Đề tài nghiên cứu về “Các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị tại các công ty dịch vụ công ích trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” từ đó đánh giá sự tác động của các nhân
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HCM
PHẠM THỊ ÁNH HỒNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HCM
PHẠM THỊ ÁNH HỒNG
Chuyên ngành: K ế toán
Mã s ố ngành: 60340301 CÁN B Ộ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN QUYẾT THẮNG
TP Hồ Chí Minh, tháng 03 năm 2017
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị trong công ty dịch vụ công ích trên địa bàn TP Hồ Chí Minh” là công trình của việc học tập và nghiên cứu thật sự nghiêm túc của bản thân Những kết quả nêu ra trong nghiên cứu này là trung thực và chưa từng được công bố trước đây Các
số liệu trong luận văn nghiên cứu có nguồn gốc rõ ràng, được tổng hợp từ những nguồn thông tin đáng tin cậy
TP Hồ Chí Minh, Ngày 30 tháng 03 năm 2017
HỌC VIÊN THỰC HIỆN LUẬN VĂN
Phạm Thị Ánh Hồng
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi đến quý Thầy Cô ở khoa Kế toán – Tài chính – Ngân hàng; Phòng
Quản lý khoa học và Đào tạo sau đại học – Trường Đại học Công nghệ Tp.HCM; tất
cả quý Thầy Cô đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến
thức quý báu và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt thời gian học tập
tại trường
Tôi chân thành cảm ơn TS.Nguyễn Quyết Thắng đã tận tâm hướng dẫn tôi trong
suốt thời gian thực hiện đề tài luận văn Nếu không có những lời hướng dẫn tận tình
của thầy thì tôi rất khó hoàn thiện được luận văn này
Mặc dù, tôi đã cố gắng rất nhiều trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn Nhưng do hạn chế về mặt thời gian cùng với việc thiếu kinh nghiệm trong nghiên
cứu nên đề tài luận văn chắc chắn còn nhiều hạn chế và thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý Thầy Cô để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn nữa
TP Hồ Chí Minh,Ngày 30 tháng 03 năm 2017
Tác gi ả
Phạm Thị Ánh Hồng
Trang 5TÓM T ẮT
Thông tin kế toán quản trị có một vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động doanh nghiệp Nhà quản trị ở các cấp khác nhau sẽ có những nhu cầu thông tin khác nhau Tuy nhiên, bản thân kế toán tài chính không thể đáp ứng được đầy đủ nhu cầu thông tin của doanh nghiệp (DN).Vì vậy, DN phải vận dụng kế toán quản trị (KTQT) trong hoạt động của mình Kế toán quản trị được coi là cần thiết và phù
hợp, tuy nhiên trong khu vực công hay các công ty dịch vụ công ích không coi
trọng
Đề tài nghiên cứu về “Các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản
trị tại các công ty dịch vụ công ích trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” từ đó đánh giá sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT nhằm đưa ra các giải pháp vận dụng KTQT tại các công ty dịch vụ công ích
Nghiên cứu này sẽ trả lời các câu hỏi: “Các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận
dụng kế toán quản trị tại các công ty dịch vụ công ích?” và “Đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến việc vận dụng kế toán quản trị tại các công ty
dịch vụ công ích là QMCT (β= 0,460), tiếp đến là nhân tố CSNN (β=0,352), CLNNL (β=0,342), DDCTCI (β=0,342), và cuối cùng là NTNDH (β = 0,148)
Từ kết quả nghiên cứu trên, tác giả đã đề xuất một số giải pháp có tác động trực tiếp đến các nhân tố nhằm có các giải pháp vận dụng kế toán quản trị tại các công ty dịch
vụ công ích Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ thực hiện ở một nhóm mẫu, chưa đại diện
hết cho tất cả các các doanh nghiệp tại Việt Nam, ngoài ra còn nhiều hạn chế về thời gian, số lượng mẫu nhỏ nên hạn chế tính tổng quát cao của đề tài
Trang 6ABSTRACT
Management accounting information has a very important role in business operations Administrators at different levels will have different information needs However, financial accounting itself can not fully meet the information needs of the enterprise so businesses must apply management accounting in its activities Management accounting is considered to be necessary and appropriate for large-scale enterprises But in the public sector or the public service companies do not attach importance to management accounting
Research project on "The factors affecting the application of management accounting in the public service company in the area of Ho Chi Minh City" from which to measure the impact of factors affecting to the application of management accounting to provide solutions for management accounting applied in the public service company
This study will answer the question: "The factors that affect the application
of management accounting in the public service company?" And "Measure the impact of factors affecting the management accounting applied in the public service company? "
Synthesis of reasoning, inheritance results from previous studies related directly and indirectly to the subject, the author initially formed the scale selection factors affecting accounting applied Managing in the public service company TP HCM consists of 05 factors: company size (QMCT), quality of human resources (CLNNL), policy of government (CSNN), Perceptions of international economic operators (NTNDH), Corporate Identity (DDCTCI) 5 factors, the factors that most strongly influence to apply to management accounting in the company's utility services QMCT (β = 0.460), followed by policy of government (β = 0.352), CLNNL (β = 0.342), DDCTCI (β = 0.342), and finally NTNDH (β = 0.148)
From the study results, the authors have proposed a number of measures have a direct impact on the people in order to have the solution applying management accounting in the public service company However, this study is only done in a sample group, not representative of all for all businesses in Vietnam, in addition to many restrictions on time, number of small samples should limit high generality topic
Trang 7M ỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT x
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU xi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ xiii
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1
1.1 Ý nghĩa và tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu: 2
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.5.1 Dữ liệu dùng cho nghiên cứu 3
1.5.2 Phương pháp nghiên cứu 3
1.5.2.1 Nghiên cứu định tính 3
1.5.2.2 Nghiên cứu định lượng 3
1.6 Ý nghĩa của đề tài 4
1.7 Kết cấu luận văn 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 5
2.1 Khái quát về công ty dịch vụ công ích 5
2.1.1 Khái niệm công ty dịch vụ công ích 5
2.1.2 Vị trí, vai trò, bản chất của công ty công ích 5
2.1.3 Các loại dịch vụ công ích 7
2.2 Khái quát về kế toán quản trị 8
Trang 82.2.1 Định nghĩa kế toán quản trị 8
2.2.2 Vị trí của kế toán quản trị trong tổ chức 8
2.2.3 Mối quan hệ giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính 9
2.2.4 Nhiệm vụ của kế toán quản trị 10
2.2.5 Nội dung của kế toán quản trị 11
2.2.5.1 Chi phí và các công cụ kỹ thuật KTQT 11
2.2.5.2 Các kỹ thuật ra quyết định 13
2.2.5.3 Dự toán và kiểm soát 14
2.2.5.4 Đo lường hiệu quả hoạt động và kiểm soát 16
2.2.6 Yêu cầu và nguyên tắc tổ chức hệ thống KTQT trong doanh nghiệp 17
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng kế toán quản trị tại các công ty dịch vụ công ích 17
2.3.1 Quy mô doanh nghiệp 18
2.3.2 Chất lượng nguồn nhân lực 18
2.3.3 Chính sách Nhà nước 19
2.3.4 Nhận thức của người điều hành 19
2.3.5 Đặc điểm của các công ty dịch vụ công ích 20
2.4 Tổng quan các nghiên cứu trước đây 21
2.4.1 Các nghiên cứu nước ngoài 21
2.4.2 Các nghiên cứu trong nước 24
2.4.3 Điểm mới của đề tài 26
2.5 Mô hình nghiên cứu và đề xuất các giả thiết 27
2.5.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 27
2.5.2 Các giả thiết đề xuất 29
2.5.2.1 Quy mô công ty 29
2.5.2.2 Chất lượng nguồn nhân lực 29
2.5.2.3 Chính sách Nhà nước 29
2.5.2.4 Nhận thức của người điều hành 30
2.5.2.5 Đặc điểm công ty dịch vụ công ích 30
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 32
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
Trang 93.1 Thiết kế nghiên cứu 33
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu 33
3.1.1.1 Nghiên cứu định tính 33
3.1.1.2 Nghiên cứu định lượng 35
3.1.2 Quy trình nghiên cứu 37
3.1.3 Phương pháp chọn mẫu 38
3.1.4 Thiết kế bảng câu hỏi 38
3.2 Xây dựng thang đo 39
3.3 Thực hiện nghiên cứu định lượng 42
3.3.1 Tình hình thu thập dữ liệu nghiên cứu định lượng 42
3.3.2 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 43
3.3.2.1 Thống kê mô tả mẫu khảo sát 43
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 45
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 46
4.1 Thực trạng công tác kế toán quản trị tại các công ty dịch vụ công ích trên địa bàn TP Hồ Chí Minh 46
4.1.1 Giới thiệu sơ lược về nhiệm vụ công ty dịch vụ công ích TP.HCM 46
4.1.1.2 Sơ đồ tổ chức công ty dịch vụ công ích 48
4.1.2 Thực trạng công tác kế toán quản trị tại các công ty dịch vụ công ích trên địa bàn TP Hồ Chí Minh 50
4.1.2.1 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty dịch vụ 50
công ích trên địa bàn TP Hồ Chí Minh 50
TP Hồ Chí Minh 50
ĐVT: Triệu đồng 50
4.1.2.2 Chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho công tác kế toán quản trị 51
4.1.2.3 Hệ thống thông tin kế toán quản trị 52
4.1.2.4 Nhu cầu tổ chức công tác kế toán quản trị tại doanh nghiệp 55
4.1.2.5 Công tác nâng cao cơ sở vật chất phục vụ công tác kế toán 56
4.1.2.6 Công tác thực hiện cơ chế giám sát 56
4.2 Phân tích và đánh giá độ tin cậy của thang đo: 57
4.2.1 Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's alpha: 58
Trang 104.2.1.1 Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s alpha cho thang đo biến “Quy mô
công ty” 58
4.2.1.2 Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s alpha cho thang đo biến “Chất lượng nguồn nhân lực” 59
4.2.1.3 Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s alpha cho thang đo biến “Chính sách nhà nước” 60
4.2.1.4 Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s alpha cho thang đo biến “Nhận thức về kế toán quản trị của người điều hành” 60
4.2.1.5 Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s alpha cho thang đo biến “Đặc điểm công ty dịch vụ công ích” 61
4.2.1.6 Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s alpha cho thang đo biến “Vận dụng kế toán quản trị tại các công ty dịch vụ công ích TP.HCM” 62
4.2.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 63
4.2.2.1 Phân tích khám phá EFA cho biến độc lập 63
4.2.2.2 Phân tích khám phá EFA cho biến phụ thuộc “Vận dụng kế toán quản trị tại các công ty dịch vụ công ích Tp HCM” 66
4.3 Phân tích hồi quy - Phương trình hồi quy tuyến tính 66
4.4 Kiểm định các giả thiết cần thiết trong mô hình phân tích hồi quy 70
4.4.1 Kiểm định giả thuyết về ý nghĩa của các hệ số hồi quy 70
4.4.2 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 70
4.4.3 Kiểm định về phân phối chuẩn của phần dư 71
4.4.4 Kiểm định về tính độc lập của phần dư 71
4.5 Kiểm tra các giả định mô hình hồi quy bội 72
4.5.1 Kiểm định giả định phương sai của sai số (phần dư) không đổi 72
4.5.2 Kiểm tra giả định các phần dư có phân phối chuẩn 73
4.6 Bàn luận kết quả nghiên cứu 74
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 76
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
5.1 Kết luận 77
5.2 Các kiến nghị về phía các công ty dịch vụ công ích trên địa bàn TP Hồ Chí Minh nhằm hoàn thiện việc vận dụng kế toán quản trị tại các đơn vị này 77
Trang 115.2.1 Quy mô doanh nghiệp 77
5.2.2 Chính sách nhà nước 79
5.2.3 Chất lượng nguồn nhân lực 80
5.2.4 Đặc điểm của các công ty dịch vụ công ích 81
5.2.5 Nhận thức của người điều hành 82
5.3 Các kiến nghị khác về phía các công ty công ích tại TP Hồ Chí Minh 82
5.4 Kiến nghị về phía cơ quan chức năng 83
5.5 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu mở rộng 84
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 86
KẾT LUẬN CHUNG 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC
Trang 12SXKD Sản xuất kinh doanh
CLKD Chất lượng kinh doanh CLNNL Chất lượng nguồn nhân lực NTNDH Nhận thức nhà điều hành DDCTCI Đặc điểm công ty công ích VDKTQT Vận dụng kế toán quản trị
Trang 13DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Sự khác nhau giữa Kế toán quản trị và Kế toán tài chính 10
Bảng 2.2: Những cách phân loại chi phí 12
Bảng 2.3: Yêu cầu tổ chức hệ thống KTQT trong doanh nghiệp 17
Bảng 2.4: Diễn giải các biến độc lập trong mô hình hồi quy tuyến tính 28
Bảng 3.1: Trình tự tiến hành 34
Bảng 3.1: Thang đo chính thức được mã hóa 39
Bảng 3.2: Tình hình thu thập dữ liệu nghiên cứu định lượng 42
Bảng 3.3: Thống kê mẫu về giới tính 43
Bảng 3.4: Thống kê mẫu về độ tuổi 43
Bảng 3.5: Thống kê mẫu về trình độ học vấn 44
Bảng 3.6: Thống kê mẫu về chức vụ 44
Bảng 4.1 Các công ty dịch vụ công ích tại thành phố Hồ Chí Minh 46
Bảng 4.2: Các hoạt động của công ty dịch vụ công ích 48
Bảng 4.3: Báo cáo tổng hợp kết quả kinh doanh các công ty dịch vụ công ích 50
Bảng 4.4: Số lượng nhân viên kế toán tại các công ty công ích giai đoạn 2013-2015 51
Bảng 4.5: Chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho công tác kế toán quản trị 52
Bảng 4.6: Kết quả khảo sát tình hình tổ chức hệ thống thông tin kế toán tại các công ty công ích TP Hồ Chí Minh 54
Bảng 4.7: Nhu cầu tổ chức công tác kế toán quản trị tại doanh nghiệp 55
Bảng 4.8: Mức độ xử lý thông tin kế toán bằng máy tính 56
Bảng 4.9: Công tác thực hiện cơ chế giám sát 56
Bảng 4.10 Kết quả độ tin cậy thang đo biến “Quy mô công ty” 59
Bảng 4.11 Kết quả độ tin cậy thang đo biến “Chất lượng nguồn nhân lực” 59
Bảng 4.12 Kết quả độ tin cậy thang đo biến “chính sách nhà nước” 60
Bảng 4.13 Kết quả độ tin cậy thang đo biến “Nhận thức về kế toán quản trị của người điều hành” 61
Bảng 4.14 Kết quả độ tin cậy thang đo biến “Đặc điểm công ty dịch vụ công ích” 61 Bảng 4.15 Kết quả độ tin cậy thang đo biến “Vận dụng kế toán quản trị tại các công ty dịch vụ công ích TP.HCM” 62
Trang 14Bảng 4.16: Hệ số KMO và kiểm định Bartlett các thành phần 64
Bảng 4.17: Bảng phương sai trích 64
Bảng 4.18 Ma trận xoay 65
Bảng 4.19: Hệ số KMO và kiểm định Bartlett các thành phần 66
Bảng 4.20: Phương sai trích 66
Bảng 4.21: Kiểm tra độ phù hợp của mô hình 67
Bảng 4.22: Bảng phân tích ANOVA 68
Bảng 4.23: Bảng kết quả hồi quy 69
Bảng 4.24: Kết quả chạy Durbin-Watson 71
Trang 15DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Sơ đồ 2.1: Nội dung của kế toán quản trị 11
Sơ đồ 2.2: Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT tại Jordan 21
Sơ đồ 2.3: Giá trị cho các doanh nghiệp khi áp dụng KTQT theo Ronald W Hilton (2005) 22
Sơ đồ 2.4: Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT vào doanh nghiệp theo Đào Khánh Trí (2015) 26
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất 28
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 37
Sơ đồ 4.1: Cơ cấu tổ chức công ty dịch vụ công ích 49
Hình 4.2: Đồ thị P-P Plot của phần dư – đã chuẩn hóa 73
Hình 4.3: Đồ thị Histogram của phần dư – đã chuẩn hóa 74
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1.1 Ý nghĩa và tính cấp thiết của đề tài
Thông tin kế toán, đặc biệt thông tin kế toán quản trị (KTQT) giữ một vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý của doanh nghiệp (DN) Đó là nguồn thông tin ban đầu của quá trình kiểm tra và ra quyết định, giúp nhà quản trị DN có những quyết định kịp thời và chính xác nhất (Phạm Văn Dược, 2006) Tùy theo chức năng vả nhiệm vụ của từng thành viên trong tổ chức, kế toán quản trị được thiết lập giúp DN cải tiến việc quản lý và kinh doanh của mình hiệu quả nhất
Hiện nay, các doanh nghiệp chủ yếu coi trọng kế toán tài chính Tuy nhiên, thông tin kế toán tài chính phản ánh quá trình hoạt động kinh doanh của DN tại một thời điểm nào đó Ngược lại, kế toán quản trị mang tính nội bộ, vạch ra những chính sách và đường lối rõ ràng, giúp nhà quản lý đưa ra những quyết định có tính chất xây dựng và cũng cố DN lâu dài Do đó, các DN nên sử dụng kế toán quản trị trong hoạt động của mình không chỉ phục vụ cho việc quản lý DN ngày càng tốt hơn, mà còn cung cấp thông tin kế toán tài chính chính xác và kịp thời, giúp DN hoàn thành trách nhiệm và nghĩa vụ với nhà nước, kiểm toán, và các đối tác liên quan
Theo quan niệm thông thường, KTQT được coi là cần thiết và phù hợp cho các doanh nghiệp có quy mô lớn Với các doanh nghiệp công, hay các công ty dịch vụ công ích trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, KTQT chưa được phổ biến rộng rãi, bởi vì loại hình kinh doanh không phức tạp và thị trường cạnh tranh không cao Đây
là nguyên nhân chính đẩy các DN chưa thực sự quan tâm tới việc sử dụng KTQT trong việc quản lý DN của mình
Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang phát triển mạnh, việc xây dựng môi trường sạch và xanh là cấp bách và cần thiết Để góp phần thực hiện chủ trương của chính phủ, việc vận dụng KTQT trong các các công ty dịch vụ công ích trên địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh nên được phổ biến và bắt buộc
Việc vận dụng KTQT trong các các công ty dịch vụ công ích trên địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh chịu sự tác động của nhiều yếu tố, tác động đến tính khả thi của việc vận dụng KTQT Do đó việc nghiên cứu nhằm nhận diện các yếu tố, mức độ tác động của từng yếu tố đến việc vận dụng KTQT trong các công ty dịch vụ công ích
Trang 17trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh là chủ đề quan trọng và cần thiết Đây cũng là lý
do tôi đã chọn đề tài: “Các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị tại các công ty dịch vụ công ích trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sĩ của mình
1.2 M ục tiêu nghiên cứu
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị tại các công
ty dịch vụ công ích và xây dựng mô hình nghiên cứu
- Đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến việc vận dụng kế toán
quản trị tại các công ty dịch vụ công ích
- Đề xuất các kiến nghị nhằm nâng việc vận dụng kế toán quản trị tại các công ty
dịch vụ công ích trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
1.3 Câu h ỏi nghiên cứu
- Thực tế công tác kế toán quản trị tại các công ty dịch vụ công ích trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh như thế nào?
- Các nhân tố nào ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị tại các công ty
dịch vụ công ích trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh?
- Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến việc vận dụng kế toán quản trị tại các công ty dịch vụ công ích trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh thế nào?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Là các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị tại các công ty dịch
vụ công ích
Trang 181.4.2 Ph ạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu tại các công ty dịch vụ công ích trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
- Về thời gian khảo sát được tiến hành từ tháng 9/2016 đến tháng 01/2017
1.5 Phương pháp nghiên cứu
1.5.1 D ữ liệu dùng cho nghiên cứu
Dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm:
- Dữ liệu thứ cấp: các báo cáo, kế hoạch của phòng, ban tại các công ty dịch vụ công ích trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và các văn bản ban hành của Chính phủ, UBND thành phố Hồ Chí Minh, các nghiên cứu có liên quan
- Dữ liệu sơ cấp: điều tra khảo sát, thu thập ý kiến từ cán bộ quản lý, nhân viên kế toán tại 25 công ty dịch vụ công ích trên địa bàn Tp.HCM để thực hiện nghiên cứu định lượng
1.5.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện thông qua hai bước chính: nghiên cứu sơ bộ sử
dụng phương pháp định tính và nghiên cứu chính thức sử dụng phương pháp định lượng
1.5.2.1 Nghiên cứu định tính
Tham khảo một số tài liệu đã nghiên cứu của các tác giả và kế thừa các nghiên cứu khảo sát về việc vận dụng kế toán quản trị để rút ra các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị tại các công ty dịch vụ công ích Sau đó xây
dựng bảng câu hỏi để tiến hành khảo sát và lựa chọn mẫu.Thực hiện phỏng vấn bao
gồm: cán bộ quản lý, trưởng, phó phòng – ban, và kế toán viên tại đơn vị
Riêng phần đánh giá thực trạng việc vận dụng kế toán quản trị tại các công ty
dịch vụ công ích trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đề tài còn sử dụng các phương pháp thống kê phân tích, so sánh, tổng hợp để làm rõ các chỉ tiêu phân tích
1.5.2.2 Nghiên cứu định lượng
Sau khi thực hiện nghiên cứu định tính sẽ tiến hành nghiên cứu định lượng là
Trang 19lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị tại các công ty
dịch vụ công ích tại TP.HCM
Thiết kế bảng câu hỏi dựa trên thang đo Likert 5 mức độ nhằm đánh giá các
mức độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị tại các công ty dịch vụ công ích trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Dùng kỹ thuật thu thập thông tin trực tiếp bằng cách điều tra, phỏng vấn Từ đó chọn lọc các biến quan sát, xác định các thành phần cũng như giá trị, độ tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan hồi quy
Sử dụng phần mềm xử lý số liệu thống kê SPSS 20
1.6 Ý nghĩa của đề tài
- Về mặt khoa học: Hệ thống hóa các nghiên cứu liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị tại các công ty dịch vụ công ích
- Về mặt thực tiễn: thông qua kết quả xác định mức độ ảnh hưởng đến việc vận
dụng kế toán quản trị, từ đó nâng cao việc vận dụng kế toán quản trị tại các công ty
dịch vụ công ích trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
1.7 K ết cấu luận văn
Ngoài phần phụ lục, tài liệu tham khảo thì luận văn bao gồm 5 chương: Chương 1: Tổng quan đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 20CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Khái quát v ề công ty dịch vụ công ích
2.1.1 Khái ni ệm công ty dịch vụ công ích
Dịch vụ công ích (DVCI) - từ tiếng Anh là “public service” có quan hệ chặt
chẽ với phạm trù hàng hóa công cộng Theo ý nghĩa kinh tế học, hàng hóa công
hoạch, khung giá hoặc phí do Nhà nước quy định, hoạt động chủ yếu không vì mục tiêu lợi nhuận (Chính phủ, 1996)
Hiện nay, theo Nghị định số 130/2013/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 16 tháng 10 năm 2013, DVCI là sản phẩm, dịch vụ thiết yếu đối với đời sống, kinh tế, xã hội của đất nước, cộng đồng dân cư của một khu vực lãnh thổ Để có khả
năng bù đắp chi phí, việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ này được Nhà nước giao kế
hoạch, các DN đấu thầu theo giá hoặc phí do Nhà nước quy định (Chính phủ, 2013)
2.1.2 V ị trí, vai trò, bản chất của công ty công ích
Những năm gần đây, tốc độ đô thị hóa của Việt Nam rất nhanh, phát sinh nhiều
vấn đề phải giải quyết như: vệ sinh đô thị, duy tu bảo quản công viên cây xanh, duy
tu bảo dưỡng cơ sở hạ tầng, thoát nước đô thị, xây dựng và quản lý các dịch vụ
Trang 21công cộng khác… Chính các công ty dịch vụ công ích là đơn vị chủ lực của Nhà nước giải quyết các vấn đề trên, đáp ứng và phục vụ nhu cầu xã hội ngày càng tốt hơn Các công ty dịch vụ công ích đã có nhiều đóng góp tạo tiền đề thúc đẩy nền kinh tế phát triển: thu nộp ngân sách, cải thiện đời sống cán bộ công nhân viên ở các doanh nghiệp, tạo thêm việc làm cho người lao động Cơ cấu tài sản công ty dịch vụ công ích cũng phát triển theo hướng tích cực, giá trị tài sản cố định phục vụ cho các
hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp được tăng lên
Các Công ty dịch vụ công ích (CTDVCI) bước đầu đảm bảo cung ứng những
sản phẩm dịch vụ quan trọng theo kế hoạch của Nhà nước giao, giải quyết được nhu
cầu thiết yếu về hàng hóa công cộng
Vai trò của công ty dịch vụ công ích là cung cấp hàng hóa công cộng (HHCC), HHCC được tập trung trên ba khía cạnh cơ bản sau:
- Th ứ nhất, Cung ứng các hàng hóa và dịch vụ: trên thị trường hiện nay có
nhiều "chỗ trống" do tính phi hiệu quả, hoặc sự cấm đoán của pháp luật trong việc cung ứng các hàng hóa và dịch vụ công ích Do đó, CTDVCI góp phần lấp những
chỗ trống này Các DN tham gia và hình thành một môi trường kinh doanh ổn định, đóng góp tích cực trong việc nâng cao hệ thống kinh tế - xã hội nói chung
- Th ứ hai, Phân bổ nguồn lực: Xét trên phương diện sản xuất xã hội có hai
phương thức phân bổ nguồn lực: phân bổ thị trường áp dụng chủ yếu cho các hàng hóa cá nhân, và phân bổ phi thị trường áp dụng chủ yếu cho các HHCC Nếu như tất
cả hàng hóa đều là hàng hóa cá nhân, mọi nguồn lực không được phân bổ qua thị trường, điều này dẫn tới sự bất bình đẳng, điều này không phải là mục đích kinh doanh của CTDVCI Mỗi công dân VN, tuy có địa vị xã hội và mức thu nhập không
giống nhau, nhưng họ có quyền hưởng thụ một số lợi ích tối thiểu như nhau được cung cấp bởi các CTDVCI Tạo ra sự công bằng trong xã hội là mục tiêu lợi nhuận
của các CTDVCI
- Th ứ ba, Tích cực đẩy mạnh sự phát triển kinh tế - xã hội: CTDVCI cung cấp
HHCC góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế vùng, ngành và cân đối sự phát triển kinh tế của đất nước Tác dụng điều tiết và cân đối thể hiện rõ trong các chương trình đầu tư vào kết cấu hạ tầng nông thôn, miền núi, các chương
Trang 22trình về giáo dục, nước sạch, bảo vệ môi trường, chăm sóc sức khỏe
2.1.3 Các lo ại dịch vụ công ích
Theo tác giả Võ Đoàn Xuân Trường (2015) thì dịch vụ công ích có thể phân
loại theo nhiều tiêu chí khác nhau Dưới đây tác giả trình bày một số các tiêu chí phân
loại dịch vụ công ích như sau:
- Xét theo tiêu chí chủ thể cung ứng, dịch vụ công ích được chia thành 3 loại, như sau:
+ Dịch vụ công ích do tổ chức nhà nước, tổ chức tư nhân phối hợp thực hiện: Loại hình cung ứng dịch vụ này ngày càng trở nên phổ biến ở nhiều nước Như
ở Trung Quốc, việc thiết lập hệ thống bảo vệ trật tự phối hợp thực hiện
+ Dịch vụ công ích do các tổ chức phi chính phủ và khu vực tư nhân cung cấp: Gồm những dịch vụ mà Nhà nước có trách nhiệm cung cấp, nhưng không trực tiếp thực hiện mà ủy nhiệm cho tổ chức phi chính phủ và tư nhân thực hiện, dưới sự đôn đốc, giám sát của nhà nước Thí dụ các công trình công cộng do chính phủ gọi thầu có thể do các công ty tư nhân đấu thầu xây dựng
+ Dịch vụ công ích do cơ quan nhà nước trực tiếp cung cấp: Đó là những dịch vụ công cộng cơ bản do các cơ quan của nhà nước cung cấp Thí dụ: an ninh, giáo dục, phổ thông, chăm sóc y tế công cộng, bảo trợ xã hội…
- Dựa vào tính chất và tác dụng của dịch vụ được cung ứng, có thể chia dịch
vụ công ích thành ba loại sau:
+ Dịch vụ hành chính công: Đây là loại dịch vụ gắn liền với chức năng quản lý nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân Đối tượng cung ứng dịch vụ công này là cơ quan công quyền hay các cơ quan do nhà nước được ủy quyền thực hiện Tuy nhiên, nhà nước trực tiếp cấp giấy phép, giấy chứng nhận, đăng ký, công chứng, thị thực, hoặc hộ tịch….Người dân được hưởng những dịch vụ này phải đóng
lệ phí hoặc phí cho cơ quan hành chính nhà nước Phần lệ phí này mang tính chất hỗ trợ cho ngân sách nhà nước
+ Dịch vụ sự nghiệp công: Bao gồm các hoạt động cung cấp phúc lợi xã hội thiết yếu cho người dân như giáo dục, văn hóa, khoa học, chăm sóc sức khỏe, thể dục
Trang 23thể thao, bảo hiểm, an sinh xã hội….Hiện nay nhà nước chỉ thực hiện những dịch vụ công nào mà xã hội không thể làm được, cho nên loại dịch vụ này được thực hiện bởi
tư nhân hoặc các tổ chức xã hội
+ Dịch vụ công cộng: Là các hoạt động như: Vệ sinh môi trường, xử lý rác thải, cấp nước sạch, duy tu bảo dưỡng công viên cây xanh, vận tải công cộng phòng chống thiên tai… được làm bởi các doanh nghiệp nhà nước Có một số hoạt động ở địa bàn cơ sở được đảm nhiệm bởi tư nhân như vệ sinh môi trường, thu gom vận chuyển rác thải, cung ứng nước sạch ở một số vùng nông thôn
2.2 Khái quát v ề kế toán quản trị
2.2.1 Định nghĩa kế toán quản trị
Theo quan niệm truyền thống, KTQT là một hệ thống thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin cho những người ra quyết định Người sử dụng thông tin kế toán bao gồm nhiều đối tượng khác nhau, trong và ngoài DN Nhóm bên trong là những người có trách nhiệm trong việc quản lý, điều hành hoạt động
của DN Nhóm bên ngoài bao gồm nhà đầu tư, chủ nợ, các cơ quan chức năng của nhà nước
Theo các giáo sư đại học South Florida: “Kế toán quản trị là một hệ thống kế toán cung cấp những thông tin định lượng cho các nhà quản trị, mà họ cần để hoạch định
và kiểm soát” (Abdel, 2006)
Tóm lại, Kế toán quản trị là một hệ thống thu thập, xử lý và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính cho các nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp để hoạch định, kiểm soát và ra quyết định, nhằm quản lý và sử dụng một cách hiệu quả nguồn lực doanh nghiệp Qua đó, KTQT giúp gia tăng giá trị khách hàng và giá trị cổ đông
2.2.2 V ị trí của kế toán quản trị trong tổ chức
Để có thể thấy được vai trò của kế toán quản trị trong quá trình hoạch định và
kiểm soát ta cần phải hiểu được cơ cấu của tổ chức, vị trí của kế toán trong tổ chức,
kỹ thuật và qui trình kế toán quản trị Cơ cấu tổ chức là tổng hợp các bộ phận hoặc các khâu khác nhau trong tổ chức, được chuyên môn hóa và có chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn nhất định Cơ cấu tổ chức được phân chia thành những cấp khác nhau
Trang 24nhằm thực hiện các chức năng quản trị, hướng mọi hoạt động trong tổ chức về mục tiêu chung Tuy nhiên, do qui mô, lĩnh vực và môi trường hoạt động khác nhau nên
cơ cấu của mỗi tổ chức cũng khác nhau và luôn thay đổi khi môi trường hoạt động thay đổi
Kế toán nói chung là một bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu tổ chức quản
lý của mỗi tổ chức, nhất là đối với các đơn vị kinh doanh Bộ máy kế toán là tập hợp
những kế toán viên và những trang bị kỹ thuật để thực hiện toàn bộ công tác kế toán trong doanh nghiệp Bộ phận này thực hiện các công việc của cả kế toán tài chính và
kế toán quản trị Ở một số doanh nghiệp lớn, có thể tổ chức kế toán quản trị thành một
hệ thống riêng biệt, nhưng cũng không ít doanh nghiệp chỉ tổ chức một bộ phận kế toán quản trị trong bộ máy kế toán hoặc cũng có những doanh nghiệp không có chức danh kế toán quản trị Tuy nhiên, chức năng kế toán quản trị vẫn được thực hiện ở
những mức độ khác nhau đan xen với bộ phận khác trong bộ máy kế toán doanh nghiệp Bộ máy kế toán trong tổ chức có thể được xây dựng theo mô hình tập trung,
mô hình phân tán hay mô hình kết hợp Người đứng đầu bộ máy kế toán, ở Việt Nam,
là kế toán trưởng Trên thế giới, người chịu trách nhiệm về chức năng kế toán trong tổ
chức có nhiều chức danh khác nhau: kế toán trưởng (controller), giám đốc tài chính (financial manager), hay chuyên gia phân tích tài chính (financial analyst),… Người đứng đầu bộ máy kế toán, dù với chức danh gì, vẫn là người tham mưu, cố vấn cho lãnh đạo về toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính trong tổ chức; là nhân sự cao cấp trong tổ chức, trực tiếp tham gia vào quá trình ra quyết định (Phạm Văn Dược, Đặng Kim Cương, 2003)
2.2.3 M ối quan hệ giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính
Kế toán quản trị và kế toán tài chính đều có chung đối tượng phản ánh, cùng dựa vào một hệ thống ghi chép ban đầu và cả hai cùng phản ánh trách nhiệm của nhà quản
trị tổ chức
Tuy nhiên, giữa KTQT và kế toán tài chính (KTTC) có những điểm khác nhau, được so sánh trong bảng sau:
Trang 25B ảng 2.1: Sự khác nhau giữa Kế toán quản trị và Kế toán tài chính
Mục đích sử dụng thông
tin của nhà quản lý
Báo cáo tóm tắt kết quả
hoạt động và tình trạng tài chính của tổ chức
Hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức
Đối tượng sử dụng thông
Nguồn dữ liệu Dựa vào hệ thống ghi
chép ban đầu của kế toán
Dựa vào hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán,
của các bộ phận khác trong tổ chức và cơ sở dữ
liệu bên ngoài tổ chức Tính chất linh hoạt của
các báo cáo
Không linh hoạt Linh hoạt
Kết cấu nội dung báo cáo Tổng hợp Chi tiết
Thời gian tính Hướng về quá khứ Hướng về quá khứ, hiện
tại và tương lai
Kỳ báo cáo Hàng năm và có thể hàng
quí, tháng
Làm bất cứ khi nào cần cho quản lý
(Ngu ồn: Tác giả tổng hợp)
2.2.4 Nhi ệm vụ của kế toán quản trị
Theo Thông tư số 53/2006/TT-BTC ngày 12 tháng 6 năm 2006 của Bộ Tài chính
Việt Nam về việc hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp, Phần I,
mục 3; kế toán quản trị có những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo phạm vi, nội dung kế toán quản trị
của đơn vị xác định theo từng thời kỳ
Trang 26- Kiểm tra, giám sát các định mức, tiêu chuẩn, dự toán
- Cung cấp thông tin theo yêu cầu quản trị nội bộ của đơn vị bằng báo cáo kế toán
quản trị
- Tổ chức phân tích thông tin phục vụ cho yêu cầu lập kế hoạch và ra quyết định
của Ban lãnh đạo doanh nghiệp
2.2.5 N ội dung của kế toán quản trị
Nội dung của KTQT là tổng hợp tất cả các mặt, các yếu tố cấu thành nên KTQT,
thể hiện kết quả của công việc KTQT Theo giáo trình kế toán quản trị của tác giả
Phạm Văn Dược (2006) KTQT bao gồm các nội dung chính như sau:
Sơ đồ 2.1: Nội dung của kế toán quản trị
(Ngu ồn: Tác giả tổng hợp từ Phạm Văn Dược, 2006)
2.2.5.1 Chi phí và các công c ụ kỹ thuật KTQT
Theo ACCA F5 2014, chi phí là một khái niệm kinh tế, chi phí là giá trị của nguồn lực bị mất đi của tổ chức để đạt được một mục đích nào đó Bản chất của chi phí là sự mất đi để đổi lấy một kết quả.Kết quả có thể dưới dạng vật chất như sản
phẩm, tiền, nhà xưởng, hoặc là tài sản vô hình như kiến thức, dịch vụ
Đối với nhà quản trị, chi phí là mối quan tâm hàng đầu vì chúng trực tiếplàm
giảm lợi nhuận của DN Do đó, vấn đề đặt ra là làm sao kiểm soát và đưa chi phí
xuống mức thấp nhất có thể Để làm được điều này thì nhà quản trị phải xác định được các phương pháp phân loại chi phí, tập hợp chi phí, cách xác định các trung tâm
Nội dung của kế toán quản trị
Trang 27chi phí để có thể đưa ra quyết định đúng đắn trong quá trình tổ chức điều hành hoạt động của nhà quản trị (Theo Đoàn Ngọc Quế và cộng sự, 2013)
Theo Đoàn Ngọc Quế và cộng sự (2013), chi phí thường có những cách phân
loại sau đây:
B ảng 2.2: Những cách phân loại chi phí
Theo chức năng Chi phí sản xuất
Chi phí ngoài sản xuất Theo mối quan hệ giữa chi phí với các
khoản mục trên báo cáo tài chính
Chi phí thời kỳ (period costs);
Chi phí sản phẩm (product costs) Theo tính chất chi phí Chi phí kiểm soát được - chi phí
không kiểm soát được:
Chi phí trực tiếp - chi phí gián tiếp:
Chi phí cơ hội (opportunity cost);
Chi phí thích đáng - chi phí không thích đáng
Theo cách ứng xử của chi phí Chi phí khả biến (variable costs);
Chi phí bất biến (fixed costs);
Chi phí hỗn hợp (mixed costs)
Phân loại chi phí sử dụng trong kiểm tra
kết quả hoạt động kinh doanh
Chi phí sản phẩm
Chi phí thời kỳ
(Ngu ồn: Tác giả tổng hợp)
Trang 282.2.5.2 Các k ỹ thuật ra quyết định
Các kỹ thuật ra quyết định bao gồm: Ra quyết định ngắn hạn và ra quyết định trong dài hạn Khi triển khai chi tiết các dạng quyết định trên ta sẽ có các trường hợp sau:
Th ứ nhất, quyết định mua hay tự sản xuất (make or buy decisions): Nhà
quản trị sẽ phải đối diện với việc lựa chọn là tự mình làm ra sản phẩm, dịch vụ hay là mua từ một nhà cung cấp bên ngoài Khi không bị giới hạn về mặt nguồn lực sản xuất, chi phí thích hợp sẽ chính là chi phí khác biệt giữa hai lựa chọn Bên cạnh đó cũng còn một vài vấn đề cần phải quan tâm như: khi tự làm ra sản phẩm, dịch vụ thì việc giám sát sẽ trực tiếp hơn đối với công việc, trong khi đó việc lựa chọn mua từ nhà cung ứng bên ngoài lại có lợi thế là dịch vụ chuyên nghiệp hơn từ việc chuyên môn hóa cao, lực lượng lao động có tay nghề chuyên môn cao hơn nhờ những kỹ năng chuyên biệt Ngoài ra các vấn đề về kiểm soát, chất lượng, thời gian giao hàng, mức
độ linh hoạt … cũng nên được cân nhắc khi lựa chọn giữa hai phương án (Hồ Đức Hùng, 2000)
Th ứ hai, quyết định thuê ngoài (outsourcing): Nhà quản trị hiện nay đang
đối diện với làn sóng dịch vụ thuê ngoài (outsourcing) Làn sóng này bắt đầu từ những năm thập niên 90 khi các DN, tổ chức lựa chọn tập trung vào năng lực cốt lõi của mình - tức là lĩnh vực mà mình làm tốt nhất, và lựa chọn thuê ngoài các nhà thầu chuyên nghiệp Trong trường hợp này chi phí/doanh thu thích hợp là sự khác biệt về chi phí/doanh thu giữa hai phương án (Hồ Đức Hùng, 2000)
Th ứ ba, các quyết định tiếp tục gia công (futher processing decisions): Nhà
quản trị đối diện với lựa chọn là tại những điểm phân chia (split-off point) của những sản phẩm liên kết (joint products) DN nên bán sản phẩm hay là tiếp tục gia công thành những sản phẩm hoàn chỉnh hơn rồi mới bán Đặc điểm của những sản phẩm liên kết này là được sản xuất khởi đầu từ cùng một loại NVL chung, qua quá trình chế biến sẽ tạo ra những bán thành phẩm khác nhau (Hồ Đức Hùng, 2000)
Th ứ tư, các quyết định đóng cửa (shut down decisions): Nhà quản trị phải
lựa chọn việc đóng cửa hay ngừng sản xuất và bán một loại sản phẩm hay dịch vụ nào
đó (Hồ Đức Hùng, 2000)
Trang 29Th ứ năm, Các rủi ro và tình trạng bất ổn (Risk and uncertainty): Việc ra
quyết định luôn có liên quan đến việc quyết định những sự việc sẽ xảy ra trong tương lai, và rõ ràng rằng tương lai luôn thay đổi dẫn đến quyết định có thể trở nên rất tệ hoặc kết quả thực tế có thể khác rất xa so với ước tính ban đầu Do vậy vai trò KTQT thể hiện ở chỗ có thể cung cấp các thông tin cho các nhà quản trị ra quyết định nhằm mục đích giúp họ đánh giá và cân nhắc các khả năng có thể xảy ra, cho dù là kịch bản
tệ nhất (Hồ Đức Hùng, 2000)
2.2.5.3 D ự toán và kiểm soát
Nhà quản lý luôn cần thông tin để điều hành hoạt động doanh nghiệp nhằm sử
dụng các nguồn tài nguyên và tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Các thông tin được trình bày một cách có hệ thống trong dự toán ngân sách, là một kế
hoạch chi tiết, trình bày kết quả tài chính của hoạt động doanh nghiệp trong một thời
kỳ tương lai nhất định Dự toán ngân sách được sử dụng để hoạch định và kiểm soát
hoạt động của doanh nghiệp “Dự toán là quá trình tính toán chi tiết cho kỳ tới, nhằm huy động và sử dụng các nguồn lực theo các mục tiêu kế hoạch đề ra trong từng thời
kỳ cụ thể” (Phạm Văn Dược và Trần Văn Tùng, 2011, 153)
Hoạch định chiến lược là kế hoạch dài hạn, liên quan đến việc ra quyết định kinh doanh và tham gia thị trường trong tương lai dài hạn Những quyết định này cần
thời gian dài hạn và nguồn tài chính rất lớn Mỗi doanh nghiệp trong các tổng công ty
có thể chọn chiến lược cạnh tranh với tư cách là nhà sản xuất với giá thấp, trong khi trong khi một doanh nghiệp khác có thể chọn chiến lược cạnh tranh với dòng sản
phẩm cao cấp, giá cao
Hoạch định chiến lược liên quan đến hoạt động doanh nghiệp trong thời gian
3 năm hoặc 5 năm Trong khi dự toán ngân sách là kế hoạch ngắn hạn cho thời kỳ 1 năm Hoạch định chiến lược liên quan đến việc ước lượng các khoản thu chi tài chính
rộng lớn, trong khi dự toán ngân sách chi tiết cho từng khoản mục chi tiêu cụ thể
Hoạch định chiến lược có liên quan trực tiếp đến những tính toán trong dự toán ngân sách và được thực hiện bởi nhà quản lý cấp cao Người ta căn cứ vào hoạch định chiến lược để tính toán dự toán ngân sách hàng năm
Trang 30Thông thường, đầu vào quan trọng nhất trong dự toán ngân sách là một số
biện pháp dự báo sản lượng đầu ra dự kiến Đối với nhà máy sản xuất, sản lượng đầu
ra là số lượng của mỗi loại sản phẩm được sản xuất ra Đối với một nhà bán lẻ, nó có
thể là số lượng của mỗi loại sản phẩm được bán ra (Phạm Văn Dược và Trần Văn Tùng, 2011)
M ục đích của dự toán ngân sách
Mục đích của dự toán ngân sách là hoạch định và kiểm soát hoạt động kinh doanh Thông qua hai chức năng này để đưa hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt được mục tiêu lợi nhuận đã đề ra Dự toán ngân sách nhằm đạt được 05 mục đích
cơ bản sau đây:
- Lập kế hoạch: Dự toán ngân sách sẽ dự tính những gì sẽ xảy ra trong tương lai và tính toán thành các chỉ tiêu cụ thể Thông qua các chỉ tiêu kinh tế phản ánh được
tất cả các mặt hoạt động của doanh nghiệp, điều chỉnh các mặt hoạt động không tốt,
giải quyết vấn đề trước khi chúng bế tắc Quá trình dự toán ngân sách cũng liên kết tất
cả các bộ phận trong doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu chung đã đề ra
- Phân bổ nguồn lực: Nguồn lực của doanh nghiệp là có giới hạn, dự toán ngân sách sẽ thực hiện phân bổ nguồn lực một cách tốt nhất cho các đối tượng sử dụng Ưu tiên các đối tượng sử dụng nguồn lực mang lại hiệu quả kinh tế cao Tất nhiên, sẽ có
sự cạnh tranh giữa các bộ phận trong việc sử dụng các nguồn lực Việc phân bổ nguồn
lực cũng phải nằm trong chiến lược phát triển của toàn doanh nghiệp Quá trình dự toán ngân sách sẽ thực hiện phân bổ nguồn lực có giới hạn này và đánh giá việc thay đổi đối với việc phân bổ các nguồn lực đó
- Kiểm soát lợi nhuận và hoạt động kinh doanh: Dự toán ngân sách là căn cứ
để kiểm soát tất cả các mặt hoạt động của doanh nghiệp Kiểm soát là quá trình so sánh kết quả thực hiện với các chỉ tiêu dự toán và đánh giá việc thực hiện đó Không có các chỉ tiêu dự toán thì không có cở sở để so sánh và đánh giá kết quả
thực hiện Dự toán chi phí sẽ được so sánh với chi phí thực tế hàng tháng để chỉ ra khu vực cần có sự kiểm soát chi phí nhiều hơn
Trang 31So sánh kết quả thực hiện với dự toán giúp cho nhà quản lý đánh giá tình hình
thực hiện của các bộ phận và toàn công ty Khi dự toán được sử dụng để đánh giá việc
thực hiện sẽ động viên mọi người thực hiện tốt hơn Để đánh giá việc thực hiện, người
ta lập báo cáo thực hiện, trình bày số liệu dự toán và kết quả thực hiện, cho phép so sánh để thấy được sự thay đổi giữa thực hiện so với dự toán Nếu sự thay đổi lớn, vượt quá mức cho phép, nhà quản lý sẽ điều tra nguyên nhân của sự thay đổi để có biện pháp chấn chỉnh nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
“Báo cáo thực hiện” sẽ thông tin cho nhà quản lý thấy được những mặt hoạt động không xảy ra theo kế hoạch Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, việc thực hiện không đúng kế hoạch là do dự toán không sát với thực tế Trong trường hợp này, người ta sẽ điều chỉnh để lập kế hoạch kỳ sau tốt hơn
Tóm l ại, đánh giá kết quả thực hiện so với dự toán ngân sách được xem là kỹ
thuật kiểm soát trong quản lý Nhà quản lý phải biết dự toán những gì phải làm, mà còn phải biết đã hoàn thành các dự toán như thế nào Nếu kết quả xảy ra không theo
dự toán, nhà quản lý phải có biện pháp điều chỉnh để hoạt động ngày càng tốt hơn
2.2.5 4 Đo lường hiệu quả hoạt động và kiểm soát
Đo lường hiệu quả hoạt động thông qua việc phân tích mối quan hệ giữa chi phí - khối lượng - lợi nhuận Trong đó, đánh giá xem xét mối quan hệ nội tại của các nhân tố: Giá bán, sản lượng, chi phí khả biến và chi phí bất biến và kết cấu mặt hàng, đồng thời xem xét sự ảnh hưởng của các nhân tố đó tới lợi nhuận của công ty Đây là
cơ sở để công ty đưa ra các quyết định như: Lựa chọn kết cấu sản phẩm hay thay đổi
mức sản lượng tiêu thụ để đạt mức lãi như mong muốn, chọn dây chuyền sản xuất, định giá sản phẩm, chiến lược bán hàng
Nội dung phân tích hiệu quả hoạt động gồm: Phân tích điểm hòa vốn, phân tích mức sản lượng cần thiết để đạt mức lợi nhuận mong muốn, xác định giá bán sản
phẩm với mức sản lượng, chi phí và lợi nhuận mong muốn, phân tích ảnh hưởng của giá bán đối với lợi nhuận theo các thay đổi dự tính về biến phí và định phí Để phân tích hiệu quả hoạt động kế toán thường sử dụng các công cụ sau: Số dư đảm phí, tỷ lệ
số dư đảm phí
Trang 322.2.6 Yêu c ầu và nguyên tắc tổ chức hệ thống KTQT trong doanh nghiệp
Theo Phạm Văn Dược (2006) thì “Đầu ra”của hệ thống KTQT là các báo cáo quản trị, cung cấp thông tin cần thiết cho các nhà lãnh đạo trong quá trình quản
trị Yêu cầu của hệ thống chính là yêu cầu đối với “đầu ra” này Một hệ thống KTQT
hoạt động hiệu quả phải thoả mãn các yêu cầu sau:
B ảng 2.3: Yêu cầu tổ chức hệ thống KTQT trong doanh nghiệp
có những nội dung thừa
2 Tính chính xác Thông tin cần phải có độ tin cậy cao, không chứa
những nội dung bóp méo sự thật
3 Tính linh động Thông tin cần phải được chuẩn bị sẵn sàng và có
thể truy cập bất cứ khi nào lãnh đạo cần
4 Tính so sánh Thông tin cần phải so sánh được theo thời gian
và giữa các bộ phận với nhau
Trang 33tiêu cực ảnh hưởng đến hoạt động, phát huy các yếu tố tích cực, rút ra những bài học kinh nghiệm cho công ty
2.3.1 Quy mô doanh nghi ệp
Các công ty với quy mô lớn thường sẽ có phạm vi hoạt động rộng, cơ cấu tổ
chức cồng kềnh và nhu cầu thông tin đòi hỏi cao Do đó, những công ty này cần ứng
dụng đầy đủ các nội dung kế toán quản trị nhằm cung cấp đầy đủ thông tin cho từng
bộ phận và bộ máy kế toán quản trị sẽ phức tạp hơn Bên cạnh đó, các công ty lớn thường sẽ có nền tảng về nhân sự, khoa học kỹ thuật tốt hơn nên điều kiện áp dụng
kế toán quản trị cũng sẽ thuận lợi hơn
Ngược lại, đối với các công ty nhỏ và vừa, phạm vi hoạt động tương đối hẹp hơn, cơ cấu tổ chức thường đơn giản, nhu cầu thông tin đòi hỏi không quá cao, trình
độ nhân sự và ứng dụng công nghệ thông tin thường bị hạn chế Do đó các công ty này chưa thể áp dụng được đầy đủ các nội dung của kế toán quản trị mà chỉ nên tập trung vào một số nội dung kế toán quản trị thật sự cần thiết, bộ máy kế toán quản trị cũng sẽ đơn giản hơn
2.3.2 Ch ất lượng nguồn nhân lực
Theo Ederer (2005) thì xét về mặt nhân sự thì người làm công tác KTQT trong công ty thường là người có hiểu biết toàn diện về mọi mặt quản lý kinh doanh của công ty, tức là nhân sự này hiểu và nắm rõ hầu hết từ lớn đến nhỏ mọi việc hoạt động
của đơn vị: từ kế hoạch chiến lược kinh doanh hàng năm cho đến báo cáo tình hình tài chính hàng tháng,… và thường thì người này hỗ trợ cho ban điều hành công ty trong vấn đề ra quyết định, do đó để đảm bảo được vai trò của mình thì việc đòi hỏi một kiến thức tổng thể, toàn diện về mọi mặt của công ty là yêu cầu tất yếu, từ các vấn đề
về quan hệ trong nội bộ công ty cho đến quy trình xử lý kế toán (Daniela Wiedemann, 2014)
Các công ty dịch vụ công ích do hạn chế về ngân sách hoạt động hay phải chi ngân sách cho nhiều hoạt động khác nhau trong đơn vị nên việc tuyển dụng một KTQT viên chuyên nghiệp, làm việc toàn thời gian về mảng KTQT là điều ít xảy ra Thay vào đó nhân sự này hay kiêm nhiệm nhiều công tác khác nhau hoặc có thể thiếu các kỹ năng của một KTQT viên chuyên nghiệp
Trang 342.3.3 Chính sách Nhà nước
Ngoài nhiệm vụ thực hiện chỉ tiêu Nhà nước giao hoặc đặt hàng, công ty dịch
vụ công ích có thể sản xuất kinh doanh các sản phẩm dịch vụ khác để tận dụng năng lực sản xuất nhưng phải bảo đảm các điều kiện sau: Phải được Ủy ban nhân dân thành phố đồng ý bằng văn bản; không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ công ích Nhà nước giao hoặc đặt hàng; đăng ký bổ sung ngành nghề kinh doanh theo quy định hiện hành; hạch toán riêng phần hoạt động kinh doanh; thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với phần hoạt động kinh doanh thêm theo quy định của pháp luật Như vậy quan trọng nhất, các công ty dịch vụ công ích phải tập trung mọi nguồn lực để xây dựng công ty
có sản phẩm tốt nhất cho xã hội và tăng trưởng nhanh, bền vững bằng chiến lược cũng
cố các sản phẩm dịch vụ sẵn có hiện tại chiếm ưu thế và đa dạng hóa sản phẩm dịch
vụ xã hội hiện đại phát sinh, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của tổ chức
Hiện nay đã có nhiều doanh nghiệp ngoài khu vực công hoặc các doanh nghiệp nước ngoài bắt đầu tham gia vào lĩnh vực DVCI và trở thanh đối thủ cạnh tranh với các công ty công ích hiện tại Từ năm 2011, khi các chủ đầu tư bắt đầu cho đấu thầu cung ứng sản phẩm lĩnh vực DVCI thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau như chiếu sáng công cộng, vệ sinh công cộng, thêm vào đó DVCI đang chuyển sang đấu thầu
rộng rãi theo nghị định 130/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 về sản xuất và cung ứng
sản phẩm, DVCI tạo nên sức cạnh tranh ngày càng gay gắt với các công ty trong khu
vực này Chính trong môi trường cạnh tranh này đòi hỏi các công ty phải hoạt động
hiệu quả hơn nữa để sử dụng tốt các nguồn lực hiện có, tiết kiệm chi phí, loại bỏ nguy
cơ bị đào thải trên thị trường, mà trong đó kế toán quản trị là công cụ thiết yếu hỗ trợ các công ty trong việc thực hiện mục tiêu này
2.3.4 Nh ận thức của người điều hành
Theo như nghiên cứu của CIMA về thực trạng vận dụng KTQT trong các doanh nghiệp tại Anh đã chỉ ra rằng người chủ/người điều hành đơn vị thường đảm trách luôn công tác KTQT Và điều này đã dẫn đến một hệ lụy tất yếu là các doanh nghiệp đã tiêu tốn một lượng chi phí cơ hội lớn về việc sử dụng thời gian của các nhà quản lý cấp cao vào công việc KTQT thay vì tập trung thời gian vào việc phát triển chiến lược marketing, phát triển doanh số, thị trường, sản phẩm mới,… Trong khi đó với nguồn lực tài chính hùng mạnh của mình, các DN lớn thường tổ chức KTQT thành các bộ phận chức năng riêng biệt với bộ máy nhân sự riêng biệt chuyên trách do
Trang 35đó hiệu quả của việc vận dụng KTQT mang lại thường cao hơn (Michael Lucas et al., 2013)
Việc tổ chức và áp dụng KTQT phụ thuộc chủ yếu vào trình độ nhận thức của nhà quản trị cấp cao từ việc đưa ra định hướng, chủ trương đến quá trình tổ chức,
thực hiện, kiểm soát toàn bộ quá trình và sau cùng là đánh giá kết quả thực hiện trước, sau khi thực hiện áp dụng KTQT Nhà quản trị cấp cao sẽ xác định được nhu
cầu thông tin cần dùng, cách thức sử dụng thông tin KTQT một cách hiệu quả để từ
đó đưa ra các quyết định quản trị dựa trên những thông tin đã được sàng lọc phân tích và dựa vào quyết đoán của bản thân Ngoài ra, nhà quản trị cần xác định đối tượng nhận và sử dụng thông tin, từ đó phân cấp cho việc xử lý thông tin cho từng bộ
phận, cá nhân ví dụ các thông tin phục vụ cho cơ quan thuế phải theo các khuôn mẫu
hiện hành; thông tin chi tiết phục vụ cho nhà đầu tư, cổ đông theo ý định của doanh nghiệp; thông tin theo yêu cầu của nhà quản trị để ra các quyết định quản trị
2.3.5 Đặc điểm của các công ty dịch vụ công ích
Mỗi doanh nghiệp đều có những đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh khác nhau bao gồm lĩnh vực hoạt động, đặc điểm quy trình công nghệ, đặc điểm tổ
chức sản xuất, Những yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến việc ứng dụng kế toán
quản trị, việc lựa chọn những nội dung và mô hình kế toán quản trị khi áp dụng vào doanh nghiệp Cụ thể, đối với các công ty dịch vụ công ích, cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động rất cồng kềnh, chi phí bộ máy khá lớn, làm ảnh hưởng đến nguồn kinh phí để thực hiện các hoạt động chuyên môn, mua sắm trang thiết bị và các hoạt động khác Thêm vào đó đội ngũ cán bộ quản lý phần lớn còn chịu ảnh hưởng của lề
lối, tác phong làm việc theo cơ chế bao cấp, quan tâm đến chỉ tiêu kế hoạch, rất quan tâm đến lợi ích xã hội, ít quan tâm đến hiệu quả kinh tế Do đó, vấn đề lợi ích kinh tế không phải là một trong những mối quan tâm hàng đầu, xảy ra tình trạng chưa sử
dụng hiệu quả, tiết kiệm nhất nguồn kinh phí, mà kế toán quản trị là một trong các công cụ cần thiết khi muốn hoạt động hiệu quả
Các công ty dịch vụ công ích với chức năng cung cấp các sản phẩm, dịch vụ đặc thù, các yêu cầu đặt ra của các cơ quan quản lý ngành cần xây dựng cơ cấu tổ
chức bộ máy KTQT hợp lý, phù hợp với các nguồn lực của công ty, phù hợp với đặc trưng sản phẩm của công ty, trong đó cũng bắt buộc các công ty này phải tuân theo các quy định pháp lý như: Luật kế toán, các chế độ, luật Ngân sách Nhà nước, Luật
Trang 36viên chức, các thông tư hướng dẫn, các chuẩn mực kế toán hiện hành,…từ đó ảnh hưởng đến việc tổ chức sắp xếp bộ máy kế toán trong đó tác động rất lớn vào công tác tổ chức KTTC nói chung và KTQT nói riêng
2.4 T ổng quan các nghiên cứu trước đây
2.4.1 Các nghiên c ứu nước ngoài
Tác giả Anand, Sahay và Subhashish năm 2004 đã tiến hành một nghiên cứu
với tên gọi “Cost Management Practices in India: An Empirical Study” tạm dịch thực hành quản trị chi phí ở Ấn Độ: một nghiên cứu thực nghiệm Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm nắm bắt được sự phát triển trong việc vận dụng kế toán quản trị mà đặc biệt
là kế toán chi phí, quản lý ngân sách cũng như chuẩn hóa chi phí trong các công ty tại
Ấn Độ
Tác giả Khaled Abed Hutaibat (2005) trong luận án tiến sỹ nghiên cứu về việc vận dụng KTQT tại Jordan đã kiểm định thành công mô hình các nhân tố tác động đến
việc vận dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp bao gồm các nhân tố sau: -Quy
mô DN (tổng doanh thu hàng năm)
-Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư ngoại trong DN
-Ngành nghề kinh doanh của DN
-Mức độ cạnh tranh thị trường (nội địa & quốc tế)
Sơ đồ 2.2: Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT tại Jordan
Ngu ồn: Tác giả sưu tầm
Vận dụng KTQT tại Jordan
Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu
tư ngoại Quy mô DN
Ngành nghề kinh doanh của DN
Mức độ cạnh tranh thị trường
Trang 37Để xác định các nhân tố trên, tác giả chủ yếu sử dụng nghiên cứu định tính, tuy nhiên để áp dụng mô hình này người dùng cần cân nhắc cũng như điều chỉnh một vài đặc điểm trong chính sách của Nhà nước về ngành nghề, địa lý, … tại nơi đó nhằm phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp, mà tại đó tồn tại sự khác biệt với đặc điểm của các đơn vị tại Jordan
Tác giả Ronald W Hilton (2005) đã đưa ra năm yếu tố làm tăng giá trị cho các doanh nghiệp khi áp dụng KTQT bao gồm cung cấp thông tin cho việc ra quyết định,
lập kế hoạch; cơ sở để nhà quản lý đưa ra quyết định; hỗ trợ các nhà quản lý trong việc
chỉ đạo và kiểm soát các hoạt động; thúc đẩy nhà quản lý và nhân viên đạt được mục tiêu của doanh nghiệp; đo lường việc thực hiện các hoạt động, nhà quản lý và các nhân viên trong doanh nghiệp; đánh giá vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp, đảm bảo
khả năng cạnh tranh dài hạn của doanh nghiệp trong ngành Để dễ dàng nắm bắt tác
giả biểu diễn các yếu tố này theo sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ 2.3: Giá trị cho các doanh nghiệp khi áp dụng KTQT theo Ronald W
Hilton (2005) Ngu ồn: Tác giả sưu tầm
Tác giả Abdel-Kader (2006)” Management accounting practices in the British food and drinks industry” nghiên cứu về sự vận dụng KTQT trong ngành công nghiệp thức uống và thực phẩm ở Anh, để hiểu về các yếu tố ảnh hưởng tới việc
lý đưa ra quyết định
Hỗ trợ các nhà quản lý trong việc chỉ đạo và kiểm soát các hoạt động
Đo lường việc
thực hiện các
hoạt động, nhà quản lý và các nhân viên trong doanh nghiệp
Đánh giá vị thế
cạnh tranh của doanh nghiệp, đảm
bảo khả năng cạnh tranh dài hạn của doanh nghiệp trong ngành
Trang 38triển khai KTQT trong ngành công nghiệp này Tác giả đã tìm hiểu về mối quan hệ
giữa sự phát triển của KTQT trong thực tế với các yếu tố khác nhau như yếu tố tổ
chức và sản xuất Nhiều nội dung đã được tác giả phân tích như: Đánh giá mức độ, số lượng các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp sản xuất thức uống và thực phẩm có
áp dụng KTQT
Đánh giá hiệu quả khi doanh nghiệp áp dụng công tác KTQT như: thông tin cho
việc đưa ra quyết định, phân tích chiến lược, và truyền thông trong KTQT Qua quá trình nghiên cứu, tổng hợp, thống kê và phân tích tác giả đã đưa ra các kết luận sau:
Hệ thống KTQT được áp dụng trong nhiều công ty thức uống và thực phẩm, nhưng chưa được đầu tư một cách có hệ thống, có ít bằng chứng cho thấy là KTQT trực tiếp
kết nối vào việc tạo ra giá trị Tuy nhiên, nhận định của tác giả trong tương lai việc
vận dụng KTQT trong các doanh nghiệp này sẽ cung cấp được những thông tin để đưa ra các quyết định liên quan đến chi phí, các chính sách quản lý nguồn lực và phân tích những điểm mạnh yếu của đối thủ
Theo tác giả Nelson Waweru (Canada), Enrico Uliana (South Africa) (2008) Nghiên cứu đã chỉ ra những thay đổi trong công tác quản lý và hệ thống kiểm soát tại
thời điểm bấy giờ từ đó nêu lên vai trò quan trọng của cơ cấu tổ chức, vận hành hoạt động của doanh nghiệp khi áp dụng KTQT Chỉ ra sự thay đổi tích cực khi áp dụng hệ
thống KTQT, những thay đổi khả quan về phương pháp kiểm soát, công tác lập kế
hoạch Chỉ ra mối quan hệ tích cực, liên quan trực tiếp giữa KTQT và cách thức tổ
chức quản lý để đưa ra các chiến lược khác biệt
Một số lượng lớn các công trình đề cập đến độ tin cậy về thông tin khi vận dụng KTQT như: Hartmann, Frank G H and Sergeja Slapnicar (2009), and Vosselman, E., and Van der Meer-Kooistra, J (2009), nghiên cứu về độ tin cậy khi áp dụng KTQT nhiều mức độ khác nhau Những nghiên cứu này đề xuất rằng: xu hướng sẽ mở rộng hướng tới việc công nhận vai trò quan trọng của tính tin cậy trong KTQT, đặc biệt là trong quản lý tổ chức và đo lường hiệu quả ở các doanh nghiệp Tuy nhiên, còn nhiều khía cạnh về lí thuyết và thực tế của việc tổ chức và đánh giá hiệu quả của các chủ đề nghiên cứu này cần được tác giả nghiên cứu thêm
Trang 392.4.2 Các nghiên c ứu trong nước
Ở nước ta, kế toán quản trị được tiếp thu và đưa vào giảng dạy ở các trường đại học khoảng đầu những năm 90 của thế kỷ 20 và chính thức được công nhận trong
Luật kế toán từ năm 2004 Trong quá trình thực hiện nghiên cứu này, tác giả đã tham
khảo một số nghiên cứu đã được thực hiện trước đây Dưới đây tác giả trình bày một
số nghiên cứu được thực hiện trong nước liên quan đến việc vận dụng kế toán quản
trị:
Bài báo “Mô hình tổ chức kế toán quản trị của một số nước trên thế giới – Bài
học kinh nghiệm đối với các doanh nghiệp Việt Nam” của tác giả Lê Thị Hương được đăng trên Tạp chí nghiên cứu tài chính kế toán số 7 năm 1996 Tác giả cung cấp hai cách tổ chức mô hình KTQT là mô hình kết hợp và mô hình tách rời dựa vào một số
mô hình tổ chức KTQT của một số nước phát triển trên thế giới và rút ra các bài học kinh nghiệm đối với các doanh nghiệp Việt Nam về KTQT
Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Hải Hà (2005) - Trường Đại học Thương Mại
về “Hoàn thiện tổ chức KTQT chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm dịch
vụ vận tải tại các DN vận tải ô tô hành khách ở Việt Nam” đã đánh giá hiện trạng, đưa
ra các nguyên tắc cơ bản và các biện pháp đẻ hoàn thiện công tác KTQT tại các DN vận tải ô tô hành khách ở Việt Nam
Bài báo của Đỗ Lương Trường (2008) về “Lịch sử tiến hóa của KTQT"đã chỉ rõ: Qua quá trình phát triển gần 30 năm KTQT tại Việt Nam vẫn chỉ dừng lại ở khâu lập kế hoạch và quản trị chi phí chưa tạo ra giá trị tăng thêm cho doanh nghiệp KTQT vẫn bị hiểu sai từ nội dung đến cách thức xây dựng khiến cho nhiều doanh nghiệp còn lúng túng khi nghiên cứu đề áp dụng
Luận văn thạc sỹ của Phạm Thị Hồng Hạnh (2008) - Trường Đại học Thương mại về “Hoàn thiện tổ chức KTQT trong các DN khai thác than thuộc tâp đoàn than - khoáng sản Việt Nam" đã đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán, trình tự tiến hành KTQT, phân loại chi phí, hệ thống chứng từ phục vụ kế toán quản trị, hệ thống tài khoản, sổ chi tiết, hệ thống báo cáo KTQT
Tác giả Phạm Ngọc Toàn (2010) với luận án tiến sĩ “Xây dựng nội dung và tổ
chức KTQT cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam” Trong luận án này, tác
Trang 40giả đã khảo sát 236 doanh nghiệp từ doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa, tác giả đã
nhận thấy thực trạng là: người làm công tác kế toán trong các doanh nghiệp này chỉ quan tâm đến công tác kế toán tài chính (KTTC), ít quan tâm đến công tác KTQT Đối
với các doanh nghiệp có tổ chức công tác KTQT thì nội dung áp dụng chưa nhiều và còn lạc hậu, yêu cầu thông tin KTQT còn sơ khai, nhà quản trị hạn chế về trình độ, báo cáo quản trị chưa đầy đủ, công nghệ thông tin chưa tích hợp với KTQT Từ thực
trạng này, tác giả cũng đã đề xuất những nội dung và tổ chức KTQT phù hợp với các DNNVV của Việt Nam Tuy nhiên mô hình này chỉ dừng lại ở việc áp dụng cho các DNNVV cũng như chưa đi vào xây dựng mô hình riêng cho các DNNVV trong các ngành nghề kinh doanh khác nhau
Vào năm 2012, Đoàn Ngọc Phi Anh khi tiến hành khảo sát trên 220 các DN Việt Nam với quy mô vừa và lớn đã chỉ ra một số nhân tố như đặc điểm doanh nghiệp, yếu
tố cạnh tranh càng cao, phân cấp quản lý càng lớn thì càng khiến cho các DN có xu hướng sử dụng càng nhiều các công cụ của kế toán quản trị; và khi DN sử dụng càng nhiều công cụ của kế toán quản trị thì thành quả về cả hai mặt tài chính – phi tài chính đạt được càng cao (Đoàn Ngọc Phi Anh, 2012)
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thành Kim Dung (2013) với đề tài “Tổ chức công tác kế toán quản trị tại các doanh nghiệp vận tải thủy nội địa Logistics trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” Thông qua việc phân tích thực trạng thực hiện công tác kế toán quản trị tại các doanh nghiệp vận tải thủy nội địa Logistics trên địa bàn Thành
phố Hồ Chí Minh tác giả đã đưa ra giải pháp để hoàn thiện công tác KTQT này dựa trên việc nghiên cứu tình hình tổ chức KTQT tại các doanh nghiệp này
Nghiên cứu của Đào Khánh Trí (2015) về “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận
dụng kế toán quản trị cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Thành phố Hồ Chí Minh” Thông qua dữ liệu thu thập từ 150 DNVVN tại địa bàn TP.HCM, kết quả cũng cho
thấy tỷ lệ vận dụng KTQT ở các doanh nghiệp vừa cao hơn các doanh nghiệp nhỏ Tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu với 5 nhân tố bao gồm: Trình độ của nhân viên kế toán, sự quan tâm về KTQT của chủ doanh nghiệp, chi phí cho việc tổ chức một hệ
thống KTQT của doanh nghiệp, áp lực cạnh tranh thị trường, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý doanh nghiệp Bằng phương pháp hồi qui binary logistic tác