1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao chất lượng kiểm soát cam kết chi ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước

115 148 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc đơn vị sử dụng ngân sách thực hiện dànhdự toán khi hợp đồng cũng tương tự như việc Ngân hàng Thương mại phát hànhthu bảo lãnh để dành một phần số dư tài khoản tiền gửi của nhà cung

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HCM

NGUYỄN THỊ NGỌC ANH

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KIỂM SOÁT CAM KẾT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC

LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyên ngành: Kế toán

Mã số ngành: 60340301

TP.Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2015

Trang 2

NGUYỄN THỊ NGỌC ANH

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KIỂM SOÁT CAM KẾT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC

LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyên ngành: Kế toán

Mã số ngành: 60340301CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THANH DƯƠNG

TP.Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kếtquả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳcông trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõnguồn gốc

Học viên thực hiện Luận văn

Nguyễn Thị Ngọc Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Qua quá trình học tập và rèn luyện ở trường lời đầu tiên tôi xin trân trọng cảm ơn Thầy Hiệu trưởng và Ban Giám hiệu trường Đại học Công Nghệ

TP Hồ Chí Minh đã tổ chức và tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho tôi được có

cơ hội học lớp Cao học kế toán niên khoá 2013 – 2015 tại trường.

Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn đến toàn thể Quý Thầy Cô, những người đã truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian theo học cao học tại trường Đại học Công Nghệ TP Hồ Chí Minh.

Tôi vô cùng biết ơn đến Thầy TS Nguyễn Thanh Dương, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn này.

Tôi xin cảm ơn tất cả các anh, chị, bạn đồng nghiệp trong cơ quan, các bạn trong lớp học đã cùng nhau học tập, cùng nhau chia sẽ kinh nghiệm trong học tập cũng như trong công việc.

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu nhà trường, các Thầy Cô và một lời chúc sức khoẻ dồi dào, kính chúc Quý Thầy – Cô mãi toả sáng trong sự nghiệp trồng người và chúc trường ngày càng phát triển.

Học viên thực hiện

Nguyễn Thị Ngọc Anh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN .i

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC VIẾT TẮT viii LỜI MỞ ĐẦU .ix

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHI NSNN VÀ KIỂM SOÁT CAM KẾT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1

1.1 CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1

1.1.1 Khái niệm 1

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò chi thường xuyên của NSNN 1

1.1.2.1 Khái niệm chi thường xuyên của NSNN 1

1.1.2.2 Đặc điểm của chi thường xuyên NSNN 1

1.1.2.3 Vai trò của chi thường xuyên NSNN 2

1.1.3 Khái niệm, đặc điểm và vai trò chi đầu tư phát triển của NSNN 2

1.1.3.1 Khái niệm chi đầu tư phát triển NSNN 2

1.1.3.2 Đặc điểm của chi đầu tư NSNN 2

1.1.3.3 Vai trò của chi đầu tư NSNN 3

1.2.4 Phân loại chi ngân sách Nhà nước

4 1.2 QUY TRÌNH CHI NGÂN SÁCH VÀ CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ 4

1.2.1 Các giai đoạn trong thủ tục thực hiện chi ngân sách

4 1.2.1.1 Phân khai dự toán

4 1.2.1.2 Cam kết chi 5

1.2.1.3 Thanh toán

7 1.2.1.4 Phê chuẩn chi tiêu/trả tiền ( gọi tắt là Chuẩn – chi) 8

Trang 6

1.2.2 Những vấn đề pháp lý liên quan đến thủ tục chi tiêu ngân sách 9

1.2.2.1 Chỉ danh ngân sách .9

Trang 7

1.2.2.2 Phương pháp quản lý ngân sách 10

1.2.2.3 Chế độ pháp lý của các khoản nợ công 12

1.3 KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ VAI TRÒ CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 13

1.3.1 Tổ chức kiểm soát sự chi tiêu ngân sách 13

1.3.1.1 Phân loại kiểm soát 14

1.3.1.2 Tổ chức các cơ quan phụ trách trong việc kiểm soát

14 1.3.2 Nhiệm vụ kiểm soát chi của Kho bạc 15

1.3.2.1 Kiểm soát sự hợp pháp của cam kết chi và chuẩn chi 15

1.3.2.2 Kiểm soát tính hợp thức của lệnh trả tiền và hồ sơ liên hệ

16 1.3.2.3 Kiểm soát quyền thụ hưởng và các điều kiện trả tiền

17 1.4 CAM KẾT CHI 18

1.4.1 Định nghĩa cam kết chi 18

1.4.2 Nguyên tắc quản lý, kiểm soát cam kết chi 19

1.4.3 Quy trình kiểm soát cam kết chi thường xuyên 20

1 4.4 Quy trình quản lý, kiểm soát cam kết chi đầu tư:

21 1.5 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH 22

1.5.1 Tổ chức kiểm soát bằng cam kết chi tại Cộng hòa Pháp 23

1.5.2 Tổ chức kiểm soát chi ngân sách tại Mỹ 24

1.5.3 Tổ chức kiểm soát chi ngân sách nhà nước tại liên bang Malaysia 26

1.5.4 Nhận định tổng quát về tổ chức kiểm soát chi NSNN ở một số nước và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 28

1.5.5 Những nhận định tổng quát về các mô hình kiểm soát chi

28 1.5.6 Những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT CAM KẾT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC NN 34

Trang 9

2.1.2 Kho bạc Nhà nước Tỉnh 34

2.1.3 Kho bạc Nhà nước Huyện 34

2.2 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT CHI GIAI ĐOẠN 1990 – 2003 34

2.2.1 Giai đoạn từ 1990 đến 1996 ( trước khi có luật ngân sách) 34

2.2.2 Giai đoạn từ 1997 đến 2003 ( từ khi có luật ngân sách) 37

2.3 TÌNH HÌNH KIỂM SOÁT CHI NSNN TỪ 2004 ĐẾN NAY 40

2.3.1 Cơ chế quản lý tài chính nhà nước hay khuôn khổ pháp lý hiện hành 42

2.3.1.1 Cơ chế tài chính đối với cơ quan nhà nước thực hiện chế độ tự chủ 42

2.3.1.1.1 Kinh phí giao để thực hiện chế độ tự chủ 43

2.3.1.1.2 Kinh phí giao, thực hiện cơ chế tài chính nhà nước ( không thực hiện chế độ tự chủ tài chính)

44 2.3.1.2 Cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập 45

2.3.1.2.1 Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập 45

2.3.1.2.2 Cơ chế tự chủ tài chính 45

2.3.1.3 Cơ chế quản lý chi đầu tư phát triển 48

2.3.2 Quy trình kiểm soát chi ngân sách qua KBNN 49

2.3.2.1 Giai đoạn cam kết chi 49

2.3.2.1.1 Chi thường xuyên 49

2.3.2.1.2 Chi đầu tư phát triển 50

2.3.2.2 Giai đoạn thực hiện cam kết chi/thanh toán, chuẩn chi 51

2.3.2.2.1 Chi thường xuyên 51

2.3.2.2.2 Chi đầu tư phát triển 52

2.4 NHỮNG HẠN CHẾ TỒN TẠI VÀ NGUYÊN NHÂN 54

2.4.1 Kiểm soát cam kết chi qua KBNN chưa được minh bạc cụ thể 54

2.4.2 Những bất cập trong công tác Chi thường xuyên: 56

2.4.3 Chi đầu tư phát triển 57

2.4.4 Một số hạn chế khi chưa thực hiện kiểm soát cam kết chi ngân sách nhà nước.62 2.4.5 Những thuận lợi khi thực hiện cam kết chi thường xuyên 63

Trang 10

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT CAM KẾT CHI THƯỜNG XUYÊN QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 66

3.1 MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN CƠ CHẾ KIỂM SOÁT CAM KẾT CHI NGÂN SÁCH NN QUA KBNN 66

3.1.1 Mục tiêu 663.1.1.1 Kiểm soát cam kết chi góp phần nâng cao chất lượng kiểm soát chi 663.1.1.2 Tránh hiện tượng lãng phí, tham ô, biển thủ công quỹ cũng như việc sử dụng ngân sách ( tiền ngân sách) không vì mục tiêu công

ích 68

3.1.2 Định hướng 69 3.2 HOÀN THIỆN CƠ CHẾ KIỂM SOÁT CAM KẾT CHI NSNN QUA KHO BẠC NHA NƯỚC 69

3.2.1 Một số kết quả đạt được khi thực hiện cam kết chi quan Kho bạc Nhà nước: 70

3.2.2 Những hạn chế khi thực hiện cam kết chi tại Kho bạc Nhà nước: 703.2.3 Các giải pháp nâng cao chất lượng kiểm soát cam kết chi qua Kho bạc Nhà nước: 71

KẾT LUẬN 76TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Trang 11

ĐTPT Đầu tư phát triển

TABMIS Hệ thống thông tin quản lý Ngân sách và Kho bạcXDCB Xây dựng cơ bản

SDNS Sử dụng ngân sách

PO Phân hệ quản lý Cam kết chi

MLNSNN Mục lục ngân sách nhà nước

Trang 13

I Tính cấp thiết của đề tài

và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng củaNhà nước theo những nguyên tắc nhất định gắn liền với hoạt động chi ngân sáchnhà nước

Tình hình kinh tế - xã hội nước ta trong trong thời gian qua diễn ra trong bốicảnh thế giới tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp cả về kinh tế và chính trị Một sốnền kinh tế lớn vẫn còn nhiều yếu tố rủi ro như: Tình trạng bất ổn của các nền kinh

tế mới nổi; phục hồi trong khu vực đồng Euro vẫn còn yếu Ở trong nước, sảnxuất kinh doanh tiếp tục đối mặt với những khó khăn, áp lực: Sức mua trên thịtrường thấp; khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế chưa cao; sức ép nợ xấu cònnặng nề; hàng hóa trong nước tiêu thụ chậm Ngoài ra, thời gian gần đây tìnhhình biển Đông có nhiều diễn biến phức tạp, bước đầu ảnh hưởng đến phát triểnkinh tế - xã hội và đời sống dân cư cả nước

Kiểm soát các khoản chi ngân sách Nhà nước qua kho bạc là một nghiệp vụquan trọng, góp phần ngăn chặn tình trạng sử dụng kinh phí NSNN không đúng dựtoán, định mức, chế độ, tiêu chuẩn … hạn chế gây thất thoát, lãng phí tiền và tàisản của Nhà nước 20 năm thực hiện nhiện vụ kiềm soát chi NSNN qua Kho bạc

Trang 14

Nhà nước đến nay cơ chế kiểm soát chi ngân sách qua nhiều lần sủa đổi, bổ sungvẩn còn

Trang 15

nhiều khiếm khuyết làm phát sinh các khoản nợ tồn đọng NSNN trong chi trả chiphí mua sắm, sửa chữa, chi phí đầu tư xây dựng….đối với nhà cung cấp hàng hóa,dịch vụ thông qua các hợp đồng ký kết Nguyên nhân làm phát sinh các khoản nợtồn đọng NSNN nêu trên là do hầu hết các đơn vị sử dụng ngân sách, khi ký hợpđồng với nhà cung cấp, đều chưa ước lượng và dành sẵn số kinh phí cần thiết từ dựtoán NSNN được giao hàng năm ( gọi tắt là dành dự toán ) để trang trải cho cáckhoản chi phí phát sinh từ hợp đồng Việc đơn vị sử dụng ngân sách thực hiện dành

dự toán khi hợp đồng cũng tương tự như việc Ngân hàng Thương mại phát hànhthu bảo lãnh để dành một phần số dư tài khoản tiền gửi của nhà cung cấp nhằmđãm bảo việc thực hiện hợp đồng, và hơn thế nữa, thực hiện dành dự toán cònmang ý nghĩa tạo sự bình đảng giữa hai bên, đơn vị sử dụng ngân sách và nhà cungcấp, trong quá trình thực hiện hợp đồng Nếu không thực hiện dành dự toán sẽkhông tránh khỏi trường hợp đơn vị sử dụng ngân sách chuyển đến KBNN nơi giaodịch giấy rút dự toán vượt quá dự toán NSNN còn lại được sử dụng Và thực tế chothấy, dù bị KBNN từ chối chi trả nhưng hợp đồng vẩn được thực hiện và NSNN vẩnphải gánh nợ tồn đọng trong thanh toán, nhiều nhất là trong lĩnh vực đầu tư xâydựng

Xuất phát từ những bất cập trên nên em chọn đề tài “ Giải pháp nângcao chất lượng kiềm soát cam kết chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước” để làm luận

án tốt nghiệp

II Mục tiêu nghiên cứu

- Xác lập cơ sở lý luận và thực tiễn cho các mục tiêu kiểm soát cam kết chingân sách qua kho bạc nhằm giảm thiểu các rủi ro trong quá trình thanh toánqua kho bạc;

- Những nguyên tắc cam kết chi;

- Quy trình kiểm soát cam kết chi qua Kho bạc Nhà nước

III Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài được xác định là nâng cao chất lượng kiểmsoát cam kết chi Ngân sách Nhà nước

Trang 16

quỹ ngân sách của cơ quan Kho bạc nhà nước.

IV Nội dung nghiên cứu

- Những lý luận cơ bản về NSNN và chi ngân sách Nhà nước,

- Quy trình chi ngân sách và các vấn đề pháp lý,

- Kiểm soát chi ngân sách và vai trò của Kho bạc Nha nước,

- Kinh nghiêm kiểm soát chi ngân sách nhà nước của một số nước

- Tổ chức kiểm soát cam kết chi ngân sách hiện nay,

- Thực trạng kiểm soát cam kết chi ngân sách qua Kho bạc Nhà nước,

- Những hạn chế tồn tại và nguyên nhân

- Các giải pháp hoàn thiện

V Phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên phương pháp diển dịch trừu tượng, nội dung của đề tài

đi từ việc trình bày khái niệm, phân loại, quy trình chi ngân sách và các vấn đềpháp lý, làm cơ sở cho viêc xác định mục tiêu, yêu cầu và nội dung kiểm soát chingân sách

Phương pháp phân tích, quy nạp, nội dung cua đề tài đi từ việc phân tíchkhái quát về kiểm soát chi ngân sách của của Việt nam và một số nước, từ đó kháiquát những bài học kinh nghiệm cho Việt nam, phân tích thực trạng kiểm soátcam kết chi chi ngân sách qua Kho bạc Nhà nước nói chung và KBNN TP.HCM nóiriêng, từ đó khái quát những hạn chế tồn tại và nguyên nhân, làm cơ sở cho các đềxuất mục tiêu, nguyên tắc, nội dung kiểm soát cám kết chi và quy trình kiểm soátcam kết chi ngân sách qua Kho bạc Nhà nước

VI Kết cấu đề tài:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, toàn bộ nội dung luận văn được kết cấuthanh 3 chương:

- Chương 1: Những lý luận cơ bản về NSNN và kiểm soát cam kết chi ngânsách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước

Trang 17

- Chương 2: Thực trạng kiểm soát cam kết chi ngân sách qua Kho bạc NN

- Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng kiểm soát cam kết chi ngân sáchNhà nước qua KBNN

Trang 18

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHI NSNN VÀ KIỂM SOÁT CAM KẾT CHI NGÂN SÁCH NHÀ

NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC

1.1 CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1.1 Khái niệm

Chi NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng các nguồn lực tài chính tập trungđược vào việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ kinh tế, chính trị và xã hội của Nhànước trong từng công việc cụ thể Chi NSNN có quy mô rộng và mức độ rộng lớn,bao gồm nhiều lĩnh vực, tại các địa phương và các cơ quan hành chính, đơn vị sựnghiệp của Nhà nước

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò chi thường xuyên của NSNN

1.1.2.1 Khái niệm chi thường xuyên của NSNN

Chi thường xuyên là quá trình phân phối nguồn lực tài chính của nhà nướcnhằm trang trải những nhu cầu của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trịthuộc khu vực công, qua đó thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước ở các hoạtđộng sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn hóa thông tin, thể dụcthể thao, khoa học và công nghệ môi trường và các hoạt động sự nghiệp khác

1.1.2.2 Đặc điểm của chi thường xuyên NSNN

- Nguồn lực Tài chính trang trải cho các khoản chi thường xuyên được phân

bổ tương đối đều giữa các quý trong năm, giữa các tháng trong quý và giữa các nămtrong kỳ kế hoạch

- Việc sử dụng kinh phí thường xuyên được thực hiện thông qua hai hìnhthức cấp phát thanh toán và cấp tạm ứng Cũng như các khoản chi khác của Ngânsách nhà nước, việc sử dụng kinh phí thường xuyên phải đúng mục đích, tiết kiệm

Trang 19

1.1.2.3 Vai trò của chi thường xuyên NSNN

- Chi thường xuyên có vai trò quan trọng trong nhiệm vụ chi của NSNN.Thông qua chi thường xuyên đã giúp cho bộ máy nhà nước duy trì hoạt động bìnhthường để thực hiện tốt chức năng QLNN; đảm bảo an ninh, an toàn xã hội, đảmbảo sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia

- Thực hiện tốt nhiệm vụ chi thường xuyên còn có ý nghĩa rất lớn trongviệc phân phối và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính của đất nước, tạođiều kiện giải quyết tốt mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng Chi hường xuyênhiệu quả và tiết kiệm sẽ tăng tích lũy vốn NSNN để chi cho ĐTPT, thúc đẩy nền kinh

tế phát triển, nâng cao niềm tin của nhân dân vào vai trò quản lý điều hành của nhànước

1.1.3 Khái niệm, đặc điểm và vai trò chi đầu tư phát triển của NSNN

1.1.3.1 Khái niệm chi đầu tư phát triển NSNN

Chi đầu tư phát triển là các khoản chi không mang tính chất thườngxuyên là khoản chi phát huy tác động sau một thời gian dài

1.1.3.2 Đặc điểm của chi đầu tư NSNN

Chi đầu tư phát triển là một bộ phận quan trọng trong chiến lược đầu tưphát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia Chi đầu tư phát triển từ nguồn vốnngân sách nhà nước là một bộ phận cấu thành trong 3 bộ phận tạo nên nguồn vốnkiểm triển của nhà nước nguồn vốn của các doanh nghiệp nhà nước Nguồn vốn chiđầu tư phát triển của ngân sách nhà nước: Được sử dụng cho các dự án kết cấu

hạ tầng kinh tế - xã hội Các dự án lớn có vai trò quan trọng đối với nền sản xuấtkinh tế quốc dân, quốc phòng an ninh, hỗ trợ cho các dự án của doanh nghiệp đầu

tư vào các lĩnh vực có sự tham gia của nhà nước, chi cho công tác lập và thực hiệncác dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch đôthị vùng và nông thôn

Trang 20

nguồn vốn hình thành khoản chi

Trang 21

* Cơ cấu chi theo ngành: Vốn đầu tư phát triển được bố trí cho các ngànhtrong nền kinh tế như : nông, lâm nghư nghiệp và thuỷ sản, công nghiệp và xâydựng, giao thông và bưu điện, y tế, giáo dục

* Cơ cấu chi theo nguồn vốn: Vốn đầu tư phát triển của nhà nước, vốn tíndụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước đượchình thành do khấu hao và lợi nhuận để lại

1.1.3.3 Vai trò của chi đầu tư NSNN

Chi đầu tư phát triển từ nguồn vốn NSNN là một bộ phận của nguồn vốnđầu tư phát triển toàn xã hội Mặc dù nguồn vốn cho các chương trình đầu tư pháttriển chiếm khoảng 2/3 tổng vốn, trong đó đầu tư từ ngân sách nhà nước và tíndụng đầu tư phát triển chiếm trên dưới 40 % trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn

xã hội nhưng luôn luôn là hạt nhân thu hút nguồn vốn khác hoặc thúc đẩy khả năngphát triển của nền kinh tế Vai trò chủ yếu của chi đầu tư phát triển đó là:

- Một là: Là nguồn vốn tập trung cho xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, tạođiều kiện cho các tổ chức, cá nhân và nước ngoài mở rộng sản xuất, kinh doanh,thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá,hiện đại

hoá

- Hai là: Là nguồn vốn đầu tư vào các chương trình phát triển mới, đầu tưtheo chiều sâu, mở rộng sản xuất, ở các doanh nghiệp ,nhất là các doanh nghiệpphục vụ công ích, thuộc các thành phần kinh tế Nâng cao chất lượng sản phẩm cho

cơ sở sản xuất theo hướng ưu tiên b của kế hoạch nhà nước

- Ba là: Tạo sức hút với các nguồn vốn khác cùng tham gia đầu tư vào nềnkinh tế Trong trường hợp này vốn nhà nước đóng vai trò tác nhân thúc đẩy, do vậycần phải sử dụng thật hiệu quả, các dự án nhà nước phải có sức lan toả và thuhút

cao

- Bốn là: Vốn đầu tư phát triển là nguồn vốn đầu tư cho phát triển nguồnnhân lực, cải thiện cơ sở vật chất của ngành giáo dục đào tạo, khoa học vàcông nghệ, phát triển y tế, văn hoá và các mặt khác của xã hội

– Năm là: Chi đầu tư phát triển thực hiện các mục tiêu xoá đói giảm nghèo,

Trang 23

sâu, vùng xa, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng cơ sở sản xuất, dịch vụ, tạo ranhững tác động tích cực cho vùng nghèo, người nghèo, hộ nghèo khai thác các tiềmnăng của vùng vươn lên khá giả

1.2.4 Phân loại chi ngân sách Nhà nước

“Chi NSNN bao gồm: Các khoản chi phát triển kinh tế- xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước, chi viện trợvà các khoản chi khác theo qui định của pháp luật”(Tiết 2, Điều 2, Chương I - Luật NSNN 2002)”

1.2 QUY TRÌNH CHI NGÂN SÁCH VÀ CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ

Chi ngân sách là việc xuất quỹ ngân sách để đổi lấy những hang hoá dịch vụ,

vì mục tiêu công ích, nhưng khi phân tích kỹ, muốn thực hiện một khoản chi phảitiến hành các thủ tục theo một trình tự quy định, được phân chia thành từng giaiđoạn khác nhau Và đan xen vào quá trình đó là một hệ thống kiểm soát chi chặtchẽ

1.2.1 Các giai đoạn trong thủ tục thực hiện chi

Nếu phân tích theo kỹ thuật thực hiện ngân sách, quá trình chi ngân sách trảiqua các giai đoạn như sau:

1.2.1.1 Phân khai dự toán.

Muốn sử dụng các kinh phí được phê chuẩn, những kinh phí này phải đượcphân chia ra từng quý một, phù hợp với tiến trình thực hiện chương trình công tác

cả năm Và sắp xếp những hành vi phát sinh ra chi tiêu theo từng Chương, loại,khoản, mục Thủ trưởng cơ quan Tài chính sẽ kiểm nhận ( kiểm soát và chấp nhậnhay còn gọi là thẩm định, chấp thuận) việc phân chia đó Sở dĩ thủ tục qui định việcphân chia phải được cơ quan Tài chính hậu kiểm, vì đây là giai đoạn đầu tiên củaviệc thi hành những kinh phí đã được ghi trong ngân sách Nếu không có thủ tụcnày, các cơ quan có thể chi tiêu ngay từ đầu năm, hết số kinh phí được chi Lẽ cốnhiên, sự phân chia này cũng không thể ấn định một cách máy móc: trong suốtthời gian một niên độ ngân sách, có lúc cơ quan chi nhiều hơn, có lúc cơ quan chi íthơn, tuỳ theo tính chất mà cơ quan đó thực hiện Chính vì lý do đó, mà quyền phânchia kinh phí phải do chính cơ quan sử dụng kinh phí quyết định Nói một cáchkhác, việc phân chia kinh

Trang 24

phí là một trạng thái quan trọng của sự quản lý tài chính nói riêng và sự quản lý hành chính nói chung.

Quyền thẩm định và chấp thuận cần được tập trung vào cơ quan Tài chính, vìmột lý do thứ hai: sự chi tiêu phụ thuộc vào tình trạng công quỹ Chính phủ chỉ cóthể chi tiêu khi tìm đủ phương tiện tài trợ và sự tiến triển của việc thu hoạch tàinguyên Quốc gia, dù tài nguyên đó là những phương tiện của KBNN ( tạm ứng tồnngân) Cơ quan Tài chính cần luôn luôn theo dõi tình hình tồn quỹ ngân sách, để nếucần, đề nghị các biện pháp đặc biệt: phát hành trái phiếu Kho bạc, nhờ Ngân hàngNhà nước ứng trước, vay nước ngoài Ngoài ra, quyền thẩm định và chấp thuậnthuộc cơ quan Tài chính được quy định bởi chức năng quản lý tài chính công Nếukhông, việc phân bổ hay phân chia kinh phí của các cơ quan sử dụng ngân sách cóthể nhầm lẫn hoặc vượt quá mức cho phép của Chính phủ

1.2.1.2 Cam kết chi

Đứng về phương diện kỹ thuật thi hành ngân sách về phần chi, các đơn vị sửdụng ngân sách muốn sử dụng kinh phí được cấp ( sau khi được kiểm nhận),đều phải qua giai đoạn quyết định chi\cam kết chi

Cam kết chi là một hành vi pháp lý, do cơ quan có thẩm quyền tự tạo ra mộtkhoản nợ công; ước lượng và dành sẵn số kinh phí cần thiết để đài thọ cho khoản

nợ đó Theo một định nghĩa khác, cam kết chi là một quyết định chi bao hàm sự chitiêu trong hiện tại và tương lai

Các hành vi làm căn cứ và nguyên nhân các cam kết chi rất là phức tạp.Nguồn gốc các khoản nợ công có thể là do một sự kiện hay một hành vi pháp lý.Những sự kiện có ảnh hưởng đến trách nhiệm của Quốc gia như thiên tai, dịch hoạhay những sự bồi thường công vụ

Nhưng phần lớn nguyên nhân tạo ra khoản nợ công là những hành vi pháp

lý Các hành vi này có thể là đơn phương hay đa phương Ví dụ về một hành vi đơnphương: Chính phủ quyết định trưng dụng một tài sản của công dân, Chính phủ

sẽ bồi thường cho chủ sở hữu tài sản đó hay Chính phủ quyết định trợ cấp cho một

số đồng bào nghèo, người già neo đơn Việc bồi thường hay trợ cấp này là nguyênnhân tạo ra một khoảng nợ công Ví dụ hành vi đa phương: Chính phủ ký một hợp

Trang 25

Sau cùng, nguồn gốc nợ công có thể là một hành vi điều kiện: như việc bổnhiệm một công chức vào một ngạch hay một chức vụ nào đó.

Đối với hai loại hành vi pháp lý trên, việc cam kết chi có tính cách thườngxuyên và lâu dài Nhưng thường hành vi pháp lý có tính cách nhất thời Ví dụ, nhữnghợp đồng cung cấp hàng hoá dịch vụ hay hợp đồng xây dựng

Khi trình bày các nguyên nhân và căn cứ pháp lý của hành vi cam kết chi nhưtrên, ta có một ý niệm về phân loại cam kết chi:

- Cam kết chi tự ý và cam kết chi bắt buộc: thường các cơ quan Chính phủquyết định cam kết chi ( tự ý) như: tuyển nhân viên, ký kết hợp đồng cung cấphàng hoá dịch vụ Nhưng trong trường hợp các sự kiện pháp lý ( thiên tai, dịchhoạ ), sự cam kết ngoài ý muốn ( bắt buộc) của cơ quan

- Cam kết chi hành pháp và cam kết chi lập pháp: thường cam kết chi do cơquan thuộc hành pháp quyết định; nhưng cũng có thể là cơ quan lập pháp quyếtđịnh cam kết chi Ví dụ: một đạo luật mở kinh phí để cứu trợ trong một trườnghợp đặc biệt xảy ra

- Cam kết chi tổng quát và cam kết chi cụ thể: thường ngay đầu năm cơquan có thể cam kết chi cho những công việc sẽ thực hiện trọn năm như: lươngnhân viên, điện nước, bưu điện hoặc có những cam kết chi cho những công táchay cung cấp những hàng hoá dịch vụ cần phải thi hành trong một thời gian trên

12 tháng Và những ngân khoản dành cho các dự án đầu tư hoạch định trongnhững chương trình đã được phép thi hành trong một năm, thậm chí là 5 năm, 10năm những cam kết chi này được gọi là cam kết chi tổng quát hay hợp đồngkhung Ngược lại có những hành vi cam kết thực hiện cho từng hành vi một và thờigian thực hiện trọn một năm

Trang 26

ngân sách Ví dụ, hợp đồng mua sắm dụng cụ, phương tiện làm việc hay sửa chữacông sở, phương tiện công tác gọi là cam kết chi cụ thể.

Theo luật hiện hành, thầm quyền cam kết chi thuộc thủ trưởng đơn vị

sử dụng ngân sách hay người được uỷ quyền; lẽ tất nhiên, đối phần của quyềnhạn đó là một trách nhiệm bản thân về những sự nhầm lẫn hay sai phạm

Ngoài cơ quan sử dụng kinh phí, ngay trong giai đoạn cam kết chi đã cónhững cơ quan kiểm soát:

- Kiểm soát theo hệ thống hành chính: các công chức được quyền cam kếtchi vẫn phải chịu sự kiểm soát cấp trên

- Kiểm soát chi cam kết chi ngoại lai: tuỳ theo tổ chức bộ máy hành chínhnhà nước và luật lệ hiện hành của từng nước, sẽ có một cơ quan chuyên chú đặcbiệt về kiểm soát tất cả cam kết chi ngân sách

+ Chứng nhận việc thực hiện sự vụ phát sinh ra sự chi tiêu;

+ Xác định chính xác, minh bạch số chi tiêu đó

Ý niệm sự vụ đã thực hiện là yếu tố pháp lý của khoản nợ Muốn biết khoản

nợ của nhà nước có thực không, phải xem xét các giấy tờ chứng minh rõ rệt

về quyền thụ hưởng của chủ nợ Những văn bản chứng minh có thể là một văn bảntiếp nhận hàng hoá dịch vụ, hoặc biên bản nghiệm thu

Về phương diện pháp lý, thanh toán là một quyết định hành chính do đómột khoản nợ đối với Quốc gia được công nhận Tác động này không tạo raquyền lợi của chủ nợ, tác động chỉ có tính xác nhận quyền lợi đó Trọng tâm củathanh toán là xác nhận những sự vụ đã thực hiện, nghĩa là sự thi hành nghĩa vụcủa người ký kết

Trang 27

với Chính phủ, vì theo nguyên tắc kinh tế thị trường ( trao đổi ngang giá), Chínhphủ chỉ thi hành nghĩa vụ trả tiền sau khi nghĩa vụ đồng ký kết ( người ký kết ) đãthi hành xong

Như vậy, sự thanh toán chỉ đơn thuần về phương diện tài chính, nghĩa làxác định số chi tiêu về hàng hoá – dịch vụ tương ứng đã nhận Và bản thânhành vi thanh toán cũng chính là hành vi kiểm soát chi tiêu ( mục đích của khoảnchi)

1.2.1.4 Phê chuẩn chi tiêu/trả tiền ( gọi tắt là Chuẩn – chi)

Mặc dù khoản nợ của nhà cung cấp đối với Quốc gia đã được thanh toán( xác định) nhưng nhà cung cấp chưa thể nhận được tiền ngay mà còn phải cólệnh cho trả tiền, do người có thẩm quyền ban hành ( phê chuẩn chi tiêu và ralệnh trả tiền - gọi tắt là chuẩn –chi)

-Khái niệm về chuẩn chi

Chuẩn – chi là lệnh cho trả tiền, do Thủ trưởng cơ quan sử dụng ngân sáchhay người được uỷ quyền lệnh cho kế toán viên hay nhân viên Kho bạc Lệnh đóphải thể hiện dưới hình thức mẫu Bộ tài chính ( Bộ tài chính là cơ quan duy nhất cóthẩm quyền ban hành mẫu chứng từ kế toán ngân sách) Và có thể ấn định hìnhthức trả tiền ( tiền mặt hay chuyển khoản)

Trong danh từ chuyên môn hiện nay, lệnh chuẩn – chi có thể là Giấy rút dựtoán, Giấy rút vốn đầu tư, Lệnh chi tiền

-Tính pháp lý của Chuẩn – chi

Người ta có thể cho rằng, động tác Chuẩn – chi là một hình thức, vì khoản nợcông bắt đầu phát sinh ngay từ lúc cam kết chi được Thủ trưởng cơ quan hànhpháp chuẩn y ( ký kết hợp đồng, quyết định tuyển dụng công chức ) Và đến khibên đồng ký kết đã thực hiện nghĩa vụ của mình, Chính phủ mà đại diện là Thủtrưởng cơ quan hành pháp cũng phải làm nghĩa vụ của Chính phủ, là trả tiền Chínhphủ không thể nào từ chối một nghĩa vụ do chính mình tạo ra và quyền lợi màmình đã thụ hưởng ( hành hoá-dịch vụ đã nhận)

Tuy nhiên, người ta vẫn có thể quan niệm rằng giá trị pháp lý của hành vihành chính phát sinh ra khoản nợ công đang bị nghi ngờ; ví dụ: có người đang khởi

tố để xin tiêu huỷ hành vi cam kết chi đó, vi phạm luật ( lạm quyền, không có lý do

Trang 28

chính đáng ) Trong khi chờ đợi quyết định về giá trị pháp lý của hành vi phátsinh ra khoản nợ công, Thủ trưởng cơ quan sử dụng ngân sách có thể tạm đình chỉviệc ra lệnh trả tiền.

Ngoài ra, Thủ trưởng cơ quan sư dụng ngân sách là nhân viên quyết định tốihậu về trả tiền Rất có thể thủ tục chuẩn bị quyết định đó do các nhân viên khácthực hiện chưa được kiện toàn hoặc không hợp thức Trong trường hợp này, Thủtrưởng cơ quan cũng có thể từ chối không ra lệnh trả trả tiền

Đến đây chúng ta đã thấy rõ: sự kiểm soát chi xảy ra đồng thời với quá trìnhchuẩn chi, ngoài ra, tại một số nước ngoài người ta còn tổ chức cơ quan kiểm soátchuẩn – chi độc lập với cơ quan kiểm soát ngân sách

1.2.1.5 Phát ngân ( trả tiền cho người thụ hưởng)

Theo luật lệ hiện hành, quyền chuẩn – chi là một quyền chuyên quyết, vì chỉ

có Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách mới có những yếu tố thực tế về kế toán

để xét đoán xem, đã có thể trả tiền được chưa Tuy nhiên, lệnh trả tiền phải đượckiểm soát viên kiểm nhận trước khi thực sự trả tiền cho người thụ hưởng

Thật vậy, theo luật lệ, cơ quan Kho bạc chịu trách nhiệm trả tiền cho ngườithụ hưởng, với nhiệm vụ này, nhân viên Kho bạc chịu trách nhiệm bản thân về sựhợp pháp, hợp thức của các vụ xuất tiền ra khỏi công quỹ Vì vậy, nhân viên Khobạc phải kiểm soát xem các việc chi tiêu có hợp pháp, hợp thức không? hồ sơchứng từ chứng minh có đầy đủ và phù hợp không? Hay nói một cách tổng quát,việc chi tiêu có tuân thủ thủ tục ngân sách không? Nếu tất cả đều đầy đủ vàđúng luật thì Kho bạc trả tiền cho người thụ hưởng Tuy nhiên, trước khi trả tiền,Kho bạc còn kiểm tra tính chất pháp lý của người thụ hưởng

1.2.2 Những vấn đề pháp lý liên quan đến thủ tục chi tiêu ngân sách.

1.2.2.1 Chỉ danh ngân sách

Thường các khoản thu chi ngân sách đều được dự trù trước, trong mộtvăn kiện gọi là Ngân sách Thời gian thi hành Ngân sách ( từ ngày bắt đầu thực hiệncho đến ngày kết thúc) gọi tắt là tài khoá Theo Luật ngân sách hiện hành, tài khoágồm 1 năm dân sự ( 12 tháng) và người ta chỉ danh ngân sách bằng năm dân sự hiệnhành

Trang 29

Thời gian thi hành Ngân sách có thể trùng với năm dương lịch Chế độ nàyhiện áp dụng ở Việt Nam Cũng có nước thi hành Ngân sách trong một thời giankhác với năm dương lịch, ví dụ từ ngày 01/7 năm nay đến ngày 30/6 năm sau Trongtrường hợp này người ta chỉ danh tài khoá ( niên độ ngân sách) bằng năm dươnglịch trước, ví dụ tài khoá đi từ ngày 01/07/2014 đến ngày 30/06/2015 thì gọi là tàikhoá

2014 Chế độ này hiện đang áp dụng tại một số nước như Hợp chủng quốc Hoa Kỳ,Đức, Nhật

1.2.2.2 Phương pháp quản lý ngân sách

Sự thực hiện ngân sách có thể theo phương pháp quản lý thường ( niên độhay niên khoá hay năm dân sự) hoặc theo phương pháp tài khoá

a.Phương pháp quản lý thường.

Theo phương pháp này, ngân sách dự trù các khoản thu sẽ được thực hiệnthật sự ( thực thu) và các khoản chi phải được trả tiền trong niên khoá tài chính,nghĩa là các nghiệp vụ thực hiện lần lượt từ ngày đầu niên khoá đến khi niên khoákết thúc, thì sự thực hiện các nghiệp vụ thu chi phải ngưng cùng một lúc Nói mộtcách khác, nghiệp vụ thực hiện trong năm nào thì phải trả tiền, thu tiền và hạchtoán, quyết toán vào ngân sách năm đó Phương pháp này chú trọng đến giai đoạncuối cùng của nghiệp vụ: Sự trả tiền và sự thu tiền

Như vậy, bảng quyết toán gồm tất cả các nghiệp vụ ( chi tiêu và trả tiền;thu và hành thu ) thực hiện trong một niên khoá, dù các nghiệp vụ phát sinh cáckhoản thu – chi thuộc niên khoá hiện hành hay thuộc về niên khoá trước

Đây là phương pháp quản lý được một số nhà tài chính học tán thành, được

áp dụng trong kế toán thương mại và trong kế toán của các kế toán viên công ngân

b.Phương pháp tài khoá

Trái với phương pháp quản lý, theo phương pháp tài khoá, các nghiệp vụ phát sinhcác khoản thu và chi tiêu trong thơi gian thuộc về năm nào, phải ghi vào tài khoánăm đó Nếu Chính phủ có chậm trả tiền, cũng không phải vì lý do đó mà đem việctrả tiền ghi vào tài khoá sau

Nói một cách khác, mọi tác động về chi tiêu ( trả tiền) đều căn cứ vào thờigian của hành vi phát sinh ra khoản nợ Nếu hành vi đó xảy ra trong năm dương lịch

Trang 30

( dân sự) dùng để chỉ danh tài khoá, chi tiêu thuộc hành vi trên sẽ ghi vào tài khoánăm đó Như vậy, theo nguyên tắc chung, bất cứ một hành vi nào phát sinh rakhoản nợ của Quốc gia cũng phải xảy ra trước ngày cuối cùng của năm dương lịch (31/2) mới có thể ghi vào tài khoá năm đó ( trường hợp tài khoá chính thức bắt đầu

Ví dụ: nếu sự cam kết chi là việc tuyển dụng nhân viên, nhân viên đó phảithực sự nhận việc trước ngày 31/12; nếu là việc mua sắm vật liệu, vật liệu đó phảiđược cung cấp trước ngày 31/12; nếu công tác xây lắp, khối lượng xây lắp đó phảiđược hoàn thành trước ngày 31/12

Vậy ta có thể định nghĩa, tài khoá là sự tập hợp trong một hệ thống kế toántất cả các công việc đã thực hiện và các quyền thụ hưởng ( quyền đòi nợ) đã đượcxác lập từ đầu năm đến cuối năm chỉ danh tài khoá, không kể đến ngày thật sự trảtiền

Trong thực tế, nếu á dụng triệt để kế toán theo tài khoá, công tác quyết toán

và kiểm soát các số liệu kế toán có thể kéo dài mãi, vì phải chờ trả tiền hết các khoản

nợ của nhà nước đã phát sinh trong tài khoá đó Vì không thể chờ đơi mã mãi, LuậtNSNN phải ấn định một thời hạn mà người ta có thể cho rằng một tài khoá đã đượckết thúc Sau thời hạn đó, mặc dù theo nguyên tắc, các chi tiêu vẫn có thể coi nhưthuộc về một tài khoá, nhưng trong thực tế, Chính phủ sẽ không trả tiền cáckhoản chi tiêu đó vào tài khoá chính thức nữa

Thời hạn tính từ ngày cuối năm dân sự ( 31/12) dùng để chỉ danh tài khoáđến ngày coi tài khoá là kết thúc, gọi là thời gian chỉnh lý ngân sách (đúng hơn,

Trang 31

gọi là thời gian bổ túc) Trong thời gian chỉnh lý, mỗi tác động chi tiêu và trả tiềntheo một quy tắc khác nhau

Trang 32

-Đối với những chi tiêu năm trước ( cam kết chi và thực hiện cam kết chi đó),nhưng ghi rõ để trả tiền trong tài khoá sau Do vậy, ngày từ ngày 01/01, các việc trảtiền cho những chi tiêu trên được phép thực hiện và hạch toán vào tài khoá mới( hiện hành); tuy các hành vi chi tiêu phát sinh ở tài khoá trước.

-Trái lại, trong những trường hợp đặc biệt, có thể xin chuyển hạn cho nhữngcông tác hoặc cung cấp vật liệu đã cam kết chi từ trước, nhưng chưa thực hiệnkịp vào ngày cuối năm, vì những lý do kinh tế kỹ thuật hoặc lý do bất khả kháng.Việc chi tiêu và trả tiền vẩn được tiếp tục trong thời gian chỉnh lý ngân sách và hạchtoán vào tài khoá trước

-Đối với chi tiêu về đầu tư xây dựng cơ bản thì những khối lượng công tác đãhoàn thành và được nghiệm thu trước ngày 31/12 nhưng chưa thanh toán, vì bất kỳ

lý do gì, nhưng công tác đó sẽ được thanh toán trong một thời hạn nhất định thuộcthời gian chỉnh lý ngân sách và hạch toán vào tài khoá trước

Tuy nhiên, giá trị các khoản cam kết chi và được phép trả tiền trong thời gianchỉnh lý ngân sách được giới hạn trong phạm vi cho phép của quỹ ngân sách thuộctài khoá trước ( tài khoá đang bổ túc)

1.2.2.3 Chế độ pháp lý của các khoản nợ công

Như được trình bày ở phần trên, các khoản nợ Quốc gia phầnnhiều phát sinh do các hành vi hành chính ( hành vi pháp lý), nhưng Quốc gia làmột con nợ đặc biệt nên không theo hẳn chế độ thông thường mà còn phụ thuộcvào chế độ pháp lý riêng

-Sự hợp pháp của cam kết chi và thể thức tài chính –ngân sách.

Có nhiều hành vi hành chính ( cam kết chi) rất hợp pháp, ví dụ mộthợp đồng ký kết với nhà cung cấp vẫn có giá trị, một khi hợp đồng đó tuân thủ đầy

đủ các quy định pháp luật, và nhà cung cấp đã thực hiện đầy đủ các nội dung camkết theo hợp đồng, nhưng đứng về phương diện tài chính ngân sách thì cam kết chi

đó không hợp thức, vì kinh phí để tài trợ cho hợp đồng đó không được ghi trong dựtoán ngân sách hoặc kinh phí liên hệ đã sử dụng hết

Như vậy, khoản nợ công đã thực sự phát sinh ( vẫn có), điều đó ngụ ýrằng, sự bất hợp thức về phương diện tài chính – ngân sách không ảnh hưởngtrực

Trang 33

+Trái lại, sự hợp pháp của hành vi hành chính ( cam kết chi) cũng không thểche đậy sự bất hợp thức về phương diện tài chính ngân sách.

+Nhưng, nếu một cam kết chi vừa bất hợp pháp về phương diện hành chínhvừa bất hợp thức về phương diện tài chính – ngân sách thì cam kết chi đó vô giá trị

-Sự mất hiệu lực thanh toán một khoản nợ công

Nếu một khoản chi tiêu công không được thanh toán, chuẩn – chi và trả tiềntrong một thời hạn nhất định kể từ ngày bắt đầu tài khoá, chủ nợ sẽ mất quyềnthanh toán (đòi nợ) Một câu hỏi đặt ra là: Tại sao chế độ pháp lý lại quy định mấtquyền đòi nợ Chính phủ của các nhà cung cấp, một khi họ hoàn thành nghĩa vụ của

mình? Vì các lý do sau: Một là, các nhà làm luật không muốn các khoản nợ công

kéo dài mãi mãi và sự gia tăng của nó thường nằm ngoài tầm kiểm soát của cơ

quan lập pháp Hai là, tình trạng tài chính quốc gia thực sự phải thể hiện trong báo

cáo ngân sách hàng năm mà Chính phủ đã đệ trình ra Quốc hội Và cuối cùng là, đểbảo vệ lợi ích kinh tế của các chủ thể kinh tế có quan hệ thương mại với nhà nước.Nếu không có chế tài này, các cơ quan hành chính với những đặc quyền riêng biệt cóthể trì hoàn việc trả tiền cho các nhà cung cấp và hậu quả không chỉ tác hại đến nhà

cung cấp mà còn làm tổn thương đến đời sống kinh tế - xã hội Sau cùng ,là những

vấn đề kế toán, kế toán viên không thể theo dõi các dữ liệu kế toán một cách vô thờihạn

1.3 KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ VAI TRÒ CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC.

Chi tiêu ngân sách vận dụng một số tiền rất lớn, mà số tiền này phần lớn do tưnhân đóng góp bằng cách này hay cách khác Cũng chính vì vậy, người ta cho rằng,cần ấn định các thủ tục chi và kiểm soát chi chặt chẽ, không những về hình thức màcòn cả về nội dung các khoản chi Và, để đạt những mục tiêu công khai, minh bạch,

sự kiểm soát phải do nhiều cơ quan khác nhau đảm nhận

Trang 35

Tuỳ theo tiêu chuẩn phân loại, người ta có thể phân biệt nhiều loại kiểm soát và do các cơ quan khác nhau đảm nhận

1.3.1.1 Phân loại kiểm soát.

-Kiểm soát đối tượng thực hiện chi và trả tiền

+Kiểm soát người quyết định chi và ra lệnh trả tiền ( chủ tài khoản chi

Trang 36

ngân sách)

+Kiểm soát người thực hiện chi trả ( người xuất công quỹ - cơ quanKho bạc Nhà nước)

-Về phương diện mục tiêu kiểm soát:

+Kiểm soát những sự biển thủ công quỹ

+Kiểm soát những sự bất hợp về ngân sách

-Về phương diện thời gian kiểm soát:

+Kiểm soát trước khi chi, hay tiền kiểm

+Kiểm soát đồng thời với việc thi hành, hay kiểm soát trong

+Kiểm soát sau khi thi hành, hay kiểm soát sau ( hậu kiểm)

-Về phương pháp kiểm soát:

+Kiểm soát tại chỗ

+Kiểm soát giấy tờ

Nhưng để có một ý niệm tổng quát, ta có thể đứng về phương diện các cơ

quan phụ trách việc kiểm soát

1.3.1.2 Tổ chức các cơ quan phụ trách trong việc kiểm soát

Mọi loại kiểm soát trên đều do quyền hành pháp tự tổ chức, để kiểm soátcác cơ quan có nhiệm vụ thi hành ngân sách

Trước hết,các cơ quan hành chính, có nhiệm vụ giúp người đứng đầu cơ

quan hành pháp trong việc thi hành ngân sách phải tổ chức kiểm soát các cơ quan

sử dụng ngân sách trực thuộc, sao cho thi hành ngân sách được hợp pháp

Hai là, Cơ quan tài chính phụ trách việc thi hành ngân sách,lẽ dĩ nhiên phải có

những cơ quan phụ trách đặc biệt về kiểm soát ( thanh tra tài chính), mà thẩmquyền không những ở trong phạm vi nội bộ Bộ Tài chính mà còn lan rộng đếnnhững cơ quan khác

Trang 37

Sau cùng,phải dành cho cơ quan có thẩm quyền quyết định ngân sách được

kiểm soát xem các quyết định của mình có được thi hành hay không Đây là kiểmsoát chính trị của quyền lập pháp

Tuy nhiên, khi phân tích tỉ mỹ các cơ quan phụ trách việc kiểm soát cũngphức tạp như các cơ quan phụ trách việc thi hành ngân sách

1.3.2 Nhiệm vụ kiểm soát chi của Kho bạc.

Kho bạc Nhà nước với nhiệm vụ cơ bản là xuất nhập công ngân và giữ gìncông quỹ Với nhiệm vụ này, một khi nhân được lệnh trả tiền, cơ quan Kho bạc cónhiệm vụ trả tiền cho chủ nợ Quốc gia Nhưng nhiệm vụ của Kho bạc không chỉ đơnthuần là xuất nhập công ngân mà còn có nhiệm vụ kiểm soát xem các chi tiêu đó cóhợp pháp không? Thể thức chi tiêu có phù hợp thể thức ngân sách không? Ngườithụ hưởng có thật sự là chủ nợ của Quốc gia không? Nghĩa là Kho bạc tiến hành

kiểm soát sư cam kết chi và chuần –chi.

1.3.2.1 Kiểm soát sự hợp pháp của cam kết chi và chuẩn chi

Tính chất pháp lý của lệnh chuẩn – chi thật là tế nhị Trước tiên người ta thấyrằng, chữ ký của Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hay người uỷ quyền cùng với

kế toán trưởng đã được đăng ký ( lưu ký) tại cơ quan Kho bạc Như vậy, việc kiểmsoát của Kho bạc về thẩm quyền ra Lệnh chi trả, chỉ có tính cách hình thức và máymóc

Ngoài ra, tính chất pháp lý của lệnh trả tiền còn phụ thuộc vào việc chấphành nguyên tắc và điều kiện chi ngân sách hay nói một cách khác, quyền ra lệnhtrả tiền là quyền độc lập của Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách, nhưng quyền

đó phải tuân theo luật lệ tài chính nhà nước hiện hành, cụ thể:

- Các lệnh trả tiền phải được phát hành trong phạm vi kinh phí đã được ghitrong dự toán ngân sách và phù hợp với chi tiêu liên hệ

- Dự toán ngân sách được duyệt cho từng loại chi, đối tượng chi là mức kinhphí tối đa mà đơn vị được phép quyết định chi và ra Lệnh trả tiền Thực chất đó là

sự hoá bằng tiền của các hàng hoá, dịch vụ được phép mua và sử dụng Ví dụ: Lệnhtrả tiền công tác mua sắm, sửa chữa không được vượt quá kinh phí mua sắm, sửachữa ghi trong dự toán ngân sách

Trang 38

định chi tiêu của nhân viên có thẩm quyền là hành vi căn nguyên ( căn cứ vànguyên nhân) cho sự thanh toán và trả tiền mà kế toán viên phải thực hiện Nhưngquyết định đó phải đúng luật lệ hiện hành Nếu không, lệnh đó sẽ vô giá trị đối với

kế toán viên, ví dụ: Lệnh trả tiền mua xe ô tô trong lúc Chính phủ quyết định tạmthời chưa được mua xe ô tô trong điều kiện thắt chặt ngân sách

- Các Lệnh trả tiền chỉ được phát hành khi có đầy đủ các chứng từ chứngminh công tác đã thực sự hoàn thành Hơn nữa, những chứng từ chứng minh phảiđược thiết lập đầy đủ và theo đúng mẫu do cơ quan có thẩm quyền quy định

- Người thụ hưởng phải đích thực là của chủ nợ của Quốc gia hay nói mộtcách khác không được trả tiền cho người vô quyền Ví dụ: các chứng từ chứng minh

là hàng hoá, dịch vụ do nhà thầu A cung cấp nhưng lại ra lệnh trả tiền cho nhàthầu

B

1.3.2.2 Kiểm soát tính hợp thức của lệnh trả tiền và hồ sơ liên hệ.

Sự kiểm soát của Kho bạc phải đặc biệt chú trọng đến sự hợp thức của Lệnhtrả tiền và hồ sơ chứng từ thanh toán, sự hợp thức bao gồm nhiều vấn đề kỹ thuậtnghiệp vụ như: kỹ thuật thực hiện ngân sách, kỹ thuật nghiêp vụ kế toán, nghiệp vụđấu thầu mua sắm hàng hoá dịch vụ

Chính những hình thức kỹ thuật nghiệp vụ đã được đặt ra, đã phần nào chế

ngự những sự lạm dụng của những người có thẩm quyền quyết định chi tiêu

Sự hợp thức về ngân sách đòi hỏi các quyết định chi tiêu phải phù hợpvới kinh phí đã dự trù trong ngân sách và chỉ có những chi tiêu đó mới được trả tiềnkịp thời Điều đó ngụ ý rằng, chi tiêu phát sinh và Lệnh trả tiền phải thuộc về mộttài khoá hoặc có sự chậm trễ việc phát hành Lệnh trả tiền thì cũng chỉ giới hạntrong thời gian chỉnh lý ngân sách, nếu không việc trả tiền sẽ gặp trở ngại

Sự hợp thức về kỹ thuật nghiệp vụ kế toán đòi hỏi việc thiết lập chứng từ trảtiền không chỉ phải tuân thủ mẫu Bộ tài chính mà còn phải tuân theo nguyên tắc ghichép chứng từ kế toán Ở đây cũng cần phải nhìn nhận những bất hợp thức về

Trang 39

chứng từ trả tiền có thể dẫn đến những tai hại không chỉ đối với người quyết địnhchi mà

Trang 40

sau đó lợi dụng những so hở này để biển thủ công quỹ.

1.3.2.3 Kiểm soát quyền thụ hưởng và các điều kiện trả tiền

Lệnh trả tiền và hồ sơ thanh toán sau khi qua giai đoạn kiểm soát vàđược chấp thuận, việc chi trả sẽ do một phát ngân viên Kho bạc thực hiện bằng việc

ký tài khoản của đơn vị thụ hưởng Tuy nhiên, trước khi trả tiền Kho bạc còn phảikiểm soát quyền thụ hưởng, thời gian, điều kiện và địa điểm thanh toán

Kiểm soát quyền thụ hưởng và điều kiện trả tiền bao gồm nhiều nội dung:danh tính, điều kiện tiền tệ, thời gian, địa điểm, phương thức thanh

tệ thanh toán cùng là một loại tiền Trong các hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ

sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, đồng tiền thanh toán phải là đồng nội tệ ( trừ một

số trường hợp ngoại lệ) Do đó, nếu cam kết chi sử dụng đồng ngoại tệ để tính toánthì phải xác định loại tỷ giá và tỷ giá thanh toán VNĐ

- Thời hạn thanh toán, thời gian thanh toán nhanh hay chậm, sớm haymuộn có tác động đến việc luận chuyển vốn, lợi tức, sự biến động của tỷ giá ( nếucó) Vì vậy, các nhà cung cấp muốn thu hồi vốn nhanh, người trả tiền thườngmuốn trả chậm, cho nên thời hạn thanh toán phải được ký kết trong hợp đồng

Ngày đăng: 01/01/2019, 19:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Chính phủ, Nghị định số 130/2005/NĐ-CP quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ
13. Chính phủ, Nghị định số 99/2007/NĐ-CP ngày 13/06/2007 của Chính phủ quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ
14. Bộ Tài chính, Thông tư số 27/2007/TT-BTC ngày 03 tháng 04 năm 2007 Hướng dẫn về quản lý, thanh toán vốn đầu tư và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tài chính
15. Bộ Tài chính, Thông tư số 130/2007/TT-BTC ngày 02 tháng 11 năm 2007 về sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư số 27/2007/TT-BTC ngày 03/4/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn về quản lý, thanh toán vốn đầu tư và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tài chính
16. Bộ Tài chính, Thông tư số 86/2011/TT-BTC ngày 17 tháng 06 năm 2011 quy định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư và vốn sự nghiệpcó tính chất đầu tư thuộc nguồn ngân sách nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tài chính

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w