1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vận dụng kế toán trách nhiệm trong các trường cao đẳng nghề trực thuộc bộ giao thông vận tải

178 141 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 3,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài “Vận dụng kế toán trách nhiệm trong các trường cao đẳng nghề trực thuộc Bộ Giao thông vận tải” tập trung nghiên cứu để giải quyết ba vấn đề: Thứ nhất là hệ thống hóa cơ sở lý luận

Trang 1

-

VŨ THỊ THANH AN

VẬN DỤNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ TRỰC THUỘC BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành : Kế toán

Mã số ngành : 60340301

TP HỒ CHÍ MINH, tháng 03 năm 2017

Trang 2

-

VŨ THỊ THANH AN

VẬN DỤNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ TRỰC THUỘC BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI

Trang 3

Cán bộ hướng dẫn khoa học : PGS TS Phan Đức Dũng

(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký)

Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công nghệ TP HCM ngày 23 tháng 04 năm 2017

Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:

Trang 4

TP HCM, ngày 30 tháng 03năm 2017

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ tên học viên: Vũ Thị Thanh An Giới tính: Nữ

Ngày, tháng, năm sinh: 04/07/1978 Nơi sinh: Nam Định

Chuyên ngành: Kế toán MSHV: 1541850001

I- Tên đề tài:

Vận dụng kế toán trách nhiệm trong các Trường Cao đẳng nghề trực thuộc bộ Giao thông vận tải

II- Nhiệm vụ và nội dung:

Đề tài tập trung nghiên cứu để giải quyết ba nhiệm vụ:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và các kết quả nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước về kế toán quản trị nói chung và trách nhiệm nói riêng, làm cơ sở nghiên cứu cho đề tài này

- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán trách nhiệm trong các Trường Cao đẳng nghề trực thuộc Bộ Giao thông vận tải

- Đề xuất các chính sách và hàm ý quản trị nhằm vận dụng kế toán trách nhiệm phù hợp, hiệu quả trong trong các Trường Cao đẳng nghề trực thuộc Bộ GTVT Việt Nam

Để giải quyết nhiệm vụ đặt ra, tác giả thực hiện và trình bày đề tài nghiên cứu trong 5 nội dung, bao gồm: (1)Tổng quan về vấn đề nghiên cứu; (2) Cơ sở lý thuyết; (3) Phương pháp nghiên cứu; (4) Kết quả nghiên cứu và thảo luận; (5) Kết luận và kiến nghị

Hạn chế của đề tài: Nghiên cứu này được thực hiện tại các Trường Cao Đẳng Nghề trực thuộc Bộ Giao Thông Vận Tải, chưa có tính tổng quát hóa để áp dụng kết quả nghiên cứu cho tất cả các trường dạy nghề thuộc Bộ Giao thông vận tải hoặc tất cả các Trường Cao Đẳng Nghề khác

III- Ngày giao nhiệm vụ: 26/09/2016

IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ: 30 tháng 03 năm 2017

V- Cán bộ hướng dẫn: PGS TS Phan Đức Dũng

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH

(Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký)

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn với đề tài: “Vận dụng kế toán trách nhiệm trong

các Trường Cao đẳng nghề trực thuộc bộ Giao Thông Vận Tải” là công trình

nghiên cứu do chính bản thân cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của thầy PGS.TS Phan Đức Dũng Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tp.HCM, ngày 30 tháng 03 năm 2017

Học viên thực hiện Luận văn

Vũ Thị Thanh An

Trang 6

LỜI CÁM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tác giả xin chân thành cảm ơn:

Quý Thầy, Cô Trường Đại học Đại học Công nghệ TP HCM đã hết lòng truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường Đặc biệt tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến người thầy hướng dẫn khoa học - PGS.TS Phan Đức Dũng vì sự quan tâm chỉ dạy, định hướng nghiên cứu, hỗ trợ tài liệu và tận tình hướng dẫn trong suốt thời gian tác giả thực hiện Luận văn

Quý Thầy, Cô là Hiệu trưởng các Trường Cao đẳng nghề trực thuộc bộ Giao thông vận tải, đặc biệt là thầy Vũ Đức Thiệu – Hiệu trưởng trường Cao đẳng nghề GTVT TWIII đã hỗ trợ tác giả có được danh sách liên hệ, tạo điều kiện và giúp cho tác giả thực hiện khảo sát, hoàn thành nghiên cứu của mình

Quý Thầy, Cô, đồng nghiệp là cán bộ chủ chốt của các Trường Cao đẳng nghề trực thuộc Bộ Giao thông vận tải đã nhiệt tình tham gia khảo sát, đặc biệt là quý Thầy,

Cô và bạn bè đồng nghiệp ở Trường Cao đẳng nghề GTVT TWIII đã nhiệt tình đóng góp ý kiến và hỗ trợ tác giả trong suốt quá trình thực hiện khảo sát, cũng như quá trình thực hiện nghiên cứu, giúp tác giả hoàn thành tốt nhất Luận văn

Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù tác giả hết sức cố gắng, tham khảo nhiều tài liệu, trao đổi và tiếp thu nhiều ý kiến của quý Thầy, Cô, Bạn bè và các đồng nghiệp để hoàn thành nghiên cứu một cách có giá trị nhất, song do kiến thức có hạn và thời gian hạn chế nên nghiên cứu này cũng không thể tránh khỏi những thiếu sót, tác giả chân thành mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp, phản hồi quý báu từ quý Thầy,

Trang 7

TÓM TẮT

Các trường dạy nghề nói chung và các trường Cao đẳng nghề nói riêng trực thuộc

Bộ Giao thông vận tải đang đứng trước vấn đề chuyển đổi cơ chế tài chính từ chế độ tự đảm bảo một phần chi thường xuyên sang chế độ tự chủ tài chính 100%, nghĩa là hoàn toàn không còn sự chu cấp từ ngân sách nhà nước Để tồn tại và phát triển, các trường buộc phải kiểm soát tốt chi phí và phát huy hiệu quả ở tất cả các bộ phận trong đơn vị

Kế toán trách nhiệm là công cụ hữu hiệu giúp nhà quản trị kiểm soát chi phí và đánh giá kết quả hoạt động của các bộ phận Tuy nhiên, thuật ngữ này còn khá xa lạ với các nhà quản trị ở các trường dạy nghề và việc vận dụng kế toán trách nhiệm ở các đơn vị này hầu như chưa được đề cập đến Những lý do trên là động lực thúc đẩy tác giả thực hiện đề tài

Đề tài “Vận dụng kế toán trách nhiệm trong các trường cao đẳng nghề trực thuộc

Bộ Giao thông vận tải” tập trung nghiên cứu để giải quyết ba vấn đề: Thứ nhất là hệ thống hóa cơ sở lý luận và các kết quả nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước

về kế toán quản trị nói chung và kế toán trách nhiệm nói riêng, làm cơ sở nghiên cứu cho đề tài này; Thứ hai là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán trách nhiệm trong các Trường Cao đẳng nghề trực thuộc Bộ Giao thông vận tải; Thứ ba là đề xuất các hàm ý chính sách nhằm vận dụng kế toán trách nhiệm phù hợp, hiệu quả trong trong các Trường Cao đẳng nghề trực thuộc Bộ GTVT Việt Nam

Đề tài đã sử dụng phương pháp định tính kết hợp định lượng Kết quả phương pháp định tính đã khám phá, xác định được 6 nhân tố ảnh hưởng để đưa vào, xây dựng

mô hình nghiên cứu gồm: Năng lực chuyên môn của nhân viên kế toán; Năng lực quản trị của nhà quản lý; Đặc điểm của trường cao đẳng nghề trực thuộc Bộ Giao thông vận tải; Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý; Chi phí tổ chức kế toán trách nhiệm; Quy mô đơn vị

Khảo sát định lượng tại 6 trường cao đẳng nghề trực thuộc Bộ Giao thông vận tải với đối tượng là các cán bộ chủ chốt và nhân viên kế toán, thu về được 225 quan sát

Trang 8

hợp lệ để đưa vào phân tích xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0 Thông qua các công cụ kiểm định Cronbach Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA và hệ số tương quan Pearson, hồi quy bội Kết quả cho thấy có 5 nhóm yếu tố chính tác động đến việc vận dụng kế toán trách nhiệm trong các trường các đẳng nghề trực thuộc Bộ Giao thông vận tải, bao gồm: 4 yếu tố tác động cùng chiều là “Năng lực chuyên môn của nhân viên kế toán”, “Năng lực quản trị của nhà quản lý”, “Đặc điểm của trường cao đẳng nghề trực thuộc Bộ giao thông vận tải”, “Quy mô đơn vị” và 01 yếu tố tác động ngược chiều là “Chi phí tổ chức kế toán trách nhiệm” Kết quả kiểm định T-test so sánh giá trị trung bình của các biến độc lập với giá trị điểm giữa của thang đo (Không ý kiến = 3) cho thấy thực trạng các yếu tố độc lập và phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu đều đạt giá trị không cao, dao động trong khoảng giữa điểm 3 và điểm 4 của thang đo Likert 5 điểm Điều này có thể kết luận, thực trạng tại thời điểm khảo sát, việc vận dụng kế toán trách nhiệm trong các trường cao đẳng nghề trực thuộc Bộ Giao thông vận tải được nhà quản trị đánh giá là đã thực hiện nhưng

ở mức độ chưa cao

Từ kết quả phân tích trên, tác giả đề xuất: Xây dựng tiêu chuẩn cụ thể và phù hợp đối với từng chức danh, vị trí công việc quản lý và bổ nhiệm cán bộ quản lý đủ chuẩn đảm trách, trang bị hiểu biết về kế toán trách nhiệm cho họ; Xác định rõ sứ mệnh của nhà trường, thế mạnh của đơn vị, xây dựng bản đồ chiến lược, vận dụng thẻ cân bằng điểm và gắn sự phát triển, gia tăng quy mô nhà trường với tính bền vững; Tận dụng lợi thế trong ngành và sự quan tâm của Bộ Giao thông vận tải để phát triển hoạt động dịch vụ chuyên ngành, đầu tư cơ sở vật chất phù hợp với chức năng và nhiệm vụ hoạt động của trường; Kết hợp tổ chức kế toán trách nhiệm chung với hệ thống kế toán tài chính; Các trường nên tổ chức thành 3 nhóm trung tâm trách nhiệm là Trung tâm đầu tư, trung tâm chi phí và trung tâm lợi nhuận; Vận dụng Thẻ cân bằng điểm và Mô hình KM Star hỗ trợ cho hệ thống kế toán trách nhiệm đạt hiệu quả

Từ khóa: Kế toán trách nhiệm, Trường cao đẳng nghề, Bộ Giao thông vận tải

Trang 9

Recently, many vocational colleges of the Ministry of Transport have been shifting the financial mechanism from partly-self financing to 100%-self financing, which means they are totally independent of the government-control financing For existence and stable development, these colleges have to improve their ability of cost cotrol and enhance the effectivity in every units Among many effective cost control tools, despite it is, for some extend, strange to most of managers in vocational colleges, responsibility accounting is mentioned as one of the best It can help them to control the cost effectively and evalute the performance of each unit as well After having the evalution of the effectiveness of responsibility accouting, the researcher found out the motivation to have a deep research of responsibiliry accounting and the way to apply this method in vocational colleges

The thesis of “Application of responsibility accounting in vocaltion colleges of the Ministry of Transport” focuses on three issues, i.e systematizing

the theory of responsibility accounting and evaluating the results of other research; analyzing factors influencing on application of responsibility accounting in vocational colleges; and proposing policies and management implications to apply responsibility accounting effectively in vocational colleges of the Ministry of Transport

The thesis was delievered with the combination of the qualitative and quantitative method Six factors that influence on the application of responsibility

accounting are the results of qualitative method including- professinal competence

of accountants, management competence of managers, characteristics of vocational colleges, application of information technology in management, authorized cost for responsibility accounting and organization size The researcher used surveys at 6

vocational collges of the Ministry of Transport to collect data for quantitative method The objectives of the research surveys were managers and accountants of 6 vocational colleges, resulting to 225 valid observations By Cronbach Alpha testing,

Trang 10

EFA discovery factor analysis, Pearson correlation coefficients and multiple regression, the researcher identified five factors affecting the application of responsibility accouting at vocational colleges of the Ministry Of Transport Among five, there are four same impact factors i.e professional competence of the accountant, management competence of the manager, characteristics of vocational colleges of the Ministry of Transport and organization size The researcher also pointed out one opposite impact factor of application of responsibility accounting i.e authorized cost of application of responsibility accounting The T-test comparing between the average point of independent variables and the mid-point of the scale with 3 no-comment showed the low status of independent and dependent factors It fluctuates from 3 to 4 in the 5-point Likert scale The researcher can draw the conclusion that in the current situation of delievering the survey, responsibility accounting were being applied in some vocational colleges; however, the familiarity and the effectiveness was not high

From the results of analysis, some proposals are given to improve the effectiveness of application of responsibility accounting at vocational colleges of the Ministry of Transport That are – establishing the specific, approriate standards for each job position, criteria for appoinment of managers and then supplying them with knowledge of accountancy; - defining the mission and the strength of each vocation college in order to build up the strategic plan, to combine the balance status with the sustain develoment effectively.; - take advantage of the concern of the Ministry of transport to develop specialized services and invest in high-quality and multi-function equipments and facilities; connect parallel the responsibility accounting with the financial accounting; launching three central responsibility groups at each vocational college as investment center, cost center and profit center; applying the balance scorecard and the KM Star model to support the responsibility accounting effectively

Key words: responsibility accounting, vocational colleges, Ministry of Transport

Trang 11

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN I

LỜI CẢM ƠN II TÓM TẮT III ABSTRACT V MỤC LỤC VII DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT XI DANH MỤC CÁC BẢNG XII DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ XIV

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài .5

1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước 16

1.3 Kết luận chương 1 23

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 25

2.1 Kế toán quản trị mà mối quan hệ với Kế toán trách nhiệm 25

2.2 Các lý thuyết nền tảng liên quan đến kế toán trách nhiệm 26

2.2.1 Lý thuyết dự phòng 26

2.2.2 Lý thuyết đại diện 27

2.2.3 Lý thuyết thông tin bất cân xứng 28

2.2.4 Lý thuyết chi phí 29

2.3 Khái quát về kế toán trách nhiệm 30

2.3.1 Khái niệm, bản chất và vai trò của kế toán trách nhiệm 30

Trang 12

2.3.2 Cơ sở tổ chức Kế toán trách nhiệm trong đơn vị 35

2.3.3 Quy mô và cơ cấu tổ chức của đơn vị 37

2.3.4 Sự phân cấp quản lý trong đơn vị 38

2.4 Hệ thống phương pháp sử dụng trong kế toán trách nhiệm 40

2.4.1 Phương pháp so sánh 40

2.4.2 Phương pháp loại trừ 42

2.4.3 Phương pháp phân tích theo Dupont 42

2.4.4 Phương pháp thẻ cân bằng điểm 43

2.4.5 Vận dụng mô hình Knowledge Management Star (KM Star) 49

2.5 Các trung tâm trách nhiệm trong đơn vị 55

2.5.1 Khái niệm và bản chất của trung tâm trách nhiệm 55

2.5.2 Các trung tâm trách nhiệm và đánh giá các trung tâm trách nhiệm 57

2.6 Thực tế các nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt nam trong xây dựng mô hình kế toán trách nhiệm 66

2.6.1 Thực tế kế toán trách nhiệm ở một số nước trên thế giới 66

2.6.2 Bài học kinh nghiệm cho các đơn vị kinh tế Việt Nam trong việc vận dụng kế toán trách nhiệm 70

2.7 Kết luận chương 2 72

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 74

3.1 Phương pháp nghiên cứu 74

3.2 Quy trình nghiên cứu 75

3.3 Phương pháp thu thập thông tin 76

3.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất của đề tài 77

Trang 13

3.5 Phân bố mẫu nghiên cứu 80

3.6 Xây dựng tiêu chí và thang đo từng nhân tố 80

3.7 Phương pháp xử lý số liệu 82

3.8 Kết luận chương 3 88

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 90

4.1 Thực trạng kế toán trách nhiệm tại các Trường Cao đẳng nghề trực thuộc Bộ Giao thông vận tải Việt Nam 90

4.2 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 96

4.2.1 Kết quả thu thập dữ liêu 96

4.2.2 Kiểm định thang đo 98

4 2.2.1 Kiểm định thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach Alpha 98

4.2.2.2 Phân tích nhân tố EFA 100

4.2.3 Kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu 103

4.2.3.1 Phân tích tương quan bằng hệ số tương quan pearson 103

4.2.3.2 Xây dựng mô hình nghiên cứu 105

4.2.4 Phân tích hồi quy 106

4.2.4.1 Đánh giá và kiểm định độ phù hợp của mô hình 106

4.2.4 2 Xây dựng phương trình hồi quy tuyến tính 108

4.2.4.3 Kiểm tra các giả định mô hình hồi quy tuyến tính 108

4.2.4.4 Mô hình nghiên cứu chính thức điều chỉnh 110

4.3.3.5 Kiểm định mô hình đa nhóm 111

4.2.5 Phân tích đánh giá của các nhà quản trị về thực trạng mức độ của các biến độc lập 114

Trang 14

4.2.6 Phân tích đánh giá của các nhà quản trị về thực trạng việc vận dụng kế toán trách

nhiệm trong nhà trường 115

4.3 Kết luận chương 4 116

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 118

5.1 Kết luận 118

5.2 Đề xuất hàm ý chính sách, quản trị để vận dụng Kế toán trách nhiệm trong các trường cao đẳng nghề trực thuộc Bộ Giao thông vận tải phù hợp với tình hình thực tế hiện nay 120

5.3 Hạn chế của đề tài 129

5.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo 129

TÀI LIỆU THAM KHẢO 130 PHỤ LỤC

Trang 15

CNTT: Công nghệ thông tin

CMKT: Chuyên môn kế toán

Trang 16

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Tổng hợp các thanh đo được mã hóa 81

Bảng 4.1 Kết quả kiểm tra Cronbach’s Alpha 98

Bảng 4.2 Bảng tổng hợp kết quả kiểm định thang đo 101

Bảng 4.3 Mức độ tương quan 104

Bảng 4.4.Hệ số xác định phù hợp của mô hình 106

Bảng 4.5 Kết quả phân tích hồi quy 107

Bảng 4.6 Bảng tổng hợp kết quả kiểm định giả thiết 110

Bảng 4.7 Giá trị trung bình các thang đo thành phần của các biến độc lập 115

Bảng 4.8 Giá trị trung bình các thang đo thành phần của biến phụ thuộc 115

Trang 17

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ

Hình 2.1 Các khía cạnh của mô hình KM STAR 51

Hình 2.2: Các phương án chính về tính bền vững (báo cáo tính bền vững của công ty SamSung) 52

Hình 2.3: Mô tả trung tâm trách nhiệm 56

Hình 3.1: Sơ đồ phương pháp nghiên cứu hỗn hợp 74

Hình 3.2: Sơ đồ quy trình nghiên cứu 75

Hình 3.3: Mô hình nghiên cứu các ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán trách nhiệm trong các trường cao đẳng nghề trực thuộc Bộ Giao thông vận tải 78

Hình 4 1 Mô hình nghiên cứu điều chỉnh sau khi EFA 102

Hình 4.2 Mô hình nghiên cứu điều chỉnh sau khi phân tích hệ số tương quan Pearson lần 2 105

Hình 4.3 Đồ thị phân tán phần dư chuẩn hóa và giá rị dự đoán chuẩn hóa 109

Hình 4.4 Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa 109

Hình 4.5 Mô hình nghiên cứu chính thức 111

SƠ ĐỒ 2.1: MÔ HÌNH PHÂN TÍCH DUPONT 43

SƠ ĐỒ 2.2: CẤU TRÚC CỦA THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG 44

SƠ ĐỒ 2.3: CẤU TRÚC CỦA THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG TRONG MỐI QUAN HỆ XUYÊN SUỐT VỚI SỨ MỆNH – GIÁ TRỊ CỐT LÕI – TẦM NHÌN VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA TỔ CHỨC 46

SƠ ĐỒ 4.1: CƠ CẤU TỔ CHỨC TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ TRỰC THUỘC BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI 93

Trang 18

Các trường dạy nghề nói chung và các trường Cao đẳng nghề nói riêng trực thuộc

Bộ Giao thông vận tải đang đứng trước vấn đề chuyển đổi cơ chế tài chính từ chế độ tự đảm bảo một phần chi thường xuyên sang chế độ tự chủ tài chính 100%, nghĩa là hoàn toàn không còn sự chu cấp từ ngân sách nhà nước Để tồn tại và phát triển, các trường buộc phải kiểm soát tốt chi phí và phát huy hiệu quả ở tất cả các bộ phận trong đơn vị

Kế toán trách nhiệm là công cụ hữu hiệu giúp nhà quản trị kiểm soát chi phí và đánh giá kết quả hoạt động của các bộ phận trong một đơn vị, từ đó cung cấp thông tin hữu ích giúp các nhà quản trị các cấp ra quyết định để đạt được mục tiêu chung

Do đó, việc vận dụng Kế toán trách nhiệm trong đơn vị phù hợp với tình hình thực

tế là vấn đề cần thiết và cấp bách của các Trường để sẵn sàng tự chủ tài chính

Tuy nhiên, thuật ngữ này còn khá xa lạ với các nhà quản trị ở các trường dạy nghề Đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu về kế toán trách nhiệm ở Việt Nam những năm gần đây, tuy nhiên có rất ít các đề tài viết về kế toán trách nhiệm dưới dạng định lượng Mặt khác, vấn đề Kế toán trách nhiệm trong các trường dạy nghề hầu như chưa được đề cập đến,và chưa có nghiên cứu nào về vận dụng kế toán trách nhiệm trong các trường dạy nghề được đưa ra trên cơ sở bằng chứng thực nghiệm đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán trách nhiệm

Với những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Vận dụng Kế toán trách nhiệm trong các Trường Cao đẳng nghề trực thuộc Bộ Giao thông vận tải ” làm luận văn thạc sĩ, nhằm đưa ra các hàm ý chính sách trên cơ sở các bằng chứng khoa học cụ thể đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán trách nhiệm trong các Trường Cao đẳng nghề trực thuộc Bộ Giao thông vận tải, từ đó giúp Ban giám hiệu cũng như các nhà quản trị ở các Trường nâng cao việc vận dụng kế toán trách nhiệm trong nhà trường, tổ chức kế toán trách nhiệm phù hợp, hiệu quả, góp một phần nhỏ nâng cao hiệu quả hoạt động, sẵn sàng cho tiến trình tự chủ tài chính của các trường

Trang 19

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát:

Mục tiêu chung nhất của đề tài là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán trách nhiệm trong các Trường Cao đẳng nghề trực thuộc Bộ giao thông vận tải, từ đó đưa ra các hàm ý chính sách giúp việc vận dụng Kế toán trách nhiệm ở các trường này phù hợp và hiệu quả

Đưa ra các hàm ý chính sách giúp các Trường Cao đẳng nghề trực thuộc Bộ Giao thông vận tải vận dụng Kế toán trách nhiệm phù hợp và hiệu quả

3 Câu hỏi nghiên cứu

Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu để xây dựng câu hỏi nghiên cứu, đề tài tập trung nghiên cứu để trả lời các câu hỏi sau:

- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán trách nhiệm trong các Trường Cao đẳng nghề trực thuộc Bộ Giao thông vận tải?

- Các nhân tố năng lực chuyên môn của nhân viên kế toán, năng lực quản trị của nhà quản lý, đặc điểm của trường cao đẳng nghề trực thuộc Bộ Giao thông vận tải, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, chi phí tổ chức kế toán trách nhiệm

và nhân tố quy mô đơn vị ảnh hưởng như thế nào đến việc vận dụng kế toán trách nhiệm trong các Trường Cao đẳng nghề trực thuộc Bộ Giao thông vận tải?

- Các trường cao đẳng nghề trực thuộc Bộ Giao thông vận tải cần làm gì để nâng cao và phát huy hiệu quả việc vận dụng Kế toán trách nhiệm?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 20

Kế toán trách nhiệm và các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng Kế toán trách nhiệm

5 Những đóng góp của luận văn

Kế toán trách nhiệm được thế giới nhắc đến từ gần 70 năm trước, tuy nhiên, ở Việt Nam, nó vẫn là một lĩnh vực còn khá mới đối với nhiều nhà quản trị Vì vậy, bằng việc hệ thống hóa các lý thuyết liên quan đến kế toán trách nhiệm, trình bày việc vận dụng kế toán trách nhiệm ở một số quốc gia trên thế giới và rút ra bài học kinh nghiệm cho các tổ chức – doanh nghiệp Việt Nam, luận văn là một tài liệu có ích cho việc nghiên cứu vận dụng kế toán trách nhiệm

Bên cạnh đó, bằng kết quả của quá trình nghiên cứu định tính có kết hợp phân tích định lượng, luận văn đã xác định được, đo lường được chiều hướng và mức độ quan trọng của các nhân tố: “Năng lực chuyên môn của nhân viên kế toán”, “Năng lực quản trị của nhà quản lý”, “Đặc điểm của trường cao đẳng nghề trực thuộc Bộ giao thông vận tải”, “Chi phí tổ chức kế toán trách nhiệm” và “Quy mô đơn vị” tác động đến việc vận dụng kế toán trách nhiệm trong các trường cao đẳng nghề trực thuộc Bộ Giao thông vận tải

Luận văn cũng đã đưa ra được các đề xuất các hàm ý chính sách nhằm vận dụng kế toán trách nhiệm phù hợp, hiệu quả trong trong các Trường Cao đẳng nghề trực thuộc Bộ GTVT Việt Nam

6 Kết cấu của luận văn

Kết cấu của luận văn như sau:

Trang 21

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Trang 22

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI

Kế toán trách nhiệm (Responsibility Accounting) là một nội dung cơ bản của

Kế toán quản trị, hình thành xuất phát từ nhu cầu về thông tin để hoạch định và kiểm soát tài chính hoạt động sản xuất kinh doanh Kế toán trách nhiệm (KTTN) được đề cập lần đầu tiên ở Mỹ bởi Ailman, H.B (1950) trong tác phẩm: “Basic organizational planning to tie in with responsibility accounting” Từ đó đến nay, vấn đề kế toán quản trị nói chung và kế toán trách nhiệm nói riêng được quan tâm nhiều với những quan điểm khác nhau bởi những tác giả khác nhau đến từ nhiều quốc gia trên thế giới

Higgins (1952) đã định nghĩa: Kế toán trách nhiệm là sự phát triển của hệ thống kế toán, kế toán trách nhiệm được thiết kế như một công cụ kiểm soát hoạt động và chi phí, và hệ thống kiểm soát này được thiết kế cho tất cả các cấp quản lý Đây là khái niệm đầu tiên, sơ khai về Kế toán trách nhiệm

Kellogg (1962) đã nghiên cứu KTTN trong mối liên hệ với cấu trúc tổ chức,

kế toán chi phí, kiểm soát chi phí và ngân sách Tác giả cho rằng KTTN có mối quan hệ chặt chẽ với phân cấp quản lý và với kế toán chi phí Trong mối quan hệ với cấu trúc tổ chức, Kellogg khẳng định cơ cấu của một tổ chức luôn có sự phân cấp, phân quyền quản lý và luôn có sự thay đổi, từ đó tác giả đưa ra một số nguyên tắc cần đảm bảo để thiết lập hệ thống KTTN, đó là: Phân tách tổ chức thành các bộ phận, đơn vị theo chức năng cụ thể; Phân công trách nhiệm vụ thể cho từng bộ phận, đơn vị; Từng đơn vị, bộ phận đều phải thực hiện báo cáo; Thiết lập các vị trí giám sát đối với từng cấp quản lý Trong mối quan hệ với kiểm soát ngân sách, tác giả đưa ra một số nguyên tắc: Phải thiết lập và báo cáo ngân sách gắn liền với Kế toán tài chính và không được điều chỉnh hay bổ sung; Ngân sách phải được xây dựng phù hợp với quyền hạn và trách nhiệm; Ngân sách phải được xây dựng đơn giản và trong giới hạn phạm vi sử dụng chính Trong mối quan hệ với kiểm soát chi

Trang 23

phí, Kellogg cho rằng kế toán chi phí phải được sử dụng như một công cụ quản lý, phải xác định được nguồn gốc phát sinh chi phí để kiểm soát chi phí và phải gán trách nhiệm cho từng khoản chi phí Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán trách nhiệm

Josegh P Vogel (1962) đề cập đến việc xây dựng và thiết lập kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp, cụ thể là công ty điện lực Tác giả khẳng định việc thiết

kế và xây dựng một hệ thống KTTN không hề đơn giản, nó phải được xây dựng trên

cở sở phân cấp quản lý nhằm thu thập thông tin và kiểm soát thông tin tại các bộ phận để có thể cung cấp thông tin cho nhà quản trị có quyết định hiệu quả, đây là một công việc lớn đòi hỏi thay đổi cả hệ thống ảnh hưởng đến mọi phòng ban của doanh nghiệp, và muốn thành công thì sự thay đổi này phải diễn ra đồng bộ Tác giả chưa đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán trách nhiệm

N.J.Gordon (1963) trong một nghiên cứu về lý thuyết của hệ thống kế toán trách nhiệm đã đề cập đến phân cấp quản lý Cơ sở của hệ thống KTTN là lý thuyết kinh tế và tổ chức, tác giả cho rằng KTTN chỉ phát huy được hiệu quả khi doanh nghiệp có phân cấp quản lý và có tổ chức Lý thuyết tổ chức được quan tâm trong mối quan hệ với phân quyền Thiết kế KTTN sẽ thất bại nếu bỏ qua một trong 2 yếu tố kinh tế, xã hội Một hệ thống KTTN bao gồm; Một tập hợp các tiểu doanh nghiệp là trung tâm chi phí và trung tâm lợi nhuận; Mỗi công ty con thiết lập các quy tắc xác định hàng hóa và dịch vụ của nó; Thiết lập quyền và trách nhiệm với người quản lý của mỗi công ty và chế độ thưởng khuyến khích hoạt động cho người quản lý Hệ thống quản lý cần được thiết kế sao cho mỗi người quản lý gắn chặt lợi ích của họ với những hoạt động lợi nhuận cao nhất của công ty Trong xậy dựng hệ thống KTTN, tác giả cũng đã đề cập đến chi phí tiêu chuẩn, hệ thống chi phí tiêu chuẩn phát triển đầy đủ nhất trong sự kiểm soát của bộ phận tham gia vào sản xuất với các giả định đơn giản liên quan đến trách nhiệm của người quản lý bộ phận Tác giả chưa đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán trách nhiệm

Ahmed Belkaoui (1981) trong một nghiên cứu về kế toán trách nhiệm đã sử dụng phương pháp định lượng với việc gửi bảng câu hỏi cho 55 cá nhân là nhân

Trang 24

viên, nhà quản trị các cấp để đánh giá thái độ cá nhân với trách nhiệm cá nhân trong công việc, đánh giá sự tác động của nhân tố con người và thái độ cá nhân đến Hệ thống KTTN Tác giả cho rằng nhân tố cá nhân đóng vai trò rất quan trọng trong sự thành công của hệ thống KTTN, Kế toán quản trị (KTQT) là hệ thống kế toán được xây dựng thành các trung tâm dưới sự quản trị của các nhà quản lý đứng đầu, những nhà quản lý này phải tự chịu trách nhiệm về hiệu quả hoạt động của trung tâm do họ quản lý Tác giả chưa đánh giá các nhân tố khác tác động đến Hệ thống KTNN ngài nhân tố con người và thái độ

Hệ thống kế toán quản trị nói chung và kế toán trách nhiệm nói riêng được xây dựng để phục vụ yêu cầu quản trị trong đơn vị, nó thay đổi theo các bối cảnh khác nhau của đơn vị kế toán, vì thế không có một mô hình chuẩn và tốt nhất cho tất

cả hệ thống kế toán quản trị nói chung cũng như Kế toán trách nhiệm nói riêng, nó phụ thuộc vào các nhân tố trong tổ chức, đó là nhận định của Birnberg, J.G và Shields, Michael D (1989) Tuy nhiên, những nhận định này được tác giả đưa ra chung chung trên cơ sở phân tích định tính, chưa cụ thể và chưa được đo lường

Theo Nahum Melumad, Dilip Mookherjee, Stefan Reichelstein (1992), một trong các bộ phận cấu thành quan trọng của KTTN là các trung tâm trách nhiệm, bao gồm: trung tâm chi phí, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư Các trung tâm này được xây dựng phù hợp với cơ cấu tổ chức hoạt động của từng tổ chức Các loại trung tâm trách nhiệm thường được giao cho nhà quản lý nhật định để ra quyết định

và luôn hướng tới mục tiêu tối ưu hóa Tác giả chưa đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán trách nhiệm

Horngren và Foster (1991) đã phân tích một mô hình chính thức cho các trung tâm trách nhiệm và so sánh các trung tâm này để sắp xếp cho các tổ chức khác nhau Các trung tâm trách nhiệm được xác định là các bộ phận, các phân đoạn, hoặc các tiểu đơn vị của một tổ chức có nhà quản lý chịu trách nhiệm cho bộ phận cụ thể của họ Kết quả cho thấy, các trung tâm trách nhiệm có thể là một phương tiện tiết kiệm chi phí hiệu quả Tác giả chưa đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán trách nhiệm

Trang 25

Brian P.Bloomfield Rod Coombs, David J Cooper, David Rea (1992) đã nghiên cứu về kế toán trách nhiệm và xây dựng hệ thống thông tin quản lý nguồn lực, phân tích thông tin của 3 bệnh viện tại Anh trong 3 năm Tác giả đã nghiên cứu trên quan điểm chính thống kế toán quản lý, quản lý tài nguyên có thể được coi như một hệ thống KTTN phân cấp một số quyết định phân bố nguồn lực, trong khi duy trì thông tin tập trung và kiểm soát về đánh giá hiệu suất và trách nhiệm Vì thế, các sáng kiến quản lý tài nguyên rõ ràng để phân cấp trách nhiệm ngân sách đến mức độ chuyên môn y tế trong bệnh viện, đồng thời khả năng nâng cao sự theo dõi và kiểm soát tập trung được thực hiện bởi một hệ thống đo lường hiệu suất được tạo ra giúp các bác sĩ chống lại khối lượng công việc và mục tiêu tài chính Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến các nhân tố khác ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán trách nhiệm ngoài hệ thống thông tin

Shih, Michael SH (1997) đã thực hiện một điều tra về thiết kế hệ thống đánh giá hiệu năng cho các nhà quản lý cây trồng của các công ty lớn của Canada Kết quả cho thấy, những nhà quản lý có thể được đánh giá chủ yếu về kiểm soát chi phí hoặc lợi nhuận Tuy nhiên, tác giả chưa đánh giá vấn đề ngược lại là yếu tố nhà quản lý tác động đến kiểm soát chi phí

Rick Antle và Joel S.Demski (1998) đã đăng trên tạp chí “The Accounting review, Vol.63,No4,P700-718” công trình nghiên cứu mang tên “ The Controllability Principle in Responsibility Accounting”, công trình này đã làm sáng

tỏ thế nào là nguyên tắc có thể kiểm soát được trong kế toán trách nhiệm

Joe E Dowd (2001) đã thực hiện một điều tra ở 31 công ty điện lực Texas về

sự ảnh hưởng của hỗn hợp sản phẩm và công nghệ sản xuất đến việc thực hiện kế toán trên các khía cạnh KTTN, phân loại các sản phẩm cho các mục đích quản lý chi phí và thực hiện tăng số lượng các khoản chi phí để tại ra chi phí đồng nhất Kết quả nghiên cứu cho thấy, các công ty có sản phẩm không đồng nhất và công nghệ sản xuất sử dụng đa dạng hơn, lớn hơn thì mức độ phân chia sản phẩm cho các mục đích thu thập và báo cáo chi phí, các trung tâm chi phí nhiều và các khoản chi phí phát sinh lớn hơn Tuy nhiên, ngoài yếu tố về sản phẩm và công nghệ sản xuất, tác

Trang 26

giả chưa đánh giá các yếu tố khác ảnh hưởng đến việc thực hiện kế toán trên các khía cạnh KTTN

Dựa trên khuôn khổ lý thuyết, Z Jun Lin và Zengbiao Yu (2002) đã thực hiện điều tra tại Công ty sắt và thép Han Dan trong nước Trung Quốc từ đầu những năm 1990 về hệ thống KTTN, hệ thống kiểm soát chi phí để xác định lý do tại sao các doanh nghiệp kinh doanh tại Trung Quốc cần phải tìm kiếm các hoạt động kế toán sáng tạo, và làm thế nào kế toán phương Tây tiên tiến có thể được áp dụng có hiệu quả trong môi trường kinh doanh cụ thể của Trung Quốc – một quốc gia đang phát triển Tác giả đã cho thấy, hệ thống kiểm soát chi phí của công ty sắt và thép Han Dan tập trung vào các mục tiêu chi phí trách nhiệm, có tích hợp một loạt các kỹ thuật và thủ tục quản lý kế toán phương Tây để nâng cao năng suất và lợi nhuận bằng cách giảm chi phí sản xuất đáng kể và liên tục Bên cạnh đó, thông qua các kỹ thuật, các thủ tục kế toán quản trị (KTQT) trong hệ thống kiểm soát chi phí, bao gồm: chi phí mục tiêu, KTTN, chi phí tiêu chuẩn, dự toán ngân sách linh hoạt, chuyển giá nội bộ, động lực hành vi, đánh giá hiệu suất, phân tích phương sai Kết quả nghiên cứu đã làm sáng tỏ hiệu quả của KTQT áp dụng theo hệ thống xã hội và kinh tế khác nhau, và cho thấy hệ thống KTTN là công cụ hiệu quả để kiểm soát chi phí theo môi trường kinh doanh thay đổi ở Trung Quốc Tuy nhiên, việc áp dụng quản lý, kế toán tiên tiến từ các nước phát triển kết hợp với điều kiện kinh doanh cụ thể của địa phương sẽ góp phần nâng cao đáng kể hiệu quả quản lý kinh doanh, hiệu quả hoạt động và lợi nhuận ở các nước kém phát triển Han Dan là bằng chứng thuyết phục phổ biến của sự đổi mới trong quản lý, kế toán cho các nước kém phát triển, điều này không chỉ là với các doanh nghiệp khác ở Trung Quốc mà với các nước khác nữa Bằng các hồ sơ kế toán cho giai đoạn sau khi hệ thống chi phí mới

đã được cài đặt, tác giả đã chứng minh được việc áp dụng KTTN để kiểm soát chi phí đã góp phần tích cực làm giảm đáng kể trong chi tiết hoặc chi phí sản xuất sản phẩm, và tăng cường năng suất và lợi nhuận của Công ty Tác giả chưa đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đế Hệ thống KTTN

Trang 27

Meda (2003) đã có một nghiên cứu kế toán trách nhiệm tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Jordan, tác giả đã khám phá được thực tế áp dụng

kế toán trách nhiệm tại các doanh nghiệp này, nó có mối quan hệ với dự toán ngân sách, các công ty này đã so sánh thành quả đạt được thực tế với thành quả dự toán Tác giả chưa đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đế Hệ thống KTTN

Theo Freeman, L Neal (2004), kiểm soát tài chính hiệu quả giúp các tổ chức phát hiện sớm các vấn đề để tiến tới đạt được các mục tiêu tài chính của mình Sử dụng các trung tâm trách nhiệm là một kỹ thuật được sử dụng khá rộng rãi trong kiểm soát tài chính KTTN chia tách một tổ chức lớn thành các đơn vị, bộ phận nhỏ hơn gọi là các trung tâm trách nhiệm nhằm tạo điều kiện cho việc quản lý được dễ dàng Mỗi đơn vị, bộ phận được coi như một doanh nghiệp nhỏ và người đứng đầu

nó phải chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động tại trung tâm của họ Chức năng kiểm soát giả định cơ bản là mỗi đô la thu được hoặc đồng đô la chi tiêu đều được đặt dưới sự kiểm soát của một nhà quản lý trực tiếp KTTN đại diện cho sự phân cấp của một doanh nghiệp kinh doanh, các trung tâm trách nhiệm được xây dựng hợp lý sẽ mang lại hiệu quả cao và có lợi cho tất cả các thành viên trong công ty Những nhận định của tác giả đưa ra trên cơ sở phân tích định tính, chưa đo lượng cụ thể, và chưa đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đế Hệ thống KTTN

Theo Hansen và Mowen (2005), kế toán trách nhiệm bao gồm 4 nội dung: Phân công trách nhiệm; Xây dựng các tiêu chuẩn và các thước đo thành quả; Đánh giá thành quả và Phân phối phần thưởng Tuy nhiên, các tác giả chỉ dừng lại ở việc bàn luận về nội dung kế toán trách nhiệm, chưa đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến KTTN

Sarkar và Yeshmin (2005) trong một nghiên cứu về áp dụng kế toán trách nhiệm tại Bangladesh đã cho thấy, 33% các tổ chức đã thiết kế bốn trung tâm trách nhiệm trong tổ chức của đơn vị mình, 30% tổ chức đã thiết kế ba trung tâm trách nhiệm Công cụ phổ biến để đánh giá thành quả là dự toán ngân sách Báo cáo thu nhập đóng góp được sử dụng để đánh giá các nhà quản trị tại các trung tâm doanh

Trang 28

thu Tuy nhiên, các tác giả chưa đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đế Hệ thống KTTN

Larmande, Francois và Ponssard, Jean Pierre (2007) đã phân tích trong một

mô hình đa nhiệm, trong đó các trung tâm có trách nhiệm hữu hạn nhằm nghiên cứu

về vấn đề còn tồn tại khi áp dụng các nguyên tắc kiểm soát để loại bỏ các yếu tố bên ngoài, người quản lý có thể nhận được một số tín hiệu trước khi quyết định căn cứ vào môi trường bên ngoài và có thể sử dụng thông tin này để giảm nhẹ hoặc khuếch đại tác động của nó Kết quả cho thấy, dưới những điều kiện nhất định, phương án tối ưu chỉ được chọn lọc khi loại bỏ tác động của môi trường

Theo Ismail and King (2007), kế toán quản trị chịu ảnh hưởng của các nhân

tố trình độ của nhân viên kế toán, sự quan tâm về KTQT của chủ doanh nghiệp, chi phí cho việc tổ chức một hệ thống KTQT của doanh nghiệp, áp lực cạnh tranh thị trường, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý doanh nghiệp Ở nghiên cứu này, tác giả chưa đề cập đến Kế toán trách nhiệm, tuy nhiên đây là cơ sở để dựa vào

đó có thể xây dựng được mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống

kế toán trách nhiệm

Theo Rowe, Casey et al (2008), KTTN phụ thuộc vào độ lớn, phạm vi và tốc

độ thay đổi quá trình tổ chức Khi có sự thay đổi trong mức độ, phạm vi và tốc độ thay đổi quá trình tổ chức thì hiệu suất của các trung tâm quản lý tài chính có thể thay đổi Để đạt được mục tiêu chung của tổ chức thì một cơ chế quan trọng là sử dụng KTTN để quản lý các trung tâm trách nhiệm KTTN được dùng để quản lý các mối quan hệ ngang giữa các trung tâm trách nhiệm bao gồm cả những người làm việc trong các ủy ban hoặc các nhóm đa chức năng

Trong một nghiên cứu kế toán trách nhiệm, tác giả Garrison và Noreen (2008) đã trình bày về 4 trung tâm trách nhiệm trong tổ chức tài chính, gồm có: Trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư Tuy nhiên, các tác giả cũng chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu về các trung tâm trách nhiệm

Trang 29

Fowzia (2009) cho rằng, sự hài lòng của hệ thống KTTN phụ thuộc quan trọng vào tất cả các yếu tố của mô hình KTTN, và hệ thống KTTN của các ngân hàng ở Bangladesh được duy trình sự hài lòng ở mức độ thỏa đáng Tác giả cũng cho thấy, hầu hết hệ thống KTTN của các tổ chức tài chính phi ngân hàng đang sử dụng tiêu chuẩn truyền thống, cách tiếp cận hiện đại chỉ được sử dụng trong phân công trách nhiệm và thực hành của các trung tâm trách nhiệm Kết quả phân tích về các tổ chức tài chính phi ngân hàng của tác giả cũng cho thấy, trung tâm trách nhiệm là yếu tố then chốt hiệu quả nhất, sau đó là kỹ thuật đo lường hiệu suất, hệ thống khen thưởng, điểm chuẩn đo lường hiệu suất và phân công trách nhiệm Trong một nghiên cứu khác của cùng tác giả, năm 2010 với sự điều tra 68 tổ chức sản xuất, kết quả cho thấy không có sự tách biệt giữa hệ thống KTTN và hệ thống

Kế toán ở các tổ chức này dựa trên chức năng, hoạt động, chiến lược và trách nhiệm, và mức độ hài lòng tổng thể của hệ thống kế toán là ở giữa mức độ trung bình và hài lòng Tiếp sau đó tác giả cũng điều tra 93 tổ chức niêm yết trong đó có

43 tổ chức dịch vụ sản xuất, kết quả cho thấy hệ thống KTTN của các tổ chức sản xuất và dịch vụ chủ yếu thực hiện theo tiêu chí truyền thống, tỷ lệ phần trăm thích tiêu chí hiện đại là không đáng kể Tuy nhiên, các tác giả cũng chưa đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán trách nhiệm

Trong một nghiên cứu về mức độ ứng dụng của kế toán trách nhiệm trong khách sạn Jordan, Jooda và các cộng sự (2009) đã khảo sát với 12 khách sạn 5 sao

và 15 khách sạn 4 sao nằm ở Amma Kết quả cho thấy, các khách sạn Jordan đã xác định các trung tâm trách nhiệm và thực hiện lập dự toán một cách rõ ràng, được liên kết thành quả đã lập kế hoạch với thành quả thực tế Thêm vào đó, kết quả cũng cho thấy sự tồn tại của một hệ thống hợp nhất khái quát hóa hệ thống thành quả và hệ thống khuyến khích Tuy nhiên, các tác giả cũng chưa đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán trách nhiệm

Okoye và đồng nghiệp (2009) đã nghiên cứu về ứng dụng kế toán trách nhiệm để cải thiện thành quả của doanh nghiệp sản xuất, kết quả nghiên cứu đã khẳng định KTTN là công cụ quan trọng để đánh giá trách nhiệm quản lý, và tác giả

Trang 30

cũng chỉ rõ, có mối quan hệ rõ ràng giữa kế toán trách nhiệm và thành quả đạt được trong các doanh nghiệp Các tác giả không đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán trách nhiệm

Vấn đề môi trường đã được các tác giả đề cập và đưa vào trong kế toán khi

thực hiện nghiên cứu như đề tài “Environmental Accounting – an Important part of

an information System in the Conditions when the Company Approad to the Environment influences its Prosperity” được Jaroslava HYRSLOVÁ và Mislav HÁJEK (2006) đăng trên tạp chí “Economics and Management: Ekonomika ir Vadyba”, đề tài: “Does Corporate Environmentalism have an Influence on Management Accounting Practices? A Study of companies an environmenta – sensitive industries” đăng trên: “School of Business, Economics and Law, university of Gothenburg” của Fredrik S.Larsson (2010)

Garber, M (2011) trong bài viết: “Profit Center Accounting: Theory and Practice” đăng trên “The CPA Journal” (April): P.6-12… và Verchoor, C.C (2012)

trong bài viết: “ Responsibility Reporting is getting more attention” đăng trên tạp chí “Strategic Finance” (December):12, P.14 – 15 đã nhấn mạnh tầm quan trọng của

kế toán trách nhiệm cũng như đề nghị kế toán trách nhiệm cần phải được quan tâm, chú ý nhiều hơn nữa

Sajad Gholami và cộng sự (2012) trong nghiên cứu có tên “Social Responbility Accounting: From Theory to practice” đã đăng trên tạp chí “Journal of Basic and Applied Scientific Research” cho rằng, những hành vi phi đạo đức sẽ ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động của đơn vị, và vì thế, bên cạnh mục tiêu về tài chính, các doanh nghiệp phải chú trọng đến trách nhiệm đối với xã hội

Có mối liên hệ giữa nhân tố con người và KTTN Nếu không có sự tham gia của người lao động vào thiết kế hệ thống KTTN thì hệ thống KTTN sẽ không hiệu quả Đó là kết quả được công bố trong một nghiên cứu của Moses Nyakuwanika và đồng nghiệp năm 2012 trong một nghiên cứu về hiệu quả của hệ thống KTTN trong các đơn vị y tế Tuy nhiên, ngoài nhân tố con người, các tác giả chưa đề cập đến các nhân tố khác tác động đến hệ thống KTTN

Trang 31

Al Hanini (2013) đã nghiên cứu thực nghiệm mức độ thực hiện KTTN trong các ngân hàng Jordan, kết quả nghiên cứu cho thấy, các ngân hàng Jordan áp dụng KTTN dưới các nội dung: Thứ nhất, thực hiện phân chia cấu trúc tổ chức thành các trung tâm trách nhiệm dựa vào những đặc điểm riêng; Thứ hai, thực hiện phân quyền rõ ràng, phù hợp và gắn liền với giao trách nhiệm cho các nhà quản trị tại các trung tâm trách nhiệm về thành quả của đơn vị họ phụ trách; Thứ ba, thực hiện phân

bổ chi phí và doanh thu theo khả năng và giới hạn quyền lực của Trung tâm trách nhiệm, đồng thời xác định trách nhiệm rõ ràng và tính toán phù hợp, chính xác chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp và giá chuyển nhượng nội bộ giữa các trung tâm Thứ

tư, thực hiện lên kết giữa dự toán với thực tế tại các trung tâm trách nhiệm, khuyến khích mọi người lao động đều thực hiện lập dự toán để đảm bảo khả thi và có thể đạt được mục tiêu chung của tổ chức; Thứ năm, kiểm soát và đo lường thành quả của mỗi trung tâm trách nhiệm thông qua việc so sánh giữa dự toán với thành quả thực tế; Thứ sáu, báo cáo kế toán trách nhiệm được phân loại theo cấp độ trách nhiệm khác nhau, phân tích chênh lệch của thành quả thực tế với dự toán để xác định xem ai phải chịu trách nhiệm về chênh lệch đó; Thứ bảy, Thiết lập một hệ thống khuyến khích có quan hệ chặt chẽ với thành quả khi lập dự toán tại các trung tâm trách nhiệm nhằm hạn chế những chênh lệch không mong muốn và thúc đẩy những chênh lệch tốt, khuyến khích người lao động cải thiện thành quả của họ và thành quả chung của toàn đơn vị Tuy nhiên, ở các ngân hàng này, không phải tất cả các trung tâm đều thực hiện một loại hoạt động, dự toán của trung tâm không có sự tham gia của các nhân viên và khía cạnh phi tài chính ít được quan tâm đến Tác giả

đã đưa ra một số khuyến nghị: Ngân hàng Trung ương – Hiệp hội các ngân hàng và chính quyền các ngân hàng Jordan cần hợp tác phát triển một hướng dẫn áp dụng kế toán trách nhiệm, Cần xây dựng mục tiêu và dự toán của các trung tâm trách nhiệm tại các ngân hàng Jordan có sự tham gia chuẩn bị của các nhân viên, Các ngân hàng Jordan nên sử dụng các phương pháp kế toán quản trị chi phí hiện đại như: Hệ thống chi phí dựa trên hoạt động (ABC), hệ thống ngân sách dựa trên hoạt động

Trang 32

(ABB) và thẻ cân bằng điểm (BSC) Tác giả không đề cập đến các nhân tố khác tác động đến hệ thống KTTN

Ibrahim Qasem Al-shomaly (2013) đã nghiên cứu về các phương pháp được

sử dụng để đánh giá thành quả trong lĩnh vực chăm sóc y tế ở Jordan và mối liên hệ với các nguyên tắc KTTN, tác giả đã kết luận, một phần các yếu tố cơ bản của KTTN đã được áp dụng để đánh giá thành quả trong các cơ sở y tế ở miền bắc Jordan: Tồn tại cơ cấu tổ chức rõ ràng, nơi các trung tâm trách nhiệm được chia theo từng đơn vị; Doanh nghiệp chưa chuẩn bị dự toán cho từng trung tâm trách nhiệm; Khuynh hướng phân quyền trong các tổ chức này còn yếu Tác giả không đề cập đến các nhân tố khác tác động đến hệ thống KTTN

Philip Owio(2016) và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu để xem xét các vấn đề về kế toán trách nhiệm ở các Trường đại học công lập của Uganda hay không Bằng phương pháp định lượng kết hợp định tính, từ phân tích kết quả, các tác giả khẳng định: 5 khía cạnh về kế toán trách nhiệm trong các trường đại học công lập của Uganda bao gồm: Dự toán ngân sách, Kiểm soát, Phản hồi (Báo cáo), Quyết định, Trách nhiệm của nhà quản trị Các tác giả cho rằng ở các trường đại học công lập của Uganda có sự phân cấp quản lý rõ ràng, các nhà quản trị là các Trưởng khoa phải lập dự toán ngân sách cho phòng – ban – khoa của họ, có thẩm quyền ra quyết định và phải chịu trách nhiệm kiểm soát chi phí và thu nhập ở bộ phận của họ Người được giao thẩm quyền phải chịu trách nhiệm về hoạt động thuộc quyền kiểm soát của họ Tuy nhiên, các tác giả chưa đưa ra được các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán trách nhiệm

Tóm lại, kế toán trách nhiệm là công cụ kiểm soát rất hiệu quả, đã được nhiều tác giả nước ngoài nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau và ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà quản trị, nhà khoa học trên thế giới Những nghiên cứu về kế toán trách nhiệm trên thế giới rất bổ ích cho việc kế thừa để vận dụng tổ chức hệ thống kế toán trách nhiệm trong điều kiện thực tiễn ở Việt Nam Tuy vậy, có thể thấy rằng các công trình nghiên cứu được giới thiệu, trình bày trên đây tập trung chủ yếu ở tầm vĩ mô, hoặc có tính khái quát Đã có một số công trình

Trang 33

nghiên cứu ứng dụng vào những lĩnh vực cụ thể như y tế, ngân hàng, … nhưng chưa có nghiên cứu cụ thể nào về tổ chức kế toán trách nhiệm cho đơn vị kế toán hoạt động trong lĩnh vực dạy nghề Đây chính là “lổ hổng” trong nghiên cứu mà tác giả đã phát hiện ra để tiếp tục nghiên cứu

1.2 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

Kế toán quản trị được các nhà nghiên cứu ở Việt Nam bắt đầu nghiên cứu từ đầu những năm 1990 Trong Luận án: “Vấn đề hoàn thiện kế toán Việt Nam”, tác giả Nguyễn Việt (1995) đã trình bày phương hướng và giải pháp xây dựng hệ thống

kế toán tài chính và kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Việt Nam với những đề xuất mang tính sơ khai và cơ bản, chưa đề cập hoặc đi sâu vào vấn đề kế toán trách nhiệm

Tác giả Phạm Văn Được (1997), trong một nghiên cứu về “ Phương hướng xây dựng nội dung và tổ chức vận dụng kế toán quản trị vào việt Nam”, đã so sánh

sự giống và khác nhau giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính; vai trò, nội dung

và các nghiệp vụ của kế toán quản trị Tác giả đã đề xuất các biện pháp ứng dụng kế toán quản trị vào thực tiễn Việt Nam với 5 giải pháp vĩ mô và 6 giải pháp vi mô Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế tại thời điểm đó và tính mới mẻ của kế toán quản trị nên kết quả nghiên cứu đưa ra mang tính định hướng, chung chung cho mọi loại hình doanh nghiệp chứ chưa đi vào cụ thể từng ngành nghề, cũng chưa đề cập đến vấn đề kế toán trách nhiệm

Từ đầu những năm 2000, xây dựng mô hình kế toán quản trị theo từng ngành kinh doanh để các doanh nghiệp trong ngành làm cơ sở xây dựng cho riêng mình trở lên yêu cầu cấp thiết xã hội đặt ra Do đó, vấn đề cụ thể của kế toán quản trị áp dụng riêng cho các loại hình doanh nghiệp được các nhà nghiên cứu chú tâm đến Năm

2002, Trần Văn Dung trong một nghiên cứu kế toán tại một số xí nghiệp đại diện cho các doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam, sau khi trình bày cơ sở lý luận KTQT chi phí sản xuất và giá thành kết hợp với đánh giá thực trạng công tác kế toán, tác giả đã đề xuất xây dựng trung tâm chi phí cho các doanh nghiệp sản xuất ở Việt nam nói chung trên cơ sở chức năng hoạt động của doanh nghiệp, với 2 trung tâm

Trang 34

là trung tâm chính và trung tâm phụ Trung tâm chính là trung tâm chuyên nghiệp, thực hiện nhiệm vụ chính của doanh nghiệp, bao gồm: trung tâm cung ứng (tiếp liệu) được tập hợp chi phí theo quá trình mua hàng, Trung tâm sản xuất (chế tạo) được tập hợp chi phí theo quá trình sản xuất, và trung tâm thương mại được tập hợp chi phí theo quá trình tiêu thụ sản phẩm Trung tâm phụ là trung tâm quản lý và điều hành SXKD trong doanh nghiệp như: trung tâm hành chính, trung tâm nhân sự, quản trị, kinh doanh Các trung tâm đều phải lập dự toán, hệ thống thông tin kế toán quản trị thực hiện theo các chỉ tiêu cụ thể trong dự toán để tính giá thành thực tế và

có thể so sánh với dự toán, kế hoạch, hay định mức Tuy nhiên, tác giả chưa có số liệu cụ thể hay kỹ thuật phân tích nào cụ thể để đánh giá hiệu quả hoạt động của các trung tâm Tác giả cũng chưa đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đên KTTN

Lê Đức Toàn (2002) đã thực hiện luận án với nghiên cứu tại các doanh nghiệp ngành sản xuất công nghiệp ở Việt Nam, tác giả đã đề xuất xây dựng mô hình KTQT với hai mô hình là mô hình kết hợp và mô hình tách rời Tác giả đã phân tích và đánh giá trách nhiệm của các trung tâm quản trị, trung tâm trách nhiệm được chia thành 4 trung tâm: Trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư Tác giả đề xuất đánh giá trách nhiệm của trung tâm chi phí thông qua mức độ hoàn thành định mức và dự toán chi phí, tỷ lệ chi phí trên doanh thu Trung tâm đầu tư được đề xuất đánh giá thông qua 2 chỉ tiêu ROI,

RI và phân tích báo cáo kết quả kinh doanh theo ứng xử của từng bộ phận Tuy nhiên, tác giả chưa đề xuất được đánh giá cho trung tâm doanh thu và trung tâm lợi nhuận, chưa phân tích được cụ thể cho đặc thù ngành, cơ cấu quản lý và đặc điểm hoạt động của tổ chức, chưa đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đên KTTN

Kế toán quản trị mang tính đặc thù của từng ngành, từng đơn vị, đòi hỏi phải phù hợp với đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý Một số tác giả đã thực hiện đề tài nghiên cứu KTQT đi sâu vào từng ngành cụ thể, tiêu biểu như: Giang Thị Xuyến (2002) nghiên cứu về Tổ chức kế toán quản trị và phân tích kinh doanh trong doanh nghiệp Nhà nước, Phạm Kim Vân (2002) nghiên cứu về tổ chức KTQT chi phí và kết quả kinh doanh ở các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, tác giả Nguyễn Thị

Trang 35

Hằng Nga năm 2004 nghiên cứu về tổ chức KTQT trong các doanh nghiệp dầu khí Việt Nam, Dương Thị Mai Hà Trâm (2004) nghiên cứu về Xây dựng hệ thống KTQT trong các doanh nghiệp dệt Việt Nam, Nguyễn Thanh Quý (2004) nghiên cứu hệ thống thông tin kinh tế phục vụ quản trị doanh nghiệp bưu chính viễn thông, Nguyễn Quốc Thắng nghiên cứu về Tổ chức KTQT chi phí và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp thuộc ngành giống cây trồng Việt Nam,…Hầu hết các tác giả nghiên cứu về các nội dung của KTQT như Chi phí, giá thành, định mức sản xuất, tuy nhiên vấn đề KTTN chưa được đề cập đến, hoặc đề cập nhưng chưa đi sâu phân tích, có chăng chỉ là đánh giá báo cáo bộ phận hay nêu ra các trung tâm trách nhiệm, chưa đề cập đến các phương pháp kế toán trách nhiệm hay phương pháp đo lường sử dụng trong kế toán trách nhiệm

Nguyễn Ngọc Quang (2006) trong nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp Việt Nam đã đề cập đến các trung tâm trách nhiệm, báo cáo trách nhiệm với các chỉ tiêu đánh giá truyền thống như ROI, RI,… Tuy nhiên, tác giả chỉ đề cập sơ lược, chưa đi sâu vào nghiên cứu kế toán trách nhiệm

Năm 2007, trong một nghiên cứu nhằm xây dựng mô hình KTQT cho các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm Việt Nam, tác giả Phạm Thị Thủy đã kiến nghị: Tăng cường kiểm soát chi phí thông qua việc phân loại chi phí, lập dự toán chi phí, phân tích biến động của chi phí, xác định quy mô hợp lý cho từng lô sản xuất Tác giả cũng đã đề xuất coi các chi nhánh không phải là trung tâm doanh thu mà là trung tâm lợi nhuận, chỉ tiêu ROI bộ phận, giá chuyển nhượng giữa các trung tâm trách nhiệm cũng đã được tác giả đề cập đến Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu nghiên cứu đến KTTN

Hoàng Văn Tưởng (2010) đã thực hiện luận án với đề tài “Tổ chức KTQT với việc tăng cưởng quản lý hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp xây lắp Việt Nam” Tác giả đến 4 trung tâm trách nhiệm trong các doanh nghiệp xây lắp: trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư Tác giả cũng đã xây dựng hệ thống các báo cáo KTTN tương ứng cho các trung tâm trách nhiệm trong các doanh nghiệp xây lắp, tuy nhiên, các trung tâm trách nhiệm

Trang 36

được trình bày ở góc độ phân công trách nhiệm, chưa xây dựng hệ thống chỉ tiêu hay hệ thống báo cáo hoàn chỉnh cho các trung tâm trách nhiệm để đánh giá hiệu quả hoạt động và trách nhiệm quản lý của từng trung tâm trách nhiệm Tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp kế toán chi phí và phương pháp truyền thống để đo lường thành quả Tác giả chưa đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đên KTTN

Trong bài báo đăng trên tạp chí Tài chính, tác giả Lã Thị Thu (2014) viết về

“Tổ chức thông tin kế toán trong các doanh nghiệp hiện nay” đã đề cập đến 9 nội dung cơ bản của Kế toán quản trị trong đó có nội dung Kế toán quản trị liên quan đến chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất; Kế toán trách nhiệm và các trung tâm trách nhiệm; Lập dự toán trong kế toán quản trị; Báo cáo kế toán quản trị gồm các báo cáo chi phí sản xuất, các báo cáo về giá thành sản xuất, các báo cáo về lựa chọn phương án, các báo cáo về kế toán trách nhiệm…với kiến nghị nhà nước cần

có văn bản pháp quy quy định thống nhất các nội dung kế toán quản trị nêu trên Tuy nhiên, những nhận định của tác giả đưa ra trên cở sở suy luận định tính, kế toán trách nhiệm cũng chưa được đề cập cụ thể

Tác giả Phạm Văn Được (2009) đã thực hiện đề tài cấp bộ “Thiết kế hệ thống báo cáo KTTN bộ phận cho các nhà quản trị trong doanh nghiệp sản xuất Việt Nam”, tác giả đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận về kế toán trách nhiệm, đã xây dựng chi tiết hệ thống báo cáo KTTN và quy trình cũng như điều kiện để thực hiện quy trình lập các báo cáo đó cho từng trung tâm trách nhiệm Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ đề cập đến các phương pháp chi phí và đánh giá truyền thống Trong một nghiên cứu khác của cùng tác giả năm 2010, Phạm Văn Được và cộng sự đã xây dựng hệ thống báo cáo đánh giá 4 trung tâm trách nhiệm trong các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán, nhưng các phương pháp đánh giá cũng chỉ dừng lại chủ yếu ở các phương pháp đánh giá truyền thống Tác giả chưa đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đên KTTN

Trần Văn Tùng (2010) nghiên cứu về báo cáo đánh giá trách nhiệm quản trị trong các công ty niêm yết ở Việt Nam trình bày lý luận về hệ thống báo cáo kế toán trách nhiệm và mô hình tổ chức kế toán trách nhiệm trong các công ty cổ phần

Trang 37

của một số quốc gia phát triển trên thế giới Tác giả cũng đã đưa ra các điều kiện để thực hiện quy trình xây dựng hệ thống báo cáo đánh giá trách nhiệm quản trị trong các công ty niêm yết Tác giả chưa đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đên KTTN

Nguyễn Thị Minh Phương (2013) đã thực hiện luận án tiến sĩ nghiên cứu xây dựng mô hình kế toán trách nhiệm trong các doanh nghiệp sản xuất sữa Việt Nam Tác giả đã lập luận mối quan hệ giữa KTTN với cơ cấu tổ chức và phân cấp quản

lý, áp dụng các phương pháp đánh giá hiệu quả và trách nhiệm quản lý của các trung tâm trách nhiệm gắn với đặc thù ngành sản xuất sữa Việt Nam Tác giả đã ứng dụng thẻ cân bằng điểm (BSC) hay Giá trị kinh tế gia tăng (EVA) vào để đánh giá thành quả, tuy nhiên, tác giả sử dụng chủ yếu là phương pháp định tính, chưa chỉ ra được mức độ áp dụng kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp, các chỉ tiêu đánh giá thành quả chưa thật sự đầy đủ, cụ thể, chi tiết và có hệ thống, chưa rõ áp dụng vào giai đoạn nào

Tác giả Hồ Mỹ Hạnh (2014) đã khẳng định, cần thiết phải thiết lập báo cáo phân tích chênh lệch chi phí theo các trung tâm trách nhiệm để xác định trách nhiệm của các bộ phận trong việc thực hiện và kiểm soát chi phí Tại các trung tâm trách nhiệm, hệ thống thông tin dự toán chi phí là chuẩn mực để so sánh với hệ thống thông tin chi phí thực hiện, xác định chi phí và tìm nguyên nhân của các chênh lệch

đó Tuy nhiên, các nhận định của tác giả đưa ra trên cơ sở phân tích định tính, tác giả cũng chưa đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đên KTTN

Các định hướng, xác lập và vận hành mô hình tổ chức công tác kế toán trách nhiệm và sử dụng mô hình KM – Star để đánh giá thành quả hoạt động trong các Tổng công ty xây dựng đã được đề xuất trong một nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Phú (2014) Tuy nhiên, tác giả cũng chưa đưa công cụ thống kê hiện đại để đánh giá mức độ của các yếu tố của kế toán trách nhiệm

Đàm Phương Lan (2014) đã có bài viết: “Kế toán trách nhiệm và ứng dụng

kế toán trách nhiệm tại công ty cổ phần đầu tư và thương mại Thái Nguyên – TNG” đăng trên tạp chí Khoa học & công nghệ, tác giả nhận định ba khía cạnh vận dụng

kế toán trách nhiệm cho công ty này, đó là: (1) Tổ chức các trung tâm trách nhiệm

Trang 38

và phân quyền quản lý theo nhóm trách nhiệm với 4 trung tâm trách nhiệm là trung tâm đầu tư, trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu và trung tâm lợi nhuận; (2) Tổ chức lập dự toán tại các Trung tâm trách nhiệm; (3) Tổ chức hệ thống báo cáo tại các Trung tâm trách nhiệm và đánh giá thành quả, trách nhiệm của các trung tâm Tuy nhiên, những nhận định trên được đưa ra dựa trên cơ sở lý luận định tính, chưa khảo sát định lượng và chỉ có giá trị vận dụng tại công ty cổ phần đầu tư và thương mại Thái Nguyên – TNG

Thái Anh Tuấn (2014) đã có một bài viết về KTTN, tác giả cho rằng KTTN

là một nội dung cơ bản của KTQT dùng để kiểm soát các quá trình hoạt động và đánh giá hiệu quả hoạt động của từng bộ phận trong một tổ chức, đó là quá trình phân định hay thiết lập các quyền hạn, trách nhiệm cho mỗi bộ phận, cá nhân và một hệ thống chỉ tiêu, công cụ báo cáo kết quả của mỗi bộ phận, và KTTN chỉ có thể thực hiện được trong đơn vị có cơ cấu tổ chức quản lý được phân quyền rõ ràng Các trung tâm trách nhiệm trong các trường đại học gồm: các trung tâm chi phí, trung tâm lợi nhuận, trung tâm đầu tư Trung tâm chi phí được tác giả xác định là các khoa, phòng, ban Trung tâm lợi nhuận được tác giả xác định là các trung tâm đào tạo ngắn hạn như trung tâm ngoại ngữ, trung tâm tin học, trung tâm tài chính

kế toán… Trung tâm đầu tư là Ban giám hiệu, Hội đồng trường… Tác giả cũng đã

đề xuất hệ thống chỉ tiêu đánh giá trung tâm chi phí là tỷ lệ chi phí/giờ giảng, tỷ lệ chi phí/sinh viên, tỷ lệ tiền lương và vượt giờ/sinh viên, tỷ lệ chi phí nghiên cứu khoa học/giảng viên, tỷ lệ chi phí văn phòng phẩm/sinh viên, tỷ lệ chi phí văn phòng phẩm/ giảng viên, tỷ lệ chi phí điện nước/sinh viên, tỷ lệ học bổng/sinh viên Tuy nhiên tác giả chưa đề cập đến đánh giá trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư Tuy nhiên, những trình bảy của tác giả mang tính chất phân tích định tính, tác giả cũng chưa đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đên KTTN

Hoàng Thị Hương (2016) đã có một bài viết đăng trên tạp chi tài chính số tháng 2/2016 viết về “Kế toán trách nhiệm và thực tiễn vận dụng vào Việt Nam” Tác giả đã đề cập đến KTTN với 4 trung tâm trách nhiệm là Trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư, và cho rằng việc

Trang 39

phân chia một đơn vị thành các trung tâm trách nhiệm phải căn cứ vào cơ cấu tổ chức của đơn vị đó Tuy nhiên, cũng như nhiều tác giả khác, những trình bảy của tác giả mang tính chất phân tích định tính, tác giả cũng chưa đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đên KTTN

Trần Trung Tuấn (2015) đã thực hiện luận án “nghiên cứu kế toán trách nhiệm trong các doanh nghiệp xi măng Việt Nam”, đây là một nghiên cứu khá sâu, chi tiết, và đầy đủ về kế toán trách nhiệm Tác giả đã kết hợp giữa lý luận định tính với nghiên cứu thực nghiệm để đưa ra được kết luận xác đáng về ảnh hưởng của KTTN tới thành quả đạt được của các doanh nghiệp sản xuất xi măng, xác định được mức độ của việc áp dụng phương pháp thẻ cân bằng điểm (BSC) và phương pháp kế toán chi phí dựa trên hoạt động (ABC) trong các doanh nghiệp xi măng, xác định mối quan hệ giữa KTTN với phương pháp thẻ cân bằng điểm (BSC) và phương pháp kế toán chi phí dựa trên hoạt động (ABC) Đồng thời, luận án cũng đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng kế toán trách nhiệm là: Quy mô kinh doanh, trình độ các nhà quản trị, tình trạng niêm yết trên thị trường chứng khoán, sự hiểu biết của nhà quản trị về kế toán trách nhiệm và vị trí của nhà quản trị Kết quả cho thấy việc ứng dụng KTTN trong các công ty niêm yết cao hơn các công ty chưa niêm yết, trình độ đào tạo của các nhà quả trị càng cao thì khả năng áp dụng kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp càng cao, mức độ hiểu biết về kế toán trách nhiệm

về kế toán trách nhiệm của nhà quản trị càng cao thì khả năng áp dụng KTTN trong doanh nghiệp càng cao, các doanh nghiệp sản xuất xi măng có số lương công nhân bình quân càng lớn thì mức độ áp dụng KTTN càng cao, Quy mô của doanh nghiệp hay Tài sản bình quân của doanh nghiệp càng cao thì mức độ áp dụng KTTN càng cao Vị trí của nhà quản trị trong doanh nghiệp không ảnh hưởng tới mức độ áp dụng KTTN Tuy nhiên, kết quả này chỉ giới hạn trong phạm vi các doanh nghiệp sản xuất xi măng Việt Nam Đây là công trình nghiên cứu quan trọng mà tác giả kế thừa và tham khảo trong quá trình thực hiện luận văn này

Một số tác giả đã thực hiện luận văn thạc sĩ về kế toán trách nhiệm như: Nguyễn Thị Hương Quế (2013) đã có một nghiên cứu về KTTN tại công ty cổ phần

Trang 40

đầu tư Trung Nam, Võ Thị Phương Uyên ( 2014) đã nghiên cứu KTTN tại công ty

cổ phần Vinafor Đà Nẵng, Nguyễn Thanh Hòa (2015) đã có nghiên cứu về kế toán quản trị tại trường cao đẳng GTVT 3 trong đó có đề cập đến KTTN… tuy nhiên hầu như các tác giả này sử dụng phương pháp định tính trong nghiên cứu mà chưa đưa ra được những bằng chứng thực nghiệm thuyết phục

Như vậy, những năm gần đây, kế toán trách nhiệm ngày càng được nhiều nhà quản trị cũng như nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, đặc biệt

là vấn đề vận dụng kế toán trách nhiệm vào thực tiễn Nhiều tác giả đã hệ thống hóa được những lý luận cơ bản về tổ chức kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp Các nghiên cứu vận dụng kế toán trách nhiệm đã đi sâu vào từng lĩnh vực cụ thể, một số tác giả đã thực hiện nghiên cứu định lượng kết hợp với định tính, đưa ra những kết quả mang tính thuyết phục cao Đã có những tác giả đưa ra những nhận định về vận dụng kế toán trách nhiệm trong các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng, mặc dù những nhận định này đưa ra mới chỉ trên cơ sở lý luận định tính Đây là những nội dung

mà tác giả kế thừa và tham khảo trong quá trình thực hiện luận văn

Ngày đăng: 31/12/2018, 16:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w