Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người có thể diễn ra theo hai chiều hướng: + Hướng tích cực: Ý thức phản ánh đúng đắn hiện thực kh
Trang 1MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC 2
V ẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ NÀY TRONG HỌC TẬP VÀ TRONG ĐỜI SỐNG HẰNG NGÀY 3
V ẬN DỤNG TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA , HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC 3
S Ự VẬN DỤNG CỦA Đ ẢNG TA VÀO SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG CNXH Ở V IỆT N AM : 4
X UẤT PHÁT TỪ THỰC TIỄN , TÔN TRỌNG KHÁCH QUAN 5
BẢN CHẤT CỦA Ý THỨC 6
L ẤY VD TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI HOẶC TRONG HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN (1.5 Đ ) 6
NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN 7
S Ự VẬN DỤNG CỦA BẢN THÂN TRONG HỌC TẬP VÀ TRONG CUỘC SỐNG : 8
T ÁC ĐỘNG CỦA ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẾN CUỘC SỐNG VÀ CÁC VẤN ĐỀ KINH TẾ - XÃ HỘI 9
S Ự VẬN DỤNG TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở V IỆT N AM 9
NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN 10
LIÊN HỆ BẢN THÂN 11
S Ự PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA V IỆT N AM 11
QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH GIỮA CÁC MẶT ĐỐI LẬP 11
K HÁI NIỆM QUY LUẬT 11
V Ì SAO SINH VIÊN MUỐN PHÁT TRIỂN CẦN PHẢI TỰ HỌC 13
QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH 14
K HÁI NIỆM QUY LUẬT 14
V ẬN DỤNG QUY LUẬT NÀY VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐCSVN 15
V ẬN DỤNG QUY LUẬT NÀY ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA V IỆT N AM 15
V ẬN DỤNG VÀO VẤN ĐỀ HỌC TẬP : 16
V ẬN DỤNG VÀO ĐỜI SỐNG : 16
QUY LUẬT QHSX PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LLSX 16
K HÁI NIỆM LLSX – CẤU TRÚC CỦA LLSX – KHÁI NIỆM QHSX: 16
* K HÁI NIỆM Q UAN H Ệ S ẢN X UẤT : 17
MQH BIỆN CHỨNG GIỮA LLSX VÀ QHSX 17
CƠ SỞ HẠ TẦNG – KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG: 17
HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI 17
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT VỀ CON NGƯỜI 17
A K HÁI NIỆM CON NGƯỜI 17
N GUỒN GỐC TỰ NHIÊN VÀ NGUỒN GỐC XÃ HỘI CỦA CON NGƯỜI 17
B B ẢN CHẤT CỦA CON NGƯỜI 18
L IÊN HỆ THỰC TIỄN XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI XHCN HIỆN NAY : 19
Trang 2Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
Vật chất và ý thức là ai phạm trù cơ bản của triết học Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề
cơ bản của Triết học
Trong tác phẩm “Chủ nghĩa Duy vật và chủ nghĩa Kinh nghiệm phê phán”, Lênin định nghĩa: “Vật chất là một phạm trù Triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.”
Về bản chất, ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan của bộ óc con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Ý thức là hiện tượng xã hội, mang bản chất xã hội
- Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng Trong mối quan hệ này, vật chất có trước,
ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức, song, ý thức không hoàn toàn thụ động
mà nó có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn con người
a Vai trò của vật chất đối với ý thức:
Vật chất là cái có trước ý thức là cái có sau: ý thức là sản phẩm của bộ óc người – bộ óc người là kết quả quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, là SP của thế giới vật chất
VD: Hoạt động ý thức diễn ra bình thường trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của não người Nếu não người (vật chất) bị tổn thương thì hoạt động của ý thức cũng bị rối loạn
Vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức: ý thức nảy sinh từ BỘ ÓC NGƯỜI– đó là sản phẩm của thế giới vật chất, bộ não PHẢN ÁNH thế giới vật chất và làm xuất hiện ý thức Thế giới vật chất là NGUỒN GỐC kết quả của ý thức
VD: Ở Việt Nam, nhận thức của một số học sinh cấp 2, 3 về công nghệ thông tin là yếu kém tại một số vùng Nguyên nhân là do cơ sở về máy móc cũng như đội ngũ giáo viên còn thiếu Nếu vấn đề cơ sở vật chất được giải quyết thì khả năng sử dụng công nghệ và ý thức của các em sẽ tốt hơn rất nhiều Có thể nói, điều kiện vật chất thế nào thì quyết định ý thức thế đó
Vật chất quyết định nội dung của ý thức: ý thức là HÌNH ẢNH CHỦ QUAN về thế giới vật chất nên NỘI DUNG của ý thức phải bắt nguồn từ vật chất Mọi sự vận động, phát triển của ý thức đều PHẢN ÁNH sự vận động, phát triển, BIỂU HIỆN của thế giới vật chất
Vật chất quyết định bản chất, phương thức và kết cấu của ý thức: sự năng động, sáng tạo của ý thức
LỆ THUỘC thế giới khách quan Sự chuyển biến tâm tư, tình cảm, niềm tin, ý chí,… của con người
lệ thuộc hoàn cảnh khách quan và TÁC ĐỘNG của thế giới vật chất Các hình thức biểu hiện của ý thức đều chịu sự CHI PHỐI của các QL sinh học, các quy luật xã hội và môi trường sinh thái Chính thế giới vật chất QĐ các hình thức biểu hiện, phương thức, kết cấu và mọi sự thay đổi của ý thức Sự vận động, chuyển hóa, biến đổi của thế giới vật chất làm thay đổi quan điểm, quan niệm và ĐÁNH GIÁ của con người, của xã hội loài người
b Vai trò của ý thức đối với vật chất:
Thông qua hoạt động thực tiễn của con người, ý thức tác động trở lại thế giới vật chất, tác động trở lại môi trường sống
Nói đến vai trò của ý thức đối với vật chất là nói đến vai trò của con người trong hoạt động thực tiễn
Ý thức trang bị cho con người sự hiểu biết về hiện thực khách quan, nhờ đó giúp con người xác định mục tiêu, đề ra phương hướng , xây dựng kế hoạch,lựa chọn phương pháp , phương tiện, công cụ, thiết lập quan hệ xã hội để đạt mục tiêu đề ra
Trang 3 Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người có thể diễn ra theo hai chiều hướng:
+ Hướng tích cực: Ý thức phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan, giúp con người nắm bắt và vận dụng tốt các quy luật khách quan, nhờ đó con người có thể cải tạo tốt thế giới hiện thực với tình cảm, ý chí kiên cường, vượt qua mọi thử thách để vươn tới mục tiêu và hoàn thiện bản thân
VD: Với nhận thức đúng đắn về thực tại của kinh tế đất nước, từ sau đại hội VI, Đảng ta đã chuyển hướng từ nền kinh tế tự trị tự cung tự cấp, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường, nhờ đó mà sau gần 20 năm, kinh tế nước ra đã thay đổi hẳn
+ Hướng tiêu cực: Ý thức phản ánh lệch lạc hiện thực khách quan sẽ làm cho con người không nhận thức và vận dụng tốt các quy luật khách quan, qua đó con người gây tác hại thế giới vật chất, cản trở tiến bộ xã hội
và có thể tự hủy hoại bản thân Nhưng tác động kìm hãm của ý thức đối với thế giới vật chất chỉ là tạm thời
vì theo quy luật khách quan, ý thức tiến bộ sẽ thay thế ý thức lạc hậu, không phù hợp
VD: Các nhà máy xử lý rác thải nếu không nắm rõ về hiện thực khách quan, việc xử lý rác thải sẽ không phù hợp sẽ dẫn đến phá hoại môi trường
Như vậy:
Không ở đâu và không bao giờ ý thức có thể quyết định vật chất, ý thức chỉ có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người Sức mạnh của ý thức trong sự tác động này phụ thuộc vào trình độ phản ánh của ý thức, mức độ THẨM THẤU của ý thức vào những HÀNH ĐỘNG, TRÌNH ĐỘ TỔ CHỨC của con người và những ĐIỀU KIỆN KHÁCH QUAN định hướng cho hoạt động của con người Sự tác động của ý thức đối với vật chất dù đến mức độ nào đi nữa vẫn phải dựa trên cơ sở phản ánh thế giới vật chất
Vận dụng mối quan hệ này trong học tập và trong đời sống hằng ngày.
Thứ nhất,vì vật chất quyết định ý thức nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn đòi hỏi phải xuất
phát từ thực tế khách quan Đầu tiên, bản thân mỗi người phải tự xác định được các điều kiện khách quan ảnh hưởng đến cuộc sống học tập của bản thân Sinh viên chú ý tôn trọng tính khách quan và hành động theo các quy luật mang tính khách quan, thể hiện qua một số hành động như: tuân thủ theo thời khóa biểu mà mỗi khoa đã giao cho học sinh để đi học đúng giờ, tham dự các tiết học đầy
đủ,
Thứ hai, vì ý thức có sự tác động trở lại đối với vật chất nên cần phải phát huy tính năng động chủ
quan tức0o là phải phát huy tính tích cực, năng động và sáng tạo của ý thức Là sinh viên thì cần phải tích cực trong học tập, chủ động tìm hiểu và khai thác vấn đề, khi học bài không quá phụ thuộc vào giảng viên mà thay vào đó nên suy nghĩ những ý tưởng mới của riêng mình
Thứ ba, cần phải chống lại bệnh chủ quan duy ý chí cũng như bệnh bảo thủ trì trệ Cụ thể là cần phải
tiếp thu có chọn lọc những ý kiến mới, việc hôm nay không nên để ngày mai, không chủ quan trước mọi tình huống, phải biết lắng nghe và tiếp thu sự góp ý của người khác (VD như nhận xét thuyết trình, v.v)
Thứ tư, khi giải thích các hiện tượng xã hội cần phải tính đến các điều kiện vật chất lẫn yếu tố tinh
thần, điều kiện khách quan lẫn yếu tố khách quan Ví dụ đối với việc đăng ký học phần, sinh viên cần phải tính đến năng lực học tập của bản thân, điều kiện tài chính của gia đình, v.v
Vận dụng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trang 4Sự vận dụng của Đảng ta vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam:
Đầu tiên là thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ: Tranh thủ thời cơ thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức Điều này trước hết được thể hiện qua việc thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đảng đã phát huy, sử dụng có hiệu quả các tiềm năng về tài nguyên, lợi thế so sánh và con người để nâng cao chất lượng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Đảng cũng tăng cường ổn định bền vững kinh tế vĩ mô, nâng cao năng suất lao động quốc gia và đóng góp của năng suất các yếu tố tổng hợp trong mô hình tăng trưởng theo hướng thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ và xây dựng hệ thống đổi mới sáng tạo Đồng thời, Đảng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (Báo Diễn đàn doanh nghiệp)
Ngoài ra, Đảng ta còn vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức trong việc xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH, nâng cao đời sống vật chất của quần chúng nhân dân lao động Điều đó thể hiện ở Nghị quyết 168 về chuyển đổi cơ cấu sản xuất, các chính sách đất đai cho người dân tộc, chính sách tái định cư, cứu đói giảm nghèo, v.v Nhờ đó đời sống nhân dân được cải thiện, tỉ lệ hộ đói nghèo giảm mạnh từ 20% xuống 11%, thu nhâp hộ thành thị tăng từ 10 triệu/ năm lên 50 triệu/ năm Tại đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta xác định:“Quản lý tốt sự phát triển xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội; thực hiện tốt chính sách người có công; nâng cao chăm sóc sức khỏe nhân dân; xây dựng môi trường sống lành mạnh, văn minh, an toàn” Bên cạnh đó, nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020 cũng nhấn mạnh:
“Nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp xã hội, tiếp tục mở rộng đối tượng thụ hưởng với hình thức hỗ trợ thích hợp; nâng dần mức trợ cấp xã hội thường xuyên phù hợp với khả năng ngân sách nhà nước Xây dựng mức sống tối thiểu phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội làm căn cứ xác định người thuộc diện được hưởng trợ giúp xã hội Tiếp tục hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội…” (BỘ LAO ĐỘNG-THƯƠNG BINH VÀ
XÃ HỘI)
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta tiếp tục phát huy vai trò sáng tạo của con người trong nhận thức các quy luật khách quan Từ lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và từ kinh nghiệm thành công, thất bại trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rút ra bài học quan trọng là “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan” Đất nước ta đang bước vào thời
kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH, Đảng chủ trương: “huy động ngày càng cao mọi nguồn lực cả trong và ngoài nước, đặc biệt là nguồn lực của dân vào công cuộc phát triển đất nước”, muốn vậy phải “nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi
Trang 5mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, thực hiện “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Đầu tiên là việc khẳng định tinh thần yêu nước là một nhân tố quan trọng tạo thành động lực phát triển đất nước Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nhấn mạnh tinh thần yêu nước là một trong những giá trị, thuận lợi cơ bản của Việt Nam: “Chúng ta
có nhiều thuận lợi cơ bản: nhân dân ta có lòng yêu nước nồng nàn, có truyền thống đoàn kết và nhân ái Đồng thời Đảng tiếp tục khẳng định tinh thần yêu nước là nội dung quan trọng trong phương hướng, nhiệm
vụ xây dựng khối đại đoàn kết: “đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước” Việc tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước; phát triển các phong trào thi đua yêu nước luôn được Đảng yêu cầu qua các kỳ Đại hội Đảng; tiếp tục được phát triển trong các văn kiện Đại hội XII của Đảng Trong đổi mới giáo dục, bên cạnh việc nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, thì nội dung quan trọng cần thường xuyên được thực hiện là giáo dục tinh thần yêu nước: phát triển các phong trào thi đua yêu nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống, từ lao động, sản xuất, học tập, chiến đấu, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đến ưu tiên sử dụng hàng hóa được sản xuất trong nước, các việc thiện nguyện, các hoạt động bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường ; giữ gìn hình ảnh đất nước trong con mắt bạn bè quốc tế; xây dựng và phát huy tự hào dân tộc; tinh thần tự lực tự cường, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân
Xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng khách quan
Ngay từ khi ra đời, Đảng cộng sản Việt Nam đã lấy chủ nghĩa Mác Lênin làm nền tảng tư tưởng và vận dụng tư tưởng lý luận đó vào thực tế cách mạng nước ta để đề ra đường lối, chủ trương, chính sách qua từng thời kỳ Một trong những vận dụng cơ sở lý luận của triết học Mác Lênin vào công cuộc đổi mới đất nước mà Đảng đã khởi xướng bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ IV là nguyên tắc khách quan, một nguyên tắc được rút ra từ mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
- Phạm trù vật chất, phạm trù ý thức, mối liên hệ (câu 2)
- Từ mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, một nguyên tắc được rút ra, đó là nguyên tắc
khách quan Nguyên tắc khách quan trước nhất thừa nhận vai trò quyết định của vật chất đối với ý
thức, nó đòi hỏi trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ hiện thực khách quan, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, “phải lấy thực thể khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình” Nguyên tắc này đòi hỏi chúng ta trong nhận thức và hành động phải xuất phát từ chính bản thân sự vật với những thuộc tính, những mối liên hệ vốn có của nó, những quy luật khách quan, phải có thái độ tôn trọng sự thật, không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, không được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược, sách lược cách mạng
- Dẫn chứng:
Trong công cuộc đổi mới từ năm 1986, trong cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư, Đảng và Nhà nước
đã điều chỉnh lại theo hướng "không bố trí xây dựng công nghiệp nặng vượt quá điều kiện và khả năng thực tế", tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện ba chương trình mục tiêu: sản xuất lương thực- thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu Đây là những chương trình chẳng những đáp ứng được nhu cầu bức xúc nhất lúc bấy giờ mà còn là điều kiện thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa, là cái gốc tạo ra sản phẩm hàng hóa
Bản chất của ý thức
Trang 6Lấy VD trong đời sống xã hội hoặc trong học tập của bản thân (1.5đ)
Ý thức là hình ảnh của quan của thế giới khách quan, hay nói cách khác, hiện thực khách quan thế nào thì sẽ tạo ra ý thức thế đó Trong hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học, hiện thực khách quan là các kết quả nghiên cứu thu được thông qua thí nghiệm, thực nghiệm khảo sát Các kết quả đó
sẽ được phản ánh một cách đầy đủ và chính xác vào trong ý thức con người
Ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới: Cùng một sự việc hiện thực là thực tập sư phạm, nhưng mỗi sinh viên sẽ có cách nhìn khác nhau đối với việc học Có người sẽ xem đây là một nỗi sợ, có người lại xem đây là một cơ hội để phát triển thêm kiến thức, kỹ năng Thông qua những trải nghiệm và hoạt động thực tiễn khác nhau, sinh viên sẽ có cách nhìn khác nhau đối với cùng sự việc và sẽ có những cách giải quyết khác nhau
Bản chất của ý thức mang bản chất xã hội: Ý thức của người Việt Nam đối với việc giới trẻ muốn sống tự lập từ trung học phổ thông khác với ý thức của người Mỹ cùng vấn đề Ở xã hội của nước
Mỹ thì cha mẹ lại ủng hộ và cố gắng để con sống độc lập, ý thức của người Mỹ về vấn đề tự lập là khác Còn trong xã hội Việt Nam thì tự lập từ tuổi THPT là còn quá sớm, chưa đủ tự tin để có thể sống một mình
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Phép siêu hình (metaphysics) xem xét sự vật một cách hoàn toàn cô lập, tách rời với sự vật khác, không có sự tác động qua lại cũng như chuyển hóa lẫn nhau, như Engel từng viết: “Quan điểm siêu hình chỉ thấy những sự vật cá biệt mà không thấy mối liên hệ giữa những sự vật ấy, chỉ thấy sự tồn
Trang 7tại của sự vật mà không thấy sự hình hành và tiêu vong của sự vật, chỉ thấy trạng thái tĩnh của sự vật
và không thấy trạng thái động của sự vật, chỉ thấy cây mà không thấy rừng” Ngược lại, phép biện chứng (dialectics) cho rằng mọi sự vật đều tồn tại trong mối liên hệ với sự vật khác, chúng nương tựa, ràng buộc lẫn nhau, thường xuyên xâm nhập, chuyển hóa lẫn nhau Đề cập đến biện chứng là đề cập đến mối liên hệ và sự vận đông phát triển Đây cũng được coi là hai đặc trưng cơ bản nhất, cũng như là từ khóa của phép biện chứng
a Khái niệm về mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến
Trong phép biện chứng, khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ sự qui định, sự tác động và chuyển hóa
lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong
thế giới; còn khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện
tượng của thế giới, trong đó, những mối liên hệ phổ biến nhất là những mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng của thế giới, nó thuộc đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng, đó là các mối liên
hệ giữa: các mặt đối lập, lượng và chất, khẳng định và phủ định, cái chung và cái riêng…Như vậy, giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới vừa tồn tại những mối liên hệ đặc thù vừa tồn tại những mối liên hệ phổ biến ở những phạm vi nhất định, nhưng đồng thời cũng tồn tại những mối liên hệ phổ biến nhất, trong đó, những mối liên hệ đặc thù là sự thể hiện những mối liên hệ phổ biến trong những điều kiện nhất định Toàn bộ những mối liên hệ đặc thù và phổ biến đó tạo nên tính thống nhất trong tính đa dạng và ngược lại, tính đa dạng trong tính thống nhất của các mối liên hệ trong giới tự nhiên, xã hội và tư duy
b Tính chất của các mối liên hệ
Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú là những tính chất cơ bản của các mối
- Tính khách quan của các mối liên hệ.
Theo quan điểm biện chứng duy vật: các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới là có tính khách quan Theo quan điểm đó, sự qui định lẫn nhau, tác động lẫn nhau và làm chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng (hoặc trong chính bản thân chúng) là cái vốn có của nó, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý chí của con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình
Ví dụ: Mối quan hệ giữa trao đổi chất giữa cơ thể sống và môi trường, khi MT thay đổi thì cơ thể sống của sinh vật sẽ có những biến đổi để thích nghi với môi trường Mối LH đó không phải do ai sáng tạo ra mà nó là cái vốn có của thế giới vật chất
- Tính phổ biến của các mối liên hệ.Theo quan điểm biện chứng thì không có bất cứ sự vật, hiện
tượng hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối biệt lập với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác; đồng thời cũng không có bất cứ sụ vật, hiện tượng nào không phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm những yếu tố cấu thành với những mối liên hệ bên trong của nó, tức là bất cứ một tồn tại nào cũng
là một hệ thống, hơn nữa là hệ thống mở, tồn tại trong mối liên hệ với hệ thống khác, tương tác và làm biến đổi lẫn nhau
Ví dụ: Yếu tố dân số ảnh hưởng tới các yếu tố xã hội khác như: giáo dục, y tế, an ninh, … hay con người tồn tại trong nhiều mối quan hệ (bạn bè, thầy cô, đồng nghiệp, ); Mỗi cơ thể sống là một hệ thống cấu trúc tạo nên khả năng tự trao đổi chất với môi trường, nhờ đó mà tồn tại và phát triển
- Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ.Quan điểm biện chứng của chủ nghĩa Mac-Lênin không
chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của các mối liên hệ mà còn nhấn mạnh tính phong phú, đa dạng của các mối liên hệ Tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ được thể hiện ở chỗ: các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác nhau đều có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữ vai trò, vị trí khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nó; mặt khác, cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật nhưng trong những điều kiện cụ thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật thì cũng có những tính chất và vai trò khác nhau Sự phân chia từng cặp mối liên hệ chỉ mang tính tương đối vì mỗi loại mối liên hệ chỉ là một hình thức, một bộ phận, một mắt xích của mối liên hệ phổ biến Mỗi loại mối liên hệ trong từng cặp có thể chuyển hóa lẫn nhau do chính sự vận động của sự vật Như vậy, không thể đồng nhất tính chất và vị trí, vai trò
Trang 8cụ thể của các mối liên hệ khác nhau đối với những sự vật nhất định, trong những điều kiện xác định Đó là mối liên hệ bên trong và bên ngoài, mối liên hệ bản chất và hiện tượng, liên hệ chủ yếu
và thứ yếu…
Ví dụ: Trong kinh doanh, nếu các doanh nghiệp hoạt động độc lập, tách rời thì mối liên hệ giữa chúng là mối liên hệ bên ngoài Tuy nhiên, nếu vì mục đích phát triển, các doanh nghiệp độc lập này tập hợp lại thành tổng công ty, hoạt động như một tổ chức thống nhất thì khi ấy mối liên hệ giữa chúng lại là mối liên hệ bên trong
Quan điểm về tính phong phú đa dạng của các mối liên hệ còn bao hàm quan niệm về sự thể hiện phong phú, đa dạng của các mối liên hệ phổ biến ở các mối liên hệ đặc thù trong mỗi sự vật, mỗi hiện tượng, mỗi quá trình cụ thể, trong những điều kiện không gian và thời gian cụ thể
c Ý nghĩa phương pháp luận
- Từ tính khách quan và phổ biến của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt động nhận thức và thực
tiễn cần phải có quan điểm toàn diện.
Quan điểm toàn diện đòi hỏi trong nhận thức và xử lý các tình huống thực tiễn cần xem xét sự vật trong mối liên hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật và xử lý có hiệu quả các vấn đề của đời sống thực tiễn như vậy, quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, siêu hình trong nhận thức và thực tiễn Lênin cho rằng: “Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ “và quan hệ giao tiếp” của sự vật đó”
- Từ tính chất đa dạng, phong phú của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt động nhận thức và
thực tiễn khi đã thực hiện quan điểm toàn diện thì đồng thời cũng cần phải kết hợp với quan điểm
lịch sử - cụ thể.Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu trong việc nhận thức và xử lý các tình huống
trong hoạt động thực tiễn cần phải xét đến những tính chất đặc thù của đối tượng nhận thức và tình huống phải giải quyết khác nhau trong thực tiễn; phải xác định rõ vị trí, vai trò khác nhau của mỗi mối liên hệ cụ thể trong những điều kiện cụ thể để từ đó có được những giải pháp đúng đắn và có hiệu quả trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn Như vậy, trong nhận thức và thực tiễn không những cần phải tránh và khắc phục quan điểm phiến diện siêu hình mà còn phải tránh và khắc phục quan điểm chiết trung, ngụy biện
Sự vận dụng của bản thân trong học tập và trong cuộc sống:
Trong học tập:
Bản thân là sinh viên, trong học tập cần xác định mục tiêu, động cơ và thái độ đúng đắn thì mới có kết quả học tập cao Việc vận dụng quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử cụ thể trong học tập sẽ giúp định hướng học tập tốt hơn Khi lên kế hoạch học tập cần xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình học tập của bản thân tại từng giai đoạn cụ thể (khả năng học tập, điều kiện kinh tế gia đình, thời khóa biểu môn học, yêu cầu môn học, v.v) để có thể lựa chọn số lượng kiến thức phù hợp, cách học hiệu quả để đạt được kết quả cao nhất có thể
Bên cạnh việc học lý thuyết người học còn phải chú trọng thực hành, nắm vững kiến thức nền tảng, chuyên sâu để vận dụng vào cuộc sống; học tập còn phải gắn liền với rèn luyện phẩm chất đạo đức, sức khỏe, trao dồi kỹ năng sống để trở thành con người hoàn thiện
Trong cuộc sống: Không nên đánh giá người khác một cách hời hợt, phiếm diện Khi xem xét một
sự việc hoặc đánh giá một ai đó, cần phải tiếp xúc lâu dài, nhìn nhận trên nhiều phương diện khác nhau, đặt con người, sự việc trong các mối liên hệ (bạn bè, gia đình, v.v) Trong cách ứng xử phải xem xét hoàn cảnh để tùy từng người, từng thời điểm sẽ có cách giao tiếp, đối xử phù hợp
Tác động của ĐỔI MỚI GIÁO DỤC đến cuộc sống và các vấn đề kinh tế - xã hội
1- Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội
Trang 92- Đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay là công tác đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục-đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học Trong quá trình đổi mới, ta đã kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc
3- Phát triển giáo dục và đào tạo đã góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Việc chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học đã giúp đào tạo ra những thế hệ học sinh đáp ứng nhu cầu của thời đại mới: có kiến thức, có kỹ năng, có phẩm chất và đạo đức tốt, năng động và sáng tạo hội nhập
4- Đổi mới giáo dục đã góp phần giải quyết nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc; thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ
5 - Công tác đổi mới đã góp phần thúc đẩy việc đáp ứng yêu cầu chủ động, tích cực hội nhập quốc
tế để phát triển đất nước
Sự vận dụng trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam
Trang 10Nguyên lý về sự phát triển
Phát triển là một quá trình vận động của sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng đi tiến; là sự biến đổi về chất theo hướng ngày càng hoàn thiện của sự vật ở những trình độ ngày càng cao hơn Quá trình đó diễn ra vừa đều đặn, vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ Dù trong hiện thực khách quan hay trong tư duy, sự phát triển diễn ra không phải lúc nào cũng theo đường thẳng, mà rất quanh co, phát triển thậm chí có thể có những bước lùi tạm thời Nguyên lí về mối liên
hệ phổ biến và nguyên lí về sự phát triển có mối quan hệ mật thiết với nhau, vì nhờ có các mối liên
hệ phổ biến thì mới có sự vận động, phát triển
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, các quá trình phát triển đều có ba tính chất cơ bản: tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng phong phú Đầu tiên là tính khách quan,
sự phát triển mang tính khách quan bởi vì nguồn gốc của sự phát triển nằm trong bản thân sự vật; là quá trình giải quyết mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng đó Nhờ đó, sự vật luôn luôn phát triển Vì thế, sự phát triển là tiến trình khách quan, không phụ thuộc vào ý thức con người
Thứ hai là tính phổ biến, sự phát triển mang tính phổ biến vì sự phát triển diễn ra ở mọi lĩnh vực (tự nhiên, xã hội và tư duy); ở bất cứ sự vật, hiện tượng nào của thế giới khách quan Ngay cả các khái niệm, các phạm trù phản ánh hiện thực cũng nằm trong quá trình vận động và phát triển; chỉ trên cơ sở của sự phát triển, mọi hình thức của tư duy, nhất là các khái niệm và các phạm trù mới
có thể phản ánh đúng đắn hiện thực luôn vận động, phát triển thúc đẩy cái mới ra đời theo quy luật khách quan
Ví dụ: sự phát triển của tư duy: không biết – biết ít – biết nhiều, hiểu biết từ trình độ thấp đến trình độ cao; trong tự nhiên: quá trình phát triển của sâu bướm: trứng – sâu non – nhộng- bướm trưởng thành; trong xã hội: sự PT của các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao: CXNT – CH nô
lệ - Phong kiến – tư bản CN – Xã hội CN
Thứ ba là tính đa dạng, phong phú, sự phát triển có tính đa dạng, phong phú vì phát triển là khuynh hướng của mọi sự vật, song mỗi sự vật, mỗi hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau Tồn tại ở không gian khác nhau, ở thời gian khác nhau, sự vật phát triển sẽ khác nhau
Cụ thể, ở cùng một độ tuổi thì trẻ em ngày nay phát triển về chiều cao và thể chất nhanh hơn rất nhiều so với thế hệ đi trước Ngoài ra, trong quá trình phát triển của mình, sự vật còn chịu sự tác động của các sự vật, hiện tượng khác của rất nhiều yếu tố, điều kiện trong hiện thực Chẳng hạn như trong thời kỳ cổ đại, dưới tác động của điều kiện tự nhiên, ở Phương đông, nền kinh tế chính của các quốc gia cổ đại là nông nghiệp trồng lúa nước Còn ở phương Tây là thủ công nghiệp và thương nghiệp Sự tác động đó có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của sự vật, hiện tượng thậm chí
có thể làm cho sự vật, hiện tượng thụt lùi tạm thời, có thể dẫn tới sự phát triển ở mặt này, thoái hóa
ở mặt khác khiến sự phát triển diễn ra quanh co, phức tạp
Bên cạnh đó, quan điểm biện chứng của sự phát triển còn làm rõ: Cách thức của sự phát triển
là từ những thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại, thông qua các bước nhảy Nguồn gốc, động lực của sự phát triển là mâu thuẫn nội tại của nội tại sự vật, hiện tượng; là thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập Khuynh hướng của sự phát triển là phủ đinh của phủ định – sau mỗi chu kỳ phủ điinh của phủ định, cái mới ra đười dường như lặp lại cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn, hoàn thiện hơn (phát triển xoáy trôn ốc)
Như vậy, khuynh hướng chung của mọi sự vật hiện tượng là phát triển, phát triển lại có tính khách quan và tính phổ biến Vì vậy, trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, chúng ta phải có quan điểm phát triển
• Ý nghĩa pp luận