Kết quả nghiên cứu cho thấy trong 5 nhân tố này thì nhân tố có sự ảnh hưởng mạnh nhất đến vận dụng kế toán quản trị càng cao trong các DNNVV tại tỉnh Bình Dương là Quy mô doanh nghiệp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HCM
PHAN THỊ BÍCH LIÊN
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC VẬN
DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HCM
PHAN THỊ BÍCH LIÊN
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC VẬN
DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : Kế toán
Mã số ngành: 60340301 CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN XUÂN HƯNG
TP HỒ CHÍ MINH, tháng 03 năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng
kế toán quản trị trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Tỉnh Bình Dương” là công trình của việc học tập và nghiên cứu thật sự nghiêm túc của bản thân Những kết quả nêu ra trong nghiên cứu này là trung thực và chưa từng được công bố trước đây Các số liệu trong luận văn nghiên cứu có nguồn gốc rõ ràng, được tổng hợp
từ những nguồn thông tin đáng tin cậy
TP Hồ Chí Minh, tháng 03 năm 2017
HỌC VIÊN
Phan Thị Bích Liên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi đến quý Thầy Cô ở khoa Kế toán – Tài chính – Ngân hàng; Viện Đào tạo sau đại học – Trường Đại học Công nghệ Tp.HCM; tất cả quý Thầy Cô đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt thời gian học tập tại trường Tôi chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Xuân Hưng đã tận tâm hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài luận văn Nếu không có những lời hướng dẫn tận tình của Cô thì tôi rất khó hoàn thiện được luận văn này
Mặc dù, tôi đã cố gắng rất nhiều trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn Nhưng do hạn chế về mặt thời gian cùng với việc thiếu kinh nghiệm trong nghiên cứu nên đề tài luận văn chắc chắn còn nhiều hạn chế và thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý Thầy Cô để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn nữa
TP Hồ Chí Minh, tháng 03 năm 2017
Tác giả
Phan Thị Bích Liên
Trang 5TÓM TẮT
Sự thay đổi hình thức DN đã làm cho nhu cầu về thông tin kế toán cũng thay đổi theo, đặc biệt là thông tin về KTQT Hệ thống thông tin kế toán không chỉ phục vụ cho các đối tượng bên ngoài DN như cơ quan quản lý nhà nước, thuế, kiểm toán, các nhà đầu tư… mà giờ đây với sự vận dụng kế toán quản trị vào công tác kế toán còn có vai trò phục vụ đắc lực cho các nhà quản trị DN
Xuất phát từ một thực tế rằng các DNNVV có tỷ lệ bị thất bại hoặc phá sản cao hơn rất nhiều so với các DN quy mô lớn Một nguyên nhân có thể chính là việc chưa quan tâm đúng mức tới các công cụ KTQT (Nadan, 2010) Mặt khác, tại Tỉnh Bình Dương các DNNVV chiếm tỷ lệ lớn đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh
tế của tỉnh nên yêu cầu vận dụng kế toán quản trị là rất cần thiết
Từ tổng quan các nghiên cứu trước và các đặc thù của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Bình Dương, tác giả bước đầu xác định các nhân tố tác động đến vận dụng KTQT tại các DNNVV tỉnh Bình Dương gồm 05 nhân tố: Quy mô doanh nghiệp, mức độ cạnh tranh của thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, chiến lược kinh doanh, nhận thức về KTQT của người điều hành doanh nghiệp
Kết quả nghiên cứu cho thấy trong 5 nhân tố này thì nhân tố có sự ảnh hưởng mạnh nhất đến vận dụng kế toán quản trị càng cao trong các DNNVV tại tỉnh Bình Dương là Quy mô doanh nghiệp ( = 0.384), tiếp đến là nhân tố Chiến lược kinh doanh ( = 0.376), Nhận thức về KTQT của người điều hành doanh nghiệp ( = 0.356), Chất lượng nguồn nhân lực ( = 0.349) và cuối cùng là mức
độ cạnh tranh của thị trường ( = 0.116).Từ kết quả nghiên cứu trên, tác giả đã
đề xuất một số giải pháp có tác động trực tiếp đến các nhân nhằm có các giải pháp vận dụng kế toán quản trị tại các DNNVV tỉnh Bình Dương một cách hiệu
Trang 6ABSTRACT
The change of business form has made the demand for accounting information also change, especially the information on international accounting The accounting information system not only caters to external audiences such as state management agencies, tax authorities, auditors, investors but now with the use of management accounting in the next task Math also plays an active role f or business executives
Derived from the fact that SMEs have a higher rate of failure or bankruptcy than large firms One possible cause is the lack of proper attention to the instruments of international accounting (Nadan, 2010) On the other hand, SMEs in Binh Duong Province make up a large proportion of their contribution to the economic development of the province Therefore, the application of management accounting is very necessary
From the overview of previous studies and the characteristics of small and medium enterprises in Binh Duong, the author first identified the factors that affect the use of international economics in SMEs in Binh Duong include 5 factors: The level of competition in the market, the quality of human resources, the business strategy, the perception of entrepreneurship by international economic operators
The results show that among the five factors, the greatest influence on the use of management accounting in SMEs in Binh Duong is the size of enterprises (= 0.384), followed by personnel The Business Strategy (= 0.376), Enterprise Entrepreneur's Perception of Entrepreneurship (= 0.356), Human Resource Quality (= 0.349), and Market Competitiveness (= 0.116) From the above results, the author has proposed some solutions that have direct impact on individuals to have solutions to apply management accounting at SMEs in Binh Duong province more effectively
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ix
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU x
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ xi
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5.Phương pháp nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
7 Cấu trúc của đề tài 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 6
1.2 Các nghiên cứu trong nước 10
1.3 Nhận xét 14
Kết luận chương 2 16
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Khát quát chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa 17
2.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa 17
2.1.2 Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam 17
2.1.3 Đặc điểm của DNNVV tại Việt Nam 18
2.1.4 Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế Việt Nam 20
Trang 82.2.1 Định nghĩa kế toán quản trị 22
2.2.2 Vai trò của kế toán quản trị 24
2.2.3 Yêu cầu của kế toán quản trị 25
2.2.4 Chức năng thông tin c ủa kế toán quản trị 27
2.2.5 Nội dung chủ yếu của kế toán quản trị 28
2.2.5.1 Lập dự toán ngân sách phục vụ chức năng ho ạch định 28
2.2.5.2 Hệ thống tính giá thành phục vụ chức năng tổ chức điều hành 29
2.2.5.3 Phục vụ chức năng kiểm soát 31
2.2.5.4 Phục vụ chức năng ra quyết định 33
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa 35
2.3.1 Quy mô doanh nghiệp 35
2.3.2 Mức độ cạnh tranh của thị trường 36
2.3.3 Chất lượng nguồn nhân lực 38
2.3.4 Chiến lược kinh doanh 40
2.3.5 Nhận thức về KTQT của người điều hành doanh nghiệp 41
2.4 Lý Thuyết nền 42
2.4.1 Lý thuyết bất định 42
2.4.2 Lý thuyết đại diện 44
2.4.3 Lý thuyết quan hệ lợi ích – chi phí 45
2.5 Mô hình nghiên cứu 45
Kết luận chương 2 53
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Phương pháp nghiên c ứu 54
3.1.1 Phương pháp chung 54
3.1.2 Phương pháp cụ thể 55
3.1.3 Sơ đồ thiết kế nghiên cứu và quy trình nghiên cứu 55
3.1.3.1 Khung nghiên cứu 55
3.1.3.2 Quy trình nghiên cứu 57
Trang 93.2 Thiết kế nghiên cứu 59
3.2.1 Xây dựng thanh đo 59
3.2.1.2 Thang đo các nhân tố ảnh hưởng vận dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Bình Dương 59
3.2.2 Xây dựng giả thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa 62
3.2.2.1 Quy mô doanh nghiệp 62
3.2.2.2 Mức độ cạnh tranh của thị trường 63
3.2.2.3 Chất lượng nguồn nhân lực 64
3.2.2.4 Chiến lược kinh doanh 65
3.2.2.5 Nhận thức về KTQT của người điều hành doanh nghiệp 65
3.2.3 Mô hình hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Tỉnh Bình Dương 66
3.2.4 Mô tả dữ liệu và phương pháp thu thập dữ liệu 67
3.2.4.1 Phương pháp chọn mẫu 67
3.2.4.2 Kích thước mẫu khảo sát 68
3.3 Công cụ phân tích và quy trình thu thập, xử lý dữ liệu 68
3.3.1 Công cụ phân tích dữ liệu 68
3.3.2 Quy trình thu thập dữ liệu 68
3.3.3 Quy trình xử lý dữ liệu 69
Kết luận chương 3 70
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa 71
4.1.1.Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Crobach’s Alpha 71
4.1.2 Đánh giá giá trị thang đo – phân tích nhân tố khám phá EFA 77
4.1.3 Kiểm định tương quan 85
4.1.4 Kiểm định phương sai ANOVA 86
4.2 Kiểm định các giả định mô hình hồi quy bội 88
Trang 104.3 Kiểm tra giả định không có mối tương quan giữa các biến độc lập 91
4.4 Mô hình hồi quy chính thức các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Bình Dương 92
4.5 Bàn luận kết quả nghiên cứu 94
Kết luận chương 4 96
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 5.1 Kết luận 97
5.2 Kiến nghị 98
5.3 Kết luận chương 5 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107 Phụ lục:
Phụ lục 1: Danh sách các Doanh nghiệp khảo sát
Phụ lục 2: Danh sách các chuyên gia
Phụ lục 3: Bảng câu hỏi khảo sát
Phụ lục 4: Kết quả chạy mô hình
Trang 11DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DN Doanh nghiệp DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ DNNN Doanh nghiệp nhà nước DNSX Doanh nghiệp sản xuất
CP Chính Phủ UBND Ủy Ban Nhân Dân
BTC Bộ tài chính KTQT Kế toán quản trị KTTC Kế toán tài chính SXKD Sản xuất kinh doanh QMCT Quy mô công ty CLKD Chiến lược kinh doanh CLNNL Chất lượng nguồn nhân lực NTNDH Nhận thức nhà điều hành MDCT Mức độ cạnh tranh VDKTQT Vận dụng kế toán quản trị
Trang 12DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tiêu chí xác định DNNVV tại Việt Nam
……… 18
Bảng 2.2 Tổng hợp các công trình nghiên cứu trước 47
Bảng 4.1 Đánh giá độ tin cậy thang đo biến “Quy mô doanh nghiệp” 72
Bảng 4.2 Đánh giá độ tin cậy thang đo biến “Mức độ cạnh tranh thị trường” 73
Bảng 4.3 Đánh giá độ tin cậy thang đo biến “Chất lượng nguồn nhân lực” 74
Bảng 4.4 Đánh giá độ tin cậy thang đo biến “Chiến lược kinh doanh” 75
Bảng 4.5 Đánh giá độ tin cậy thang đo biến “Nhận thức về kế toán quản trị của người điều hành doanh nghiệp” 76
Bảng 4.6 Đánh giá độ tin cậy thang đo biến phụ thuộc “Vận dụng kế toán quản trị trong các DNNVV tỉnh Bình Dương” 76
Bảng 4.7 Kiểm định điều kiện thực hiện EFA 79
Bảng 4.8 Bảng ma trận nhân tố sau khi xoay 81
Bảng 4.9 Kiểm định EFA 83
Bảng 4.10 Ma trận tương quan giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập 85
Bảng 4.11aTóm tắt mô hình với biến phụ thuộc là vận dụng kế toán quản trị 86
Bảng 4.11bPhân tích ANOVA- Độ tin c ậy của mô hình 86
Bảng 4.12Bảng kết quả các trọng số hồi quy 87
Bảng 4.13Tóm tắt kết quả kiểm định các giả thuyết 93
Trang 13Bảng 5.1Bảng xắp sếp thứ tự quan trọng theo hệ số Beta của các yếu tố 97
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 52
Hình 3.1 Sơ đồ thiết kế nghiên cứu 56
Hình 3.2 Quy trình nghiên cứu chi tiết 57
Hình 3.3 Các bước thực hiện nghiên cứu 58
Hình 4.1 Đồ thị phân tán giữa giá trị dự đoán và phần dư từ hồi qui 89
Hình 4.2 Đồ thị P-P Plot của phần dư – đã chuẩn hóa 90
Hình 4.3 Đồ thị Histogram của phần dư – đã chuẩn hóa 91
Trang 14LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại toàn cầu hoá và môi trường kinh doanh cạnh tranh gia tăng như hiện nay, việc doanh nghiệp duy trì hoạt động hiệu quả là một vấn đề khó khăn Trong đó, sự thành công của một doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào các quyết định quản trị, những quyết định này thường được xác lập dựa trên cơ sở các thông tin kế toán, nhất là kế toán quản trị Vì thế có thể nói, chính chất lượng và hiệu quả của công tác kế toán ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả quản lý, điều hành tổ chức để đạt được các mục tiêu đã đề ra Xuất phát từ yêu cầu và tính chất thông tin cung cấp cho các đối tượng bên trong và bên ngoài tổ chức có sự khác biệt nên thông tin kế toán được phân biệt thành thông tin kế toán tài chính và thông tin
kế toán quản trị Mặc dù kế toán quản trị mới phát triển trong giai đoạn gần đây nhưng đã minh chứng được sự cần thiết và quan trọng của nó đối với công tác quản trị, điều hành các tổ chức, doanh nghiệp Kế toán quản trị đã, đang và dần trở thành công cụ khoa học giúp nhà quản trị thực hiện tốt các chức năng hoạt động, kiểm soát và ra quyết định
Mặc dù có sự nhận thức khác nhau về lợi ích của kế toán quản trị đối với các
kế hoạch phát triển kinh doanh của doanh nghiệp trong từng quốc gia, nhưng hầu hết các quốc gia đều có nhận định chung là kế toán quản trị đóng vai trò quan trọng trong việc dự toán và lập kế hoạch trong hoạt động sản xuất kinh doanh; kiểm soát các nguồn lực, con người và các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; ngoài ra, kế toán quản trị còn là một công cụ để phân tích, đánh giá việc thực hiện
ác chi phí, doanh thu, lợi nhuận và vai trò quan trọng nhất của kế toán quản trị là công cụ cho ban quản trị ra quyết định góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Bình Dương là một trong các tỉnh hiện đang phát triển kinh tế với tốc độ vượt bật nhu cầu về thông tin kế toán quản trị là ngày càng cần thiết đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh này Tính đến nay, Tỉnh Bình Dương có khoảng
Trang 1513.000 doanh nghiệp đăng ký thành lập Các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đăng ký thành lập theo hướng đa ngành nghề nhưng tập trung phần lớn vào nhóm ngành thương mại – dịch vụ (75%), công nghiệp – xây dựng (24%), còn lại là các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành nông lâm ngư nghiệp, khai khoáng (1%) Các DNNVV đóng góp đáng kể vào tổng đầu tư toàn xã hội, tăng trưởng kinh tế, tăng thu ngân sách, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội…Theo báo cáo của UBND Tỉnh Bình Dương trong năm 2016, các DNNVV giải quyết việc làm cho khoảng 290.000 lao động, đóng góp cho ngân sách tỉnh tăng dần qua các năm, đóng góp khoảng 25% vào GDP tỉnh
Hiện nay đã có rất nhiều tác giả tham gia nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT, tuy nhiên với các nghiên cứu nước ngoài thì hạn chế chính là chưa có bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam, còn đối với các nghiên cứu trong nước thì hiện vẫn chưa có nghiên cứu nào sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp để vừa nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT tại Bình Dương và vừa cho thấy mức độ tác động của chúng đến việc vận dụng KTQT như thế nào Việc vận dụng KTQT trong các DNNVV tại Bình Dương chịu sự tác động của nhiều yếu tố, các nhân tố này có thể làm gia tăng tính khả thi của việc vận dụng KTQT trong các DNNVV tại Bình Dương, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động, đảm bảo thực hiện các mục tiêu đề ra của các doanh nghiệp này Do đó việc nghiên cứu nhằm nhận diện mức độ tác động của từng yếu tố đến việc vận dụng KTQT trong các DNNVV tại Bình Dương là vấn đề quan trọng và cần thiết, nên tôi chọn
đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị trong các
doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Tỉnh Bình Dương” làm luận văn thạc sĩ của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát:
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Bình Dương
- Mục tiêu cụ thể:
Trang 16Các mục tiêu cụ thể của đề tài bao gồm:
+ Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị trong các DNNVV tại tỉnh Bình Dương
+ Đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến việc vận dụng kế toán quản trị trong các DNNVV tại tỉnh Bình Dương
+ Đề xuất các giải pháp phù hợp để vận dụng KTQT vào các DNNVV tại Tỉnh Bình Dương
3 Câu hỏi nghiên cứu:
Để đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu nêu trên, câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau:
Thứ nhất, các nhân tố nào ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị trong các DNNVV tại tỉnh Bình Dương?
Thứ hai, mức độ tác động của các nhân tố đến việc vận dụng kế toán quản trị trong các DNNVV tại tỉnh Bình Dương như thế nào?
Thứ ba, các giải pháp các giải pháp cần thực hiện để vận dụng KTQT vào các DNNVV tại Tỉnh Bình Dương?
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là các nhân tố tác động đến việc vận dụng kế toán quản trị tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian nghiên cứu là các DNNVV tại tỉnh Bình Dương
+ Thời gian nghiên cứu: Dữ liệu nghiên cứu, khảo sát được tiến hành trong năm 2015
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn dữ liệu nghiên cứu
Trang 17- Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài: Các tài liệu, giáo trình có liên quan
đến nội dung nghiên cứu của đề tài như: các giáo trình về phân tích, thống kê về hoạt động kinh doanh…
- Các nghiên cứu của tác giả khác: Các đề tài nghiên cứu khoa học; Bài báo
đăng trên tạp chí, luận văn, nghiên cứu trước,…có liên quan đến đề tài nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp trong
đó có sự kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và định tính:
- Phương pháp định lượng: Tác giả sử dụng công cụ thống kê với sự hỗ trợ từ
phần mềm Excel và phần mềm SPSS 20.0 để xây dựng mô hình hồi quy và kiểm định sự ảnh hưởng của các nhân tố đến việc vận dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa được sử dụng trong nghiên cứu
- Phương pháp định tính: Được tác giả sử dụng để thống kê, so sánh kết quả
nghiên cứu với các kết quả nghiên cứu liên quan, cũng như đề xuất một số khuyến nghị phù hợp nhằm nâng cao việc vận dụng kế toán quản trị trong các DNNVV tại tỉnh Bình Dương
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa khoa học
- Những kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung và hệ thống hóa những vấn đề mang tính lý luận về các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị trong các DNNVV; đây sẽ là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu những vấn đề tương tự đối với các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị trong các DNNVV
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn nêu lên được thực trạng về việc vận dụng kế toán quản trị trong các DNNVV tại tỉnh Bình Dương, qua phân tích đưa ra những thành công và hạn chế trong việc vận dụng kế toán quản trị trong các DNNVV
Trang 18Đề tài đã xây dựng được thang đo, đã kiểm định sự phù hợp cũng như độ tin cậy của các nhân tố tác động đến sự vận dụng kế toán quản trị trong các DNNVV tại tỉnh Bình Dương, xác định được ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị trong các DNNVV tại tỉnh Bình Dương Từ đó giúp các doanh nghiệp có những chính sách và phương pháp phù hợp để nâng cao việc vận dụng kế toán quản trị
Bên cạnh đó luận văn đã nêu lên được vai trò và tầm quan trọng của việc vận dụng kế toán quản trị trong các DNNVV tại tỉnh Bình Dương với những giải pháp
và kiến nghị cụ thể phù hợp với tình hình thực tế
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phục lục, đề tài có kết cấu bao gồm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kiến nghị và kết luận
Trang 19CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Theo Scarbrough et al (1991) trong nghiên cứu với tiêu đề “Japanese management accounting practices and the effects of assembly and process automation” thì các DN tại Nhật không chú trọng phát triển các phương pháp cải tiến cho việc đánh giá chi phí sản phẩm và đánh giá hàng tồn kho hơn các nước phương Tây Thay vào đó, các chủ công ty nhận thức chú trọng nhiều vào sự nỗ lực cải tiến vào phân tích chi phí cho việc ra quyết định và kiểm soát chi phí thông qua các công cụ kỹ thuật KTQT đơn nhất như chi phí mục tiêu và các công cụ kỹ thuật TQC, TPM, JIT, VE và ROS Qua điều tra cho thấy việc phát triển công cụ kỹ thuật trong các mảng này dường như rất cần trong khi hội nhập và hỗ trợ cho các hoạt động của hệ thống chiến lược
Vào năm 1996, Bruggeman et al trong nghiên cứu với tựa đề “Management accounting changes: the Belgium experience, in Bhimani, A.(ed.).” đã tiến hành điều tra việc vận dụng KTQT tại các DN Bỉ và phát hiện ra rằng các công cụ kỹ thuật truyền thống của KTQT vẫn được các nhà quản trị tin cậy sử dụng nhưng đồng thời các DN cũng chọn lựa sử dụng các công cụ kỹ thuật quản trị mới như ABC (activity-basedcosting) Mục tiêu nghiên cứu chỉ ra rằng, các doanh nghiệp tại
Bỉ luôn có sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong công tác KTQT, và việc
áp dụng các kỹ thuật mới trong lĩnh vực này là rất cần thiết Phương pháp nghiên cứu được áp dụng chủ yếu trong đề tài này là thống kê mô tả
Pierce và O‘Dea (1998) khi tiến hành nghiên cứu vận dụng KTQT tại các
DN Ailen trong đề tài “Management accounting practices in Ireland – The preparers’ perspective” đã đưa ra kết luận rằng các nhà quản trị doanh nghiệp tin tưởng rằng các công cụ kỹ thuật truyền thống của KTQT như các chỉ tiêu tài chính
về đo lường và đánh giá hiệu quả hoạt động của DN vẫn được lựa chọn và chiếm ưu thế, tuy nhiên việc cập nhật các công cụ kỹ thuật hiện đại của KTQT như ABC, kế
Trang 20toán chi phí mục tiêu (target costing) … ngày càng được phổ biến Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng các công cụ kỹ thuật hiện đại đóng vai trò bổ sung chứ không phải thay thế cho các công cụ kỹ thuật truyền thống
Ở một khía cạnh khác, Bhimani (2002) trong nghiên cứu “Management Accounting and Organizational Excellence” đã nhận thức được sự thành công của
hệ thống KTQT liên quan đến các bối cảnh văn hoá và tác giả nhấn mạnh rằng văn hoá toàn hệ thống và văn hoá đội, nhóm phải tương thích Qua việc nghiên cứu sâu trường hợp cụ thể của tập đoàn Siemens, tác giả đã chỉ ra rằng các nhóm lĩnh hội, hay sự làm việc nhịp nhàng, ăn ý giữa các cá nhân trong tập thể được gắn chặt với
sự phát triển hệ thống KTQT
Theo Laitinen (2003), các nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi của KTQT là do các nhân tố đóng vai trò động cơ thúc đẩy, và được các nhà nghiên cứu liệt kê cụ thể như các nhân tố khuyến khích sự thay đổi (ví dụ như sự cạnh tranh của thị trường, cấu trúc DN, quy mô doanh nghiệp, công nghệ sản xuất sản phẩm); các chất xúc tác cho sự thay đổi (ví dụ như sự yếu kém về chỉ số tài chính, sự sụt giảm về thị phần, sự thay đổi của tổ chức ); các nhân tố làm cho quá trình thay đổi dễ dàng (ví
dụ như nguồn nhân lực kế toán, mức độ về tự trị, yêu cầu về kế toán …) Sự tương tác giữa các nhân tố nói trên khuyến khích sự thay đổi không chỉ lĩnh vực KTQT
mà còn các lĩnh vực khác có liên quan như cấu trúc và chiến lược của DN Sau quá trình nghiên cứu, kết quả thu được đó là Laitinen (2003) đã sắp xếp các nhân tố này thành sáu nhóm khác nhau bao gồm: nhu cầu thông tin, thay đổi về công nghệ và môi trường, sự sẵn sàng thay đổi, nguồn lực để thay đổi, mục tiêu của sự thay đổi và các yêu cầu từ bên ngoài Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng bốn loại hạng mục khác nhau của các nhân tố để giải thích sự thay đổi của KTQT bao gồm: các nhân tố của
DN, các nhân tố tài chính, các nhân tố thúc đẩy và các kỹ thuật quản trị Sự thay đổi
ở môi trường kinh doanh và công nghệ được sử dụng như là các nhân tố khuyến khích trong việc giải thích sự thay đổi của KTQT và sự thay đổi của các nhân tố khác của DN như cấu trúc và chiến lược Mục đích của nghiên cứu chính là xác
Trang 21định các nhân tố tác động đến sự thay đổi của KTQT trong đó sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính là chủ yếu
Trong luận án tiến sỹ với tiêu đề “Management Accounting Practices in
Jordan – A Contingency Approach” nghiên cứu về việc vận dụng KTQT tại Jordan
(Khaled Abed Hutaibat, 2005) tác giả đã kiểm định mô hình các nhân tố tác động đến việc vận dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp bao gồm các nhân tố sau: Quy mô DN (tổng doanh thu hàng năm), Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư ngoại trong
DN, Ngành nghề kinh doanh của DN, Mức độ cạnh tranh thị trường (nội địa & quốc tế) Để xác định các nhân tố trên, tác giả chủ yếu sử dụng nghiên cứu định tính, tuy nhiên để áp dụng mô hình này người dùng cần cân nhắc, cũng như điều chỉnh một vài đặc điểm nhằm phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp, mà tại đó tồn tại
sự khác biệt với Jordan
Nghiên cứu của Abdel-Kader và Luther (2006) với tựa đề “The impact of firm characteristics on management accounting practices: A UK-based empirical analysis” đã chỉ ra đối với các doanh nghiệp sản xuất (DNSX) trong lĩnh vực công nghiệp thức ăn và nước giải khát của Anh Quốc các công cụ kỹ thuật KTQT truyền thống vẫn được các DN quen dùng tiếp tục áp dụng phổ biến, tuy nhiên đồng thời cũng có dấu hiệu cho thấy các công cụ kỹ thuật của KTQT tiên tiến được áp dụng như: các thông tin liên quan đến chi phí chất lượng, các thước đo phi tài chính liên quan đến nhân viên, các phân tích về điểm mạnh – điểm yếu của đối thủ cạnh tranh Theo kết quả nghiên cứu của Abdel -Kader và Luther, R.(2008) ở các DN hoạt động trong ngành công nghiệp thực phẩm, nước uống tại Anh Quốc, bằng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với thống kê mô tả, tác giả xây dựng, kiểm định thành công mô hình gồm các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQT như sau: Nhận thức về sự bất ổn của môi trường, Quy mô DN, Nguồn lực khách hàng, Thiết kế tổ chức phân quyền, Kỹ thuật sản xuất tiên tiến (AMT), Quản trị chất lượng toàn diện (TQM), Quản trị hàng tồn kho Just in Time (JIT) Hạn chế của nghiên cứu này chính là sự khát biệt trong lĩnh vực công nghiệp thức ăn và giải khát nước này với các doanh nghiệp khác, đất nước khác khi muốn áp dụng mô hình này vào các
Trang 22nghiên cứu cụ thể mà đặc điểm ngành nghề, cũng như vị trí địa lý là không tương
tự
Hyvo¨ nen (2007) với đề tài “Strategy, performance measurement techniques and information technology of the firm and their links to organizational performance”khi nghiên cứu về vận dụng KTQT trong các DNSX đã cung cấp các bằng chứng thực tiễn về việc mở rộng chấp nhận vận dụng KTQT trong các DN, sự ghi nhận về những tiện ích khi vận dụng KTQT cũng như những tiềm năng phát triển trong tương lai Các kết quả chỉ ra rằng các thước đo tài chính như phân tích lợi nhuận biên sản phẩm, dự toán, kiểm soát chi phí, … vẫn còn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong tương lai, tuy nhiên đồng thời cũng nhấn mạnh vai trò quan trọng trong tương lai của các công cụ kỹ thuật đo lường phi tài chính như đo lường
sự hài lòng của khách hàng, thái độ của khách hàng, …
Trong nghiên cứu gần đây của Kober et al.(2007) về hệ thống KTQT và mối liên hệ của nó đối với chiến lược, các tác giả đã chỉ ra rằng hệ thống KTQT và chiến lược có mối quan hệ phụ thuộc và tác động qua lại lẫn nhau Kết quả nghiên cứu cho thấy những kiểm soát quản trị tương tác trong hệ thống có thể tác động đến
sự thay đổi chiến lược và từ đó sự thay đổi chiến lược này lại phù hợp với những thay đổi trong DN Các DN phải chấp nhận việc chiến lược thay đổi phù hợp theo những sự tác động từ thay đổi của bên ngoài, mặc dù sự thay đổi chiến lược chịu sự tác động từ những nhóm quản trị cao cấp không đồng nhất về ý kiến, đường lối
Và trong những trường hợp này, những hệ thống KTQT được sử dụng để khắc phục những khó khăn này cũng như hỗ trợ sự thay đổi chiến lược
Tuan Mat (2010) khi tiến hành khảo sát tại các DNSX tại Malaysia đã chỉ ra rằng sự thay đổi về mặt cấu trúc DN cũng như chiến lược DN có tác động đến việc vận dụng KTQT trong DN Hạn chế của nghiên cứu chính là tác giả chỉ đề cập đến cấu trúc vốn và chiến lược DN, trong khi đó vẫn còn khá nhiều các nhân tố khác bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp tác động đến vận dụng KTQT trong đơn vị
Trang 231.2 Các nghiên cứu trong nước
Khi tìm hiểu về các nghiên cứu trong nước có đề cập đến KTQT trong DNNVV thì tác giả nghiên cứu, tập hợp, phân tích và tổng hợp được một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, công trình nghiên cứu và bài báo tiêu biểu có tính chất, nội dung về cơ bản có liên quan đến luận án như sau:
[1] Phạm Văn Dược (1997), “Phương hướng xây dựng nội dung và tổ chức vận dụng KTQT vào các doanh nghiệp Việt Nam”, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh Tế TPHCM Luận án đã góp phần tổng hợp các quan điểm về KTQT, phương hướng xây dựng nội dung KTQT cũng như phương hướng tổ chức vận dụng KTQTDN Từ đó tác giả đề xuất các giải pháp cần có để tổ chức vận dụng KTQT trong các DN Việt Nam Nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp định tính kết hợp thống kê mô tả nên chưa chỉ ra mức độ tác động của các yếu tố đến KTQT của đơn vị
[2] Phạm Châu Thành (2001), “Vận dụng KTQT vào các DN thương mại Việt Nam”, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh Tế TPHCM Luận án đã tổng hợp các lý luận về KTQTcũng như thực trạng công tác KTQT trong các DN thương mại Việt Nam Từ đó tác giả đề xuất các quan điểm cùng những nội dung chủ yếu vận dụng KTQT vào các DN thương mại Việt Nam với các mô hình cụ thể nhằm tạo ra khả năng vận dụng KTQT vào các DN thương mại Việt Nam một cách có hiệu quả
[3] Trần Anh Hoa (2003), “Xác lập nội dung và vận dụng KTQT vào các DN Việt Nam”, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh Tế TPHCM Luận án của tác giả
đã phân tích thực trạng của hệ thống kế toán Việt Nam nhằm chỉ ra những mặt hạn chế về cơ cấu tổ chức hệ thống Bên cạnh đó tác giả đã hệ thống hóa một số nội dung cơ bản của KTQT phù hợp với yêu cầu và đặc điểm quản lý của DN Việt Nam Từ đó tác giả đưa ra các giải pháp khả thi nhằm vận dụng một cách nhanh chóng và có hiệu quả KTQT vào quản lý các DN Việt Nam
[4] Nghiên cứu “Xây dựng hệ thống kế toán quản trị tại các doanh nghiệp chế biến gỗ ở tỉnh Bình Dương” luận văn thạc sĩ kinh tế của Phan Văn Út (2004)
Trang 24Nội dung chính của luận văn này là tác giả nghiên cứu công tác tổ chức hệ thống kế toán quản trị tại các doanh nghiệp chế biến gỗ ở Bình Dương thông qua
mô hình tổ chức bộ máy kế toán và các nội dung kế toán quản trị như hệ thống dự toán, hệ thống kiểm tra đánh giá, các quyết định kinh doanh, hệ thống chứng từ tài khoản, sổ sách, báo cáo kế toán quản trị Dựa vào những phân tích này tác giả xây dựng những nội dung cơ bản của kế toán quản trị trong các doanh nghiệp chế biến
- Xây dựng hệ thống ra quyết định kinh doanh
- Xây dựng hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ sách, báo cáo kế toán quản trị [5] Nghiên cứu “Xây dựng mô hình kế toán quản trị vận dụng trong doanh nghiệp sản xuất công nghiệp”đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của PGS TS Phạm Văn Dược, TS Trần Anh Hoa, Th.S Đào Tất Thắng (2006)
Đề tài tập trung giải quyết 3 vấn đề:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về kế toán quản trị vận dụng cho doanh nghiệp sản xuất công nghiệp Kế toán quản trị chủ yếu cho các nhà quản trị nội bộ doanh nghiệp, đặc biệt là cung cấp thông tin hữu ích từ các thông tin của kế toán cho các chức năng quản trị Việc làm rõ vai trò, chức năng, đối tượng sử dụng thông tin là
cơ sở để định hướng mô hình và nội dung kế toán quản trị được vận dụng
- Khảo sát thực trạng về áp dụng kế toán quản trị tại các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp Thông qua khảo sát tổ chức bộ máy kế toán và nội dung vận dụng
kế toán quản trị trên 50 doanh nghiệp thuộc các loại hình doanh nghiệp như: doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, công ty liên doanh với nước ngoài và công ty 100% vốn nước ngoài, thống kê kết quả cho thấy ngoại trừ các công ty 100% vốn nước ngoài có thực hiện kế toán
Trang 25quản trị một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống, phần lớn các doanh nghiệp còn lại chủ yếu thực hiện công tác kế toán tài chính, chưa quan tâm đến việc tổ chức thu nhận, xử lý, ghi chép và phân tích thông tin cho yêu cầu quản trị doanh nghiệp Việc thực hiện kế toán quản trị tại Việt Nam chỉ bắt đầu sơ khởi, quá trình vận dụng tập trung vào một số nội dung cơ bản như kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành, phân tích báo cáo tài chính
- Nghiên cứu xây dựng mô hình kế toán quản trị vận dụng trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp Để xây dựng mô hình vận dụng đề tài đưa ra các quan điểm chỉ đạo, đó là quan điểm chung, quan điểm thống nhất và kế thừa, quan điểm phân biệt giữa kế toán quản trị với kế toán tài chính và quan điểm tương xứng, phù hợp, đơn giản dễ hiểu Xuất phát từ các quan điểm đề tài xây dựng mô hình ứng dụng, trong đó đặc biệt đi sâu nghiên cứu xây dựng bộ máy kế toán
Đề tài đưa ra 7 nội dung cơ bản của kế toán quản trị có thể ứng dụng được trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp:
- Phân loại chi phí
- Lập dự toán
- Phân tích biến động chi phí
- Phân tích mối quan hệ chi phí –khối lượng –lợi nhuận
- Chi phí sản xuất và tính giá thành của sản phẩm
- Thông tin thích hợp cho việc ra quyết định
- Đánh giá trách nhiệm của quản lý
Đề tài cũng đưa ra một số giải pháp để tổ chức vận dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất công nghiệp:
- Doanh nghiệp cần nhận thức được tầm quan trọng của việc vận dụng kế toán quản trị trong điều hành hoạt động
- Thống nhất chương trình, nội dung đào tạo của kế toán quản trị trong các trường đào tạo về kinh tế
Trang 26- Hoàn thiện cơ chế tổ chức quản lý sản xuất, kinh doanh ở doanh nghiệp
- Tổ chức bộ máy kế toán doanh nghiệp
- Đào tạo bồi dưỡng nhân viên kế toán quản trị
- Xây dựng mô hình ứng xử của chi phí theo kết quả hoạt động kinh doanh
- Tổ chức ứng dụng công nghệ thông tin để phân tích, xử lý kịp thời các thông tin
[6] Nghiên cứu “Vận dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp sản xuất gạch ngói tỉnh Bình Dương” luận văn thạc sĩ kinh tế của Hồ Nam Phương (2012)
Đề tài nghiên cứu kế toán quản trị trong các doanh nghiệp sản xuất gạch ngói tỉnh Bình Dương Để có cơ sở cho việc đánh giá thực trạng công tác kế toán quản trị tại các doanh nghiệp sản xuất gạch ngói, tác giả đã khảo sát trực tiếp 108 doanh nghiệp Thông qua phân tích thực trạng và nghiên cứu tổng quan lý thuyết, tác giả nhận định việc xây dựng mô hình kế toán quản trị cho các doanh nghiệp sản xuất gạch ngói tỉnh Bình Dương sử dụng phương pháp tiếp cận theo quy trình thực hiện
là phù hợp với đặc trưng hoạt động sản xuất của doanh nghiệp Việc tổ chức kế toán quản trị theo mô hình kế toán quản trị với hệ thống quản lý theo “quá trình hoạt động” là hoàn toàn phù hợp với quy mô sản xuất và trình độ quản lý của doanh nghiệp Quy trình vận dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp sản xuất gạch ngói có thể thực hiện theo 9 bước được tác giả đề xuất như sau:
- Bước 1: Xác định mục tiêu của hệ thống kế toán quản trị
- Bước 2: Xác định các trung tâm trách nhiệm tài chính
- Bước 3: Xây dựng hệ thống phân loại trong kế toán quản trị
- Bước 4: Xây dựng hệ thống báo cáo quản trị
- Bước 5: Lựa chọn phương pháp kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm
- Bước 6: Thiết kế hệ thống chứng từ, tài khoản
- Bước 7: Xây dựng hệ thống dự toán
Trang 27- Bước 8: Soạn thảo quy định về thực hiện kế toán quản trị trong doanh nghiệp
- Bước 9: Thực hiện thay đổi cơ cấu tổ chức trong doanh nghiệp
[7] Đoàn Ngọc Quế và Trịnh Hiệp Thiện (2014), “SMA trong môi trường kinh doanh hiện đại, KTQT trong môi trường kinh doanh hiện đại”, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Trường Đại học Kinh Tế TPHCM Bài báo của các tác giả đã tổng hợp lịch sử quá trình phát triển của SMA, khái quát các kỹ thuật của SMA cũng như sự tác động của việc môi trường kinh doanh thay đổi (quá trình toàn cầu hóa, tính linh hoạt của môi trường kinh doanh) tác động đến hệ thống KTQT Đối với trong nước, các tác giả cũng đã bước đầu thống kê hiện trạng tình hình chương trình đào tạo về SMA cũng như đưa ra các kiến nghị, định hướng về đào tạo cũng như vận dụng triển khai SMA vào các DN tại Việt Nam
1.3 Nhận xét
Tại Việt Nam, qua một quá trình nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển KTQT tại Việt Nam, các tác giả đã đề xuất các phương hướng về vận dụng và xây dựng KTQT tại các DN Việt Nam Việc phân tích chi tiết và đưa ra các mô hình KTQT cho mỗi loại hình DN khác nhau về ngành nghề (sản xuất, thương mại), về quy mô (DNNVV, DN lớn) … đã giúp cho việc vận dụng KTQT vào các DN có được hướng đi rõ ràng hơn Tuy nhiên cho đến nay tại Việt Nam vẫn còn thiếu các khảo sát chỉ ra các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQT trong các DNNVV tại Việt Nam theo phương pháp định tính và định lượng, để từ đó có thể đưa ra các giải pháp nhằm gia tăng mức độ khả thi của việc vận dụng KTQT trong các DNNVV
Các công trình nghiên cứu trên thế giới, tác giả nhận thấy các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra được tiến trình và xu hướng phát triển của KTQT từ việc vận dụng vào doanh nghiệp những công cụ kỹ thuật quản trị sơ lược ban đầu cho đến những hệ thống hoạch định phát triển phức tạp ngày nay, những thay đổi của KTQT
để có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của DN và các nguyên nhân dẫn đến
sự thay đổi trong việc vận dụng KTQT vào DN Ngoài ra, mặc dù trước đây chưa
Trang 28nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm đến thực trạng vận dụng KTQT trong các DNNVV, tuy nhiên với sự gia tăng cạnh tranh do quá trình phẳng hóa thế giới mang lại, ngày càng có nhiều các nghiên cứu thực trạng vận dụng KTQT trong các DNNVV ở cả các nước đã và đang phát triển Các khảo sát nghiên cứu không những chỉ ra mức độ vận dụng cũng như các công cụ kỹ thuật được sử dụng trong các DNNVV mà bên cạnh đó, bằng các phương pháp định tính và định lượng, cũng chỉ ra một số nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQT vào DV nói dung và các DNNVV nói riêng
Từ việc xem xét, đánh giá các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài mà tác giả đang nghiên cứu, kết hợp với xu hướng các DN Việt Nam đang ngày càng quan tâm nhiều đến việc vận dụng KTQT nhằm có được những công cụ kỹ thuật quản trị tốt hơn để đối phó với sự cạnh tranh trong xu hướng hội nhập toàn cầu, gia tăng lợi thế cạnh tranh cho DN, tác giả nhận thấy việc vận dụng KTQT cho các DNNVV tại Việt Nam có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần tạo nên sự thành công cho DNNVV tại Việt Nam trong kinh doanh Tuy nhiên vấn đề vướng mắc còn lại ở đây là mặc dù tính cấp thiết cao nhưng hiện nay qua các cuộc khảo sát từ trước đến nay tỷ lệ vận dụng KTQT trong DNNVV lại rất thấp, đặc biệt là đối với DN nhỏ và siêu nhỏ
Hiện nay tại Việt Nam mặc dù đã có những nghiên cứu về việc vận dụng KTQT vào các DNNVV, tuy nhiên chưa có những nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng với độ tin cậy cao, có tính khách quan về các nhân tố tác động đến việc vận dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp nhỏ
và vừa tại tỉnh Bình Dương Thay vào đó, các công trình chỉ mới tập trung vào việc xây dựng định hướng, xây dựng các mô hình vận dụng KTQT cho các loại hình DN khác nhau … trên quan điểm và kinh nghiệm của các tác giả
Trang 29KẾT LUẬN CHƯƠNG I:
Chương này trình bày tổng quan về các nghiên cứu có liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị trong các DNNVV thông qua những nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam, từ đó làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu, đưa ra các giả thuyết nghiên cứu đồng thời giúp cho người đọc nắm được bức tranh toàn cảnh về các công trình nghiên cứu của các tác giả khác đối với các vấn đề có liên quan trực tiếp cũng như gián tiếp đến đề tài mà tác giả thực hiện Ngoài ra, chương này cũng trình bày điểm khác biệt của đề tài với các nghiên cứu trước đây Đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Bình Dương” trong điều kiện hiện nay vẫn còn
là một vấn đề mới, tác giả sẽ kết hợp cả phương pháp nghiên cứu định tính là định lượng để đề tài sát hơn nữa với thực tiễn
Trang 30CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Khái quát chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa
2.1.1 Khái niệm DNNVV
Theo luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ban hành ngày 26/11/2014 thì
“Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản riêng, có trụ sở ổn định được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”
Tại Việt Nam, theo nghị định về trợ giúp phát triển DNNVV số 56/2009/NĐ-
CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 thay thế cho nghị định số 90/2001/NĐ-CP, trong đó điều 3 của nghị định này đã định nghĩa DNNVV như sau: “DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm trong đó tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên” Việc phân loại DNNVV có thể dựa vào các tiêu chuẩn có thể định lượng được (doanh số, nhân công, vốn) cũng như các phân loại khác dựa vào phân tích các đặc điểm liên quan đến DN như vấn
đề sở hữu, chiến lược, mục tiêu của nhà điều hành, cấu trúc tổ chức, quan hệ với thị trường
2.1.2 Tiêu chí xác định DNNVV tại Việt Nam
Theo nghị định 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV thì tiêu chí xác định DNNVV cụ thể như sau:
Trang 31Bảng: Tiêu chí xác định DNNVV tại Việt Nam
Ngành
nghề
DN siêu nhỏ
Số lao động Tổng
nguồn vốn Số lao động
Tổng nguồn vốn Số lao động
I Nông, lâm
nghiệp và
thủy sản
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến
200 người
Từ trên 20 tỷ
đồng đến 100 tỷ đồng
Từ trên 200 người đến
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến 100 tỷ đồng
từ trên 200 người đến
300 người III Thương
mại và dịch
vụ
10 người trở xuống
10 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến 50 người
từ trên 10 tỷ
đồng đến 50 tỷ đồng
từ trên 50 người đến
100 người
(Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP)
Theo nghị định 56/2009/NĐ-CP, ngày 30 tháng 6 năm 2009 thì DNNVV được phân chia dựa theo các tiêu chí: quy mô về vốn, quy mô về số lao động và khu vực kinh tế, trong đó quy mô về nguồn vốn được chú trọng và đây cũng là sự bất hợp lý trong cách phân loại mới này
2.1.3 Đặc điểm của DNNVV tại Việt Nam
Theo tác giả Nguyễn Thị Ngọc Lan (2014) với nghiên cứu “Tổ chức công tác
kế toán quản trị cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn TP HCM”, luận văn thạc sĩ kinh tế, trường đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, thì đặc điểm của DNNVV tại Việt Nam có thể tóm gọn ở một số điểm như sau:
- Tồn tại và phát triển ở hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh tế DNNVV hoạt động trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế: thương mại, dịch vụ,
Trang 32công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp và hoạt động dưới mọi hình thức như: DN nhà nước, DN tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, DN có vốn đầu tư nước ngoài và các cơ sở kinh tế cá thể
- Tính năng động cao DNNVV có tính năng động cao trước những thay đổi của thị trường do các DNNVV có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng mặt hàng nhanh Mặt khác, do DNNVV tồn tại ở mọi thành phần kinh tế, sản phẩm của các DNNVV đa dạng phong phú nhưng số lượng không lớn nên chỉ cần không thích ứng được với nhu cầu của thị trường, với loại hình kinh tế - xã hội này thì nó sẽ dễ dàng hơn các DN có quy mô vốn lớn trong việc chuyển hướng sang loại hình khác cho phù hợp với thị trường
- Chu kỳ sản xuất kinh doanh ngắn DNNVV có vốn đầu tư ban đầu ít nên chu kỳ SXKD của DN thường ngắn dẫn đến khả năng thu hồi vốn nhanh tạo điều kiện cho DN kinh doanh hiệu quả
- Năng lực kinh doanh còn hạn chế do đặc điểm vốn hoạt động nhỏ, thêm vào đó khả năng tiếp cận các nguồn tài chính khác thấp nên các DNNVV thường gặp khó khăn trong việc mở rộng quy mô hoạt động, triển khai các dự án lớn và đầu
tư sản xuất mới Bên cạnh đó, do quy mô vốn nhỏ nên các DNNVV không có điều kiện đầu tư quá nhiều vào việc nâng cấp, đổi mới máy móc, mua sắm thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện đại DNNVV cũng gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm, thâm nhập thị trường và phân phối sản phẩm do thiếu thông tin về thị trường, công tác marketing còn kém hiệu quả Điều đó làm cho các mặt hàng của DNNVV khó tiêu thụ trên thị trường Những điều này đã hạn chế khả năng chiếm lĩnh thị trường, cũng như việc phát triển DN, dẫn đến sức cạnh tranh của các DNNVV thường thấp
- Trình độ lao động và năng lực quản lý còn thấp: Trình độ và tay nghề của người lao động, đội ngũ quản lý trong các DNNVV cũng là một trong các vấn đề bức xúc hiện nay Tình trạng trên là do nguồn vốn hạn hẹp, các DNNVV khó có thể chiêu mộ được lực lượng lao động và quản lý giỏi, có tay nghề Lực lượng lao động chủ yếu là lao động phổ thông, ít được đào tạo tay nghề và thiếu kỹ năng, đồng thời cũng ít được chủ DN quan tâm đào tạo và đào tạo lại nhằm nâng cao tay nghề trong
Trang 33khi chất lượng nguồn lao động có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của DN Bên cạnh đó, kỹ năng của nhà lãnh đạo DN cũng còn hạn chế, số lượng DNNVV có chủ DN, giám đốc giỏi, trình độ chuyên môn cao và năng lực quản lý tốt chưa nhiều
2.1.4 Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế Việt Nam
DNNVV có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, theo tác giả Nguyễn Thị Ngọc Lan với nghiên cứu “Tổ chức công tác kế toán quản trị cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn TP HCM”, luận văn thạc sĩ kinh
tế, trường đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, có thể khái quát một số vai trò
chủ yếu của DNNVV trong nền kinh tế Việt Nam như sau:
- Thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và tăng thu nhập quốc dân Do quy mô nhỏ và vừa nên các DNNVV có thể đặt văn phòng làm việc, nhà xưởng ở khắp mọi nơi trên lãnh thổ, ở cả những nơi cơ sở hạ tầng chưa phát triển nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, phát triển kinh tế địa phương Quy mô hoạt động cũng như trình độ công nghệ của các DN này rất thích hợp với những ngành cần nhiều lao động thủ công như ngành chế biến thủy-hải sản, may mặc, da giày mà đây lại là những ngành đem lại nhiều kim ngạch xuất khẩu cho cả nước Đặc biệt đối với ngành thủ công mỹ nghệ truyền thống, ngành mà việc sử dụng các công nghệ hiện đại và sản xuất hàng loạt là rất khó khăn, thêm vào đó việc phân bổ rải rác ở khắp các vùng nông thôn, thì các DNNVV đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc thu gom, tiêu thụ sản phẩm không chỉ với thị trường trong nước mà còn xuất khẩu ra nước ngoài Bên cạnh đó do lợi thế của mình, các DNNVV rất thích hợp với khu vực kinh doanh-thương mại dịch vụ bán lẻ Trong khi đó các DN lớn khó có thể tổ chức được mạng lưới bán lẻ để tiêu thụ hàng hóa của mình mà phải thông qua mạng lưới bản lẻ của DNNVV Chính vì vậy, các DNNVV đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng kể cả ở những nơi xa xôi, cơ sở hạ tầng thấp kém một cách nhanh chóng thuận tiện, do đó mà rút ngắn khoảng cách về kinh tế giữa các vùng, góp phần làm cho nền kinh tế phát triển một cách đồng đều trên toàn lãnh thổ Thu hút được một lượng vốn nhàn rỗi trong dân, khai thác tận dụng được các tiềm năng thế
Trang 34mạnh của từng vùng, làm vệ tinh cho các DN lớn, DNNVV đã đóng góp một phần không nhỏ và sự tăng trưởng và phát triển kinh tế DNNVV là một lực lượng kinh tế đóng góp đáng kể vào tổng sản lượng quốc nội
- Giải quyết việc làm và thu nhập cho người lao động Các DNNVV thường hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến nông sản, xây dựng và giao thông vận tải lại thường sử dụng công nghệ lạc hậu, nửa
cơ giới, nửa thủ công do vậy khả năng thu hút lao động của các DN này là rất lớn Ở Việt Nam, hiện nay các DNNVV đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thu hút lao động nông nghiệp ở nông thôn trong các làng nghề truyền thống, nhờ đó giảm được lượng lao động ồ ạt đổ lên thành phố trong lúc nông nhàn, hơn thế nữa là giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc từ bao đời của Việt Nam
- Giúp ổn định nền kinh tế ở phần lớn các nền kinh tế, các DNNVV là những nhà thầu phụ cho các DN lớn DNNVV tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng vì các DN này thường chỉ chuyên sản xuất một vài chi tiết được dùng
để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh
- Góp phần làm năng động nền kinh tế trong cơ chế thị trường việc phát triển không ngừng của các DNNVV tạo ra sự cạnh tranh không nhỏ giữa các DN kể cả với các DN lớn trong nền kinh tế Trong một thị trường cạnh tranh, những sản phẩm sản xuất ra phải không ngừng nâng cao chất lượng nếu không muốn bị đào thải Mà DNNVV lại nhạy cảm với sự biến động của thị trường đồng thời có tính linh hoạt trong sản xuất, các sản phẩm sản xuất ra luôn bám sát với yêu cầu của thị trường với chi phí thấp Đây là một thách thức rất lớn với những DN lớn, khiến cho các
DN này khó có thể lũng đoạn thị trường Do đó chính hoạt động kinh doanh của các DNNVV làm cho nền kinh tế trở nên năng động, linh hoạt hơn, lộ trình hội nhập với kinh tế thế giới cũng vì thế được rút ngắn hơn
- Góp phần vào đô thị hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá Sự phát triển của các DNNVV ở nông thôn sẽ thu hút những người lao động chưa có việc làm và có thể thu hút lượng lớn lao động thời vụ vào hoạt động sản xuất kinh doanh, rút dần lao động làm nông nghiệp sang làm công nghiệp hoặc
Trang 35dịch vụ, nhưng vẫn sống tại địa phương, không phải di chuyển đi xa Đồng hành với
nó là hình thành những khu vực khá tập trung các cơ sở công nghiệp và dịch vụ ngay tại nông thôn, hình thành các đô thị nhỏ đan xen giữa những làng quê, thực hiện quá trình đô thị hoá phi tập trung
- Gieo mầm tài năng quản trị kinh doanh
Các DNNVV là nơi đào tạo các nhà DN Kinh doanh quy mô nhỏ sẽ là nơi đào tạo, rèn luyện các nhà DN làm quen với môi trường kinh doanh Bắt đầu từ kinh doanh quy mô nhỏ và thông qua điều hành quản lý kinh doanh quy mô nhỏ và vừa, một số nhà DN sẽ trưởng thành Các tài năng kinh doanh được phát hiện từ đây
Như vậy, DNNVV giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, giải quyết việc làm cho người lao động và góp phần vào việc thực hiện mục tiêu chuyển dịch kinh tế theo hướng công nghiệp hóa
2.2.1 Định nghĩa kế toán quản trị
Kế toán quản trị được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau nhưng tất cả đều thống nhất cùng một ý tưởng là bộ phận kế toán hướng đến cung cấp thông tin phục
vụ cho các nhà quản lý ở doanh nghiệp thực hiện các chức năng quản lý như hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát và ra quyết định quản lý Một số định nghĩa về kế toán quản trị:
- Theo định nghĩa của Viện kế toán quản trị Hoa Kỳ (2002): “Kế toán quản trị là quá trình nhận diện, đo lường, phân tích, diễn giải và truyền đạt thông tin trong quá trình thực hiện các mục đích của tổ chức Kế toán quản trị là một bộ phận thống nhất trong quá trình quản lý, và nhân viên kế toán quản trị là những đối tác chiến lược quan trọng trong đội ngũ quản lý của tổ chức”
Khác với kế toán tài chính, kế toán quản trị cung cấp thông tin nhằm thỏa mãn nhu cầu của các nhà quản trị doanh nghiệp, là những người mà các quyết định
và hành động của họ quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp đó Thông tin không đầy đủ, các nhà quản trị sẽ gặp khó khăn trong việc quản lý điều hành Còn nếu thông tin không chính xác, các nhà quản trị sẽ ra quyết định kinh
Trang 36doanh sai lầm, ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thông tin không kịp thời dẫn đến các vấn đề không được giải quyết kịp thời
Năm 2006, Bộ tài chính ban hành thông tư số 53/2006/TT-BTC ngày 12/06/2006 hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp Ngoài việc nhắc lại định nghĩa về kế toán quản trị của Luật kế toán, Thông tư còn chi tiết: “Kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp, như: Chi phí của từng bộ phận (trung tâm chi phí), từng công việc, sản phẩm; Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; quản lý tài sản, vật tư, tiền vốn, công nợ; phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng và lợi nhuận; lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định đầu tư ngắn hạn và dài hạn; lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh;… nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra các quyết định kinh tế Kế toán quản trị là công việc của từng doanh nghiệp, Nhà nước chỉ hướng dẫn các nguyên tắc, cách thức tổ chức
và các nội dung, phương pháp kế toán quản trị chủ yếu tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện” Và “Việc tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị không bắt buộc phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc kế toán và có thể được thực hiện theo những quy định nội bộ của doanh nghiệp nhằm tạo lập hệ thống thông tin quản lý thích hợp theo yêu cầu quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp Doanh nghiệp được toàn quyền quyết định việc vận dụng các chứng từ kế toán, tổ chức hệ thống
sổ kế toán, vận dụng và chi tiết hoá các tài khoản kế toán, thiết kế các mẫu báo cáo
kế toán quản trị cần thiết phục vụ cho kế toán quản trị của đơn vị.”
Ở Việt Nam, Theo Luật số: 88/2015/QH13 do Quốc Hội ban hành ngày 20 tháng 11 năm 2015 về luật kế toán Việt Nam thì kế toán quản trị được định nghĩa
là “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị
kế toán” (Luật kế toán, khoản 3, điều 4)
Tóm lại, từ các định nghĩa trên ta có thể hiểu kế toán quản trị là quá trình thu thập, xử lý và lập các báo cáo nội bộ nhằm cung cấp thông tin phục vụ chủ yếu cho
Trang 37những nhà quản lý bên trong doanh nghiệp, giúp họ đưa ra các quyết định kinh tế và vạch ra kế hoạch cho tương lai phù hợp với chiến lược kinh doanh
2.2.2 Vai trò của kế toán quản trị
Theo tác giả Nguyễn Thị Ngọc Lan (2014) với nghiên cứu “Tổ chức công tác
kế toán quản trị cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn TP HCM”, luận văn thạc sĩ kinh tế, trường đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, thì vi trò của kế toán
quản trị có thể tóm gọn ở một số điểm sau:
Vai trò của kế toán quản trị được thể hiện tương ứng với chức năng của kế toán quản trị và là sự thể hiện, phát huy, kết nối giữa chức năng với đặc điểm kế toán quản trị trong doanh nghiệp
Với vai trò hoạch định, kế toán quản trị cung cấp thông tin tình hình tài chính, tình hình hoạt động của đơn vị, của đối thủ cạnh tranh, điều kiện thị trường, thị hiếu khách hàng và sáng kiến kỹ thuật Thông tin do kế toán quản trị cung cấp rất quan trọng trong việc truyền đạt, hướng dẫn nhà quản trị xây dựng kế hoạch ngắn, kế hoạch dài hạn, chiến lược kinh doanh, cạnh tranh
Với vai trò tổ chức, điều hành, kế toán quản trị cung cấp thông tin cho việc xây dựng và phát triển một cơ cấu nguồn lực kinh tế hợp lý trong doanh nghiệp và những thông tin phát sinh hằng ngày trong doanh nghiệp Thông tin do kế toán quản trị cung cấp phải có tác dụng phản hồi về hiệu quả và chất lượng của các hoạt đông
đã và đang được thực hiện để giúp nhà quản trị có thể kịp thời điều chỉnh và tổ chức lại hoạt động của doanh nghiệp
Với vai trò kiểm soát, kế toán quản trị cung cấp thông tin về tình hình thực
tế, thông tin chênh lệch giữa thực tế với dự toán của từng bộ phận trong doanh nghiệp, giúp cho nhà quản trị kiểm soát được việc thực hiện các chỉ tiêu dự toán và đưa ra biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong tương lai
Với vai trò ra quyết định, kế toán quản trị thu thập, xử lý và cung cấp các thông tin liên quan đến các phương án kinh doanh nhằm giúp cho nhà quản trị lựa chọn phương án tối ưu nhất Đối với các quyết định có tính chiến lược, thông tin do
Trang 38kế toán quản trị cung cấp phải hỗ trợ cho các nhà quản trị xác định các mục tiêu của
tổ chức và đánh giá các mục tiêu đó có thể thực hiện được trên thưc tế hay không Đối với các quyết định tác nghiệp, kế toán quản trị cung cấp những thông tin để giúp nhà quản trị ra quyết định về sử dụng các nguồn lực của tổ chức và giám sát các nguồn lực đó đã và đang được sử dụng như thế nào
Vai trò của kế toán quản trị được thể hiện khác nhau ở mỗi cấp độ quản trị trong tổ chức, trong doanh nghiệp
- Ở cấp độ quản trị cấp cơ sở, kế toán quản trị cung cấp thông tin phục vụ cho nhà quản trị cấp cơ sở điều hành, kiểm soát, cải tiến hoạt động tại bộ phận do
họ quản lý
- Ở cấp độ quản trị cấp trung gian, kế toán quản trị cung cấp thông tin phục
vụ cho nhà quản trị cấp trung gian giám sát, đưa ra quyết định về các nguồn lục như nguyên vật liệu, vốn đầu tư, sản phẩm dịch vụ và khách hàng ở quyền hạn, trách nhiệm của nhà quản trị cấp trung gian
- Ở cấp độ quản trị cấp cao, kế toán quản trị cung cấp thông tin đã được tổng hợp từ các nghiệp vụ, sự kiện đã xảy ra theo từng người điều hành, từng khách hàng
và từng bộ phận phục vụ cho nhà quản trị cấp cao để hỗ trợ cho họ đưa ra các quyết định trong ngắn hạn, dài hạn, chiến lược
2.2.3 Yêu cầu của kế toán quản trị
Thông tin có một vai trò hết sức to lớn trong quản trị Thông tin kế toán quản trị là một trong những nguồn thông tin ban đầu của quá trình ra quyết định và kiểm tra trong tổ chức, có tác dụng giúp nhà quản trị các cấp trong tổ chức có những quyết định tốt hơn, chính xác hơn và hợp lý hơn
Nhà quản trị ở các cấp khác nhau sẽ có những nhu cầu thông tin khác nhau Tùy theo chức năng, nhiệm vụ của từng thành viên trong tổ chức mà kế toán quản trị sẽ thiết kế và cung cấp thông tin phù hợp
Trang 39Để ra quyết định, các nhà quản lý phải tổng hợp và sàng lọc các nguồn thông tin đó Điều này sẽ tạo nên áp lực công việc cho các nhà quản trị và các quyết định đưa ra nhiều khi không còn hiệu quả do không đáp ứng được tính kịp thời
Thông tin cung cấp từ kế toán sẽ giúp các nhà quản trị giảm bớt áp lực công việc và ra các quyết định kịp thời, hiệu quả hơn vì: thông tin kế toán được phản ánh một cách có hệ thống về tình hình tài chính cũng như tình hình hoạt động của công
ty và được kế toán xử lý trước khi báo cáo cho nhà quản lý Kế toán quản trị cung cấp thông tin về mặt tài chính và phi tài chính một cách cụ thể, tỉ mỉ giúp cho các nhà quản trị: lập kế hoạch quản lý, tổ chức thực hiện kế hoạch, điều hành các hoạt động hàng ngày và đưa ra các quyết định đúng đắn để doanh nghiệp hoạt động ngày càng hiệu quả hơn
Theo giáo trình “Kế toán quản trị” (2011, Nhà xuất bản lao động), do PGS.TS Phạm Văn Dược chủ biên, thì kế toán quản trị có một số yêu cầu sau:
- Thích hợp: Thông tin phải phù hợp với mục đích mà nhà quản trị muốn rút
ra từ thông tin
- Đầy đủ: Nhà quản trị phải được cung cấp tất cả các thông tin mà họ cần, để
có thể đưa ra những quyết định đúng, kịp thời
- Chính xác: Thông tin cung cấp cho nhà quản trị phải chính xác
- Rõ ràng: Nội dung thông tin cung cấp phải trình bày và truyền đạt rõ ràng
- Đáng tin cậy: Thông tin cung cấp cho các nhà quản trị phải đảm bảo đáng tin cậy về chất lượng của nội dung thông tin
- Truyền đạt: Thông tin phải được cung cấp đúng và đủ cho người cần sử dụng
- Đúng lúc: Thông tin phải được cung cấp kịp thời
- Chi phí: Thông tin được cung cấp phải có giá trị sử dụng, lợi ích có được từ thông tin phải cao hơn chi phí đã bỏ ra để có thông tin đó
Thông tin kế toán quản trị được thu thập từ hai nguồn:
Trang 40- Nguồn nội bộ: thu được từ sổ sách kế toán, sổ theo dõi sản xuất, bộ phận kế hoạch…
- Nguồn bên ngoài: thu thập thực tế thông qua việc quan sát sự kiện, trực tiếp phỏng vấn hay thông qua các nguồn thông tin đã xử lý như sách báo, báo cáo…
2.2.4 Chức năng thông tin của kế toán quản trị
Chức năng thông tin của kế toán quản trị chủ yếu cung cấp thông tin hữu ích cho các chức năng quản trị ở các cấp độ quản lý
Hàng ngày các nhà quản lý phải ra hàng loạt các quyết định trong việc điều hành các hoạt động của công ty Có nhiều nguồn thông tin cung cấp từ các bộ phận khác nhau trong công ty phục vụ cho quá trình ra quyết định của nhà quản lý Một trong những nguồn thông tin đóng vai trò quan trọng, giúp các nhà quản lý ra các quyết định đúng đắn đó là thông tin kế toán quản trị Theo giáo trình “Kế toán quản trị” (2011, Nhà xuất bản lao động), do PGS.TS Phạm Văn Dược chủ biên thì chức năng của kế toán quản trị đối với hoạt động quản lý được thể hiện như sau:
- Cung cấp thông tin cho quá trình lập kế hoạch: thông tin trong dự toán ngân sách sẽ giúp các nhà quản trị lập kế hoạch và kiểm soát việc thực hiện kế hoạch
- Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức và điều hành hoạt động của công ty: kế toán quản trị sẽ cung cấp thông tin kịp thời về các mặt hoạt động của công ty,
để nhà quản lý xem xét và ra các quyết định đúng đắn trong quá trình tổ chức và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với các mục tiêu đã đề ra
- Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm soát: kế toán quản trị sẽ cung cấp các thông tin về tình hình thực hiện kế hoạch, các hoạt động bất thường … từ đó giúp các nhà quản trị thấy được những vấn đề cần điều chỉnh, thay đổi nhằm hướng hoạt động của tổ chức theo đúng mục tiêu đã đề ra
- Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định: ra quyết định là chức năng
cơ bản nhất của nhà quản trị Ra quyết định chính là lựa chọn phương án thích hợp nhất Để có được quyết định đúng đắn kịp thời phải có thông tin nhanh chóng, phù hợp, chính xác đó chính là thông tin của kế toán quản trị