1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng công nghệ sinh học xử lý rác hữu cơ phục vụ sản xuất nông nghiệp, tỉnh sóc trăng (tt)

28 143 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 492,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2 Mục tiêu của đề tài Phân lập và chọn lọc các dòng vi khuẩn bản địa để xử lý rác hữu cơ và ứng dụng phân hữu cơ vi sinh trong sản xuất nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng... Thời gian và địa

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Chuyên ngành: VI SINH VẬT HỌC

Mã ngành: 62 42 01 07

MAI THI

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ SINH HỌC XỬ LÝ RÁC HỮU CƠ PHỤC VỤ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

TỈNH SÓC TRĂNG

Cần Thơ, 2018

Trang 2

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HỮU HIỆP

Luận án được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp trường Họp tại: ………, Trường Đại học Cần Thơ Vào lúc … giờ … ngày … tháng … năm …

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Phản biện 3:

Trang 3

DANH MỤC LIỆT KÊ CÁC BÀI BÁO ĐÃ CÔNG BỐ

1 Mai Thi, Nguyễn Hữu Hiệp, (2013) "Phân lập vi khuẩn phân hủy

cellulose từ con sùng (Holotrichia paralella)" Kỷ yếu Khoa học

Hội thảo Công nghệ Sinh học vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Đại Học Cần Thơ, 2013

2 Mai Thi va Nguyen Huu Hiep, (2015) "Isolation and

characterization of cellulose bacteria in organic waste in Soc Trang province, Vietnam" The 6th International Conference on Fermentation Technology for Value Added Agricultural Products (The 6th FerVAAP Conference), Khon Kaen, Thailand"

3 Mai Thi, Nguyễn Hữu Hiệp và Nguyễn Diệp Minh Tân, (2016)

"Phân lập và nhận diện vi khuẩn phân giải cellulose trong rác

hữu cơ ở tỉnh Sóc Trăng" Tạp chí Tài Nguyên và Môi trường

(ISSN 1859-1477), số 21 Trang 129-131

4 Mai Thi, Nguyễn Hữu Hiệp, Diệp Tuấn Anh, Lê Minh Hiếu và

Huỳnh Tấn Thanh (2016) "Ứng dụng chế phẩm sinh học

STBacilli trong xử lý rác hữu cơ" Tạp chí Tài Nguyên và Môi

trường (ISSN 1859-1477), số 21 Trang 125-128

5 Mai Thi, Nguyễn Hữu Hiệp (2017) "Phân lập và nhận diện vi

khuẩn phân giải protein từ sùng và trùn đất" Tạp chí Tài Nguyên

và Môi trường ISSN 1859-1477 số 16 Trang 40-42

6 Mai Thi, Nguyễn Hữu Hiệp và Dương Ngọc Thúy (2017) "Phân

lập vi khuẩn phân hủy cellulose từ con sùng (Holotrichia

paralella) và Trùn đất (Lubricus terrestris)" Tạp chí Đại Học Cần

Thơ ISSN 1859-2333; Tập 50, phần B Trang 81-90

Trang 4

Chương I GIỚI THIỆU 1.1 Tính cấp thiết của luận án

Cùng với sự gia tăng số lượng và quy mô các ngành nghề sản xuất,

sự hình thành các khu dân cư tập trung, nhu cầu tiêu dùng hàng hoá, nguyên vật liệu và năng lượng ngày càng tăng Những sự gia tăng đó đã tạo điều kiện kích thích các ngành sản xuất, kinh doanh và dịch vụ mở rộng và phát triển nhanh chóng, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, song song với sự phát triển mạnh mẽ là sự phóng thích một lượng lớn chất thải vào môi trường, đặc biệt là chất thải rắn như chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế, chất thải nông nghiệp, chất thải xây dựng, chất thải nguy hại… Hiện nay, ô nhiễm môi trường đang là vấn đề cấp bách trên mỗi quốc gia và có rất nhiều phương

án để khắc phục, giảm thiểu hậu quả của ô nhiễm môi trường Rác thải sinh hoạt tại Việt Nam, nhất là tại các thành phố lớn chủ yếu được xử lý thô sơ bằng cách vùi tại các bãi chôn lấp, có nguy cơ gây ô nhiễm không khí và nguồn nước ngầm Tỉnh Sóc Trăng hàng ngày có hơn 248,2 tấn rác thải; hiện nay tỉnh chưa có quy trình công nghệ xử lý rác đạt yêu cầu mà chủ yếu chỉ đổ vào bãi rác hở chờ phân hủy tự nhiên, vừa chiếm diện tích lớn vừa mất vệ sinh tạo nên những điểm nóng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Chính điều này tác động lớn đến môi trường xung quanh, là nguy cơ tiềm ẩn những dịch bệnh cho con người và làm cho môi trường ngày càng

ô nhiễm Từ những lý do trên, đề tài nghiên cứu “Ứng dụng công nghệ sinh học xử lý rác hữu cơ phục vụ sản xuất nông nghiệp, tỉnh Sóc Trăng” góp

phần bảo vệ môi trường hướng đến phát triển bền vững kinh tế - xã hội đi

đôi với bảo vệ môi trường đã được thực hiện

1.2 Mục tiêu của đề tài

Phân lập và chọn lọc các dòng vi khuẩn bản địa để xử lý rác hữu

cơ và ứng dụng phân hữu cơ vi sinh trong sản xuất nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng

Trang 5

Chương II PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Luận án được thực hiện từ tháng 08/2013 đến tháng 12/2016 tại Viện Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Sinh học và phòng thí nghiệm chuyên sâu của trường Đại học Cần Thơ; phòng thí nghiệm Hóa Sinh thuộc Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sóc Trăng; các bãi rác trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng như bãi rác thị trấn Đại Ngãi (huyện Long Phú), bãi rác thị trấn Trần Đề (huyện Trần Đề), bãi rác thị trấn Kế Sách (huyện Kế Sách) và bãi rác xã Tân Long (huyện Ngã Năm) và trang trại của Ông Phạm Hữu Lai (ấp Thạnh An 3, xã Thạnh Thới Thuận, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng)

2.2 Phương tiện nghiên cứu

2.2.1 Vật liệu

Ba mẫu rác hữu cơ và ba mẫu nước rỉ rác được thu từ mỗi bãi rác

ở các huyện Trần Đề, Kế Sách và Ngã Năm thuộc tỉnh Sóc Trăng Mẫu được lưu trữ trong chai thủy tinh vô trùng, trữ ở 4ºC đến khi sử dụng Các mẫu sùng gồm 12 con có trọng lượng từ 2,5 g đến 15 g và các mẫu trùn đất gồm 12 con có trọng lượng từ 3 g đến 11 g được thu thập

từ những đóng rơm đang hoai mục ở huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng Những mẫu sùng đất và trùn đất được trữ trong thùng có chứa đất mùn hơi ẩm và rơm hoai mục làm thức ăn cho đến khi sử dụng

2.2.2 Thiết bị và dụng cụ

Luận án sử dụng các thiết bị và dụng cụ hiện có tại Viện Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Sinh học và phòng thí nghiệm Chuyên sâu thuộc trường Đại học Cần Thơ và Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sóc Trăng

Trang 6

2.2.3 Hóa chất và môi trường

Hóa chất khử trùng bề mặt mẫu sùng đất và trùn đất; chất kháng nấm cycloheximide; thuốc thử lugol; thuốc thử Methyl red; hóa chất nhuộm Gram, hóa chất nhuộm bào tử;

Môi trường sử dụng trong luận án gồm có môi trường phân lập các dòng vi khuẩn phân hủy cellulose, tinh bột và protein; môi trường

LB (Luria Broth); môi trường xác định hoạt tính enzyme cellulase,

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phân lập vi khuẩn

Mẫu rác và nước rỉ rác được pha loãng mẫu với các độ pha loãng

10-1, 10-2, 10-3, 10-4 và 10-5 Sau đó trải đều 0,1 mL mẫu ở các nồng độ lên môi trường phân lập vi khuẩn bằng que trải thủy tinh Sau đó đậy nắp, úp ngược và ủ hiếu khí ở 30oC trong 72 giờ Đối với sùng và trùn đất, mẫu được rửa sạch bằng nước cất, khử trùng bề mặt bằng cồn 70o

trong 5 phút sau đó bằng H2O2 3% trong 5 phút, mổ lấy ít ruột (khoảng một vòng que cấy) trải đều lên môi trường phân lập bằng que trải thủy

tinh, ủ ở 30ºC trong 72 giờ ở điều kiện hiếu khí (Shengwei et al., 2012; Kumar et al., 2012) Khi khuẩn lạc phát triển, chọn những khuẩn lạc rời

rạc để tách ròng bằng phương pháp cấy ria trên môi trường phân lập

2.3.2 Quan sát đặc điểm hình thái và sinh hóa của vi khuẩn

Các đặc điểm của khuẩn lạc vi khuẩn (hình dạng, độ nổi, dạng bìa, màu sắc và kích thước) được ghi nhận trong suốt quá trình phân lập Phương pháp nhuộm Gram và đo kích thước tế bào vi khuẩn dựa theo Cao Ngọc Điệp và Nguyễn Hữu Hiệp (2002) Phương pháp xác định khả năng di động và khả năng tạo bào tử của vi khuẩn dựa theo Nguyễn Lân Dũng (2006)

Phương pháp xác định khả năng sinh acid của vi khuẩn trong môi trường có sự hiện diện của glucose và khả năng sinh catalase của vi khuẩn dựa theo Nguyễn Lân Dũng (2006)

Trang 7

2.3.3 Khảo sát khả năng phân hủy cellulose, tinh bột và protein

Phương pháp giếng thạch được dùng để chọn ra những dòng vi khuẩn có khả năng phân hủy cellulose, tinh bột và protein dựa vào đường kính vòng sáng phân hủy cơ chất xung quanh khuẩn lạc trên môi trường phân lập (môi trường CMC, tinh bột và skim milk) Khả năng phân hủy cơ chất (E) được đánh giá qua hiệu số giữa đường kính vòng sáng phân hủy (D) và đường kính khuẩn lạc (d) phát triển từ giếng (E=D-d) Giá trị E càng lớn thì vi khuẩn phân hủy cơ chất càng mạnh (Saini et al., 2012; Alariya et al., 2013 and Kazanas, 1968)

Jung et al., 2010)

2.3.5 Xác định hoạt tính amylase

Amylase phân hủy tinh bột tạo đường khử Hoạt tính enzyme amylase được xác định dựa vào nồng độ đường khử sinh ra thông qua phản ứng trung gian với thuốc thử đồng và asenomolybdate Một đơn vị hoạt tính amylase là ượng đường khử (µmol) tạo ra trong 1 phút dưới sự xúc tác của 1 mL enzyme amylase ở pH 5,0 và nhiệt độ phòng (Nelson, 1944)

2.3.6 Xác định hoạt tính protease

Sản phẩm của quá trình phân hủy protein bởi protease của vi khuẩn có phản ứng màu với thuốc thử Folin Hàm lượng của sản phẩm phân hủy được định lượng dựa vào đồ thị đường chuẩn tyrosine; từ đó xác định được hoạt tính của enzyme protease Một đơn vị hoạt tính protease là lượng sản phẩm hòa tan tạo thành (µmol) trong một phút với

Trang 8

sự xúc tác của 1 mL enzyme protease ở pH 7,5 và nhiệt độ 37ºC Enyard, 2008)

(Cupp-2.3.7 Khuếch đại đoạn gene 16S rRNA

Chọn những dòng vi khuẩn có khả năng phân hủy cellulose, tinh bột và protein triển vọng để khuếch đại đoạn gen 16Sr RNA bằng kỹ thuật PCR với cặp mồi 27F-1492R (Lane, 1991):

27F- 5’-AGAGTTTAGTCCTTGGCTCAG- 3’

1492R- 5’-GGCTACCTTGTTACGACTT- 3’

Sản phẩm PCR được diện di trên gel agarose 2%

2.3.8 Giải trình tự đoạn gen 16S rRNA

Sản phẩm PCR được tinh sạch và kiểm tra nồng độ DNA sau khi tinh sạch Sau đó thực hiện phản ứng PCR gắn huỳnh quang với thuốc nhuộm Big.Dye Terminater v3.1 Đoạn gen 16S rRNA được giải trình

tự bằng máy giải trình tự ABI PRISM 3130

2.3.9 Ứng dụng vi khuẩn xử lý rác hữu cơ

Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại là một mẻ ủ với khối lượng 100

kg rác hữu cơ đã được phân bố vào một chậu gốm Thí nghiệm gồm có

5 nghiệm thức được ký hiệu là NT1, NT2, NT3, NT4 và NT5 Trong đó, NT1 không được bổ sung vi khuẩn; NT2 sử dụng chế phẩm sinh học SEM 09; NT3 sử dụng chế phẩm EM; NT4 sử dụng chế phẩm EcoClean

và NT5 sử dụng những dòng vi khuẩn đã được định danh của luận án

2.3.10 Phương pháp xác định mật số vi khuẩn hiếu khí

Mật số vi khuẩn hiếu khí được xác định theo phương pháp của Jackson (2000) Mật số tổng vi khuẩn hiếu khí trong 1 mL hoặc 1g mẫu (CFU/mL hoặc CFU/g) bằng tổng số khuẩn lạc đếm được ở đĩa chia cho thể tích cấy trên mỗi đĩa (mL) và độ pha loãng (Jackson, 2000)

Trang 9

2.3.11 Phương pháp xác định C, N, P, K trong phân hữu cơ

Đo hàm lượng C, N, P, K vào ngày 0, 1, 7, 14, 21, 28, 35 sau khi ủ

để đánh giá chất lượng phân hữu cơ vi sinh ủ từ rác

2.3.12 Ứng dụng phân hữu cơ trồng dưa leo

Thí nghiệm được bố theo thể thức khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 nghiệm thức và 4 lần lặp lại Bốn nghiệm thức của thí nghiệm gồm nghiệm thức đối chứng không sử dụng phân bón (NT1); nghiệm thức sử dụng 100% phân bón hóa học tại địa phương (NT2); nghiệm thức sử dụng 100% phân bón hữu cơ vi sinh từ luận án (NT3)

và nghiệm thức sử dụng 50% phân bón hóa học và 50% phân hữu cơ vi sinh từ luận án (NT4) Các chi tiêu như chiều dài trái, đường kính trái, trọng lượng trái, số lượng trái/cây, ngày nở hoa và ngày thu hoạch được theo dõi trong suốt quá trình thí nghiệm

2.3.13 Xử lý kết quả thí nghiệm

Kết quả thí nghiệm được biên tập bằng phần mềm Microsoft Excel 2010 và phân tích thống kê bằng phần mềm Minitab 17 Phân tích thống kê bao gồm phân tích phương sai và so sánh sự khác biệt giữa các nghiệm thức được bằng kiểm định Fisher (LSD) với độ tin cậy 95%

Trang 10

CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Vi khuẩn phân hủy cellulose từ rác và nước rỉ rác

3.1.1 Kết quả phân lập

Hai mươi sáu dòng vi khuẩn có khả năng phân hủy cellulose đã được phân lập từ 3 mẫu rác và 3 mẫu nước rỉ rác (được thu ở các huyện Trần Đề, huyện Kế Sách và thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng) và được

ký hiệu là RC1, RC2, RC26

3.1.2 Đặc điểm hình thái và sinh hóa

Khuẩn lạc của vi khuẩn phân hủy cellulose từ rác và nước rỉ rác khác nhau ở một hoặc nhiều các đặc điểm bao gồm màu sắc, hình dạng, dạng bìa, đường kính và độ nổi Hình dạng tế bào vi khuẩn gồm que dài (15,40%), que ngắn (61,50%) và cầu (23,10%) Chiều dài của tế bào vi khuẩn dao động trong khoảng 0,52-4,09 µm và chiều rộng dao động trong khoảng 0,52-1,5 µm Tất cả 26 dòng vi khuẩn đều có khả năng di động Số tế bào vi khuẩn có Gram dương là 19 dòng và số tế bào Gram

âm là 7 dòng Có 17 dòng có khả năng tạo nội bào tử và những dòng này đều có tế bào dạng que và Gram dương

Khả năng sinh catalase được ghi nhận ở cả 26 dòng vi khuẩn cho thấy chúng đều có khả năng khử độc H2O2 và sử dụng khí O2 trong quá trình sinh trưởng (Acharya, 2013) Kết quả kiểm tra Methylred cho thấy

có 5 dòng sinh acid mạnh khi đổi màu Methyl red sang đỏ, 8 dòng sinh acid trung bình khi đổi màu Methyl red sang màu cam và 13 dòng không sinh acid

3.1.3 Khả năng phân hủy CMC của các dòng vi khuẩn

Hai mươi hai dòng vi khuẩn có năng phân hủy CMC và giá trị E dao động từ 1 đến 22 mm Dòng RC22 và RC20 phân hủy CMC mạnh nhất với giá trị E tương ứng là 22 và 19 mm (Hình 3.1) Giá trị E của dòng RC22 cao hơn giá trị E của dòng RC20 trong khi hoạt tính enzyme

Trang 11

endoglucanase của dòng RC20 (0,173 UI/mL) cao hơn hoạt tính endoglucanase của dòng RC22 (0,059 UI/mL) Sự khác biệt đó có thể

do thành phần dinh dưỡng của môi trường xác định khả năng phân hủy

cơ chất và môi trường xác định hoạt tính enzyme khác nhau

Hình 3.1: Vòng sáng phân hủy CMC Vòng sáng thể hiện khả năng phân hủy CMC của dòng vi khuẩn RC20 (b) và dòng RC22 (c) Dòng RC18 (a) không có khả năng phân hủy CMC

3.1.4 Kết quả định danh

Dòng RC20 tương đồng với vi khuẩn Bacillus cereus strain BDU9

16S với mức độ đồng hình là 96% Kết quả này phù hợp với các đặc điểm hình thái và sinh hóa của dòng RC20 như Gram dương, hiếu khí,

que dài, di động và tạo nội bào tử (Bergey et al., 1957) Khả năng phân hủy cellulose của loài vi khuẩn Bacillus cereus đã được tìm thấy ở nhiều nghiên cứu chẳng hạn như nghiên cứu của Kumar et al (2012) Afzal et al (2012) và Saleem et al (2014)

Dòng RC22 tương đồng với vi khuẩn Bacillus subtilis strain

HCST9 với mức độ đồng hình là 93% Kết quả này phù hợp với các đặc điểm hình thái và sinh hóa của dòng RC22 như Gram dương, hiếu khí,

que dài, di động và tạo nội bào tử (Bergey et al., 1957) Nhiều nghiên cứu cho thấy loài vi khuẩn Bacillus subtilis có khả năng phân hủy cơ chất celluose như nghiên cứu của Kim et al (2012), Joseph et al (2016)

và Ajay et al (2016)

Trang 12

3.2 Vi khuẩn phân hủy cellulose từ ruột sùng đất và trùn đất

3.2.1 Kết quả phân lập

Hai mươi chín dòng vi khuẩn được phân lập từ ruột sùng đất

(Holotrichia parallela) với ký hiệu tương ứng là SC1, SC2, SC29 và hai mươi mốt dòng vi khuẩn được phân lập từ ruột trùn đất (Lubricus terrestris ) với ký hiệu tương ứng là TC30, TC31, TC50

3.2.2 Đặc điểm hình thái và sinh hóa

Khuẩn lạc của các dòng vi khuẩn phân hủy cellulose từ ruột sùng đất và trùn đất khác nhau về màu sắc, hình dạng, dạng bìa, đường kính hoặc độ nổi Tế bào vi khuẩn có dạng que ngắn (72%), dạng cầu (26%)

và que dài (2%) Chiều dài tế bào vi khuẩn dao động trong khoảng 0,52

- 3,22 µm và chiều dài ngang dao động trong khoảng 0,52 - 1,74 µm Tất cả 26 dòng vi khuẩn đều có khả năng di động Số tế bào Gram dương và Gram âm tương ứng là 30 và 20 dòng Có 24 dòng có khả năng tạo nội bào tử và những dòng này đều có tế bào dạng que, Gram dương

Tất cả 50 dòng vi khuẩn đều có khả năng sinh catalase tức đều có thể sống trong điều kiện có khí oxy Mười chín dòng sinh acid mạnh khi đổi màu Methyl red sang đỏ, 14 dòng sinh acid trung bình khi đổi màu Methyl red sang cam và 17 dòng không sinh acid

3.2.3 Khả năng phân hủy CMC của các dòng vi khuẩn

Hai mươi lăm dòng có khả năng phân hủy CMC với giá trị E dao động từ 3 đến 23,8 mm Bốn dòng triển vọng là SC12 (23,8 mm), SC5 (22,6 mm), TC42 (18,7 mm) và TC36 (17,9 mm) (Hình 3.2) Khi thay

cơ chất CMC bằng cơ chất bột giấy, bốn dòng SC12, SC5, TC42 và TC36 vẫn thể hiện khả năng phân hủy cao nhất với giá trị E tương ứng

là 24,3; 23,0; 18,3 và 15,3 mm

Trang 13

Hình 3.2: Vòng sáng phân hủy CMC Vòng sáng thể hiện khả năng phân hủy CMC (E) của các dòng vi khuẩn SC5 (a); SC12 (b), TC42 (a1), TC36 (b1) Hai dòng SC3 (c) và TC33 (c1) không có khả năng phân hủy CMC

Bốn dòng SC12, SC5, TC42 và TC36 có hoạt tính exoglucanase

va endolucanase đứng đầu Cụ thể, hoạt tính endoglucanase của SC12, SC5, TC42 và TC36 lần lượt là 0,043 UI/mL, 0,037 UI/mL, 0,029 UI/mL và 0,023 UI/mL và hoạt tính enzyme exoglucanase tương ứng là 0,041 UI/mL, 0,036 UI/mL, 0,028 UI/mL và 0,025 UI/mL Bốn dòng này được chọn để giải trình tự đoạn gen 16S rRNA

3.2.4 Kết quả định danh

Dòng SC12 tương đồng với Bacillus subtilis strain GX S-15 16S với độ đồng hình là 97% và dòng SC5 tương đồng với Bacillus subtilis strain CMST 03/13COR5 với độ đồng hình là 98% Kết quả này phù

hợp với các đặc điểm hình thái và sinh hóa của chi Bacillus như Gram

dương, hiếu khí, que dài, di động và tạo nội bào tử (Bergey et al., 1957) Loài vi khuẩn B subtilis có khả năng phân hủy cellulose như đã thảo

luận ở mục 3.1.4

Dòng TC42 tương đồng với vi khuẩn Bacillus megaterium strain F3-1-10-16s với độ đồng hình là 96% và TC36 tương đồng với vi khuẩn Bacillus megaterim strain AU03-16s với độ đồng hình là 98% Kết quả

này phù hợp với các đặc điểm hình thái và sinh hóa của chi Bacillus như

Gram dương, hiếu khí, que dài, di động và tạo nội bào tử (Bergey et al.,

1957) Một số nghiên cứu trên thế giới gần đây như nghiên cứu của

Trang 14

Aftab (2013), Ferbiyanto et al (2015) và Ribeiro et al., (2016) chứng minh B megaterium có khả năng phân hủy cellulose

3.3 Vi khuẩn phân hủy tinh bột từ rác và nước rỉ rác

3.3.1 Kết quả phân lập

Từ 3 mẫu rác và 3 mẫu nước rỉ rác, 30 dòng vi khuẩn có khả năng phân hủy tinh bột đã được phân lập và được ký hiệu là RB1, RB2, RB30

3.3.2 Đặc điểm hình thái và sinh hóa

Khuẩn lạc của các dòng vi khuẩn phân hủy tinh bột từ rác và nước

rỉ rác khác nhau về hình dạng, độ nổi, dạng bìa, màu sắc hoặc đường kính khuẩn lạc Tế bào vi khuẩn có dạng que ngắn (86,70%) và dạng que dài (13,30%) Tất cả 30 dòng vi khuẩn đều có khả năng di động Chiều dài của tế bào vi khuẩn dao động trong khoảng 0,87 - 3,74 µm và chiều rộng dao động trong khoảng 0,52 - 1,39 µm Số tế bào vi khuẩn

có Gram dương là 21 dòng và số tế bào Gram âm là 20 Có 21 dòng có khả năng tạo nội bào tử và những dòng này đều có tế bào dạng que, Gram dương

Tất cả 30 dòng vi khuẩn đều có khả năng sinh catalase cho thấy chúng đều có khả năng sử dụng khí oxy Mười hai dòng sinh acid mạnh khi đổi màu Methyl red sang đỏ, 10 dòng sinh acid trung bình khi đổi màu Methyl red sang cam và 8 dòng không sinh acid

3.3.3 Khả năng phân hủy tinh bột của các dòng vi khuẩn

Tất cả 30 dòng vi khuẩn đều có khả năng phân hủy tinh bột và giá trị E dao động trong khoảng 1,57 đến 23,5 mm Dòng RB8 phân hủy tinh bột mạnh nhất với giá trị E 23,5 mm; kế đến là dòng RB17 (E = 21,47 mm) Hoạt tính enzyme amylase của RB8 và RB17 tương ứng là 22,2 và 15,6 UI/mL Dựa theo khả năng phân hủy tinh bột, hai dòng này

đã được chọn để giải trình tự đoạn gene 16S rRNA

Ngày đăng: 02/01/2019, 12:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w