1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp hoàn thiện hoạt động hỗ trợ tín dụng của thành phố hồ chí minh cho người dân nông thôn tại huyện củ chi

89 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ Họ tên học viên: Nguyễn Bắc Hải, Giới tính: Nam Ngày, tháng, năm sinh: 13/3/1985 Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh MSHV: 1641820

Trang 1

-

NGUYỄN BẮC HẢI

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG

HỖ TRỢ TÍN DỤNG CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CHO NGƯỜI DÂN NÔNG THÔN TẠI HUYỆN CỦ CHI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số ngành : 60340102

TP HỒ CHÍ MINH, tháng 03 năm 2018

Trang 2

-

NGUYỄN BẮC HẢI

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG

HỖ TRỢ TÍN DỤNG CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CHO NGƯỜI DÂN NÔNG THÔN TẠI HUYỆN CỦ CHI

Trang 3

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN ĐÌNH LUẬN

Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công nghệ TP HCM ngày 15 tháng 4 năm 2018

Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:

(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn Thạc sĩ)

Trang 4

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ tên học viên: Nguyễn Bắc Hải, Giới tính: Nam

Ngày, tháng, năm sinh: 13/3/1985 Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh MSHV: 1641820023

I- Tên đề tài: Giải pháp hoàn thiện hoạt động hỗ trợ tín dụng của thành phố

Hồ Chí Minh cho người dân nông thôn tại huyện Củ Chi

II- Nhiệm vụ và nội dung:

Giới thiệu một số khái niệm về thu nhập, nông nghiệp, nông thôn, nông dân…

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân tại huyện Củ Chi bằng

phương pháp khảo sát điều tra mẫu các hộ sản xuất nông nghiệp; từ đó đánh giá mặt

được, mặt hạn chế của chính sách hỗ trợ tín dụng để đưa ra giải pháp hoàn thiện chính

sách nhằm nâng cao thu nhập của người dân nông thôn ngoại thành nói chung và

huyện Củ Chi nói riêng Trong đó, chú trọng đến tiêu chí thu nhập với mục tiêu đến

năm 2020, huyện Củ Chi đạt chuẩn huyện nông thôn mới của Thành phố và đạt chỉ

tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Củ Chi lần thứ XI, Nghị quyết Đại hội

Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X

III- Ngày giao nhiệm vụ: 09/10/2017

IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ: 30/3/2018

V- Người hướng dẫn: PGS TS NGUYỄN ĐÌNH LUẬN

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH

(Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký)

PGS TS Nguyễn Đình Luận

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế: Giải pháp hoàn thiện hoạt động hỗ

trợ tín dụng của thành phố Hồ Chí Minh cho người dân nông thôn tại huyện Củ Chi

là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung

thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Học viên thực hiện Luận văn

Nguyễn Bắc Hải

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các Thầy, Cô khoa Đào tạo sau đại học, Ban Lãnh đạo trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo môi trường học tập thân thiện và hiện đại cho tôi, giúp tôi tiếp cận nền tảng tri thức khoa học kinh tế Xin cảm ơn

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tập thể Ban Lãnh đạo và cán bộ Ủy ban nhân dân Huyện Củ Chi (Phòng kinh tế huyện), Ủy ban nhân dân các xã trên địa bàn huyện

và Chi cục Phát triển nông thôn – Sở Nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện để tôi tiếp cận bộ số liệu, hỗ trợ nhiệt tình trong quá trình khảo sát số liệu của đề tài

Đặc biệt, xin bày tỏ lòng kính trọng đến Ông Thái Quốc Dân, Phó Chánh Văn phòng Điều phối Chương trình xây dựng nông thôn mới thành phố, PGS TS Nguyễn Đình Luận – Người thầy tâm huyết đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều thời gian để định hướng và chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài;

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn cha mẹ, anh chị trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn sát cánh hỗ trợ, động viên và đã cho tôi những lời khuyên quý báu để tôi có thể toàn tâm, toàn ý cho công việc nghiên cứu này

Học viên thực hiện Luận văn

Trang 7

TÓM TẮT

Đề tài nghiên cứu: Giải pháp hoàn thiện hoạt động hỗ trợ tín dụng của thành

phố Hồ Chí Minh cho người dân nông thôn tại huyện Củ Chi được thực hiện nhằm

xác định các yếu tố ảnh hưởng làm gia tăng thu nhập trong nông nghiệp của người

dân vùng nông thôn huyện Củ Chi Từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện hỗ trợ

tín dụng nhằm nâng cao năng suất lao động, năng suất cây trồng, vật nuôi nhằm

nâng cao thu nhập trong nông nghiệp của người dân vùng nông thôn

Dựa trên phương pháp khác biệt trong khác biệt và các nghiên cứu trước đề

tài đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập trong nông nghiệp của người dân

vùng nông thôn Trên cơ sở 92 hộ gia đình được khảo sát trên địa bàn Củ Chi,

số liệu thu thập tại Chi cục Phát triển nông thôn – Sở Nông nghiệp và Phát triển

nông thôn, Phòng Kinh tế huyện - Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi tại 02 thời điểm

năm 2014 và năm 2016 với 184 quan sát xác định cho thấy 6 trong tổng số 12 yếu

tố của mô hình có ảnh hưởng đến thu nhập trong nông nghiệp của người dân vùng

nông thôn đã được kiểm định đủ điều kiện: (1) Vay vốn, (2) Tương tác, (3) Đào tạo

tập huấn, (4) Khoa học công nghệ, (5) Lượng vốn vay, (6) Đối tượng sản xuất Đây

là những yếu tố không thể thiếu có tác động đến thu nhập trong nông nghiệp của

người dân vùng nông thôn Thành phố nói chung và huyện Củ Chi nói riêng

Từ kết quả nghiên cứu, đề tài đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao thu

nhập trong nông nghiệp của người dân vùng nông thôn Kết quả và giải pháp nghiên

cứu sẽ giúp ích cho công tác tham mưu điều chỉnh, bổ sung chính sách, bổ sung

những giải pháp hoạt độnghỗ trợ tín dụng hiện hành giúp cho người dân vùng nông

thôn gia tăng năng suất lao động, năng suất cây trồng vật nuôi từ đó nâng cao thu

nhập trong nông nghiệp theo ý chí, nguyện vọng của người làm chính sách

Trang 8

ABSTRACT

The study offers a solution to improve the credit support of Ho Chi Minh City for rural people in Cu Chi District, and determines factors which effect to the increase of agricultural income in rural areas Cu Chi Then, proposing solutions to improve the labor productivity, crop yield, livestock productivity to increase the Cu Chi farmers’s agricultural income

Based on differential methodology and case studies, the study determines factors which effect to the agricultural income of rural people Based on 92 households surveyed in Cu Chi area, data collected at Department of Rural Development - Department of Agriculture and Rural Development, District Economic Department - People's Committee of Cu Chi District at 02 points the year

2014 and 2016 with 184 observations which identifying 6 of the 12 components of the model affecting the agricultural income of rural people has been validated: (1) Loans, (2) Interaction, (3) Training, (4) Science and Technology, (5) Loan amount, (6) Production object These are indispensable factors affecting the agricultural income of farmers in Ho Chi Minh City’s rural areas in general and Cu Chi district

in particular

From the research result, the study will propose solutions to increase the agricultural income of rural people Results and research solution will be helpful to advise to adjust, additional policy, additional solution to improve the credit support

to improve the labor productivity, crop yield, livestock productivity to increase the agricultural income of rural people

Trang 9

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

ABSTACT iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG ix

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ x

DANH MỤC HÌNH xi

1 Giới thiệu 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 lý do chọn đề tài 1

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3.1 Mục tiêu chung 2

1.3.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

1.5 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4

1.5.1 Đối tượng nghiên cứu 4

1.5.2 Phạm vi nghiên cứu 4

1.5.3 Giới hạn của đề tài 4

1.6 Bố cục dự kiến của luận văn 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG VÀ HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ TÍN DỤNG

6 1.1 Các khái niệm 6

1.2 Các lý thuyết về thị trường tín dụng nông thôn 12

1.3 Hoạt động hỗ trợ tín dụng 19

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập hộ gia đình 24 1.4 Giới thiệu về chính sách hỗ trợ tín dụng cho chuyển dịch cơ cấu nông 23

Trang 10

nghiệp của thành phố Hồ Chí Minh 1.5 Một số nghiên cứu trước đây 27 Tóm tắt Chương 1 30 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ TÍN DỤNG CỦA THÀNH PHỐ CHO NGƯỜI DÂN NÔNG THÔN TẠI HUYỆN CỦ CHI

31

2.1 Tổng quan về huyện Củ Chi – TP.HCM 31 2.1.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên 31 2.1.2 Tổng quản về kinh tế - xã hội 33 2.2 Thực trạng về hoạt động hỗ trợ tín dụng của thành phố Hồ Chí Minh cho người dân nông thôn tại huyện Củ Chi

36

2.2.1 Thực trạng về hoạt động hỗ trợ tín dụng của thành phố Hồ Chí Minh cho người dân nông thôn tại huyện Củ Chi

36

2.2.1.1 Hoạt động hỗ trợ tín dụng cho chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp 36 2.2.1.2 Quy trình phê duyệt phương án hỗ trợ tín dụng 37 2.2.1.3 Tình hình phê duyệt phương an hỗ trợ tín dụng 38

2.2.2 Phân tích các yếu tố liên quan đến đặc trưng của lao động chính hộ

gia đình

38

2.2.3 Phân tích các yếu tố liên quan đến đặc trưng của hộ gia đình 41 2.2.4 Phân tích các yếu tố liên quan đến đặc trưng sản xuất và nhu cầu vay vốn hộ

43

2.2.5 Phân tích khác biệt thu nhập giữa các nhóm hộ gia đình 47 2.3 Đánh giá về hoạt động hỗ trợ tín dụng của thành phố Hồ Chí Minh cho người dân nông thôn tại huyện Củ Chi

50

2.3.1 Điểm mạnh 50 2.3.2 Điểm yếu 53 Tóm tắt Chương 2 55 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ TÍN DỤNG CỦA THÀNH PHỐ ĐỂ NÂNG CAO THU NHẬP CHO NGƯỜI DÂN NÔNG THÔN TẠI HUYỆN CỦ CHI

56

Trang 11

3.1 Quan điểm và mục tiêu hoàn thiện hoạt động hỗ trợ tín dụng của thành

phố để nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn tại huyện Củ Chi

56 3.2 Giải pháp hoàn thiện hoạt động hỗ trợ tín dụng của thành phố để nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn tại huyện Củ Chi

59 3.2.1 Đào tạo, tập huấn cho lao động nông thôn……… 59

3.2.2 Điều chỉnh bổ sung cơ chế, chính sách……… 60

3.2.3 Rút gắn thủ tục hành chính……… 60

3.2.4 Lựa chọn đối tượng sản xuất……… 61

3.2.5 Điều chỉnh phương thức hỗ trợ lãi vay……… 61

3.2.6 Điều chỉnh đối tượng hỗ trợ……… 62

3.2.7 Tổ chức hội thảo và hội nghị chuyên đề……… 64

3.2.8 Tổ chức khảo sát học tập mô hình ……… 64

3.3 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 64

3.2.1 Hạn chế của nghiên cứu 64

3.2.3 Hướng nghiên cứu tiếp theo 64

3.4 Kiến nghị 65

Tóm tắt Chương 3 68

KẾT LUẬN 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

PHỤ LỤC 73

Trang 13

DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1 Bảng tổng hợp về lĩnh vực trồng trọt……… 34

Trang 14

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Cơ cấu trình độ lao động chính của hộ gia đình……… 41 Biểu đồ 2.2 Cơ cấu đối tƣợng cây trồng vật nuôi chính của hộ……… 47

Trang 15

DANH MỤC HÌNH Hình 2.1 Sơ đồ quy trình phê duyệt phương án trong chính sách

KKCDCCNN………

38

Trang 16

1 GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Chính sách khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những chính sách thể hiện sự quan tâm của thành phố đối với người dân nông thôn Nhằm khuyến khích người dân phát triển sản xuất nâng cao thu nhập và hướng người dân vào những cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, áp dụng biện pháp khoa học, kỹ thuật cao vào sản xuất nông nghiệp phù hợp với nền nông nghiệp đô thị của Thành phố, để từ đó nâng cao thu nhập cho người dân vùng nông thôn Trong tình hình khó khăn về kinh tế, một chính sách kích cầu khuyến khích, tạo động lực cho người dân phát triển sản xuất nâng cao thu nhập là rất cần thiết – và từ

đó là một niềm an ủi đối với người dân về tái phân phối thu nhập của thành phố cho người dân vùng nông thôn, góp phần giảm khoảng cách thu nhập giữa khu vực thành thị và nông thôn Hơn nữa, khu vực nông thôn thành phố là một vùng rộng lớn chiếm 76,4% diện tích tự nhiên của thành phố (160.170/209.555 ha), chiếm 16% số dân của toàn thành phố (1,2/7,5 triệu dân) và cung cấp 17,18% lao động cho thành phố (số liệu của Tổng cục thống kê năm 2014); do đó, một chính sách hỗ trợ

vùng nông thôn góp phần an sinh xã hội là một điều rất cần thiết

1.2 Lý do chọn đề tài

Trong tình trạng thiếu vốn sản xuất tại khu vực nông thôn, thay vì người dân phải đối mặt với việc vay vốn lãi suất cao để phát triển sản xuất hoặc ngưng sản xuất thì đã có sự hỗ trợ lãi suất cho vay từ chính quyền Thành phố khuyến khích người dân phát triển sản xuất Chính sách KKCDCCKTNT theo hướng nông nghiệp

đô thị thực chất là một chương trình hỗ trợ lãi vay cho người dân nông thôn trong phát triển sản xuất, thể hiện một phần mong muốn của Thành phố về nâng cao thu nhập và đời sống cho người dân vùng nông thôn Chính sách bắt đầu từ năm 2006

và vẫn tiếp tục duy trì cho đến hôm nay (qua từng giai đoạn chính sách có sự điều chỉnh, bổ sung để phù hợp hơn với đặc thù vùng nông thôn Thành phố) Trong quá

Trang 17

trình thực hiện chính sách, chính quyền Thành phố đã sử dụng nguồn vốn ngân sách

để hỗ trợ cho nông dân phát triển sản xuất (tổng mức vốn vay từ năm 2008 đến cuối năm 2016 là trên 4.600 tỷ đồng và tổng mức ngân sách nhà nước hỗ trợ là trên 300

tỷ đồng (báo cáo chính sách tại Chi cục phát triển nông thôn, TP.HCM năm 2016) Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân thành phố năm 2016 thì việc hỗ trợ vốn đã góp phần làm tăng thu nhập cho người dân nông thôn và đã khuyến khích người dân phát triển sản xuất Tuy nhiên, trong điều kiện thực tiễn vẫn còn rất nhiều người dân nông thôn chưa tiếp cận được chính sách hỗ trợ tín dụng của thành phố để nâng cao thu nhập Chính vì vậy, để góp phần hoàn thiện, nâng cao tính hiệu quả chính sách

hỗ trợ tín dụng của thành phố cho người dân nông thôn, tôi chọn đề tài “Giải pháp hoàn thiện hoạt động hỗ trợ tín dụng của thành phố Hồ Chí Minh cho người dân nông thôn tại huyện Củ Chi”

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

1.3.1 Mục tiêu chung

Phân tích, đánh giá một cách toàn diện các khoản hoạt động hỗ trợ tín dụng

mà Thành phố khuyến khích người dân nông thôn chuyển đổi cây trồng vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên theo hướng nông nghiệp công nghệ cao Trên cơ sở

đó, đưa ra những hạng mục và giải pháp cải cách chính sách hoặc bổ sung những hoạt động hỗ trợ đi kèm, nhằm nâng cao thu nhập cải thiện cuộc sống từ sản xuất nông nghiệp của người dân

Trang 18

1.3.3 Trả lời câu hỏi

- Việc vay vốn từ hoạt động hỗ trợ tín dụng của thành phố có thực sự làm thay đổi thu nhập của người dân nông thôn vùng ngoại thành không?

- Định mức hỗ trợ tín dụng có phù hợp với nhu cầu CDCCKT NN của người dân nông thôn vùng ngoại thành không?

- Quy định về hạng mục hỗ trợ tín dụng của thành phố, người dân nông thôn vùng ngoại thành có tiếp cận và sử dụng một cách hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp không?

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh: nghiên cứu và tổng hợp các văn bản, tài liệu, số liệu thứ cấp về hoạt động hỗ trợ tín dụng của thành phố Hồ Chí Minh cho người dân nông thôn tại huyện Củ Chi, tác giả tiến hành lập bảng, biểu, đồ thị,… để so sánh và đánh giá nội dung cần tập trung nghiên cứu

- Phương pháp phỏng vấn nhóm và tay đôi: đối với các cơ quan quản lý và chuyên viên để thu thập ý kiến của các cán bộ làm trong phát triển nông thôn, hoạt động an sinh xã hội, viện nghiên cứu phát triển kinh tế,… Nhằm tìm hiểu rõ hơn về mục tiêu, nhiệm vụ và những yêu cầu đặt ra về hoạt động hỗ trợ tín dụng cho người dân huyện Củ Chi

- Phương pháp khảo sát bằng phiếu điều tra: tác giả thu nhập dữ liệu sơ cấp

từ các hộ dân làm nông nghiệp tại huyện Củ Chi Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm Kết quả phân tích dữ liệu làm cơ sở cho việc đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động hỗ trợ tín dụng của thành phố Hồ Chí Minh cho người dân nông thôn

Trang 19

1.5 Đối tƣợng và phạm vị nghiên cứu

1.5.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Là các hộ dân chăn nuôi bò sữa, chăn nuôi heo, trồng rau, trồng lúa, nuôi cá thịt và cá kiểng tham gia thực hiện vay vốn hoặc không vay vốn theo Chương trình

hỗ trợ tín dụng chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nông nghiệp công nghệ cao tại huyện Củ Chi

1.5.2 Phạm vị nghiên cứu

Giới hạn về thời gian: Đề tài sẽ nghiên cứu giai đoạn từ năm 2014 đến năm

2016 Vì giai đoạn này Thành phố đã chỉnh sửa, bổ sung và thay thế chính sách theo Quyết định số 105 của Thành phố bằng các Quyết định số 36, 13 và 04 (gọi tắt là Chính sách 36, Chính sách 13 và Chính sách 04) sát hợp hơn với đặc thù vùng nông thôn thành phố Hồ Chí Minh Thời gian 2014 đến năm 2016 cũng là thời gian ra đời của chính sách 36, 13 và kết thúc chính sách này để chuyển sang chính sách 04 Hơn nữa giai đoạn này cũng gần đây sẽ thuận tiện hơn cho việc điều tra và khảo sát các hộ dân làm nông nghiệp

Giới hạn về không gian: Đề tài tập trung vào nghiên cứu trên địa bàn huyện

Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh

1.5.3 Giới hạn của đề tài

Thành phố có 5 huyện và 6 quận còn diện tích đất nông nghiệp để thực hiện

về chính sách Do đó, nếu đánh giá chung về mặt chính sách phải triển khai khảo sát trên tất cả các huyện, quận này Tuy nhiên, do khả năng của cá nhân thực hiện đề tài, nên chỉ chọn huyện Củ Chi để nghiên cứu (lý do: địa bàn gần gũi với cá nhân thực hiện nghiên cứu, hơn nữa huyện Củ Chi có những đối tượng cây trồng, vật nuôi nằm trong định hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi của Thành phố, diện tích khá lớn với 21 xã, thị trấn, dân số đông và có lượng vốn vay cũng tương đối lớn chỉ sau huyện Cần Giờ Số liệu cụ thể về lượng vốn vay và đối tượng cây trồng, vật nuôi chủ yếu thể hiện ở Phụ lục 1 và Phụ lục 2)

Trang 20

1.6 Bố cục dự kiến của luận văn

Chương 1: Cơ sở lý luận về tín dụng và hoạt động hỗ trợ tín dụng

Chương 2: Thực trạng về hoạt động hỗ trợ tín dụng của thành phố Hồ Chí

Minh cho người dân nông thôn tại huyện Củ Chi

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động hỗ trợ tín dụng của thành phố

Hồ Chí Minh cho người dân nông thôn tại huyện Củ Chi

Trang 21

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ TÍN DỤNG VÀ HOẠT ĐỘNG

HỖ TRỢ TÍN DỤNG

1.1 Các khái niệm

1.1.1 Thu nhập của hộ gia đình

Là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định, bao gồm: (1) Thu từ tiền công, tiền lương; (2) thu từ sản xuất nông, lâm, ngư và diêm nghiệp (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (3) thu từ sản xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (4) thu khác được tính vào thu nhập (không tính tiền rút tiết kiệm, bán tài sản, vay thuần tuý, thu nợ và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được)

Để đánh giá chính xác tác động của chính sách hỗ trợ tín dụng đến thu nhập của người dân thì thu nhập của hộ gia đình trong đề tài chỉ giới hạn đó là thu nhập thuần túy từ nông nghiệp bao gồm các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư và diêm nghiệp

Do đó, thu nhập bình quân/lao động là bao gồm tổng thu nhập từ các hoạt động nông nghiệp trong hộ chia cho tổng số lao động trong hộ gia đình có tham gia

hoạt động sản xuất nông nghiệp

Trang 22

 Thủy sản bao gồm việc nuôi trồng và khai thác nguồn động thực vật thủy sinh trong môi trường nước mặn, nước lợ và nước ngọt

 Lâm nghiệp bao gồm việc bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thực vật và động vật rừng – cho gỗ và những sản phẩm ngoài gỗ

Trong nông nghiệp, việc tái sản xuất sản phẩm không chỉ gắn liền với các quá trình kinh tế - xã hội, mà còn gắn với các quá trình tự nhiên của sinh vật và môi trường sống của nó Do đó, nông nghiệp không chỉ là một ngành kinh tế - kỹ thuật như những lĩnh vực kinh tế khác, mà còn là một hệ thống kinh tế - kỹ thuật, xã hội

và môi trường

1.1.3 Nông nghiệp đô thị

Đô thị nói chung là nơi đông dân, tập trung buôn bán như thành phố, thị xã Quá trình đô thị hoá ra đời vào lúc nền canh tác nông nghiệp đã ở trình độ khá cao, như: đã có thuỷ lợi, thành lập kho tàng lưu trữ và phân bố lương thực tức là vào khoảng 2.000 năm trước công nguyên Các khu vực đô thị lúc đầu thường mọc lên

ở dọc bờ sông thuận tiện giao thông, nguồn nước Sự hình thành các đô thị gia tăng mạnh mẽ nhờ các tiến bộ về công nghiệp từ cuối thế kỷ XIX đến nay

Ở những nước phương Tây, do sự cách biệt không lớn giữa cấu trúc làng xã

và thành thị nên khi xác định tiêu chí của một đô thị khá giản đơn Vì ngay từ khi mới hình thành, đô thị đã là những tập hợp người hoàn toàn tách khỏi nông nghiệp, chuyên sống bằng nghề thủ công, buôn bán, dịch vụ Còn ở Việt Nam vì là một nước nông nghiệp, nên tiêu chí để định hình đô thị cũng có khác, những tụ điểm dân

cư đông được coi là thuộc phạm trù đô thị, khi ở đó đại bộ phận trong họ sống phi nông nghiệp là chủ yếu và cũng chỉ đạt mức đa số, chứ không thể chiếm ưu thế tuyệt đối

Đô thị ở Việt Nam bao gồm thành phố, thị xã, thị trấn Có 05 yếu tố cơ bảnphân loại đô thị, gồm: là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động tối thiểu là 65%; cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn

Trang 23

quy định đối với từng loại đô thị; quy mô dân số ít nhất là 4.000 người; mật độ dân

số phù hợp quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị

Nông nghiệp đô thị bền vững

+ Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của con người, nhưng không tổn hại tới sự thoả mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai (1987,Uỷ ban Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc) Như vậy, có thể nói phát triển bền vững là sự phát triển hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế; nâng cao mức

độ công bằng xã hội, giàu có về văn hóa; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường

+ Nông nghiệp bền vững là một hệ thống sản xuất có chọn lọc, đa dạng nhưng đảm bảo hệ sinh thái gồm các yếu tố tác động một cách tương hỗ cùng tồn tại, cân bằng tự nhiên, phát triển đem lại hiệu quả kinh tế cao, môi trường trong sạch, sản phẩm an toàn và được thị trường chấp nhận

+ Nông nghiệp sinh thái đô thị là nông nghiệp phát triển trên vùng đô thị

hoặc gần vùng đô thị Nó thích ứng với hoàn cảnh sinh thái đô thị và phát huy các lợi thế của điều kiện vật chất-kỹ thuật đô thị, để ngày càng hoàn thiện các chức năng sinh thái mà nó tham gia vào các chu trình cân bằng và chức năng cung ứng một cách tương thích, nhằm thoả mãn các nhu cầu thị trường đô thị về những nông sản hàng hoá sạch, chất lượng cao và đa dạng; đồng thời cung ứng các sản phẩm văn hoá, tinh thần và đáp ứng nhu cầu nghỉ dưỡng của thị dân

Nông nghiệp đô thị chịu ảnh hưởng của môi trường đô thị rất lớn theo chiều hướng có hại của các hoạt động trong xây dựng, giao thông vận tải, công thương nghiệp do con người gây ra Mặt khác, nông nghiệp đô thị lại nhận được những tác động có lợi từ các yếu tố và môi trường vật chất kỹ thuật cao, hạ tầng kỹ thuật và các kênh chuyển giao công nghệ của đô thị, tạo điều kiện để hiện đại hóa nông nghiệp bằng điện khí hóa, cơ giới hóa, thủy lợi hóa, hóa học hóa, thông tin tin học hóa; công nghệ sinh học phát triển, đủ sức đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng về giống và kỹ thuật sản xuất chế biến và bảo quản nông sản hàng hoá, áp dụng công nghệ thích ứng theo ngành hàng, thực sự đáp ứng yêu cầu của thị trường qua chế

Trang 24

biến và bảo quản tốt; trực tiếp giúp nông dân đưa năng suất lao động, sản lượng và chất lượng nông sản lên cao hơn

Nông nghiệp sinh thái (Organic farming) là khuynh hướng phát triển sản xuất nông nghiệp trên cơ sở bảo vệ môi trường sinh thái và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, thành tựu của công nghệ và khoa học kỹ thuật Nền nông nghiệp sinh thái phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

+ Không phá hoại môi trường;

+ Ðảm bảo năng suất ổn định;

Nông nghiệp đô thị ở thành phố Hồ Chí Minh có thể chia ra các vùng như:

+ Vùng nông nghiệp theo quy hoạch sắp lên đô thị trở thành vùng nông

nghiệp thoái hóa có hiệu quả sản xuất kinh doanh giảm sút Vùng được gọi là "nông nghiệp thoái hóa" này còn đang có tình trạng lãng phí lớn đất màu mỡ do quy hoạch treo, hay nông dân chờ quy hoạch đã xây dựng và trồng cây bừa bãi mong được đền

bù cao hơn Để duy trì và phát triển sản xuất ở vùng này cần áp dụng công nghệ cao với các vụ sản xuất ngắn ngày, như: rau hoa, cá cảnh, cây cảnh, nuôi ba ba, cá sấu,

…, với nhiều cơ hội thu lời rất cao Nếu khu dân cư ở vào vị trí thích hợp thì sau khi hết đất canh tác, chính quyền có thể cùng nhân dân thực hiện việc chỉnh trang làng xóm, tạo địa điểm du lịch sinh thái và chuyển bộ phận dân cư sang kinh doanh dịch vụ du lịch

+ Vùng nông nghiệp ở vành đai xa hơn, nếu có trở thành đô thị thì phải

hàng chục năm sau và lâu hơn, với không gian có thể vượt địa giới hành chính do sức hút của các ngành sản xuất hiệu quả cao Để trở thành vùng nông nghiệp năng động cần đa dạng hóa sản xuất, phát triển hệ sinh thái vườn ao chuồng (VAC), áp dụng công nghệ cao trong công nghiệp hóa và hiện đại hóa để phát triển bền vững với hiệu quả cao Những mô hình sản xuất nông nghiệp hiện đại cần được xây dựng, cùng với các loại hình nông nghiệp hàng hoá như nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp du lịch, sản xuất nông sản xuất khẩu thu ngoại tệ, nông nghiệp phục vụ khách sạn, nông nghiệp an dưỡng

Trang 25

Chính vì vậy, Nông nghiệp đô thị bên cạnh mang lại lợi ích kinh tế khá lớn

còn có ý nghĩa to lớn về xã hội và nhân văn

1.1.4 Vốn trong nông nghiệp

Theo Kay và Edwards (ĐH Texaz và Iowa, Hoa Kỳ) (2009), vốn trong sản xuất nông nghiệp là toàn bộ tiền đầu tư, mua hoặc thuê các yếu tố nguồn lực cho sản xuất nông nghiệp Đó là số tiền dùng để mua hoặc thuê ruộng đất, đầu tư hệ thống thủy nông, vườn cây lâu năm, máy móc, thiết bị, nông cụ và tiền mua con giống, cây giống, mua vật tư (phân bón, nông dược, thức ăn gia súc,…) Vốn trong nông nghiệp phân thành vốn cố định và vốn lưu động

1.1.5 Nông thôn

Theo Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21 tháng 8 năm 2009 của

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cụ thể: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã"

Theo Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng chính phủ là khu vực địa giới hành chính không bao gồm địa bàn của phường, quận thuộc thị xã, thành phố

Theo Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT, ngày 04 tháng 10 năm 2013, của

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia

về nông thôn mới: “Nông thôn là phần lãnh thổ được quản lý bởi cấp hành chính

cơ sở là Ủy ban nhân dân xã”

1.1.6 Tín dụng

Tín dụng là quan hệ kinh tế giữa người đi vay và người cho vay (quan hệ vay mượn), là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một giá trị hay hiện vật theo những điều kiện mà hai bên thỏa thuận, hết thời hạn thì người đi vay phải trả cho người cho vay số tài sản kèm theo một số lợi tức

Theo từ điển thuật ngữ tài chính thì “tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại trong các phương thức sản xuất hàng hóa khác nhau và được biểu hiện như sự vay

Trang 26

mượn trong thời hạn nào đó” Khái niệm vay mượn bao gồm sự hoàn trả Chính sự hoàn trả là đặc trưng thuộc bản chất của tín dụng, là dấu ấn phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trù cấp phát tài chính khác

1.1.7 Hộ nông dân

Theo Đào Công Tiến (2003), hộ nông dân là đơn vị tế bào xã hội nhưng không phải trùng với gia đình Khái niệm hộ tồn tại trong hệ thống hành chính pháp

lý, dùng để chỉ những người cùng sống chung một nhà, có quan hệ kinh tế chung

Gia đình là tập hợp những người có quan hệ vợ chồng, họ hàng, huyết thống cùng chung nơi ở và một số sinh hoạt cần thiết khác như ăn, uống,…

Kinh tế nông hộ là đơn vị sản xuất và tiêu dùng của nền kinh tế nông thôn Kinh tế nông hộ dựa chủ yếu vào lao động gia đình để khai thác đất đai và các yếu

tố sản xuất khác nhằm thu về thu nhập thuần cao nhất

1.1.8 Lao động nông nghiệp

Theo Đinh Phi Hổ (2003), nguồn lao động nông nghiệp bao gồm toàn bộ những người tham gia vào sản xuất nông nghiệp Nguồn lao động nông nghiệp được thể hiện cả về mặt số lượng và chất lượng

Theo Bộ Luật Lao động mới số 10/2012/QH13 bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 5 năm 2013 Độ tuổi lao động là độ tuổi được tính từ thời điểm bắt đầu đủ tuổi lao động đến tuổi nghỉ hưu

Theo ghi nhận tại điểm 1 điều 3 Luật lao động thì tuổi lao động được tính từ

đủ 15 tuổi Trong khi đó tuổi nghỉ hưu được xác định như sau:

1 Người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi

2 Người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 năm so với quy định tại khoản 1

Trang 27

Như vậy độ tuổi lao động là 15 – 60 tuổi đối với nam và 15 – 55 tuổi đối với

nữ Trường hợp người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 năm

1.1.9 Khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp

Theo Đinh Phi Hổ (2003), Khoa học là hệ thống tri thức gồm những qui luật

về tự nhiên, xã hội và kinh tế được tích lũy trong quá trình nhận thức trên cơ sở thực tiễn, được thể hiện bằng những khái niệm và học thuyết

Khoa học nông nghiệp là hệ thống tri thức về các qui luạt tự nhiên, kinh tế và

xã hội trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp

Công nghệ trong nông nghiệp là tập hợp những công cụ và phương pháp dùng

để tác động vào các nguồn lực nhằm nâng cao năng lực của sản xuất nông nghiệp

Như vậy, khoa học và công nghệ trong nông nghiệp gắn bó chặt chẽ với nhau Chức năng của khoa học là khám phá các qui luật trong khi chức năng của công nghệ chính là ứng dụng các qui luật vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp

1.2 Các lý thuyết về thị trường tín dụng nông thôn

1.2.1 Vai trò của vốn và tín dụng trong phát triển nông thôn

1.2.1.1 Vai trò của vốn trong phát triển nông nghiệp

Todaro và Smith (2009) đã đề cập đến vai trò của vốn trong việc phát triển nông nghiệp Các tác giả đã chia sự phát triển của nông nghiệp ra làm ba giai đoạn lớn Giai đoạn đầu tiên là giai đoạn có sản lượng và năng suất thấp, chủ yếu là hình thức tự cung tự cấp với nhân tố chính là đất đai và lao động, vốn được đầu tư ít Do

đó, người nông dân có thu nhập thấp và không ổn định Giai đoạn thứ hai được gọi

là giai đoạn đa dạng và hỗn hợp nông nghiệp, sản lượng và năng suất lao động được nâng cao, một phần nhỏ sản phẩm được sử dụng cho tiêu dùng, còn một phần đáng

kể được bán cho các khu vực thương mại Trong giai đoạn này, vốn được đầu tư nhiều hơn, đồng thời nguồn lao động dư thừa ở vùng nông thôn được sử dụng tốt và hiệu quả hơn, thu nhập của người lao động gia tăng ở mức trung bình nhưng có độ

ổn định cao Giai đoạn thức ba là chuyên môn hóa, đại diện bởi các trang trại hiện

Trang 28

đại có năng suất cao Việc tạo vốn, áp dụng tiến bộ công nghệ, nghiên cứu khoa học

và triển khai đóng vai trò vô cùng quan trọng Nhờ đó, đời sống người dân được cải thiện với mức thu nhập cao nhưng độ ổn định ở mức trung bình do sự biến động về giá cả hàng hóa

Khi nghiên cứu đầu vào của quá trình sản xuất, các nhà kinh tế học hiện đại

đã khẳng định vốn là “chìa khóa” của tăng trưởng và phát triển kinh tế Theo Perkins (2006), vai trò của vốn đối với tăng trưởng kinh tế của một đơn vị kinh tế bất kỳ (công ty, ngành công nghiệp, nông nghiệp, hay toàn bộ nền kinh tế) được lượng hàng hóa thông qua mô hình Harrod – Domar với một hàm sản xuất đơn giản:

G = S/K

Trong đó: G là tỷ lệ tăng trưởng của sản lượng đầu ra

S là tỷ lệ tiết kiệm so với sản lượng đầu ra

K là hệ số gia tăng vốn- sản lượng đầu ra (hệ số ICOR) Hệ số k cho biết để

có thêm một đồng sản phẩm đầu ra (giá trị tăng thêm) cần phải đầu tư k đồng vốn

Mô hình Harrod – Domar khẳng đinh: tốc độ tăng trưởng kinh tế tỷ lệ thuận với tỷ lệ tiết kiệm (đầu tư) và tỷ lệ nghịch với hệ số ICOR Do đó, để tăng trưởng nền kinh tế cần phải tiết kiệm để đầu tư một tỷ lệ nhất định so với GDP Hay nói rõ hơn, nền kinh tế có khả năng tiết kiệm, đầu tư càng lớn càng đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhất là hiệu suất của đầu tư (mức sản lượng tăng thêm thu được từ một đơn vị đầu tư tăng thêm), được tính bằng 1/k, tức là bằng nghịch đảo của tỷ lệ tăng vốn – đầu ra Trên thực tế, k không phải không đổi mà luôn có xu thế tăng lên, nghĩa là đầu tư có xu hướng ngày càng tốn vốn hơn trong điều kiện khoa học và công nghệ bùng nổ và phát triển mạnh mẽ như hiện nay Vì vậy, để giữ cho tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, cần phải đảm bảo sao cho hệ số ICOR tăng chậm, trong khi vẫn tiếp tục gia tăng tiết kiệm để đầu tư Trong trường hợp tiết kiệm không đủ bù đắp đầu tư, có thể bổ sung

sự thiếu hụt vốn bằng việc thu hút vốn từ bên ngoài

Trang 29

Cũng giống như bất kỳ ngành sản xuất vật chất nào, sự gia tăng nhanh tiết kiệm để đầu tư phát triển nông nghiệp sẽ làm tăng năng lực sản xuất, thúc đẩy gia tăng năng suất, sản lượng và nâng cao chất lượng nông phẩm hàng hóa Đồng thời, sản xuất nông nghiệp có hiệu quả càng tạo ra khả năng thu hút các nguồn lực khác (tài nguyên thiên nhiên, lao động, khoa học – công nghệ,…) tham gia vào phát triển nông nghiệp, gắn với thị trường Nhờ đó, đời sống người nông dân sẽ ngày càng khấm khá hơn, mức sống của họ cũng ngày càng được cải thiện nhanh chóng

Tác động của vốn đối với tăng trưởng sản lượng trong nền kinh tế nói chung

và trong nông nghiệp nông thôn nói riêng còn được thể hiện thông qua hàm sản xuất dạng Cobb-Douglass: Y=ALαBβ (Mankiw, 2002) Trong đó: Y là sản lượng đầu ra;

L là lao động; K là lượng vốn; A là tổng các nhân tố sản xuất; α và β là các hệ số co giãn theo sản lượng của lao động và vốn

 Nếu α + β = 1 thì hàm sản xuất có lợi tức không đổi theo quy mô, nghĩa là nếu vốn và lao động tăng theo một tỷ lệ bao nhiêu thì sản lượng của ngành hay nền kinh tế cũng tăng theo cùng tỷ lệ bấy nhiêu

 Nếu α + β < 1 thì hàm sản xuất có lợi tức giảm dần theo quy mô, tức

là mức sản lượng gia tăng với tỷ lệ thấp hơn tỷ lệ tăng vốn và lao động

 Nếu α + β > 1 thì hàm sản xuất có lợi tức tăng dần theo quy mô, nghĩa

là tỷ lệ gia tăng sản lượng đầu ra cao hơn tỷ lệ tăng vốn và lao động đầu vào

Như vậy, vốn là một trong những yếu tố có vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới mức độ gia tăng sản lượng đầu ra trong nền kinh tế nói chung và trong khu vực nông nghiệp nói riêng Để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và phát triển nông nghiệp, đồng thời nâng cao mức sống cho người dân vùng nông thôn, cần phải tăng cường đầu tư vốn cho khu vực này

1.2.1.2 Mối quan hệ giữa vốn và tín dụng

Đinh Phi Hổ (2008), đã xác định vốn trong nông nghiệp được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau:

Trang 30

Thứ nhất, là vốn tích lũy từ bản thân khu vực nông nghiệp Đây là vốn tự có,

do nông dân tiết kiệm được và sử dụng đầu tư vào tái sản xuất mở rộng Mức độ tích lũy vốn thường được đánh giá bởi tỷ lệ tiết kiệm so với thu nhập hoặc tỷ lệ tiết kiệm so với GDP

Thứ hai, là vốn đầu tư của ngân sách – vốn đầu tư cho nông nghiệp từ ngân

sách Nhà nước Vốn này được dùng vào khai hoang và xây dựng vùng kinh tế mới, nông trường quốc doanh, trạm, trại kỹ thuật nông nghiệp, thủy lợi, nghiên cứu khoa học, chương trình giải quyết việc làm ở nông thôn

Thứ ba, là vốn từ tín dụng nông thôn, vốn đầu tư cho nông nghiệp của nông

hộ, trang trại và các doanh nghiệp nông nghiệp vay từ hệ thống định chế tài chính nông thôn thuộc khu vực chính thức và phi chính thức

Thứ tư, là vốn nước ngoài, bao gồm hai nguồn chủ yếu là vốn đầu tư gián

tiếp nước ngoài và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Như vậy, vốn tín dụng là một trong số cấu thành nguồn vốn quan trọng để phát triên nông nghiệp Có tác động tới mức sống của các hộ gia đình ở vùng nông thôn Tuy nhiên, vốn tín dụng nông thôn gồm có hai loại là tín dụng chính thức (tín dụng ngân hàng) và tín dụng phi chính thức, trong đó tín dụng ngân hàng là nguồn tín dụng chủ yếu được sử dụng ở nông thôn hiện nay

1.2.1.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với việc phát triển nông nghiệp và nâng cao mức sống hộ gia đình ở nông thôn

Xét dưới hình thức chủ yếu của tín dụng là loại hình cho vay thì tín dụng ngân hàng có vai trò hết sức to lớn đối với sự phát triển nông nghiệp và kinh tế hộ ở nông thôn Theo Nguyễn Bích Đào (2008), tín dụng ngân hàng có những vai trò sau:

Thứ nhất, tín dụng góp phần hình thành và phát triển thị trường tài chính

nông thôn Hoạt động tín dụng là “cầu nối” trung gian giữ những người cần vốn và những người cung ứng vốn, để phục vụ cho quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa Xét trong phạm vi cả nước thì có những vùng, khu vực này cần vốn, nhưng khu vực khác lại có nguồn vốn dư thừa chưa cần dùng đến Vì thế tín dụng ngân

Trang 31

hàng còn là công cụ điều hòa nguồn vốn giữa nơi thừa và nơi thiếu vốn Thị trường tài chính ở nông thôn là nơi giải quyết mối quan hệ cung cầu về vốn, đáp ứng nhu vầu phát triển kinh tế nông thôn Với hệ thống cơ sở rộng khắp xuống từng huyện,

xã, hoạt động tín dụng đã đẩy nhanh sự hình thành và phát triển thị trường tài chính

ở nông thôn

Thứ hai, tín dụng ngân hàng góp phần tận dụng mọi tiềm năng to lớn ở nông

thôn Tiềm năng về phát triển ở nông thôn nước ta là rất lớn, đây là khu vực tập trung đại đa số tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là đất đai cũng như nguồn lực lao động dồi dào của đất nước Nếu được đầu tư vốn một cách hiệu quả, người dân nơi đây sẽ có điều kiện khai thác tiềm năng tại chỗ, giải phóng sức lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, ngày càng mở rộng

và phát triển thị trường ở nông thôn

Thứ ba, tín dụng góp phần xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện cho người

nông dân tiếp thu công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh Vốn tín dụng của ngân hàng tham gia vào quá trình sản xuất thông qua hình thức đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho nông nghiệp và nông thôn như: đường sá, cầu cống, công trình thủy lợi, công trình giao thông, mạng lưới điện, thông tin, nước sạch, bệnh viện, trường học, chợ,…Đây là những cơ sở hạ tầng phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho quá trình sản xuất, góp phần nâng cao đời sống của người dân vùng quê và giảm sự chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn

Thứ tư, tín dụng tạo điều kiện phát triển ngành nghề truyền thống, ngành

nghề mới, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong nông thôn Thông qua hoạt động đầu tư xây dựng cơ sở vật chất phục vụ sản xuất, một lượng lớn lao động dư thừa ở nông thôn đã được giải quyết việc làm Tuy nhiên, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, sự cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt, sẽ có những doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân làm ăn kém hiệu quả, rời khỏi nông nghiệp và chuyển sang nghề khác như: tiểu thủ công nghiệp, các nghề truyền thống Do đó, các ngành nghề này sẽ được phát triển và lại tiếp tục thu hút lao động Qua đó, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người dân

Trang 32

Thứ năm, tín dụng góp phần đảm bảo hiệu quả xã hội, nâng cao đời sống vật

chất, tinh thần cho người nông dân Hoạt động tín dụng phát triển góp phần hạn chế đáng kể tình trạng cho vay nặng lãi đã tồn tại khá lâu đời ở nông thôn Vì vậy, người dân sẽ thực sự được hưởng thụ thành quả của mình sau một thời gian dài lao động sản xuất Mặt khác, vốn tín dụng của ngân hàng còn được cung ứng cho mọi đối tượng thiếu vốn, không phân biệt giàu nghèo Do đó, đời sống mọi tầng lớp dân

cư được nâng cao và thúc đẩy nông thôn ngày càng phát triển

Tóm lại, tín dụng nông thôn góp phần quan trọng trong việc hình thành và

phát triển thị trường tài chính ở nông thôn; hoàn thiện và phát triển thị trường tài chính thành phố; tăng cơ hội tiếp cận nguồn vốn tín dụng với lãi suất phù hợp cho người nghèo, người thiếu vốn là thúc đẩy thực hiến tiến bộ và công bằng xã hội trong phân phối nguồn lực; xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn phục vụ sản xuất, tạo công

ăn việc làm, tận dụng và phát huy hiệu quả mọi tiềm năng to lớn nơi đây Qua đó, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống không chỉ vật chất mà còn tinh thần cho người dân vùng nông thôn Chính sách hỗ trợ tín dụng nông thôn của thành phố

Hồ Chí Minh là một trong những chính sách thể hiện nhận thức sau sắc ý chí và sự kỳ vọng của thành phố nhằm hỗ trợ mạnh mẽ, thiết thực cho khu vực nông thôn, khuyến khích phát triển sản xuất nâng cao thu nhập và đời sống cho người dân nơi đây

1.2.2 Lãi suất cho thị trường tín dụng nông thôn

Chính sách hỗ trợ tín dụng nông thôn tại thành phố Hồ Chí Minh là một chính sách thực hiện hỗ trợ lãi vay nhằm khuyến khích người dân phát triển sản xuất Tuy nhiên một số lập luận về mặt cơ sở lý thuyết dẫn tới bác bỏ điều này

Theo Đinh Phi Hổ (2003), các nhà kinh tế học thuộc trường phái Ohio (Adams 1973; Gonzalez-Vega 1981; Von Pischke 1978) tranh luận như sau:

Thứ nhất, lãi suất thực thấp không phải là cách hiệu quả của việc phân phối

lại thu nhập cho nông dân nghèo ở vùng nông thôn

Lý do: a) không huy động được tiết kiệm dẫn đến suy giảm quy mô nguồn vốn cho vay b) sự khống chế của chính sách trần lãi suất dẫn đến hạn chế khả năng sinh lợi của các định chế tài chính Hệ quả là: (i) phân bổ lượng tiền cho vay theo

Trang 33

đối tượng chọn lọc; (ii) hạn chế tối đa về chi phí thu thập thông tin đối với khách hàng Trong điều kiện đó, các định chế tín dụng nông thôn sẽ phải chọn lựa khách hàng vừa đảm bảo ít rủi ro (có tài sản thế chấp) và quy mô lượng tiền vay lớn (giảm chi phí giao dịch) Hệ quả, nông dân nghèo, sản xuất nhỏ bị loại ra Như vậy người hưởng lợi sẽ chính là nông dân giàu

Bằng chứng thực tiễn: 15% nông dân nghèo được vay từ các đinh chế tín dụng nông thôn thuộc khu vực chính thức trong các nước châu Á và Mỹ Latinh, 5%

ở Châu Phi, 20% của tổng số người vay đã vay 80% tổng doanh số cho vay trong các nước đang phát triển (Gonzalez-Vega 1984)

Thứ hai, sự ngộ nhận của việc ứng dụng quan điểm Keynes “lãi suất thấp là

cần thiết để khuyến khích đầu tư vào sản xuất” Trong thời kỳ những năm 30 ở Mỹ, lãi suất thực rất cao Do đó, việc giảm lãi suất là cần thiết để khuyến khích mở rộng đầu tư Trong khi hiện nay đối với các nước đang phát triển, lạm phát rất cao nhưng

áp dụng lãi suất danh nghĩa thấp rồi lãi suất thực âm không có nghĩa là khuyến khích đầu tư Ngộ nhận ở chỗ: giảm lãi suất không có nghĩa là lãi suất thực âm

Thứ ba, lãi suất thực âm sẽ khuyến khích sự dịch chuyển chi phí giao dịch từ

các định chế tín dụng nông thôn đến người vay và ảnh hưởng đến phong cách phục

vụ của các định chế Nông dân là người có lý lẽ Khi biết lãi suất thấp, âm trong dạng thực, họ sẽ nổ lực tìm kiếm người cho vay này Do nguồn lực này phân bổ có chọn lọc nên họ sẵn sàng sử dụng chi phí tiêu cực (hối lộ, đút lót cho cán bộ tín dụng) Do nguồn cho vay khan hiếm, họ cũng sẵn sàng chịu thêm các chi phí khác bao gồm hồ sơ – giấy tờ, đi đường, chi phí cơ hội về thời gian phải làm thủ tục Như vậy chi phí vay tiền không có nghĩa chỉ là trả lãi suất Hơn nữa, trong bối cảnh như vậy, sự phục vụ khách hàng sẽ dẫn đến tình trạng quan liêu và lạm dụng nguồn lực hạn chế này cho lợi ích cá nhân của cán bộ tín dụng

Trong tập bài giảng của Trần Tiến Khai (chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright) cũng đã đưa ra nhận định là bản thân hệ thống tín dụng chính thức có vấn

đề riêng của chúng Hầu hết các thể chế tín dụng nông nghiệp chuyên nghiệp hóa không được coi như là các thể chế tài chính trung gian nhằm huy động được tiết

Trang 34

kiệm mà phụ thuộc vào nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước để cho nông dân vay Chính vì không hoạt động theo các tiêu chuẩn hoạt động tài chính thương mại, các thể chế này thiếu hăng hái nỗ lực thu hồi nợ và thay vào đó lại có xu hướng tăng cường cho vay ngắn hạn để có tăng trưởng tín dụng và sử dụng nhiều hơn các nguồn vốn tài trợ từ bên ngoài Về lãi suất, do nhà nước chủ định hỗ trợ cho khu vực nông thôn nên lãi suất cho vay thường thấp và không đủ bù đắp chi phí giao dịch và rủi ro Vì vậy, các thể chế này có xu hướng tập trung cho vay các món vay lớn để giảm bớt chi phi giao dịch và tối thiểu hóa rủi ro Mặc dù vậy, trên thực tế, đôi khi chi phí vay hiệu quả từ các thể chế tín dụng chính thức của nông dân lại rất cao, thậm chí cao hơn cả vay từ tín dụng phi chính thức Bên cạnh đó, rủi ro không thu hoài được nợ là rất lớn ở khu vực nông thôn Người vay không chú tâm trả nợ khi biết hệ thống tín dụng chính thức không có động lực thu hoài nợ và việc mất khả năng chi trả không ảnh hưởng nhiều đến khả năng vay lần sau Sự dễ dàng của nhà nước càng khuyến khích người vay không trả nợ Ngoài các lý do mất khả năng chi trả do thiên tai hoặc làm ăn thua lỗ, người vay có tâm lý chờ đợi Nhà nước cho phép đảo nợ, giãn nợ hoặc xóa nợ

Tóm lại, phát triển tín dụng ở khu vực nông thôn là một điều cần thiết để

phát triển thị trường tín dụng nơi đây, giúp cho người dân phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập Tuy nhiên , theo một số tác giả trường phái Ohio, việc cung ứng vốn cho khu vực nông thôn với một cái giá rẻ (lãi suất thấp) chưa phải là một phương án tốt để giúp cho người dân phát triển sản xuất nâng cao thu nhập Ngược lại nó còn làm cho ngân sách của nhà nước bỏ ra không có hiệu quả hay là một sự thất bại về mặt chính sách

Trang 35

chính sách tiền tệ, chính sách xử lý rủi ro phát sinh trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và các chính sách khác trong từng thời kỳ

Nguồn vốn cho vay của các tổ chức tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn bao gồm: (1) nguồn vốn tự có và huy động của các tổ chức tín dụng theo quy định, (2) Vốn vay, vốn nhận tài trợ, ủy thác của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, (3) Nguồn vốn ủy thác của Chính phủ để cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn (4) Nguồn vốn hỗ trợ từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thông qua việc

sử dụng các công cụ điều hành chính sách tiền tệ

Lãi suất cho vay: lãi suất cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn

do khách hàng và tổ chức tín dụng thỏa thuận phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong từng thời kỳ Trường hợp các chương trình tín dụng phục

vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn thực hiện theo chỉ đạo của Chính phủ thì mức lãi suất và phương thức hỗ trợ thực hiện theo quy định của Chính phủ Những khoản cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn từ nguồn vốn của Chính phủ hoặc các tổ chức, cá nhân ủy thác thì mức lãi suất được thực hiện theo quy định của Chính phủ hoặc theo thỏa thuận với bên ủy thác

Thời hạn cho vay: tổ chức tín dụng và khách hàng căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của dự án, phương án sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ của khách hàng và nguồn vốn cho vay của tổ chức tín dụng để thỏa thuận thời hạn cho vay, thời hạn duy trì hạn mức tín dụng đối với khách hàng Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận thời hạn trả nợ gốc và lãi đối với các khoản cho vay lưu vụ

Chính sách tín dụng khuyến khích sản xuất nông nghiệp theo mô hình liên kết: các doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã ký hợp đồng cung cấp, tiêu thụ đối với tổ chức, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp được tổ chức tín dụng xem xét cho vay không có tài sản bảo đảm tối đa bằng 70% giá trị của dự án, phương án vay theo mô hình liên kết Các doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã đầu mối (sau đây gọi chung là tổ chức đầu mối) ký hợp đồng thực hiện dự án liên kết theo chuỗi giá trị trong sản xuất nông nghiệp với tổ chức, cá nhân trực tiếp sản xuất

Trang 36

nông nghiệp được tổ chức tín dụng xem xét cho vay không có tài sản bảo đảm tối đa bằng 80% giá trị của dự án, phương án sản xuất kinh doanh theo mô hình liên kết Chính sách tín dụng khuyến khích sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao: các doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có dự án, phương án sản xuất kinh doanh trong khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao hoặc vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được tổ chức tín dụng xem xét cho vay không có tài sản bảo đảm tối đa bằng 70% giá trị hợp đồng chuyển giao công nghệ hoặc tiêu thụ sản phẩm là kết quả của việc sản xuất ứng dụng công nghệ cao của khách hàng Các doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được tổ chức tín dụng xem xét cho vay không có tài sản bảo đảm tối đa bằng 80% giá trị của dự án, phương án sản xuất kinh doanh ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp

1.3.2 Tín dụng của ngân hàng thương mại đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng với một bên là các chủ thể khác trong nền kinh tế, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa

là người đi vay vừa là người cho vay, hay nói cách khác, ngân hàng là một trung gian tài chính luân chuyển vốn từ nơi tạm thừa vốn sang nơi thiếu Giá (lãi suất) của khoản vay do ngân hàng ấn định cho khách hàng vay là mức lợi tức mà khách hàng phải trả trong suốt khoản thời gian tồn tại của khoản vay

Chủ thể tham gia trong quan hệ tín dụng ngân hàng là ngân hàng, nhà nước, doanh nghiệp và hộ dân cư Đối tượng được sử dụng trong quan hệ tín dụng là tiền, do đó,

nó không chịu sự giới hạn theo hàng hoá, vận động đa phương đa chiều Đây chính

là ưu điểm nổi bật và là đặc điểm khác biệt giữa tín dụng ngân hàng với các loại hình tín dụng khác

* Các hình thức cho vay:

+ Cho vay từng lần: hình thức này áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu và

đề nghị vay vốn từng lần, khách hàng có nhu cầu vay vốn không thường xuyên hoặc khách hàng mà ngân hàng xét thấy cần thiết phải áp dụng cho vay từng lần để giám sát, kiểm tra, quản lý việc sử dụng vốn vay chặt chẽ an toàn Mỗi lần vay vấn khách

Trang 37

hàng và ngân hàng phải làm các thủ tục vay vốn cần thiết và ký hợp đồng tín dụng Mỗi hợp đồng tín dụng có thể phát tiền vay một hay nhiều lần phù hợp với tiến độ

và yêu cầu sử dụng vốn thực tế của khách hàng Ngân hàng cho vay phải quản lý chặt chẽ doanh số cho vay đảm bảo tổng số tiền trên các giấy nhận nợ do khách hàng lập không vượt quá số tiền đã ký trong hợp đồng tín dụng

+ Cho vay theo hạn mức tín dụng: là việc ngân hàng cho khách hàng vay căn

cứ vào dự án, kế hoạch sản xuất kinh doanh để tính toán và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất kinh doanh Việc thoả thuận này phải được thể hiện và ký kết trong hợp đồng tín dụng Khách hàng được rút vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng cho phép căn cứ vào nhu cầu vốn của phương án sản xuất kinh doanh và chỉ phải xuất trình những thủ tục đơn giản, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp Hình thức tín dụng này thường được áp dụng cho các khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên, sản xuất kinh doanh ổn định,

có uy tín trong quan hệ kinh doanh với ngân hàng

+ Cho vay theo dự án đầu tư: ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống Hình thức này áp dụng cho các trường hợp vay vốn trung và dài hạn

+ Cho vay hợp vốn: theo hình thức này, một nhóm các tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự án hoặc phương án vay vốn của khách hàng, trong đó có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp phối hợp với các tổ chức tín dụng khác Cho vay hợp vốn thường được áp dụng đối với các dự án có nhu cầu vốn lớn, vượt quá khả năng của một ngân hàng hoặc có phạm vi qui mô rộng mà một ngân hàng khó có thể kiểm soát nổi Hình thức tín dụng này giúp cho các ngân hàng giảm thiểu rủi ro, đông thời khác bổ sung kinh nghiệm, kiến thức cho nhau

+ Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: cho vay theo hạn mức tín dụng

dự phòng là việc ngân hàng cho vay cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định để đầu tư cho dự án Theo hình thức này, căn cứ vào nhu cầu của khách hàng, ngân hàng và khách hàng thoả thuận trong

Trang 38

hợp đồng tín dụng: hạn mức tín dụng dự phòng, thời hạn hiệu lực của tín dụng dự phòng Trong thời gian hiệu lực của hợp đồng, nếu khách hàng không sử dụng hoặc không sử dụng hết hạn mức, khách hàng phải trả phí đã cam kết theo thoả thuận Khi khách hàng vay chính thức, phần vốn vay được tính theo lãi suất tiền vay hiện hành

Lãi suất tín dụng: trong quan hệ tín dụng lãi suất là biểu hiện giá cả khoản tiền mà người cho vay đòi hỏi khi tạm thời trao quyền sử dụng một khoản vốn của mình cho người khác trong một thời gian nhất định Người đi vay coi lãi suất như một khoản chi phí phải trả cho nhu cầu sử dụng tạm thời vốn của người khác Nói một cách khác lãi suất tín dụng là giá cả của quyền sử dụng vốn vay Đối với hoạt động ngân hàng, lãi suất là một trong những biến số được theo dõi chặt chẽ nhất, nó không chỉ là công cụ điều tiết vĩ mô mà còn là phương tiện giúp các ngân hàng cạnh tranh trong cơ chế thị trường Thông thường lãi suất của ngân hàng được hình thành trên cơ sở lãi suất thị trường nên luôn biến động

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập hộ gia đình

1.4.1 Nhóm nhân tố liên quan đến đặc trưng của lao động chính của hộ

Tuổi của lao động chính (Người thực hiện trực tiếp sản xuất góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị) đại diện

cho kinh nghiệm của người dân trong lao động sản xuất Khi tuổi của người lao động chính càng cao có nghĩa là kinh nghiệm càng nhiều thì thu nhập của người dân càng lớn Các nghiên cứu trước: Arung, Imai và Sinha (2006); Gobezie và Garber (2007); Ngô Hải Thanh (2014) đều chỉ ra rằng tuổi của chủ hộ có mối quan hệ đồng biến với thu nhập hộ gia đình

Giới tính của lao động chính có nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau về ảnh hưởng tới thu nhập hay mức sống của hộ khi giới tính của người lao động chính là nam và khi người lao động chính là nữ Nghiên cứu tại Ethiopia của Arun và các cộng sự cho thấy nam giới là người lao động chính thì mức sống gia đình đó cao hơn nhưng kết quả nghiên cứu tại Philippines của Kondo cùng các cộng sự năm

2007 lại chỉ ra rằng thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người của hộ gia đình cao

Trang 39

hơn khi người lao động chính là nữ Đặng Thị Phương Thảo (2014) với nghiên cứu

“Ảnh hưởng của tín dụng nhỏ đến thu nhập của nông hộ ở tỉnh Hậu Giang” cho rằng khi lao động chính trong gia đình là nam thì hiệu quả sử dụng vốn vay thấp hơn những hộ gia đình có lao động chính là nữ

Trình độ học vấn của lao động chính có ảnh hưởng quan trọng tới khả năng

thu nhập và chi tiêu của cả hộ Trình độ học vấn càng cao thì thu nhập của hộ càng lớn Các nghiên cứu tại Việt Nam và các nghiên cứu nước ngoài như Philippines,

Ấn Độ đều có kết quả như nhau về nhận định này Đặng Thị Thảo (2014) nhận định rằng trình độ học vấn của lao động chính có tương quan tỷ lệ thuận với thu nhập sau khi vay vốn Cụ thể là, những gia đình mà lao động chính có trình độ từ lớp 9 trở lên bình quân thu nhập tăng thêm sau khi vay vốn nhiều hơn những gia đình mà lao động chính có trình độ dưới lớp 9 là 5,2 triệu đồng/năm Tương tự có các nghiên cứu Ngô Hải Thanh (2014); Nguyễn Thanh Bình (2010); Gobezie và Garber (2007); Kondo và các đ.t.g (2007)

Đào tạo, tập huấn trong quá trình phát triển nông thôn tại thành phố Hồ Chí

Minh Để giúp người dân có công ăn việc làm cũng như nâng cao trình độ trong quá trình phát triển sản xuất Thành phố đã triển khai nhiều lớp tập huấn về khuyến nông và đào tạo nghề nông thôn cho người dân Quá trình đào tạo, tập huấn được kỳ vọng sẽ giúp cho người dân có việc làm ổn định hoặc sản xuất hiệu quả góp phần gia tăng thu nhập cho hộ Nghiên cứu của Đặng Thị Thảo (2014) đã chỉ ra rằng việc tham gia các khóa tập huấn khoa học kỹ thuật phục vụ cho sản xuất nông nghiệp sẽ

tác động tích cực đến hiệu quả sử dụng vốn vay của hộ Đinh Phi Hổ (2003) cũng

đã đưa ra nhận định: “Kiến thức nông nghiệp đã trở nên yếu tố quan trọng giúp nông dân thành công trong hoạt động sản xuất” Theo Alfred Marshall (1980), kiến thức là động lực mạnh mẽ nhất của sản xuất Theo S.C Hsieh (1963), kiến thức nông nghiệp của nông dân phụ thuộc vào mức độ mà họ tiếp cận với các hoạt động cộng đồng ở vùng nông thôn C.R Wharton (1963) tranh luận rằng với tất cả các nguồn lực đầu vào giống nhau, hai nông dân với sự khác nhau về trình độ kỹ thuật nông nghiệp sẽ có kết quả sản xuất khác nhau

Trang 40

1.4.2 Nhóm nhân tố liên quan đến đặc trƣng của hộ gia đình

Quy mô hộ là số nhân khẩu trong hộ có tác động tiêu cực tới mức sống của

hộ gia đình Trong giới hạn của đề tài, quy mô hộ là số lao động trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp Các nghiên cứu đều cho thấy quy mô hộ tỷ lệ nghịch với thu nhập hộ gia đình Có nghĩa là những hộ gia đình càng đông thì thu nhập càng thấp Các nghiên cứu đã chỉ ra điều này là Verner (2005); Ngô Hải Thanh (2014); Arun và các đ.t.g (2006); Kondo và các đ.t.g (2007)

Diện tích đất sản xuất người dân vùng nông thôn sống chủ yếu dựa vào sản

xuất nông nghiệp Vì vậy, đất đai là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến thu nhập

và chi tiêu của các hộ Việc sở hữu nhiều đất đai có thể giúp hộ gia tăng sản xuất, đa dạng hóa cây trồng và vật nuôi, qua đó cải thiện mức sống tốt hơn Các căn cứ chứng minh cho luận điểm trên là Đinh Phi Hổ (2003), Kondo và các đ.t.g (2007)

Trong giới hạn của đề tài là vùng đất Củ Chi thuộc thành phố Hồ Chí Minh

Do đó, diện tích đất sản xuất nông nghiệp chia làm 3 loại đại diện cho các lĩnh vực sản xuất trong nông nghiệp:

+ Diện tích đất trồng trọt

+ Diện tích đất chăn nuôi

+ Diện tích đất nuôi trồng thủy sản

1.4.3 Nhóm nhân tố liên quan đến đặc trƣng sản xuất và nhu cầu vay vốn của hộ gia đình

Chính sách đưa ra nhằm mục tiêu khuyến khích phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập của người dân Mục tiêu của chính sách cũng hướng người dân đi vào sử dụng khoa học công nghệ vào phát triển sản xuất và lựa chọn các loại đối tượng cây trồng, vật nuôi phù hợp nhằm nâng cao thu nhập Do đó, để đánh giá chính sách có hiệu quả hay không thì đề tài đưa vào các biến đặc trưng sản xuất của hộ

Khoa học công nghệ, Theo Đinh Phi Hổ (2003) thì việc áp dụng khoa học công nghệ vào phát triển sản xuất bao gồm nhiều yếu tố như thủy lợi hóa, cơ giới hóa, hóa học hóa, sinh học hóa,…Việc áp dụng càng nhiều khoa học công nghệ làm cho năng suất của cây trồng, vật nuôi càng cao và dẫn đến thu nhập cho hộ nông

Ngày đăng: 31/12/2018, 17:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w