Với những mục tiêu đã đặt ra, khóa luận này sử dụng phương pháp nghiên cứu hệ thống các kết quả thống kê thực tiễn, kết hợp với việc sử dụng các phương pháp liệt kê, mô tả, so sánh, phân tích, tổng hợp đồng thời vận dụng lý thuyết để làm rõ vấn đề.
Trang 1DANH MỤC VIẾT TẮT
ASEAN Association of southeast Asian nations Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
BOP Balance of Payment Cán cân thanh toán quốc tế
FDI Foreign direct investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Gross domestic product Tổng sản phẩm nội địa
IMF International monetary fund Quỹ tiền tệ thế giới
WTO World trade organization Tổ chức thương mại thế giới
Trang 2DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Cán cân thương mại Trung Quốc 1995-1999 21
Bảng 2.1: Cân đối xuất, nhập khẩu (2006-2011) 30
Đơn vị tính: Triệu USD 30
Bảng 2.2: Xuất, nhập khẩu hàng hóa và CCTM theo chủ thể (2006-2011) 32
Bảng 2.3: Hàng hóa xuất khẩu phân theo tiêu chuẩn ngoại thương 33
Bảng 2.4: Hàng hóa nhập khẩu phân theo tiêu chuẩn ngoại thương (2006-2011) 35
Bảng 2.5: Các thị trường xuất khẩu chính (2006-2011) 37
Bảng 2.6: Các thị trường nhập khẩu chính (2006-2011) 38
Bảng 2.7: Chủ thể xuất, nhập khẩu giai đoạn 2012-2014 51
Bảng 2.8: Các thị trường xuất, nhập khẩu chính 2012-2014 54
Trang 3DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Xuất, nhập khẩu và cán cân thương mại Mỹ (1960-II/2012) 19
Hình 2.1: Cán cân thương mại Việt Nam từ 2006 đến 2014 28
Hình 2.2: Giá gạo xuất khẩu Việt Nam- Thái Lan (2007-2011) 41
Hình 2.3: Tỷ giá USD/VND năm 2008-2009 43
Hình 2.4: CCTM với Trung Quốc và CCTM tổng giai đoạn 2006-2011 45
Hình 2.5: Xuất, nhập khẩu và cán cân thương mại Việt Nam (2008-2014) 50
Hình 2.6: Mười mặt hàng xuất khẩu chính 2013-2014 53
Hình 2.7: Kim ngạch nhập khẩu 10 nhóm hàng chính của Việt Nam (2013-2014) 54
Hình 2.8: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN 56
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ, sự hội nhập kinh tế thế giới
và toàn cầu hóa diễn ra ngày càng sâu rộng trên nhiều lĩnh vực Trong xu thế
đó, Việt Nam cũng mở cửa hội nhập và đạt được nhiều thành tựu, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế Tuy nhiên một kết quả tất yếu của hội nhập là kinh tế các nước ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, điều này thể hiện rất rõ qua cán cân thương mại – một tiểu bộ phận trong cán cân vãng lai thuộc cán cân thanh toán quốc tế Là một tiểu bộ phận quan trọng, tình trạng cán cân thương mại thể hiện tình trạng của cán cân vãng lai và tác động trực tiếp đến cán cân thanh toán quốc tế và thể hiện tình hình tài chính quốc gia Cán cân thương mại thâm hụt kéo dài có thể gây khủng hoảng cán cân vãng lai và nguy hại đến an ninh quốc gia Bởi thế, việc xem xét và điều chỉnh cán cân thương mại
là rất cần thiết đối với việc hoạch định chính sách và điều hành kinh tế vĩ mô Đối với Việt Nam, kể từ khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), nền kinh tế Việt Nam đã phải đối mặt với những thách thức mới và tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cùng với những khó khăn xuất phát
từ nội tại nền kinh tế dẫn đến việc cán cân thương mại thâm hụt trong một khoảng thời gian tương đối dài và chỉ mới thặng dư trong vòng 3 năm trở lại đây (2012-2014) Tuy nhiên, với con số thặng dư không hề lớn, nếu không có những biện pháp hiệu quả thì tình trạng thâm hụt rất có thể sẽ quay trở lại với cán cân thương mại Việt Nam đặc biệt là trong năm 2015 – năm mà Việt Nam phải thực hiện rất nhiều cam kết với các tổ chức thế giới.
Như vậy, ngoài việc xem xét thực trạng cán cân thương mại, Việt Nam cần phải tìm ra những biện pháp để giữ vững tình trạng thặng dư của cán cân hay
Trang 5nói cách khác là hạn chế thâm hụt trên cơ sở phân tích và tìm ra những nguyên nhân của thâm hụt cán cân thương mại
Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài được nghiên cứu với các mục tiêu sau:
Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại và cách thức điều chỉnh cán cân thương mại của một số nước trên thế giới
Đánh giá thực trạng cán cân thương mại Việt Nam qua các giai đoạn thâm hụt (2006-2011) và thặng dư (2011-2014), từ đó tìm ra các nguyên nhân gây nên thâm hụt và đánh giá những yếu tố đã tác động tích cực lên cán cân thương mại Việt Nam.
Dựa trên kinh nghiệm của một số nước và tình trạng thực tiễn tại Việt Nam để đưa ra những giải pháp thích hợp nhằm hạn chế thâm hụt cán cân thương mại tại Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý thuyết về cán cân thương mại và thực tiễn tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu
Cán cân thương mại của Việt Nam từ năm 2006 đến nay.
Phương pháp nghiên cứu.
Với những mục tiêu đã đặt ra, khóa luận này sử dụng phương pháp nghiên cứu hệ thống các kết quả thống kê thực tiễn, kết hợp với việc sử dụng các phương pháp liệt kê, mô tả, so sánh, phân tích, tổng hợp đồng thời vận dụng
lý thuyết để làm rõ vấn đề.
Trang 6Cấu trúc của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, các danh mục tài liệu và phần kết luận, nội dung của khóa luận gồm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề về cán cân thương mại và cán cân thanh toán
quốc tế.
Chương 2: Thực trạng cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn
2006-2014.
Chương 3: Giải pháp cân bằng cán cân thương mại Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay.
Trang 7Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÁN CÂN THANH TOÁN
QUỐC TẾ VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI.
1.1 Cán cân thanh toán quốc tế
1.1.1.Khái niệm cán cân thanh toán quốc tế (Balance of payment)
Cán cân thanh toán quốc tế (BOP) được các quốc gia sử dụng chủ yếu từ sau chiến tranh thế giới thứ hai theo tinh thần của Hiệp ước Bretton Woods Tại thời điểm này, cán cân thanh toán quốc tế chủ yếu được sử dụng để phản ánh các khoản giao dịch tiền tệ trong việc thanh toán các hàng hóa và dịch vụ giữa một quốc gia với phần còn lại của thế giới
Tuy nhiên, kinh tế thế giới đang có những biến chuyển mạnh mẽ; vì vậy, việc xác định những giao dịch kinh tế được phản ảnh vào BOP ngày càng trở nên phức tạp và việc đưa các quan hệ tiền tệ quốc tế khác ngoài thanh toán hàng hóa, dịch vụ vào cán cân thanh toán là điều tất yếu bao gồm: tín dụng quốc tế, đầu tư quốc tế và chuyển giao tiền tệ quốc tế một chiều Đồng thời, các giao dịch kinh tế được phản ảnh cũng bao gồm các hoạt động khác không thuộc nền kinh tế như: các hoạt động về văn hóa-xã hội, chính trị, quân sự, ngoại giao… Do đó, năm 1993, IMF đã đưa ra khái niệm về cán cân thanh toán quốc tế và được nhiều quốc gia công nhận và sử dụng rộng rãi chỉ rõ các giao dịch tiền tệ thuộc BOP là giữa người cư trú (Residents) với người không
cư trú (Nonresidents) của quốc gia đó.
Ngoài ra, các tài liệu về kinh tế vĩ mô, tài chính quốc tế, thanh toán quốc tế cũng đưa ra các định nghĩa về cán cân thanh toán Nhưng về cơ bản, các khái
niệm trong các tài liệu này là giống nhau: “Cán cân thanh toán quốc tế là
bảng ghi chép phản ánh tổng hợp tất cả các giao dịch kinh tế giữa người cư
Trang 8trú và người không cư trú của quốc gia cho từng khoảng thời gian nhất định.”1
Tại Việt Nam, Chính phủ đã ban hành một số văn bản pháp luật về cán cân thanh toán quốc tế như sau:
Khoản 17, điều 4, Pháp lệnh ngoại hối số 28/2005: “Cán cân thanh toán quốc tế là bản cân đối tổng hợp thống kê một cách có hệ thống toàn bộ các giao dịch kinh tế giữa Việt Nam và các nước khác trong một thời kỳ nhất định.
Khoản 2, điều 3, Nghị định số 16/2014 về quản lý cán cân thanh toán của Việt Nam: “Cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam (sau đây gọi tắt
là cán cân thanh toán) là báo cáo thống kê tổng hợp các giao dịch giữa người cư trú và người không cư trú trong một thời kỳ nhất định.”
Như vậy, định nghĩa về cán cân thanh toán được quy định trong các văn bản đã được ban hành tại Việt Nam cũng đều tương đồng với khái niệm của IMF Và chúng ta có thể nhận thấy các thuật ngữ đều được xuất hiện trong các định nghĩa: “giao dịch kinh tế (giao dịch)”, “người cư trú”, “người không
cư trú”.
Giao dịch kinh tế có thể hiểu là sự vận động qua lại của hàng hóa, dịch
vụ, thu nhập và các tài sản tài chính khác giữa các tổ chức và cá nhân vì những mục đích lợi ích vật chất trước mắt hoặc lâu dài.
“Người cư trú” và “người không cư trú” được quy định theo luật của các quốc gia và tương đối thống nhất Việc xác định một chủ thể kinh tế thuộc về “người cư trú” hay “người không cư trú” chủ yếu dựa trên hai yếu tố: thời gian cư trú hay sinh sống, làm việc và nguồn thu nhập
Trang 9Tại Việt Nam, hai khái niệm này được quy định cụ thể tại khoản 2 và khoản 3, điều 4, Pháp lệnh ngoại hối 2005 và khoản 2 điều 1, Pháp lệnh sửa chữa và bổ sung một số điều của pháp lệnh ngoại hối, năm 2013 Tuy nhiên,
về cơ bản, “người cư trú” theo luật định phải đáp ứng hai yêu cầu:
1) Thời gian làm việc, sinh sống tại Việt Nam từ 12 tháng trở lên.
2) Có nguồn thu nhập tại Việt Nam.
Ngoài ra, một số trường hợp đặc biệt cần lưu ý:
Các tổ chức quốc tế như WTO, IMF, WB,… đều là “người không cư trú” với mọi quốc gia.
Các cá nhân là học sinh, sinh viên, bệnh nhân, quân nhân, nhân viên ngoại giao, kể cả người nhà đi cùng sinh sống tại nước ngoài đều không được coi là “người cư trú’ của quốc gia đó bất kể thời gian họ sống ở nước ngoài là bao lâu.
Các công ty đa quốc gia dược coi là “người cư trú” đồng thời tại nhiều quốc gia, các chi nhanh đặt tại quốc gia nào thì được coi là “người cư trú”
ở quốc gia đó.
Các tổ chức bao gồm: các lãnh sự quán, đại sứ quán và căn cứ quân sự luôn là “người không cư trú” của nước mà tổ chức đó đóng trú.
1.1.2 Kết cấu của cán cân thanh toán quốc tế
CCTTQT bao gồm 5 nội dung chính được gọi là 5 hạng mục bao gồm: Cán cân vãng lai, cán cân vốn và tài chính, lỗi và sai sót, cán cân tổng thể, cán cân bù đắp chính thức.
Trang 101.1.2.1 Cán cân vãng lai (Tài khoản vãng lai – Current Account – CA).
“Cán cân vãng lai bao gồm toàn bộ các giao dịch giữa người cư trú và người không cư trú về hàng hóa, dịch vụ, thu nhập của người lao động, thu nhập từ đầu tư, chuyển giao vãng lai được quy định tại Điều 14, Điều 15, Điều 16 và Điều 17 của nghị định này.”2 Trong đó, các điều 14, điều 15, điều 16, điều 17 chỉ rõ các thuật ngữ hàng hóa, dịch vụ, thu nhập và chuyển giao vãng lai được đưa vào BOP.
Những giao dịch dẫn tới sự thanh toán của người cư trú cho người không cư trú được ghi vào bên “Nợ” (theo truyền thống kế toán sẽ ghi bằng mực đỏ), và ngược lại, những giao dịch dẫn đến sự thanh toán của người không cư trú đối với người cư trú được ghi vào bên “Có” (theo truyền thống kế toán sẽ ghi bằng mực đen) Thặng dư tài khoản vãng lai xảy ra khi bên “Có” lớn hơn bên “Nợ”.
Cán cân vãng lai bao gồm bốn cán cân tiểu bộ phận sau: Cán cân thương mại (Trade balance), cán cân dịch vụ (Services), cán cân thu nhập (Incomes) và cán cân chuyển giao vãng lai (Current transfers).
a)Cán cân thương mại (Trade balance)
Cán cân thương mại phản ánh chênh lệch giữacác khoản thu từ xuất khẩu và các khoản chi cho hoạt động nhập khẩu Các khoản thu từ xuất khẩu được ghi “Có” với dấu “+” và các khoản chi cho nhập khẩu được ghi
“Nợ” với dấu “–” Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại: tỷ giá hối đoái, lạm phát, thu nhập quốc dân trong và ngoài nước, giá
cả hàng hóa, chính sách thương mại quốc gia,…
2Mục a Khoản 1 Điều 13 Nghị định 16/2014/NĐ-CP về Quản lý cán cân thanh toán quốc tế của
Trang 11b)Cán cân dịch vụ (Services)
Cán cân dịch vụ phản ánh các khoản thu chi liên quan đến dịch vụ vận tải (cước phí vận chuyển, chi phí thuê tàu, lưu kho, bến bãi,…), du lịch, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, y tế, giáo dục và các dịch vụ khác
Bản chất của cán cân dịch vụ giống với cán cân thương mại nhưng gắn với việc xuất nhập khẩu dịch vụ Việc ghi chép cán cân dịch vụ vào BOP cũng tương tự như cán cân thương mại: Khi nhập khẩu dịch vụ sẽ làm phát sinh cầu ngoại tệ và ghi vào “–” vào bên “Nợ”, các dịch vụ cung ứng cho
“người không cư trú” sẽ tăng thu ngoại tệ và sẽ ghi “+” vào bên “Có” Các nhân tố ảnh hưởng đến cán cân dịch vụ cũng tương đồng với các nhân tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại: tỷ giá, lạm phát, chính sách thương mại quốc gia, thu nhập quốc dân,…
c)Cán cân thu nhập (Incomes)
Cán cân thu nhập phản ánh các dòng tiền về thu nhập bao gồm:
Thu nhập của người lao động (tiền lương, tiền thưởng, thu nhập khác) của “người cư trú” trả cho “người không cư trú” và ngược lại.
Thu nhập từ các khoản đầu tư: tiền lãi cổ tức, lãi đến hạn trả giữa
“người cư trú” và “người không cư trú”.
Thu nhập được chuyển từ “người không cư trú” đến “người cư trú” được ghi vào bên “Có” mang dấu “+” và ngược lại chuyển đến “người không cư trú” ghi “–” vào bên “Nợ”
Các nhân tố ảnh hưởng đến cán cân thu nhập bao gồm: quy mô thu nhập (mức lương, tỷ lệ sinh lời) và các yếu tố kinh tế-chính trị-xã hội.
Trang 12d)Cán cân chuyển giao vãng lai (Current transfers)
Phản ánh các khoản chuyển giao một chiều không hoàn lại bao gồm: viện trợ không hoàn lại, quà tặng, cho, biếu, các khoản trợ cấp và các khoản chuyển giao bằng tiền và hiện vật khác cho mục đích tiêu dùng Các khoản làm phát sinh chi ngoại tệ thì ghi “–” vào bên “Nợ” và thu được ngoại tệ thì ghi “+” vào bên “Có”.
Việc thực hiện các khoản chuyển giao một chiều chủ yếu phụ thuộc vào môi trường kinh tế, mối quan hệ ngoại giao và tình cảm giữa hai bên.
1.1.2.2.Cán cân vốn và tài chính (Capital and financial account – KA)
Nói một cách đơn giản, cán cân vốn và tài chính được sử dụng để phản ánh toàn bộ các luồng vốn đầu tư và tài trợ vào, ra của quốc gia.3
Cán cân vốn và tài chính gồm các cán cân tiểu bộ phận sau:
Cán cân vốn ngắn hạn: gồm các luồng vốn ngắn hạn: hoạt động tiền gửi, vay và cho vay thương mại ngắn hạn, mua bán các giấy tờ có giá ngắn hạn,
Cán cân vốn dài hạn: gồm các luồng vốn dài hạn chảy vào và chảy
ra khỏi một quốc gia: vốn đầu tư trực tiếp, vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, vay tín dụng dài hạn, các khoản viện trợ,…
Cán cân chuyển giao một chiều: gồm các khoản viện trợ không hoàn lại cho mục đích đầu tư và các khoản nợ được xóa.
Các cân tiền gửi ngoại tệ trong hệ thống NHTM: phản ánh tất cả các khoản ngoại tệ nằm trên tài khoản tại các NHTM.
3Mục b; Mục c Khoản 1 Điều 13Nghị định 16/2014 /NĐ-CP vê Quản lý cán cân thanh toán quốc tế
Trang 131.1.2.3.Lỗi và sai sót (Omission and Mistake – OM)
Trên thực tế, công việc thống kê luôn xảy ra những nhầm lẫn, sai sót, làm ảnh hưởng dù rất nhỏ đến kết quả tổng hợp thống kê cuối kỳ, gây ra các sai sót thống kê, và chỉ số OM được sinh ra để biểu diễn cho những thiếu sót trong thống kê CCTTQT Nguyên nhân của những sai sót thống
kê có thể bắt nguồn từ việc các hóa đơn thương mại được lập, ghi và xác định theo các cách khác nhau, tại thời điểm khác nhau
1.1.2.4.Cán cân tổng thể (Overall Balance – OB)
Cán cân thanh toán tổng thể được xác định bằng thay đổi dự trữ ngoại hối Nhà nước chính thức do giao dịch tạo ra trong kỳ báo cáo.4 Nói cách khác, cán cân tổng thể phản ảnh tất cả các giao dịch kinh tế giữa “người cư trú” và “người không cư trú” trong kỳ Thông thường, cán cân tổng thể chỉ được sử dụng vào thời điểm cuối kỳ để xác định số dư cuối kỳ của CA và KA.
Trang 141.2 Cán cân thương mại (Trade balance)
1.2.1 Khái niệm và các nhân tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại
Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán quốc tế Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là quý hoặc năm) cũng như mức chênh lệch giữa chúng (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) Từ
đó, cán cân thương mại sẽ có ba trạng thái:
Cán cân thương mại thâm hụt: Khi mức chênh lệch nhỏ hơn 0.
Cán cân thương mại cân bằng: Khi mức chênh lệch bằng 0.
Cán cân thương mại thặng dư: Khi mức chênh lệch lớn hơn 0.
Tuy nhiên, để cán cân thương mại nằm ở trạng thái cân bằng là rất khó khăn và gần như là không thể Vì vậy, ta thường thấy cán cân thương mại của các quốc gia được xác định ở hai trạng thái chính là thâm hụt hoặc thặng dư
Có rất nhiều nhân tố tác động trực tiếp đến cán cân thương mại của một quốc gia, bao gồm các nhân tố chính sau đây:
1.2.1.1 Năng lực cạnh tranh của hàng hóa trong nước
Cán cân thương mại biểu diễn sự chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu, do đó năng lực cạnh tranh của hàng hóa trong nước có thể coi là nhân tố quan trọng nhất tác động đến cán cân thương mại bởi nó ảnh hưởng rất lớn và trực tiếp đến lượng xuất khẩu, nhập khẩu của hàng hóa Nếu hàng hóa của một quốc gia có khả năng cạnh tranh cao có thể “đánh bại” hàng hóa cùng loại của các quốc gia khác không chỉ trên thị trường nội địa mà trên cả thị trường thế giới, thông qua đó tăng lượng xuất khẩu
và giảm lượng nhập khẩu của hàng hóa
Trang 15Khả năng cạnh tranh của hàng hóa phụ thuộc vào ba nhóm yếu tố chính sau:
Nhóm nhân tố liên quan đến chất lượng, thương hiệu,… của sản phẩm xuất khẩu Đây là nhóm nhân tố quyết định đến năng lực cạnh tranh của hàng hó Có thể thấy rõ, một hàng hóa có chất lượng cao hơn
và uy tín hơn trên cùng một thị trường sẽ dễ dàng được người tiêu dùng lựa chọn hơn so với các hàng hóa cùng loại khác Ngoài ra, các yêu cầu
về chất lượng hàng hóa ngày càng được kiểm soát nghiêm ngặt, các hàng hóa có chất lượng cao sẽ dễ dàng thâm nhập được vào các thị trường khó tính bên cạnh các thị trường truyền thống của doanh nghiệp.
Nhóm nhân tố liên quan đến giá cả hàng xuất khẩu, bao gồm: chi phí đầu vào, năng suất lao động, tỷ giá hối đoái,… Vấn đề giá cả bao giờ cũng được đề cập đến trong năng lực cạnh tranh của hàng hóa khi xét đến các điều kiện khác là tương đồng.
Tính đa dạng của hàng hóa xuất khẩu tại thị trường nước ngoài: Nếu thị trường nước ngoài có nhiều hàng hóa tương đương hoặc có khả năng thay thế thì điều kiện cạnh tranh sẽ khắc nghiệt hơn.
1.2.1.2 Chính sách tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái (sau đây gọi tắt là tỷ giá
và chính sách tỷ giá) rất quan trọng đối với quốc gia vì nó tác động trựng tiếp đến giá cả hàng hóa của quốc gia so với các quốc gia khác Tỷ giá tác động đến cán cân thương mại được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa cung – cầu về hàng hóa xuất, nhập khẩu với tỷ giá hối đoái trên thị trường Khi tỷ giá đồng tiền của quốc gia tăng lên, đồng nghĩa với việc sức mua của đồng nội tệ giảm đi, giá cả hàng hóa trong nước sẽ rẻ tương đối so với giá cả hàng hóa thế giới trên cả thị trường trong nước và thị trường thế
Trang 16giới Do đó, khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu tăng và nhu cầu nhập khẩu hàng hóa của thị trường trong nước giảm, hai điều này đều đồng thời tác động tích cực lên cán cân thương mại (đưa cán cân thương mại tiến gần đến thặng dư) Và ngược lại, khi tỷ giá giảm, sức mua của nội
tệ tăng tương đối, sẽ tác động xấu đến cán cân thương mại, làm trầm trọng hơn thâm hụt cán cân thương mại.
1.2.1.3 Chính sách thương mại quốc gia
Chính sách thương mại quốc tế bao gồm các quan điểm, nguyên tắc và biện pháp thích hợp dùng để điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định, nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế-chính trị-văn hóa của quốc gia đó.
Có hai xu hướng chủ yếu chi phối đến chính sách thương mại quốc tế của một quốc gia: bảo hộ mậu dịch và tự do hóa thương mại Hai xu hướng này có tác động gần như là ngược chiều đến cán cân thương mại quốc tế của một quốc gia:
Xu hướng bảo hộ mậu dịch: là việc sử dụng một số tiêu chuẩn thuộc các lĩnh vực như: chất lượng, vệ sinh, an toàn, lao động, môi trường, xuất khẩu,… hay áp dụng các mức thuế xuất nhập khẩu (chủ yếu là thuế nhập khẩu) đối với một ngành hàng nào đó để bảo vệ sản xuất trong nước
Trong ngắn hạn: Bảo hộ thương mại thực hiện khá tốt mục tiêu cải thiện cán cân thương mại của quốc gia nhờ việc hạn chế nhập khẩu một
số mặt hàng hoặc số lượng một số mặt hàng khác, từ đó giảm thâm hụt thương mại
Trong dài hạn: Với trường hợp quốc gia thực hiện tỷ giá cố định, việc giảm nhập khẩu sẽ làm tăng tổng cầu trong nước và tăng thu nhập
Trang 17quốc dân, và kéo theo đó là tăng nhập khẩu và làm giảm đi hiệu quả đã đạt được trong ngắn hạn Trường hợp tỷ giá thả nổi, khi quốc gia thực hiện bảo hộ mậu dịch, nội tệ tăng giá dẫn đến giảm xuất khẩu và tác động không tốt đến cán cân thương mại Ngoài ra, việc áp dụng các công cụ bảo hộ dễ gây nên phản ứng “trả đũa” từ các quốc gia đối tác Như vậy, trong dài hạn, cả xuất khẩu và nhập khẩu đều bị thu hẹp, không những không cải thiện được cán cân thương mại mà còn tác động xấu đến sản xuất và tiêu dùng của nền kinh tế, đồng thời khiến các doanh nghiệp trong nước mất đi tính cạnh tranh quốc tế.
Xu hướng tự do hóa thương mại: Tự do hóa thương mại là việc nới lỏng sự can thiệp của Chính phủ vào việc trao đổi, buôn bán quốc tế.
Tự do hóa thương mại tạo thuận lợi cho việc thỏa mãn hai nhu cầu tất yếu của hầu hết các nền kinh tế trong thời đại toàn cầu hóa: nhu cầu bán hàng hóa, đầu tư vốn ra nước ngoài và nhu cầu mua hàng hóa, nhận vốn đầu tư từ nước ngoài Tự do hóa thương mại gắn liền với việc cắt giảm các hàng rào hạn chế thương mại như thuế quan, hạn ngạch,… và hàng rào phi thuế quan Việc tự do hóa thương mại đang là xu hướng của thời đại mới nhằm đem lại lợi ích cho tất cả các quốc gia, cho phép mỗi quốc gia có thể tận dụng lợi thế của mình và chuyên môn hóa sản xuất, tiết kiệm chi phí sản xuất thông qua việc tạo môi trường cân bằng cho tất cả các quốc gia trên cơ sở các thỏa thuận song phương, đa phương và các quy định của các tổ chức quốc tế mà các quốc gia cùng tham gia Nếu một quốc gia biết tận dụng các lợi thế của mình và các lợi ích từ tự do hóa thương mại đem lại thì có thể cải thiện được cán cân thương mại.
Trang 181.2.1.4 Lạm phát
Lạm phát ảnh hưởng đến cán cân thương mại thông qua việc tác động đến giá cả hàng hóa Xét trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, khi một quốc gia có tỷ lệ lạm phát tăng cao hơn so với các quốc gia khác thì:
Giá đầu vào tăng cao, dẫn đến giá cả hàng hóa cao hơn các nước khác, làm giảm khả năng cạnh tranh xuất khẩu.
Giá hàng hóa trong nước cao hơn so với hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài, làm tăng lượng nhập khẩu từ nước ngoài thay thế cho hàng hóa trong nước đắt đỏ.
Như vậy, sự thay đổi của xuất khẩu và nhập khẩu dưới tác động của lạm phát tăng đều làm xấu đi tình trạng của cán cân thương mại
Ngoài ra, lạm phát còn tác động gián tiếp đến hoạt động xuất khẩu, bởi
lẽ, khi lạm phát tăng sẽ tác động xấu đến tăng trưởng kinh tế của quốc gia, đến hoạt động sản xuất kinh doanh và tổng cung của nền kinh tế trong đó
có cung xuất khẩu.
1.2.1.5 Thu nhập quốc dân trong và ngoài nước
Thu nhập quốc dân trong nước tăng, người tiêu dùng có xu hướng nhập khẩu nhiều hơn và làm xấu đi tình trạng của cán cân thương mại Và ngược lại, khi thu nhập quốc dân trong nước giảm, việc nhập khẩu được hạn chế lại.
Áp dụng ngược trở lại, hoán đổi vai trò xuất nhập khẩu ta có thể thấy, khi thu nhập quốc dân ngoài nước tăng thì cầu hàng hóa của nước nhập khẩu tăng, hoạt động xuất khẩu được khuyến khích từ đó cải thiện cán cân thương mại.
Trang 19Như vậy, cán cân thương mại quan hệ tỷ nghịch với thu nhập quốc dân trong nước và tỷ lệ thuận với thu nhập quốc dân ngoài nước.
1.2.1.6 Giá hàng hóa thế giới
Giá cả luôn là yếu tố quan trọng trong việc xác định cung – cầu của hàng hóa trên thị trường Khi xét đến giá thế giới của một loại hàng hóa, chúng ta xét đến nền kinh tế nhỏ đối với hàng hóa đó Một quốc gia được coi là nền kinh tế nhỏ đối với mặt hàng X nào đó, khi quốc gia đó xuất nhập khẩu lượng hàng X rất nhỏ so với tổng lượng hàng hóa đó trên thế giới Việc tăng giảm giá thế giới sẽ tác động mạnh đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của quốc gia đó từ đó ảnh hưởng đến cán cân thương mại Khi giá trong nước cao hơn giá thế giới, hàng hóa từ nước ngoài sẽ tràn vào quốc gia đó, gây tăng lượng nhập khẩu và tăng tình trạng thâm hụt cán cân thương mại Và ngược lại, khi trong nước thấp hơn giá thế giới, hàng hóa trong nước sẽ có khả năng cạnh tranh tương đối về giá so với các hàng hóa từ các nước khác, từ đó khuyến khích xuất khẩu, và cải thiện được cán cân thương mại.
Biến động giá thế giới còn tác động lớn hơn, làm thay đổi rõ rệt hơn trong cán cân thương mại của quốc gia so với sự chênh lệch về giá tuyệt đối đã nhắc đến ở trên Đặc biệt là đối với các nước đang phát triển, xuất khẩu chủ yếu là các mặt hàng thô, sơ chế, hàm lượng kĩ thuật ít, co giãn mạnh với giá; còn nhập khẩu chủ yếu các máy móc thiết bị có hàm lượng
kĩ thuật cao, các sản phẩm đã qua chế biến, tinh luyện, co giãn ít với giá thì với sự biến động bắt thường của giá sẽ tác động lớn đến cán cân thương mại
Trang 201.2.1.7 Nguồn vốn đầu tư nước ngoài
Nếu xét đến việc các công ty đa quốc gia đầu tư vào một quốc gia theo hướng thành lập cơ sở sản xuất kinh doanh trực tiếp tại các nước khác nhau để giảm chi phí sản xuất thì việc đầu tư các doanh nghiệp này sẽ có tác dụng thay thế cho hoạt động thương mại Có thể hiểu đơn giản, khi các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất được thành lập trong nước, hàng hóa sẽ được cung cấp trực tiếp, đáp ứng các nhu cầu trong nước thay vì sản xuất
từ nước ngoài và cung cấp cho thị trường trong nước thông qua hoạt động thương mại quốc tế Như vậy, việc điều chỉnh, định hướng sử dụng nguồn vốn FDI sẽ ảnh hưởng đến cán cân thương mại của quốc gia Nếu một Chính phủ định hướng được FDI vào các ngành xuất khẩu hay các mặt hàng phụ trợ cho ngành sản xuất để xuất khẩu thì có thể cải thiện cán cân thương mại của quốc gia đó.
1.2.1.8 Tình hình kinh tế chính trị trong nước và thế giới
Sự ổn định chính trị trong nước là cơ sở vững chắc cho sự phát triển kinh tế của mộtquốc gia Một đất nước có nền chính trị ổn định, các chính sách nhất quán, môi trường kinhdoanh thuận lợi là điều kiện thiết yếu cho sự phát triển của các ngành sản xuất bao gồm cả cácngành xuất khẩu Một nền kinh tế phát triển từ bên trong sẽ có khả năng cạnh tranh cao vớihàng hóa trên thế giới ở cả thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu Đây cũng là tiền đềcho sự hợp tác với các nước, các tổ chức kinh tế, bởi lẽ một quốc gia có điều kiện chính trị ổnđịnh là môi trường đầu tư, kinh doanh lý tưởng thu hút các nhà đầu tư nước ngoài và tạo lập uytín, sự tin tưởng cần thiết cho quan hệ thương mại, tạo ra các cơ hội trao đổi thương mại, thâmnhập thị trường mới cho quốc gia
Toàn cầu hóa kinh tế đã làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa nền kinh tế của các quốcgia Việc một nền kinh tế lâm vào khủng hoảng sẽ tạo ra phản ứng dây chuyền, kéo theo sự
“sụp đổ” của rất nhiều nền kinh tế khác Khủng hoảng tài chính diễn ra trên diện rộng sẽ làmgiảm lượng cầu hàng hóa, gây khó khăn cho các nước xuất khẩu
1.2.2 Ảnh hưởng của cán cân thương mại đến nền kinh tế
Cán cân thương mại là một bộ phận quan trọng cấu thành nên cán cân vãng lai Cán cân thương mại thường cho biết xu hướng vận động của cán cân vãng lai, mức độ mở cửa, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế vì vậy, cán cân
Trang 21thương mại thặng dư hay thâm hụt cũng tác động trực tiếp, nhanh chóng đến các yếu tố trong nền kinh tế bao gồm: cung, cầu, giá cả hàng hóa và sự biến động tỷ giá, tăng trưởng kinh tế, sau đó là cung, cầu nội tệ và tình hình lạm phát trong nước.
1.2.2.1 Cán cân thương mại thặng dư (thặng dư thương mại)
Cán cân thương mại thặng dư hay thặng dư thương mại thương mại dương xảy ra khi một quốc gia có chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu lớn hơn 0 hay xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu.
Cán cân thương mại thặng dư thường đem lại những tác động tích cực cho nền kinh tế của quốc gia Một quốc gia có cán cân thương mại thặng dưcho thấy quốc gia đó có nền sản xuất trong nước tương đối phát triển, đáp ứng được yêu cầu trong nước và đem lại thêm nguồn ngoại tệ cho quốc gia
1.2.2.2 Cán cân thương mại thâm hụt (Thâm hụt thương mại).
Thâm hụt thương mại là tình trạng của cán cân thương mại khi xuất khẩu của một quốc gia nhỏ hơn lượng nhập khẩu của quốc gia đó hay xuất khẩu ròng/ thặng dư thương mại âm
Thâm hụt cán cân thương mại thường gây ảnh hưởng xấu đến cán cân thanh toán, và kinh tế quốc gia Bởi lẽ, khi nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu hay tiêu dùng nhiều hơn sản xuất trong nước, các quốc gia phải tìm kiếm các khoản ngoại tệ để chi trả cho các khoản nhập khẩu đó
Khi đó, các quốc gia thường cần đến các dòng vốn khác như: FDI, FII, vay ngắn hạn và dài hạn nước ngoài, kiều hối và ODA Như vậy thường làm tăng gánh nặng nợ cho quốc gia Và trong nhiều trường hợp, khi Cán cân thương mại thâm hụt nghiêm trọng, các quốc gia phải sử dụng nguồn
dự trữ ngoại hối để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu, làm giảm dự trữ ngoại hối
Trang 22quốc gia, nếu dự trữ ngoại hối không đủ còn gây ra hiện tượng mất giá của đồng nội tệ, tỷ giá hối đoái tăng cao gây nguy cơ khủng hoảng tài chính Thâm hụt thương mại trong một số trường hợp cũng chưa hẳn là xấu Khi nền kinh tế có khả năng hấp thụ vốn tốt, kiểm soát, điều hành lượng vốn từ nước ngoài vào nền kinh tế một cách có hiệu quả thì việc thâm hụt cán cân thương mại ở hiện tại có thể là tiền đề cho sự tăng trưởng kinh tế
và thặng dư thương mại trong tương lai.
Như vậy, sử dụng cán cân thương mại để đánh giá tình hình kinh tế của một quốc gia, chúng ta cần xem xét nó trong mối tương quan với các cán cân
Trang 23Hình1.1: Xuất, nhập khẩu và cán cân thương mại Mỹ (1960-II/2012)
1) Hỗ trợ xuất khẩu: Đây là chính sách thương mại trọng tâm của Mỹ bao gồm các biện pháp nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu:
Miễn thuế của bang và liên bang, chương trình hoàn thuế.
Hỗ trợ bảo hiểm, hỗ trợ tài chính và các công cụ tín dụng qua Ngân hàng Xuất nhập khẩu.
Hỗ trợ các sản phẩm đầu ra trong việc tiếp cận thị trường.
Trong đó, ưu tiên cho một số ngành mục tiêu gồm nông nghiệp và năng lượng, thêm nữa các hỗ trợ của Chính phủ tăng khi giá giảm.
Trang 242) Chính sách tiền tệ
Chính phủ Mỹ luôn tuyên bố ủng hộ đồng đô la mạnh, nhưng trên thực tế họ thường xuyên đẩy đồng đô la xuống thấp hơn nhằm trả nợ trái phiếu với mức giá rẻ hơn Đồng thời tăng tính cạnh tranh cho hàng hóa trong nước Ngoài ra, Chính phủ Mỹ luôn nỗ lực để làm mờ nhạt đi giá trị và quá trình in tiền cùng với việc chấp nhận lãi suất gần như bằng không để làm bàn đạp khôi phục kinh tế Những chính sách này
đã đem lại hiệu quả trong việc hạn chế thâm hụt CCTM của Mỹ.
3) Bảo hộ nền sản xuất trong nước
Mỹ đưa ra các rào cản trong việc tiếp cận thị trường Mỹ như: một số sản phẩm nông nghiệp phải đáp ứng một số yêu cầu khác so với các sản phẩm trong nước, đánh thuế cao vào các mặt hàng vượt quá hạn ngạch,
… Thuế chống bán phá giá tiếp tục được sử dụng như một biện pháp quan trọng để bảo hộ sản xuất trong nước
Ngoài ra, chính phủ Mỹ cũng sử dụng thêm các biện pháp để cắt giảm chi tiêu, và thắt chặt tiền tệ
b)Trung Quốc
Trong thời kỳ nền kinh tế được quản lý theo cơ chế tập trung, nền kinh
tế Trung Quốc liên tục gặp tình trạng thâm hụt Sau đó,từ những năm
1990, nhờ sự cải tổ nền kinh tế và những biện pháp thiết thực của Chính phủ, tình hình kinh tế Trung Quốc đã có chuyển biến tích cực và cán cân thương mại liên tục đạt thặng dư.
Bảng 1.1: Cán cân thương mại Trung Quốc 1995-1999.
Xuất khẩu 148.797 151.197 182.877 183.589 195.150
Trang 25tỷ giá hối đoái,…
1) Tận dụng lợi thế cạnh tranh và tự do hóa xuất khẩu
Trung Quốc đã tận dụng các lợi thế từ nguồn nhân công giá rẻ, dồi dào trong nước để đem lại thặng dư thương mại cho quốc gia.
Tận dụng nguồn lực bên ngoài, thu hút các doanh nghiệp FDI để thay đổi cơ cấu kinh tế quốc gia, biến Trung Quốc thành trung tâm chế biến hàng đầu, “công xưởng của thế giới” Nhờ đó, vừa đem lại nguồn hàng hóa thay thế hàng nhập khẩu, vừa tạo nguồn xuất khẩu, đem lại lợi ích thương mại cho quốc gia.
2) Hoàn thiện chính sách tỷ giá
Từ đầu năm 1990, Trung Quốc tiến hành phá giá đồng nhân dân tệ (CNY) Sau đó, liên tục đến 21/7/2005, Trung Quốc ấn định tỷ giá 8,2-8,3 CNY/USD Theo hiệp hội các doanh nghiệp
Mỹ, với tỷ giá này, đồng CNY đã bị định giá thấp hơn 40% giá trị thực, điều này đã gây ra sự bất cân bằng đối với các hàng hóa nước ngoài, mang lại lợi thế cho thu hút đầu tư và tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước
Sau đó, vào cuối tháng 7/2005, dưới áp lực của Mỹ và các đối tác thương mại lớn khác,Trung Quốc đã chuyển đổi chế độ tỷ giá Tỷ giá mới được xác định trên một rổ tiền tệ, và chophép tỷ giá giao động trong ngày là 0.3% Ngày 9/8/2005, trong bài phát biểu khai mạc trụ sởthứ 2 của NHTW tại Thượng Hải, Thống đốc NHTW Trung Quốc ZhouXia Chuan đã công bố
11 đồng tiền trong rổ, trong đó các đồng tiền chính là USD, EURO, JPY và KRW (các đồngGBP, RUR, THB cũng có mặt trong rổ tiền tệ nhưng có tỷ trọng nhỏ hơn nhiều). Mặc dù tỷ giá song phương CNY/USD giảm giá nhưng tỷ giá đa phương danh nghĩa của CNY lại có xu hướng tăng dần Như vậy, Trung Quốc vẫn duy trì được lợi thế cạnh tranh thương mại quốc tế
Trang 26Ngoài ra, Trung Quốc còn có những gói kích thích kinh tế đồng thời điều chỉnh chính sách tiền tệ từ “siết chặt” sang “nới lỏng vừa phải” Tất cả các biện pháp này đã giúp cải thiện kinh tế và đổi chiều cán cân thương mại của Trung Quốc.
c)Thái Lan
Trước khủng hoảng kinh tế năm 1997, Thái Lan là môt nước công nghệ mới, tận dụng các lợi thế mở cửa và các nguồn lực, lợi thế sẵn có, Thái Lan có tốc độ tăng trưởng khá nhanh, tuy nhiên, cán cân thương mại của Thái Lan vẫn trong tình trạng thâm hụt Sau đó, nhờ những thay đổi trong chính sách và có những bước đi phù hợp, cán cân thương mại của Thái Lan đã được cải thiện và đạt thặng dư thương mại Chính phủ Thái Lan đã
nỗ lực với những biện pháp sau: cải thiện môi trường kinh tế, cải thiện chính sách thương mại, phá giá đồng Bath.
1, Cải thiện môi trường kinh tế
Việc trải qua nhiều cú sốc về kinh tế (khủng hoảng tài chính 1997, sụt giảm kinh tế toàn cầu 2001,…), kế hoạch lần thứ 10 của Thái Lan là xây dựng nền kinh tế phản ứng linh hoạt với các cú sốc, duy trì mức đầu tư và tăng trưởng với tốc độ ổn định Thái Lan thực hiện cơ chế đầu tư thông thoáng, chú trọng vào công nghiệp, sau đó là bán buôn, bán lẻ và hoạt động xuất khẩu Điều này giúp khôi phục, phát triển bền vững sản xuất trong nước tạo đà cho xuất khẩu.
2, Cải thiện chính sách thương mại
Thái lan thực hiện các hỗ trợ dành cho các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu như hỗ trợ đầu tư, giảm chi phí hoạt động, cho vay vốn, bảo lãnh, miễn thuế cho các nguyên liệu thô nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu, thiết lập hệ thống bảo hiểm thương mại và hệ thống Ngân hàng
Trang 27xuất, nhập khẩu Bên cạnh đó là việc ưu đãi cho các ngành công nghiệp phụ trợ, điện tử, linh kiện, phụ kiện khác bằng việc miễn thuế hoặc không hạn chế vốn nước ngoài
Thành lập và hoạt động tích cực của Cục xúc tiến thương mại Thái Lan (DEP) cũng giúp thực hiện thành công chiến lược nhạy bén với thị trường DEP hỗ trợ tích cực cho doanh nghiệp: tìm hiểu thị trường, cung cấp thông tin, đào tạo kĩ năng thị trường cho doanh nghiệp, tư vấn doanh nghiệp về các vấn đề liên quan đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm,…
Tập trung cho các ngành mũi nhọn Thái Lan tận dụng các lợi thế sẵn
có về nông nghiệp và tiến hành đầu tư cho nông nghiệp về máy móc, thiết
bị, hệ thống điện nước, tưới tiêu cho nông dân nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, đa dạng hóa sản phẩm nhằm mục tiêu xuất khẩu Chính phủ Thái Lan còn ra sức tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm cho nông dân và thực hiện các hợp đồng Chính phủ-Chính phủ Ngoài ra còn thực hiện bao tiêu cho nông dân khi giá thị trường thấp Chính phủ Thái Lan cũng đầu tư cho nguồn nhân lực sản xuất nông nghiệp, hướng đến mục tiêu xây dựng nền công nghiệp tiên tiến, đẩy mạnh áp dụng khoa học, nghiên cứu công nghệ
vi sinh vào sản xuất nông nghiệp với mục tiêu cung cấp sản phẩm sạch, chất lượng cao.
Bên cạnh các mối quan hệ truyền thống trong khu vực, Thái Lan chủ động mở rộng quan
hệ thương mại với các nước châu Á khác Đồng thời hình thành mạng lưới kinh doanh với những thỏa thuận song phương, dành nhiều ưu đãi cho các đối tác quan trọng như Australia,
Ấn Độ, Nhật Bản, Peru,…
3, Phá giá đồng Bath (THB)
Đồng Bath đã được Chính phủ Thái Lan giữ ở tỷ giá cố định 25THB/USD trong một thời gian dài Tuy nhiên, dưới áp lực của khủng hoảng kinh tế và việc thâm hụt cán cân thương mại trầm trọng, Chính phủ
Trang 28Thái Lan đã quyết định thả nổi đồng Bath, và ngay lập tức, đồng tiền này
bị mất giá đến 50%, giữ tỷ giá 56 THB/USD Tuy nhiên, việc thả nổi đồng Bath dường như lại đem lại lợi ích cho Thái Lan vì khi đồng nội tệ giảm giá đã khuyến khích xuất khẩu, cải thiện cán cân thương mại của quốc gia đồng thời còn giảm áp lực dùng ngoại tệ để can thiệp vào tỷ giá làm dự trữ ngoại hối của quốc gia tăng Và việc duy trì đồng Bath ở tỷ giá tăng 20%
so với USD để giữ mức lạm phát 3% năm được cho là hợp lý vì Chính phủ Thái Lan cũng nhận định được rằng việc tăng giá nội tệ trong tình hình kinh tế hiện tại là hoàn toàn có lợi.
1.2.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Thông qua việc xem xét những biện pháp cải thiện cán cân thương mại của một số nước: Mỹ, Trung Quốc, Thái Lan, có thể đưa ra những định hướng giải pháp để cải thiện cán cân thương mại như sau:
Thứ nhất, cần có sự kết hợp đồng bộ giữa các giải pháp kinh tế vĩ mô
để có thể cân bằng cả bên trong và bên ngoài của nền kinh tế, đồng thời xây dựng chính sách đầu tư, xuất nhập khẩu thông thoáng, làm tiền đề cho
sự phát triển các ngành sản xuất hàng xuất khẩu.
Thứ hai, cần có chính sách tỷ giá phù hợp với từng thời kỳ, tình hình
của nền kinh tế Một chính sách tỷ giá được coi là phù hợp khi: áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi hay cố định phù hợp với từng thời kỳ cụ thể, lựa chọn đúng thời điểm phá giá nội tệ, duy trì tỷ giá theo hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, không neo giữ đồng nội tệ quá lâu với một đồng ngoại tệ mạnh mà nên sử dụng rổ tiền tệ để có thể phản ứng kịp thời với những cú sốc của kinh tế toàn cầu,…
Thứ ba, cần tận dụng các lợi thế cạnh tranh sẵn có của sản xuất trong
nước, lựa chọn và tập trung vào ngành mũi nhọn đồng thời phát triển các
Trang 29ngành công nghiệp phụ trợ Đầu tư cho các ngành mục tiêu cả về nhân lực
và vật lực để nâng cao hiệu quả sản xuất.
Thứ tư, cần hỗ trợ và bảo vệ nền sản xuất trong nước hợp lý Có thể sử
dụng các biện pháp: xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường cho doanh nghiệp, bao tiêu sản phẩm, sử dụng hình thức hợp đồng Chính phủ-Chính phủ,… Tăng cường bảo hộ các ngành sản xuất bị thiệt hại do nhập khẩu nhưng phải đảm bảo được các đối tác chấp nhận, đặc biệt là trong thời điểm Việt Nam đang dần phải thực hiện các cam kết với các tổ chức thế giới như hiện nay
Trang 30Chương 2: THỰC TRẠNG CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
2.1.Tổng quan về cán cân thanh toán và cán cân thương mại Việt Nam (từ 2006 đến nay)
Ngày 7/11/2006, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại thế giới – WTO Kể từ thời điểm đó, kinh tế Việt Nam có nhiều biến động mạnh mẽ Hội nhập đã đem đến cho kinh tế Việt Nam rất nhiều cơ hội và cả thách thức mới đặc biệt trong hoạt động kinh tế đối ngoại mà hoạt động ngoại thương giữ vai trò nòng cốt Tận dụng được sự bình đẳng về thương mại quốc tế mà hội nhập WTO đem lại, Việt Nam đã mở rộng thị trường tới gần hết 149 thành viên và đã đưa kim ngạch xuất nhập khẩu của mình liên tục tăng trưởng và năm sau luôn cao hơn năm trước Tuy nhiên, với
vị trí của một nước đang phát triển, chịu tác động của nhiều yếu tố, cán cân thương mại của Việt Nam vẫn luôn ở tình trạng nhập siêu và nhập siêu lớn trong giai đoạn từ 2006 đến 2011, đặc biệt là năm 2008, nhập siêu đến hơn 18
tỷ USD và tập trung vào một số quốc gia và vùng lãnh thổ: Đông Nam Á, Đông Á và Trung Quốc Với vai trò là một bộ phận quan trọng trong tài khoản vãng lai thuộc cán cân thanh toán quốc tế, trạng thái của cán cân thương mại Việt Nam có ảnh hưởng quan trọng, quyết định đến cán cân thanh toán quốc tế Tình trạng nhập siêu kéo dài đã ảnh hưởng tới cán cân thanh toán, làm gia tăng nợ nước ngoài và ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế Việt Nam
Kể từ năm 2012 đến nay, cán cân thương mại Việt Nam đã có dấu hiệu đổi chiều, tuy nhiên xuất siêu chưa lớn, năm 2012 là 748,8 triệu USD; năm 2013
là 294 triệu USD và sơ bộ năm 2014 là 2,1 tỷ USD
Trang 31Hình 2.1: Cán cân thương mại Việt Nam từ 2006 đến 2014.
Nguồn: Tác giả tổng hợp theo số liệu của Tổng cục thống kê.
Dễ dàng nhận thấy, trong giai đoạn nghiên cứu, cán cân thương mại vận động liên tục và đạt cực tiểu hay nhập siêu nghiêm trọng nhất vào năm 2008 với trên 18 tỷ USD và đạt giá trị lớn nhất vào năm 2014 với 2.14 tỷ thặng dư Thấy rõ, cán cân thương mại vận động theo các giai đoạn cụ thể như sau:
Giai đoạn từ 2006-2008: Cán cân thương mại với chiều hướng đi xuống tình trạng thâm hụt ngày càng trở nên nghiêm trọng.
Giai đoạn từ 2008-2012: Cán cân thương mại có xu hướng được cải thiện dần với những con số vô cùng ấn tượng và bắt đầu đạt thặng dư vào năm 2012 với 0.75 tỷ USD.
Giai đoạn từ 2012-2014: Cán cân thương mại ở trạng thái tương đối ổn định.
Trang 32Dựa vào sự đánh giá xu thế cán cân thương mại Việt Nam thời gian qua,
có thể dự đoán, cán cân thương mại Việt Nam có khả năng tiếp tục duy trì thặng dư, thậm chí với thặng dư lớn hơn.
Cán cân thương mại Việt Nam có xu thế vận động tương đối phổ biến đối với nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, cán cân thương mại Việt Nam trong giai đoạn này lại có những đặc trưng riêng có:
Cán cân thương mại Việt Nam được cải thiện chủ yếu nhờ vào sự tăng trưởng của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, trong dài hạn, nền kinh tế sẽ bị nước ngoài khống chế.
Việt Nam đang tăng cường hoạt động nhập khẩu máy móc, thiết bị để phục vụ cho sản xuất Tuy nhiên, những máy móc thiết bị này phần lớn là máy móc thiết bị từ Trung Quốc có giá thành rẻ hơn các sản phẩm cùng loại từ các nước khác, phù hợp với khả năng tài chính của các công ty vừa
và nhỏ tại Việt Nam
Cán cân thương mại Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào Trung Quốc do việc nhập khẩu từ nước này lượng lớn nguyên, nhiên vật liệu phục vụ sản xuất nói chung và sản xuất xuất khẩu nói riêng.
Cán cân thương mại Việt Nam đạt thặng dư trong những năm gần đây, tuy nhiên, nguyên nhân chính yếu của tình trạng này lại bắt nguồn từ việc các doanh nghiệp Việt thu hẹp sản xuất kinh doanh, thiếu vốn, giảm nhập khẩu từ đó làm giảm thâm hụt Đây không phải là tín hiệu tích cực đối với việc cải thiện cán cân thương mại tại Việt Nam.
2.2 Cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn từ 2006-2011: Thâm hụt cán cân thương mại
Từ 2006-2011, quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam diễn ra mạnh mẽ hơn bao giờ hết với mở đầu là việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO và tiếp sau đó là việc kí kết hàng loạt Hiệp định Thương mại tự do
Trang 33(FTA) với các nước cùng ASEAN như: ACFTA (ASEAN-Trung Quốc), AKFTA (ASEAN-Hàn Quốc), AJCEP (ASEAN-Nhật Bản), AANZFTA (ASEAN-Úc-Niu Zilân), AIFTA (ASEAN-Ấn Độ),… và đang đàm phán hàng loạt các FTA song phương và đa phương khác Với dấu mốc quan trọng
là gia nhập WTO, kinh tế xã hội Việt Nam đã có những bước biến chuyển mạnh mẽ Từ một nước phải nhờ đến các khoản viện trợ và phải nhập khẩu hàng triệu tấn lương thực mỗi năm, Việt Nam đã vươn lên thành nước cường quốc về nông sản với vị trí thứ nhất về xuất khẩu hạt tiêu, thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo, hạt điều và cà phê, thứ tư về cao su,… Ngoại trừ năm 2009, xuất khẩu của Việt Nam đều tăng trưởng, với tốc độ trung bình khoảng 37,6%5, tuy nhiên tăng trưởng xuất khẩu không thay đổi nhiều so với những giai đoạn trước đây Bên cạnh đó, nhập khẩu tăng đáng kể do nhập khẩu nguyên vật liệu cho sản xuất, máy móc thiết bị để đáp ứng cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm thâm hụt thương mại tăng mạnh Đây cũng là hậu quả của mức đầu tư quá lớn và kéo theo đó là sự chênh lệch giữa đầu tư
và tiết kiệm trong nước Tính trung bình trong giai đoạn này, thâm hụt thương mại đã lên đến 13,46% so với GDP6.
Bảng 2.1: Cân đối xuất, nhập khẩu (2006-2011)
Đơn vị tính: Triệu USD
Xuất khẩu Nhập khẩu Cân đối
5Tổng mức lưu chuyển hàng hóa xuất, nhập khẩu, Tổng cục Thống kê
6Cân đối xuất, nhập khẩu của Việt Nam; Tổng sản phẩm trong nước, Tổng cục Thống kê; Tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng, NHNN.
Trang 342011 96905.7 106749.8 –9844.1
Nguồn: Trích “Tổng mức lưu chuyển hàng hóa xuất, nhập khẩu” – TCTK
Như vậy, sau khi gia nhập WTO, xuất khẩu của Việt Nam vẫn giữ tốc độ tăng trưởngnhanh 20-30% (ngoại trừ năm 2009) trong đó, năm 2011 tăng đến 34,15%, nhưng cán cân thươngmại vẫn ở tình trạng thâm hụt Tuy nhiên, thâm hụt thương mại đã được kiểm soát theo chiềuhướng tích cực và có chiều hướng giảm so với kim ngạch xuất khẩu với tỷ lệ này năm 2008-2011lần lượt là 28,76%, 22,51%, 17,45% và 10,16% Những con số này cho thấy tình hình khả quantrong việc cải thiện cán cân thương mại tại Việt Nam
2.2.1.Thực trạng cán cân thương mại
2.2.1.1.Về chủ thể xuất, nhập khẩu
Trong giai đoạn 2006-2011, cùng với sự hội nhập kinh tế là việc gia tăng đáng kể đầu
tư vào các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và các doanh nghiệp ngoài nhànước, song song với đó là sự giảm sút mạnh đầu tư vào các doanh nghiệp trong nước nhà nước.Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp trung bình đến 55,75% giá trị xuấtkhẩu Đóng góp của các doanh nghiệp FDI vào xuất khẩu ngày càng tăng nhanh về lượng; cụ
thể, năm 2006 là 23 tỷ USD, đến năm 2011, con số này đã tăng lên đến 55,1 tỷ USD– gấp gần
2,5 lần so với năm 2006 Cùng với đó, tỷ trọng nhập khẩu của khu vực này trong nhập khẩuchung luôn ở mức thấp, từ 34,5-45,3% đi đôi với lượng nhập khẩu cũng luôn được giữ ở mứcthấp hơn xuất khẩu, nên cán cân thương mại của khu vực này luôn ở trong trạng thái thặng dư.Ngược lại, ở khu vực kinh tế trong nước, cán cân thương mại luôn ở tình trạng thâm hụt vàmức thâm hụt thường rất cao, có xu hướng tăng, đỉnh điểm là năm 2008, thâm hụt lên đến gần
Trang 35KV kinh tế trong nước
Xuất khẩu (Triệu USD) 16764.9 20786.8 28162.3 26724.0 33084.3 41781.4
Nguồn: Tổng hợp và tính toán từ số liệu trên trang web tổng cục Thống kê
Dù thế nào đi nữa, khu vực có vốn ĐTNN giữ vai trò quan trọng trong tổng lượng xuất khẩu.Các doanh nghiệp FDI tham gia vào hầu hết các mặt hàng chủ lực, có tỷ trọng cao trong xuất khẩu,đặc biệt là các sản phẩm của công nghiệp chế biến, công nghiệp cao
2.2.1.2 Về cơ cấu mặt hàng xuất, nhập khẩu
Việt Nam là một nước đang phát triển, đi lên từ nền nông nghiệp truyền thống, đi liềnvới đó là sự phát triển còn non trẻ của các ngành công nghiệp trong giai đoạn mới hội nhậpnày Do đó, Việt Nam xuất khẩu chủ yếu là nông, lâm, thủy sản và các mặt hàng thô, sơ chế,khoáng sản; còn nhập khẩu chủ yếu các nguyên, nhiêu liệu và các mặt hàng có hàm lượng chấtxám cao như máy móc, thiết bị, sản phẩm của công nghiệp chế biến như phân bón, nhiên liệu,
…
a)Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn này không có thay đổi nhiều.Mối quan hệ tỷ trọng giữa các nhóm hàng không thay đổi, đứng đầu vẫn là nhóm hàng côngnghiệp nặng (CN nặng) và khoáng sản với hơn 40%, theo sau đó là nhóm hàng công nghiệpnhẹ (CN nhẹ) và tiểu thủ công nghiệp (TTCN), sau đó là nông, lâm, thủy sản với hơn 20% và tỉ
lệ rất nhỏ của Vàng phi tiền tệ Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và TTCN có sự tăng nhẹ về tỷtrọng so với các nhóm hàng khác Có thể thấy rõ hơn các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của ViệtNam thông qua bảng sau:
Bảng 2.3: Hàng hóa xuất khẩu phân theo tiêu chuẩn ngoại thương.
Đơn vị tính: Triệu USD
TỔNG SỐ 39826.2 48561.4 62685.1 57096.3 72236.7 96905.7 Hàng thô hoặc mới sơ
chế 19226.8 21657.7 27698.7 22266.1 25187.5 33736.7
Trang 36LTTP và động vật sống 7509.2 9191.7 12164.3 11514.6 13432.5 17442.9
Đồ uống và thuốc lá 143.5 155.1 190.8 237.8 301.3 358.0 NVL thô, không dùng
để ăn, trừ nhiên liệu 1845.3 2199.8 2491.7 1928.3 3373.8 4716.1 Nhiêu liệu, dầu mỡ
nhờn; vật liệu liên quan 9709.4 10061.0 12750.5 8507.1 7979.7 11007.9 Dầu, mỡ, chất béo, sáp
theo nguyên liệu 2926.3 3975.7 6398.4 5226.0 8485.6 10874.6 Máy móc, phương tiện
vận tải và phụ tùng 4194.7 5601.2 7368.4 7398.8 11476.1 18834.9 Hàng chế biến khác 12679.1 16280.7 19408.8 20112.4 25168.9 30520.9
Hàng hoá không thuộc
Nguồn: Số liệu của TCTK– http://www.gso.gov.vn/
Từ năm 2006-2011, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng gần 2,5 lần (từ 39,8 tỷ lên96,9 tỷ)
Trong đó, nhóm hàng thô, sơ chế có sự gia tăng liên tục và đều đặn qua các năm (ngoạitrừ năm 2009) với tỷ lệ trung bình 21,9% Trong nhóm hàng này, giữ tỷ trọng cao nhất là lươngthực, thực phẩm và động vật sống; cùng với nhiên liệu, dầu mỡ nhờn lần lượt giữ vị trí thứ nhất
và thứ hai, đồng thời có sự thay đổi vị trí cho nhau qua các năm nhưng vẫn nắm vai trò chủđạo
Nhóm hàng chế biến có tốc độ tăng nhanh trong đó phải kể đến sự gia tăng của mặt
hàng máy móc, phương tiện vận tải và phụ tùng– tăng hơn 4 lần Tuy nhóm hàng thô sơ chế
vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu xuất khẩu nhưng đang có xu hướng chuyển dịch từ hànghóa thô, sơ chế sang các mặt hàng chế biến, hoặc tinh chế
Trang 37Số lượng mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch trên một tỷ USD vào năm 2006 gồm 8 mặt
hàng, trong đó có 4 mặt hàng đạt trên 2 tỷ USD gồm: hàng dệt, may (đạt 5,8 tỷ USD –tăng 22,7% so với năm 2005); hàng giầy, dép (đạt 3,6 tỷ USD– tăng 18,3% so với năm 2005); dầu
thô (đạt 4,6 tỷ); hàng thủy sản (đạt 3,4 tỷ USD) và 4 mặt hàng khác đạt trên 1 tỷ là: gỗ và sảnphẩm gỗ; hàng điện tử, máy tính và linh kiện; cà phê; gạo Đến năm 2011, đã có tới 14 mặthàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 2 tỷ USD
b)Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu
Bảng 2.4: Hàng hóa nhập khẩu phân theo tiêu chuẩn ngoại thương (2006-2011)
Đơn vị tính: Triệu USD
để ăn, trừ nhiên liệu 2084.3 2740.8 4005.8 3388.5 4622.3 6497.5 Nhiêu liệu, dầu mỡ
nhờn; vật liệu liên quan 6699.0 8744.2 12329.7 7497.4 8140.3 12531.1 Dầu, mỡ, chất béo, sáp