1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

du luong thuoc tru sau goc clo tren hai san tai khanh hoa

6 98 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 827,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích của nghiên cứu này nhằm cung cấp những thông tin về dư lượng thuốc trừ sâu gốc Clo trong các loại hải sản đại diện cho 5 loại hình nghề khai thác phổ biến ở Khánh Hòa được khai thác với sản lượng lớn và tiêu thụ nhiều để từ đó có các giải pháp kịp thời nhằm đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng. Hàm lượng thuốc trừ sâu gốc Clo được phân tích bằng phương pháp sắc ký khí đầu dò bắt điện tử GCECD (Gas Chromatography Electron Capture Detector). Kết quả phân tích cho thấy tỷ lệ mẫu nhiễm Heptachlor, Aldrin, Endrin, Dieldrin lần lượt là 65,3%, 61,3%, 60,0% và 48,0%. Hàm lượng thuốc trừ sâu gốc Clo trung bình của 5 loài hải sản xác định được như sau: Heptachlor trong cá ngừ (7,5 μgkg), mực (9,2 μgkg), cá đổng (7,3 μgkg), cá cờ (6,9 μgkg) và cá nục (9,0 μgkg); Aldrin trong cá ngừ (8,3 μgkg), mực (9,5 μgkg), cá đổng (5,2 μgkg), cá cờ (7,3 μgkg) và cá nục (12,9 μgkg); Endrin trong cá ngừ (6,9 μgkg), mực (5,7 μgkg), cá đổng (6,7 μgkg), cá cờ (6,5 μgkg) và cá nục (6,9 μgkg); Dieldrin trong cá ngừ (6,4 μgkg), mực (6,6 μgkg), cá đổng (5,4 μgkg), cá cờ (6,6 μgkg) và cá nục (8,7 μgkg). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hàm lượng Heptachlor, Aldrin, Endrin, Dieldrin trung bình trong các loại hải sản (cá cờ, cá ngừ, cá đổng, cá nục, mực) (P > 0,05).Từ khoá: hải sản, thuốc trừ sâu gốc clo, cảng cá, cá cờ, cá ngừ, cá đổng, cá nục, mực, Khánh Hòa

Trang 1

THÔNG BÁO KHOA HỌC

DƯ LƯỢNG THUỐC TRỪ SÂU GỐC CLO TRÊN HẢI SẢN

TẠI KHÁNH HỊA

ORGANOCHLORINE PESTICIDE RESIDUES IN SEAFOOD

AT KHANH HOA PROVINCE

Nguyễn Thuần Anh 1 , Phan Thị Thanh Hiền1

Ngày nhận bài: 14/7/2015; Ngày phản biện thơng qua: 8/12/2015; Ngày duyệt đăng: 10/3/2017

TĨM TẮT

Mục đích của nghiên cứu này nhằm cung cấp những thơng tin về dư lượng thuốc trừ sâu gốc Clo trong các loại hải sản đại diện cho 5 loại hình nghề khai thác phổ biến ở Khánh Hịa được khai thác với sản lượng lớn và tiêu thụ nhiều để từ đĩ cĩ các giải pháp kịp thời nhằm đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng Hàm lượng thuốc trừ sâu gốc Clo được phân tích bằng phương pháp sắc ký khí đầu dị bắt điện tử GC-ECD (Gas Chromatography - Electron Capture Detector) Kết quả phân tích cho thấy tỷ lệ mẫu nhiễm Heptachlor, Aldrin, Endrin, Dieldrin lần lượt là 65,3%, 61,3%, 60,0% và 48,0% Hàm lượng thuốc trừ sâu gốc Clo trung bình của 5 lồi hải sản xác định được như sau: Heptachlor trong cá ngừ (7,5 µg/kg), mực (9,2 µg/kg), cá đổng (7,3 µg/kg), cá cờ (6,9 µg/kg) và cá nục (9,0 µg/kg); Aldrin trong cá ngừ (8,3 µg/kg), mực (9,5 µg/kg), cá đổng (5,2 µg/kg), cá cờ (7,3 µg/kg) và cá nục (12,9 µg/kg); Endrin trong cá ngừ (6,9 µg/kg), mực (5,7 µg/kg), cá đổng (6,7 µg/kg), cá

cờ (6,5 µg/kg) và cá nục (6,9 µg/kg); Dieldrin trong cá ngừ (6,4 µg/kg), mực (6,6 µg/kg), cá đổng (5,4 µg/kg),

cá cờ (6,6 µg/kg) và cá nục (8,7 µg/kg) Khơng cĩ sự khác biệt cĩ ý nghĩa thống kê giữa hàm lượng Heptachlor, Aldrin, Endrin, Dieldrin trung bình trong các loại hải sản (cá cờ, cá ngừ, cá đổng, cá nục, mực) (P > 0,05).

Từ khố: hải sản, thuốc trừ sâu gốc clo, cảng cá, cá cờ, cá ngừ, cá đổng, cá nục, mực, Khánh Hịa

ABSTRACT

The objective of this study is to analyse organochlorine pesticide residues in seafoods consumed

in Khanh Hoa province, using representative of the 5 popular high-yield fi sheries exploitation types, and also provide timely solutions to ensure the consumers’ health The organochlorine pesticide contents are determined

by GC-ECD (Gas Chromatography - Electron Capture Detector) The results showed that the rates of samples contaminated by Heptachlor, Aldrin, Endrin, Dieldrin were 65.3%, 61.3%, 60.0% and 48.0%, respectively The average organochlorine pesticide concentrations in the fi ve seafood species were: Heptachlor in tuna (7.5 µg/kg), squid (9.2 µg/kg), paradise fi sh (7.3 µg/kg), horsehead fi sh (6,9 µg/kg) and round scad (9,0 µg/kg); Aldrin in tuna (8.3 µg/kg), squid (9.5 µg/kg), paradise fi sh (5.2 µg/kg), horsehead fi sh (7.,3 µg/kg) and round scad (12,9 µg/kg); Endrin in tuna (6.9 µg/kg), squid (5.7 µg/kg), paradise fi sh (6.7 µg/kg), horsehead fi sh (6.5 µg/kg) and round scad (6,9 µg/kg); Dieldrin in tuna (6…4 µg/kg), squid (6.6 µg/kg), paradise fi sh (5.4 µg/kg), horsehead fi sh (6.6 µg/kg) and round scad (8.7 µg/kg) There is no signifi cant difference between the average heptachlor, aldrin, endrin, dieldrin concentrations in seafood (horsehead fi sh, tuna, paradise fi sh, round scad and squid) (P > 0,05).

Key words: seafood, organochlorine pesticides, fi sh port, horsehead fi sh, tuna, paradise fi sh, round scad, squid, Khanh Hoa

1 Khoa Cơng nghệ Thực phẩm - Trường Đại học Nha Trang

Trang 2

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Hải sản là một nguồn thực phẩm giàu dinh

dưỡng nhưng ở nước ta do chưa được kiểm

soát tốt nên hải sản kém chất lượng vẫn được

lưu thông trên thị trường và tiềm ẩn nhiều mối

nguy gây mất an toàn cho sức khỏe người tiêu

dùng Hiện nay, thuốc trừ sâu được sử dụng

khá phổ biến trong nông nghiệp Việc sử dụng

thuốc trừ sâu bừa bãi, không tuân thủ các qui

định trong quá trình trồng trọt làm ảnh hưởng

đến môi trường đất, nước Khi phun thuốc trên

cây trồng, có hơn 50% thuốc bị rơi vãi xuống

đất Ước tính có tới 90% thuốc sử dụng không

tham gia diệt sâu, bệnh mà gây nhiễm độc cho

đất, nước, không khí và nông sản Trong số các

nhóm thuốc trừ sâu thì thuốc trừ sâu gốc Clo có

khả năng tồn lưu rất lâu trong môi trường đất,

nước và khó bị phân hủy hơn các nhóm thuốc

trừ sâu khác Quá trình rửa trôi của các cơn

mưa làm nước bị nhiễm thuốc trừ sâu Thêm

vào đó là hệ thống kênh rạch, sông ngòi, ao hồ

dễ dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước trên

diện rộng Các loài thủy hải sản sống trong môi

trường nước bị ô nhiễm thuốc trừ sâu sẽ có

khả năng bị nhiễm mối nguy này từ môi trường

nước và từ nguồn thức ăn do sự tích lũy sinh

học (Fontcubert và cộng sự, 2008; Meng và

cộng sự, 2009; Moon và cộng sự, 2009)

Thuốc trừ sâu gốc Clo không chỉ phát

hiện được trong nước và thủy sản ở Việt Nam

(Kannan và cộng sự, 1992; Dang và cộng sự,

2001; Hung và Thiemann, 2002; NAFIQAD,

2006; Ngo, 2008; Hsia và Huiyi, 2008) mà

còn ở các nước châu Á khác như Thái Lan,

Campuchia, Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a, Indonesia,

Hồng Kông, Trung Quốc và Nhật Bản (Monirith

và cộng sự, 2000; Cheevaporn và cộng sự,

2005; Yang và cộng sự, 2006; Guo và cộng

sự, 2007; Hsia và Huiyi, 2008) và một số nước

trên thế giới như Thổ Nhĩ Kỳ, Mexico, Úc, Niu

Di-lân, Ma rốc (Kelly, 1994; Stancius và cộng

sự, 2005; Vannoort và Thomson, 2005; Coat

và cộng sự, 2006; Bouchaib và cộng sự, 2007)

Thường xuyên ăn phải những thực phẩm có

thuốc trừ sâu sẽ gây những tác động không tốt

đối với cơ thể Do đó, việc kiểm tra hàm lượng thuốc trừ sâu trong các sản phẩm thủy hải sản được sự quan tâm đặc biệt của rất nhiều tổ chức quốc tế và quốc gia nhằm bảo vệ sức khỏe con người

Khánh Hòa là tỉnh duyên hải Nam - Trung

Bộ có sản lượng đánh bắt và tiêu thụ hải sản lớn, là đầu mối cung cấp hải sản quan trọng cho cả nước Bên cạnh đó, Khánh Hòa còn là vùng chuyên canh nông nghiệp khá lớn ở khu vực Nam - Trung Bộ nên việc sử dụng thuốc trừ sâu khá phổ biến Trong số các loại thuốc trừ sâu thì thuốc trừ sâu gốc Clo hiện nay đang

bị lạm dùng nhiều, rất độc và lại có khả năng tồn lưu lâu trong môi trường Vì vậy, việc khảo sát dư lượng thuốc trừ sâu gốc Clo trong các loài hải sản được khai thác với sản lượng lớn

và được tiêu thụ nhiều là vấn đề mang tính chất thời sự và cấp thiết cao để từ đó có các giải pháp cụ thể giúp bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng

II ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: 5 loại hải sản đại diện cho 5 loại hình nghề khai thác ở Khánh Hòa (sản phẩm nghề chụp: mực, sản phẩm nghề lưới kéo: cá đổng, sản phẩm nghề lưới rê: cá ngừ, sản phẩm nghề lưới vây: cá nục, sản phẩm nghề câu: cá cờ) Đây là các loại hải sản được khai thác với sản lượng lớn và tiêu thụ nhiều tại Khánh Hòa

Mẫu để phân tích thuốc trừ sâu gốc Clo được lấy tại 5 cảng cá (cảng cá Hòn Rớ, cảng

cá Vĩnh Trường, cảng cá Vĩnh Lương, cảng cá

Đá Bạc và cảng cá Đại Lãnh)

Số lượng mẫu của 5 loại hải sản được lấy tại 5 cảng ở 3 đợt trải đều trong năm là 75 mẫu (5 loại*5 cảng* 3 đợt = 75 mẫu) Việc lấy mẫu được thực hiện theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5276:1990 và quy định của Bộ Y tế tại Thông tư số 14/2011/TT-BYT ngày 01/4/2011 (Bộ Y tế, 2011) Khối lượng mẫu lấy tại 1 điểm trong 1 lần thu mẫu là 1,5 kg (nếu khối lượng của cá thể lớn hơn 1,5 kg thì lấy toàn bộ

Trang 3

cá thể ấy) Mẫu mang tính đại diện, đảm bảo

tính khách quan, ngẫu nhiên và được bao gói,

ghi ký mã hiệu nhận diện Mẫu được lấy bằng

dụng cụ đã được rửa sạch, sấy khô Mẫu và

nước đá được bỏ vào các túi nilon sạch riêng

biệt và cột chặt miệng rồi bỏ vào thùng cách

nhiệt để duy trì nhiệt độ 0 - 50C Tránh không

cho nước đá tiếp xúc trực tiếp với mẫu Mẫu

nhanh chóng vận chuyển về phòng thí nghiệm

phân tích Việc bảo quản mẫu được thực hiện

ở -800C tại Trung tâm Thí nghiệm - Thực hành,

Trường Đại học Nha Trang

Mẫu được loại nước bằng Na2S04 khan và

dùng hỗn hợp n-hexane:acetone (2:1, v/v) để

ly trích các thuốc trừ sâu gốc Clo ra khỏi mẫu

Thực hiện tách chiết và làm giàu mẫu trên cột

fl orisil Hàm lượng thuốc trừ sâu gốc Clo được

xác định bằng phương pháp sắc ký khí đầu

dò bắt điện tử GC-ECD (Agilent 6890, Mỹ)

(AOAC 2007.01, 2007) với giới hạn phát hiện

(LOD: Limit of Detection) xác định được từ

thực nghiệm là: 2,4 - D methyl ester: 3 µg/kg;

silvex methyl ester: 1 µg/kg; lindan: 0,4 µg/kg;

heptachlor, dieldrin: 0,3 µg/kg; aldrin: 0,6 µg/kg;

γ - chlordan: 4,6 µg/kg; α - chlordan: 3,5 µg/kg; nonachlor: 3,8 µg/kg; pp’ - DDE: 0,8 µg/kg; endrin: 0,4 µg/kg; pp’ - DDT: 0,7 µg/kg; methoxychlor: 2,3 µg/kg Sử dụng chất chuẩn thuốc trừ sâu gốc Clo của Supelco (USA) và hóa chất tinh khiết của Merck (Đức)

Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 16

Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê của các giá trị dư lượng thuốc trừ sâu gốc Clo trung bình trong 5 loại hải sản khai thác được kiểm tra bằng phép phân tích phương sai một yếu tố (one-way ANOVA) ở mức ý nghĩa α = 0,05

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Kết quả phân tích tình hình nhiễm thuốc trừ sâu gốc Clo trên 5 loại hải sản tương ứng với

5 loại hình nghề khai thác tại Khánh Hòa cho thấy tất cả các mẫu phân tích tích đều không phát hiện thấy 2,4 - D methyl ester, silvex methyl ester, lindan, α- chlordan, γ - chlordane, nonachlor, pp’DDE, pp’DDT, methoxychlor nhưng lại phát hiện thấy bị nhiễm heptachlor, aldrin, endrin, dieldrin với tỷ lệ (%) mẫu nhiễm được trình bày ở biểu đồ Hình 1

Hình 1 Tỷ lệ (%) nhiễm heptachlor, aldrin, endrin và dieldrin trong mẫu phân tích 5 loài hải sản

(cá cờ, cá nục, cá ngừ, cá đổng, mực) khai thác tại Khánh Hòa

Trang 4

Kết quả trình bày ở Hình 1 cho thấy tỷ lệ mẫu

hải sản nhiễm thuốc trừ sâu gốc Clo như sau:

65,3% mẫu nhiễm Heptachlor (trong đó 13,3%

mẫu cá ngừ, 14,7% mẫu mực, 13,3% mẫu cá

đổng, 10,7% mẫu cá cờ và 13,3% mẫu cá nục),

61,3% mẫu nhiễm Aldrin (trong đó 12,0% mẫu

cá ngừ, 13,3% mẫu mực, 13,3% mẫu cá đổng,

14,7% mẫu cá cờ và 9,3% mẫu cá nục), 60,0%

mẫu nhiễm Endrin (trong đó 9,3% mẫu cá ngừ,

13,3% mẫu mực, 13,3% mẫu cá đổng, 10,7% mẫu cá cờ và 13,3% mẫu cá nục) và 48% mẫu nhiễm Dieldrin (trong đó 9,3% mẫu cá ngừ, 8,0% mẫu mực, 10,7% mẫu cá đổng, 6,7% mẫu

cá cờ và 13,3% mẫu cá nục)

Hàm lượng Heptachlor, Aldrin, Endrin và Dieldrin trung bình, nhỏ nhất và lớn nhất trong các mẫu phân tích 5 loại hải sản khai thác tại Khánh Hòa được trình bày ở Bảng 1

Bảng 1 Hàm lượng heptachlor, aldrin, endrin và dieldrin trung bình, nhỏ nhất và lớn nhất trong các mẫu phân tích 5 loại hải sản (cá cờ, cá nục, cá ngừ, cá đổng, mực) khai thác tại Khánh Hòa

Heptachlor

Aldrin

Endrin

Dieldrin

Kết quả biểu diễn ở Bảng 1 cho thấy: hàm

lượng Heptachlor trung bình trong cá ngừ

(7,5µg/kg), mực (9,2µg/kg), cá đổng (7,3 µg/kg),

cá cờ (6,9 µg/kg) và cá nục (9,0 µg/kg)); hàm

lượng Aldrin trung bình trong cá ngừ (8,3 µg/kg),

mực (9,5 µg/kg), cá đổng (5,2 µg/kg), cá cờ

(7,3 µg/kg) và cá nục (12,9 µg/kg); hàm lượng

Endrin trung bình trong cá ngừ (6,9 µg/kg),

mực (5,7 µg/kg), cá đổng (6,7 µg/kg), cá cờ

(6,5 µg/kg) và cá nục (6,9 µg/kg); hàm lượng

Dieldrin trung bình trong cá ngừ (6,4 µg/kg),

mực (6,6 µg/kg), cá đổng (5,4 µg/kg), cá cờ

(6,6 µg/kg) và cá nục (8,7 µg/kg)

Việc kiểm tra bằng phép phân tích phương

sai một yếu tố kèm theo phép so sánh luân phiên

từng cặp cho thấy không có sự khác biệt có

ý nghĩa thống kê (P > 0,05) giữa hàm lượng

Heptachlor, Aldrin, Endrin và Dieldrin trung bình

trên các mẫu phân tích 5 loại hải sản (cá ngừ,

cá đổng, cá nục, mực, cá cờ)

Nguyên nhân nhiễm thuốc trừ sâu gốc Clo vào hải sản khai thác tại Khánh Hòa có thể là

do một số loại thuốc trừ sâu gốc Clo có đặc tính hoá học bền, khó phân huỷ nên tích tụ lại trong đất; quá trình rửa trôi làm nguồn nước bị nhiễm thuốc trừ sâu gốc Clo Thêm vào đó là việc lạm dụng thuốc trừ sâu quá nhiều trong nông nghiệp, công tác quản lý, kiểm soát thuốc bảo vệ thực vật còn lỏng lẻo; công tác tuyên truyền, hướng dẫn sử dụng thuốc trừ sâu đúng nguyên tắc vẫn chưa đạt hiệu quả cao

Kết quả phân tích hàm lượng thuốc trừ sâu gốc clo (heptachlor, aldrin, endrin, dieldrin) trung bình trên 5 loại hải sản trong nghiên cứu này được so sánh với các mức giới hạn hàm lượng thuốc trừ sâu gốc Clo được phép có trong thủy sản theo quy định của Cộng đồng chung Châu

Âu và Việt Nam được trình bày ở Bảng 1

Trang 5

Kết quả so sánh ở Bảng 1 cho thấy hàm

lượng thuốc trừ sâu gốc Clo trung bình trong

hải sản khai thác tại Khánh Hòa của nghiên

cứu này thấp hơn giới hạn hàm lượng thuốc

trừ sâu cho phép trong thủy sản của Cộng

đồng Châu Âu (Chỉ thị 96/23/EC) và Việt Nam

(Quyết định số 46/2007/QĐ-BYT) Mặc dù hàm

lượng thuốc trừ sâu Clo trong hải sản xác định

từ nghiên cứu này nằm trong ngưỡng giới hạn

cho phép trong quy định Việt Nam và Châu Âu

nhưng chưa thể nói là an toàn vì còn tùy thuộc

vào lượng và tần suất sử dụng hải sản của

người tiêu dùng Hơn thế nữa, ngoài việc ăn

hải sản thì người tiêu dùng còn ăn các thực

phẩm khác cũng có khả năng chứa mối nguy

thuốc trừ sâu gốc Clo như rau, củ, trái cây

Do vậy, để đánh giá được mức độ an toàn cho

sức khỏe cũng như nguy cơ của người tiêu

dùng đối với mối nguy thuốc trừ sâu Clo do ăn

các thực phẩm ẩn chứa mối nguy này thì cần

tiến hành các nghiên cứu tiếp theo để đánh giá

mức độ tiêu thụ và phơi nhiễm của người tiêu

dùng đối với mối nguy này

IV KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Kết quả của nghiên cứu đã xác định được heptachlor, aldrin, endrin, dieldrin trong các mẫu hải sản đem phân tích với hàm lượng trung bình dao động từ 0,005 ÷ 0,01 mg/kg Việc đánh giá mức độ an toàn đối với sức khỏe

và cảnh báo nguy cơ của người tiêu dùng đối với các mối nguy thuốc trừ sâu gốc Clo trên cần được tiếp tục thực hiện để đưa ra các giải pháp quản lý an toàn thực phẩm hải sản có hiệu quả Tuy nhiên, trong thời điểm hiện tại

để đảm bảo an toàn thực phẩm, phòng tránh cho người tiêu dùng khỏi nguy cơ đối với mối nguy thuốc trừ sâu thì cần kiểm soát chặt chẽ việc chấp hành các quy định trong việc

sử dụng thuốc trừ sâu, đồng thời kết hợp với tuyên truyền việc sử dụng thuốc trừ sâu đúng nguyên tắc

Bảng 2 So sánh kết quả hàm lượng thuốc trừ sâu gốc Clo (heptachlor, aldrin, endrin, dieldrin) trung bình trên 5 loại hải sản đại diện cho 5 loại hình nghề khai thác

trong nghiên cứu này với các quy định liên quan

Thuốc trừ

sâu gốc Clo

Giới hạn cho phép (mg/kg)

của Cộng đồng chung

Châu Âu (Chỉ thị 96/23/EC)

và Việt Nam (Quyết định

số 46/2007/QĐ-BYT)

(Bộ Y tế, 2007)

Hàm lượng trung bình thuốc trừ sâu gốc clo trên 5 hải sản trong nghiên cứu này

(mg/kg)

Heptachlor 0,2 0,008 ± 0,005 0,009 ± 0,004 0,007 ± 0,004 0,007 ± 0,003 0,009 ± 0,005 Aldrin 0,2 0,008 ± 0,005 0,01 ± 0,004 0,005 ± 0,004 0,007 ± 0,003 0,013 ± 0,009 Endrin 0,05 0,007 ± 0,002 0,006 ± 0,002 0,007 ± 0,002 0,007 ± 0,002 0,007 ± 0,002 Dieldrin 0,2 0,006 ± 0,002 0,007 ± 0,003 0,005 ± 0,003 0,007 ± 0,001 0,009 ± 0,003

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1 (Đặng Văn Hợp), Đỗ Minh Phụng, Nguyễn Thuần Anh, Vũ Ngọc Bội, 2007 Phân tích kiểm nghiệm thực phẩm thủy sản NXB Khoa học và Kỹ thuật, 261

2 Bộ Y tế, 2007 Quyết định số 46/2007/QĐ-BYT ngày 19/12/2007 Về việc ban hành “Quy định giới hạn tối đa ô nhiễm sinh học và hóa học trong thực phẩm”, Hà Nội

3 Bộ Y tế, 2011 Thông tư số 14/2011/TT-BYT ngày 01/4/2011 Về việc ban hành “Hướng dẫn chung về mẫu thực phẩm phục vụ thanh tra, kiểm tra chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm”, Hà Nội

4 NAFIQAD (National Agro-forestry and Fisheries Quality Assurance Department), 2006 Báo cáo của NAFIQAD năm 2006 thực hiện nhiệm vụ kiểm soát an toàn thực phẩm

5 Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5276:1990 Thủy sản - lấy mẫu và chuẩn bị mẫu Ủy ban Khoa học Nhà nước

Trang 6

Tiếng Anh

6 AOAC 2007.01, 2007 AOAC Offi cial Method 2007.01- Pesticide Residues in Foods by Acetonitrile Extraction and Partitioning with Magnesium Sulfate

7 Bouchaib B., Mohamed F., Abdellah E.A., Larbi I., Pierre L., 2007 Résidus de pesticides organochlorés chez les bivalves et les poissons de la lagune de Moulay Bousselham (Maroc), ISSN 1813-548X Afrique Science, 3,1, p.146 – 168

8 Cheevaporn V., Duangkaew K., Tangkrock-Olan N., 1994 Environmental Occurrence of Organochlorines in the East Coast of Thailand Journal of Health Science, 2005, 51, 1: 80-88

9 Coat S., Bocquené G., and Godard E., 2006 Contamination of some aquatic species with the organochlorine pesticide chlordecone in Martinique Aquatic Living Resources, 19: 181-187

10 Dang D.N., Carvalho F.B., Nguyen M.A., Nguyen Q.T., Nguyen T.H.Y., Villeneuve J.P., Cattini C., 2001 Chlorinated pesticides and PCBs in sediments and molluscs from freshwater canals in the Hanoi region Environmental Pollution, 112: 311-320

11 European Union (EU), 1996 Council Directive 96/23/EC on measures to monitor certain substances and residues thereof in live animals and animal products

12 Fontcuberta M., Arqués J.F., Villalbí J.R., Martínez M., Centrich F., Serrahima E., Pineda L., Duran J., Casas C.,

2008 Chlorinated organic pesticides in marketed food: Barcelona, 2001–06 Science of the Total Environment 389: 52-57

13 Guo J.Y., Zeng E.Y., Wu F.C., Meng X.Z., Mai B.X., Luo X.J., 2007 Organochlorine pesticides in seafood products from southern China and health risk assessment Journal Environmental Toxicology and Chemistry,

26, 6: 1109-1115

14 Hsia T L., Huiyi S., 2008 Technical Compilation of Heavy Metals, Pesticide Residues, Histamine and Drug Residues in Fish and Fish Products in Southeast Asia Japanese Trust Fund II Project on Research and Analysis

of Chemical Residues and Contamination in Fish and Fish Products 2004 ÷ 2008, 212p

15 Hung D.Q., Thiemann W., 2002 Contamination by selected chlorinated pesticides in surface waters in Hanoi, Vietnam Chemosphere, 47: 357-367

16 Kannan K., Tanabe S., Hoang T.Q., Nguyen D.H., Tatsukawa R., 1992 Residue Pattern and Dietary Intake

of Persistent Organochlorine Compounds in Foodstuffs from Vietnam, J Archives of Environmental and Toxicology, 22: 367-374

17 Kelly A.G., Campbell D Persistent Organochlorine Contaminants in Fish and Shellfi sh from Scottish Waters, Scottish Fisheries Research Report, N.54, ISSN 0308 8022, The Scottish Offi ce Agriculture and Fisheries Department, 28p

18 Meng X.Z., Guo Y., Mai B.X., Zeng E.Y., 2009 Enantiomeric Signatures of Chiral Organochlorine Pesticides in Consumer Fish from South China Journal of Agricultural Food Chemistry, 57: 4299-4304

19 Monirith I., Nakata H., Watanabe M., Takahashi S., Tanabe S., Tana T.S., 2000 Organochlorine contamination

in fi sh and mussels from Cambodia and other Asian countries Water Science and Technology, 42: 241-252

20 Monirith I., Nakata H., Watanabe M., Takahashi S., Tanabe S., Tana T.S., 2000 Organochlorine contamination

in fi sh and mussels from Cambodia and other Asian countries Water Science and Technology, 42: 241-252

21 Moon H.B., Kim H.S., Choi M., Yu J., Choi H.G., 2009 Human health risk of polychlorinated biphenyls and organochlorine pesticides resulting from seafood consumption in South Korea, 2005-2007 Food and Chemical Toxicology 47: 181-1825

22 Stanciu G., Mititelu M., Gutaga S., 2005 Pesticides and Heavy Metals Determination in Marine Organisms from Black Sea, Chemical Bulletin of “POLITEHNICA” University of Timisoara, 50, 64,1-2:123-126

23 Vannoort R.W., Thomson B.M., 2005 New Zealand Total Diet Survey Agricultural Compound Residues, Selected Contaminants and Nutrients, New Zealand Food Safety Authority, New Zealand, ISBN 0-478-29801-3, 144p

24 Yang N., Matsuda M., Kawano M., Wakimoto T., 2006 PCBs and organochlorine pesticides (OCPs) in edible

fi sh and shellfi sh from China Chemosphere, 63, 8:1342-1352

Ngày đăng: 30/12/2018, 10:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w