Dựa trên các lý thuyết về kiểm tra thuế và các nghiên cứu trước đây trên Thếgiới và Việt Nam, tác giả đã kiến nghị mô hình lý thuyết gồm 10 yếu tố tác độngđến công tác kiểm tra thuế tại
Trang 1NGUYỄN ĐĂNG PHONG
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN BÌNH THẠNH – TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2NGUYỄN ĐĂNG PHONG
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN BÌNH THẠNH – TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quản trị Kinh
doanh Mã số ngành: 60340102CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN
THUẤN
TP HỒ CHÍ MINH, tháng 04 năm
2018
Trang 3Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn Thạc
Trang 4NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: Nguyễn Đăng Phong Giới tính: Nam
Ngày, tháng, năm sinh: 10/02/1969 Nơi sinh: Hải
Phòng Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh MSHV:
1641820058
I- Tên đề tài:
Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác kiểm tra thuế tại Chi cục thuế quận Bình Thạnh –
TP Hồ Chí Minh
II- Nhiệm vụ và nội dung:
Luận văn có nhiệm vụ và nội dung sau:
Nhiệm vụ của luận văn:
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến công tác kiểm tra thuế tại Chi cục thuế quậnBình Thạnh – TP Hồ Chí Minh
Nội dung chính của luận văn gồm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về hiệu quả kiểm tra thuế
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Nội dung nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và hàm ý nghiên cứu
III- Ngày giao nhiệm vụ:
IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ:
V- Cán bộ hướng dẫn: PGS,TS Nguyễn Thuấn
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH
(Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký)
PGS,TS Nguyễn Thuấn
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kếtquả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳcông trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồngốc
Học viên thực hiện Luận văn
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Đăng Phong
Trang 6LỜI CÁM ƠN
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Trường Đại học Công nghệ
Tp HCM (Hutech) đã truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốtthời gian tôi học tại trường, đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn PGS,TS NguyễnThuấn đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này nhờ vậy
mà tôi có thể hoàn thành nghiên cứu này
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và tập thể lớp
đã luôn giúp đỡ động viên tôi trong suốt thời gian học tập và làm luận văn
Trong suốt thời gian làm luận văn, tuy tôi đã cố gắng để hoàn thiện luận văn,luôn tiếp thu ý kiến đóng góp của thầy hướng dẫn và bạn bè cũng như các anh chịtrong Chi cục thuế Quận Bình Thạnh, tuy nhiên sẽ không tránh khỏi những sai sót.Tôi rất mong nhận được sự đóng góp và phản hồi quý báu của quý thầy, cô và bạnđọc
Trang 7TÓM TẮT
Thuế là nguồn thu quan trọng và chủ yếu đối với ngân sách nhà nước của mọiquốc gia, chính vì vậy việc nâng cao hiệu quả quản lý thuế thông qua công tác kiểmtra thuế có ý nghĩa quan trọng
Dựa trên các lý thuyết về kiểm tra thuế và các nghiên cứu trước đây trên Thếgiới và Việt Nam, tác giả đã kiến nghị mô hình lý thuyết gồm 10 yếu tố tác độngđến công tác kiểm tra thuế tại Chi cục thuế quận Bình Thạnh bao gồm: chất lượngkiểm tra; nhận thức của người nộp thuế; đặc điểm của doanh nghiệp; tần suất kiểmtra thuế; hỗ trợ quản lý của cấp trên; tính nghiêm minh trong xử lý vi phạm thuế;chính sách pháp luật thuế; chế độ đãi ngộ cán bộ thuế; cơ sở hạ tầng phục vụ kiểmtra thuế; sự phối hợp của cơ quan nhà nước có liên quan Phương pháp nghiên cứu
sử dụng để kiểm định mô hình đo lường và mô hình lý thuyết bao gồm nghiên cứuđịnh tính và nghiên cứu định lượng Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua
kỹ thuật thảo luận nhóm với 05 Cán bộ thuế đang làm việc tại Chi cục thuế quậnBình Thạnh Nghiên cứu định lượng được thực hiện bằng kỹ thuật phỏng vấn trựctiếp với một mẫu có kích thước là n = 200 Nghiên cứu này dùng để khẳng định độtin cậy và giá trị của các thang đo và để kiểm định mô hình lý thuyết thông quaphương pháp hồi quy đa biến
Kết quả nghiên cứu nhận diện được 7 yếu tố tác động đến công tác kiểm trathuế tại Chi cục thuế quận Bình Thạnh là: Chất lượng kiểm tra; cơ sở hạ tầng phục
vụ kiểm tra thuế; chính sách pháp luật thuế; nhận thức của người nộp thuế; tần suấtkiểm tra thuế; sự phối hợp của cơ quan nhà nước có liên quan Các biến này giảithích được 60% sự thay đổi trong hiệu quả của công tác kiểm tra thuế tại Chi cụcthuế quận Bình Thạnh Trong các biến độc lập trong mô hình sau khi kiểm định thìbiến độc lập "chất lượng kiểm tra" có mức ảnh hưởng mạnh nhất đến hiệu quả côngtác kiểm tra thuế với tỷ trọng là 23,4%, ảnh hưởng thấp nhất là yếu tố tần suất kiểmtra thuế
Trang 8Taxation is an important and essential source of revenue for all state budgets,
so improving tax administration efficiency through tax audits is important
Based on the theory of tax audit and previous studies in the world andVietnam, the author proposed a theoretical model of 10 factors affecting tax audits
of Binh Thanh District Tax Department includes: audit quality; awareness oftaxpayers; characteristics of the enterprise; tax audit frequency; support themanagement of the superior; strictness in the handling of tax violations; tax lawpolicies; preference to tax officials; infrastructure for tax audit; the coordination ofthe relevant state agencies Research methods used to test measurement models andtheoretical models include qualitative research and quantitative research Qualitativeresearch was conducted through group discussion with 05 tax officials working atBinh Thanh District Tax Department Quantitative research was conducted by directinterview technique with a sample size of n = 200 This study used to confirm thereliability and validity of the scales and to test the theoretical model throughmultivariate regression
Results of the study identified 7 factors affecting tax audits of Binh ThanhDistrict Tax Department is: audit quality; infrastructure for tax audit; tax lawpolicies; awareness of taxpayers; tax audit frequency; the coordination of therelevant state agencies These variables explain 60% of the changes in theeffectiveness of tax inspections of Binh Thanh District Tax Department In theindependent variables in the model after the test, the independent variable "auditquality" has the greatest impact on the effectiveness of the tax audit with a weight
of 23.4%, the least effect being frequency factor of tax audit
Trang 9MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC HÌNH x
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .4
1.4 Phương pháp nghiên cứu .4
1.5 Ý nghĩa khoa học của đề tài 5
1.6 Kết cấu của luận văn 5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ 6
2.1 Các khái niệm liên quan .6
2.1.1.Khái niệm thuế 6
2.1.2.Quản lý thuế 7
2.1.3.Khái niệm kiểm tra thuế và hiệu quả kiểm tra thuế 7
2.2 Lý thuyết về kiểm tra thuế .8
2.2.1.Lý thuyết kinh tế 9
2.2.2.Lý thuyết tâm lý 9
2.2.3.Lý thuyết xã hội học 10
2.2.4.Lý thuyết về tạo dựng niềm tin 10
2.2.5.Lý thuyết về đạo đức thuế 11
2.2.6.Lý thuyết AS (The Allingham and Sandmo Theory) 11
Trang 102.3 Tổng quan các nghiên cứu trước đây 12
2.3.1.Tình hình nghiên cứu ngoài nước 12
2.3.2.Tình hình nghiên cứu trong nước 19
2.4 Giới thiệu tổng quan Chi cục thuế quận Bình Thạnh – TP Hồ Chí Minh 24
2.5 Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu 26
2.5.1.Chất lượng kiểm tra 26
2.5.2.Nhận thức của người nộp thuế 29
2.5.3.Đặc điểm của doanh nghiệp 29
2.5.4.Tần suất kiểm tra thuế 30
2.5.5.Hỗ trợ quản lý của cấp trên 30
2.5.6.Tính nghiêm minh trong xử lý vi phạm thuế 31
2.5.7.Chính sách pháp luật thuế 31
2.5.8.Chế độ đãi ngộ cán bộ thuế 31
2.5.9.Cơ sở hạ tầng phục vụ kiểm tra thuế 32
2.5.10.Sự phối hợp của cơ quan Nhà nước có liên quan 32
2.5.11.Hiệu quả kiểm tra thuế 32
Tóm tắt chương 2 34
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
3.1 Thiết kế nghiên cứu 35
3.1.1.Nghiên cứu định tính 35
3.1.2.Nghiên cứu định lượng 36
3.1.3.Quy trình nghiên cứu 36
3.1.4.Phương pháp chọn mẫu 37
3.1.5.Thiết kế bảng câu hỏi 38
3.2 Xây dựng thang đo 38
3.2.1.Phương pháp xây dựng thang đo 39
3.2.2.Nghiên cứu định tính khám phá, điều chỉnh, bổ sung thang đo 41
3.2.3.Thiết kế bảng câu hỏi nghiên cứu định lượng 47
3.2.4.Kích thước mẫu nghiên cứu định lượng 49
Trang 113.2.5.Mô hình nghiên cứu lý chính thức 50
Tóm tắt chương 3 53
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 54
4.1 Mô tả mẫu 54
4.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach Alpha 59
4.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 60
4.4 Phân tích hồi quy đa biến 65
4.4.1.Phân tích tương quan giữa các nhân tố 65
4.4.2.Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 67
4.4.3.Kiểm định hiện tượng phương sai của các phần dư thay đổi 67
4.4.4.Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình 68
4.4.5.Kiểm định hệ số hồi qui và giả thuyết 69
Tóm tắt chương 4 73
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ 74
5.1 Kết luận 74
5.2 Hàm ý quản trị 75
5.3 Những đóng góp chính của nghiên cứu 76
5.4 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC
Trang 12DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
Trang 13DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Thang đo nháp đầu của các khái niệm nghiên cứu 39
Bảng 3.2: Thang đo Chất lượng kiểm tra sau khi điều chỉnh 42
Bảng 3.3: Thang đo Nhận thức của người nộp thuế sau điều chỉnh 43
Bảng 3.4: Thang đo Đặc điểm của doanh nghiệp sau khi điều chỉnh 43
Bảng 3.5: Thang đo Tần suất KTT sau khi điều chỉnh 44
Bảng 3.6: Thang đo Hỗ trợ quản lý của cấp trên sau khi điều chỉnh 44
Bảng 3.7: Thang đo Tính nghiêm minh trong xử lý vi phạm thuế sau khi điều chỉnh45 Bảng 3.8: Thang đo Chính sách pháp luật thuế sau khi điều chỉnh 45
Bảng 3.9: Thang đo Chế độ đãi ngộ cán bộ thuế sau khi điều chỉnh 46
Bảng 3.10: Thang đo Cơ sở hạ tầng phục vụ KTT sau khi điều chỉnh 46
Bảng 3.11: Thang đo Sự phối hợp của cơ quan Nhà nước có liên quan sau khi điều chỉnh 47
Bảng 3.12: Thang đo Hiệu quả KTT sau khi điều chỉnh 47
Bảng 3.13: Thang đo chính thức hiệu quả KTT tại CCT Bình Thạnh 48
Bảng 4.1: Bảng mô tả các biến quan sát trong thang đo 54
Bảng 4.2: Mô tả mẫu theo nhóm tuổi và giới tính 56
Bảng 4.3: Cơ cấu mẫu phân tầng theo đơn vị công tác tại Chi cục 58
Bảng 4.4: Kết quả hệ số Cronbach Alpha 59
Bảng 4.5: Kiểm định KMO và Bartlett 61
Bảng 4.6: Tổng phương sai trích được giải thích 61
Bảng 4.7: Ma trận nhân tố xoay 62
Bảng 4.8: Trọng số các nhân tố biến phụ thuộc hiệu quả KTT 63
Bảng 4.9: Mô hình điều chỉnh qua kiểm định Cronbach's Alpha và phân tích EFA 64 Bảng 4.10: Các giả thuyết nghiên cứu trong mô hình chính thức 65
Bảng 4.11: Kết quả kiểm định giả thuyết trong mô hình nghiên cứu 70
Bảng 4.12: Vị trí quan trọng của các yếu tố 71
Trang 14DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến công tác KTT 33
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu của luận văn 36
Hình 3.2: Quy trình xây dựng thang đo 39
Hình 4.1: Cơ cấu mẫu chia theo trình độ học vấn 57
Hình 4.2: Cơ cấu mẫu theo thu nhập 57
Hình 4.3: Cơ cấu mẫu theo thâm niên làm việc 58
Hình 4.4: Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến công tác KTT được điều chỉnh sau khi EFA 64
Hình 4.5: Phân tích tương quan giữa các nhân tố 66
Hình 4.6: Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 67
Hình 4.7: Kết quả kiểm định phương sai của phần dư 68
Hình 4.8: Tóm tắt mô hình 69
Hình 4.9: Phân tích phương sai 69
Hình 4.10: Hệ số hồi quy 69
Trang 15CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là nguồn thu quan trọng và chủ yếu đối với ngân sách nhà nước của tất
cả các quốc gia trên thế giới Thuế ra đời gắn liền với sự hình thành và phát triểncủa Nhà nước, chính vì vậy hệ thống và chính sách thuế được xây dựng dựa trên cơ
sở điều kiện – kinh tế - xã hội cụ thể trong mỗi giai đoạn lịch sự nhất định của mỗiquốc gia
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc do luật pháp quy định đối với các tổchức và cá nhân có tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trên lãnh thổ nước tanhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Năm 2013, tỷ trọng đóng góp thuế sovới GDP chiếm khoảng 18%, tỷ trọng này có giảm trong những năm gần đây nhưngvẫn là nguồn thu rất quan trọng của Việt Nam (Huỳnh Thế Du, 2016) Trong cơ cấunguồn thu thuế hiện nay của nước ta thì nguồn thu từ hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp đang chiếm tỷ lệ cao, chiếm khoảng 90% tổng nguồn thu thuế, vàtheo dự báo nguồn thu thuế từ doanh nghiệp vẫn là chủ yếu trong thời gian tới củanước ta (Huỳnh Thế Du, 2016) Đảm bảo nguồn thu thuế đúng và đủ là vô cùngquan trọng để đảm bảo nhu cầu chi tiêu cho đầu tư và phát triển đất nước Thực tếcho thấy, hầu hết các doanh nghiệp đều ý thức được việc thực hiện đầy đủ chế độhóa đơn chứng từ, hạch toán kế toán, chấp hành tốt việc kê khai nộp thuế theo quyđịnh của pháp luật thuế Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, các Luậtthuế mới cũng còn nhiều hạn chế, vướng mắc, do đó một số doanh nghiệp lợi dụng
kẻ hở của Luật để khai man trốn thuế ở nhiều mức độ khác nhau, từ đơn giản đếntinh vi phức tạp, trong nội bộ doanh nghiệp đến liên kết nhiều doanh nghiệp ở nhiềutỉnh, thành phố khác nhau, mức độ vi phạm ngày càng đa dạng, phức tạp, nghiêmtrọng Đặc biệt, hiện tượng các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) kêkhai lỗ đang khá phổ biến (khoảng 50% tổng số doanh nghiệp FDI đang hoạt độngtrên cả nước, trong đó có nhiều doanh nghiệp kê khai lỗ liên tục trong 3 năm) Mức
Trang 16độ trốn thuế và tránh thuế cao một phần do khu vực kinh tế phi chính thức còn quálớn, trong khi chính sách thuế và cơ chế quản lý thuế còn nhiều kẽ hở khiến cho đốitượng nộp thuế lợi dụng, đi đôi với vấn đề đạo đức của công chức ngành thuế vàchế tài trừng phạt hành vi trốn, tránh thuế chưa đủ sức răn đe Chi phí tuân thủ thuếcao và mức độ tham nhũng cũng là nguyên nhân gây ra tình trạng trốn tránh thuế,thất thoát nguồn thu thuế Theo Ngân hàng Thế giới (WB), với quy mô khu vựckinh tế phi chính thức từ 17,6% GDP đến 35,7% GDP thì mức độ thất thoát nguồnthu thuế tương ứng từ 3,5% GDP đến 6,1% GDP (Nhóm nghiên cứu VietnamReport, 2014).
Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có đóng góp lớn nhất (30%) vàonguồn thu ngân sách nhà nước (Minh Thư, 2015) Thực trạng về các hành vi trốnthuế, lách thuế như đề cập ở trên diễn ra trên địa bàn Thành phố cũng hết sức phổbiến Chính vì vậy công tác KTT đối với doanh nghiệp tại Thành phố có ý nghĩaquan trọng đối với ngân sách chung của cả nước
Cơ quan thuế của 24 quận huyện trên địa bàn Thành phố là đơn vị trực tiếpquản lý thuế của các doanh nghiệp đang hoạt động thuộc khu vực quản lý của mình.Chính vì vậy, sự hiệu quả trong công tác quản lý trong đó có công tác kiểm tra thuế(KTT) của các Chi cục đóng góp chung vào hiệu quả quản lý thuế của Thành phố
Hồ Chí Minh Giống như các Chi cục thuế khác, Chi cục thuế quận (CCT) BìnhThạnh nhận thức được trách nhiệm của mình trong việc góp phần đảm bảo nguồnthu thuế chung của Thành phố, do đó lãnh đạo đơn vị luôn nỗ lực tìm kiếm giảipháp để quản lý thuế hiệu quả, trong đó công tác KTT được xem là một trongnhững hoạt động cốt lõi của quản lý thuế Để công tác KTT đạt hiệu quả cao thì cầnthiết phải xác định được yếu tố nào sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả công tác KTT tạiCCT Bình Thạnh, để từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp
Nhiều cuộc họp chuyên môn trong CCT Bình Thạnh được tiến hành hàngtháng, hàng quý và hàng năm để khắc phục các bất cập trong công tác KTT, bêncạnh đó Chi cục cũng tham khảo các kinh nghiệm từ các đơn vị khác trên địa bànThành phố và cả nước để vận dụng vào thực tiễn đơn vị Thực tế cách tiếp cận này
Trang 17vẫn hiệu quả trong một phạm vi nhất định nhưng vẫn thiếu tính hệ thống khoa họctrong giải quyết vấn đề đó là chưa đo lường được các yếu tố nào tác động lên côngtác kiểm tra Thêm nữa cách tiếp cận này chưa đánh giá yếu tố nào tác động đáng kểlên hoạt động KTT, điều này dẫn đến các giải pháp đưa ra chưa mang lại hiệu quảcao Khảo lượt các nghiên cứu tại đơn vị dưới góc độ học thuật và ứng dụng, vẫnchưa có nghiên cứu nào liên quan đến xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả
công tác KTT tại CCT Bình Thạnh Từ thực tế trên, tác giả chọn đề tài "Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác kiểm tra thuế tại Chi cục thuế quận Bình Thạnh – TP.
Hồ Chí Minh" để nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát trong nghiên cứu này là "Xác định các yếu tố ảnh hưởngcông tác KTT tại CCT Bình Thạnh nhằm gợi ý một số giải pháp nâng cao hiệu quảcông tác KTT tại Chi cục"
Mục tiêu cụ thể
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến công tác KTT tại CCT Bình Thạnh
Xác định mức độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến KTT tại CCT Bình Thạnh
Đưa ra một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao hiệu quả công tác KTT tạiChi cục
Để đạt được mục tiêu đề ra cần trả lời các câu hỏi sau:
(1) Những yếu tố chính nào ảnh hưởng đến công tác KTT tại CCT Bình Thạnh –
TP Hồ Chí Minh?
(2) Đối với các yếu tố được xác định có ảnh hưởng đến công tác KTT tại CCTBình Thạnh thì vị trí quan trọng của mỗi yếu tố như thế nào đối với công tácnày?
(3) Hàm ý quản trị gì cần rút ra từ nghiên cứu này đối với công tác KTT tại CCTBình Thạnh?
Trang 181.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là "Các yếu tố ảnh hưởng đến công táckiểm tra thuế tại Chi cục thuế quận Bình Thạnh – TP Hồ Chí Minh"
Đối tượng khảo sát là cán bộ công chức thuế đang làm việc tại CCT BìnhThạnh Cán bộ thuế tham gia vào quá trình khảo sát đều có kinh nghiệm từ ít nhất 1năm trở lên và là những người có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trìnhkiểm tra thuế
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nội dung: Trong nghiên cứu này tập trung vào xác định các yếu
tố ảnh hưởng đến công tác KTT thuế trên góc độ hiệu quả kinh tế Theo
đó, đối với hiệu quả kinh tế, chi phí kiểm tra là tối thiểu, không ảnhhưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của đối tượng kiểm tra, khaithác đầy đủ các khoản thu vào ngân sách nhà nước Cụ thể hơn, hiệu quảKTT thể hiện ở các khía cạnh như tính tuân thủ thuế của doanh nghiệpđược nâng cao, chi phí tiến hành KTT tại đơn vị giảm dần, số lượng hồ sơphát hiện vi phạm thuế giảm hàng năm, hỗ trợ công tác quản lý thuếchung tốt hơn
Phạm vi không gian: Xét trong phạm vi CCT Bình Thạnh
Phạm vi thời gian: Nghiên cứu chủ yếu thu thập dữ liệu sơ cấp do chínhtác giả thực hiện trong năm 2017
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng
Nghiên cứu định tính sử dụng kỹ thuật thảo luận nhóm (dự kiến n=5) Nghiêncứu này được thực hiện để điều chỉnh và bổ sung thang đo các yếu tố ảnh hưởngđến công tác KTT tại CCT Bình Thạnh
Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua phương pháp phỏng vấnkhảo sát với cán bộ công chức đang làm việc tại CCT Bình Thạnh có liên quan trực
Trang 19tiếp hoặc gián tiếp đến công tác KTT tại Chi cục Mục đích của nghiên cứu nàydùng xác định các yếu tố ảnh hưởng đến công tác KTT tại CCT Bình Thạnh và mức
độ quan trọng của mỗi yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả KTT tại Chi cục Công cụ sửdụng cho phân tích dữ liệu nghiên cứu là phần mềm SPSS 22
1.5 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài điều chỉnh và bổ sung thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến công tác KTTtại CCT Bình Thạnh Kết quả nghiên cứu trong đề tài góp phần vào bổ sung vàokho tàng tri thức chung trong lĩnh vực KTT đối với doanh nghiệp tại Việt Nam.Kết quả nghiên cứu trong đề tài góp phần hỗ trợ CCT Bình Thạnh nhận diệnđược các yếu tố then chốt ảnh hưởng đến công tác KTT của đơn vị, qua đó đưa racác giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả trong công tác KTT
1.6 Kết cấu của luận văn
Nội dung nghiên cứu gồm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan: Trong chương này sẽ trình bày nội dung về tính cấpthiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phươngpháp nghiên cứu và ý nghĩa khoa học của đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về công tác KTT: Trong chương này sẽ trình bàycác khái niệm và lý thuyết có liên quan đến hiệu quả KTT, tổng quan các nghiêncứu trước đây, các giả thuyết và mô hình nghiên cứu lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Chương này sẽ trình bày nội dung thiết
kế nghiên cứu, xây dựng thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến công tác KTT tại CCTBình Thạnh
Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Trong chương này sẽ mô tả mẫu nghiên cứu
đã thu thập dữ liệu, đánh giá độ tin cậy của thang đo Cronbach Alpha, phân tíchnhân tố khám phá EFA và phân tích hồi quy đa biến
Chương 5: Kết luận và hàm ý nghiên cứu: Trong nội dung chương sẽ trìnhbày những kết quả nghiên cứu chính, hàm ý của nghiên cứu, những đóng góp chỉnhcủa nghiên cứu, hạn chế và những gợi ý nghiên cứu tiếp theo
Trang 20CHƯƠNG 2:
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ 2.1 Các khái niệm liên quan
2.1.1 Khái niệm thuế
Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze (1934), “Thuế là một khoản trích nộp bằngtiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp choNhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhànước Một định nghĩa về thuế tương đối hoàn chỉnh được nêu lên trong cuốn Kinh
tế học của hai nhà kinh tế Mỹ Makkollhell và Bruy: “Thuế là một khoảnchuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao bằng hàng hóa, dịch vụ) của cáccông ty và các hộ gia đình cho Chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhậnđược một cách trực tiếp hàng hóa dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiềnphạt mà tòa án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật” (được trích dẫn trongĐặng Hồng Kỳ, 2013, trang 11)
Theo từ điển tiếng Anh, thuế là một khoản tiền mà một người phải trả chochính phủ để có thể trả cho các dịch vụ công
Theo từ điển tiếng Việt (Trung tâm từ điển học – 1998), thuế là khoản tiền hayhiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản, thu nhập, nghềnghiệp buộc phải nộp cho Nhà nước theo mức quy định
Một định nghĩa cụ thể hơn trên góc độ thời gian, theo đó thuế là một khoảnđóng góp bắt buộc từ các thề nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thờihạn được pháp luật qui định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng (Nguyễn ThịLiên and Nguyễn Văn Hiệu, 2009)
Tổng quát chung có thể hiểu Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc bằng tiềnhoặc hiện vật từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạnđược pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng
Trang 212.1.2 Quản lý thuế
Quản lý thuế là quá trình Nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ và phươngpháp thích hợp tác động lên đối tượng của quản lý thuế là cho chúng vận động theođúng mục tiêu đề ra
Theo điều 3 của Luật quản lý Thuế năm 2006 thì nội dung quản lý thuế gồm:
1 Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế
2 Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế
3 Xoá nợ tiền thuế, tiền phạt
4 Quản lý thông tin về người nộp thuế
5 Kiểm tra thuế, thanh tra thuế
6 Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
7 Xử lý vi phạm pháp luật về thuế
8 Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế
2.1.3 Khái niệm kiểm tra thuế và hiệu quả kiểm tra thuế
Khái niệm kiểm tra thuế
Kiểm tra, theo từ điển tiếng Việt, có nghĩa là xem xét tình hình thực tế để đánhgiá, nhận xét Ở góc độ khác, theo từ điển luật học, kiểm tra là xem xét tình hìnhthực tế thi hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ quyền hạn nói chung hay một côngtác cụ thể được giao để đánh giá, nhận xét v.v.(Nguyễn Văn Tiến, 2013)
KTT là hoạt động nhằm kiểm tra tính trung thực, tính chính xác của của cơ sởtính thuế mà người nộp thuế đã kê khai (Bouvier, 2005) Ở một góc độ khác, KTT
là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượngkiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ yêu cầu đặt ra đối với đối tượngkiểm tra để có những nhận xét, đánh giá (Nguyễn Thị Bất and Vũ Duy Hào, 2002).Dưới góc nhìn khác, KTT là việc kiểm tra hồ sơ kinh doanh và các vấn đề tàichính của người nộp thuế để đảm bảo rằng số thuế báo cáo và phải trả theo luật thuế
và các quy định về thuế Đây là hoạt động kiểm tra bổ sung theo luật định và đượcthực hiện bởi các viên chức thuế từ cơ quan thuế liên quan (Oyedokun, 2016)
Trang 22Tổng quát chung có thể hiểu, KTT là hoạt động xem xét, đánh giá của cơ quanthuế các cấp đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân chịu sự quản lý trong việc thựchiện pháp luật về thuế.
Khái niệm hiệu quả kiểm tra thuế
Trong lĩnh vực thuế, hiệu quả kiểm tra không chỉ xét đơn thuần theo giá trịbằng tiền mà còn thể hiện thông qua hiệu quả thực hiện các chính sách thuế, pháthuy các tác dụng vốn có của mỗi loại thuế đối với sản xuất và đời sống xã hội, phục
vụ công tác quản lý người nộp thuế Hiệu quả công tác kiểm tra phải được xem xéttrên góc độ hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả chính trị (Nguyễn VănTiến, 2013)
Dựa trên khái quát KTT, hiệu quả KTT có thể hiểu là hiệu quả hoạt động xemxét, đánh giá của cơ quan thuế đối với cơ quan, tổ chức và cá nhân chịu sự quản lýtrong việc thực hiện pháp luật về thuế
Trong nghiên cứu này tập trung vào xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệuquả KTT thuế trên góc độ hiệu quả kinh tế Theo đó, đối với hiệu quả kinh tế, chiphí kiểm tra là tối thiểu, không ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh củađối tượng kiểm tra, khai thác đầy đủ các khoản thu vào ngân sách nhà nước Cụ thểhơn, hiệu quả KTT thể hiện ở các khía cạnh như tính tuân thủ thuế của doanhnghiệp được nâng cao, chi phí tiến hành KTT tại đơn vị giảm dần, số lượng hồ sơphát hiện vi phạm thuế giảm hàng năm, hỗ trợ công tác quản lý thuế chung tốt hơn
2.2 Lý thuyết về kiểm tra thuế
KTT là một trong bốn chức năng cơ bản của quản lý thuế theo mô hình chứcnăng Bên cạnh việc tôn trọng kết quả tự tính, tự khai, tự nộp thuế của người nộpthuế, cơ quan thuế thực hiện các biện pháp giám sát hiệu quả vừa đảm bảo khuyếnkhích sự tuân thủ tự nguyện, vừa đảm bảo phát hiện ngăn ngừa các trường hợp viphạm pháp luật thuế KTT là một biện pháp hữu hiệu nhằm phát hiện ngăn ngừa viphạm, giúp người nộp thuế nhận thấy luôn có một hệ thống giám sát hiệu quả tồn tại
và kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm của họ Nội dung KTT là việc chấp hành
Trang 23pháp luật thuế Thông qua các phương pháp phân tích, đánh giá tình hình thực tếcủa đối tượng kiểm tra, hoạt động kiểm tra giúp phát hiện, ngăn ngừa, xử lý những
vi phạm pháp luật thuế, góp phần thúc đẩy các tổ chức, cá nhân hoàn thành nghĩa vụthuế đối với nhà nước Từ đó, công tác quản lý thuế được hoàn thiện, tăng cườngpháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân
Sự tuân thủ tốt của người nộp thuế và hiệu quả KTT có mối quan hệ chặt chẽvới nhau, việc KTT nhằm đảm bảo người nộp thuế tuân thủ đúng quy định về phápluật thuế Theo đó, nếu việc KTT có hiệu quả thì sự tuân thủ thuế sẽ cao và ngượclại Dưới đây sẽ trình bày một số lý thuyết có liên quan:
2.2.1 Lý thuyết kinh tế
Các nhà kinh tế đang tiếp cận câu hỏi tại sao người ta không tuân thủ luật phápbắt đầu bằng cách xây dựng một lý thuyết dựa trên giả định về hành vi của conngười, là nền tảng của tất cả các nền kinh tế; cụ thể là các cá nhân nói chung hànhđộng hợp lý trong việc đánh giá chi phí và lợi ích của bất kỳ hoạt động nào đã chọn
Ý nghĩa ở đây là người trả thuế liên tục tiềm kiếm lợi ích từ chính phủ ngoài số tiềnthuế đã trả Nói cách khác, lý thuyết là người nộp thuế sẽ được chuẩn bị để trả nhiềuhơn miễn là anh ta có lý do để tin rằng chính phủ đang giữ cho mình một phần củahợp đồng trong việc cung cấp cơ sở hạ tầng và an ninh Đối lập với suy nghĩ ở đây
là sự không tuân thủ sẽ tăng lên khi nhận thức của người nộp thuế là nhà nướckhông thực hiện vai trò cung cấp hàng hóa công cộng của mình (Ladi and Henry,2015)
2.2.2 Lý thuyết tâm lý
Nhiều nhà phân tích đã gợi ý rằng mô hình kinh tế về hành vi của con ngườiphản ánh quan điểm quá đơn giản của con người, và trong thế giới thực của cuộcsống hàng ngày, không có bất kỳ giá trị tiên đoán nào Giống như các nhà kinh tếhọc, các nhà tâm lý học cũng có xu hướng giải thích hành vi của con người dướidạng những biến số liên quan đến cá nhân Tuy nhiên, họ có xu hướng mô hìnhhành vi của con người theo những thuật ngữ phức tạp hơn nhiều so với các nhà kinh
Trang 24tế Ý niệm của họ là các lý thuyết kinh tế hiện hữu còn quá đơn giản để giải thíchđầy đủ các hành vi của con người thường được che khuất trong các tình huống cánhân mà có thể không có khả năng giải thích mô hình phản ứng lợi ích – chi phítheo các lý thuyết kinh tế Một số tác giả lập luận rằng, hiểu rõ tại sao tỷ lệ khôngtuân thủ cao sẽ vượt xa kinh tế và lý thuyết để xác định những gì khiến người nộpthuế phải tuân thủ hoặc không tuân thủ luật (Ladi and Henry, 2015).
2.2.3 Lý thuyết xã hội học
Các nhà xã hội học thường có xu hướng nhìn thấy nguyên nhân gây ra sự thayđổi trong hành vi của con người trong cấu trúc của hệ thống xã hội Do đó chúnggiải thích hành động của người dân bằng cách kiểm tra các lực lượng ảnh hưởngđến vị trí mà chúng chiếm trong hệ thống Điều này cho thấy rằng hành động củangười dân có thể được hiểu bởi bằng cách kiểm tra các lực lượng xung quanh môitrường của họ Lý thuyết này đưa một số nhà nghiên cứu đi đến kết luận rằng tìnhtrạng tham nhũng trong xã hội được phàn nàn thường xuyên sẽ dẫn đến hậu quả là
sự không tuân thủ thuế của người dân Nói cách khác, người dân sẽ quan sát những
gì diễn ra xung quanh họ trong một thời gian dài như là một văn hóa và dễ dàng bịcuốn vào cách hành xử như những người khác Kết luận này sẽ hỗ trợ kiểm tra vàthanh tra thuế một cách tích cực để giải quyết hậu quả một số trường hợp tiêu cựccủa việc không tuân thủ thuế của người nộp thuế (Ladi and Henry, 2015)
2.2.4 Lý thuyết về tạo dựng niềm tin
Due (2003, được trích dẫn trong Mirera, 2014) phát biểu rằng các bên liênquan yêu cầu trách nhiệm giải trình từ ban quản lý để đổi lại sự đóng góp của họ đốivới tổ chức Lý thuyết giả định rằng các bên liên quan muốn biết nguồn lực của họđược tối ưu hóa như thế nào và rằng các nhà quản trị có trách nhiệm và hướng dẫnhướng đến mục tiêu như các bên liên quan Lý thuyết khẳng định rằng thông quacác báo cáo tài chính được kiểm toán có thể minh chứng được trách nhiệm giảitrình Sau đó, trách nhiệm giải trình được đưa ra trong kiểm tra
Trang 252.2.5 Lý thuyết về đạo đức thuế
Lý thuyết về đạo đức thuế được phát triển đầu tiên bởi các học giả người Đức
mà trung tâm là Gunter Schmolders được biết đến như Trường tâm lý học ThuếCologne Đạo đức thuế có thể được gọi là nhân tố cá nhân thúc đẩy một người thựchiện nghĩa vụ thuế của mình Như là một nhân tố quyết định hành vi thuế, đạo đứcthuế nhằm mục đích giải thích làm thế nào và tại sao đạo đức người nộp thuế ảnhhưởng lên hành vi thuế của họ Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng sự vi phạm thuếđược cho liên quan đến đạo đức thuế (Barone and Mocetti, 2011) Theo lý thuyếtnày, người nộp thuế sẽ giảm vi phạm thuế khi cộng đồng nơi họ sống hoặc hoạtđộng không đồng tình với sự vi phạm thuế Người nộp thuế có nhiều khả năng hơn
để tuân thủ nghĩa vụ thuế nếu bạn bè, người thân họ tuân thủ nghĩa vụ thuế này.Hơn nữa, người nộp thuế sẽ trốn thuế nếu họ cảm thấy rằng người khác cũng đangtrốn thuế Nói một cách khác, nếu xã hội khoan dung sự trốn thuế thì xã hội đókhuyến khích sự trốn thuế Niềm tin tôn giáo cũng là một biến số trong sự vi phạmthuế khi các nghiên cứu chỉ ra rằng người nộp thuế mà có sự cam kết hoặc niềm tintôn giáo mạnh mẽ có thể sẽ tuân thủ thuế ngay cả khi họ thấy thuế suất cao (McGee,2011) Trong một vài trường hợp, người nộp thuế có thể cảm thấy có đạo đức vàcông bằng về trốn thuế nếu họ cảm thấy rằng chất lượng và số lượng hàng hóa vàdịch vụ công không thỏa mãn Ngược lại cũng đúng Trong các nền kinh tế nơi sựcung ứng hàng hóa và dịch vụ công thỏa mãn thì tỷ lệ trốn thuế thấp Người nộpthuế sẽ có khuynh hướng tuân thủ nghĩa vụ thuế nếu họ cảm thấy chính phủ củamình là trung thực, dân chủ và có sự tham gia và cũng như nếu người nộp thuế cảmthấy họ đóng vai trò có ý nghĩa trong chính quyền (Cummings et al., 2006)
2.2.6 Lý thuyết AS (The Allingham and Sandmo Theory)
Lý thuyết AS cho rằng, chính phủ ngăn trốn thuế thông qua xử phạt và kiểmtra Người nộp thuế sẽ quyết định vi phạm các luật tài chính và trốn tránh nghĩa vụthuế của họ khi họ nhận thức rằng chi phí việc trốn thuế là quá thấp, và tin tưởngrằng những gì mình làm không thể bị phát hiện hoặc kiểm tra (Allingham and
Trang 26Sandmo, 1972) Người nộp thuế cũng sẽ lách thuế khi họ nhận thức chi phí tuân thủ
là quá cao Hệ thống và thủ tục liên quan cồng kền có khuynh hướng khuyến khích
sự trốn thuế Người nộp thuế sẽ cảm thấy mức thuế cao và khắc nghiệt sẽ trốn thuế
Có sự tương quan ngược chiều giữa trốn thuế, xác suất phát hiện, mức độ trừng phạt
và chi phí giao dịch cao liên quan đến luật thuế
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trước đây
Trên cơ sở lý thuyết KTT đã được đề cập ở trên, phần tổng quan nghiên cứu sẽ
hệ thống các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam để từ đó xác định khoảng trôngnghiên cứu, đồng thời đề xuất mô hình nghiên cứu lý thuyết về hiệu quả KTT cũngnhư các giả thuyết trong mô hình
2.3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Các nghiên cứu về thuế rất phổ biến trên thế giới nhưng chủ yếu là các nghiêncứu liên quan đến sự tuân thủ thuế (như Andreoni et al., 1998; Kamleitner et al.,2012; Mwangi, 2014; Palil and Mustapha, 2011; Pope and Jabbar, 2008; Slemrodand Yitzhaki, 2002; Torgler, 2003 v.v.), trong khi đó các nghiên cứu liên quan đếnKTT, đặc biệt là nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả KTT chưa phổbiến
KTT là những đặc điểm chính của cơ chế tuân thủ tự nguyện bởi vì tỷ lệ kiểmtra cao được cho rằng sẽ tăng sự tuân thủ thuế (Allingham and Sandmo, 1972) KTT
có tác động ngăn chặn cụ thể lên người nộp thuế được kiểm tra, và quan trọng hơnKTT có tác động ngăn chặn đối với người nộp thuế không thực sự được kiểm tra.(1) Nghiên cứu của Fatt và Ling năm 2008 về "Nhận thức của cán bộ thuế lênKTT và trốn thuế: Bằng chứng khảo sát tại Malaysia" Nghiên cứu nàykhám phá đối tượng của KTT và trốn thuế trong môi trường thuế củaMalaysia từ nhận thức của cán bộ thuế Sử dụng phương pháp lấy mẫu làm
cơ sở, nghiên cứu điều tra về mức độ nhận thức của người nộp thuế đối vớinghĩa vụ của họ trong hệ thống tự đánh giá, rút ra kinh nghiệm của mìnhtrong các lần KTT, khám phá ra phương pháp chung để ngăn ngừa trốn thuế
Trang 27một cách có hiệu quả và đánh giá kiến thức người nộp thuế về xác định giaodịch trốn thuế Nghiên cứu này phát hiện ra rằng, phần lớn người trả lờikhông nhận thức được rằng hội đồng thu thuế nội địa Malaysia đã đưa rachương trình quan hệ công chúng để hướng dẫn và hỗ trợ họ về tuân thủthuế Phần lớn người trả lời cũng có quan niệm sai lầm rằng các mục tiêucủa KTT là để phát hiện trốn thuế và phạt không tuan thủ thuế, cuộc khảosát cũng phát hiện người đóng thuế và công chúng nộp thuế gặp khó khăntrong việc phân biệt lập kế hoạch thuế hợp pháp và trốn thuế Có thể giảithích là họ thiếu giáo dục thuế chính thức ở cấp tiểu học, trung học và đạihọc; cùng với sự không phù hợp của chiến dịch truyền thông về giáo dụcthuế và sách về thuế bị giới hạn đối với người không có chuyên môn đểhướng dẫn họ (Fatt and Ling, 2008).
(2) Một nghiên cứu khác tại Đan Mạch được thực hiện bởi Kleven và cộng sựnăm 2011 với chủ đề "Không muốn hay không thể gian lận? Bằng chứng từkinh nghiệm KTT tại Đan Mạch" Nghiên cứu phân tích thực nghiệm hiệntrường về tăng cường thuế tại Đan Mạch Trong năm cơ sở, một mẫu phântầng và mẫu đại diện của hơn 40,000 cá nhân nộp thuế thu nhập cá nhân đãđược lựa chọn để thử nghiệm Một nửa số người nộp thuế được lựa chọnngẫu nhiên để được kiểm tra kỹ lưỡng, trong khi phần còn lại được cố ýkhông kiểm tra Năm sau, các thư đe dọa kiểm tra được phân bổ ngẫu nhiên
và gửi đến các tổ chức nộp thuế ở cả hai nhóm Nghiên cứu này trình bày
ba kết quả thực nghiệm chính Thứ nhất, sử dụng dữ liệu kiểm tra cơ bản,nghiên cứu thấy rằng tỷ lệ trốn thuế gần bằng 0 đối với thu nhập phải báocáo bên thứ ba, nhưng đáng kể đối với thu nhập tự báo cáo Vì hầu hết thunhập phải chịu báo cáo của bên thứ ba, tỷ lệ trốn thuế chung là khiêm tốn.Thứ hai, bằng cách sử dụng các phương sai gần như thử nghiệm được tạo rabởi những nút thắt lớn trong kế hoạch thuế thu nhập, nghiên cứu thấy rằngthuế suất cận biên có ảnh hưởng tích cực đến việc trốn thuế đối với thunhập tự báo cáo, nhưng hiệu quả này nhỏ so với tránh thuế hợp pháp và
Trang 28phản ứng hành vi Thứ ba, sử dụng ngẫu nhiên các biện pháp cưỡng chế,nghiên cứu thấy rằng các cuộc kiểm tra trước và các thư đe doạ kiểm tra cóảnh hưởng đáng kể đến thu nhập tự báo cáo, nhưng không ảnh hưởng đếnthu nhập được báo cáo của bên thứ ba Tất cả các kết quả thực nghiệm này
có thể được giải thích bằng cách mở rộng mô hình chuẩn về trốn thuế (hợplý) để cho phép phân biệt chính giữa thu nhập được báo cáo với thu nhậpđược báo cáo với bên thứ ba (Kleven et al., 2011)
(3) Nghiên cứu của Mirera năm 2014 về "Ảnh hưởng của KTT lên doanh thuthuế: Trường hợp nghiên cứu cơ quan thu thuế Kenya" Kết quả nghiên cứucho thấy có mối quan hệ thuận chiều giữa KTT và doanh thu từ thuế, điềunày có là việc kiểm tra thường xuyên hơn dẫn đến thuế thu được nhiều hơn.Nghiên cứu này đưa đến kiến nghị rằng các báo cáo KTT được công khaiđối với công chúng và quy trình chuẩn phải được đưa ra trong việc lựa chọncác công ty tiến hành KTT Tuy nhiên, nghiên cứu này có một số giới hạn
đó là (1) bản chất dữ liệu của các báo cáo kiểm tra tác động đến kết quảtheo cách thức không dự kiến được hoặc giới hạn sức mạnh các kiểm tra đểphát hiện các liên kết, (2) các báo cáo không cho thấy chất lượng kiểm trathấp hay cao, (3) nghiên cứu không sử dụng biến kiểm soát nên có thể tạo
ra sự thay đổi trong diễn giải, (4) nếu dữ liệu thứ cấp được sử dụng nhiềuhơn sẽ tạo cơ hội tìm ra mối quan hệ chính thống và nội tại trong các biến(Mirera, 2014)
(4) Liên quan đến hiệu quả KTT, nghiên cứu của Ayalew năm 2014 về "Cácyếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả KTT: Một nghiên cứu về người nộp thuế tạivăn phòng quản lý doanh thu thuế ở Thành phố Bahir Dar, Ethiopia" Mụcđích của nghiên cứu này là kiểm tra các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quảKTT bằng cách sử dụng phân tích thống kê, bao gồm cả thống kê mô tả vàsuy diễn Các công cụ nghiên cứu là bảng câu hỏi điều tra được xây dựngvới các khái niệm nghiên cứu được sử dụng Tổng cộng có 333 bảng câuhỏi được phát đến các kiểm tra viên và người nộp thuế của văn phòng thu
Trang 29thuế chính quyền Thành phố Bahir Dar và thu lại 265 bảng câu hỏi hợp lệ.Bằng cách sử dụng 47 biến quan sát tin cậy đã được thử nghiệm và có giátrị tải nhân tố tốt và quy mô độ tin cậy được phân tích Vì mỗi khái niệmnghiên cứu bị ảnh hưởng bởi các khái niệm nghiên cứu khác, phân tích hồiquy được thực hiện bởi các mô hình, sử dụng hiệu quả kiểm toán thuế như
là biến phụ thuộc, điều này về cơ bản được thực hiện để có được sự kết hợptuyến tính tốt nhất của các khái niệm nghiên cứu cũng như để có được giátrị dự đoán của các dự đoán cá nhân để kiểm tra các giả thuyết đề xuất Kếtquả nghiên cứu cho thấy trong năm biến độc lập được kiểm định gồm (1) sựhợp tác của người nộp thuế, (2) chất lượng kiểm tra, (3) sự độc lập tổ chức,(4) Cơ cấu tổ chức cơ quan thuế, (5) sự hỗ trợ của quản lý cấp cao, thì chỉ
có chất lượng kiểm tra và cơ cấu tổ chức cơ quan thuế có ảnh hưởng đếnhiệu quả KTT (Ayalew, 2014)
(5) Nghiên cứu "Cải thiện các dịch vụ quản lý thuế như là một nhân tố của việctuân thủ luật thuế: Trường hợp KTT" được thực hiện bởi ba tác giảHauptman, Horvat và Korez-Vide vào năm 2014 Theo nghiên cứu này,trốn thuế xuất phát từ hoạt động kinh tế ngầm và báo cáo không đầy đủ vềthu nhập trong các bản khai thuế, dẫn đến phân phối lại không chủ định từnhững người tôn trọng các quy tắc đối với những người không tôn trọngquy tắc đó và gây ra cạnh tranh không lành mạnh giữa các bên chính thức
và phi chính thức Nó làm suy yếu hơn đạo dức thuế và có thể dẫn đếnnhiều trốn thuế nhiều hơn Do đó, giảm tình trạng trốn thuế và cải thiện việctuân thủ thuế là rất quan trọng tại thời điểm này Mục tiêu của cơ quan thuế
là thu toàn bộ số thuế và thuế phải nộp theo luật định Cơ quan thuế nênnhằm vào giảm khoảng cách về thuế, đồng thời giảm thiểu chi phí quản lýthu thuế cho chính phủ (chi phí thu) và đóng thuế cho người nộp thuế (chiphí tuân thủ) Điều này có thể được thực hiện bằng cách áp dụng các chínhsách nhằm tạo điều kiện và kích thích tuân thủ "tự nguyện", ngăn chặn vàlàm nản chí các ý định trốn thuế, phát hiện và chống gian lận thuế, thực thi
Trang 30tuân thủ cũng như thu thập có hiệu quả các khoản thuế đến hạn và cònthiếu Các chính sách này được liên kết với nhau: tạo điều kiện cho việctuân thủ tự nguyện làm giảm nhu cầu thực thi, trong khi chính sách thực thi
có hiệu quả sẽ đóng góp vào sự tuân thủ tự nguyện hơn Nói chung, cácchính sách nhằm tăng cường sự tuân thủ tự nguyện sẽ có tác động tích cựcđến giảm gánh nặng hành chính, trong khi ngược lại có thể là các chínhsách cưỡng chế Tuy nhiên, một chính sách quản lý thuế cần phải bao gồm
cả hai Thách thức là phải cân bằng giữa hai yếu tố này (Hauptman et al.,2014)
(6) Liên quan đến tác động của KTT đến hình thành doanh thu thuế, nghiêncứu "Tác động của KTT đến hình thành doanh thu thuế: dịch vụ doanh thunội địa liên bang, kinh nghiệm của ABUJA" được thực hiện bởi Ladi vàHenry năm 2015 Mục đích nghiên cứu này khám phá sự ảnh hưởng củaKTT lên hình thành doanh thu thuế tại dịch vụ thu thuế nội địa liên bang(Federal Inland Revenue Service) và xác định mối quan hệ giữa hai thànhphần này Mẫu nghiên cứu được thu thập từ nhân viên của Federal InlandRevenue Service và Taro Yamane và sử dụng bảng câu hỏi để thu thập dữliệu Nghiên cứu cho thấy KTT có tác động đáng kể lên hình thành doanhthu thuế tại Federal Inland Revenue Service và có mối quan hệ thuận chiềugiữa hai khái niệm này (Ladi and Henry, 2015)
(7) Liên quan đến KTT và thanh tra thuế, nghiên cứu "Sự liên quan giữa KTT
và thanh tra thuế tại Nigeria" của Oyedokun năm 2016 Nghiên cứu chorằng KTT và thanh tra thuế lần lượt phục vụ một mục đích chính trong việccải thiện nỗ lực tạo ra thuế của chính phủ Nigeria và các khoản thu nhậpđược giữ bởi người đóng thuế tương ứng sẽ được chuyển qua ngân sáchchính phủ thông qua KTT và thanh tra thuế Nghiên cứu khuyến nghị rằngtất cả kiểm tra viên và thanh tra viên về thuế cần phải được trang bị đầy đủcác luật về thuế, kế toán thuế và kỹ thuật trong kiểm tra và thanh tra để đểgiúp họ thu thập được các bằng chứng có thể chấp nhận được Hạn chế
Trang 31chính của nghiên cứu này là đưa ra kết luận dựa trên khảo lược các nghiêncứu trước chứ chưa có bằng chứng thực nghiệm để kiểm định mối quan hệgiữa các khái niệm (Oyedokun, 2016).
(8) Nghiên cứu "KTT và thanh tra thuế như là một yêu cầu bắt buộc đối vớiquản lý thuế hiệu quả tại Nigeria" được thực hiện bởi Onuoha và Dada năm
2016 Mục đích của nghiên cứu này nhằm chứng minh KTT và thanh trathuế là những yêu cầu bắt buộc để đạt được sự quản lý thuế hiệu quả tạiNigeria Nghiên cứu đã thông qua một cách tiếp cận phân tích bằng cách sửdụng phân tích nội dung các tài liệu hiện có Các lý thuyết về nghi ngờ và
xã hội học đã được sử dụng để tăng cường khái niệm hoá chủ đề Nghiêncứu cho thấy việc KTT và thanh tra thuế là không thể tránh khỏi để cảithiện việc thu thuế ở Nigeria Nghiên cứu cũng xác nhận rằng hiện nay có
sự phổ biến cao về sự không tuân thủ giữa các cá nhân và công ty trongnước Do đó, nghiên cứu kêu gọi chính phủ đưa ra một đạo luật để xử lýkhông tuân thủ luật thuế với các hình phạt nghiêm khắc hơn Nghiên cứu đã
bổ sung thêm tài liệu có thẩm quyền mới cho lĩnh vực thuế ở Nigeria và sẽhữu ích cho các nhà nghiên cứu thuế khác, các nhà quản lý thuế liên quan
và các nhà hoạch định chính sách khác ở Nigeria (Onuoha and Dada, 2016).(9) Nghiên cứu "Đánh giá tác động về nhận thức của người nộp thuế về thanhtoán thuế và KTT đối với sự tuân thủ thuế trong số các cửa hàng lớn và đạisiêu thị trong Quận kinh doanh trung tâm Eldoret (CBD)" được thực hiệnbởi Jepkoech và Muya năm 2016 Mục đích của nghiên cứu này là đánh giácác nhân tố của tuân thủ thuế trong các cửa hàng lớn và đại siêu thị tạiCBD Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là đánh giá tác động của nhận thứccủa người nộp thuế đối với việc thanh toán thuế và xác định tác động củaKTT đối với việc tuân thủ thuế Các phát hiện của nghiên cứu cho thấy rằngnhận thức của người đóng thuế về thanh toán thuế có tác động tích cực đếnviệc tuân thủ thuế trong khi KTT tiêu cực không đáng kể lên việc tuân thủthuế hay nói khác đi là có tác động ngược chiều Nghiên cứu kết luận rằng
Trang 32nhận thức về sự công bằng trong thanh toán thuế có ảnh hưởng đến việctuân thủ thuế trong khi KTT ảnh hưởng không đáng kể đến việc tuân thủthuế Một nghiên cứu tiếp theo được đề xuất đó là thực hiện một nghiên cứulặp lại với cùng một yếu tố quyết định đối với nhóm người nộp thuế khácnhư chủ nhà và doanh nghiệp vừa và nhỏ trong cùng một thị trấn hoặc trongcác lĩnh vực khác và nghiên cứu các yếu tố khác xác định sự tuân thủ thuếkhác với nhận thức của người nộp thuế về KTT và thanh tra thuế (Jepkoechand Muya, 2016).
(10) Một nghiên cứu khác về khoảng cách thuế được thực hiện bởi Bagdad vàcác cộng sự năm 2017 với chủ đề "Các nhân tố ảnh hưởng đến khoảngcách thuế: Bằng chứng từ các trường hợp KTT" Nghiên cứu này đã điềutra các yếu tố ảnh hưởng đến khoảng cách thuế như tần suất kiểm tra, quy
mô kinh doanh, vai trò của đại lý thuế và các chiến lược sử dụng để đánhgiá thấp thu nhập Các mẫu nghiên cứu được thu thập từ các trường hợpKTT Kết quả của nghiên cứu này cung cấp bằng chứng về khoảng cáchthuế đáng kể giữa thu nhập chịu thuế báo cáo và thu nhập chịu thuế đượckiểm tra Phát hiện này cho thấy những người đóng thuế có kinh nghiệmkiểm tra trước đã tuân thủ nhiều hơn so với những người đã được kiểmtoán lần đầu tiên Do đó các phát hiện cho thấy rằng các hoạt động kiểmtra thường xuyên sẽ làm giảm khoảng cách thuế một cách hiệu quả Hơnnữa, các doanh nghiệp lớn hơn đã được nhiều hơn thuế so với các doanhnghiệp nhỏ Phát hiện này cũng cho thấy tác động tích cực của đại lý thuếcũng được chứng minh là làm giảm khoảng cách về thuế Phân tích hồiquy chỉ ra rằng các chiến lược điển hình được các cơ quan thuế sử dụngkhi thực hiện gian lận thuế là báo cáo không đúng về doanh thu, mua quámức, chi phí vượt mức, trợ cấp vốn không đủ điều kiện và các chiến lượckhác đã ảnh hưởng đáng kể và đóng góp vào khoảng cách thuế Do đó,nghiên cứu này cung cấp thông tin có giá trị cho cơ quan thuế để xác định
hồ sơ của người có thuế tiềm năng để xây dựng các chiến lược hiệu quả để
Trang 33ngăn chặn các hoạt động không tuân thủ thuế và giảm khoảng cách vềthuế (Bagdad et al., 2017).
Tóm lại: Khảo lược các nghiên cứu ngoài nước liên quan đến KTT cho thấy
rằng các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả KTT chưa có nhiều chỉ
có nghiên cứu của Ayalew (2014) Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ xem xét năm yếu
tố là thuộc tính kiểm tra viên, chất lượng kiểm tra, sự độc lập của tổ chức, môitrường tổ chức, và sự hỗ trợ của quản lý cấp cao trong khi có nhiều yếu tố khácchưa đề cập như tần suất KTT, nhận thức của người nộp thuế, quy mô doanh nghiệp
và nhiều yếu tố khác chưa được đề cập Các nghiên cứu khác được khảo lược ở trênchỉ mới xem xét mối quan hệ giữa KTT với các biến số như thanh tra thuế, doanhthu thuế, chi phí quản lý thuế và đặc biệt là KTT với việc tuân thủ thuế Một điềucần làm rõ là các yếu tố dẫn đến sự tuân thủ thuế trong đó có yếu tố KTT, nhưngcác yếu tố tác động đến sự tuân thủ thuế chưa thể khẳng định là có tác động tương
tự đến hiệu quả KTT Chính vì vậy, việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến côngtác KTT ở phạm vi rộng hơn, cụ thể xem xét nhiều nhân tố tác động hơn để kháiquát mô hình nghiên cứu là cần thiết trong nghiên cứu này
2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, các vấn đề về thuế được nghiên cứu khá nhiều liên quan chủyếu đến các vấn đề như tuân thủ thuế của doanh nghiệp, quản lý thuế Điều đángchú ý là các nghiên cứu liên quan đến chủ đề thuế ở dạng định tính và xoay quanhhướng nghiên cứu là giải pháp hoàn thiện hoặc nâng cao công tác KTT, thanh trathuế, quản lý thuế, tuân thủ thuế nhưng các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởngdưới dạng nghiên cứu định lượng chưa được phổ biến
Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế của doanh nghiệpdưới dạng nghiên cứu định lượng trong nhưng năm gần đây đã xuất hiện một sốnghiên cứu đáng chú ý như (Bùi Ngọc Toản, 2017; Phan Thị Mỹ Dung and LêQuốc Hiếu, 2015; Lê Văn Hiền, 2016; Nguyễn Anh Tuấn, 2016; Nguyễn ThànhTuân, 2016) Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế không đồng nghĩa đượcxem giống nhau với yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả KTT mặc dù KTT là một yếu tố
Trang 34có thể giúp doanh nghiệp tuân thủ thuế tốt hơn Nhưng một số yếu tố trong mô hìnhtuân thủ thuế từ một số nghiên cứu có thể được đưa vào mô hình nghiên cứu đềxuất Dưới đây là một số nghiên cứu liên quan đến tuân thủ thuế và quản lý thuế:(1) Nghiên cứu của Bùi Ngọc Toản – năm 2017 với chủ đề nghiên cứu "Cácyếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế thu nhập của doanh nghiệp –Nghiên cứu thực nghiệm trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh" Nghiêncứu này nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng và mức độ tác động của từngyếu tố đến sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp nộp thuế Kết quả nghiên cứucho thấy có 7 nhân tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế của doanh nghiệpgồm (1) Đặc điểm của cơ quan thuế; (2) Đặc điểm hoạt động của doanhnghiệp; (3) Yếu tố xã hội; (4) yếu tố kinh tế; (5) Đặc điểm tâm lý củadoanh nghiệp; (6) Yếu tố pháp luật, chính sách về thuế; (7) Đặc điểmngành Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định lượng để xác định cácyếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế TNDN của các doanh nghiệp vớinhiều quy mô khác nhau trên địa bàn TP.HCM Nghiên cứu này đưa ra kếtluận tổng quát về các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế của các doanhnghiệp nói chung nhưng chưa đưa ra những nhận định về sự khác biệt về
sự tuân thủ thuế của nhóm doanh nghiệp lớn với nhóm DNNVV Thêmnữa việc phân tích theo địa bàn quận huyện chưa được đề cập để dẫn ra sựkhác biệt (Bùi Ngọc Toản, 2017)
(2) Nghiên cứu "Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của các doanhnghiệp" đo Phan Thị Mỹ Dung và Lê Quốc Hiếu thực hiện năm 2015.Nghiên cứu đánh giá mức độ tuân thủ thuế của người nộp thuế để từ đóđưa ra cách ứng xử phù hợp, hiệu quả trong thực tiễn điều hành quản lýthuế Nghiên cứu đã xác định được các yếu tố ảnh hưởng và mức độ củatừng yếu tố đến sự tuân thủ thuế của người nộp thuế (Phan Thị Mỹ Dungand Lê Quốc Hiếu, 2015) Nghiên cứu này sử dụng phương pháp địnhlượng để kiểm định độ tin cậy của mô hình nhưng nghiên cứu mới chỉ tậptrung vào doanh nghiệp nói chung nhưng lại chưa đi sâu vào sự tuân thủ
Trang 35thuế của DNNVV Thêm nữa, nghiên cứu chủ yếu dựa trên các dữ liệu sơcấp là chủ yếu trong khi dữ liệu thứ cấp từ thực tiễn phát sinh lại chưađược phân tích đầy đủ để đánh giá thực trạng vấn đề.
(3) Bên cạnh các nghiên cứu được khảo lược ở trên, có nhiều nghiên cứu ởkhác như nghiên cứu về "Các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế thunhập doanh nghiệp của doanh nghiệp tại Cục thuế An Giang" do NguyễnThành Tuân thực hiện năm 2016 (Nguyễn Thành Tuân, 2016) Nghiên cứunày cũng chỉ tập trung vào các doanh nghiệp nói chung và chưa có sự sosánh giữa các nhóm doanh nghiệp lớn và nhóm DNNVV Một nghiên cứukhác với chủ đề "Các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế XNK của doanhnghiệp tại cục hải quan tỉnh Long An" do Nguyễn Anh Tuấn thực hiện năm
2016 Nghiên cứu này đi hẹp vào loại thuế là Xuất nhập khẩu nhưng lạichưa phân tích theo nhóm doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV (Nguyễn AnhTuấn, 2016)
(4) Trong một nghiên cứu khác, "Quản lý thuế đối với doanh nghiệp nhỏ vàvừa hiện nay" (Lý Phương Duyên, 2017) Nghiên cứu này phân tích đặcđiểm của DNNVV và chỉ ra những tác động của đặc điểm này đối với quản
lý thuế, nghiên cứu mối quan hệ giữa cơ quan quản lý và đối tượng bị quản
lý để đưa ra các nội dung cơ bản của quản lý thuế nói chung, quản lý thuếđối với DNNVV nói riêng từ đó đưa ra giải pháp nâng nâng cao hiệu quảquản quản lý thuế Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa hệ thống lý thuyết đểxây dựng mô hình liên quan đến tuân thủ thuế và các phân tích thiếu các sốliệu chi tiết để minh chứng cho sự hạn chế trong quản lý thuế và sự tuânthủ thuế của đối tượng DNNVV
Các vấn đề về thuế nói chung và KTT nói riêng được quy định rất roc ràngtrong các văn bản pháp luật của Nhà nước (như "Luật sửa đổi, bổ sung một số điềucủa Luật thuế Giá trị Gia tăng, Luật thuế Tiêu thụ Đặc biệt và Luật Quản lý Thuế,"2016) Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu được tổng hợp trong các giáo trìnhgiảng dạy về Thuế được xuất bản(như Nguyễn Ngọc Hùng et al., 2012; Lê Xuân
Trang 36Trường, 2010; Nguyễn Thị Liên and Nguyễn Văn Hiệu, 2009) Tuy nhiên, như đã
đề cập ở trên, các nghiên cứu liên quan đến KTT ở dạng giải pháp và phương phápnghiên cứu định tính là chủ yếu trong khi các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởngđến công tác KTT rất ít Dưới đây là khảo lược một số nghiên cứu có liên quan:(5) Nghiên cứu "Giải pháp hoàn thiện công tác KTT tại cục thuế tỉnh TháiBình"(Đặng Hồng Kỳ, 2013) được thực hiện theo phương pháp luận suydiễn Nghiên cứu này thu thập dữ liệu thứ cấp có sẵn ở dạng định lượng tạicục thuế tỉnh Thái Bình, đồng thời kết hợp với phương pháp định tính đểgiải thích số liệu Trong nghiên cứu này, các nhân tố ảnh hưởng đến côngtác KTT chỉ được đánh giá chủ quan dựa vào quan điểm tác giả là chủ yếuchứ chưa thông qua phương pháp thảo luận nhóm/ tay đôi hoặc khảo sátđánh giá mang tính khách quan Các nhân tố theo tác giả đề cập trongnghiên cứu này gồm nhân tố khách quan (1 - Mức độ hoàn thiện của hệthống pháp luật nói chung và pháp luật về thuế nói riêng; 2- Sự phối hợpcủa các cơ quan nhà nước có liên quan; 3 - Trình độ dân trí, ý thức chấphành pháp luật thuế của người nộp thuế; 4 - Cơ sở vật chất và phương tiệnlàm việc của cơ quan thuế; 5 - Chế độ đãi ngộ đối với người làm công tácKTT) và các nhân tố chủ quan (1- Chất lượng của công tác lập kế hoạch vàchuẩn bị công tác kiểm tra; 2 - Trình độ chuyên môn và đạo đức nghềnghiệp của cán bộ KTT; 3 - Hệ thống cơ sở dữ liệu và việc ứng dụng côngnghệ thông tin phục vụ cho việc khai thác, phân tích thông tin về ngườinộp thuế; 4 - Công tác tổ chức, chỉ đạo của thủ trưởng cơ quan thuế; 5 - Sựnghiêm minh trong xử lý vi phạm) Thêm nữa, nghiên cứu đề cập đến KTTđối với tất cả các loại hình doanh nghiệp nhưng chưa có sự đánh giá cụ thểcho nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa
(6) Nghiên cứu với chủ đề "Hoàn thiện công tác KTT khu vực doanh nghiệpngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế Thành phố Kon Tum" (Lê Tiến Đông,2016) Nghiên cứu này tiến hành trên loại hình doanh nghiệp ngoài quốcdoanh nhưng không đi cụ thể vào nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa, thêm
Trang 37nữa nghiên cứu đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng cònđơn giản, chưa có kết hợp phân tích định tính và định lượng chặt chẽ do đótính chủ quan trong đánh giá còn cao.
(7) Nghiên cứu "Nâng cao chất lượng công tác KTT đối với doanh nghiệp nhỏ
và vừa trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa" (Trịnh Thị Hồng, 2015) Nghiên cứunày được tiến hành trên phạm vi rộng là toàn tỉnh Thanh Hóa và liên quanđến vấn đề KTT đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn, tuy nhiênthực trạng công tác KTT đối với từng Chi cụ Thuế nhỏ trong tỉnh lại chưađược phân tích cụ thể Trong thực tế, các yếu tố ảnh hưởng đến công tácKTT có thể khác biệt giữa các Chi cục Thuế trong cùng địa phương, do đóviệc phân tích đánh giá và xác định cụ thể các yếu tố ảnh hưởng sẽ cần cácgiải pháp khác biệt nhau để thực hiện
(8) Đánh giá thực trạng công tác kiểm tra, thanh tra thuế để đưa ra các giảipháp hiệu quả cũng cần cần phải xác định được các yếu tố ảnh hưởng đếncông tác này Nghiên cứu "Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của côngtác kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục thuế TP.HCM" cho thấy các nhân tốnhư chất lượng cuộc kiểm tra, thanh tra; chính sách pháp luật thuế vàngười nộp thuế; quản lý và phối hợp; tuyên truyền và hỗ trợ đều có ảnh đếnhiệu quản KTT (Võ Tiến Dũng, 2014) Nghiên cứu này giúp làm cơ sở chophân tích và đánh giá thực trạng KTT và đề xuất giải pháp hoàn thiện côngtác KTT Tuy nhiên, các yếu tố trong mô hình còn khá ít, chưa đề cập đếnnhiều yếu tố tổng quát hơn như thuộc tính người kiểm tra, nhận thức ngườinộp thuế, đặc điểm doanh nghiệp và nhiều yếu tố khác
Tóm lai: Khảo lược nghiên cứu trong nước cho thấy nghiên cứu về các yếu tố
ảnh hưởng đến hiệu quả KTT, đặc biệt là nghiên cứu theo phương pháp định lượng
để kiểm định mô hình rất khiêm tốn Nghiên cứu của Võ Tiến Dũng (2014) chưamang tính khái quát cao Một điểm đáng lưu ý nữa là do hiệu quả KTT phụ thuộcvào nhiều yếu tố trong đó có yếu tố con người, đặc điểm doanh nghiệp, nhận thứccủa đối tượng nộp thuế khác nhau nên mức độ tác động của từng yếu tố lên mô hình
Trang 38nghiên cứu sẽ khác nhau, thậm chí các khái niệm nghiên cứu trong mô hình cũng sẽkhác nhau Chính vì vậy việc nghiên cứu ứng dụng về các yếu tố ảnh hưởng đếncông tác KTT tại mỗi tổ chức hoặc địa phương sẽ có khác biệt và cần có nghiên cứuriêng.
2.4 Giới thiệu tổng quan Chi cục thuế quận Bình Thạnh – TP.
Hồ Chí Minh
Quận Bình Thạnh là một quận cửa ngõ cửa ngõ của TP Hồ Chí Minh, nằm ởphía Đông Bắc của thành phố, là vùng đất có một vị trí chiến lược quan trọng Đượchình thành sau ngày giải phóng trên cơ sở sáp nhập hai xã Bình Hòa và Thạnh Tâycủa Gia Định với diện tích 2076 ha Phía Đông Bắc giáp với quận 2 và quận ThủĐức, Bình Thạnh và quận 1 cách nhau bởi con rạch Thị Nghè, phía Tây – Tây Bắcgiáp với quận Gò Vấp và Phú Nhuận Quận Bình Thạnh được xem là nút giao thôngquan trọng của TP Hồ Chí Minh bởi vì Bình Thạnh là điểm đầu mối gặp gỡ cácquốc lộ: quốc lộ 1A, quốc lộ 13, là cửa ngõ đón con tàu thống nhất Bắc Nam quacầu Bình Lợi vào ga Hòa Hưng và lại có bến xe khách Miền Đông Bên cạnh đó,nhờ có sông Sài Gòn bao bọc, quận có thế mạnh về vận tải đường song qua TânCảng và Cảng Quận Đoàn IV cùng với thế mạnh về du lịch với hai khu du lịch: VănThanhd và Thanh Đa – Bình Quới Dân số quận thống kê năm 2014 là 464.397người, đông dân thứ hai thành phố, đa số là dân lao động và cũng là lực lượng laođộng chính tham gia vào các ngành nghề tạo ra của cải vật chất cho thành phố.Quận Bình Thạnh có thể đáng giá là một trung tâm kinh tế có năng lực sản xuấtcông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phong phú, lực lượng lao động dồi dào, có kinhnghiệm ngoài ra với một vị trí thuận tiện cho việc tập trung lưu thông hàng hóa dầumối giao dịch giữa cửa Bắc lẫn cửa Đông TP.Hồ Chí Minh và cùng với việc chỉnhtrang đô thị, pháp triển kinh tế theo chiều hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đó
là những tiền đề thúc đẩy các ngành sản xuất kinh doanh dịch vụ của quận tăngtrưởng, và không ngừng cải thiện và pháp triển theo chiều hướng chung của nềnkinh tế cả nước mà Đảng và Nhà nước đề ra Quận Bình Thạnh có 20 phường, gồm
Trang 39các phường 1, 2, 3, 5, 6, 7, 11, 12, 13, 14, 15, 17, 19, 21, 22, 24, 25, 26, 27, 28.Quận Bình Thạnh là nơi có vị trí địa lý thuận lợi và nguồn nhân lực dồi dào là nơichọn lựa lý tưởng cho các doanh nghiệp đầu tư và pháp triển.
Về CCT Bình Thạnh – TP Hồ Chí Minh
CCT Bình Thạnh được đổi tên từ Phòng thuế Quận Bình Thạnh Theo quyếtđịnh số 38/CP ngày 25/08/1990 của Bộ tài chính Trụ sở đặt tại số 368 đường BạchĐằng, phường 14, quận Bình Thạnh dưới sự quản lý trực thuộc Cục thuế Tp.Hồ ChíMinh (ngành dọc) và chịu sự lãnh đạo, hỗ trợ của Quận ủy- UBND quận BìnhThạnh (ngành ngang) CCT Bình Thạnh có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và
mở tài khoản tại Kho Bạc Nhà Nước
Chức năng, nhiệm vụ CCT Bình Thạnh – TP Hồ Chí Minh
Chức năng: Tổ chức thực hiện công tác quản lý thuế, phí, lệ phí và các khoảnthu khác của NSNN thuộc phạm vi, nhiệm vụ ngành thuế trên địa bàn quận BìnhThạnh theo qui định của pháp luật
- Tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý thuế đối với người nộp thuế thuộc phạm
vi quản lý của CCT: đăng ký thuế, cấp mã số thuế, xử lý hồ sơ khai thuế, tính thuế,nộp thuế, miễn thuế, giảm thuế, xóa nợ thuế,…để người nộp thuế thực hiện nghĩa
vụ nộp thuế đầy đủ, kịp thời vào NSNN
- Quản lý thông tin NNT , xây dựng hệ thống dữ liệu thông tin về NNT trênđịa bàn
- Thực hiện công tác tuyên truyền hướng dẫn, giải thích chính sách thuế, hỗtrợ NNT thực hiện nghĩa vụ theo đúng qui định của pháp luật
- Kiểm tra việc kê khai, hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, nộp thuế, quyết toánthuế và chấp hành chính sách thuế của NNT
Trang 40- Giải quyết các tố cáo khiếu nại về thuế theo thẩm quyền.
- Tổ chức tiếp nhận và triển khai các tiến bộ khoa học công nghệ và phươngpháp quản lý thuế hiện đại vào các hoạt động của CCT
- Thực hiện các nhiệm vụ khác được giao
2.5 Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý thuyết, khảo lược các nghiên cứu trước đây và thực tiễn tạiđơn vị, trong nghiên cứu này tác giả đề xuất các yếu tố với biến phụ thuộc là côngtác KTT đối với doanh nghiệp và các biến độc lập gồm: Chất lượng kiểm tra; nhậnthức của người nộp thuế; đặc điểm của doanh nghiệp; tần suất KTT; hỗ trợ quản lýcủa cấp trên; tính nghiêm minh trong xử lý vi phạm thuế; chính sách pháp luật thuế;chế độ đãi ngộ cán bộ thuế; cơ sở hạ tầng phục vụ KTT; sự phối hợp của cơ quannhà nước có liên quan
2.5.1 Chất lượng kiểm tra
Chất lượng KTT, được chứng minh bởi khả năng của cơ quan thuế để cungcấp các phát hiện kiểm tra và khuyến nghị hữu ích, là một trong những yếu tố nổibật nhất mà hiệu quả kiểm toán luôn gắn liền Các tiêu chuẩn thực hiện của kiểm trayêu cầu kiểm tra viên lập kế hoạch và thực hiện công việc sao cho họ có thể đạtđược các kết quả kiểm toán hữu ích và đưa ra các đề xuất cải tiến Khả năng của cơquan thuế để lập kế hoạch, thực hiện và truyền đạt đúng các kết quả của kiểm tra làmột sự đảm bảo cho chất lượng kiểm tra Do đó, chất lượng kiểm tra được cho làmột chức năng của đội ngũ nhân viên chuyên sâu; tính hợp lý của phạm vi dịch vụ;
và lập kế hoạch hiệu quả, thực hiện và truyền thông về kiểm tra Để đánh giá cácyếu tố quyết định chất lượng kiểm tra này, bằng chứng từ câu trả lời của bảng câuhỏi với người đứng đầu Chi cục thuế được sử dụng Để hỗ trợ kết quả, thông tin bổsung đã được thu thập thông qua việc rà soát các tài liệu liên quan Nói chung, cáctiêu chuẩn kiểm tra chính thức thừa nhận rằng kiểm tra viên nội bộ cũng cung cấpcác dịch vụ liên quan đến thông tin bên ngoài các báo cáo tài chính Họ yêu cầukiểm tra viên thực hiện vai trò của họ một cách khách quan và phù hợp với các tiêu