điều kiện để ngày càng pháttriển, số lượng giá trị sử dụng được tăng lên ngày càng nhiều

VD: Ngày trước, than đá, dầu mỏ chỉ được sử dụng chủ yếu làm chất đốt Về sau, khi xã hội

và sản xuất phát triển, than đá, dầu mỏ còn được dùng làm nguyên liệu cho một số ngànhcông nghiệp, chế biến sản phẩm khác Sữa có thể dùng để uống hoặc tắm nhưng ban đầucon người chỉ biết dùng sữa để uống Về sau, trong các cung điện vua chúa mới bắt đầudùng sữa để tắm

 Mỗi hàng hóa sẽ có một (hoặc nhiều) giá trị sử dụng khác nhau Giá trị sử dụng giúpphân biệt hàng hóa này với hàng hóa khác

 Giá trị sử dụng của hàng hóa phụ thuộc vào sự đánh giá từ người tiêu dùng, không phải làgiá trị sử dụng cho người sản xuất ra món hàng hóa Chính vì lẽ đó, bản thân người sản xuấtcần nắm bắt tốt thị trường, nhu cầu và thị hiếu của người mua hàng để có để làm ra đượcnhững sản phẩm đáp ứng tốt các nhu cầu của xã hội

Trang 9

 Giá trị sử dụng của hàng hóa, có thể suy ra từ đặc điểm trên, chỉ được thể hiện thông quaquá trình sử dụng, tiêu dùng của con người Một vật thể hiện được giá trị sử dụng khôngphải ở khâu sản xuất mà thông qua mua bán, trao đổi, và tiêu dùng.

Giá trị:

Trong kinh tế - chính trị Marx – Lenin, giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người

sản xuất hàng hóa được kết tinh trong hàng hóa.

Để có thể hiểu rõ giá trị của hàng hóa, cần phân tích ví dụ sau đây:

Một người đi ra chợ, mang theo 1 kg bông, người này đến hàng gạo và đã dùng 1 kg bông

đó để đổi được 3 kg gạo Có thể thấy, bông và gạo có giá trị sử dụng hoàn toàn khác nhau,

nhưng có thể trao đổi cho nhau Như vậy, giữa gạo và bông chắc chắn sẽ tồn tại một điểmchung, không phải là giá trị sử dụng Chính điểm chung đó sẽ là cơ sở cho quan hệ trao đổi vớinhau giữa hai món hàng hóa này

Điều cần làm rõ ở đây chính là cái chung giữa hai món hàng đang được mang ra trao đổi

Cả bông và gạo, dễ thấy, đều là sản phẩm của lao động, đều đòi hỏi người sản xuất phải hao phí sức lao động để tạo ra chúng Giữa hai sản phẩm đang tồn tại một quan hệ trao đổi với

nhau Dù lượng bông ít hơn đổi được một lượng gạo nhiều hơn nhưng bản thân hai món hàngnày cần một lượng sức lao động như nhau, ngang bằng nhau Khả năng trao đổi ấy chính là

giá trị trao đổi của hàng hóa Còn lượng lao động cần thiết được kết tinh, ẩn giấu trong hàng

hóa (được xã hội công nhận) chính là giá trị của hàng hóa.

Khi bàn về giá trị của hàng hóa, người ta thường chú ý đến những đặc điểm sau đây:

 Giá trị được xem là một phạm trù lịch sử, chỉ có thể được tìm thấy trong nền kinh tế hànghóa (Còn giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn)

 Giá trị hàng hóa là lao động kết tinh bên trong món hàng, là cơ sở quyết định giá trị traođổi Còn giá trị trao đổi chỉ là khả năng trao đổi giữa các món hàng, là hình thái biểu hiệnbên ngoài của giá trị

 Cũng giống như giá trị sử dụng, giá trị là thuộc tính đặc trưng của hàng hóa, một sản

phẩm nếu thiếu thuộc tính này thì không thể được tính là hàng hóa Bởi vì, theo định nghĩa

hàng hóa, một vật muốn được xem là hàng hóa phải được thông qua trao đổi, mua bán, phải

được so sánh giá trị với các sản phẩm hàng hóa khác

 Nếu như giá trị sử dụng là thuộc tính tự nhiên thì giá trị của hàng hóa là một thuộc tính xãhội Bởi lẽ, giá trị của hàng hóa biểu hiện mối quan hệ giữ người sản xuất với nhau, giữa laođộng và sản phẩm của lao động Sản phẩm nào càng cần nhiều lao động thì giá trị lại càngcao

Như vậy, ở Việt Nam, những sản phẩm như Hê rô in sẽ không được xem là hàng hóa Bởi vì

đó là hàng quốc cấm, không được thông qua, buôn bán, trao đổi nên sẽ không có giá trị.

c) Mối quan hệ giữa hai thuộc tính:

Giá trị sử dụng và giá trị của hàng hóa là hai phương diện thống nhất với nhau trong một mónhàng hóa Tuy nhiên, đây là sự thống nhất giữa hai mặt đối lập, có mâu thuẫn

Trang 10

Sự thống nhất thể hiện ở chỗ: hai thuộc tính này là hai thuộc tính đặc trưng của một hàng hóa.

Bất cứ hàng hóa nào đều phải có hai thuộc tính này, một sản phẩm của lao động phải mang trongmình đủ hai thuộc tính mới có thể trở thành hàng hóa

Sự mâu thuẫn thể hiện ở chỗ:

Mỗi hàng hóa sẽ có giá trị sử dụng khác nhau (công dụng khác nhau), không đồng nhất vớinhau Tuy nhiên nếu xét về giá trị, thì chúng lại đồng nhất về chất, đó đều là kết tinh của laođộng gồm sức lực, trí tuệ, tư liệu sản xuất, v.v (lượng lao động thì khác nhau tùy từng loạihàng hóa)

Người sản xuất hàng hóa tập trung chú ý đến giá trị của hàng hóa, làm thế nào để thu đượclợi nhuận từ món hàng hóa Người tiêu dùng lại để tâm đến giá trị sử dụng, tức việc thỏa mãnnhu cầu của họ trong sinh hoạt và sản xuất Tuy nhiên, người tiêu dùng muốn sở hữu đượcmón hàng phải trả cho người sản xuất giá trị cho người bán Điều đó có nghĩa là người tiêudùng phải thực hiện giá trị của hàng hóa trước khi sử dụng, thực hiện giá trị sử dụng của mónhàng

2 Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa

Hàng hóa có 2 thuộc tính là do lao động của người sản xuất hàng hóa có tính 2 mặt

a) Lao động cụ thể

 Theo Kinh tế-Chính trị Marx-Lenin, lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức

cụ thể của những nghề nghiệp-chuyên môn nhất định

VD: Lao động của người tạo ra xe (phương tiện đi lại), máy giặt (giặt đồ), …

 Mỗi loại lao động cụ thể có mục đích riêng, đối tượng riêng, phương tiện riêng, phươngpháp và kết quả riêng

kết quả: tạo ra bàn ghế đẹp → đáp ứng nhu cầu của xã hội

 Lao động càng nhiều càng tạo ra nhiều giá trị sử dụng khác nhau

 Các lao động cụ thể hợp thành hệ thống phân công lao động trong xã hội

 Giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn, vì vậy lao động cụ thể cũng là phạm trù vĩnh viễn gắnliền với vật phẩm

 Hình thức của lao động cụ thể cũng có thể thay đổi (nhờ có sự giúp đỡ của máy móc, thiết bịhiện đại hỗ trợ)

VD: Sấy khô thức ăn→ máy sấy, đóng gói đồ ăn, thức uống → máy đóng hộp, đóng bịch b) Lao động trừu tượng

 Theo Kinh tế-Chính trị Marx-Lenin, lao động trừu tượng là lao động của người sản xuấthàng hóa dưới hình thức hao phí lao động để sản xuất ra hàng hóa (hao phí sức óc, thần kinh

và cơ bắp nói chung)

 Lao động bao giờ cũng hao phí sức lực của con người xét về mặt sinh lý, nhưng không phảihao phí lao động nào cũng là lao động trừu tượng Lao động trừu tượng chỉ có trong nền sảnxuất hàng hóa, do mục đích sản xuất ra để trao đổi mua bán

 Lao động trừu tượng tạo ra giá trị, làm cơ sở cho sự ngang bằng trong trao đổi

 Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa

 Lao động trừu tượng là nhân tố tạo thành giá trị của hàng hóa → Gía trị của mọi hàng hóa

là sự kết tinh của lao động trừu tượng

 Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa phản ánh tính chất tư nhân và tính chất xã hộicủa lao động của người sản xuất hàng hóa:

 Lao động cụ thể mang tính chất tư nhân

 Lao động trừu tượng mang tính chất xã hội

Trang 11

 Giữa lao động tư nhân và lao động xã hội có mâu thuẫn với nhau:

 Sản phẩm làm ra không ăn khớp hay không phù hợp với nhu cầu xã hội (hoặc không đủcấp cho xã hội hoặc vượt quá nhu cầu của xã hội): ví dụ trong quy luật cung-cầu Khi sảnxuất vượt quá nhu cầu của xã hội sẽ có một số hàng hóa không bán được, tức là không thựchiện được giá trị

 Hao phí lao động cá biệt của người sản xuất có thể cao hơn hay thấp hơn hao phí laođộng mà xã hội có thể chấp nhận, khi đó hàng hóa cũng không bán được hoặc không thu hồi

đủ chi phí lao động bỏ ra

➔ Vận động, phát triển và tiềm ẩn những khả năng khủng hoảng ‘sản xuất thừa’

3 Lượng giá trị hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa: Giá trị của hàng hóa được xét theo cả hai mặt chất và lượng Trong đó:

 Chất giá trị hàng hóa được hiểu là sự kết tinh lao động xã hội hay lao động trừu tượng củangười sản xuất trong hàng hóa

 Lượng giá trị của hàng hóa là lượng lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hóa

a) Thước đo lượng giá trị của hàng hóa

 Lượng lao động hao phí để tạo ra hàng hóa hay lượng giá trị của hàng hóa đều được đo bằngthời gian lao động

 Thời gian lao động cá biệt để mỗi người tạo ra được hàng hóa là khác nhau do điều kiện sảnxuất, năng suất lao động hay trình độ chuyên môn của mỗi cá nhân là khác biệt Chính vì vậy,lượng giá trị của mỗi hàng hóa được quyết định bằng lượng thời gian lao động của từng người

Đặt vấn đề, vậy khi càng biếng nhác hay vụng về thì lượng giá trị hàng hóa của người đó càng lớn do thời gian tiêu tốn nhiều hơn?

 Thực chất, lượng giá trị của hàng hóa sản xuất ra lại được tính bằng thời gian lao động xã hộicần thiết mà không phải do thời gian lao động cá biệt quyết định

 Thời gian lao động xã hội là thời gian để sản xuất ra hàng hóa với điều kiện sản xuất bìnhthường của xã hội, ví dụ như cường độ, trình độ kỹ thuật hay tay nghề ở mức độ trung bình của

xã hội

 Thông thường, thời gian lao động xã hội cần thiết sẽ được tính dựa theo thời gian mà nhữngngười cung cấp đại bộ phận của một loại hàng hóa trên thị trường tiêu tốn Ngoài ra cũng có thểtính bằng cách: lấy thời gian lao động của người này nhân với số sản phẩm họ tạo ra cộng vớithời gian lao động của người khác nhân với số sản phẩm họ tạo ra rồi đem tổng đó chia cho tổng

số sản phẩm tạo ra của xã hội

Ta có thể mở rộng vấn đề: Thời gian lao động xã hội làm nên giá trị xã hội của hàng hóa và thời

gian lao động cá biệt làm nên giá trị cá biệt của hàng hóa Vậy ta có thể đưa ra sự so sánh, nếu giá trị cá biệt lớn hơn giá trị xã hội thì nhà sản xuất lỗ, nhỏ hơn thì nhà sản xuất lời và nếu cân bằng thì là phù hợp và nhà sản xuất tiếp tục quá trình sản xuất.

b) Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa

Thời gian lao động xã hội cần thiết là bất định nên lượng giá trị hàng hóa cũng luôn thay đổidựa theo các nhân tố sau:

Thứ nhất: năng suất lao động

Năng suất lao động hay năng lực sản xuất của người lao động tính bằng thời gian cần thiếttạo ra một sản phẩm hay số sản phẩm được tạo ra trong một lượng thời gian nhất định

Có hai loại năng suất lao động:

 Năng suất lao cá biệt

 Năng suất lao động xã hội, loại này có ảnh hưởng đến giá trị xã hội của hàng hóa

Khi năng suất lao động xã hội tăng thì lượng giá trị hàng hóa càng giảm và ngược lại

Năng suất lao động lại được ảnh hưởng, tác động bởi các yếu tố như: trình độ tay nghề; mức

độ phát triển và mức độ ứng dụng khoa học kĩ thuật vào lao động sản xuất; Cách thức tổ chứcquản lý, quy mô sản xuất, hiệu quả của tư liệu sản xuất cùng với điều kiện tự nhiên

Trang 12

NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA

NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG KHU VỰC

Thứ hai: Cường độ lao động

Cường độ lao động là mức độ nặng nhọc, khẩn trương, căng thẳng của người lao động trongquá trình sản xuất hay nói cách khác là mức độ tiêu hao sức lao động trong một khoảng thờigian nhất định

Tăng cường độ lao động là kéo dài thời gian lao động chứ không làm thay đổi giá trị của mộtđơn vị hàng hóa

Cường độ lao động phụ thuộc vào thể chất và tinh thần của người lao động và cơ cấu quản lý

tổ chức của nhà sản xuất

Thứ ba: Mức độ phức tạp của lao động

Mức độ phức tạp của lao động ảnh hưởng phần nào tới số lượng giá trị của hàng hóa Mức độlao động chia thành lao động phức tạp và lao động đơn giản

 Lao động đơn giản là lao động mà có thể dễ dàng thực hiện bởi bất cứ ai

 Lao động phức tạp là lao động cần có kĩ năng đặc biệt được đào tạo, huấn luyện chuyênmôn cao mới có thể thực hiện

Trong cùng một khoảng thời gian lao động, giá trị mà lao động đơn giản và phức tạp tạo ra làkhác nhau Hay theo C Mác viết: “Lao động phức tạp…chỉ là lao động đơn giản được nânglên lũy thừa hay nói cho đúng hơn là lao động đơn giản được nhân lên…” (C Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, t23, tr75)

VD: để chế tạo một chiếc xe máy cần rất nhiều chi tiết và công đoạn lắp ráp tỉ mỉ giúp cho xe

máy hoạt động tốt, so với việc rửa xe máy là công việc phức tạp, cần đào tạo

Mọi lao động phức tạp cần được chuyển động quy về lao động giản đơn trung bình để làm cơ

sở chung cho lượng giá trị hàng hóa

Tại sao lại cần nghiên cứu về lượng giá trị hàng hóa?

Nghiên cứu sẽ giúp cho việc sản xuất đạt kết quả tối ưu nhất Thông qua nghiên cứu người sảnxuất sẽ chú ý tới các yếu tố ảnh hưởng đến lượng giá trị sản phẩm từ đó điều chỉnh sao chophù hợp và tích cực xây dựng các nhu cầu cần thiết cho sự sản xuất

Trang 13

c) Cấu thành lượng giá trị hàng hóa

Chi phí lao động để sản xuất ra hàng hóa bao gồm lao động cũ tồn tại trong các thiết bị máymóc, công cụ, nguyên vật liệu, và lượng lao động hao phí trong quá trình chế biến các tưliệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm mới

Trong quá trình sản xuất, lao động cụ thể của người sản xuất có vai trò bảo tồn và di chuyểngiá trị của tư liệu sản xuất vào trong sản phẩm (còn được gọi là giá trị cũ tái hiện) Đồng thời,

sự hao phí lao động sống làm tăng giá trị của sản phẩm (giá trị mới)

Quy luật giá trị

a) Nội dung của quy luật giá trị:

Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hoá; quy định việc sản xuất và trao đổihàng hoá phải căn cứ vào hao phí lao động xó hội cần thiết.Trong sản xuất, tác động của quy luậtgiá trị buộc người sản xuất phải làm sao cho mức hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp vớimức hao phí lao động xã hội cần thiết để có thể tồn tại; cũng trong trao đổi, hay lưu thông, phải thựchiện theo nguyên tắc ngang giá- tức là giá cả phải bằng giá trị Quy luật giá trị buộc những ngườisản xuất và trao đổi hàng hoá phải tuân theo “mệnh lệnh” của giá cả thị trường Thông qua sự vậnđộng của giá cả thị trường sẽ thấy được sự hoạt động của quy luật giá trị Giá cả thị trường lênxuống tự phát xoay quanh giá trị hàng hoá và biểu hiện sự tác động của quy luật giá trị trong điềukiện sản xuất và trao đổi hàng hoá

b) Tác động của quy luật giá trị:

Trong sản xuất hàng hoá, quy luật giá trị có ba tác động

+) Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá

*) Điều tiết sản xuất tức là điều hoà, phân bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành, các lĩnh vực củanền kinh tế Tác động này của quy luật giá trị thông qua sự biến động của giá cả hàng hoá trên thịtrường dưới sự tác động của quy luật cung cầu Nếu ở ngành nào đó khi cung nhỏ hơn cầu, giá cảhàng hoá sẽ lên cao hơn giá trị, hàng hoá bán chạy, lãi cao, thì người sản xuất sẽ đổ xô vào ngành

ấy Do đó, tư liệu sản xuất và sức lao động được chuyển dịch vào ngành ấy tăng lên Ngược lại, khicung ở ngành đó vượt quá cầu, giá cả hàng hoá giảm xuống, hàng hoá bán không chạy và có thể lỗvốn Tình hình ấy buộc người sản xuất phải thu hẹp quy mô sản xuất lại hoặc chuyển sang đầu tưvào ngành có giá cả hàng hoá cao

*) Điều tiết lưu thông của quy luật giá trị cũng thông qua giá cả thị trường Sự biến động của giá cảthị trường cũng có tác dụng thu hút luồng hàng từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao, do đó làm chohàng hoá giữa các vùng có sự cân bằng nhất định Như vậy, sự biến động của giá cả thị trườngkhông những chỉ từ sự biến động về kinh tế, mà cũng có tác động điều tiết nền kinh tế hàng hoá

+) Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất nhằm tăng năng suất lao động Các hàng hoáđược sản xuất ra trong những điều kiện khác nhau, do đó có mức hao phí lao động cá biệt khácnhau, nhưng trên thị trường thỡ cỏc hàng hoỏ đều phải được trao đổi theo mức hao phí lao động xãhội cần thiết Vậy người sản xuất hàng hoá nào có mức hao phí lao động thấp hơn mức hao phí laođộng xã hội cần thiết, sẽ thu được nhiều lãi và càng thấp hơn thì càng lãi Điều đó kích thích nhữngngười sản xuất hàng hoá cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, cải tiến tổ chức quản lý, thực hiệntiết kiệm v.v nhằm tăng năng suất lao động, hạ chi phí sản xuất Sự cạnh tranh quyết liệt càng làm

Trang 14

cho cỏc quỏ trỡnh này diễn ra mạnh mẽ hơn Nếu người sản xuất nào cũng làm như vậy thỡ cuốicựng sẽ dẫn đến toàn bộ năng suất lao động xó hội khụng ngừng tăng lên, chi phí sản xuất xã hộikhông ngừng giảm xuống.

+) Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hoá người lao động thành kẻ giàu người nghèo Nhữngngười sản xuất hàng hoá nào có mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hộicần thiết, khi bán hàng hoá theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết (theo giá trị) sẽ thu đượcnhiều lãi, giàu lên, có thể mua sắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh, thậm chíthuê lao động và trở thành ông chủ Ngược lại, những người sản xuất hàng hoá nào có mức hao phílao động cá biệt lớn hơn mức hao phí lao đông xã hội cần thiết, khi bán hàng hoá sẽ rơi vào tìnhtrạng thua lỗ, nghèo đi, thậm chí có thể phá sản, trở thành lao động làm thuê và đây cũng là mộttrong những nguyên nhân làm xuất hiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, cơ sở ra đời của chủnghĩa tư bản

Như vậy, quy luật giá trị vừa có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực Do đó, đồng thời vớiviệc thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, nhà nước cần có những biện pháp để phát huy tích cực,hạn chế mặt tiêu cực của nó, đặc biệt trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

Ý nghĩa thực tiễn.

a) Cần nhận thức sự tồn tại khách quan và phạm vi hoạt động rộng lớn, lâu dài của quy luật giá trịtrong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta hiện nay

b) Cần vận dụng tốt cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước để phát huy vai trũ tớch cực của

cơ chế thị trường và hạn chế mặt tiêu cực của nó để thúc đẩy sản xuất phát triển, đảm bảo sự côngbằng xó hội

Ví dụ thực tế

 Tình huống :

Thủy hải sản từ lâu vốn là một món ăn được ưa chuộng không chỉ bởi người dân bản địa mà cảnhững du khách trong và ngoài nước Rất nhiều khách du lịch đến với các bãi biển nổi tiếng ViệtNam như Sầm Sơn , Đồ Sơn, Nha Trang , Đà Nẵng bên cạnh mục đích chính là tận hưởng khôngkhí mát mẻ vùng biển , còn để thưởng thức các loại hải sản tươi sống nơi đây Nắm bắt được tâm lý

đó vào ngày 26/6/1978 Tổng Công Ty Thủy Sản Việt Nam (SEAPRODEX) đã được thành lập với

21 đơn vị thành viên và 15 doanh nghiệp cổ phần , SEAPRODEX có một hệ thống sản xuất kinhdoanh rộng khắp trên toàn quốc trong lĩnh vực chế biến , xuất nhập khẩu thủy sản , dịch vụ tổnghợp Sản lượng chế biến của nhà máy đạt 6000 tấn/năm với những sản phẩm truyền thống và mởrộng như tôm, cua, ghẹ, cá biển, cá nước ngọt … Các mặt hàng này phần lớn được đưa vào tiêuthụ ở các thành phố lớn không giáp biển trong nước như Hà Nội , Lào Cai , Bắc Ninh … Với giácao hơn từ 20 đến 30% Tuy nhiên tới năm 2007 , Việt Nam bị tác động mạnh bởi khủng hoảng tàichính toàn cầu , các món thủy hải sản dần trở thành các món ăn xa xỉ đối với người dân tại cácthành phố trong cả nước Điều này làm ảnh hưởng nặng tới doanh số của công ty thủy sản ViệtNam Nhận thức được vấn đề này , ban lãnh đạo công ty đã quyết định thu hẹp quy mô sản xuất chếbiến hàng thủy sản mà thay vào đó , chuyển sang sản xuất dầu ăn và nước mắm , những mặt hàngthiết yếu đối với nhu cầu của người tiêu dùng trong thời kì khủng hoảng

 Phân tích :

Ở vùng biển , hải sản có nhiều nên giá cả thấp bởi cung lớn hơn cầu , ngược lại ở vùng lục địa hảisản vô cùng khan hiếm, cung nhỏ hơn cầu đồng nghĩa với việc giá cả cao hơn Sự biến động của giáhải sản này có tác dụng thu hút luồng hàng từ vùng biển (nơi giá cả thấp) đến vùng lục địa ( nơi giá

cả cao hơn ) mà dần dần dẫn tới sự thành lập của công ty thủy sản Việt Nam , một đơn vị thuộc nhànước chịu trách nhiệm chính cung cấp các sản phẩm thủy hải sản cho các thành phố lớn trong cảnước

=>ta thấy rõ được nội dung cũng như tính chất hình thành giá cả và đảm bảo nguồn hàng lưu thôngcủa tác động điều tiết lưu thông hàng hóa - quy luật giá trị

Trang 15

Dưới tác động của khủng hoảng kinh tế , sức tiêu thụ hàng thủy sản của người dân giảm mạnh đồngnghĩa với việc cung vượt quá cầu , giá cả hàng hóa phải giảm xuống , hàng hóa bán không chạy và

lỗ vốn là điều tất yếu Tình hình ấy buộc công ty thủy sản Việt Nam phải thu hẹp quy mô sản xuấtthủy hải sản để tập trung sức lao động tư liệu sản xuất vào sản xuất dầu ăn và nước mắm – ngành cógiá cả hàng hóa ổn định hơn trong thời kỳ khủng hoảng Như vậy , ta thấy được ban lãnh đạoSEAPRODEX đã hiểu rõ được tác động điều tiết sản xuất của quy luật giá trị để áp dụng vào thực tếgiúp cho công ty đứng vững trong thời kỳ khủng hoảng

Sự hiện diện của QLGT ở Việt Nam

o Giai đoạn 1975 - 1986 ở Việt Nam không có sự hiện diện và tác động của QLGT, quan hệhàng hóa - tiền tệ bị coi nhẹ, chỉ là hình thức, quan hệ hiện vật là chủ yếu Nhà nước quản lý kinh tếthông qua chế độ "cấp phát - giao nộp" Vì vậy, rất nhiều hàng hóa quan trọng như sức lao động,phát minh sáng chế, tư liệu sản xuất quan trọng không được coi là hàng hóa về mặt pháp lý

o Từ 1986 đến nay, Việt Nam chuyển đổi sang cơ cấu kinh tế thị trường nhiều thành phần,QLGT phát huy tác dụng Nền kinh tế phát triển mạnh, mở rộng sự liên thông đối với thị trườngtrong khu vực và toàn thế giới Việc áp dụng các thành tựu kĩ thuật góp phần tăng năng suất sản xuất

và sản xuất đạt hiệu quả cao hơn, quy mô sản xuất rộng rãi hơn

o Trước tác động của QLGT, nhà nước vận dụng QLGT vào việc đổi mới nền kinh tế nước tathông qua xây dựng và phát triển mô hình kt thị trường định hướng XHCN Thực hiện chế độ 1 giá,

1 thị trường thống nhất trong cả nước và mở cửa với thị trường nước ngoài Ví dụ từ 1986 về trước,nước ta thực thi mô hình kinh tế chỉ huy tập trung quan liêu bao cấp, nội dung và tác động củaQLGT hầu như không được nhà nước vận dụng đúng Nhưng từ 1986 đến nay, vận dụng QLGTthông qua đổi mới nền kinh tế, nước ta chuyển sang xây dựng và phát triển mô hình thị trường địnhhướng XHCN, đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng KT – XH và đạt những thành tựu đáng kể

Kết quả của việc vận dung quy luật giá trị vào Việt Nam

Nhà nước, nhà sản xuất, người tiêu dùng

Nhà nước thông qua việc ban hành và sử dụng pháp luật, các chính sách kinh tế - xã hội, điềutiết thị trường nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế sự phân hóa - giàu nghèo, những tiêu cựctrong xã hội, thúc đẩy phát triển và lưu thông hàng hóa, ổn định và nâng cao đời sống người dân.Chẳng hạn như ban hành Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư và thực hiện nhất quán, lâu dài chính sáchkinh tế nhiều thành phần, làm cho mọi thành phần kinh tế, mọi người dân đều có quyền tự do kinhdoanh, khai thác, phát huy mọi tiềm lực của đất nước

Bên cạnh đó, về phía nhà sản xuất, cần phấn đấu giảm chi phí sản xuất và nâng cao chấtlượng hàng hóa để bán được nhiều hàng, thu nhiều lợi nhuận Vận dụng tác động của QLGT thôngqua sự biến động của giá cả hàng hóa trên thị trường, kịp thời điều chỉnh, chuyển đổi cơ cấu sảnxuất, cơ cấu mặt hàng và ngành hàng sao cho phù hợp nhu cầu của khách hàng trong nước và thếgiới

Đối với người tiêu dùng, không nên mua hàng theo phong trào Bởi lẽ nhiều người có thóiquen mua sắm hoàn toàn thụ động và thường không thể cưỡng chế lại ham muốn khi ghé các cửahàng thời trang, siêu thị hay trung tâm thương mại cùng bạn bè Khi một hàng hóa đang trở thành

Ngày đăng: 02/01/2019, 21:08

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w