Tiểu luận - trách nhiệm pháp lý của người chuyên chở.
Trang 1ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI CHUYÊN CHỞ TRONG VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
Môn: Vận tải & Bảo hiểm ngoại thương
Nhóm thực hiện:
Trần Thị Thu Ánh K074020276 Bùi Thị Cam K074020281
Trang 2Vũ Thị Xuân Đào K074020290
Phạm Thanh Hằng K074020295 Võ Nguyễn Ngọc Hạnh K074020301 Hồ Thị Phượng Liên K074020318 Nguyễn Thị Thúy Kiều K074020312 Trần Thị Tình K074020356 Đoàn Thị Thiệt K074020365 Lê Thị Đoan Trang K074020374 GV hướng dẫn: Hoàng Lâm Cường Tp Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 06 năm 2010 MỤC LỤC Trang CẢNG MARSEILLE 4
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI CHUYÊN CHỞ 6
1. Tầm quan trọng của việc xác định trách nhiệm của người chuyên chở 6
2. Các mốc hình thành trách nhiệm pháp lý của người chuyên chở 6
3. Pháp luật Việt Nam và trách nhiệm của người chuyên chở 7
Trang 3CHƯƠNG II: ĐỐI CHIẾU NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
VÀ VIỆT NAM VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI CHUYÊN CHỞ BẰNG
ĐƯỜNG BIỂN 10
1. Thời hạn trách nhiệm của người chuyên chở……… 10
2. Cơ sở trách nhiệm của người chuyên chở 12
3. Giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở 20
4 Thông báo tổn thất và thời hiệu tố tụng quy định trong các nguồn luật 4.1 Thông báo tổn thất quy định trong các nguồn luật 20
4.2 Thời hiệu tố tụng quy định trong các nguồn luật 26
CHƯƠNG III: CÁC TRÁCH NHIỆM KHÁC CỦA NGƯỜI CHUYÊN CHỞ KHI THỰC HIỆN VẬN TẢI BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 27
1. Trách nhiệm của người chuyên chở đối với việc giao hàng tại cảng đến 27
2. Trách nhiệm giúp người nhận hàng kiểm tra, kiểm đếm hàng hóa khi bị tổn thất 27 3. Trách nhiệm cấp vận đơn đã xếp hàng hoặc ghi bổ sung lên vận đơn chưa xếp hàng 28
4. Trách nhiệm của người chuyên chở đối với hàng hóa xếp trêm boong và súc vật sống 28
5. Trách nhiệm của người chuyên chở đối với hàng hóa nguy hiểm 29
6. Trách nhiệm ghi bảo lưu trên vận đơn 30
7.Trách nhiệm chứng minh tổn thất 30
Trang 4CHƯƠNG IV: THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẬP QUÁN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ INCOTERMS CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRONG NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ
SỰ PHÂN CHIA TRÁCH NHIỆM VẬN TẢI HÀNG HẢI 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
Trang 5Cảng Marseille
Marseille là hải cảng xưa nhất và lớn nhất của nước Pháp và là một thành phố quốc tế, đầy màu sắc và lý thú Marseille được thành lập bởi các nhà hàng hải Hy Lạp đến từ vùng Phocée vào thế kỷ VII trước Thiên chúa Giáng sinh và cùng với Provence đã được hợp nhất vào nước Pháp vào năm 1481 Marseille có 797.491 dân và là đô thị lớn thứ hai của Pháp Marseille là trung tâm cảng, công nghiệp và thương mại to lớn
Thành phố chiếm một vị thế tuyệt vời, nằm sâu trong đáy của một cái vịnh có bốn bề là núi đá vôi trắng xóa nhưng đồng thời lại rộng
mở hướng ra biển Địa Trung Hải với sóng nước màu thiên thanh Miền duyên hải của Marseille có 57 km chiều dài, trong đó Calanques chiếm 24km Một mặt đặt chân trong nước, mặt khác lưng quay về phía các ngọn đồi bao quanh Marseille chiếm một diện tích 240 km2 (gấp hai lần diện tích Paris) Khí hậu ở đây dịu nhờ gió nhẹ thổi vào từ biển (brise de mer) Không khí khô ráo, ít mưa nhưng nặng hạt
Lịch sử hình thành thành phố cảng Marseille bắt đầu từ một câu chuyện tình.
Với lịch sử thành lập 2600 năm, Marseille là thành phố cổ nhất của nước Pháp Truyền thuyết lưu truyền rằng Marseille ra đời là do câu chuyện tình giữa một chàng thủy thủ trẻ tuổi phiêu lưu đến từ Hy Lạp và nàng công chúa bản địa người Ligure.Vào khoảng năm 600 trước Thiên chúa Giáng sinh, một số thủy thủ lái buôn người Hy Lạp từ
Phocée (một địa danh gần với Smyrme ngày nay, thuộc Turquie) mạo hiểm đổ bộ lên bờ Lacydon (tức Vieux Port ngày nay) PROTIS, thủ lãnh của các thủy thủ này đi tìm gặp thổ dân người Ligure lúc đó sống trên một ngọn đồi quay lưng ra biển Những người Ligure bản xứ tỏ ra hiền hoà với các ngoại nhân đầy thiện ý này
Theo truyền thuyết sự tình cờ đã đưa đẩy các thủy thủ Phocéen đến vào đúng ngày thủ lĩnh người Ligure đang muốn tìm một chàng trai để kết hôn với con gái của mình là công chúa GYPTIS Theo tục lệ, sau một buổi khiêu vũ tình tứ, nàng công chúa sẽ đặt ly ruợu dưới chân ý trung nhân mà nàng sẽ chọn Và thế là MASSALIA ra đời do tiếng sét
ái tình đánh trúng vào Protis, chàng trai phiêu bạt giang hồ đến từ Phocéen Như vậy
Trang 6Marseille đã trở nên thành phố đầu tiên của cái quốc gia mà sau này gọi là nước Pháp lúc đó chưa ra đời Marseille ra đời trước cả khi mà Lutèce (tức Paris) được sinh ra từ đám sương mù đầm lầy của Ile de la Cité.
Suốt thời thượng cổ rồi thời trung cổ, thành phố Marseille phát triển ở bờ phía bắc của Cảng Việc chọn nơi này làm đô thị không phải là không có lý do: một mặt được che chở bởi 3 ngọn đồi (Saint-Laurent, Les Moulins và Les Carmes), một mặt được các đảo Pomègues và Ratonneau tạo nên hàng rào phòng ngự thiên nhiên Ngoài ra còn được hưởng nguồn nước trong lành của Lacydon (Vieux Port) Chỉ vào năm 1666, dưới thời vua Louis, 14 thành phố mới được mở rộng về phía nam
Lưu thông container tại Marseille tăng
Trong 19 thế kỷ đã có một năng lực của marseille cổng 1000 - 1200 tàu Hàng năm, có
khoảng 18000 tàu qua cảng Marseille được xếp hạng là một trong những cảng tấp nập nhất châu Âu
Lưu thông container tăng 5% tại Marseilles trong mười tháng đầu năm 2009 so với một năm trước thậm chi khi cảng lớn nhất của Pháp phải chịu một khoản sụt giảm hai con số trong tổng sản lượng hàng
Vận chuyển container đạt 741,548
TEU trong mười tháng cho đến cuối tháng
Mười, so với 705,542 TEUs cùng kỳ trong
năm 2008 Tuy nhiên, lưu thông vẫn giảm
2% trong tháng Mười, đạt 73,051 TEUs
Khoản tăng trong lưu thông container
không đủ bù cho sản lượng thấp trong các
hàng hóa truyền thống và hàng ro-ro, khiến
cho sản lượng hàng hóa chung thấp hơn
75, còn 11.9 triệu m3
Lưu thông container của Marseilles
giảm 15% trong năm 2008 chỉ còn 848,000 TEUs so với gần hơn một triệu TEU trong năm 2007 khi các cuộc đình công của công nhân cảng khiến các container chuyển hướng sang các cảng đối thủ ở Địa Trung Hải, gồm Barcelone và Genoa
Marseilles là cảng container lớn thứ hai của Pháp sau Le Havre, xử lý 2.5 triệu TEU trong năm 2008
Trang 7CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI
CHUYÊN CHỞ
1 Tầm quan trọng của việc xác định trách nhiệm của người chuyên chở
Cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế thì nhu cầu vận chuyển hàng hóa từ nơi này đến nơi khác ngày càng tăng Cùng với các phương thức khác, vận chuyển hàng hóa bằng đường biển góp phần quan trọng trong việc chu chuyển hàng hóa trên thế giới Hiện nay trên 85% (Việt Nam khoảng 95%) tổng khối lượng hàng hóa buôn bán quốc tế được vận chuyển bằng đường biển Khi gửi hàng cho người chuyên chở thì số phận hàng hóa và vận mệnh của các doanh nghiệp nằm trong tay người chuyên chở nói chung
và người chuyên chở thực hiện dịch vụ vận tải bằng đường biển nói riêng Chính điều này mà những quy định liên quan đến người chuyên chở đặc biệt là trách nhiệm cuản người chuyên chở luôn là vấn đề được các quốc gia quan tâm Trong quá trình phát triển của mình các quốc gia đều ban hành luật hàng hải trong đó chế định về trách nhiệm của người chuyên chở bao giờ cũng là một nội dung quan trọng
Hơn nữa, Để tạo điều kiện thuận lợi trong việc ký kết hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển giữa người gởi hàng và người vận chuyển cũng như nhằm tránh những xung đột xảy ra khi hàng hóa bị mất mát hư hỏng thì việc xác định trách nhiệm của các bên đặc biệt là trách nhiệm của người chuyên chở đối với hàng hóa là vô cùng quan trọng
Trang 8Do đặc điểm hàng hóa được vận chuyển qua biên giới của hai hay nhiều nước, do
đó đòi hỏi phải có những quy định chung thống nhất giữa các nước có liên quan mang tính quốc tế, vì thế đã xuất hiện nhiều điều ước quốc tế như công ước, nghị định thư, hiệp định quốc tế về hàng hải Sự ra đời của các công ước quốc tế nhằm mục tiêu cụ thể hóa trách nhiệm của người chuyên chở trên phạm vi toàn cầu
2 Các mốc hình thành trách nhiệm pháp lý của người chuyên chở
Đầu thế kỷ XX, buôn bán bằng đường biển quốc tế đã phát triển mạnh, số lượng hàng hóa vận chuyển ngày càng tăng lên Để tránh xu hướng quy định trách nhiệm một cách tùy tiện của người chuyên chở; mặc khác để có sự thống nhất về quy định trách nhiệm của người chuyên chở giữa các nước, tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại quốc tế phát triển, Quy tắc Lahaye đã ra đời Dù được nhiều nước tham gia ký kết, nhưng vì quy tắc không có điều khoản nào buộc các nước tham gia phải thi hành nên không có nước nào thực hiện Năm 1924, một quy tắc mới về vận tải đường biển được đại diện ngoại giao của 26 nước ký kết ở Brucxen, thủ đô Bỉ, có tên gọi là “Công ước quốc tế để thống nhất một số thể lệ về vận đơn đường biển” (Công ước Brucxen 1924) Công ước này còn gọi là quy tắc Hague 1924 vì nó được soạn thảo ở Hague của Hà Lan Khác với quy tắc Lahaye, công ước Brucxen buộc những nước tham gia phải áp dụng quy tắc này
Công ước Brucxen ra đời là một sự tiến bộ rất đáng kể trong lĩnh vực hàng hải và thương mại, nó tạo ra một nguồn luật quốc tế về vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, làm cho chuyên chở quốc tế bằng đường biển có chuẩn mực Tuy nhiên, để phù hợp với
sự phát triển của thương mại và hàng hải, Công ước đã được bổ sung và sửa đổi hai lần:
- Bản sửa đổi thứ nhất là Nghị định thư Visby 1968
- Bản sửa đổi thứ hai là Nghị định thư SDR, năm 1979
Nhìn chung, các nghị định thư sửa đổi công ước không có sự khác biệt căn bản nào đối với công ước về trách nhiệm của người chuyên chở, nó không sửa đổi được những nội dung chủ yếu của công ước, mà chỉ tập trung sửa đổi về giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở Do vậy, các nghị định thư này đã không đáp ứng được mục tiêu sửa đổi của những người xuất nhập khẩu, ngân hàng và những nhà bảo hiểm hàng hóa
Trang 9Do những hạn chế của công ước Brucxen và các nghị định thư sửa đổi, liên hiệp quốc đã ban hành “Công ước liên hiệp quốc về chuyên chở hàng hóa bằng đường biền”, còn gọi là công ước Hamburg hay quy tắc Hamburg năm 1978, do được ký kết tại Hamburg (Cộng hòa Liên Bang Đức) năm 1978 Công ước này đã khắc phục những nhược điểm của công ước Brucxen và tạo nên sự bình đẳng về mặt quyền lợi giữa người chuyên chở và người chủ hàng Tuy nhiên, công ước Hamburg sau 14 năm kể từ ngày
ký kết mới có hiệu lực (tháng 11 năm 1992) Như vậy, trên thế giới ngày nay song song tồn tại hai công ước quốc tế về vận chuyển hàng hóa bằng đường biển
3 Pháp luật Việt Nam và trách nhiệm của người chuyên chở
Có thể nói, luật thương mại Việt Nam năm 2005 là văn bản pháp lý điều chỉnh ở mức độ khái quát nhất dịch vụ logistics Tuy nhiên, vấn đề trách nhiệm của người chuyên chở khi thực hiện dịch vụ vận tải hàng hải không được quy định cụ thể trong luật này, mà chỉ có một vài quy định mang tính dẫn chiếu Luật thương mại đã đưa ra các trường hợp miễn trách đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics, trong đó
có trường hợp miễn trách đối với các tổn thất phát sinh do những trường hợp miễn trách theo quy định của pháp luật và tập quán về vận tải nếu thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics tổ chức vận tải Trường hợp này, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics tổ chức vận tải có thể là người chuyên chở Đây được coi là quy định mang tính “dẫn chiếu” đến các văn bản pháp lý quốc tế , cũng như văn bản luật khác của Việt Nam để điều chỉnh một trong những nội dung cơ bản về trách nhiệm pháp lý của người chuyên chở - “cơ sở trách nhiệm” Ví dụ: công ước Brucxen 1924, công ước Hamburg 1978, Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2005… Tiếp nối quy định cũng mang tính dẫn chiếu như trên, nghị định 140/2007/NĐ-CP của chính phủ ban hành ngày 5 tháng 9 năm 2007 đưa
ra giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics liên quan đến vận tải như sau: “Giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics liên quan đến vận tải thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan về giới hạn trách nhiệm trong lĩnh vực vận tải” Trên tinh thần của quy định này, giả sử trong trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hải, để xác định giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở khi thực hiện dịch vụ này thì phải căn cứ vào những quy định của Bộ luật hàng hải Việt Nam Tóm lại, từ góc độ nghiên cứu pháp luật về dịch vụ logistics, muốn tìm hiểu trách nhiệm pháp lý của người chuyên chở khi thực hiện dịch vụ vận tải
Trang 10hàng hải nhất thiết phải dẫn chiếu đến các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam (Bộ luật hàng hải Việt Nam) điều chỉnh vấn đề đang bàn
Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2005 được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005, có hiệu lực thi hành ngày 1/1/2006 Bộ luật hàng hải gồm 18 chương, 261 điều Bộ luật này quy định về hoạt động hàng hải, bao gồm các quy định về tàu biển, thuyền bộ, cảng biển, luồng hàng hải, vận tải biển, an toàn hàng hải, phòng ngừa ô nhiễm môi trường và các hoạt động khác liên quan đến việc sử dụng tàu biển vào mục đích kinh tế, xã hội, thể thao, công cụ và nghiên cứu khoa học
Các Công ước quốc tế về hàng hải ra đời nhằm tạo ra nguồn luật quốc tế để giả quyết những tranh chấp phát sinh có liên quan đến việc vận chuyển hàng hóa,… bằng đường biển, tránh những xung đột pháp luật do quy định của luật quốc gia các nước không giống nhau Nhiều quốc gia trên thế giới , đặc biệt là những nước tham gia các điều ước có liên quan và những nước có ngành hàng hải phát triển, để những quy định pháp luật quốc gia và quốc tế ít có xung đột, họ đã quy định trong luật quốc gia của mình những nội dung tương tự như các công ước mà họ tham gia đó là những nước Úc,
Ấn Độ, Anh, Bồ Đào Nha, Mỹ, Pháp… thì quy định gần giống nguyên văn các điều ước
có liên quan
Việt Nam là một trong số những nước chưa gia nhập công ước Brucxen 1924 và công ước Hamburg 1978, tuy nhiên chúng ta đã sử dụng những quy định về trách nhiệm của người chuyên chở được quy định trong các điều ước quốc tế để quy định trách nhiệm của người chuyên chở đường biển trong pháp luật hàng hải Việt Nam
Như vậy, chính vì sự phức tạp trong hệ thống pháp luật về lĩnh vực vận tải hàng hải, mà
cụ thể là trách nhiệm pháp lý của người chuyên chở, cho nên việc so sánh sự giống và khác nhau giữa các công ước quốc tế điều chỉnh vận đơn đường biển và bộ luật hàng hải Việt Nam là rất có ý nghĩa đáp ứng yêu cầu ngày càng phát triển quan hệ thương mại và hàng hải giữa Việt Nam với các nước hiện tại cũng như trong tương lai nhằm giảm thiểu các rủi ro có thể phát sinh về khía cạnh pháp lý
Trang 11CHƯƠNG II: ĐỐI CHIẾU NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ VIỆT NAM VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI CHUYÊN
CHỞ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
- Người chuyên chở là gì?
Theo quy tắc mẫu của FIATA – Liên đoàn các Hiệp hội giao nhận quốc tế về dịch vụ giao nhận thì “người chuyên chở” là bất kỳ người nào chính thức thực hiện việc chuyên chở hàng hóa với phương tiện chuyên chở thuộc sở hữu của anh ta hay bất kỳ người nào chịu trách nhiệm chuyên chở được thể hiện hay quy định trong hợp đồng vận chuyển
Điều 1 – Công ước Hamburg 1978 quy định: “người chuyên chở là bất cứ người nào mà chính mình hoặc người được họ ủy thác đứng tên ký hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển với người gởi hàng” Như vậy, người chuyên chở (hay còn gọi là người vận chuyển) phải là một bên tham gia ký kết hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển
Trang 12Ngoài khái niệm về người chuyên chở, công ước Hamburg 1978 còn đưa ra khái niệm về người chuyên chở thực sự Theo đó, “người chuyên chở thực sự” là bất cứ người nào được người chuyên chở ủy thác thực hiện việc chuyên chở hàng hoặc một phần việc chuyên chở hàng đó, kể cả bất kỳ người nào khác được giao cho việc ủy thác
đó
Tương tự như vậy, Khoản 2, 3 điều 72 bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2005 quy định: “ người vận chuyển là người tự mình hoặc hoặc ủy quyền cho người khác giao kết hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển với người thuê vận chuyển” Và
“người vận chuyển thực tế” là người được người vận chuyển ủy thác thực hiện toàn bộ hoặc một phần việc vận chuyển hàng hóa bằng đường biển Trên thực tiễn, người vận chuyển có thể là chủ tàu hoặc đại lý tàu biển Trong đó, đại lý tàu biển là người được ủy thác ký hợp đồng thay mặt cho chủ tàu và vì chủ tàu
1 Thời hạn trách nhiệm của người chuyên chở
Thời hạn trách nhiệm của người chuyên chở (Period of Reponsibility): là trách nhiệm của người chuyên chở đối với hàng hóa về mặt thời gian và không gian.Thời hạn trách nhiệm của người chuyên chở được quy định trong các nguồn luật, có thể chia thành hai nhóm:
- Theo quy định của công ước Brucxen 1924, Nghị định thư Visby 1968 và luật của các quốc gia như Mỹ, Singapore, thì thời hạn trách nhiệm của người chuyên chở đối với hàng hóa kể từ khi hàng hóa được xếp lên tàu ở cảng đi cho đến khi hàng hóa được dỡ khỏi tàu ở cảng đến, hay thường gọi là “Từ cẩu đến cẩu”
- Theo quy tắc Hamburg 1978 và luật hàng hải của một số quốc gia như Trung Quốc, Ucraina, Thái Lan, Việt Nam, thì thời hạn trách nhiệm của người chuyên chở rộng hơn Cụ thể, người chuyên chở phải chịu trách nhiệm đối với hàng hóa
kể từ khi nhận hàng để chở ở cảng đi cho tới khi giao xong hàng cho người nhận
ở cảng đến Thực tế theo cách quy định này, chúng ta thường nói trách nhiệm của người chuyên chở đối với hàng hóa là “từ khi nhận đến khi giao”
Cụ thể như sau:
Trang 13• Về thời hạn trách nhiệm của người chuyên chở, Khoản 1 điều 74 của bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2005 quy định: “Trách nhiệm của người vận chuyển phát sinh từ khi người vận chuyển nhận hàng tại cảng nhận hàng, được duy trì trong suốt quá trình vận chuyển và chấm dứt khi kết thúc việc trả hàng tại cảng trả hàng” Quy định này tương tự Công ước Hamburg 1978.
• Công ước Brucxen 1924 quy định “thời gian chuyên chở hàng hóa gồm thời gian
từ lúc chất hàng xuống tàu đến lúc dỡ hàng ấy lên khỏi tàu” Điều này có nghĩa
là, người chuyên chở bắt đầu chịu trách nhiệm đối với hàng hóa khi móc cẩu của tàu móc vào kiện hàng ở cảng xếp, tiếp tục chịu trách nhiệm đối với hàng hóa trong quá trình vận chuyển và hết trách nhiệm đối với hàng hóa khi hàng hóa đã được đặt lên cầu cảng ở cảng dỡ hàng một cách an toàn Nếu khi dỡ hàng ở cảng đến mà hàng hóa bị tuột khỏi móc cẩu và rơi xuống biển hay xuống cầu cảng dẫn đến tổn thất thì người chuyên chở phải chịu trách nhiệm bồi thường, chứ không phải hàng hóa cứ tuột khỏi móc cẩu ở cảng dỡ là thì người chuyên chở hết trách nhiệm
• Theo công ước Hamburg 1978,người chuyên chở chịu trách nhiệm đối với hàng hóa kể từ khi người chuyên chở nhận hàng ở cảng đi tới khi người chuyên chở giao hàng tại cảng đến Công ước cũng quy định rõ “nhận hàng” và “giao hàng”Như vậy, theo bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2005 thì thời hạn trách nhiệm của người chuyên chở Việt Nam lớn hơn thời hạn trách nhiệm của người chuyên chở được quy định trong công ước Brucxen, người chuyên chở chỉ chịu trách nhiệm đốivới hàng hóa kể từ khi bốc lên tàu cho tới khi rỡ hàng khỏi tàu Nghĩa là tổn thất về hàng hóa trước khi xếp hàng lên tàu và sau khi rỡ hàng khỏi tàu đều không thuộc trách nhiệm của người chuyên chở Trong khi đó giống với công ước Hamburg, bộ luật hàng hải Việt Nam 2005 cho rằng người chuyên chở phải chịu trách nhiệm về hàng hóa kể từ khi nhận hàng để chở ở cảng đi cho tới khi giao xong hàng cho người nhận tại cảng đến Do đó trách nhiệm của người chuyên chở theo công ước Hamburg 1978 và bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2005 được mở rộng hơn về không gian và thời gian so với công ước Brucxen 1924
2 Cơ sở trách nhiệm của người chuyên chở
Trang 14a Cơ sở trách nhiệm của người chuyên chở:
Cơ sở trách nhiệm của người chuyên chở (Basics of Liability) : là trách nhiệm của người chuyên chở về mất mát , hư hỏng của hàng hóa
Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2005:
Về cơ sở trách nhiệm của người chuyên chở thì Công ước Brucxen 1924 và Bộ luật hàng hải Việt Nam 2005 quy định tương đối giống nhau, đều đưa ra ba trách nhiệm
và 17 trường hợp làm căn cứ miễn trách nhiệm cho người chuyên chở
Những trách nhiệm được quy định trong bộ luật là những trách nhiệm tối thiểu vì
nó quá đương nhiên, dù có quy định hay không quy định thì người chuyên chở vẫn phải luôn có trách nhiệm như vậy
Đối với trách nhiệm thứ nhất, là trách nhiệm cung cấp tàu đủ khả năng đi biển
“Người chuyên chở phải mẫn cán để trước và khi bắt đầu chuyến đi, tàu biển có đủ khả năng đi biển, có thuyền bộ thích hợp, được cung cấp đầy đủ trang thiết bị và vật phẩm
dự trữ, các hầm hàng, các hầm lạnh và các khu vực khác dùng để vận chuyển hàng hóa
có đủ các điều kiện nhận, vận chuyển và bảo quản hàng hóa phù hợp với tính chất của hàng hóa” Quy định này tương tự như Khoản 1 Điều 3 của Công ước Brucxen 1924 Điều này quá hiển nhiên vì người chuyên chở nhận hàng chuyên chở để lấy cước chẳng
lẽ lại không cung cấp đủ khả năng đi biển
Với trách nhiệm thứ hai, trách nhiệm xếp dỡ bảo quản hàng hải trong suốt quá trình chuyên chở Khoản 2 Điều 75 BLHHVN 2005 quy định “người vận chuyển chịu trách nhiệm về việc bốc hàng, dỡ hàng cẩn thận và thích hợp, chăm sóc chu đáo trong quá trình vận chuyển” Khoản 3 Điều 50 cũng qui định “ Thuyền trưởng có nghĩa vụ quan tâm thích đáng để hàng hóa được bốc lên tàu biển, sắp xếp và bảo quản trên tàu biển, dỡ khỏi tàu một cách hợp lý, mặc dù các công việc này đã được giao cho những người có trách nhiệm thực hiện” Những điều này có nghĩa là người chuyên chở có trách nhiệm đối với việc xếp hàng lên tàu ở cảng bốc hàng và dỡ hàng ra khỏi tàu tại cảng dỡ hàng và có trách nhiệm chăm sóc hàng hóa trong suốt quá trình chuyên chở Điều này cũng đương nhiên, vì tàu không thể không có trách nhiệm đối với việc xếp dỡ, bảo quản hàng hóa Không có sự chỉ dẫn của tàu việc xếp dỡ hàng không thể thực hiện được, trên
Trang 15tàu lại chỉ có người chủ tàu mà không có chủ hàng đi kèm; mặt khác đối với tàu chợ, chi phí xếp dỡ đã được tính trong cước thì trách nhiệm và chi phí xếp dỡ là thuộc về tàu
Với trách nhiệm thứ ba, trách nhiệm cấp vận đơn đường biển, điều này là điều bắt buộc vì tàu nhận hàng hóa thì phải chứng nhận là đã nhận hàng như thế nào và vào lúc nào Điều 86 BLHHVN 2005 quy định “Theo yêu cầu của người giao hàng, người vận chuyển có nghĩa vụ ký phát cho người giao hàng một bộ vận đơn Quy định này tương đương với quy định của Công ước Brussel và Công ước Hamburg nhưng chỉ khác
ở chỗ các Công ước đều nói rõ thời điểm cấp vận đơn, còn Bộ luật hàng hải Việt Nam thì không quy định
Rõ ràng, những quy định này có giá trị như một lời tuyên bố chính thức được ghi bằng văn bản; nó có giá trị bắt buộc phải thi hành dù muốn hay không muốn; mặt khác,
sự công bố công khai tạo nên một chuẩn mực chung mang tính quốc tế Tuy nhiên, cũng giống với cơ sở Công ước Hamburg 1978, trách nhiệm của người chuyên chở theo bộ luật hàng hải Việt Nam 2005 là mất mát hư hại và chậm trả hàng Quy định này khác với Công ước Brucxen, người chuyên chở chỉ phải bồi thường trong 2 trường hợp: mất mát, hư hại Cách qui định trách nhiệm của người chuyên chở trong Công ước Hamburg không liệt kê trách nhiệm và miễn trách nhiệm mà dựa trên nguyên tắc “Lỗi hoặc sơ suất suy đoán”( Presumed Fault or Neglect ) Theo nguyên tắc này, nếu có mất mát hư hỏng hoặc chậm giao hàng thì suy đoán rằng “người chuyên chở có lỗi” Người chuyên chở muốn được miễn trách nhiệm thì phải chứng minh rằng mình không có lỗi hoặc đã
áp dụng mọi biện pháp cần thiết hợp lý để ngăn ngừa sự cố xảy ra Vì thế, trách nhiệm của người chuyên chở theo Công ước Hamburg đã tăng lên rất nhiều so với Công ước Brucxen và Bộ luật hàng hải Việt Nam 2005
Cụ thể:
Về cơ sở trách nhiệm của người chuyên chở, theo Công ước Brucxen 1924 và Nghị định thư Visby 1968 đều đưa ra 3 trách nhiệm và 17 trường hợp nguyên nhân làm căn cứ miễn trách cho người chuyên chở
Theo Công ước Brussel 1924, người chuyên chở chịu trách nhiệm bồi thường khi hàng hóa bị mất mát hoặc hư hại trong quá trình vận chuyển Như vậy, cơ sở bồi thường của người chuyên chở là mất mát, hư hại Trên cơ sở đó, Công ước quy định những trách
Trang 16nhiệm mà người chuyên chở phải chịu và những miễn trách mà người chuyên chở được hưởng Đây là căn cứ để xem xét người chuyên chở có phải chịu trách nhiệm bồi thường hay không khi hàng hóa bị mất mát, hư hại trong quá trình vận chuyển
Theo công ước, người chuyên chở có ba trách nhiệm tối thiểu:
Trách nhiệm thứ nhất, là trách nhiệm cung cấp tàu có đủ khả năng đi biển Tàu đủ khả năng đi biển là tàu phải đạt ba yêu cầu tối thiểu:
(i) Tàu phải bền chắc, kín nước, chịu được sóng gió bình thường như những tàu
cùng loại
(ii) Tàu phải được biên chế đầy đủ về thủy thủ, được trang bị và cung ứng đầy
đủ về nhiên liệu cho hành trình
(iii) Tàu phải thích hợp với việc chuyên chở hàng hóa Tức là tàu phải phù hợp
với việc chuyên chở mặt hàng được chuyên chở Chẳng hạn như, thuê tàu chở hàng đông lạnh thì tàu phải là tàu chở hàng đông lạnh, nếu tàu chở hóa chất là không thích hợp, tàu phải có hầm lạnh và máy lạnh hoạt động trong tình trạng tốt
Trách nhiệm thứ hai là trách nhiệm xếp dỡ, bảo quản hàng hóa trong suốt quá trình vận chuyển Khoản 2 Điều 3 của Công ước Brucxen quy định như sau “người chuyên chở phải tiến hành một cách thích hợp và cẩn thận việc chất, chuyển dịch, xếp, chuyên chở, chăm sóc và dỡ những hàng hóa được chuyên chở” Trách nhiệm này gọi là trách nhiệm xếp dỡ, bảo quản hàng hóa trong suốt quá trình chuyên chở hay còn gọi là trách nhiệm thương mại của người chuyên chở trách nhiệm thương mại này bắt đầu từ khi hàng hóa được xếp lên tàu, kết thúc khi hàng hóa nhận dỡ xong ra khỏi tàu
Trách nhiệm thứ ba là trách nhiệm cấp vận đơn đường biển Sau khi tiếp nhận trách nhiệm về hàng hóa, người chuyên chở hoặc thuyền trưởng, hoặc đại lý của người chuyên chở, theo yêu cầu của người gửi hàng phải cấp cho họ một vận đơn Như vậy, cấp vận đơn cho người gửi hàng là trách nhiệm của người chuyên chở và việc cấp vận đơn thế nào là tùy thuộc vào người gửi hàng Khi cấp vận đơn, người gửi hàng thường xuyên yêu cầu cấp một bộ vận đơn Một bộ vận đơn có thể gồm nhiều bản nhưng tối
Trang 17thiểu là 3 bản chính và các bản phụ Khi cấp vận đơn, ngoài những chi tiết khác, vận đơn phải gồm những nội dung như:
(i) Ký mã hiệu chính để nhận dạng hàng hóa Ký mã hiệu này chính là ký mã hiệu
được in bên ngoài hàng hóa đối với những loại hàng không có bao bì và in ở trên bao bì hàng hóa đối với loại hàng có bao bì
(ii) Số lượng, số chiếc hoặc trọng lượng hay số lượng
(iii) Mô tả hàng hóa
Mục đích của việc ghi ký mã hiệu, số lượng, trọng lượng, và mô tả hàng hóa là nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao nhận hàng hóa ở nơi đến, tránh nhầm lẫn thiếu hụt, vì trên tàu thường xếp hàng hóa của nhiều chủ hàng khác nhau và có nhiều loại hàng hóa trông rất giống nhau
Công ước Brucxen 1924 quy định người chuyên chở được hưởng 17 trường hợp miễn trách Vì liệt kê trách nhiệm và miễn trách như vậy cho nên khi hàng hóa bị tổn thất muốn được người chuyên chở bồi thường thì người khiếu nại (chủ hàng) phải chứng minh hàng bị tổn thất do lỗi của người chuyên chở Trừ hai lỗi là:
(i) “ tàu không đủ khả năng đi biển”, muốn được miễn trách nhiệm thì người
chuyên chở phải chứng minh là mình có sự mẫn cán hợp lý trước khi và lúc bắt đầu hành trình
(ii) Miễn trách thứ 17, người chuyên chở phải chứng minh là mình, đại lý hay
người làm công không có lỗi gây nên tổn thất cho hàng hóa
Trên thực tiễn, những miễn trách của người chuyên chở được quy định trong Công ước Brucxen 1924 đã tạo nên sự không bình đẳng về mặt quyền lợi giữa chủ tàu và chủ hàng
Nhìn chung, khi hàng hóa bị tổn thất, mất mát, thiệt hại trên đường vận chuyển hay khi còn nằm trong sự kiểm soát của người chuyên chở, người chuyên chở bị coi như phải chịu trách nhiệm về những tổn thất, mất mát, thiệt hại đó Người chuyên chở muốn giải thoát trách nhiệm đối với những tổn thất, mất mát, thiệt hại không do lỗi của mình gây nên thì phải chứng minh được nguyên nhân tổn thất, mất mát, thiệt hại phải là một
Trang 18trong những căn cứ miễn trách đã được nêu ra trong luật điều chỉnh hợp đồng thuê tàu hoặc vận đơn.
Luật hàng hải Việt Nam và công ước Brucxen 1924 liệt kê các miễn trách mà người chuyên chở được hưởng (17 miễn trách), bao gồm các nguyên nhân khách quan, thiên tại bất khả kháng, lỗi của người thuê chở và mọi nguyên nhân không phải lỗi của người chuyên chở, người làm công cho người chuyên chở Trong luật hàng hải Việt Nam và Công ước Brucxen 1924, còn một miễn trách cho người chuyên chở, đó là hành vi sơ suất trong việc điều khiển và quản trị tàu của thuyền trưởng, thủy thủ hoặc người làm công cho người chuyên chở Miễn trách này bị nhiều người cho là vô lý, đặc biệt là các chủ hàng xuất nhập khẩu Nhưng nếu tìm hiểu kỹ, ta thấy miễn trách này cũng có cái lý của nó Ta biết rằng, đi biển là một nghề thực sự vất vả và đầy rủi ro, người thủy thủ ngoài việc phải chịu đựng sự thiếu thốn về vật chất như thực phẩm tươi sống, các tiện nghi sinh hoạt, sự nhồi lắc liên tục của sóng gió, mà vẫn phải làm việc ngày này qua ngày khác như bình thường, người thủy thủ còn phải chịu sự thiếu thốn về tình cảm, sự bức bí về không gian nhỏ hẹp trên con tàu, sự ức chế về thần kinh do hành trình dài ngày trên biển Với những yếu tố ảnh hưởng đó, thì việc điều khiển tàu có thiếu độ chính xác và gây tại nạn có tỷ lệ cao hơn so với các ngành nghề khác là một điều có thể hiểu được Vì vậy, một phần trách nhiệm gánh chịu rủi ro được đẩy sang vai người thuê chở, giảm bớt trách nhiệm cho chủ tàu, người chuyên chở Nó lý giải tại sao nhiều nước đưa căn cứ miễn trách này vào luật quốc gia nước mình và nhiều nước phê chuẩn Công ước Brucxen 1924
Quy định về cơ sở trách nhiệm của người chuyên chở trong luật hàng hải của các quốc gia, trong đó có bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2005, mang nặng dấu ấn của Quy tắc Hague và Visby là đều liệt kê trách nhiệm và miễn trách cho người chuyên chở, nhưng có điểm khác so với Quy tắc Hague và Visby ở chỗ mặc dù có liệt kê trách nhiệm
và miễn trách cho người chuyên chở, song người chuyên chở vẫn phải chứng minh là mình không có lỗi gây tổn thất cho hàng hoặc hàng bị tổn thất hay chậm giao do miễn trách (trừ Đạo luật của Mỹ và Singapore)
Công ước Hamburg 1978 hạn chế phạm vi miễn trách cho người chuyên chở Mọi tổn thất, mất mát, hư hỏng hoặc chậm giao hàng, đều bị suy đoán là lỗi của người
Trang 19áp dụng mọi biện pháp cần thiết, hợp lý để tránh sự kiện gây ra mất mát, hư hỏng hoặc chậm giao hàng và những hậu quả của nó hoặc các trường hợp miễn trách đã liệt kê trong công ước Đặc biêt, trong công ước này người ta loại bỏ trường hợp miễn trách nhiệm cho người chuyên chở đối với những lỗi của thuyền trưởng, thủy thủ, người làm công cho người chuyên chở trong điều khiển và quản trị tàu Có thể khi loại bỏ miễn trách này, người ta nghĩ rằng điều kiện đi biển hiện nay, với nhiều trang thiết bị hiện đại, đã làm cho công việc của người đi biển đỡ vất vả hoặc có nhiều cải thiện hơn Cụ thể, cơ sở trách nhiệm của người chuyên chở theo Quy tắc Hamburg được quy định như sau:
- Người chuyên chở phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại mất mát hoặc chậm giao hàng gây thiệt hại mất mát khi hàng hóa còn trong phạm vi trách nhiệm của người chuyên chở Trừ phi người chuyên chở chứng minh được rằng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết, hợp lý để tránh sự cố đó nhưng không được
- Người chuyên chở phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại mất mát hoặc chậm giao hàng do cháy gây nên, nếu người khiếu nại chứng minh được rằng cháy là do lỗi hoặc
sơ suất của người chuyên chở, người làm công hay đại lý của người chuyên chở Kể cả mất mát, hư hỏng hoặc chậm giao hàng do việc dập cháy hay hạn chế hậu quả do cháy gây nên thuộc lỗi của người chuyên chở
- Người chuyên chở không chịu trách nhiệm về mất mát, hư hại do bản chất của hàng hóa đó gây nên như sút cân, bệnh dịch… (súc vật sống) khi đã làm đúng theo chỉ dẫn
- Người chuyên chở không chịu trách nhiệm khi hàng hóa bị mất mát, thiệt hại do phải tiến hành cứu hộ trên biển
Để làm rõ hơn về quy định cơ sở trách nhiệm của người chuyên chở trong vận chuyển hàng hóa bằng đường biển nhóm chúng tôi đưa ra một vụ tranh chấp về vấn đề này Tranh chấp trong hợp đồng thuê tàu liên quan đến khả năng đi biển của tàu
- Các bên: + Nguyên đơn: Chủ hàng Australia
+ Bị đơn: Công ty vận tải đường biển Trung Quốc
- Các vấn đề được đề cập