Hệ thống chính sách, pháp luật về BHXH, BHYT từng bước được hoàn thiện phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; số người tham gia BHXH, BHYT tăng qua các năm; thực hiện việc
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
-
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGUYỄN QUỐC THANH
HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI
Trang 2
Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận văn
TS Trương Quang Dũng
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Phú Tụ
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký)
Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh ngày 15 tháng 04 năm 2018
Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn Thạc sĩ)
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận sau khi Luận văn đã được sửa chữa (nếu có)
Trang 3
TRƯỜNG ĐH CÔNG NGHỆ TP.HCM CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: Nguyễn Quốc Thanh Giới tính: Nam
Ngày, tháng, năm sinh: 20/08/1972 Nơi sinh: Đồng Tháp
Chuyên ngành: Quản Trị Kinh Doanh MSHV: 1641820072
I- Tên đề tài:
Hoàn hiện hoạt động quản lý thu bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội Thành Phố Hồ Chí Minh
II- Nhiệm vụ và nội dung:
Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động quản lý thu BHXH tại Bảo hiểm xã hội Thành Phố Hồ Chí Minh tập trung giai đoạn năm 2012-2016 Tìm ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân tồn tại trong hoạt động quản lý thu bảo hiểm xã hội của Bảo hiểm xã hội Thành Phố Hồ Chí Minh Đề xuất nhưng giải pháp phù hợp tình hình thực tế tại Bảo hiểm xã hội Thành Phố Hồ Chí Minh nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý thu bảo hiểm xã hội Nội dung chính của luận văn:
- Nghiên cứu những vấn đề chung về bảo hiểm xã hội, giới thiệu vấn đề nghiên cứu, khảo lược các nghiên cứu trước đây có liên quan và lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của nghiên cứu của đề tài
- Nhận xét, đánh giá thực trạng quản lý thu tại thành phố và những số liệu thu thập được để làm cơ sở nghiên cứu, phân tích để tìm ra những nguyên nhân hạn chế, tồn tại
- Từ hạn chế, tồn tại để làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp hoàn thiện hoạt động quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
III- Ngày giao nhiệm vụ:
IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ:
V- Cán bộ hướng dẫn: PGS TS Nguyễn Phú Tụ
(Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký)
Trang 4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên thực hiện Luận văn
Nguyễn Quốc Thanh
Trang 5
LỜI CÁM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến PGS TS Nguyễn Phú
Tụ đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện để tôi có thể hoàn thành
luận văn này Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Trường Đại học Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh (Hutech) đã truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian tôi học tại trường để tôi có nền tảng nghiên cứu đề tài Tôi xin chân thành cảm ơn anh, chị, em đồng nghiệp công tác tại Bảo hiểm xã hội thành phố Hồ Chí Minh giúp đỡ, động viên, luôn cung cấp số liệu cho tôi trong suốt thời gian học tập và làm luận văn
Trong suốt thời gian làm luận văn, tuy tôi đã cố gắng để hoàn thiện luận văn, luôn tiếp thu ý kiến đóng góp của thầy hướng dẫn và bạn bè cũng như các anh chị trong Bảo hiểm xã hội thành phố Hồ Chí Minh, tuy nhiên việc nghiên cứu, đánh giá
sẽ không tránh khỏi những sai sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp và phản hồi quý báu của quý thầy, cô và bạn đọc
Trân trọng cảm ơn
Tác giả
Nguyễn Quốc Thanh
Trang 6
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế là hai chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Trong những năm qua, công tác bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần ổn định đời sống của nhân dân, thực hiện công bằng
xã hội và ổn định chính trị - xã hội Hệ thống chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế từng bước được hoàn thiện phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Bảo hiểm xã hội chính là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội
Mục đích của đề tài nghiên cứu này là tìm ra giải pháp để hoàn thiện hoạt động quản lý thu bảo hiểm xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh Qua nhận xét, đánh giá thực trạng quản lý thu tại thành phố và những số liệu thu thập được để làm cơ sở nghiên cứu, phân tích để tìm ra những nguyên nhân hạn chế, tồn tại làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp hoàn thiện hoạt động quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Kết quả nghiên cứu cho thấy các nội dung ảnh hưởng đến công tác quản lý thu
đó là: quản lý đối tượng tham gia; quản lý tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội; quản lý nợ đọng và công tác thanh tra, kiểm tra; công tác tuyên tuyền chính sách bảo hiểm xã hội đến người tham gia
Trang 7
THESIS ABSTRACT
Social insurance and health insurance are two major policies of Party and State Over the past years, social insurance and health insurance have gained important achievements, contributed to stabilize people's lives, social justice and socio-political stability The system of policies and laws on social insurance and health insurance has been gradually improved in line with the socio-economic development of the country
Social insurance is a guarantee to replace or compensate part of an employee's income when he or she is reduced or lost income due to sickness, maternity, labor accident, occupational disease, end of working age or death, on the basis of payment
to the social insurance fund
The purpose of this thesis is to find solutions for improving the management of social insurance collection in Ho Chi Minh City Based on the comments and assessment of the collection management in the City and based on data collected as the basis for research and analysis to find causes of limitations as a basis for proposing solutions, to improve the management of social insurance collection in Ho Chi Minh City
Research results indicate that factors affect the collection management is: management of participants; management salaries as a basis for paying social insurance premiums; debt management and inspection, examination; propagating social insurance policy to participants
Trang 8
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
6 BH TNLĐ-BNN: Bảo hiểm tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp
16 KCX-KCN: Khu chế xuất - khu công nghiệp
Trang 9
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1.Tỷ lệ đóng BHXH, BHYT, BHTN, BH TNLĐ-BNN 18
Bảng 1.2 Mức đóng trước và sau ngày 01/01/2007 cho các độ tuổi tại Singapore 26 Bảng 2.1 Số đơn vị, lao động tham gia BHXH bắt buộc và số nhân viên BHXH 40
Bảng 2.2 Số đơn vị tham gia BHXH theo khối quản lý 42
Bảng 2.3 Số lao động tham gia BHXH theo khối quản lý 43
Bảng 2.4 Số đơn vị tham gia BHXH theo địa bàn quản lý 44
Bảng 2.5 Số lao động tham gia BHXH bắt buộc theo địa bàn quản lý 46
Bảng 2.6 Dân số, lực lượng lao động và số người tham gia BHXH 49
Bảng 2.7 Kết quả thu BHXH bắt buộc 51
Bảng 2.8 Số thu BHXH bắt buộc 51
Bảng 2.9 Số thu BHXH tự nguyện 52
Bảng 2.10 Số người tham gia BHXH bắt buộc theo mức lương 57
Bảng 2.11 Tỷ trọng và tốc độ tăng số người tham gia BHXH bắt buộc theo mức lương 57
Bảng 2.12 Tình hình nợ đọng BHXH bắt buộc 60
Bảng 2.13 Số tiền nợ BHXH theo khối quản lý 61
Bảng 2.14 Tỷ trọng số tiền nợ BHXH theo khối quản lý 62
Bảng 3 1 Tỷ lệ đóng góp của NSDLĐ và NLĐ theo lộ trình của Luật BHXH 77
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ trong tham gia và hưởng BHXH 7
Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy BHXH TP.HCM 36
Trang 10
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU BHXH 5
1.1 Khái niệm về bảo hiểm xã hội 5
1.1.1 Khái niệm 5
1.1.2 Bản chất 7
1.2 Vai trò của bảo hiểm xã hội 8
1.2.1 Đối với người lao động 8
1.2.2 Đối với xã hội 9
1.3 Nội dung bảo hiểm xã hội 9
1.3.1 Chính sách bảo hiểm xã hội trong hệ thống an sinh xã hội 9
1.3.2 Quyền và trách nhiệm của người sử dụng lao động 10
1.3.2.1 Quyền (Điều 20, Luật BHXH 2014): 10
1.3.2.2 Trách nhiệm (Điều 21, Luật BHXH 2014): 10
1.3.3 Quyền và trách nhiệm của người lao động 11
1.3.3.1 Quyền (Điều 18, Luật BHXH 2014): 11
1.3.1.2 Trách nhiệm (Điều 19, Luật BHXH 2014): 12
1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức trợ cấp bảo hiểm xã hội 12
1.4 Quản lý thu bảo hiểm xã hội 13
1.4.1 Nội dung quản lý thu bảo hiểm xã hội 13
1.4.1.1 Khái niệm 13
1.4.1.2 Mục đích thu BHXH 13
Trang 11
1.4.1.3 Nội dung công tác thu 14
1.4.2 Nội dung nợ bảo hiểm xã hội 19
1.4.2.1 Khái niệm 19
1.4.2.2 Mục đích quản lý nợ BHXH 20
1.4.2.3 Nội dung công tác quản lý nợ BHXH 20
1.4.3 Vai trò của Nhà nước trong quản lý nợ bảo hiểm xã hội 22
1.4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu BHXH 22
1.4.4.1 Chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội 22
1.4.4.2 Cơ cấu dân số 22
1.4.4.3 Chính sách lao động và việc làm 23
1.4.4.4 Tốc độ tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người 23
1.4.4.5 Nhận thức của người lao động và người sử dụng lao động 23
1.4.4.6 Công tác tổ chức thực hiện Bảo hiểm xã hội 24
1.4.4.7 Hệ thống pháp luật về BHXH 24
1.5 Kinh nghiệm quản lý thu của một số quốc gia khác 24
1.5.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản 24
1.5.2 Kinh nghiệm của Singapore 25
1.5.3 Quản lý tài chính BHXH của Cộng hòa Liên bang Đức 26
1.5.4 Bài học kinh nghiệm 28
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ THU 30
BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 30
2.1 Giới thiệu tổng quan về thành phố Hồ Chí Minh 30
2.1.1 Lịch sử hình thành 30
Trang 12
2.1.2 Vị trí 30
2.1.3 Xã hội 31
2.1.4 Khí hậu 31
2.1.5 Kinh tế 31
2.2 Giới thiệu về Bảo hiểm xã hội thành phố Hồ Chí Minh 32
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển 32
2.2.2 Cơ cấu tổ chức 34
2.2.3 Đặc điểm, tinh hình hoạt động của BHXH TP.HCM 37
2.3 Thực trạng hoạt động quản lý thu bảo hiểm xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh giao đoạn 2012 - 2016 39
2.3.1 Quản lý đối tượng thu BHXH bắt buộc 40
2.3.2 Công tác quản lý số thu BHXH bắt buộc 50
2.3.3 Quản lý tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc 55
2.3.4 Công tác quản lý nợ BHXH 59
2.3.4.1 Quản lý nợ đọng BHXH 59
2.3.4.2 Nợ đọng theo khối quản lý 61
2.3.4.3 Đánh giá công tác quản lý nợ BHXH tại thành phố Hồ Chí Minh 64
2.4 Nhận xét đánh giá về hoạt động quản lý thu BHXH tại BHXH TP.HCM 65
2.4.1 Tồn tại chung 65
2.4.2 Công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH 66
2.4.3 Công tác quản lý tiền lương tham gia BHXH 68
2.4.4 Công tác quản lý nợ đọng BHXH 69
2.4.5 Thông tin và truyền thông 69
Trang 13
2.4.6 Hoạt động giám sát 70
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 72
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ THU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 73
3.1 Quan điểm, phương hướng phát triển 73
3.1.1 Quan điểm phát triển 73
3.1.2 Những quy định về thu BHXH bắt buộc của Luật BHXH 75
3.1.3 Định hướng phát triển công tác quản lý thu BHXH tại BHXH TP.HCM 78
3.2 Đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống quản lý thu tại BHXH TP.HCM 79
3.2.1 Giải pháp phát triển đối tượng BHXH 79
3.2.2 Giải pháp quản lý tiền lương 81
3.2.3 Giải pháp hạn chế nợ đọng BHXH 83
3.2.4 Giải pháp tăng cường công tác tuyên tuyền chính sách BHXH 84
3.2.5 Giải pháp nâng cao năng lực quản lý của cơ quan BHXH 85
3.3 Kiến nghị 86
3.3.1 Kiến nghị với Ủy Ban Nhân Dân TP Hồ Chí Minh 86
3.3.2 Kiến nghị với BHXH Việt Nam 87
3.3.3 Kiến nghị Chính phủ 88
3.3.4 Kiến nghị Quốc hội 90
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 90
PHẦN KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 14mô nhỏ, thường là trong một nhóm người chung quan hệ huyết thống
Khi xã hội càng ngày càng tiến bộ, đặc biệt là khi chuyển sang giai đoạn có sự phân công lao động xã hội, nền sản xuất xã hội lúc này đã phát triển Cùng với nó là quan hệ xã hội giữa các cá nhân, giữa các cộng đồng cũng phát triển hơn Khi đó tôn giáo bắt đầu xuất hiện, nó không chỉ với ý nghĩa giáo dục con người hướng thiện mà còn có các trại bảo dưỡng, hội cứu tế với mục đích từ thiện, trợ giúp nhau trong cuộc sống Như vậy, xét về bản chất thì hình thức tương trợ trong thời kỳ này đã mang tính
có tổ chức và quy mô rộng rãi hơn
Từ thế kỷ thứ XVI ở Châu Âu đã xuất hiện ngành công nghiệp, những người nông dân không có đất phải di cư ra thành phố làm thuê cho các nhà máy ngày càng nhiều và dần trở thành công nhân Đặc biệt đến thời kỳ cách mạng công nghiệp thì lực lượng ngày càng đông đảo và trở thành giai cấp công nhân Nhìn chung họ sống không ổn định, cuộc sống chỉ dựa vào công việc với đồng lương ít ỏi, mất việc làm,
ốm đau, tai nạn lao động đều có thể đe dọa cuộc sống của họ Tình đoàn kết tương thân tương ái giữa họ đã nảy nở, cùng với đó là sự ra đời của các nghiệp đoàn, các hiệp hội giúp đỡ các thành viên khi bị ốm đau bệnh tật trong quá trình sản xuất Bên cạnh Hội tương tế còn có Quỹ tiết kiệm được Nhà nước khuyến khích thành lập, tiếp
đó những quy định bắt buộc người sử dụng lao động (NSDLĐ) phải chu cấp cho người lao động (NLĐ) thuộc quyền quản lý khi họ gặp phải ốm đau, tai nạn lao động, mất việc Giai cấp công nhân càng đông đảo thì sức ép đối với những đòi hỏi đảm bảo cuộc sống cho họ ngày càng ảnh hưởng đến đời sống chính trị của mỗi nước Trước tình cảnh đó Chính Phủ mỗi nước không thể không quan tâm đến tình cảnh
Trang 15
của NLĐ Những yêu cầu giảm giờ làm, cải thiện điều kiện lao động, đảm bảo cuộc sống của NLĐ dần được quy định thành các chính sách bắt buộc đối với mỗi nước Điển hình là vào năm 1850, dưới thời Thủ tướng Bismark của Đức đã giúp các địa phương thành lập quỹ do người công nhân đóng góp để được trợ cấp lúc rủi ro Nguyên tắc bảo hiểm bắt buộc bắt nguồn từ đây, người được bảo hiểm phải tham gia đóng phí, sau đó sáng kiến này được áp dụng rộng rãi trên khắp thế giới BHXH ngày càng được hoàn thiện, thực hiện rộng khắp các nước và được Tổ chức Lao động Quốc
tế (ILO) thông qua trong Công ước số 102 vào tháng 4 năm 1952 BHXH ở nước ta
đã manh nha hình thành từ thời thực dân Pháp thống trị Sau cách mạng tháng Tám, Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã ban hành sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947 về việc thực hiện bảo hiểm ốm đau, tai nạn lao động, hưu trí Đây là những viên gạch đầu tiên xây dựng nên hệ thống BHXH của Việt Nam như hiện nay Trong công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế - xã hội, để chính sách BHXH phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế và đi vào đời sống người dân, Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT) giai đoạn 2012-2020 đã xác định
“BHXH và BHYT là hai chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Trong những năm qua, công tác BHXH và BHYT đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần
ổn định đời sống của nhân dân, thực hiện công bằng xã hội và ổn định chính trị - xã hội Hệ thống chính sách, pháp luật về BHXH, BHYT từng bước được hoàn thiện phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; số người tham gia BHXH, BHYT tăng qua các năm; thực hiện việc chi trả lương hưu và các chế độ BHXH theo quy định của pháp luật; quyền lợi của người tham gia BHYT ngày càng được mở rộng Quỹ BHXH được hình thành, có kết dư và bảo toàn, tăng trưởng, tham gia đầu tư góp phần phát triển kinh tế - xã hội Quỹ BHYT bước đầu đã cân đối được thu chi và có kết dư Hệ thống tổ chức BHXH Việt Nam được hình thành và phát triển, cơ bản đáp ứng yêu cầu của việc thực hiện các chế độ, chính sách BHXH, BHYT.“
Trang 16
Mặc dù có nhiều đổi mới trong hình thức đóng và đối tượng đóng BHXH trong thời gian qua, tuy nhiên trong thực hiện chính sách BHXH còn bộc lộ những hạn chế nhất định, nhất là trong công tác thu và phát triển đối tượng do ảnh hưởng các yếu tố khách quan và chủ quan Nguyên nhân chủ quan ngoài việc ban hành chính sách còn
do quá trình thực hiện của cơ quan BHXH, đó là những hạn chế trong thực hiện chính sách và cải cách thủ tục hành chính, tác phong làm việc và ứng dụng công nghệ trong quản lý BHXH
Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) là thành phố lớn nhất nước với hơn 8,44 triệu dân đang sinh sống và làm việc, đối tượng NLĐ nhập cư khá đông và có nhiều doanh nghiệp nên việc di chuyển công việc của NLĐ xảy ra thường xuyên và liên tục nên công tác quản lý thu BHXH gặp nhiều khó khăn và phức tạp Do đó, việc đổi mới công tác quản lý thu BHXH nhăm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý, tránh thất thoát và đảm bảo trách nhiệm của cơ quan BHXH đối với NLĐ là yêu cầu thường
xuyên và cấp thiết Xuất phát từ thực tế trên, tôi chọn đề tài: “Hoàn thiện hoạt động quản lý thu bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội thành phố Hồ Chí Minh“ để
nghiên cứu làm đề tài luận văn thạc sỹ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tất cả các hoạt động quản lý thu của BHXH, trong đó
hoạt động quản lý đối tượng thu, quản lý nợ, quản lý quỹ BHXH là các hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vị về không gian: Tại cơ quan BHXH TP Hồ Chí Minh
Trang 17
+ Phạm vị về thời gian: Số liệu thu thập, nghiên cứu giai đoạn 5 năm từ năm
2012 đến năm 2016
4 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính nghiên cứu các tài liệu, báo cáo tổng hợp, thu thập, xử lý và phân tích số liệu, điều tra về tình hình kinh tế xã hội
và hoạt động BHXH, phương pháp nghiên cứu lý thuyết và tổng kết thực tiễn, phương pháp hệ thống và khái quát hóa, có minh họa, đối chiếu, so sánh, kế thừa một số công trình đã công bố có liên quan đến vấn đề nghiên cứu để đánh giá và làm sáng tỏ các vấn đề cần quan tâm
Đề xuất các giải pháp và chính sách, pháp luật liên quan đến hoạt động thu BHXH để quản lý thu quỹ hiệu quả đảm bảo tính cân đối, bền vững, đáp ứng nhu cầu phát sinh từ người tham gia, thụ hưởng và phát triển bền vững
5 Kết cấu luận văn
Ngoài Mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về BHXH
Chương 2: Thực trạng áp dụng hoạt động quản lý thu BHXH tại TP.HCM Chương 3: Đề xuất giải pháp hoàn thiện hoạt động quản lý thu tại TP.HCM
Trang 18
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU BHXH
1.1 Khái niệm về bảo hiểm xã hội
1.1.1 Khái niệm
BHXH xuất hiện từ rất lâu mà mầm mống của nó từ thế kỷ 18 ở Nam Âu khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hóa đã bắt đầu phát triển Tuy nhiên ban đầu BHXH chỉ mang tính chất sơ khai, với phạm vi nhỏ hẹp Từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18 một số nghiệp đoàn thợ thủ công ra đời, để bảo vệ lẫn nhau trong hoạt động nghề nghiệp họ
đã thành lập nên các quỹ tương trợ để giúp đỡ lẫn nhau, ở Anh năm 1873 đã tổ chức thành lập hội “bằng hữu” để giúp đỡ các hội viên khi bị ốm đau, bị tai nạn nghề nghiệp
BHXH đã trở thành một trong những quyền của con người và được xã hội thừa nhận Tuyên ngôn nhân quyền của Tổ chức Liên Hợp Quốc (10/12/1948) đã ghi: “Tất
cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng BHXH” Ngày 04/06/1952, tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã ký công ước Genève (102) về “BHXH cho NLĐ” đã khẳng định tất yếu các nước phải tiến hành chính sách BHXH cho NLĐ
và gia đình họ
Qua quá trình hình thành chúng ta có thể nhận thấy, lúc khởi đầu, BHXH chỉ mang tính chất tự phát, phạm vi hoạt động nhỏ hẹp, trước nhu cầu của thực tiễn thì chính sách BHXH đã nhanh chóng ra đời và từng bước phát triển rộng khắp BHXH
đã được Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa như sau: “BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập
do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm bảo đảm an toàn đời sống cho NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội.”
Luật BHXH số 58/2014/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 20/11/2014, tại Khoản 1
Trang 19
Điều 3 giải thích “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của
NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH“.[1,tr2]
Từ khái niệm trên, có thể rút ra một số điểm cơ bản sau:
- Đối tượng của BHXH chính là phần thu nhập của NLĐ bị biến động, giảm hoặc mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động do các biến cố như đã nêu trên
từ đó để giúp ổn định cuộc sống của bản thân NLĐ và gia đình họ Chính vì yếu tố này mà BHXH được coi là một chính sách lớn của mỗi quốc gia và được Nhà nước quan tâm quản lý chặt chẽ Cũng tùy vào điều kiện kinh tế của mỗi nước mà các quy định về đối tượng này là có sự khác nhau, nhưng cùng bảo đảm ổn đình đời sống của NLĐ
- Đối tượng tham gia BHXH là gồm NLĐ và cả NSDLĐ Sở dĩ NLĐ phải đóng phí vì chính họ là đối tượng được hưởng BHXH khi gặp rủi ro NSDLĐ đóng phí là thể hiện sự quan tâm, trách nhiệm của họ đối với NLĐ và sự đóng góp trên là bắt buộc, ngoài ra còn có sự hỗ trợ của Nhà nước
- Để điều hòa mâu thuẫn giữa NLĐ và NSDLĐ, để gắn bó lợi ích giữa họ, Nhà nước đã đứng ra yêu cầu cả hai bên cùng đóng góp và đây cũng là chính sách xã hội được thực hiện góp phần ổn định cuộc sống một cách hiệu quả nhất.[17]
Dựa vào bản chất và chức năng của BHXH mà Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cũng đã đưa ra một định nghĩa khác như sau: “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng (bằng pháp luật, trách nhiệm của Chính phủ) để chống lại tình trạng khó khăn về kinh tế và xã hội do
bị mất hoặc giảm mất thu nhập gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già, tàn tật và chết Hơn nữa, BHXH còn phải bảo vệ cho việc chăm sóc y tế, sức khỏe và trợ cấp cho các gia đình khi cần thiết.”
Từ định nghĩa trên chúng ta thấy mục tiêu của BHXH là hướng tới sự phát triển của mỗi cá nhân và toàn xã hội BHXH thể hiện sự đảm bảo lợi ích của xã hội đối với mỗi thành viên từ đó gắn kết mỗi cá nhân với xã hội đó
Trang 20- BHXH là sự cần thiết tất yếu khách quan gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế Đặc biệt đối với nền kinh tế hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ ngày càng phát triển Do vậy trình độ phát triển của nền kinh tế quyết định đến sự đa dạng và tính hoàn thiện của BHXH Vì vậy có thể nói kinh tế là yếu tố quan trọng quyết định tới hệ thống BHXH của mỗi nước
- BHXH, bên tham gia BHXH, bên được BHXH là ba chủ thể trong mối quan
hệ của BHXH Bên tham gia BHXH gồm NLĐ và NSDLĐ (bên đóng góp), bên BHXH là bên nhận nhiệm vụ BHXH, thông thường thì do cơ quan chuyên trách do
Cơ quan BHXH
Người sử dụng lao động Người lao
động
Trang 21
Nhà nước lập ra và bảo trợ, bên được BHXH chính là NLĐ và gia đình họ khi có đủ điều kiện cần thiết Từ đó họ được đảm bảo những nhu cầu thiết yếu, giúp họ ổn định cuộc sống, góp phần ổn đình xã hội
- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động của NLĐ có thể là những rủi ro ngẫu nhiên (tai nạn, ốm đau, bệnh nghề nghiệp ), cũng có thể là các rủi ro không hoàn toàn ngẫu nhiên (tuổi già, thai sản, ) Đồng thời các biến cố này có thể xảy ra trong quá trình lao động hoặc ngoài lao động Phần thu nhập của NLĐ bị giảm hay mất đi từ các rủi ro trên sẽ được thay thế hoặc bù đắp từ nguồn quỹ tập trung được tồn tích lại do bên tham gia BHXH đóng góp và có thêm sự hỗ trợ của ngân sách nhà nước
Như vậy, có thể thấy BHXH góp phần thực hiện mục tiêu đảm bảo an toàn kinh
tế cho NLĐ và gia đình họ BHXH là quá trình tổ chức sử dụng nguồn thu nhập cá nhân và tổng các sản phẩm trong nước để thỏa mãn nhu cầu an toàn kinh tế cho NLĐ
1.2 Vai trò của bảo hiểm xã hội
1.2.1 Đối với người lao động
Với NLĐ trong quá trình sống và làm việc hàng ngày luôn có rủi ro như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, già yếu các rủi ro này đều có thể xảy ra bất kể lúc nào, trong bất kỳ thời điểm nào đối với con người
Trong giai đoạn hiện nay các quốc gia đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đưa đất nước phát triển thì rủi ro này lại càng diễn ta một cách thường xuyên, phổ biến và ngày càng biến động về thị trường lao động và tình hình sản xuất kinh doanh ngày càng đa dạng, phức tạp hơn, khi gặp khó khăn NLĐ sẽ bị mất hoặc giảm đi thu nhập làm ảnh hưởng không tốt về vật chất và tinh thần không chỉ của NLĐ mà còn có gia đình của họ và cả cộng đồng, xã hội
Chính sách BHXH là chính sách lớn của Đảng và nhà nước, nó góp phần trợ giúp cho NLĐ khi họ gặp rủi ro, giúp họ khắc phục được khó khăn bằng cách tạo ra cho họ những phần thu nhập thay thế tạo điều kiện cho họ ổn định được cuộc sống,
Trang 22
yên tâm làm việc, công tác, tạo cho NLĐ niềm tin vào tương lai ổn định góp phần nâng cao năng suất lao động tạo ra của cải vật chất cho xã hội, cho đất nước
1.2.2 Đối với xã hội
BHXH là góp phần thực hiện công bằng xã hội, dựa trên nguyên tắc NLĐ bình đẳng trong nghĩa vụ đóng góp và thụ hưởng Thông qua các hoạt động của mình, BHXH tham gia vào việc phân phối và phân phối lại thu nhập xã hội giữa những NLĐ thế hệ trước với thế hệ sau, giữa những ngành nghề sản xuất, giữa những người thu nhập cao và thu nhập thấp, giữa những người may mắn và không may mắn Mặt khác mức hưởng BHXH phụ thuộc vào mức đóng, thời gian đóng dài hay ngắn theo nguyên tắc "Mức hưởng trên cơ sở mức đóng và có sự chia sẽ giữa những người tham gia"
Vì vậy, BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội, giảm bớt khoảng cách giàu nghèo trong xã hội
BHXH góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước, góp phần đảm bảo ổn định chính trị, xã hội Do BHXH tập trung được nguồn tài chính nhàn rỗi tương đối lớn, thực chất đây là tiền của NLĐ tồn tích lại, nguồn tài chính này tương đối nhàn rỗi, được đầu tư vào các dự án kinh tế - xã hội để bảo toàn, phát triển quỹ BHXH và tăng thêm nguồn lực cho sự phát triển nền kinh tế đất nước Đảng và Nhà nước đã khẳng định phát triển kinh tế - xã hội dựa trên nội lực là chính thì nguồn đầu tư từ quỹ BHXH nhàn rỗi là một kênh rất quan trọng
1.3 Nội dung bảo hiểm xã hội
1.3.1 Chính sách bảo hiểm xã hội trong hệ thống an sinh xã hội
Các quốc gia trên thế giới khi thực hiện chính sách BHXH đều phải lựa chọn cách những quy định, hình thức, cơ chế phù hợp để thỏa mãn nhu cầu BHXH của NLĐ theo tập quán, khả năng chi trả và định hướng phát triển kinh tế xã hội
Chính sách BHXH là một bộ phận cấu thành và là bộ phận quan trọng nhất trong
hệ thống an sinh xã hội Mục đích chủ yếu của chính sách này là nhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ và gia đình họ khu NLĐ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị suy giảm
Trang 23
hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm Do đó, BHXH nằm trong hệ thống các chính sách kinh tế xã hội lớn của Đảng và nhà nước Đây là chính sách góp phần đáp ứng một trong những quyền và nhu cầu cơ bản của con người trong quá trình lao động, đó là: nhu cầu an toàn về việc làm, an toàn lao động, an toàn xã hội
Ngoài ra, chính sách BHXH còn thể hiện trình độ văn minh và tiềm lực kinh tế của mỗi quốc gia, trong một chừng mực nào đó nó thể hiện tính ưu việt của một chế
độ xã hội, nếu thực hiện tốt chính sách BHXH sẽ tạo động lực cho NLĐ phát huy năng lực, tạo năng suất lao động cao, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của đất nước
1.3.2 Quyền và trách nhiệm của người sử dụng lao động
1.3.2.1 Quyền (Điều 20, Luật BHXH 2014):
- Từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng quy định của pháp luật về BHXH
- Khiếu nại, tố cáo và khởi kiện về BHXH theo quy định của pháp luật.[1,tr8] 1.3.2.2 Trách nhiệm (Điều 21, Luật BHXH 2014):
- Lập hồ sơ để NLĐ được cấp sổ BHXH, đóng, hưởng BHXH
- Đóng BHXH theo quy định tại Điều 86 và hằng tháng trích từ tiền lương của NLĐ theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này để đóng cùng một lúc vào quỹ BHXH
- Giới thiệu NLĐ thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản 1, khoản 2 Điều
45 và Điều 55 của Luật này đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa
- Phối hợp với cơ quan BHXH trả trợ cấp BHXH cho NLĐ
- Phối hợp với cơ quan BHXH trả sổ BHXH cho NLĐ, xác nhận thời gian đóng BHXH khi NLĐ chấm dứt HĐLĐ, HĐLV hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật
Trang 24
- Cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc đóng, hưởng BHXH theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, cơ quan BHXH
- Định kỳ 06 tháng, niêm yết công khai thông tin về việc đóng BHXH cho NLĐ; cung cấp thông tin về việc đóng BHXH của NLĐ khi NLĐ hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu
- Hằng năm, niêm yết công khai thông tin đóng BHXH của NLĐ do cơ quan BHXH cung cấp theo quy định tại khoản 7 Điều 23 của Luật này.[1,tr9]
1.3.3 Quyền và trách nhiệm của người lao động
1.3.3.1 Quyền (Điều 18, Luật BHXH 2014):
- Được tham gia và hưởng các chế độ BHXH theo quy định của Luật này
- Được cấp và quản lý sổ BHXH
- Nhận lương hưu và trợ cấp BHXH đầy đủ, kịp thời, theo một trong các hình thức chi trả sau: Trực tiếp từ cơ quan BHXH hoặc tổ chức dịch vụ được cơ quan BHXH ủy quyền; Thông qua tài khoản tiền gửi của NLĐ mở tại ngân hàng; Thông qua NSDLĐ
- Hưởng bảo hiểm y tế trong các trường hợp sau đây: Đang hưởng lương hưu; Trong thời gian nghỉ việc hưởng trợ cấp thai sản khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi; Nghỉ việc hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng; Đang hưởng trợ cấp ốm đau đối với NLĐ mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành
- Được chủ động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động nếu thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 45 của Luật này và đang bảo lưu thời gian đóng BHXH; được thanh toán phí giám định y khoa nếu đủ điều kiện để hưởng BHXH
- Ủy quyền cho người khác nhận lương hưu, trợ cấp BHXH
Trang 25
- Định kỳ 06 tháng được NSDLĐ cung cấp thông tin về đóng BHXH; định kỳ hằng năm được cơ quan BHXH xác nhận về việc đóng BHXH; được yêu cầu NSDLĐ
và cơ quan BHXH cung cấp thông tin về việc đóng, hưởng BHXH
- Khiếu nại, tố cáo và khởi kiện về BHXH theo quy định của pháp luật.[1,tr8] 1.3.1.2 Trách nhiệm (Điều 19, Luật BHXH 2014):
- Đóng BHXH theo quy định của Luật BHXH
- Thực hiện quy định về việc lập hồ sơ BHXH
- Bảo quản sổ BHXH.[1,tr8]
1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức trợ cấp bảo hiểm xã hội
Các yếu tố ảnh hưởng là:
- Tình trạng mất khả năng lao động;
- Tiền lương đang làm việc;
- Thâm niên, ngành nghề công tác;
- Tuổi thọ bình quận;
- Điều kiện kinh tế, xã hội
Về nguyên tắc các khoản trợ cấp BHXH bao giờ cũng thấp hơn khoản thu nhập thực tế của NLĐ khi đang làm việc, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo được mức sống tối thiểu của NLĐ.[1]
Quan điểm này vừa phản ánh tính cộng đồng vừa phản ánh nguyên tắc phân phối lại quỹ BHXH cho những người tham gia BHXH Trợ cấp BHXH là loại trợ cấp thay thế tiền lương, mà tiền lương là khoản tiền mà NSDLĐ trả cho NLĐ theo khả năng lao động khi thực hiện những công việc nhất định Khi NLĐ bị ốm đau, tai nạn lao động hay tuổi già mất thu nhập thì được nhận trợ cấp BHXH và mức trợ cấp này không thể bằng khoản tiền lương mà NLĐ tham gia đóng góp Nếu mức tiền lương bằng hoặc cao hơn mức đóng góp vào quỹ BHXH thì NLĐ sẽ không làm việc và lúc
Trang 26
đó NLĐ sẽ cố gắng bằng mọi cách lợi dụng quỹ BHXH để trục lợi cho bản thân Hiện nay, cách lập quỹ BHXH theo phương thức dàn trải rủi ro nên cũng không cho phép trả trợ cấp bằng lúc đang đi làm việc.[1]
Như vậy, mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lương mà NLĐ tham gia đóng góp vào quỹ BHXH, do bản chất và phương thức BHXH thì mức trợ cấp thấp nhất cũng không thể thấp hơn mức sống tối thiểu, vấn đề này được thể hiện rõ trong Khoản 5 Điều 56 Luật BHXH 2014: “Mức lương hưu hằng tháng thấp nhất của NLĐ tham gia BHXH bắt buộc đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 54
và Điều 55 của Luật này bằng mức lương cơ sở “[1,tr23]
1.4 Quản lý thu bảo hiểm xã hội
1.4.1 Nội dung quản lý thu bảo hiểm xã hội
1.4.1.1 Khái niệm
BHXH bắt buộc là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà NLĐ và NSDLĐ
phải tham gia.[1,tr2]
Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập với ngân sách nhà nước, được hình thành
từ đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và có sự hỗ trợ của Nhà nước.[1,tr2]
Thu BHXH bắt buộc là phần thu được trích theo tỷ lệ phần trăm (%) trên tiền
lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác của các đối tượng theo quy định Điều 2 Luật BHXH 2014.[1]
Từ các khái niệm trên quản lý thu BHXH được hiểu như sau: Quản lý thu BHXH
là quá trình đưa các quy định, quy trình về thu BHXH mang tính pháp lý bắt buộc các bên tham gia BHXH phải tuân thủ thực hiện.[1]
1.4.1.2 Mục đích thu BHXH
Thu BHXH bắt buộc chính là hình thành đầu vào của quỹ BHXH, là cơ sở cho việc chi trả các chế độ BHXH Do đó, để đảm bảo việc thực hiện đầu vào và yếu tố
Trang 27- Thu đủ là thu đầy đủ số người thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc và số tiền phải đóng của NLĐ, NSDLĐ, không bỏ sót lao động thuộc đối tượng tham gia BHXH
- Thu kịp thời, là thu đúng thời gian khi có phát sinh quan hệ lao động, tiền lương mà những quan hệ đó thuộc đối tượng, phạm vi tham gia BHXH và không để
nợ đọng tiền thu.[9]
Tăng cường công tác quản lý thu BHXH là nhằm thực hiện một cách nghiêm chỉnh pháp luật, ngăn ngừa, ngăn chặn việc lạm dụng của NSDLĐ đối với NLĐ nhất
là việc sử dụng lao động, trả tiền lương.[9]
Công tác quản lý thu định hướng cho việc xây dựng chiến lược phát triển của
cả hệ thống BHXH, nhằm đạt được mục tiêu an sinh xã hội, để xác định rõ nội dung quản lý thu có thể dựa vào mô hình chuổi giá trị, mô hình thể hiện các hoạt động quản
lý thu BHXH bắt buộc.[9]
1.4.1.3 Nội dung công tác thu
A Quản lý đối tượng tham gia
Đối tượng theo quy định Điều 2 Luật BHXH 2014, bao gồm:
a NLĐ là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc:
- Người làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLĐ xác định thời hạn, HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả HĐLĐ được ký kết giữa NSDLĐ với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
Trang 28- Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí;
- Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
- Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương;
- Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn.[1,tr1]
b NLĐ là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia BHXH bắt buộc theo quy định của Chính phủ [1,tr2]
c NSDLĐ tham gia BHXH bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo HĐLĐ.[1,tr2]
Quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là phần quan trọng trong công tác quản lý thu BHXH, đặc biệt là nguồn thu từ NLĐ và các đơn vị sử dụng lao động
Trang 29
- Đối với NSDLĐ thì căn cứ vào số lao động hiện đang làm việc có hưởng tiền lương để tại đơn vị để trích nộp BHXH đúng theo quy định của pháp luật BHXH Theo nguyên tắc đơn vị sử dụng lao động tự kê khai và tự chịu trách nhiệm, tuy nhiên thực tế đến nay còn rất nhiều đơn vị sử dụng lao động vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận đã cố tình trốn đóng BHXH cho NLĐ bằng nhiều hình thức như kê khai không đủ số lao động, khai giảm tiền lương
Ngoài ra, công tác quản lý nhà nước về BHXH của các cơ quan có liên quan chưa đồng bộ dẫn đến cơ quan BHXH gặp nhiều khó khăn trong việc xác đình và quản lý đối tượng tham gia BHXH Hiện nay cơ quan BHXH chỉ mới quản lý, theo dõi, kiểm tra được các đơn vị tự giác kê khai tham gia BHXH
- Đối với NLĐ: Luật BHXH quy định rõ NLĐ có trách nhiệm kê khai đầy đủ thông tin nhân thân và quá trình làm việc có đóng BHXH và tờ khai cấp sổ BHXH.[9]
B Quản lý tiền lương làm căn cứ đóng BHXH
Mức tiền lương làm căn cứ thu BHXH dựa trên các yếu tố cơ bản như: tiền lương, HĐLĐ, HĐLV và danh sách ngươi tham gia BHXH để tiến hành hoạt động thu BHXH bắt buộc của NLĐ và NSDLĐ.[9]
Mức thu BHXH bắt buộc đối với NLĐ và NSDLĐ dựa trên tỷ lệ phần trăm (%)
từ tiền lương của NLĐ [1,tr34]
Tiền lương tháng đóng BHXH đối với NLĐ đóng BHXH theo chế độ tiền lương
do NSDLĐ quyết định được quy định cụ thể tại Điều 30 Thông tư BLĐTBXH như sau:
59/2015/TT Từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 đến ngày 31 tháng 12 năm 2017, tiền lương tháng đóng BHXH là mức lương và phụ cấp lương theo quy định tại khoản 1 và điểm
a khoản 2 Điều 4 của Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH ngày 16 tháng 11 năm
2015 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều về HĐLĐ, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày
12 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số
Trang 30mà mức lương thỏa thuận trong HĐLĐ chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ như phụ cấp chức vụ, chức danh; phụ cấp trách nhiệm; phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thâm niên; phụ cấp khu vực; phụ cấp lưu động; phụ cấp thu hút
và các phụ cấp có tính chất tương tự [7,tr37]
- Từ ngày 01/01/2018 trở đi, tiền lương tháng đóng BHXH là mức lương, phụ cấp lương theo quy định tại khoản 1 Điều này và các khoản bổ sung khác theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 4 của Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH [7,tr37]
- Tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc không bao gồm các khoản chế độ và phúc lợi khác, như tiền thưởng theo quy định tại Điều 103 của Bộ luật lao động, tiền thưởng sáng kiến; tiền ăn giữa ca; các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ; hỗ trợ khi NLĐ có thân nhân bị chết, NLĐ có người thân kết hôn, sinh nhật của NLĐ, trợ cấp cho NLĐ gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các khoản hỗ trợ, trợ cấp khác ghi thành mục riêng trong HĐLĐ theo khoản 11 Điều 4 của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng
01 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động [7,tr37]
- Tiền lương tháng đóng BHXH đối với người quản lý doanh nghiệp có hưởng tiền lương quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 115/2015/NĐ-CP là tiền lương do doanh nghiệp quyết định, trừ viên chức quản lý chuyên trách trong công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu [7,tr38]
Tiền lương tháng đóng BHXH đối với người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 2 của Nghị định số 115/2015/NĐ-
CP là tiền lương do đại hội thành viên quyết định [7,tr38]
Trang 31
- Tiền lương tháng đóng BHXH đối với người đại diện phần vốn nhà nước không chuyên trách tại các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, công ty nhà nước sau cổ phần hóa; công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (sau đây được viết là tập đoàn, tổng công ty, công ty) là tiền lương theo chế độ tiền lương của cơ quan, tổ chức đang công tác trước khi được cử làm đại diện phần vốn nhà nước [7,tr38] Tiền lương tháng đóng BHXH đối với người đại diện phần vốn nhà nước chuyên trách tại các tập đoàn, tổng công ty, công ty là tiền lương theo chế độ tiền lương do tập đoàn, tổng công ty, công ty quyết định [7,tr38]
- Trong thời gian NLĐ ngừng việc theo quy định của pháp luật về lao động mà vẫn được hưởng tiền lương thì NLĐ và NSDLĐ thực hiện đóng BHXH bắt buộc theo mức tiền lương NLĐ được hưởng trong thời gian ngừng việc [7,tr38]
C Mức đóng BHXH
Mức đóng BHXH căn cứ vào mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH nhân (x)
tỷ lệ đóng BHXH theo quy định của Luật BHXH, Luật BHYT, Luật Việc làm và Luật
An toàn vệ sinh lao động.[1,tr34]
(Nguồn: Quyết định 595/QĐ-BHXH của BHXH VN)
Trong đó, tỷ lệ đóng BHXH là 25% để giải quyết 4 chế độ: ốm đau, thai sản, hưu trí và tử tuất Tỷ lệ đóng được phân bổ cho các nguồn quỹ như sau: ốm đau, thai sản là 3% và hưu trí, tử tuất là 22%.[9]
Trang 32
D Quản lý tiền thu BHXH
Hằng tháng, chậm nhất đến ngày cuối cùng của tháng, đơn vị trích tiền đóng BHXH trên quỹ tiền lương tháng của những NLĐ tham gia đồng thời trích từ tiền lương tháng đóng BHXH của từng NLĐ theo mức quy định, chuyển cùng một lúc vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH mở tại ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước.[9]
Đơn vị có thể nộp trực tiếp tiền mặt tại ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước Trường hợp đơn vị nộp cho cơ quan BHXH thì trước 16 giờ trong ngày cơ quan BHXH phải nộp toàn bộ số tiền mặt đã thu của đơn vị, người tham gia vào tài khoản chuyên thu tại ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước.[9]
Quá trình thu nộp quỹ BHXH bắt buộc phải đảm bảo thực hiện đúng quy trình, ngăn chặn hiện tượng gian lận, lạm dụng quỹ Quỹ BHXH được quản lý tập trung thống nhất theo cơ chế tài chính, tài khoản chuyên thu đi một chiều từ BHXH quận, huyện chuyển lên BHXH tỉnh, thành phố và chuyển ra BHXH Việt Nam, việc chuyển tiền được thực hiện tự động hàng ngày.[9]
Nếu các đơn vị chuyển nộp tiền không đúng hạn thì được xem và nợ BHXH, nếu chậm đóng từ 30 ngày trở lên sẽ bị tính lãi chậm đóng Mức lãi suất phạt chậm đóng bằng 2 lần lãi suất đầu tư quỹ BHXH năm trước liền kề do BHXH Việt Nam công bố Mức lãi suất đầu tư năm 2017 là 7,25%/năm, như vậy mức phạt chậm đóng năm 2018 là 14,5%/năm.[9]
Tỷ lệ nộp BHXH: NLĐ trích 8%, NSDLĐ trích 22% mức tiền lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác ghi trong HĐLĐ.[9]
1.4.2 Nội dung nợ bảo hiểm xã hội
1.4.2.1 Khái niệm
Trên góc độ quản lý của cơ quan BHXH thì nợ BHXH được khái quát như sau:
“Nợ bảo hiểm xã hội là số tiền đóng không đủ vào quỹ bảo hiểm xã hội của các tổ
chức, đơn vị theo quy định của pháp luật”
Trang 33
Như vậy, nợ BHXH là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng, hiệu quả thu BHXH ở mỗi đơn vị Nợ BHXH tăng cao có thể dẫn đến mất cân đối thu - chi quỹ BHXH và gây hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế nói chung, chính sách an sinh xã hội nói riêng Chính vì vậy, quản lý nợ là một trong những vấn đề quan trọng trong quản lý quỹ BHXH.[9]
1.4.2.2 Mục đích quản lý nợ BHXH
Thực hiện đúng quy định của pháp luật về việc đóng BHXH nhằm đảm bảo đầy
đủ quyền lợi của người tham gia BHXH
Bảo đảm tính công khai, minh bạch trong quản lý nợ BHXH; bảo đảm dễ dàng, tạo thuận lợi trong việc giải quyết chế độ BHXH cho NLĐ trong các đơn vị nợ BHXH Bảo đảm thực hiện công tác thống kê, kế toán tài chính theo quy định của pháp luật; lập và gửi các báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định.[9]
1.4.2.3 Nội dung công tác quản lý nợ BHXH
A Quản lý nợ đọng BHXH
a Phân loại nợ BHXH
- Nợ chậm đóng là các trường hợp đơn vị có thời gian nợ dưới 01 tháng
- Nợ đọng là các trường hợp đơn vị có thời gian nợ từ 01 tháng đến dưới 03 tháng
- Nợ kéo dài là các trường hợp đơn vị có thời gian nợ từ 03 tháng trở lên trừ nợ khó thu
- Nợ khó thu, gồm các trường hợp: Đơn vị mất tích; Đơn vị đang trong thời gian làm thủ tục giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động; đơn vị không hoạt động, không có người quản lý, điều hành; Đơn vị có chủ sở hữu là người nước ngoài bỏ trốn khỏi Việt Nam; Đơn vị đã giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp
Trang 34B Thanh kiểm tra, xử lý vi phạm về thu nộp BHXH
Cơ quan BHXH thực hiện thanh tra chuyên ngành việc đóng BHXH, trong đó tập trung thanh tra các đơn vị, doanh nghiệp cố tình trốn đóng, nợ đóng, chưa tham gia đầy đủ cho số lao động thuộc diện phải tham gia BHXH
Cơ quan BHXH phối hợp với tổ chức công đoàn, các cơ quan chức năng trong việc khởi kiện ra Toà án, đề nghị khởi tố đối với các đơn vị nợ đóng, các đơn vị có dấu hiệu phạm tội trốn đóng BHXH cho NLĐ.[9]
C Phối hợp các sở, ngành có liên quan
Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị chức năng quản lý được đơn vị, doanh nghiệp đang hoạt động, thành lập mới; NLĐ đang làm việc, thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc để đôn đốc, yêu cầu đơn vị, doanh nghiệp tham gia đầy đủ cho NLĐ Thông tin đầy đủ, kịp thời về việc BHXH cho NLĐ, tổ chức công đoàn để họ chủ động kịp thời yêu cầu chủ sử dụng lao động tuân thủ pháp luật về BHXH Thực hiện đa dạng, có hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền về chế độ, chính sách BHXH cho NLĐ, NSDLĐ
Trang 35
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa hệ thống quản lý BHXH; cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa quy trình nghiệp vụ bảo đảm đơn giản, thuận lợi trong việc tham gia và thụ hưởng các chế độ BHXH.[9]
1.4.3 Vai trò của Nhà nước trong quản lý nợ bảo hiểm xã hội
Chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm chính sách, pháp luật về BHXH
Chỉ đạo các cơ quan chức năng thực hiện các giải pháp quản lý được số doanh nghiệp đang hoạt động, số lao động đang làm việc và số lao động thuộc diện tham gia BHXH
Thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm tăng tính tuân thủ trong tham gia BHXH; yêu cầu doanh nghiệp tham gia đầy đủ cho NLĐ
Phát huy vai trò của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể địa phương trong đôn đốc, chỉ đạo và giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về BHXH
1.4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu BHXH
1.4.4.1 Chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội
Quan hệ bảo hiểm xã hội được thiết lập sau khi có phát sinh quan lao động tiền lương giữa người lao động và người sử dụng lao động, chính vì vậy giữa chính sách tiền lương và chính sách BHXH nói chung, thu BHXH nói riêng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chính sách tiền lương làm tiền đề và cơ sở cho việc thực hiện chính sách BHXH [16]
1.4.4.2 Cơ cấu dân số
Cơ cấu dân số trong từng giai đoạn quyết định đến khả năng nguồn cung lao động là nhân tố tác động trực tiếp và chủ yếu đến tiềm năng đối tượng tham gia BHXH, nếu một địa phương có dân số trong độ tuổi lao động nhiều, nguồn lao động dồi dào, nếu không xảy ra khủng hoảng kinh tế sẽ có nhiều lao động Điều đó ảnh hưởng tích cực đến nguồn thu quỹ BHXH.[16]
Trang 361.4.4.4 Tốc độ tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người
Tốc độ tăng trưởng kinh tế phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của Nhà nước, vì thế nếu tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, chắc chắn đời sống của người lao động dần được cải thiện; việc sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp được thuận lợi, vì thế các chủ doanh nghiệp cũng sẵn sàng tham gia BHXH cho người lao động, người lao động có thu nhập cao thông qua quá trình lao động, đây là điều kiện tiền đề để người lao động có cơ hội tham gia BHXH [16]
1.4.4.5 Nhận thức của người lao động và người sử dụng lao động
BHXH là một cơ chế phức tạp với nhiều mối quan hệ đa dạng, trong đó chi phối
là quan hệ lợi ích, tức là quyền và trách nhiệm của các bên tham gia BHXH Dù là người lao động hay là người sử dụng lao động thì tâm lý chung là làm sao lợi ích càng nhiều càng tốt, lợi ích không giới hạn và trách nhiệm càng ít càng tốt, trách nhiệm có hạn Quyền và nghĩa vụ trong BHXH rõ nhất là vấn đề đóng và hưởng BHXH Người lao động và người sử dụng lao động luôn mong muốn chỉ phải đóng góp BHXH ở mức thấp nhất (giảm chi phí cho gia đình và doanh nghiệp), nhưng lại muốn được hưởng BHXH tốt nhất [16]
Trang 37
1.4.4.6 Công tác tổ chức thực hiện Bảo hiểm xã hội
Do quản lý đối tượng tham gia BHXH là phải quản lý một số lượng lớn thông tin về người lao động và người sử dụng lao động, đòi hỏi phải giải quyết một khối lượng công việc rất lớn với nhiều loại hồ sơ, giấy tờ, sổ sách Chính vì thế việc phân công, phân cấp trong nội bộ ngành BHXH hợp lý sẽ tạo điều kiện tốt cho công tác quản lý thu Trình độ ứng dụng và hạ tầng công nghệ thông tin trong xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đồng bộ, thống nhất, liên thông trong cả nước là một bài toán thực
sự lớn sẽ có những tác động trực tiếp đến hiệu quả công tác quản lý thu [16]
1.4.4.7 Hệ thống pháp luật về BHXH
Hiện nay còn có nhiều vấn đề đặt ra từ thực tiễn mà Luật BHXH không đáp ứng, nhất là các chế tài xử lý vi phạm thiếu đồng bộ giữa các Luật có liên quan, tính hiệu lực pháp luật chưa đủ mạnh và hành lang pháp lý chưa chặt chẽ, thiếu các công
cụ hữu hiệu trong thực hiện chế tài xử phạt các trường hợp vi phạm về thu nộp và thực hiện các qui định quản lý thu BHXH [16]
1.5 Kinh nghiệm quản lý thu của một số quốc gia khác
1.5.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Hệ thống an sinh xã hội Nhật Bản bắt đầu hình thành từ việc ban hành quy định cứu trợ nghèo đói vào năm 1847, hiện tại nó bao gồm các chế độ: cứu trợ xã hội, phúc lợi xã hội, y tế công và BHXH Các chế độ BHXH bao gồm hai phần:
1.5.1.1 Chính sách BHXH do cơ quan BHXH quản lý và tổ chức thực hiện 1.5.1.2 Bảo hiểm lao động (bảo hiểm việc làm do cơ quan Bảo đảm việc làm của Chính phủ thực hiện; Bảo hiểm bồi thường tai nạn cho người lao động do cơ quan Thanh tra lao động thực hiện) Hệ thống cơ quan BHXH bao gồm cơ quan Trung ương, 47 cơ quan BHXH địa phương với 312 văn phòng chi nhánh BHXH
Chế độ hưu trí chia ra hai loại hình chính là:
Trang 38
Thứ nhất: Chế độ bảo hiểm hưu trí quốc gia áp dụng đối với công dân Nhật Bản tuổi từ 20 đến dưới 60 tuối và thực hiện tự nguyện cho người dân Nhật Bản ở trong nước từ 60 đến dưới 65 tuổi; ở nước ngoài từ 20 đến dưới 65 tuổi;
Thứ hai: Chế độ hưu trí thực hiện cho người lao động dưới 65 tuổi làm việc tại các tổ chức, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương, các công ty, tập đoàn, trường học tư
Đối tượng tham gia đóng BHXH: chia làm 3 nhóm:
- Nhóm 1: lao động cá thể, nông dân, người không có việc làm, sinh viên tham gia chế độ hưu trí quốc gia Mức đóng là 13.300 yên/ tháng, từ 4/2005 tăng mỗi năm
280 yên để đạt mức 16.900 yên/tháng vào năm 2017
- Nhóm 2: lao động trong khu vực tư nhân và Nhà nước Mức đóng là 13,934%,
từ 10/2004 tăng mỗi năm 0,354% và sẽ đạt 18,30% vào năm 2017; số tiền đóng góp được chia đều, chủ sử dụng lao động đóng 50%, người lao động đóng 50%
- Nhóm 3: người ăn theo là vợ hoặc chồng sống dựa vào thu nhập của người lao động thuộc nhóm 2, tham gia chế độ hưu trí quốc gia
1.5.2 Kinh nghiệm của Singapore
Quỹ phòng xa Trung ương Singapore (CPF) được thành lập từ năm 1955, mô hình này được xây dựng theo hệ thống xác định mức đóng nhằm trở thành phương tiện duy nhất đảm bảo chế độ hưu trí, y tế và vận hành ở cả hai nhóm người lao động
có thu nhập cao và người lao động có thu nhập thấp
Chính phủ có nhiều giải pháp nhằm khuyên khích người lao động tham gia đóng góp vào quỹ, như quy định giảm mức tiền lương tối thiểu đã áp dụng đối với mức đóng vào CPF từ ngày 01/01/2006, thực tế là giảm mức đóng góp đối với người có thu nhập cao và từ ngày 01/01/2012 các chủ sử dụng lao động sẽ phải cung cấp các lựa chọn công việc hợp lý cho người lao động những người ở độ tuổi 62 thêm 3 năm làm việc nữa để họ có thể tiếp tục làm việc đến 65 tuổi, thực tế là tăng thêm thời gian
Trang 39(Nguồn: Báo cáo BHXH Việt Nam, 2008)
Đây là sự phân phối lại thu nhập thông qua chế độ hưởng theo xu hướng có lợi cho những người lao động có mức lương thấp hơn Chính phủ còn cho phép các công
ty được tự do định đoạt mức chi phí và chỉ tiêu về chế độ hưởng cho người lao động
Do vậy mô hình của Singapore có thời kỳ được đánh giá là linh hoạt nhất và là một
mô hình độc nhất vô nhị trong các nền kinh tế hiện đại [10]
1.5.3 Quản lý tài chính BHXH của Cộng hòa Liên bang Đức
So với các nước trên thế giới, Cộng hòa Liên bang Đức là nước có lịch sử phát triển được coi như sớm nhất Điều luật BHXH đầu tiên đã ra đời và thực hiện từ những năm 1850 Cho đến nay, chính sách BHXH ở Đức bao gồm 6 chế độ sau: + Bảo hiểm thất nghiệp
+ Bảo hiểm y tế
+ Bảo hiểm chăm sóc sức khỏe cho người già và người tàn tật
Trang 40
+ Bảo hiểm ốm đau
+ Bảo hiểm tai nạn lao động
+ Bảo hiểm hưu trí
Hoạt động BHXH của Cộng hòa Liên bang Đức thực hiện theo ba trụ cột chính là:
Vào mùa hè hàng năm, các chuyên gia của Chính phủ Liên bang, tổ chức BHXH, Tổng cục Thống kê sẽ dự kiến nhu cầu tài chính của năm tới theo phương pháp ước tính Từ đó đưa ra dự kiến số thu, dự kiến số chi, trên cơ sở này xác định tỉ
lệ thu cho năm tới và tiến hành đưa ra bằng một văn bản có hiệu lực pháp luật Quỹ thu thường là đủ dùng chi trả cho các đối tượng hưởng chế độ, chi hoạt động của bộ máy quản lý và còn một khoản để dự trữ gọi là khoản dự trữ trần Do sự ổn định của nền kinh tế mà khoản dự trữ này thường chỉ ở mức đủ chi cho các đối tượng do quỹ đảm bảo trong một tháng, từ năm 2001 đã rút xuống khoản 0,8 tháng Cách này có những ưu điểm như: hạn chế được những tác động của môi trường kinh tế, dễ dàng cân đối quỹ, giảm thiểu tình trạng bội chi, không hề gây gánh nặng cho NSNN,