Hồ Chí Minh Chuyên ngành: Kế toán MSHV: 1541850055 I- Tên đề tài: CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC VẬN DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG KẾ TOÁN TẠI VIỆT NAM THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ II- N
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
-
NGÔ THỊ MINH TRIẾT CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC VẬN DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG KẾ TOÁN TẠI VIỆT NAM
THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
-
NGÔ THỊ MINH TRIẾT CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC VẬN DỤNG
GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG KẾ TOÁN TẠI VIỆT NAM
THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ
Trang 3CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
Cán bộ hướng dẫn khoa học : TS TRẦN VĂN TÙNG
TS Trần Văn Tùng
Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công nghệ TP HCM ngày tháng năm 2017
Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm :
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn Thac sĩ)
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận sau khi Luận văn đã được
sửa chữa (nếu có)
Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV
Trang 4NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên NGÔ THỊ MINH TRIẾT Giới tính: Nữ
Ngày, tháng, năm sinh: 23/07/1989 Nơi sinh: TP Hồ Chí Minh Chuyên ngành: Kế toán MSHV: 1541850055
I- Tên đề tài:
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC VẬN DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG
KẾ TOÁN TẠI VIỆT NAM THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ
II- Nhiệm vụ và nội dung:
- Vận dụng cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của các nhân tố đến việc vận dụng giá trị hợp
lý trong kế toán tại Việt Nam theo chuẩn mực kê toán quốc tế
- Xác định được ảnh hưởng của các nhân tố đến việc vận dụng giá trị hợp lý trong kế toán tại Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế Từ đó giúp các cơ quan quản lý nhà nước và các doanh nghiệp trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh có những chính sách phù hợp
để nâng cao việc vận dụng giá trị hợp lý trong kế toán tại Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế
III- Ngày giao nhiệm vụ: 26/09/2016 (QĐ 2790/QĐ-ĐKC)
IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ: 20/03/2017
V- Cán bộ hướng dẫn: TS TRẦN VĂN TÙNG
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH
TS Trần Văn Tùng
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận văn thạc sỹ kế toán “Các nhân tố tác động đến việc vận dụng giá trị hợp lý trong kế toán tại Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế”
là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và tất cả những phần kế thừa, tham khảo cũng như tham chiếu đều được trích dẫn đầy đủ và ghi rõ nguồn tham khảo cụ thể trong danh mục các tài liệu đã được tham khảo
Học viên thực hiện luận văn
Ngô Thị Minh Triết
Trang 6Song song đó tác giả cũng chân thành cảm ơn tới các bạn bè các lớp sau đại học ngành kế toán trường Đại học Công Nghệ TP.HCM, cũng như các anh chị, các cô chú ở các doanh nghiệp khảo sát đã dành thời gian quý báu của mình để cung cấp cho tác giả tất cả các thông tin cần thiết để hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tác giả muốn cảm ơn tới gia đình tôi vì những hỗ trợ tuyệt vời và những lời động viên để tôi có đủ tinh thần, nghị lực để thực hiện luận văn
Mặc dù, luận văn đã được hoàn thành trong khả năng của tác giả Tuy nhiên, do hạn chế về mặt thời gian và khả năng chuyên môn, do vậy luận văn sẽ có ít nhiều sai sót Kính mong nhận được sự cảm thông và những lời chỉ bảo tận tình của thầy
cô và các bạn
Học viên thực hiện Luận văn
Ngô Thị Minh Triết
Trang 7TÓM TẮT
Tuy là một thuật ngữ mới trong kế toán so với các hệ thống định giá khác, song giá trị hợp lý đã được bàn đến như là hướng đi mới của định giá trong kế toán Chính vì vậy việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng giá trị hợp
lý trong kế toán tại Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế có ý nghĩa và vai trò
vô cùng quan trọng
Luận văn gồm 5 chương với mục tiêu nghiên cứu là hệ thống hóa lý luận về giá trị hợp lý trong chuẩn mực kế toán Quốc tế và thực trạng áp dụng trên thế giới, khảo sát đánh giá thực trạng nhận thức về IFRS 13 “Đo lường giá trị hợp lý” tại các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, tìm hiểu các nhân tố tác động đến việc việc vận dụng GTHL trong kế toán Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế và đề xuất giải pháp nhằm áp dụng thước đo giá trị hợp lý trong kế toán tại Việt Nam theo chuẩn mực kế toán Quốc Tế vào các doanh nghiệp tại TP.HCM Về phương pháp nghiên cứu tác giả sử dụng 2 phương pháp chính là phương pháp định tính và phương pháp định lượng Trong phương pháp định tính, tác giả sử dụng phương pháp so sánh và đối chiếu, phương pháp phỏng vấn trực tiếp, phương pháp phân tích và tổng hợp Trong phương pháp định lượng, tác giả
sử dụng phần mềm SPSS để thực hiện phân tích thống kê mô tả và phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA
Kết quả phân tích từ dữ liệu thông qua phần mềm SPSS chỉ ra rằng mô hình khả năng vận dụng giá trị hợp lý trong kế toán tại Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế bị phụ thuộc vào 5 yếu tố bao gồm môi trường pháp lý, môi trường kinh doanh, môi trường văn hóa xã hội, trình độ nhân viên kế toán, vai trò tổ chức, hội nghề nghiệp kế toán, trong đó môi trường văn hóa, xã hội là nhân tố tác động mạnh nhất lên mô hình Theo số liệu được phân tích từ phần mềm SPSS, mô hình với 5 yếu tố nêu trên giải thích được 66%, phần còn lại là các yếu tố khác chưa được khám phá
Trong Luận văn tác giả có đề nghị những giải pháp nhằm thúc đẩy năm yếu tố
Trang 8trên đồng thời cũng đưa ra một số các kiến nghị dành cho Chính phủ, Quốc Hội,
Bộ Tài Chính, các Hiệp hội nghề nghiệp, các cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp trên địa bàn tại Tp.HCM
Trang 9ABSTRACT
Even though fair value is a new term in accounting comparing to other
evaluation system, it is considered as a new way of evaluation in accounting
Therefore, the study of factors affecting the application of fair value accounting in
Vietnam under the international accounting standards is meaningful and crucial
role
Thesis consists of 5 chapters with the goal of research is to systematize the
theoretical fair value of the International Accounting Standards and applicable
situation in the world, the survey assessing the situation awareness of IFRS 13
"Measurement at fair value” that is conducted on companies located in Ho Chi
Minh City Moreover, it suggests the solution of applying fair value complying with
international accounting to firms in Ho Chi Minh City Regarding research
methodology authors uses two main methods are the qualitative and quantitative
methods In qualitative methods, the author uses the method of comparison and
contrast, direct interviews, analysis and synthesis In quantitative methods, the
author used SPSS software to perform descriptive statistical analysis an exploratory
factor analysis (EFA)
Results from the data analysis through SPSS software models indicate that the
ability to apply fair value accounting in Vietnam that complies with international
accounting standards which depend on 5 factors including the regulatory
environment, business environment, social and cultural environment, qualification
of an accountant, organizational roles, accounting professional associations, and
social and cultural environment is the most powerful factor to the model According
to data analysis from SPSS, models with 5 above factors explained 66%, the rest
have not been explored
In the thesis, the author has proposed measures to promote the five factors and
also give some recommendations for the Government, Parliament, Ministry of Finance,
professional associations, institutions create and firms in Ho Chi Minh City
Trang 10MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
TÓM TẮT
ABSTRACT
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ SƠ ĐỒ
DANH MỤC CÁC HÌNH
PH N M Đ U 1
1 TÍNH CẤP THIẾT ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
6 NHỮNG ĐÓNG GÓP KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN 4
7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1.1 Các nghiên cứu công bố ở nước ngoài 6
1.2 Các nghiên cứu công bố ở trong nước 10
1.2.1 Các bài báo khoa học, công trình nghiên cứu khoa học 10
1.2.2 Các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ 13
1.3 Nhận xét về các nghiên cứu trước và xác định vấn đề cần nghiên cứu 18
1.3.1 Đối với các công trình nghiên cứu nước ngoài 18
Trang 111.3.2 Đối với các công trình nghiên cứu trong nước 18
1.3.3 Xác định vấn đề cần nghiên cứu 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 20
CHƯƠNG 2: CƠ S LÝ THUYẾT 21
2.1 Các khái niệm cơ bản 21
2.1.1 Khái niệm định giá trong kế toán 21
2.1.2 Các phương pháp định giá trong kế toán 21
2.1.3 Các hệ thống định giá trong kế toán và những vấn đề tồn tại 22
2.1.4 Các giả định và nguyên tắc kế toán ảnh hưởng đến việc định giá 25
2.2 Giá trị hợp lý theo chuẩn mực kế toán quốc tế 26
2.2.1 Vài nét về Ủy Ban Chuẩn Mực Kế Toán Tài Chính Hoa Kỳ (FASB) và Ủy Ban Chuẩn Mực Kế Toán Quốc Tế (IASB) 26
2.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển 28
2.2.3 Giá trị hợp lý trong các chuẩn mực kế toán quốc tế cụ thể 30
2.2.4 Khái niệm giá trị hợp lý 32
2.2.5 Đo lường giá trị hợp lý theo IFRS 13 33
2.2.6 Yêu cầu trình bày và công bố thông tin giá trị hợp lý 40
2.3 Vận dụng giá trị hợp lý ở các quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 40
2.3.1 Vận dụng giá trị hợp lý ở Malaysia 40
2.3.2 Vận dụng giá trị hợp lý ở Trung Quốc 41
2.3.3 Vận dụng giá trị hợp lý ở Ấn Độ 42
2.3.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 43
2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán giá trị hợp lý theo CMKT quốc tế 44
2.4.1 Yếu tố về văn hóa, xã hội 44
2.4.2 Yếu tố về môi trường pháp lý và chính trị 44
2.4.3 Yếu tố về môi trường kinh doanh 44
2.4.4 Yếu tố về trình độ người làm nghề kế toán 45
Trang 122.4.5 Các yếu tố khác 45
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 47
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 48
3.1 Khung nghiên cứu 48
3.2 Các phương pháp nghiên cứu sử dụng 49
3.2.1 Nghiên cứu định tính 49
3.2.2 Nghiên cứu định lượng 50
3.3 Giả thuyết nghiên cứu 50
3.4 Quy trình nghiên cứu 51
3.4.1 Xây dựng mô hình nghiên cứu 52
3.4.2 Nghiên cứu sơ bộ bằng phương pháp nghiên cứu định tính 53
3.4.3 Nghiên cứu chính thức bằng phương pháp nghiên cứu định lượng 55
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 59
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 60
4.1 Thực trạng cơ sở pháp lý về giá trị hợp lý tại Việt Nam 60
4.1.1 Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam 60
4.1.2 Đánh giá thực trạng 65
4.2 Thực trạng vận dụng GTHL trong kế toán tại Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế 66
4.2.1 Khảo sát thực trạng vận dụng GTHL trong kế toán tại Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế 66
4.2.2 Đánh giá thực trạng 71
4.3 Kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng GTHL trong kế toán tại Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế 71
4.3.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 72
4.3.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha 76
4.3.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 80
4.3.4 Phân tích hồi quy tuyến tính bội 83
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 87
Trang 13CHƯƠNG 5: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ 88
5.1 Giải pháp vận dụng giá trị hợp lý trong kế toán tại Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế 88
5.1.1 Nhóm giải pháp nâng cao môi trường pháp lý 88
5.1.2 Nhóm giải pháp nâng cao môi trường kinh doanh 93
5.1.3 Nhóm giải pháp nâng cao môi trường văn hóa, xã hội 95
5.1.4 Nhóm giải pháp nâng cao vai trò của các tổ chức, hội nghề nghiệp 95
5.1.5 Nhóm giải pháp nâng cao trình độ hiểu biết của người làm nghề kế toán về giá trị hợp lý 97
5.2 Kiến nghị 98
5.2.1 Đối với Chính phủ, Quốc Hội và Bộ Tài Chính 98
5.2.2 Đối với các Hiệp hội nghề nghiệp 99
5.2.3 Đối với các cơ sở đào tạo 99
5.2.4 Đối với các doanh nghiệp trên địa bàn Tp.HCM 100
5.3 Những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 100
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 102
KẾT LUẬN CHUNG 103 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 14DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT
TPHCM: Thành phố Hồ Chí Minh TSCĐ: Tài sản cố định
PHẦN TIẾNG NƯỚC NGOÀI
ASEAN: Association of Southeast Asian Nations: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
Á
CoCoA: Continuously contemporary accounting: Hệ thống kế toán điều chỉnh liên
tục theo hiện tại
FASB: Financial Accounting Standard Board: Hội đồng CMKT tài chính Hoa Kỳ IAS: International Accounting Standards: CMKT quốc tế
IASB: International Accounting Standard Board: Hội đồng CMKT quốc tế
IFRS: International Financial Reporting Standard: Chuẩn mực BCTC quốc tế Ind AS: Indian Accounting Standard: Chuẩn mực kế toán Ấn Độ
GAAP: Generally Accepted Accounting Principles: Các nguyên tắc kế toán được
chấp nhận rộng rãi
MCA: Ministry of Corporate Affairs: Bộ Nội vụ doanh nghiệp Ấn Độ
MFRS: Malaysian Financial Reporting Standard: Chuẩn mực BCTC Malaysia MASB: Malaysian Accounting Standard Board: Hội đồng CMKT Malaysia
PERS: Private Entity Reporting Standard: BCTC riêng
VAS: Vietnamese Accounting Standard: CMKT Việt Nam
VAA: Vietnam Association of Accountants and Auditors: Hội kế toán kiểm toán
Việt Nam
Trang 15DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Sử dụng GTHL trong đo lường tài sản dài hạn 31
Bảng 2.2: Sử dụng GTHL trong đo lường tài sản ngắn hạn 32
Bảng 2.3: Một vài ví dụ về dữ liệu đầu vào cấp 2 36
Bảng 2.4: Một vài ví dụ về dữ liệu đầu vào cấp 3 37
Bảng 3.4: Mô hình nghiên cứu đề xuất lần 2 về các yếu tố tác động đến việc vận dụng GTHL trong kế toán tại Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế 57
Bảng 4.1: Quy định sử dụng GTHL trong các CMKT Việt Nam 61
Bảng 4.2 Các thông số thống kê của từng biến trong phương trình 84
BIỂU ĐỒ Biểu đồ 4.1: Quy mô vốn của doanh nghiệp khảo sát 72
Biểu đồ 4.2: Về vị trí công việc của người được khảo sát 73
Biểu đồ 4.3: Trình độ chuyên môn của người làm công tác kế toán 73
Biểu đồ 4.4: Hiểu biết của đối tượng khảo sát về GTHL 74
Biểu đồ 4.5: Hiểu biết của đối tượng khảo sát về quy định trong CMKT Việt Nam 75
Biểu đồ 4.6: Tỷ lệ tham gia vào các tổ chức nghề nghiệp 75
SƠ ĐỒ Sơ đồ 3.1: Khung nghiên cứu của luận văn 48
Sơ đồ 3.2: Mô hình nghiên cứu về các yếu tố tác động đến việc vận dụng GTHL tại các doanh nghiệp Việt Nam 55
Trang 16HẦN M ĐẦU
1 TÍNH CẤ THIẾT ĐỀ TÀI
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, đặc biệt vào những thập niên 1970 – 1980 các nước phương Tây phải đối mặt tình trạng lạm phát nghiêm trọng khi mà hàng hóa không định giá bằng các mô hình tính giá trước đó (điển hình là mô hình tính giá gốc) Trước tình trạng đó đã đặc ra yêu cầu phải sử dụng mô hình tính giá khác Khắc phục được những hạn chế của mô hình giá gốc truyền thống và đặc ra cơ sở cho các nghiên cứu về mô hình tính giá mới, đó là giá trị hợp lý
Cơ sở tính giá này bắt đầu được sử dụng rộng rãi từ những năm 1990 khi Ủy ban soạn thảo CMKT quốc tế nghiên cứu ban hành mới và sửa đổi các CMKT như: công cụ tài chính, thanh toán trên cơ sở cổ phiếu,…Đến nay GTHL đã được chấp nhận và vận dụng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Theo một điều tra được thực hiện bởi công ty kiểm toán Deloitte (2010) với 173 quốc gia, kết quả cho thấy 123 quốc gia bắt buộc và yêu cầu áp dụng IAS/IFRS trong đó có yêu cầu vận dụng nguyên tắc kế toán GTHL
Trong nhiều nghiên cứu của các tác giả ở các quốc gia tiên tiến trên thế giới đã chứng minh rằng kế toán GTHL là một xu hướng phát triển tất yếu Việt Nam, từ năm 1996 đến nay Bộ Tài chính đã tiến hành nghiên cứu và phổ biến rộng rãi các chuẩn mực kế toán quốc tế IAS/IFRS, đồng thời lựa chọn các chuẩn mực có khả năng áp dụng tại Việt Nam để nghiên cứu soạn thảo và ban hành các CMKT Việt Nam Đến nay Bộ Tài chính đã ban hành 5 đợt với 26 CMKT Trong số đó có nhiều chuẩn mực đã đề cập đến việc thực hiện đo lường theo GTHL
Mặc dù Chế độ kế toán tại Việt Nam hiện nay đã có nhiều thay đổi nhằm tiến sát với quốc tế, song rõ ràng để có thể xây dựng các điều luật phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế là một điều không dễ dàng, nhất là trong điều kiện Việt Nam chưa phát triển ngang bằng với các quốc gia tiên tiến khác để có thể áp dụng
Trang 17pháp giá gốc vẫn là phương pháp cốt lõi được sử dụng để định giá và đo lường các đối tượng kế toán được trình bày trong báo cáo tài chính và chỉ có một số các quy định nhỏ có đề cập đến khía cạnh giá trị hợp lý Trong khi đó, giá trị hợp lý đã được
áp dụng ở khá nhiều nước trên thế giới và đã được chuẩn hóa thông qua việc ra đời của chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế IFRS 13 Điều này có thể làm cho thông tin tài chính trên báo cáo tài chính giữa Việt Nam và một số nước trên thế giới không còn có thể đạt được yêu cầu có thể so sánh được và làm giảm tính hữu ích của việc sử dụng các thông tin cho các đối tượng sử dụng
Với mong muốn có thể hiểu được bản chất của vấn đề, xác định được các nguyên nhân và qua đó đưa ra các giải pháp cho việc sử dụng kế toán GTHL tại Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế, tác giả đã đi đến quyết định lựa chọn đề
tài “Các nhân tố tác động đến việc vận dụng giá trị hợp lý trong kế toán tại
Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế” để làm luận văn thạc sĩ của mình
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu một cách toàn diện những vấn đề lý luận liên quan đến đánh giá được các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng GTHL trong kế toán tại Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế hiện nay, từ đó đưa ra các giải pháp và kiến nghị để nâng cao việc vận dụng GTHL trong kế toán tại Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế
2.2 Mục tiêu cụ thể
Nghiên cứu thực trạng vận dụng GTHL trong kế toán tại Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế, sử dụng công cụ thống kế toán để đo lường mức độ tác động của các nhân tố
Xây dựng được mô hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng GTHL trong kế toán tại Việt Nam theo CMKT quốc tế
Trang 18Đưa ra được các giải pháp và kiến nghị giúp đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng GTHL trong kế toán Việt Nam theo CMKT quốc tế hiện nay
3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Câu hỏi nghiên cứu 1: Thực trạng vận dụng GTHL trong kế toán tại Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế hiện nay?
Câu hỏi nghiên cứu 2: Các nhân tố nào ảnh hưởng đến việc vận dụng trong kế toán tại Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế hiện nay?
Câu hỏi nghiên cứu 3: Cần có các giải pháp và kiến nghị nào giúp đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng GTHL trong kế toán tại Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế hiện nay?
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ HẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng GTHL trong kế toán tại Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế Các nhân tố mà đề tài nghiên cứu bao gồm cả các nhân tố chủ quan lẫn khách quan như: đặc tính văn hóa xã hội, điều kiện lịch sử, chính trị, pháp lý, trình độ người làm công tác kế toán… có ảnh hưởng đến việc vận dụng GTHL trong kế toán tại Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế
4.2 hạm vi nghiên cứu
Về thời gian: các văn bản pháp lý trong và ngoài nước được tác giả sử dụng để
tham chiếu được ban hành chính thức tính đến ngày 30 tháng 7 năm 2016 Các số liệu được tác giả thực hiện khảo sát trong khoảng thời gian từ tháng 10/2015 đến tháng 6/2016
Về không gian: Đề tài nghiên cứu trên cơ sở số liệu khảo sát được từ các
doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Tp.HCM
Trang 195 HƯƠNG HÁ NGHIÊN CỨU
Trong luận văn này tác giả sử dụng đồng thời cả hai phương pháp nghiên cứu
định tính và định lượng
Nghiên cứu định tính: bằng việc thực hiện các phương pháp nghiên cứu cụ thể
như phương pháp nghiên cứu tài liệu, tổng hợp, phân tích, so sánh, lấy ý kiến chuyên gia, thống kê mô tả để tổng quát hóa cơ sở lý thuyết về kế toán GTHL, xác định sơ bộ các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng GTHL trong kế toán tại Việt Nam hiện nay
Nghiên cứu định lượng: khảo sát BCTC cuối năm 2015 của các doanh nghiệp
xây dựng bảng câu hỏi khảo sát thực trạng sau đó sử dụng mô hình phân tích nhân tố khám phá (EFA) để kiểm định mô hình, kiểm định thang đo, đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến việc vận dụng GTHL trong kế toán tại Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị phù hợp để nâng cao việc vận dụng GTHL trong kế toán tại Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế
6 NHỮNG ĐÓNG GÓ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN
Về mặt khoa học:
Xây dựng được mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng GTHL trong kế toán tại Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế, mô hình có giá trị tham khảo tích cực đối với các nghiên cứu định lượng về sau trong cùng chủ đề
Về mặt thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo đối với các cơ quan hữu quan của nhà nước, các tổ chức hiệp hội nghề nghiệp, các doanh nghiệp và người làm công tác kế toán để có cái nhìn bao quát và sự chuẩn bị cần thiết các điều kiện cần cho việc vận dụng giá trị hợp lý trong kế toán tại Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế
Trang 207 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Luận văn được thực hiện bao gồm tổng cộng 103 trang (chưa kể các danh mục, phụ lục, tài liệu tham khảo, bảng biểu, biểu đồ, và sơ đồ minh họa) Luận văn được kết cấu thành 5 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: iải pháp và kiến nghị
Trang 21CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Chương này trình bày một cách tổng quan về các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về các vấn đề có liên quan đến nội dung của luận văn Với sự hạn chế về thời gian và kiến thức, tác giả cố gắng thu thập, nghiên cứu một cách tương đối đầy đủ các nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước và quốc tế đã thực hiện về một số nội dung có liên quan đến hướng nghiên cứu của luận văn, qua đó xác định khe hở nghiên cứu làm cơ sở cho việc lựa chọn nội dung
và mục tiêu nghiên cứu của luận văn
1.1 Các nghiên cứu công bố ở nước ngoài
Trình bày BCTC theo chuẩn mực BCTC quốc tế IAS/IFRS nói chung hay kế toán GTHL nói riêng đã được vận dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới Chính vì thế, đây là chủ đề được khá nhiều tác giả lựa chọn nghiên cứu Trong số đó, phải kể đến các nghiên cứu:
Bewley, Graham, Peng, 2013 Toward Understanding How Accounting Principles Become Generally Accepted: The Case of Fair Value Accounting
Movement in China In: Financial reporting and auditing as social and organizational practice Workshop 2 London, December 16-17, 2013[32]
Nghiên cứu tìm hiểu về quá trình vận dụng CMKT quốc tế cũng như chấp nhận kế toán GTHL ở Trung Quốc Sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống kết hợp với các phương pháp tổng hợp, so sánh về môi trường chính trị, xã hội và kinh tế trong 2 lần đưa GTHL vào vận dụng ở Trung Quốc, tác giả muốn chỉ ra lý
do tại sao GTHL đã được chấp nhận ở Trung Quốc trong giai đoạn hai (2001-2006)
và nguyên nhân của sự thành công
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng thành công của “cuộc cải cách” GTHL lần thứ 2 ở Trung Quốc là do yếu tố xã hội hơn là kinh tế Nó là thành công của sự kết hợp ba bên (Bộ Tài chính Trung Quốc, IASB và Ngân hàng Thế giới) trên cơ sở tôn trọng
và chia sẻ lợi ích lẫn nhau Sự kết hợp này đã nhận được sự ủng hộ từ các chuyên
Trang 22gia và tạo nên 1 phong trào kế toán GTHL ở Trung Quốc đưa nó đến thành công
Pawan Jain, 2013 Fair Value Accounting: Adoptability in Indian Corporate
Financial Reporting Scenario International Journal of Accounting, and Business Management (IJABM), Volume 1, Issue 1[42]
Bài viết nghiên cứu về khả năng áp dụng GTHL ở Ấn Độ một phần trong tiến trình hội tụ hoàn toàn của CMKT Ấn Độ (Ind AS) với IFRS Tác giả sử dụng phương pháp so sánh giữa Ind AS với IFRS
Tác giả đã trình bày sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của GTHL ở Ấn
Độ, cách tiếp cận của Ấn Độ trong việc hội tụ với IFRS nói chung và vận dụng kế toán GTHL nói riêng Qua nghiên cứu tác giả đề xuất một số giải pháp vận dụng bao gồm: cải thiện môi trường pháp lý, đào tạo nguồn nhân lực hiểu biết về GTHL, nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về GTHL, thiết lập phương pháp đo lường rõ ràng
Phan Thi Phuoc Lan, 2013 The meaning and effect of not applying all IAS / IFRS, practical research in Vietnam MBA thesis The Maastricht School of
Management, Netherlands [44]
Bài nghiên cứu đã khám phá và miêu tả bối cảnh cụ thể của Việt Nam dựa trên việc phân tích môi trường Xã hội, Chính trị, Kinh tế, Công nghệ và Pháp luật của đất nước dẫn đến việc lựa chọn không áp dụng toàn bộ IAS/IFRS Qua nghiên cứu bằng phương pháp phỏng vấn chuyên gia là các nhà soạn thảo văn bản CMKT Việt Nam, tác giả cho rằng nguyên nhân chủ yếu là xuất phát từ lý do xã hội, chính trị, kinh tế của đất nước Trong đó, tác giả cho rằng nhân tố hệ thống pháp luật là không
có ảnh hưởng vì độc lập với hệ thống thuế, tài chính, kế toán Nhìn chung, nghiên cứu đã chỉ ra được những nguyên nhân căn bản vì sao Việt Nam chưa vận dụng đầy
đủ IAS/IFRS tuy nhiên việc chấp nhận hay loại bỏ các nhân tố mới dựa vào định tính, một số điểm chưa thuyết phục cao
Zehri & Chouaibi, 2013 Adoption determinants of the International
Accounting Standards IAS/IFRS by the developing countries Journal of
Trang 23Economics, Finance and Administrative Science, 18: 56-62 [47]
Nghiên cứu của 2 tác giả đã chỉ ra các yếu tố quyết định đến việc vận dụng các CMKT quốc tế IAS/IFRS ở các quốc gia đang phát triển Tác giả đã thực nghiệm trên mẫu 74 quốc gia và vùng lãnh thổ ở 4 châu lục Tác giả đưa ra 7 giả thuyết
nghiên cứu và sau khi kiểm định mô hình nghiên cứu kết quả chỉ ra các nhân tố: sự tăng trưởng kinh tế, trình độ giáo dục và hệ thống pháp luật có ảnh hưởng đáng kể trong khi đó các nhân tố: môi trường văn hóa, hệ thống chính trị, thị trường vốn lại
không ảnh hưởng nhiều
Điểm yếu của nghiên cứu là tác giả định lượng trên nguồn dữ liệu thứ cấp là chủ yếu, các thông tin này có thể được cung cấp không minh bạch Bên cạnh đó, do đặc thù hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội mỗi quốc gia, mỗi khu vực khác nhau nên sử dụng chung mô hình nghiên cứu có thể không phù hợp
Benjamin, Niskkalan & Marathamuthu, 2012 Fair Value Accounting and the
Global Financial Crisis: The Malaysian Experience Jamar Vol.10, 53-68 pp[31]
Bài báo nhằm nghiên cứu bản chất của việc vận dụng GTHL trong đo lường bất động sản đầu tư trong suốt giai đoạn khủng hoảng tài chính ở Malaysia (2007-2008) của 11 công ty đầu tư bất động sản trên thị trường chứng khoán Malaysia đã nộp BCTC Kết quả, trong năm 2008 (trong giai đoạn khủng hoảng tài chính) có 8/11 công ty ghi tăng GTHL khoản mục bất động sản đầu tư, 3 công ty không ghi nhận thay đổi Trong năm 2009 (năm vẫn còn chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng) có 9/11 công ty vẫn ghi tăng GTHL của bất động sản đầu tư, 2 công ty không báo cáo bất kỳ sự thay đổi nào Điều này là trái ngược với các công ty ở châu Âu,Mỹ, Singapore
Kết luận tác giả cho rằng vấn đề nằm ở chỗ có sự khác nhau về việc hiểu và vận
dụng GTHL theo vị trí địa lý, sự phát triển của nền kinh tế, định hướng, văn hóa
Và việc ghi nhận GTHL cần được làm sáng tỏ đối với các đối tượng sử dụng BCTC khác nhau do có sự khác biệt thậm chí là đối lập về lợi ích
Trang 24Bên cạnh đó bài báo cũng giới thiệu một số ít các CMKT Malaysia cho phép đo lường theo GTHL, cũng như đưa ra các tranh luận xung quanh GTHL và giá gốc Laux and Leuz, 2009 The crisis of fair-value accounting: Making sense of the
recent debate Accounting, Organizations and Society, 34:826–834 [40]
Nghiên cứu chỉ ra những tranh cãi chủ yếu về GTHL như: khi các dữ liệu thị trường không thể thu thập, việc sử dụng các thông tin chủ quan phi thị trường có thể làm cho GTHL bị xác định sai lệch hoặc không đúng Và vì GTHL dựa trên các mô hình nên thiếu tính tin cậy; vấn đề ghi nhận của các tài sản trong thời kỳ khủng hoảng; nhà quản lý có thể đối mặt với việc bị khởi kiện về GTHL cho dù nó có thể xác định phù hợp; GTHL không phù hợp và tiềm ẩn những sai lệch đối với những tài sản do công ty nắm giữ lâu dài
Kế toán GTHL làm gia tăng tính chất không ổn định và gây ảnh hưởng xấu đến thị trường Xuất phát từ cuộc khủng hoảng tài chính 2007 – 2009, nhiều quan điểm cho rằng GTHL làm trầm trọng cuộc khủng hoảng bởi việc bắt buộc ghi giảm giá trị các tài sản “tốt” do sự giảm giá của thị trường
Họ cũng chỉ ra những khó khăn do thông tin bất cân xứng, người quản lý có thông tin tốt hơn nhân viên kiểm toán và Ủy ban chứng khoán Mỹ (SEC) Do đó các
cơ quan quản lý không biết khi nào cần và không cần đưa ra các phản ứng
Tác giả cũng cho rằng ưu điểm của GTHL là phản ánh điều kiện thị trường hiện tại, cung cấp thông tin không bị lỗi thời, tăng cường tính minh bạch và khuyến khích các nhà quản lý điều chỉnh hành vi thích hợp
Vera Palea (2013) Fair value accounting and its usefulness to financial statement users The Department of Economics and Statistics “Cognetti deMartiis”,
27/13 [46]
Nghiên cứu của tác giả chỉ ra lý do tại sao lại sử dụng GTHL, các khái niệm xung quanh GTHL, cơ sở hình thành cũng như cơ sở đo lường GTHL theo IFRS 13
và FAS 157
Trang 25Tác giả đã tổng hợp các bằng chứng thực nghiệm về tính hữu ích của GTHL cho công cụ tài chính, tài sản phi tài chính cũng như những tranh luận xung quanh GTHL hiện nay
Kết luận, tác giả cho rằng giá gốc và GTHL không được xem là các đối thủ cạnh tranh vì chúng phục vụ cho các mục đích khác nhau Giá gốc cung cấp thông tin về chi phí khoản đầu tư trong khi GTHL đo lường cái mà nhà quản lý mong đợi nhận lại từ khoản đầu tư, đánh giá hiệu quả quản lý
Tác giả đề cho rằng cần cung cấp thông tin theo cả giá gốc và GTHL, và chỉ khi
đó các nhà đầu tư mới được cung cấp thông tin đầy đủ và hữu ích Tác giả đề xuất nên đưa điều này ra thảo luận và ban hành tiêu chuẩn
PWC,2013 A Global Guide to Fair Value Measurement [45]
Nghiên cứu là một tài liệu tham khảo rất hữu ích cho người làm kế toán và các bên liên quan trong việc tìm hiểu về GTHL Nghiên cứu bao gồm 9 chương và phần phụ lục giải thích cho các câu hỏi và kết quả trong các cuộc thảo luận, tài liệu nghiên cứu gần như tóm lược toàn bộ những khái niệm, hướng dẫn liên quan đến sử dụng GTHL theo CMKT Mỹ và CMKT quốc tế
1.2 Các nghiên cứu công bố ở trong nước
Hội tụ kế toán Việt Nam với kế toán quốc tế cũng như đo lường theo GTHL hiện đang là chủ đề nóng hổi tại Việt Nam, cùng với đó Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo các CMKT Việt Nam mới theo IFRS và cập nhật các chuẩn mực hiện hành Như để chuẩn bị cho những thay đổi tất yếu trong tương lai gần, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về chủ đề trên được các nhà khoa học trong nước công bố Trong đó phải kể đến các nghiên cứu sau:
1.2.1 Các bài báo khoa học, công trình nghiên cứu khoa học
Nguyễn Thu Hoài, 2009 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng phương
pháp tính giá trong kế toán Tạp chí kiểm toán, số 1[19]
Trang 26Trong nghiên cứu này tác giả đã chỉ ra được các nhân tố tác động hoặc ảnh hưởng đến việc vận dụng phương pháp tính giá trong kế toán bao gồm: các giả định
về sự tồn tại của doanh nghiệp, mức độ thận trọng lạc quan của xu hướng xã hội, mục đích sử dụng của các đối tượng tính giá, mục đích của đối tượng sử dụng thông tin kế toán
Nguyễn Thế Lộc, 2010 Tính thích hợp và đáng tin cậy của “GTHL” trong hệ
thống chuẩn mực BCTC quốc tế Tạp chí Phát triển & Hội nhập, số 3 [17]
Trong nghiên cứu này tác giả đã tóm tắt được lịch sử hình thành và phát triển của GTHL trong CMKT quốc tế Tác giả trích dẫn theo IFRS có 3 trường hợp sử dụng GTHL: GTHL là cơ sở để xác định giá gốc, GTHL là cơ sở để xác định giá trị sau khi ghi nhận ban đầu, GTHL là sơ sở để xác định sự giảm giá tài sản
Trong nghiên cứu của mình tác giả đưa ra câu hỏi bỏ ngỏ về tính hợp lý của GTHL trong trường hợp dữ liệu đầu vào cấp độ 2 và 3 nghĩa là khi các thông tin thị trường không sẵn có, và khi đó việc áp dụng GTHL dựa vào các công thức toán học thuần túy trong các mô hình định giá sẽ làm giảm tính dễ hiểu và đáng tin cậy của thông tin trình bày trên BCTC
Nguyễn Thành Hưng, 2011 Trao đổi về kế toán GTHL trong phản ánh và ghi
nhận các khoản đầu tư tài chính ở các doanh nghiệp Tạp chí kiểm toán, số 3 [16]
Trong nghiên cứu của mình tác giả đã chỉ ra những bất cập trong việc ghi nhận các khoản đầu tư tài chính theo giá gốc, và đưa ra đề xuất ghi nhận các khoản đầu tư tài chính (ĐTTC) theo GTHL với các giải pháp cụ thể như: thứ nhất, thiết lập mô hình xác định GTHL của các khoản ĐTTC vận dụng theo IAS 39 “Công cụ tài chính: Ghi nhận và đo lường”; thứ hai, hoàn thiện việc ghi nhận ban đầu đối với các khoản ĐTTC; thứ ba, hoàn thiện việc ghi nhận và trình bày các khoản ĐTTC trên BCTC tại thời điểm kết thúc kỳ kế toán
Mai Ngọc Anh, 2011 Có nên sử dụng GTHL là cơ sở tính giá duy nhất trong
kế toán tài chính Tạp chí Nghiên cứu khoa học Kiểm toán, số tháng 3[13]
Trang 27Trong nghiên cứu này tác giả cho rằng sử dụng GTHL làm cơ sở định giá sẽ đáp ứng tốt các mục tiêu cung cấp thông tin tài chính mà các BCTC hướng tới như tính thích hợp của thông tin tài chính
Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ ra rằng trong trường hợp không có thị trường hoạt động thì việc sử dụng các giả định và mô hình tính toán sẽ khó đạt được độ tin cậy
và việc xác định GTHL là khá phức tạp
Tác giả cũng cho rằng việc sử dụng GTHL gây khó khăn cho việc so sánh và đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của đơn vị theo thời gian cũng như giữa các đơn vị với nhau
Kết luận, tác giả cho rằng không nên sử dụng GTHL là một cơ sở định giá duy nhất cho mọi tài sản và nợ phải trả mà nên duy trì mô hình kết hợp các cơ sở định giá khác nhau
Võ Văn Nhị và Lê Hoàng Phúc, 2011 Sự hoà hợp giữa CMKT Việt Nam và
CMKT quốc tế - Thực trạng, nguyên nhân và định hướng phát triển Tạp chí Kiểm toán, số 12[28]
Trong nghiên cứu này, tác giả đưa ra một số nguyên nhân tồn tại sự khác biệt giữa CMKT Việt Nam và quốc tế như sự khác biệt về môi trường kế toán bao gồm: văn hoá của người Việt Nam là tránh rủi ro và sự không chắc chắn, nền kinh tế thị trường ở Việt Nam còn khá non trẻ chưa liên thông với thị trường vốn trên thế giới, Việt Nam là một nước theo hướng điển chế luật (code law) hay luật thành văn (civil law) Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra các thách thức như: về đội ngũ nhân viên kế toán, chi phí, thị trường chưa phát triển
Cuối cùng tác giả đưa ra một số định hướng cho việc phát triển CMKT Việt Nam hòa hợp với CMKT quốc tế
Lê Hoàng Phúc, 2012 Thực trạng và định hướng sử dụng GTHL trong hệ
thống kế toán Việt Nam Tạp chí kiểm toán, số 1 [7]
Trong nghiên cứu này, tác giả trình đã bày khái quát về GTHL, lịch sử hình thành, thực trạng sử dụng GTHL trong hệ thống kế toán Việt Nam như: chưa xác định một cách rõ ràng và nhất quán về tính tất yếu của việc sử dụng GTHL là cơ sở
Trang 28định giá chủ yếu trong kế toán; Định nghĩa GTHL chưa rõ ràng, chưa đầy đủ; Các quy định về GTHL và sử dụng GTHL trong kế toán nằm rải rác trong các chuẩn mực, mang tính chấp vá, thiếu tính hệ thống; Chưa có hướng dẫn chính thức và thống nhất về phương pháp xác định GTHL trong kế toán; GTHL sử dụng chủ yếu cho ghi nhận ban đầu, chưa sử dụng để trình bày các khoản mục sau ghi nhận ban đầu, do đó chưa đạt được mục đích ghi nhận và trình bày các khoản mục theo những thay đổi của thị trường
Tác giả cũng đã đưa ra một số định hướng trong ngắn hạn cũng như dài hạn Trần Văn Tùng, 2013 Một số đề xuất triển khai GTHL trong kế toán tại doanh
nghiệp Việt Nam theo CMKT quốc tế Kinh tế và dự báo, số 22: 48-52[27]
Trong nghiên cứu này tác giả đã trình bày khái quát về lịch sử hình thành và phương pháp đo lường GTHL theo CMKT quốc tế
Tác giả cũng đã tiến hành khảo sát và đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến việc triển khai GTHL tại các doanh nghiệp Việt Nam như: Chính sách; Môi trường kế toán; Phương pháp định giá; Môi trường kinh doanh; Tâm lý người kế toán, nhà quản lý và đối tượng sử dụng; Lợi ích kinh tế
Nguyễn Thị Kim Cúc, 2013 Vận dụng GTHL trong việc ghi nhận và trình bày thông tin của một số khoản mục trên BCTC của doanh nghiệp Việt Nam Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh [18]
Trong công trình nghiên cứu này tác giả đã tổng kết các phương pháp đo lường một số khoản mục trên BCTC theo GTHL Bên cạnh đó, tác giả cũng đã chỉ
ra được một số tồn tại trong quy định kế toán hiện hành của Việt Nam liên quan đến GTHL ở một số khoản mục Qua đó, tác giả đưa ra một số giải pháp, kiến nghị với
cơ quan quản lý Nhà nước về việc ban hành, hướng dẫn cụ thể về phương pháp kế toán có liên quan đến GTHL
1.2.2 Các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Lê Vũ Ngọc Thanh, 2005 Định hướng về việc sử dụng GTHL trong kế toán doanh nghiệp Việt Nam Luận văn Thạc sĩ Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí
Trang 29Luận văn đã tổng kết cơ sở lý thuyết về GTHL theo các CMKT quốc tế đến cùng thời điểm Luận văn cũng đã trình bày được thực trạng về việc định giá cũng như sử dụng GTHL trong các quy định của kế toán Việt Nam, và thực tế sử dụng GTHL tại các doanh nghiệp Việt Nam tại cùng thời điểm Luận văn chủ yếu đề xuất kiến nghị về việc phải hoàn thiện các yêu cầu về GTHL trong các CMKT Việt Nam hiện hành, tạo sự nhất quán và hoàn thiện về mặt định giá, nhanh chóng ban hành các CMKT quan trọng để có cơ sở định giá theo kịp sự phát triển của nền kinh tế, tuy nhiên tác giả chưa đề cập cụ thể là những chuẩn mực nào
Nguyễn Thanh Tùng (2014), “Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng giá trị hợp lý trong kế toán tại các doanh nghiệp Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM [14]
Trong bài nghiên cứu của mình, tác giả đã tập hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước, từ đó xác định lỗ hổng nghiên cứu còn thiếu là “các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng giá trị hợp lý trong kế toán tại các doanh nghiệp Việt Nam” Từ
đó, bằng các phương pháp định lượng thông qua phần mềm SPSS, tác giả đã đề ra các nhân tố bao gồm môi trường pháp lý, môi trường kinh doanh, môi trường văn hóa xã hội, vai trò của các tổ chức – hội nghề nghiệp kế toán và mức độ đánh giá chung của doanh nghiệp
Ngô Thị Thùy Trang, 2012 Phương hướng và giải pháp vận dụng GTHL trong
kế toán doanh nghiệp Việt Nam Luận văn Thạc sĩ Đại học Kinh tế Thành phố Hồ
Luận văn cũng đề ra các giải pháp thực hiện như: bổ sung điều chỉnh luật kế toán và chuẩn mực chung, ban hành các chuẩn mực mới, kết hợp các cơ sở định giá
Trang 30Trần Thị Phương Thanh, 2012 Định hướng kế toán GTHL tại Việt Nam Luận
văn Thạc sĩ Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh [26]
Luận văn đã tổng kết được cơ sở lý luận về GTHL, đồng thời tác giả cũng nghiên cứu và trình bày được kinh nghiệm áp dụng GTHL tại Trung Quốc vì là quốc gia có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam
Luận văn cũng tổng kết lịch sử, thực trạng các quy định về định giá và GTHL trong hệ thống pháp lý kế toán Việt Nam cũng như khảo sát thực tiễn áp dụng GTHL trong các doanh nghiệp Việt Nam
Tác giả đưa ra các nguyên nhân GTHL chưa được áp dụng rộng rãi tại Việt Nam hiện nay như: đặc thù nền kinh tế chính trị, hệ thống chuẩn mực chậm thay đổi, tâm lý và trình độ người hành nghề chưa đáp ứng được yêu cầu
Luận văn đưa ra một số giải pháp như: nâng cao nhận thức về GTHL cho người sử dụng; điều chỉnh, ban hành luật kế toán và CMKT liên quan; xây dựng hoàn thiện cơ sở hạ tầng cho định giá
Huỳnh Thị Xuân Thùy, 2013 Giải pháp vận dụng GTHL để thực hiện đo lường các khoản đầu tư chứng khoán tại các Công ty cổ phần niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP.HCM Luận văn Thạc sĩ Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
tổ chức giáo dục dạy nghề, hiệp hội nghề nghiệp
Dương Lê Diễm Huyền, 2013 Một số giải pháp hoàn thiện các quy định về sử dụng GTHL trong hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam Luận văn Thạc sĩ Đại
học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh [3]
Trang 31Luận văn hệ thống cơ sở lý luận về GTHL, phương pháp đo lường theo IFRS
13, bên cạnh đó luận văn cũng trình bày quy định GTHL trong CMKT Malaysia
Luận văn cũng tổng kết được thực trạng vận dụng GTHL trong hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam, khảo sát thực tế áp dụng GTHL tại 30 công ty lớn nhỏ
ở nhiều lĩnh vực khác nhau Kết quả 60% doanh nghiệp cho rằng GTHL là cần thiết, rất quan trọng để đảm bảo chất lượng BCTC
Tác giả cho rằng cần hoàn thiện các quy định GTHL nhằm nâng cao chất lượng thông tin BCTC với các giải pháp như: hoàn thiện cơ sở hạ tầng làm nền tảng cho việc định giá; Nâng cao sự hiểu biết về GTHL của người làm công tác kế toán; Chỉnh sửa Luật kế toán và các CMKT liên quan; Nghiên cứu và xây dựng các chuẩn mực: đo lường GTHL, giảm giá trị tài sản, kế toán công cụ tài chính
Lê Thị Mộng Loan, 2013 GTHL ảnh hưởng đến sự cân bằng giữa độ tin cậy và thích hợp các thông tin trên BCTC của các công ty tại Việt Nam Luận văn Thạc sĩ
Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh [10]
Luận văn đã trình bày được các mô hình định giá trong kế toán cũng như ưu
và nhược điểm của từng mô hình
Luận văn cũng đã trình bày các vấn đề cơ bản về GTHL, các yêu cầu đặc điểm chất lượng đối với BCTC và kinh nghiệm của Mỹ, Malaysia khi áp dụng kế toán GTHL
Tác giả đã tiến hành khảo sát mẫu 100 doanh nghiệp để đánh giá sự ảnh hưởng của GTGL đến sự cân bằng của hai đặc điểm chất lượng: độ tin cậy và tính thích hợp của thông tin trên BCTC
Tác giả đã đưa ra kiến nghị về việc điều chỉnh luật kế toán, kiến nghị sửa đổi
bổ sung một số CMKT
Lê Thị Kim Dương, 2013 Vận dụng THL để trình bày thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp Việt Nam Luận văn Thạc sĩ Đại học Kinh tế Thành phố Hồ
Chí Minh [9]
Trang 32Luận văn đã trình bày các vấn đề cơ bản như phạm vi sử dụng, cách xác định GTHL theo CMKT quốc tế Luận văn cũng phân tích tính hữu ích của GTHL đối với việc trình bày thông tin trên BCTC
Tác giả đã khảo sát và đánh giá thực trạng về việc lập và trình bày thông tin trên BCTC tại các doanh nghiệp Việt Nam, chỉ ra một số nguyên nhân tồn tại
Tác giả đưa ra giải pháp vận dụng cả giá gốc và GTHL để trình bày thông tin trên BCTC, và kiến nghị một số sửa đổi trong môi trường pháp lý, kiến nghị đối với doanh nghiệp, hội nghề nghiệp
Dương Thị Thảo, 2013 Một số giải pháp hoàn thiện các qui định về sử dụng GTHL trong chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam hiện nay Luận án Tiến sĩ Học
viện Tài chính [4]
Luận án đã tổng kết những vấn đề lý luận chung về GTHL, tổng kết kinh nghiệm sử dụng GTHL trong kế toán quốc tế Luận án cũng tổng kết thực trạng qui định về sử dụng GTHL trong Chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam và thực tế vận dụng tại các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
Sau khi phân tích sự cần thiết áp dụng nguyên tắc kế toán theo GTHL tại Việt Nam, luận án đưa ra một số đề xuất sử dụng GTHL trong chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam trong ngắn hạn và trong dài hạn Trong đó, đối với ngắn hạn luận
án đưa ra các đề xuất chi tiết đối với công cụ tài chính, hàng tồn kho, TSCĐ, bất động sản đầu tư, doanh thu, từng loại hình doanh nghiệp Trong dài hạn, luận án đề xuất: Ban hành CMKT - Đo lường GTHL, các CMKT liên quan đến GTHL mà Việt Nam hiện nay chưa có, hoàn thiện các CMKT hiện nay, rà soát và hoàn thiện các qui định về dự phòng giảm giá hàng tồn kho và dự phòng giảm giá các khoản đầu tư tài chính Đồng thời luận án cũng đưa ra các kiến nghị với các cơ quan Nhà nước, các Hội nghề nghiệp và doanh nghiệp về các điều kiện để áp dụng nguyên tắc kế toán theo GTHL
Trang 331.3 Nhận xét về các nghiên cứu trước và xác định vấn đề cần nghiên cứu
Tóm lại, sau quá trình tổng quan các nghiên cứu khoa học chính có liên quan
đến nội dung dự kiến thực hiện của luận văn, tác giả nhận định được những mặt đã giải quyết được và những mặt còn hạn chế, tồn tại của các nghiên cứu kể trên như sau:
1.3.1 Đối với các công trình nghiên cứu nước ngoài
Phần nhiều các nghiên cứu của các tác giả tập trung vào các tranh luận xung quanh GTHL, cũng như nghiên cứu ảnh hưởng của nó lên chất lượng thông tin trên BCTC Các tác giả cũng tập trung phân tích về kỹ thuật đo lường GTHL theo CMKT quốc tế (IAS) hay Chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS) và mức độ tin cậy của
nó Một số nghiên cứu thực hiện nghiên cứu về ảnh hưởng của việc vận dụng IFRS đến các nước đang phát triển hoặc nghiên cứu ảnh hưởng của việc vận dụng GTHL đến một số quốc gia cụ thể như Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia nhưng chỉ dựa vào các phương pháp nghiên cứu định tính Các nghiên cứu của nhóm các doanh nghiệp Big 4 chủ yếu trình bày về các khái niệm và kỹ thuật đo lường GTHL, mang tính chất của một tài liệu hướng dẫn
Cũng có nghiên cứu về việc vận dụng ở Việt Nam nhưng đề cập chung ở mức
độ vận dụng chuẩn mực, chưa có công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng GTHL của các doanh nghiệp Việt Nam
1.3.2 Đối với các công trình nghiên cứu trong nước
Các công trình nghiên cứu trong nước về GTHL đã được tác giả tổng hợp khá đầy đủ trong quá trình tổng quan tài liệu nghiên cứu Có thể tóm lược các nghiên cứu này như sau:
+ Các tác giả trong nước đã có những kết quả nghiên cứu nhất định trong lĩnh vực hội tụ kế toán Việt Nam với kế toán quốc tế nói chung cũng như việc vận dụng GTHL ở Việt Nam nói riêng Các tác giả đã tổng hợp, so sánh hệ thống CMKT Việt Nam và kế toán quốc tế liên quan về GTHL, hệ thống hóa được cơ sở
Trang 34một số giải pháp, kiến nghị cụ thể cho việc triển khai vận dụng GTHL tại Việt Nam trong ngắn hạn và dài hạn Bên cạnh đó, các tác giả cũng nghiên cứu cụ thể về một hay một số CMKT Việt Nam đòi hỏi phải vận dụng đo lường theo GTHL
+ Các tác giả cũng nghiên cứu về ảnh hưởng của GTHL đến chất lượng thông tin trên BCTC hay nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng phương pháp tính giá trong kế toán
+ Tuy nhiên, nghiên cứu của các tác giả phần nhiều mới là định tính, các giải pháp chủ yếu tập trung vào môi trường pháp lý, chưa có nghiên cứu tổng thể về mức độ ảnh hưởng của từng nhóm nhân tố, dẫn đến các giải pháp mới chỉ mang tính chủ quan, và thiếu sự bao quát
1.3.3 Xác định vấn đề cần nghiên cứu
Với tổng thể những nghiên cứu trong và ngoài nước như trên, tác giả đã xác định được khe hở nghiên cứu của chủ đề nghiên cứu ở đây là mặc dù đã có nhiều tác giả nghiên cứu về việc vận dụng GTHL tại Việt Nam, nhưng hầu như chưa có
nghiên cứu về “Các nhân tố tác động đến việc vận dụng giá trị hợp lý trong kế toán tại Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế” Thêm vào đó, hầu như các nghiên
cứu kể trên chỉ thực hiện nghiên cứu theo phương pháp định tính, thống kê mô tả Ngoại trừ một bài báo khoa học của tác giả Trần Văn Tùng, thì chưa có tác giả nào thực hiện xây dựng mô hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng và kiểm định mô hình qua công cụ thống kê toán
Trang 35KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
chương này tác giả đã trình bày kết quả tìm hiểu và tổng quan tài liệu nghiên cứu liên quan đến chủ đề nghiên cứu mà tác giả lựa chọn Tác giả đã cố gắng thu thập tài liệu nghiên cứu qua các kênh: thư viện trực tuyến trong và ngoài nước, tài liệu được cung cấp hỗ trợ từ giảng viên hướng dẫn và bạn bè đồng nghiệp Với tổng cộng 8 công trình nghiên cứu nước ngoài và 17 công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước đã phần nào bao quát được tình hình nghiên cứu của các tác giả đi trước về chủ đề nghiên cứu của luận văn
Dù còn bị giới hạn về thời gian và năng lực nghiên cứu của bản thân, tác giả
đã cơ bản tóm tắt được phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu trước đây có liên quan đến nội dung đề tài, từ đó xác định được vấn đề cần nghiên cứu và xác định mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Trang 36CHƯƠNG 2: CƠ S LÝ THUYẾT
Chương này tác giả trình bày các khái niệm cơ bản liên quan làm nền tảng cho việc định giá, khái niệm về các hệ thống định giá cũng như các loại giá được sử dụng trong kế toán, khái niệm về GTHL cũng như kỹ thuật định giá theo CMKT quốc tế Tác giả cũng phân tích các bài học quốc tế về áp dụng GTHL, tổng hợp các tranh luận xung quanh GTHL Cuối cùng, tác giả đã tổng hợp lại các nhân tố cơ bản được xem là có ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp đo lường kế toán ở Việt Nam
2.1 Các khái niệm cơ bản
2.1.1 Khái niệm định giá trong kế toán
Theo khuôn mẫu lý thuyết của Ủy ban CMKT quốc tế (IASB frame ork) thì định giá là một tiến trình xác định giá trị tiền tệ của các yếu tố BCTC được ghi nhận
và trình bày trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh
Hay định nghĩa: “Thông qua định giá, giá trị của các đối tượng kế toán của doanh nghiệp được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ, xác định được giá trị tài sản, nguồn vốn, cũng như kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp”1
2.1.2 Các phương pháp định giá trong kế toán
Quá trình phát triển các lý thuyết và thực tiễn hoạt động kế toán đã dẫn đến
sự ra đời nhiều loại giá khác nhau, theo hệ thống chuẩn mực BCTC quốc tế IFRS các loại giá được phân thành:
2.1.2.1
iá gốc Historical cost): là số tiền hoặc các khoản tương đương tiền đã trả
hay GTHL của tài sản vào thời điểm tài sản đó được ghi nhận Giá gốc còn được coi
là giá lịch sử, giá phí hay giá thực tế
iá hiện hành Cur nt cost) hay giá thay thế plac m nt cost): là số tiền
hoặc các khoản tương đương tiền sẽ phải trả để có được tài sản tương tự tại thời
Trang 37điểm hiện tại Giá thay thế được ước tính dựa vào giá thị trường, hoặc chỉ số giá đặc biệt, hoặc sự ước lượng của nhà quản lý
2.1.2.2 r
Giá trị thuần có thể thực hiện N t r ali a l valu ): là số tiền hoặc tương
đương tiền thuần sẽ thu được khi bán tài sản hoặc sẽ phải trả để thanh toán nợ hiện tại Giá trị thuần có thể thực hiện là giá bán ước tính trong điều kiện kinh doanh bình thường trừ chi phí ước tính cho việc hoàn thành và tiêu thụ
Hiện giá Pr s nt valu ): là giá trị hiện tại chiết khấu của các khoản tiền
thuần nhận được từ việc sử dụng tài sản hoặc sẽ trả để thanh toán nợ
iá thấp hơn giữa giá gốc và giá trị thuần có thể thực hiện N t r alisa l value): giá này được đề cập trong CMKT quốc tế trình bày khoản mục hàng tồn kho
2.1.3 Các hệ thống định giá trong kế toán và những vấn đề tồn tại
Hệ thống định giá kế toán xuất hiện từ lý luận về vốn và bảo tồn vốn Trong mỗi hệ thống kế toán, các loại giá khác nhau được sử dụng phối hợp để định giá các đối tượng kế toán Theo khuôn mẫu lý thuyết của Ủy ban CMKT quốc tế, hiện nay
có bốn hệ thống định giá kế toán [28]
2.1.3.1 ế a r
Dựa trên giá mua vào quá khứ để ghi nhận các giao dịch và lập BCTC Hệ thống này sử dụng giá gốc là chủ yếu và kết hợp với các loại giá khác: GTHL, giá trị thuần có thể thực hiện, hiện giá
Trang 38Các vấn đề tồn tại:
+ Tài sản thuần tính theo giá gốc sẽ không phản ánh được giá trị khoản đầu
tư tại thời điểm hiện tại
+ Kế toán giá gốc phản ánh sự tăng trưởng của tài sản thuần theo giá trị tiền
tệ danh nghĩa mà không phản ánh theo sức mua hay năng lực hoạt động
+ Lợi nhuận kế toán tính theo giá gốc bị phê phán về ý nghĩa kinh tế của nó, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất vì theo kinh tế học, chi phí dùng để tính ra lợi nhuận là chi phí cơ hội Các giả định cơ bản làm nền tảng cho giá gốc bị cho là phi hiện thực như: giả định về tính hoạt động liên tục, nguyên tắc phù hợp
2.1.3.2 H ế r
Dựa trên nguyên tắc bảo toàn vốn trên đồng tiền theo sức mua Sức mua được tính dựa trên chỉ số giá (CPI) Kế toán theo mức giá chung phát triển trong giai đoạn lạm phát gia tăng trên thế giới vào khoảng thập niên 1960-1970
Các vấn đề tồn tại:
+ Về lý thuyết, việc sử dụng một chỉ số giá chung để điều chỉnh là không phù hợp vì các tài sản khác nhau có mức độ thay đổi giá khác nhau Thêm vào đó, các doanh nghiệp thuộc những ngành khác nhau có thể chịu ảnh hưởng lạm phát ở những mức độ khác nhau
+ Theo một số nghiên cứu của Dyckman (1969), Morris (1975) cho thấy kế toán theo mức giá chung không cung cấp thông tin kế toán thích hợp
2.1.3.3 ế r
Dựa trên nguyên tắc bảo toàn vốn trên năng lực sản xuất Giá hiện hành đã được đề cập rất sớm trong kế toán nhưng chỉ được trình bày một cách hệ thống với các cơ sở lý luận đầy đủ vào thời kỳ quy chuẩn, song song với việc phê phán giá gốc Trong thời kỳ lạm phát cao ở một số quốc gia, giá hiện hành cũng được sử dụng thay thế cho mức giá chung
Trang 39Các vấn đề tồn tại:
Việc ghi nhận lợi nhuận do tăng giá trị tài sản nắm giữ để sử dụng bị phê phán là không hợp lý và cũng thiếu tính khách quan do giao dịch bán chưa xảy ra Việc xác định giá trị đối với các tài sản đã qua sử dụng trên thị trường có thể không thực hiện được hoặc sẽ thiếu tính khách quan
Các nghiên cứu thực nghiệm cũng chỉ ra rằng thông tin kế toán từ giá hiện hành không ảnh hưởng đáng kể đến thị trường chứng khoán (Ro, 1981)
2.1.3.4 ế r r
Theo CoCoA, thì tất cả tài sản đều được tính theo giá bán ra trên thị trường tại thời điểm kết thúc niên độ Tất cả các khoản chênh lệch giá giữa giá trị trên sổ sách vào cuối niên độ với giá thị trường sẽ được phản ánh vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Các nghiên cứu của Sterling (1970, 1979) đã chỉ ra rằng giá đầu
ra là ưu việt nhất vì tính thích hợp và đáng tin cậy của nó Kế toán giá đầu ra đã đặt tiền đề cho GTHL sau này
Các vấn đề tồn tại:
+ Theo Bell (1971), việc đánh giá tài sản theo giá đầu ra và ghi vào kết quả hoạt động sẽ thúc đẩy doanh nghiệp tối đa hóa giá trị của tài sản trong ngắn hạn hơn là tập trung vào kinh doanh
+ Giá đầu ra nhấn mạnh đến giá trị trao đổi mà bỏ qua giá trị sử dụng của tài sản
+ Khi không có giao dịch của tài sản tương tự trên thị trường, việc xác định giá phải ước tính dựa trên các giả định, điều này có thể không khách quan
Trang 402.1.4 Các giả định và nguyên tắc kế toán ảnh hưởng đến việc định giá
Tính giá là một trong những phương pháp kế toán quan trọng, nó chịu ảnh hưởng bởi các giả thuyết và nguyên tắc kế toán Trong đó những giả thuyết và nguyên tắc kế toán có ảnh hưởng rõ rệt đến phương pháp tính giá bao gồm:
2.1.4.1 ạ rn)
BCTC được lập trên giả định rằng doanh nghiệp đang hoạt động và sẽ không
có ý định ngừng hoạt động trong một tương lai gần Giả định này ảnh hưởng quan trọng đến việc định giá Nó là cơ sở cho phép giá gốc được sử dụng để đánh giá và trình bày các yếu tố BCTC Nếu giả định này bị vi phạm thì tài sản doanh nghiệp phải trình bày theo giá trị thuần có thể thực hiện được
2.1.4.2 r
Thông tin trên BCTC phải khách quan, không bị sai lệch một cách cố ý Nguyên tắc khách quan ảnh hưởng lớn đến định giá Nguyên tắc này yêu cầu các loại giá được sử dụng phải có thể xác định được và có thể kiểm chứng được Đây cũng chính là lý do khiến cho hệ thống kế toán dựa trên giá gốc được chấp nhận ở hầu hết các nước trên thế giới
Cùng với sự phát triển của hệ thống thông tin làm cho yêu cầu có thể có được và có thể kiểm chứng được trở nên dễ dàng, điều này làm xuất hiện nhiều loại giá khác được sử dụng: giá thay thế, giá thị trường, GTHL…
2.1.4.3 r r
Nguyên tắc thận trọng yêu cầu việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết
để lập các ước tính trong các điều kiện không chắc chắn Một trong các yêu cầu của nguyên tắc này là không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập, đồng thời không đánh giá thấp hơn giá trị các khoản nợ phải trả và chi phí
Nguyên tắc này ảnh hưởng đến việc định giá vì yêu cầu giá được sử dụng không làm “thổi phồng” giá trị tài sản, có nghĩa là tài sản được ghi nhận không được vượt khỏi giá trị thuần có thể thực hiện