Những thành tựu giảm nghèo của Việt Nam đạt được từ cácchính sách hỗ trợ, các dự án đầu tư đã mang lại hiệu quả xã hội sâu sắc nhằmtạo sự chuyển biến trong nhận thức về xóa đói giảm nghè
Trang 1Thái Nguyên - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài ‘‘Đánh giá một
số chương trình giảm nghèo trên địa bàn huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ” đều được
thu thập điều tra, khảo sát thực tế một cách trung thực, đánh giá thực trạng củađịa phương nơi nghiên cứu
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện nghiên cứu đã được cảm ơn, các thôngtin tham khảo trong luận văn đều được trích dẫn và chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2015
Học viên
Đặng Bích Chung
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và nghiên cứu tại huyện Cẩm Khê - Tỉnh Phú Thọtôi đã hoàn thành xong luận văn tốt nghiệp của mình Để có được kết quả này,ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ chu đáo, tận tình củanhà trường, các cơ quan, thầy cô, gia đình và bạn bè Tôi xin bày tỏ lòng biết ơnchân thành tới:
Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Phòng Quản lý đàotạo cùng toàn thể các thầy cô đã tận tụy giúp đỡ tôi trong suốt thời gian họctập cũng như thời gian hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Trần Văn Điền đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành
luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của cấp ủy, chính quyền, các ban,ngành nơi tôi nghiên cứu đề tài, đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt thời gianthực tập
Trong thời gian nghiên cứu vì nhiều lý do chủ quan và khách quan cũng nhưhạn chế về mặt thời gian cho nên không tránh khỏi sai sót Tôi rất mong nhận được
sự đóng góp của các thầy cô giáo để đề tài này được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2015
Học viên
Đặng Bích Chung
Trang 4MỤC LỤC
MỞ
ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể .2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đói nghèo và nguyên nhân 3
1.1.1 Quan niệm về đói nghèo .3
1.1.2 Nguyên nhân đói nghèo 9
1.1.3 Các khía cạnh của đói nghèo 12
1.2 Xóa đói, giảm nghèo 15
1.2.1 Một số khái niệm và quan điểm .15
1.2.2 Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo của một số nước trên thế giới 18
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 29
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 29
2.2 Nội dung nghiên cứu .29
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ 29
2.2.2 Đánh giá thực trạng nghèo đói tại huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ 29
2.2.3 Đánh giá một số chương trình giảm nghèo tại huyện Cẩm Khê 29
2.2.4 Quan điểm về kết quả thực hiện một số chương trình giảm nghèo tại huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ 30
Trang 52.3 Phương pháp nghiên
cứu 30
2.3.1 Chọn vùng nghiên cứu 302.3.2 Chọn hộ nghiên cứu 30
Trang 62.3.3 Phương pháp thu thập số liệu
30
2.4 Phương pháp tổng hợp, phân tích, đáng giá và xử lý số liệu 32
2.4.1 Phương pháp thống kê mô tả: Tính toán để mô tả thực trạng đói nghèo và những thuận lợi, khó khăn trong xóa đói giảm nghèo 32
2.4.2 Phương pháp so sánh: .32
Dùng để tìm ra mối liên hệ giữa các hiện tượng, lượng hóa thông qua hệ thống, chỉ tiêu 32
2.4.3 Phương pháp phân tích SWOT: 32
Dùng để phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong công tác xóa đói, giảm nghèo 32
2.4.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: 32
Tham khảo ý kiến chuyên gia để rút ra nhận xét, đánh giá chung về vấn đề nghiên cứu .3
2 2.4.5 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu: 32
Sau khi thu thập được các thông tin tiến hành xử lý và phân tích thông tin tại phần mềm Excel .32
2.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu .32
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ 34
3.1.1 Vị trí địa lý 34
3.1.2 Khí hậu, thuỷ văn 34
3.1.3 Tình hình đất đai 35
3.1.4 Điều kiện kinh tế - xã hội 36
3.2 Đánh giá thực trạng nghèo đói tại huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ 46
Trang 73.2.3 Nguyên nhân đói nghèo của vùng nghiên cứu
Trang 83.3.4 Tính bền vững của kết quả xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện Cẩm Khê
76
3.4 Quan điểm về kết quả thực hiện một số chương trình giảm nghèo tại huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ 78
3.4.1 Những thành công của chương trình giảm nghèo tại huyện Cẩm Khê 78
3.4.2 Những tồn tại, hạn chế 80
3.4.3 Nguyên nhân tồn tại, hạn chế .82
3.4.4 Bảng phân tích SWOT 84
3.5 Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả một số chương trình giảm nghèo tại huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ 86
3.5.1 Giải pháp tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo 86
3.5.2 Giải pháp đẩy mạnh công tác tuyên truyền .88
3.5.3 Giải pháp chú trọng công tác rà soát, bình xét, phân loại xác định hộ nghèo .88
3.5.4 Giải pháp về huy động nguồn vốn 88
3.5.5 Giải pháp về đất đai 89
3.5.6 Giải pháp đào tạo nghề, giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động 90
3.5.7 Giải pháp tập huấn, chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật .90
3.5.8 Giải pháp thực hiện các chính sách bảo trợ xã hội 91
3.5.9 Giải pháp tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ đối với hộ nghèo, người nghèo 91
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93
1 Kết luận 93
2 Kiến nghị 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 9Bộ Lao Động Thương Binh và Xã HộiNgân sách nhà nước
Phát triển bình quân Tiểu thủ công nghiệpXóa đói giảm nghèo
Ủy ban nhân dân
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Giới hạn đói nghèo ở một số nước trên thế giới
6
Bảng 1.2 Kết quả điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo cả nước theo vùng .9
Bảng 2.1 Kết quả lựa chọn nhóm hộ điều tra 31
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai huyện Cẩm Khê năm 2014 35
Bảng 3.2 Thống kê Dân số, Lao động huyện Cẩm Khê năm 2014 37
Bảng 3.3 Một số chỉ tiêu phát triển của huyện Cẩm Khê 45
Bảng 3.4 Thông tin cơ bản về các hộ điều tra 47
Bảng 3.5 Tình trạng nhà ở và một số tiện nghi chính trong gia đình hộ 48
Bảng 3.6 Cơ cấu thu nhập của hộ điều tra 50
Bảng 3.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến đói nghèo của hộ nghiên cứu .53
Bảng 3.8 Kết quả thực hiện chương trình 135 giai đoạn II của huyện Cẩm Khê 59
Bảng 3.9 Kết quả chương trình hỗ trợ về nhà ở cho hộ nghèo 62
Bảng 3.10 Kết quả thực hiện chương trình tín dụng ưu đãi năm 2013 - 2014 65
Bảng 3.11 Kết quả thực hiện xóa đói, giảm nghèo huyện năm 2010-2014 68
Bảng 3.12 Tổng hợp nhu cầu của các hộ gia đình điều tra 71
Bảng 3.13 Ý kiến của người dân về các chương trình giảm nghèo thực hiện tại địa phương (n=70) 73
Bảng 3.14 Ý kiến của cán bộ giảm nghèo về kết quả thực hiện các chương trình giảm nghèo (n=25) .75
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Biểu đồ 3.1 Tình hình sử dụng đất đai huyện Cẩm Khê năm 2014 36Biểu đồ 3.2 Tình trạng nhà ở và một số tiện nghi chính trong gia đình hộ 49Biểu 3.3 Cơ cấu thu nhập của hộ điều tra 51
Biểu đồ 3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến đói nghèo của hộ nghiên cứu
53Biểu 3.5 Kết quả thực hiện chương trình 135 giai đoạn II của huyện Cẩm Khê 59Biểu đồ 3.6 Kết quả thực hiện xóa đói, giảm nghèo huyện năm 2010-2014
69Biểu 3.7 Tổng hợp nhu cầu của các hộ gia đình điều tra 72
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đói nghèo là một vấn đề mang tính toàn cầu, là một thách thức trở ngại lớnđối với sự phát triển của các nước trên thế giới Do điểm xuất phát thấp, hậu quả
do hai cuộc chiến tranh để lại, thiên tai lũ lụt thường xuyên khiến nền kinh tế ViệtNam chậm phát triển, tính cạnh tranh hạn chế Với mục tiêu đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủnghĩa, thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu
“Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” Việc triển khai
thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo là vấn đề bức thiết cho công cuộc đổi mớiđất nước; phát triển bền vững gắn với thực hiện công bằng xã hội đặc biệt là vớinhững vùng nông thôn miền núi, biên giới, hải đảo [10]
Vai trò trong công cuộc đổi mới chính là cơ chế, chính sách phù hợp với thựctiễn, các chương trình xóa đói giảm nghèo giúp đồng bào nông thôn miền núi khókhăn từng bước tiến kịp với miền xuôi góp phần quan trọng trong sự nghiệp pháttriển đất nước Những thành tựu giảm nghèo của Việt Nam đạt được từ cácchính sách hỗ trợ, các dự án đầu tư đã mang lại hiệu quả xã hội sâu sắc nhằmtạo sự chuyển biến trong nhận thức về xóa đói giảm nghèo của nhân dân
Phú Thọ là tỉnh thuộc khu vực miền núi, trung du phía Bắc, nằm trong khuvực giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc, là cầu nốigiao lưu kinh tế - văn hoá - khoa học kỹ thuật giữa các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ vớicác tỉnh miền núi Tây Bắc Mặc dù có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế xã hội, tuynhiên, là tỉnh mới được tái lập có điểm xuất phát thấp, nền kinh tế nhỏ lẻ, chưakhai thác hết tiềm năng thế mạnh, Phú Thọ vẫn là tỉnh nghèo, tỉ lệ hộ nghèo vẫncòn khá cao so với các tỉnh trong khu vực (14,12% năm 2012; 13,8% năm 2013;11,78% năm 2014)
Nằm ở phía Tây bắc của tỉnh Phú Thọ, Cẩm Khê là huyện miền núi có 30 xã
và 01 thị trấn, trong đó 2/3 diện tích tự nhiên là đồi núi Toàn huyện có 15 xã thuộc
Trang 13diện đặc biệt khó khăn (khu vực III), có 9 xã và 35 thôn thuộc diện đặc biệt khókhăn Cuộc sống của đồng bào nơi đây chủ yếu dựa vào nông, lâm nghiệp và nuôitrồng thuỷ sản Do tốc độ phát triển kinh tế chậm nên Cẩm Khê là huyện nghèo củatỉnh Phú Thọ và được thụ hưởng đầu tư từ các chương trình, dự án Để thúcđẩy phát triển kinh tế - xã hội, từng bước tiến kịp với các huyện đồng bằng trên địabàn tỉnh, Cẩm Khê đã chủ động thực hiện các chương trình giảm nghèo bền vữnggiai đoạn 2011 – 2015 trên mọi lĩnh vực của đời sống nhân dân.
Hiểu được tầm quan trọng của công tác xóa đói, giảm nghèo trên địaphương mình, tôi tiến hành nghiên cứu và đi sâu tìm hiểu đói nghèo: về thựctrạng đói nghèo, các chương trình giảm nghèo, những yếu tố tác động tới kết quảthực hiện giảm nghèo từ đó tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả các chương trìnhgiảm nghèo đó, giúp cho người dân thoát nghèo bền vững, công cuộc phát triểnkinh tế địa phương ngày càng khởi sắc Là một cán bộ phát triển nông thôn của
huyện tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: ‘‘Đánh giá một số chương trình giảm nghèo trên địa bàn huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ"
2 Mục têu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá được kết quả một số chương trình giảm nghèo trên địa bàn huyệnCẩm Khê trong thời gian qua, đề xuất được một số giải pháp góp phần nâng caohiệu quả một số chương trình giảm nghèo trên địa bàn huyện Cẩm Khê, tỉnhPhú Thọ thời gian tới
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đói nghèo và nguyên nhân
1.1.1 Quan niệm về đói nghèo
Trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, trong xã hội luôn tồn tại ba bộ phậndân cư, đó là: người giầu, người khá và người nghèo Bộ phận người nghèo phảisống trong cảnh thiếu thốn trong cuộc sống và sinh hoạt hằng ngày Tuy nhiên, tùythuộc vào điều kiện tự nhiên, xã hội, thể chế chính trị và đặc điểm kinh tế, xã hộicủa mỗi quốc gia mà tính chất, mức độ nghèo đói của từng quốc gia có sự khácnhau Nhìn chung mỗi quốc gia đều sử dụng một khái niệm để chỉ mức độ nghèokhổ và đưa ra các chỉ số để xác định mức độ và giới hạn của nghèo khổ Giới hạnnghèo khổ của các quốc gia được xác định bằng mức thu nhập tối thiểu đểngười dân có thể tồn tại được, đó là mức thu nhập mà một hộ gia đình, một cáthể nào đố có thể mua sắm được những vật dụng cơ bản phục vụ cho việc ăn,mặc, ở và các nhu cầu thiết yếu khác theo mức giá hiện hành [10]
Nhiều diễn đàn khu vực và thế giới đã khẳng định, đói nghèo là vấn đề nổicộm của xã hội, đồng thời cũng cảnh báo rằng vấn đề đói nghèo không chỉ ở phạm
vi quốc gia, quốc tế sẽ đưa đến mất ổn định chính trị trong và ngoài nước, sẽ tạo ranhững hậu quả khôn lường; di dân quốc tế ồ ạt, phá huỷ môi trường, tiêu cực xãhội lan rộng, ảnh hưởng chung đến cả nhân loại Vì vậy, nghèo đói không còn làvấn đề riêng của một quốc gia, mà là vấn đề quốc tế [10]
Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãnnhững nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừanhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địaphương
Quan niệm trước đây
Trước đây người ta thường đánh đồng nghèo đói với mức thu nhập thấp.Coi thu nhập là tiêu chí chủ yếu để đánh giá sự nghèo đói của con người Nhưngthực tế đã chứng minh việc xác định đói nghèo theo thu nhập chỉ đo được một
Trang 16không cho chúng ta biết được mức khốn khổ và cơ cực của những người nghèo Do
đó, quan niệm này còn rất nhiều hạn chế [4]
Quan điểm hiện nay
Hiện nay do sự phát triển của nền kinh tế thế giới, quan điểm đói nghèo đãđược hiểu rộng hơn, sâu hơn và cũng có thể được hiểu theo các cách tiếp cận khácnhau:
- Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực châu á Thái Bình Dương doESCAP tổ chức tháng 9 năm 1993 tại Băng Cốc - Thái Lan đã đưa ra khái niệm vềđịnh nghĩa đói nghèo: Nghèo đói bao gồm nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối [4]
+ Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và
thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được
xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địaphương
+ Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức trung
bình của cộng đồng
+ Theo khía cạnh kinh tế: Nghèo là do sự thiếu lựa chọn dẫn đến cùng cực
và thiếu năng lực tham gia vào đời sống kinh tế xã hội của quốc gia, chủ yếu làtrong lĩnh vực kinh tế
+ Theo khía cạnh khác: Nghèo là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế xã
hội trong từng giai đoạn lịch sử, trong phạm vi một quốc gia, một khu vực, một vùng
Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có những điều kiện vềcuộc sống như ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục, đi lại, quyền được tham gia vàocác quyết định của cộng đồng Qua các cách tiếp cận giúp chúng ta nâng cao sựhiểu về các nguyên nhân gây ra nghèo đói nhằm có những phương hướng cáchthức hành động đúng đắn để tấn công đẩy lùi nghèo đói, làm cho chất lượng cuộcsống của người dân ngày càng tốt đẹp hơn
1.1.1.1 Quan niệm và chuẩn mực đói nghèo một số nước trên thế giới
Tại hội nghị về chống nghèo đói do uỷ ban kinh tế xã hội khu vực Châu á Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm 1993, các
Trang 18người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội,
phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận"
[4]
Đây là định nghĩa chung nhất về nghèo đói Định nghĩa này tuy không địnhhướng một cách chính xác mức độ nghèo đói, nhưng nó chỉ ra được cái phổbiến của sự đói, đó là những nhu cầu về ăn, ở, đi lại tối thiếu được xã hội thừanhận Theo định nghĩa này thì mức độ đói nghèo ở các nước, khu vực khác nhau làkhác nhau Theo số liệu báo cáo của Ngân hàng thế giới, hiện nay trên thế giới cókhoảng trên 1 tỉ người sống ở mức nghèo khổ, trong đó phần lớn là phụ nữ và trẻ
em Ở mỗi thời kì phát triển của nền kinh tế - xã hội đều phải đưa ra một chuẩnmực riêng đề xác định mức đói nghèo cho phù hợp với sự phát triển và mức thunhập bình quân theo đầu người trong từng giai đoạn khác nhau
Theo khái niệm này không có chuẩn nghèo chung cho mọi quốc gia, chuẩnnghèo cao hay thấp phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia và nó thayđổi theo thời gian và không gian
"Chuẩn nghèo là thước đo để phân biệt ai nghèo, ai không nghèo từ đó cóchính sách biện pháp trợ giúp phù hợp và đúng đối tượng"
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại CopenhagenĐan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo như
sau: "Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để
tồn tại" [4].
Ngoài ra, cũng có quan niệm khác về nghèo đói mang tính kinh điển hơn, triết
lý hơn của chuyên gia hàng đầu Tổ chức Lao động quốc tế (ILO)- ông Abapia Sen,người được giải thưởng Nooben về kinh tế năm 1998, cho rằng “Nghèo đói là sựthiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng” Xét chocùng sự tồn tại của con người nói chung và người giàu, người nghèo nói riêng, cáikhác nhau cơ bản để phân biệt họ chính là cơ hội lựa chọn của mỗi người
Trang 20- Đối với nước đang phát triển là 1 USD - 2USD/ngày.
- Các nước Châu Âu là 4 USD/ngày
- Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày
Thực tế cho thấy rằng có rất nhiều quan điểm khác nhau để xác định ngưỡngđói nghèo trên thế giới như: dựa vào tỉ lệ USD/người, tiêu chuẩn calo/người, dựatheo các chỉ số HDI… Bởi vì ở mỗi nước có những đặc trưng riêng, phong tục tậpquán riêng, trình độ phát triển khác nhau, mức thu nhập bình quân đầu ngườikhông giống nhau Do vậy chuẩn đói nghèo được quy định khác nhau
Theo Ngân hàng thế giới 1993, chuẩn mực để xác định ranh giới giữa ngườigiàu và người nghèo ở các nước đang phát triển và các nước khu vực ASEAN đượcxác định bằng ngưỡng thu nhập bình quân đầu người một năm là 370 - 450 USD,tức khoảng 30 - 35 USD/tháng Nhưng các nước khác nhau có các quan niệm khácnhau để xã định ngưỡng đói nghèo [3]
Bảng 1.1: Giới hạn đói nghèo ở một số nước trên thế giới
STT Tên nước Giới hạn đói nghèo: USD/người/tháng
Nguồn: Ngân hàng ADB năm 2000
Tính theo mức calo tối thiểu trên đầu người, mức chi phí lương thực, thực phẩm, nhu cầu cần thiết khác để duy trì cuộc sống với mức tiêu dùng nhiệt lượng từ
Trang 221.1.1.2 Quan niệm và chuẩn mực về đói nghèo ở Việt Nam
Ở Việt Nam căn cứ vào tình hình phát triển của kinh tế xã hội và mức thunhập của nhân dân đã tách riêng đói và nghèo thành 2 khái niệm riêng biệt
- Nghèo: Là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một
phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mứcsống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện [4]
Hiểu một cách khác: Nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dướingưỡng quy định của sự nghèo Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặcđiểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn pháttriển kinh tế, xã hội của từng địa phương
- Đói: Là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối
thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc sống Đó
là các hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến 3 tháng, thường vay mượncộng đồng và thiếu khả năng chi trả Giá trị đồ dùng trong nhà không đáng kể, nhà
ở dốt nát, con thất học, bình quân thu nhập dưới 13kg gạo/người/tháng(tương đương
45.000VND) [4]
Ở Việt Nam chúng ta, hộ gia đình được xem là thành phần kinh tế tồn tạitrong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế hộ có ý nghĩaquan trọng đảm bảo sự tồn tại và phát triển của hộ và góp phần vào sự pháttriển kinh tế của cả cộng đồng và đất nước Đánh giá, xem xét theo mô hình kinh
tế hộ gia đình được Việt Nam quan tâm đúng mức trong việc thúc đẩy sự pháttriển của nó và đánh giá một cách toàn diện
- Khái niệm hộ đói: Hộ đói là một bộ phận hộ gia đình có mức sống của từng
thành viên dưới mức tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộcsống; hay nói cách khác đó là một bộ phận dân cư thiếu ăn, đứt bữa, thườngxuyên phải vay nợ và thiếu khả năng trả nợ [8]
Trang 24- Chuẩn nghèo áp dụng giai đoạn 2006 - 2010
Căn cứ Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 7 năm 2005 củaThủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng giai đoạn 2006 - 2010như sau:
+ Khu vực nông thôn, miền núi: Những hộ có thu nhập bình quân từ 200.000
đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
+ Khu vực thành thị: Những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000
đồng/người/tháng (3.120.000 đồng/ người/ năm) trở xuống là hộ nghèo
- Chuẩn nghèo áp dụng giai đoạn 2011 - 2015 Theo Quyết định số:
09/2011/QĐ - TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính Phủ [5]:
1 Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống
2 Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống
3 Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng
4 Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000đồng đến 650.000 đồng/người/tháng
- Khái niệm hộ cận nghèo: Là hộ gia đình có mức thu nhập bình quân đầu
người tối đa băng 130% mức thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình so với
hộ nghèo (Khu vực nông thôn từ 401 ngàn đồng đến 520 ngàn đồng/người/tháng;khu vực thành thị từ 501 ngàn đồng đến 650 ngàn đồng/người/tháng), là những
hộ hộ đã thoát nghèo năm trước, hộ tách ra từ hộ thoát nghèo năm trước, những
hộ có dấu hiệu ảnh hưởng đến giảm sút thu nhập trong năm do các nguyên nhânnhư thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh và những hộ có lao động chính mất sức laođộng hoặc bị chết, có người trong hộ ốm đau bệnh nặng kéo dài, gặp rủi ro Bêncạnh xem xét, đánh giá hộ cận nghèo để có những chính sách phù hợp cho đối
Trang 262 Miền núi Đông Bắc 2.470.555 429.579 17,39 220.307 8,92
4 Đồng bằng sông Hồng 5.266.527 257.634 4,89 241.086 4,585
6
Bắc Trung Bộ
Duyên hải miền Trung
2.659.5402.012.488
399.291245.605
15,0112,20
346.803187.514
13,049,32
9 Đồng bằng sông Cửu Long 4.368.676 403.462 9,24 284.456 6,51
Nguồn: Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội năm 2012 [5]
1.1.2 Nguyên nhân đói nghèo
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau xung quanh việc xác định nguyên nhân củađói nghèo Trên thực tế không có một nguyên nhân biệt lập, riêng rẽ dẫn tới đóinghèo, nhất là đói nghèo trên diện rộng, có tính chất xã hội Nó cũng không phải lànguyên nhân thuần túy về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế hoặc do thiêntai địch họa Nguyên nhân của tình trạng đói nghèo có sự đan xen, thâm nhập vàonhau của cái tất yếu lẫn cái ngẫu nhiên, cái cơ bản và cái tức thời, của nguyênnhân sâu xa lẫn nguyên nhân trực tiếp, tự nhiên lẫn xã hội Nó tập trung vào một
số nguyên nhân chủ yếu sau đây:
- Do điều kiện tự nhiên xã hội khác nhau
- Sự khác nhau về của cải (Chênh lệch lớn nhất trong thu nhập là do sự khácnhau về sở hữu tài sản)
- Sự khác nhau về khả năng cá nhân
- Sự khác nhau về giáo dục - đào tạo
Trang 27Tại Việt Nam, cho đến nay đã tổng kết nhận định có các nguyên nhân củađói nghèo như sau:
- Nguyên nhân từ chủ trương chính sách, trước hết là vấn đề thực hiệnquy hoạch vùng còn nhiều hạn chế, manh mún, thiếu đồng bộ; thiếu các cơ chếchính sách trong thu hồi đất, dạy nghề, giải quyết việc làm trong lĩnh vực lao độngnông thôn Lao động chưa qua đào tạo còn cao, tác phong lao động, kỷ luật laođộng kém, năng suất lao động thấp là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo
- Về cơ chế quản lý còn nhiều bất cập, dự báo thị trường,trong đó thịtrường sản phẩm nông nghiệp phục vụ nhu cầu trong nước, đặc biệt là xuất khẩucòn nhiều hạn chế ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh Vẫn còn tình trạng giá
cả tăng thì người dân đua nhau sản xuất, giá cả hạ thì người dân phá bỏ Các dịch
vụ phục vụ sản xuất Nông, Lâm, Ngư nghiệp còn nhiều hạn chế, tính cạnh canh củasản phẩm nông nghiệp nước ta còn thấp so với sản phẩm cùng loại của nhiềunước
- Việc triển khai thực hiện các chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
ở nhiều địa phương còn gặp nhiều khó khăn Cải cách thủ tục hành chính kết quảthấp Điều hành giá cả các mặt hàng thiết yếu chưa linh hoạt ảnh hưởng đếnsản xuất và tiêu dùng của người dân đặc biệt là bộ phận dân cư có thu nhậpthấp dẫn đến nguy cơ nghèo và tái nghèo cao Việc tiếp cận và sử dụng nguồn vốnvay ưu đãi cho hộ nghèo, các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn nhiều khó khăn trongkhi đó việc tháo gỡ của Nhà nước chưa kịp thời [10]
- Cơ cấu trong lĩnh vực Nông, Lâm, Ngư nghiệp chưa thực sự hợp lý Khaithác tận dụng lợi thế từ các nghành chưa thực sự mang lại giá trị so với tiềm năng
* Nguyên nhân xuất phát từ đối tượng nghèo
- Do trình độ dân trí thấp, tỉ lệ hộ nghèo tập trung chủ yếu ở vùng nôngthôn, miền núi; trình độ học vấn thấp, không có trình độ để tiếp thu khoa họcvào sản xuất, tập quán canh tác lạc hậu, năng suất lao động thấp Trình độ, kỹ năng
tổ chức trong hộ gia đình hạn chế, không quản lý và phân công được lao động
Trang 2817trong hộ gia đình Cá biệt có lao động trong hộ gia đình lười lao động, ăn chơi đuađòi, không quan tâm đến học hành cũng như trách nhiệm lao động sản xuất.
Trang 29- Do nhận thức của người dân thấp nên việc tiếp thu các chủ trương chính
sách của Nhà nước có phần hạn chế Tự ti, cam chịu, có biểu hiện “chịu khổ mà không chịu khó” Thà khổ chứ không chịu khó làm ăn, tần tảo để kiếm kế sinh nhai
2020 Tư tưởng một bộ phận người dân "muốn được vào hộ nghèo", có thể
nhận thấy đây là biểu hiện không tốt, bên cạnh đó còn một thực tế nữa là: một bộ
phận hộ nghèo và cận nghèo "vui mừng khi được công nhận là hộ nghèo và lo khi phải ra khỏi diện hộ nghèo" Thực trạng này đã làm triệt tiêu động lực sản xuất
trong bộ phận người dân; nên có một số chính sách của Nhà nước cho bộ phận dân
cư này bị phản tác dụng
- Dân số nước ta có mức tăng bình quân mỗi năm hơn 1 triệu người Tỉ lệnam nữ có xu hướng mất cân đối (49,5% nam; 50,5% nữ) Trong khi đó ở nhiềuvùng, địa phương nghèo số gia đình đông con nhiều, tỉ lệ sinh con thứ 3 trở lêncao, thiếu được chăm sóc cả y tế và giáo dục đã ảnh hưởng đến chất lượng dân số
- Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân đầu người thấp và giảmmạnh, hiện chỉ còn 0,11 ha; nếu tính riêng diện tích trồng lúa thì còn thấp hơnnhiều (chỉ còn 0.048 ha) Điều đó cảnh báo rằng: Thứ nhất: Phải khai hoang tậndụng khoảng 340 ha đất chưa được sử dụng; Hai là: Phải bảo vệ quỹ đất nôngnghiệp, nhất là đất trồng lúa để đảm bảo an ninh lương thực
- Dân số đông lại tăng lớn, nguồn lao động vốn đã dồi dào, tạo áp lực cho giảiquyết công ăn việc làm hàng năm Quy mô nền kinh tế thấp, năng suất laođộng thấp (Bình quân lao động chỉ đạt 1959 USD; trong đó nhóm nông, lâm, thủysản là
821 USD, riêng nông nghiệp còn thấp hơn nữa) Lợi thế lao động giá rẻ đang giảmdần, sức mua kém, nguy cơ tăng số hộ nghèo, hộ cận nghèo ở nông thôn và tronglĩnh vực nông nghiệp
Trang 30- Một nguyên nhân nữa là do thiếu vốn sản xuất Vốn là nhân tố quan trọngphục vụ sản xuất và tái sản xuất mở rộng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.Vốn của nông dân chủ yếu đầu tư cho sản xuất nông nghiệp Do thiếu vốn, nên họ
Trang 31gặp khó khăn trong sản xuất và đời sống Mặt khác, việc tiếp cận nguồn vốn gặpnhiều khó khăn, không có khả năng xây dựng dự án, không có tài sản thế chấp vayvốn tín dụng, việc sử dụng đồng vốn tự có hay vốn vay hiệu quả thấp do thiếutrình độ quản lý, sử dụng.
- Tập quán sản xuất lạc hậu cũng là một nguyên nhân dẫn đến đói nghèo Hộnghèo chủ yếu tập trung ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa và miền núi Do vậy
mà còn ảnh hưởng tập quán sản xuất lạc hậu, phụ thuộc vào thiên nhiên; việc ápdụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật còn hạn chế; ý thức lao động và lao động khôngkhoa học còn nhiều, thậm chí một bộ phận lười lao động, cam chịu đóinghèo, không có ý chí vươn lên làm giàu và thoát nghèo
* Một số nguyên nhân khác
- Do rủi ro, mắc tệ nạn xã hội Một số hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn,lại gặp tai nạn rủi ro trong cuộc sống, trong sản xuất kinh doanh Đã khó khăn naylại gặp tai nạn, rủi ro phải chi phí nhiều dẫn đến nghèo đói Một bộ phận khác lạimắc vào các tệ nạn xã hội như nghiện hút, cờ bạc, rượu chè… Vòng luẩn quẩn đókhiến người nghèo nghèo thêm
- Do hậu quả của chiến tranh Chiến tranh đã lùi xa gần 40 năm, nhưng hậuquả mà nó để lại vẫn còn hết sức nặng nề: Cơ sở hạ tầng bị tàn phá, đất đai bị ônhiễm do bom mìn, chất độc hóa học; kinh phí để giải quyết các chính sách cho cácđối tượng chính sách là rất lớn, nguy cơ nghèo và tái nghèo trong bộ phận hộ giađình này là rất cao
1.1.3 Các khía cạnh của đói nghèo
* Về thu nhập
Đa số những người nghèo có cuộc sống rất khó khăn, cực khổ Họ có mứcthu nhập thấp Điều này do tính chất công việc của họ đem lại Người nghèothường làm những công việc đơn giản, lao động chân tay nhiều, công việc cựcnhọc nhưng thu nhập chẳng được là bao Hơn thế nữa, những công việc này lạithường rất bấp bênh, không ổn định, nhiều công việc phụ thuộc vào thời vụ và cótính rủi ro cao do liên quan nhiều đến thời tiết (chẳng hạn như mưa, nắng, lũ lụt,hạn hán, động đất ) Các nghề thuộc về nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp là
Trang 3221những ví dụ cho vấn đề này Do thu nhập thấp nên việc chi tiêu cho cuộc sống củanhững người nghèo là rất
Trang 33hạn chế Hầu hết các nhu cầu cơ bản, tối thiểu của con người như cái ăn, cái mặc,chỗ ở chỉ được đáp ứng với mức độ rất thấp, thậm chí còn không đủ Nhiềungười rơi vào cảnh thiếu ăn liên miên, chưa nói đến vấn đề đủ dinh dưỡng, riêngviệc đáp ứng lượng Kcalo cần thiết, tối thiểu cho con người để có thể duy trì hoạtđộng sống bình thường họ cũng chưa đáp ứng được, hoặc đáp ứng một cách khókhăn Điều này đã kéo theo hàng loạt các vấn đề khác như làm giảm sức khoẻ củangười nghèo, do đó giảm năng suất lao động, từ đó giảm thu nhập cứ như thế,
nó đã tạo nên vòng luẩn quẩn mà người nghèo rất khó thoát ra được [12]
* Y tế - giáo dục
Những người nghèo có nguy cơ mắc phải các bệnh thông thường cao như
ốm đau, các bệnh về đường giao tiếp, tình trạng sức khoẻ không được tốt do ănuống không đảm bảo, lao động cực nhọc Người nghèo thường sống ở nhữngvùng có điều kiện vệ sinh, y tế thấp, còn nhiều hạn chế, chẳng hạn, họ không được
sử dụng nguồn nước sạch, không có công trình phụ hợp vệ sinh, điều này cũng làmgiảm đáng kể sức khoẻ của họ Nó đã dẫn đến tình trạng tỷ lệ chết của trẻ sơ sinhtrong nhóm hộ nghèo, số trẻ bị suy dinh dưỡng và số bà mẹ mang thai thiếu máurất cao Có điều này là do người nghèo có thu nhập thấp, không đủ trả khoản tiềnviện phí lớn cũng như các chi phí thuốc men khác, thêm vào đó có thể do đối xửbất bình đẳng trong xã hội, người nghèo không được quan tâm chữa trị bằng ngườigiàu nên tỷ lệ tiếp cận các dịch vụ y tế của người nghèo là rất thấp Bên cạnh đó,
do nhận thức của người nghèo, họ thường không quan tâm lắm bệnh tật củamình, khi bị bệnh họ thường cố tự chạy chữa bằng mọi biện pháp rẻ tiền, chỉđến khi bệnh trở nên trầm trọng họ mới vào viện vì vậy việc điều trị đem lại hiệuquả không cao mà còn tốn thêm nhiều khoản tiền không đáng có [12]
* Nguy cơ dễ bị tổn thương
Ở những người nghèo, nguy cơ dễ bị tổn thương là nhân tố luôn đi kèm với
sự khốn cùng về vật chất và con người Vậy nguy cơ dễ bị tổn thương là gì? Nóchính là nguy cơ mà người nghèo phải đối mặt với nhiều loại rủi ro như bị ngượcđãi, đánh đập, thiên tai, bị thôi việc, phải nghỉ học Nói cách khác, những rủi ro màngười nghèo phải đối mặt do tình trạng nghèo hèn của họ chính là nguyên nhân
Trang 3423khiến họ rất dễ bị tổn thương Những người nghèo do tài sản ít, thu nhập thấp,họ
Trang 35chỉ có thể trang trải hạn chế, tối thiểu các nhu cầu thiết yếu nhất của cuộc sống Vìvậy, khi rủi ro xảy ra họ rất dễ bị tổn thương và rất khó vượt qua được các cú sốc cóhại, những cú sốc mang tính tạm thời mà những người có nhiều tài sản hơn dễdàng vượt qua được Do thu nhập thấp, người nghèo có rất ít khả năng tiếp cận vớicác cơ hội tăng trưởng kinh tế, vì thế họ thường phải bỏ thêm các chi phí khôngđáng có hoặc giảm thu nhập ở các hộ nghèo, khi có rủi ro xảy ra như mất cắp hay
có người bị ốm đau thì họ dễ bị rơi vào tình trạng khủng hoảng, làm đảo lộn cuộcsống của cả gia đình mà một thời gian lâu sau mới có thể phục hồi được Cũng cókhi việc khắc phục những rủi ro trong ngắn hạn có thể làm trầm trọng thêm sựkhốn cùng của họ trong dài hạn Chẳng hạn, ví dụ trên, do thiếu tài sản nên đểchạy chữa cho một người bị ốm, gia đình đã buộc phải quyết định cho một đứacon nghỉ học hay họ phải bán trâu, bò, ngựa những phương tiện lao động cầnthiết của gia đình Cũng có thể người bệnh thì không khỏi được còn gia đình từcảnh khá giả rơi vào cảnh khốn cùng Như vậy, nếu có thêm một vài sự kiệnnghiêm trọng nữa xảy ra thì sự suy sụp đến cùng kiệt là điều khó tránh khỏi vớingười nghèo [12]
Nguy cơ dễ bị tổn thương đã tạo nên một tâm lý chung của người nghèo là
sợ phải đối mặt với rủi ro, vì vậy họ luôn né tránh với những vấn đề mang tính rủi
ro cao, kể cả khi điều đó có thể đem lại nhiều lợi ích cho họ nếu thành công (ví dụđầu tư vào giống lúa mới, áp dụng phương thức sản xuất mới ) chính điều này đãlàm họ sống tách biệt với xã hội bị cô lập dần với guồng quay của thị trường và dovậy cuộc sống của họ càng trở nên bần cùng hơn
* Không có tiếng nói và quyền lực
Những người nghèo thường bị đối xử không công bằng, bị gạt ra ngoài lề xãhội do vậy họ thường không có tiếng nói quyết định trong các công việc chung củacộng đồng cũng như các công việc liên quan đến chính bản thân họ Trong cuộcsống những người nghèo chịu nhiều bất công do sự phân biệt đối xử, chịu sựthô bạo, nhục mạ, họ bị tước đi những quyền mà những người bình thườngkhác nghiễm nhiên được hưởng Người nghèo luôn cảm thấy bị sống phụ
Trang 3625thuộc, luôn nơm nớp lo sợ mọi thứ, trở nên tự ti, không kiểm soát được cuộc sốngcủa mình Đó chính là kết quả mà nguyên nhân không có tiếng nói và quyền lựcđem lại Một
Trang 37người nghèo ở Trà Vinh nói họ chẳng được gọi đi họp vì nhà ở xa, khi nào phải đilao động thì mới được gọi tới Kể cả khi họ tham gia được các cuộc họp của cộngđồng thì họ cũng không thể quyết định được vấn đề gì dù rằng vấn đề đó liên quanđến lợi ích của chính họ [12].
Không có tiếng nói và quyền lực còn thể hiện ở chỗ những người phụ nữ bịđối xử bất bình đẳng trong chính gia đình của họ Người phụ nữ không có quyềnquyết định việc gì và phải phụ thuộc hoàn toàn vào người chồng của họ
1.2 Xóa đói, giảm nghèo
1.2.1 Một số khái niệm và quan
điểm
1.2.1.1 Xóa đói giảm nghèo
Xóa đói giảm nghèo là chương trình tổng thể các biện pháp chính sách củaNhà nước và xã hội hay của chính những đối tượng thuộc diện nghèo đói, nhằmtạo điều kiện để họ tăng thu nhập, thoát khỏi tình trạng thu nhập không đáp ứngđược với những nhu cầu tối thiểu trên cơ sở chuẩn nghèo được quy định theotừng địa phương, khu vực, quốc gia
Xóa đói, giảm nghèo được thể hiện trên một số nội dung sau đây:
- Tạo điều kiện cho người nghèo có điều kiện phát triển sản xuất, tăng thunhập bằng các biện pháp:
+ Cấp tín dụng ưu đãi cho người nghèo, cho vay với lãi suất thấp, giúp họ
có vốn sản xuất để từ đó thoát nghèo
+ Giảm, miễn các loại thuế trong sản xuất nông nghiệp
+ Thực hiện hỗ trợ xây dựng cơ cở hạ tầng về giao thông, thủy lợi, tạo điềukiện cho người dân tham gia sản xuất, nâng cao năng suất lao động
+ Tạo điều kiện cho người dân học hỏi và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất
+ Dựa trên từng cơ sở vùng miền, xác định thế mạnh, có kế hoạch phát triển các nghành nghề, tạo công ăn việc làm cho người dân, tăng thu nhập cho người nghèo
Trang 38- Tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, vệ sinhmôi trường và nước sạch
Trang 39Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng, Nhà nước và là
sự nghiệp của toàn dân Phải huy động nguồn lực của Nhà nước, của xã hội và củangười dân để khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng địa phương, nhất
là sản xuất lâm nghiệp, nông nghiệp để xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xãhội bền vững Cùng với sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng xã hội, sự nỗlực phấn đấu vươn lên thoát nghèo của người nghèo, hộ nghèo là nhân tố quyếtđịnh thành công của công cuộc xóa đói giảm nghèo [7]
Công cuộc giảm nghèo nhanh, bền vững đối với các huyện nghèo là nhiệm
vụ chính trị trọng tâm hàng đầu, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy Đảng,
sự chỉ đạo sâu sát, cụ thể và đồng bộ của các cấp chính quyền, sự phối hợp tích cựccủa Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; đồng thời, phải phát huy vai tròlàm chủ của người dân từ khâu xây dựng kế hoạch, đến tổ chức thực hiện,
Cùng với việc tiếp tục thực hiện các chính sách giảm nghèo chung trong cảnước, Trung ương tập trung huy động các nguồn lực để đầu tư, hỗ trợ giảm nghèonhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo Căn cứ vào tinh thần của Nghị quyếtnày, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chọn thêm một số huyện nghèokhác trên địa bàn, nhất là các huyện có đồng bào dân tộc thiểu số sống tập trung
để huy động nguồn lực của địa phương đầu tư hỗ trợ các huyện này giảm nghèonhanh và phát triển bền vững [7]
1.2.1.2 Giảm nghèo
Giảm nghèo là tổng thể các biện pháp, chính sách của nhà nước và xã hộihay là của chính những đối tượng thuộc diện nghèo, nhằm tạo điều kiện để họ cóthể tăng thu nhập, thoát khỏi tình trạng thu nhập không đáp ứng được nhữngnhu cầu tối thiểu trên cơ sở chuẩn nghèo được quy định theo từng địa phương,khu vực và quốc gia
Nội dung và têu chí đánh giá giảm nghèo:
- Tạo điều kiện cho người nghèo có điều kiện phát triển sản xuất, gia tăng
Trang 40+ Cung cấp tín dụng ưu đãi cho người nghèo
+ Đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người nghèo
+ Thực hiện đầu tư cơ sở hạ tầng
+ Thực hiện các chính sách khuyến nông, khuyến ngư
+ Phát triển các ngành nghề truyền thống phù hợp với địa phương
- Giảm nghèo thông qua các chính sách an sinh xã hội
+ Hỗ trợ dịch vụ y tế
+ Hỗ trợ dịch vụ giáo dục
+ Hỗ trợ hộ nghèo về đất sản xuất, nhà ở, điện, nước sinh hoạt
Các nhân tố ảnh hưởng đến giảm nghèo:
Các nhân tố ảnh hưởng đến giảm nghèo là hết sức đa dạng, vì nghèođói là hậu quả của nhiều nguyên nhân, vì vậy ta có thể chia ra thành nhóm các nhân
tố sau:
- Cơ chế, chính sách và các biện pháp tổ chức thực hiện giảm nghèo:
+ Đường lối chính sách của Đảng và nhà nước
+ Công tác tổ chức thực hiện các chính sách giảm nghèo
- Các nguồn lực thực hiện giảm nghèo: Các yếu tốnguồn lực như đất đai,nguồn vốn, năng lực đội ngũ cán bộ, sự tham gia của các lực lượng giảm nghèo, sự
hỗ trợ từ bên ngoài cũng ảnh hưởng trực tiếp đến công tác giảm nghèo
- Ý thức vươn lên của bản thân người nghèo: Nếu người nghèo lười laođộng, ăn tiêu lãng phí thì cũng khó có thể thoát nghèo Do đó nếu những hộ có ýchí thoát nghèo, nhận thức tốt và chăm chỉ học hỏi kinh nghiệm làm ăn, áp dụngkhoa học kỹ thuật vào sản xuất, chủ động trong chi tiêu, biết tiết kiệm và tínhtoán thì việc thoát nghèo là không khó
1.2.1.3 Chương trình giảm nghèo
Chương trình giảm nghèo là thổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giảipháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể kinh tế xã hội