Cùng với người lao động, công cụ lao động cũng là một yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất .Công cụ lao động là khí quan vật chất “nhân”sức mạnh con người trong quá trình biến đổi tự n
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Triết học-một bộ phận không thể thiếu trongđời sống văn hóa xã hội của bất kì một quốc gianào trên thế giới Giống như nền tảng của xã hội,triết học không chỉ góp phần làm phát triển thêmcác vấn đề về tư tưởng của con người mà nó contham gia vào qúa trình phát triển kinh tế của nhiềuquốc gia Ở Việt Nam cũng vậy, triết học làm tăngthêm tính khoa học cho những lý luận và quan điểmcủa Đảng cũng như của Nhà nước trong thời đại hộinhập như ngày nay
Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là mộttrong những vấn đề của triết học Mac-Lênin Khôngchỉ có vậy, nó còn là một trong những bốn bộphận cấu thành nên hình thái kinh tế xã hội Hiểuđược mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sảnxuất và lực lượng sản xuất sẽ giúp cho việc pháttriển của xã hội diễn ra một cách nhanh chóng vàdễ dàng hơn Ở nước ta, Đảng đã không ngừngnâng cao nhận thức và lý luận, áp dụng linh hoạtvào việc phát triển nền kinh tế thị trường theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện hơn nữa bộmáy lãnh đạo của Đảng đối với toàn thể xã hội.Mục tiêu hướng tới là đưa nước ta trở thành mộtnước có nền công nghiệp hiện đại, khoa học kĩ thuậtphát triển, năng suất lao động không ngừng tănglên, đời sống của người dân được cải thiện
Bài viết của em dưới đây sẽ làm sáng tỏ hơnnữa quá trình phát triển kinh tế của nước ta dựatrên sự vận dụng mối quan hệ giữa lực lượng sảnxuất và quan hệ sản xuất vào tình hình kinh tế hiệnnay Có được bài viết này, cho phép em được cảm ơnsự hướng dẫn tận tình và quá trình truyền đạt nhữngkiến thức của thầy giáo-thạc sĩ Bùi Xuân Thanh đãgiúp em có được những hiểu biết về vấn đề này.Tuy nhiên, là sinh viên năm thứ nhất, em không thểtránh khỏi những thiếu sót trong quá trình thực hiệnđề tài của mình Vì vậy em rất mong được sự góp ý
Trang 2của thầy để em có thể hoàn thiện hơn nữa bàiviết của mình Em xin chân thành cảm ơn.
Sinh viên thực hiện
Trần Việt Đức An
LỜI NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
Trang 3
Trang 4
I QUY LUẬT: “QUAN HỆ SẢN XUẤT PHẢI PHÙ HỢPVỚI TÍNH CHẤT VÀ TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰCLƯỢNG SẢN XUẤT”-NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.Khái niệm phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất , quan hệ sản xuất.
1.1 Phương thức sản xuất.
Là cách thức con ngươì thực hiện trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất ở những giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử xã hội loài người.
Mỗi xã hội được đặc trưng bởi một phương thứcsản xuất nhất định Phương thức sản xuất giữ vaitrò quyết định trong hệ thống các điều kiện vậtchất và tinh thần của đời sống xã hội, là biểuhiện đặc trưng cho lĩnh vực hoạt động sản xuất vậtchất của con người, giữ vai trò quyết định trong cáclĩnh vực sinh hoạt xã hội, chính trị vàtinh thần nóichung Sự thay thế kế tiếp nhau của các phương thứcsản xuất trong lịch sử quyết định đến sự phát triểncủa xã hội loài người từ thấp đến cao
Trong sản xuất, con người có mối “quan hệ song trùng”: một mặt là quan hệ giữa người với tự nhiên, tức là lực lượng sản xuất , mặt khác là quan hệ giữa người với người, tức là quan hệ sản xuất.
Phương thức sản xuất là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tương ứng Vậy lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là gì?
1.2 Lực lượng sản xuất
Là biểu hiện của mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên Con người với trình độ khoa học kĩ thuật, kĩ năng, kĩ xảo của mình sử dụng những công
Trang 5cụ lao động tác động vào giới tự nhiên nhằm cải biến những dạng vật chất của tự nhiên tạo ra những sản phẩm vật chất phục vụ cho nhu cầu của con người Lực lượng sản xuất chính là sự thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất
ra của cải vật chất.
Lực lượng sản xuất là sự thống nhất hữu cơgiữa người lao động đã tích luỹ (tư liệu sản xuất màtrước hết là công cụ lao động)với lao động sống(những người sử dụng tư liệu sản xuất để sản xuấtcủa cải nhằm đáp ứng những nhu cầu sinh sống vàphát triển của con người trong mọi xã hội Với cáchhiểu như vậy, kết cấu của lực lượng sản xuất baogồm những yếu tố cơ bản sau:
Người lao động là con người biết sáng tạo,
sử dung công cụ lao động để sản xuất ra những vật phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người trong đời sống xã hội Chính người lao động là
chủ thể của quá trình lao động sản xuất Trong quátrình sản xuất con người kết hợp sức lao động củamình với tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ laođộng tạo thành sức mạnh khai thác giới tự nhiên,làm ra sản phẩm cần thiết cho cuộc sống của mình
Cùng với người lao động, công cụ lao động
cũng là một yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất Công cụ lao động là khí quan vật chất
“nhân”sức mạnh con người trong quá trình biến đổi tự
nhiên Công cụ lao động là yếu tố động nhất trong
lực lượng sản xuất, nó có vị trí quyết định trong tưliệu sản xuất Với những sáng chế, phát minh khoahọc trong một thời đại, công cụ không ngừng đượccải tiến, tư liệu sản xuất mở rộng, đối tượng laođộng đa dạng hoá, ngành nghề mới xuất hiện dẫnđến phân công lao động xã hội ngày càng cao Trìnhđộ phát triển của công cụ lao động vừa là thước đotrình độ chinh phục tự nhiên của con người, vừa làtiêu chuẩn phân biệt sự khác nhau giữa các thời đạikinh tế, kĩ thuật trong lịch sử
Trang 6 Đối tượng lao động bao gồm những cái đãcó sẵn trong tự nhiên mà người lao động đã tácđộng vào nó và cả những cái đã trải qua lao độngsản xuất,được kết tinh dưới dạng sản phẩm.Sảnxuất ngày càng phát triển ,thì con người phải tìmkiếm, sáng tạo ra những đối tượng lao động mới, bởinhững cái có sẵn trong tự nhiên ngày càng bị conngười khai thác đến “cạn kiệt”
CacMac viết: “những thời đại kinh tế khác nhaukhông phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì ,mà là
ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào,với những tưliệu lao động nào” 1
Ngày nay khoa học phát triển đến mức nó trởthành nguyên nhân trực tiếp của mọi biến đổi tolớn trong sản xuất, quản lý, điều khiển các quátrình công nghệ, tạo ra những nghành sản xuấtmới ,hiện đại, những lĩnh vực kĩ thuật mũi nhọn,những phương pháp sản xuất mới, những nguồnnăng lượng mới với hàng loạt vật liệu nhân tạo cótác dụng to lớn, nhiều mặt mà cuộc cách mạng khoahọc, kỹ thuật ở những thế kỷ trước không thể cóđược Với ý nghĩa to lớn đó, khoa học đang trở thànhlực lượng sản xuất trực tiếp của quá trình sản xuấtxã hội Chưa bao giờ tri thức khoa học được vật hoá,kết tinh, thâm nhập vào các yếu tố của lực lượngsản xuất và cả quan hệ sản xuất nhanh và cóhiệu quả như ngày nay
Lực lượng sản xuất do con người tạo ra, song nóvẫn là yếu tố khách quan, là nền tảng vật chấtcủa toàn bộ lịch sử nhân loại Lực lượng sản xuấtđược kế thừa và phát triển liên tục từ thế hệ nàysang thế hệ khác Mỗi thế hệ sinh ra đều phải thíchứng với một trình độ của lực lượng sản xuất củathế hệ trước để lại, vì lực lượng sản xuất là kếtquả của năng lực thực tiễn của con người, nhưngbảnthân năng lực thực tiễn này bị quyết định bởinhững điều kiện trong đó người ta sống, bởi những
Trang 7lực lượng sản xuất đã đạt được, bởi hình thái xã hộiđã có trước họ, không phải do họ tạo ra mà do thếhệ trước tạo ra.
1.3 Quan hệ sản xuất.
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, nó bao gồm những mối quan hệ kinh tế cơ bản như: quan hệ đối với sở hữu tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức và quản lí sản xuất, quan hệ trong phân phối sản phẩm sản xuất ra
Quan hệ sản xuất do con người tạo ra, song nóđược hình thành một cách khách quan không phụthuộc vào ý muốn chủ quan, tuỳ tiện của lực lượngsản xuất ở một giai đoạn lịch sử nhất định C Mácviết: “Trong sản xuất, người ta không chỉ quan hệvới giới tự nhiên Người ta không thể sản xuất đượcnếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đóđể hoạt động chung và để trao đổi hoạt động vớinhau Muốn sản xuất được, người ta phải có nhữngmối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau; và quanhệ của họ với giới tự nhiên là quan hệ sản xuất”.Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sảnxuất; giữa ba mặt của quan hệ sản xuất thống nhất
với nhau, tạo thành một hệ thống mang tính ổn định
tương đối so với sự vận động, phát triển khôngngừng của lực lượng sản xuất
Trong quan hệ sản xuất, quan hệ sở hữu về tưliệu sản xuất giữ vai trò quyết định các quan hệkhác Địa vị kinh tế của các tập đoàn người trongsản xuất và trong phân phối sản phẩm đều do chếđộ sở hữu và các hình thức chiếm hữu đối với tưliệu sản xuất quy định Trong lịch sử phát triển củaxã hội loài người đã từng tồn tại hai loại hình sởhữu cơ bản đối với tư liệu sản xuất :sở hữu tư
nhân (tư hữu) và sở hữu công cộng (công hữu) Sở hữu tư nhân là loại hình sở hữu mà trong đó tư liệu
sản xuất tập trung vào trong tay một số ít người ,còn đại đa số không có hoặc có rất ít tư liệu sảnxuất Do đó quan hệ giữa người với người là quan
Trang 8hệ thống trị và bị trị, bóc lột và bị bóc lột Sở hữu công cộng là loại hình sở hữu mà trong đó tư
liệu sản xuất thuộc về mọi thành viên của côngđồng Các hình thức sở hữu đó quy định các mốiquan hệ về tổ chức quản lí và phân phối sảnphẩm, quy định những nét đặc thù của quan hệ kinhtế
Quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất trực tiếptác động đến quá trình sản xuất, đến việc tổ chức,điều khiển quá trình sản xuất Nó có thể thúc đẩyhoặc kìm hãm quá trình sản xuất Quan hệ tổ chứcvà quản lý sản xuất do quan hệ sở hữu quyết địnhvà nó phải thích ứng với quan hệ sở hữu Tuy nhiêncó trường hợp, quan hệ tổ chức và quản lý khôngthích hợp với quan hệ sở hữu, làm biến dạng quanhệ sở hữu Trong sự tác động lẫn nhau của các quanhệ cấu thành quan hệ sản xuất, quan hệ về tổchức quản lý và quan hệ phân phối có vai trò rấtquan trọng Quan hệ tổ chức, quản lý và quan hệphân phối có thể góp phần củng cố phát triểnquan hệ sản xuatá, cũng có thể làm xói mòn, biếndạng quan hệ sở hữu
Quan hệ sản xuất mang tính ổn định tương đốitrong bản chất xã hội và mang tính phong phú, đadạng trong hình thức biểu hiện
2
Quy luật “Quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai măït của phương thức sản xuất , chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cánh biện chứng, tạo thành quy luật, tạo thành quy
luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy luật cơbản nhất của sự vận động và phát triển xã hội
Khuynh hướng chung của sản xuất vật chất làkhông ngừng phát triển Sự phát triển đó xét đếncùng là bắt nguồn từ sự biến đổi và phát triển
Trang 9của lực lượng sản xuất, trước hết là công cụ laođộng.
Ph Aêngghen viết: “… giai cấp tư sản … không thể biến những tư liệu sản xuất ấy thành những lực lượng sản xuất hùng mạnh mà lại không biến chúng thành những tư liệu sản xuất xã hội , chỉ có thể được sử dụng chung bởi một số đông người”.2
Trình độ lực lượng sản xuất trong từng giai đọanlịch sử thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của conngười trong giai đoạn lịch sử đó Trình độ lực lượngsản xuất biểu hiện ở trình độ của công cụ laođộng, trình độ, kinh nghiệm và kĩ năng lao động củacon người, trình độ tổ chức và phân công lao độngxã hội, trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất.Trình độ phân công lao động biểu hiện trình độ củalực lượng sản xuất ở một giai đoạn nhất định củalịch sử sản xuất vật chất
Gắn liền với một trình độ của lực lượng sảnxuất là một tính chất của lực lượng sản xuất Mộttình trạng nhất định của lực lượng sản xuất nói lêncả tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Khicòn sản xuất với những công cụ thủ công, lực
lượng sản xuất mang tính chất cá nhân Nó thể hiện
tính chất của tư liệu sản xuất là sử dụng công cụthủ công và tính chất lao động là riêng rẽ, tách rờinhau Khi sản xuất bằng máy ra đời, lực lượng sản
xuất mang tính chất xã hội hóa Nó thể hiện tính
chất của tư liệu sản xuất là sử dụng máy móc vàtính chất của lao động là do nhiều người sử dụng tưliệu sản xuất ấy theo kiểu phân công mỗi ngườimột bộ phận; sản phẩm làm ra là kết quả hiệptác của nhiều người Chỉ đến nền sản xuất tư bảnchủ nghĩa, lực lượng sản xuất mới đạt tới tính chấtxã hội hóa
Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó Đó là sự kết hợp đúng đắn giữa
2 C.Mác và Aêngghen: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994,
Trang 10các yêùu tố cấu thành quan hệ sản xuất; giữa quanhệ sản xuất với lực lượng sản xuất đem lại nhữngphương thức liên kết có hiệu quả cao giữa người laođộng với tư liệu sản xuất Khi một phương thức sảnxuất mới ra đời, khi đó quan hệ sản xuất phù hợpvới trình độ phát triển của lực lượng sản xuất cũng
ra đời theo Sự phù hợp của quan hệ sản xuất vớitrình độ phát triển của lực lượng sản xuất là mộttrạng thái mà trong đó quan hệ sản xuất là “hìnhthức phát triển” của lực lượng sản xuất Trong đó,tất cả các mặt của quan hệ sản xuất đều “tạo địabàn đầy đủ” cho lực lượng sản xuất phát triển Điềunày có nghĩa là, nó tạo điều kiện sử dụng và kếthợp một các tối ưu giữa người lao động với tư liệusản xuất và do đó lực lượng sản xuất có cơ sở đểphát triển hết khả năng của nó
Quan hệ sản xuất được hình thành, đựợc biến đổi, phát triển dưới ảnh hưởng quyết định của lực lượng sản xuất
Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến mộttrình độ nhất định làm cho quan hệ sản xuất từ chỗphù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triểncủa lực lượng sản xuất Lúc này, quan hệ sản xuấttrở thành “xiềng xích”của lực lượng sản xuất, kìmhãm lực lượng sản xuất phát triển Yêu cầu kháchquan của sự phát triển lực lượng sản xuất tất yếudẫn đến sự thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quanhệ sản xuất mới phù hợp với trình đôï phát triểnmới của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượngsản xuất tiếp tục phát triển Thay thế quan hệ sảnxuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩalà phương thức sản xuất cũ mất đi, phương thức sảnxuất mới ra đời thay thế
Khi lực lượng sản xuất ở trình độ thấp, công cụlao động còn thô sơ thì quan hệ sản xuất lúc nàylàquan hệ dựa trên chế độ công xã nguyên thủy.Nhưng với sự ra đời của công cụ bằng kim loại, thủcông với con người lao động đã biết trồng trọt vàchăn nuôi, năng suất lao động ngay càng cao hơn,loài
Trang 11người bắt đầu sản xuất ra những sản phẩm thặng
dư Do đó quan hệ sản xuất dựa trên chế độ côngxã nguyên thủy bị tan rã và thay vào đó là quanhệ sản xuất dựa trên chế độ tư hữu chủ nô ra đời.Sự xuất hiện của quan hệ sản xuất dựa trên chếđộ tư hữu chủ nô bước đầu phù hợp với trình độcủa lực lượng sản xuất lúc bấy giờ đã làm cho quanhệ sản xuất phát triển Nhưng, loài người vẫn tiếptục cải tiến công cụ lao động, phát triển lực lượngsản xuất; đất đai ngày càng được khai phá nhiềuhơn, cùng với đó là sự xuất hiện của nhiều ngànhnghề tiểu, thủ công nghiệp mới, với sự giao lưubuôn bán các sản phẩm làm ra phát triển hơn Vì
thế, quan hệ sản xuất dựa trên chế độ tư hữu chủ
nô không còn phù hợp với trình độ của lực lượng
sản xuất nữa, lúc này quan hệ xuất hiện sự đòihỏi phải thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan
hệ sản xuất mới dựa trên chế độ tư hữu địa chủ.
Tuy nhiên lực lượng sản xuất không chỉ dừng lại ởđó Loài người vẫn tiếp tục cải tiến công cụ laođộng, phát triển lực lượng sản xuất Khi công cụ laođộng bằng máy móc ra đời cùng với lao động lànhững người công nhân trong các nhà máy, xínghiệp, phân công lao động mang tính xã hội Vì thế,
quan hệ sản xuất dựa trên chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa ra đời Điều này đã đẩy nhanh sự phát
triển của lực lượng sản xuất đạt tới trình độ chuyênmôn hóa và xã hội hóa cao Đến lượt nó lại mâu
thuẫn gay gắtvới quan hệ sản xuất dựa trên chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa Để giải quyết mâu
thuẫn này tất yếu phải xóa bỏ quan hệ sản xuấtcũ và xác lập quan hệ sản xuất mới
Như vậy, sự phù hợp của quan hệ sản xuất vớitrình độ phát triển của lực lượng sản xuất là sự
phù hợp trong mâu thuẫn; mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất là nội dung thường xuyên biến đổi (động) với quan hệ sản xuất là hình thức xã hội
lại tương đối ổn định (tĩnh).
Trang 12Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản
xuất, nhưng quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất quy định mục đích
của sản xuất, khuynh hướng phát triển của quan hệlợi ích; từ đó hình thành một hệ thống các yếu tốthúc đẩy, hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượngsản xuất Tác dụng đó chỉ mang tính tương đối Quanhệ sản xuất phù hợp với trình đôï phát triển củalực lượng sản xuất là động lực thúc đẩy lực lượngsản xuất phát triển Ngược lại, quan hệ sản xuất lỗithời lạc hậu hoặc “tiên tiến” hơn một cách giả tạo
so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽkìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Vớisự phát triển là tất yếu, khách quan của lực lượngsản xuất thì quan hệ sản xuất lỗi thời cuối cùng sẽ
bị thay thế bằng một kiểu quan hệ sản xuất mớiphù hợp với trình đôï phát triển mới của lực lượngsản xuất Tuy vậy khi mâu thuẫn khách quan giữa lựclượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã bộc lộ gaygắt và đòi hỏi con người phải giải quyết nhưng conngười không phát hiện ra, hoặc phát hiện màkhông giải quyết được mâu thuẫn, hoặc do những sailầm chủ quan trong quá trình giải quyết mâu thuẫnv.v.thì tác dụng kìm hãm của quan hệ sản xuất sẽtrở thành nhân tố phá hoại đối với lực lượng sảnxuất
Tuy nhiên, việc giải quyết mâu thuẫn giữa lựclượng sản xuất với quan hệ sản xuất không phảigiản đơn Nó phải thông qua nhận thức và hoạtđộng cải tạo xã hội của con người Trong xã hội cógiai cấp phải thông qua đấu tranh giai cấp, thông quacách mạng xã hội
Chính vì thế, quy luật quan hệ sản xuất phù hợpvới trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quyluật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịchsử nhân loại Sự thay thế, phát triển của lịch sửnhân loại từ chế độ công xã nguyên thủy, qua chế