1. Trang chủ
  2. » Kỹ Năng Mềm

Đánh giá tính bền vững của sự phát triển là một công việc không những yêu cầu nhiều nỗ lực mà còn kinh nghiệm của những người chuyên làm về công tác đánh giá.

8 286 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 911,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá tính bền vững của sự phát triển là một công việc không những yêu cầu nhiều nỗ lực mà còn kinh nghiệm của những người chuyên làm về công tác đánh giá. Đến nay, đã có rất nhiều bộ chỉ sốchỉ thị được đề xuất nhằm đánh giá phát triển bền vững. Thông qua các tài liệu tham khảo, bài viết trình bày một vài phương thứccách tiếp cận (approach) và các chủ đề (themes) trong việc xây dựng bộ chỉ thị nhằm đánh giá tiến trình phát triển ở cấp quốc gia và địa phương. Đánh giá sự phát triển bền vững đòi hỏi tính khách quan, bảo đảm sự tích hợp bắt đầu từ việc tiếp cận, lựa chọn bộ chỉ số và các chỉ thị cũng như thiết kế hệ thống đánh giá đối với tiến trình phát triển

Trang 1

VẤN ĐỀ TRAO ĐỔI

MỘT VÀI TRAO ĐỔI VỀ ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

SOME ISSUES ABOUT ASSESSING SUSTAINABLE DEVELOPMENT

Nguyễn Văn Quỳnh Bơi 1

Ngày nhận bài: 12/10/2016; Ngày phản biện thơng qua: 24/02/2017, Ngày duyệt đăng: 15/6/2017

TĨM TẮT

Đánh giá tính bền vững của sự phát triển là một cơng việc khơng những yêu cầu nhiều nỗ lực mà cịn kinh nghiệm của những người chuyên làm về cơng tác đánh giá Đến nay, đã cĩ rất nhiều bộ chỉ số/chỉ thị được đề xuất nhằm đánh giá phát triển bền vững Thơng qua các tài liệu tham khảo, bài viết trình bày một vài phương thức/cách tiếp cận (approach) và các chủ đề (themes) trong việc xây dựng bộ chỉ thị nhằm đánh giá tiến trình phát triển ở cấp quốc gia và địa phương Đánh giá sự phát triển bền vững địi hỏi tính khách quan, bảo đảm

sự tích hợp bắt đầu từ việc tiếp cận, lựa chọn bộ chỉ số và các chỉ thị cũng như thiết kế hệ thống đánh giá đối với tiến trình phát triển.

Từ khĩa: Đánh giá phát triển bền vững, tiếp cận và lựa chọn các chỉ thị

ABSTRACT

Development sustainability assessement is a task that requires not only efforts but also experience of professionals in the fi eld of assessement Presently, there are many indices/indicators proposed in the the assessment of sustainable development which includes researching literature in the fi eld The paper presents some approaches and themes of indicator setting to assess development process at both national and local levels Development assessement requires objectivity to ensure intergration starting at approaching, selecting indices and indicators as well as designing rating system for development process

Keywords: Sustainable development assesement, Approach and Indicators selection

1 Viện Nuơi trồng thủy sản, Trường Đại học Nha Trang

I MỞ ĐẦU

Ngày nay thuật ngữ “Phát triển bền vững”

đã trở nên quen thuộc với những người làm

cơng tác nghiên cứu khoa học nĩi chung.“Phát

triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng

nhu cầu của thế hệ hiện tại mà khơng làm tổn

hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế

hệ tương lai”.

Đối với Việt Nam, theo Mục 4, Điều 3, Luật

Bảo vệ mơi trường năm 2014, phát triển bền

vững được định nghĩa: “Phát triển bền vững

là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ

hiện tại mà khơng làm tổn hại đến khả năng

đáp ứng nhu cầu đĩ của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hịa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo

vệ mơi trường” [5]

Về mặt tổng thể, phát triển bền vững được thống nhất phải thể hiện sự giao thoa và kết hợp giữa 3 khía cạnh, đĩ là cĩ thể gánh chịu được (bearable) về mặt mơi trường, cơng bằng (equitable) về mặt xã hội và cĩ thể đem lại hiệu quả (viable) về mặt kinh tế Sự kết hợp và giao thoa này thể hiện tính chất bền vững của quá trình phát triển

Trang 2

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 2/2017

Vì lý do này, phát triển bền vững và đánh

giá sự phát triển đã được Chương trình nghị sự

21 (Agenda 21) của Liên hiệp quốc khởi xướng

từ 1992 [14] với sự tham gia của các quốc gia,

tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ Đến

nay đã có nhiều công bố liên quan đến việc đề

xuất và thảo luận các giải pháp nhằm đánh giá

hoặc đo lường tính bền vững trong quá trình

phát triển cả ở cấp địa phương lẫn quốc gia

Thông qua các tài liệu tham khảo, bài viết này

trình bày một số quan điểm về phương thức/

cách tiếp cận (approach), các chủ đề (themes)

và việc xây dựng bộ chỉ thị trong đánh giá quá

trình phát triển ở cấp quốc gia và địa phương

II NỘI DUNG

1 Xây dựng bộ chỉ thị đánh giá phát triển

bền vững

Điểm khác biệt giữa các bộ chỉ thị đánh

giá sự phát triển trước hết là phương pháp

luận và sau đó là việc lựa chọn cũng như cách

tính giá trị chỉ thị Do phát triển bền vững liên

quan đến mọi lĩnh vực xã hội nên bộ chỉ thị

đánh giá thông thường được xây dựng bởi các

nhóm chuyên gia ở các lĩnh vực bao gồm cả

những chuyên gia về đánh giá tiến trình phát

triển Theo định nghĩa của sự phát triển bền

vững, quá trình phát triển đòi hỏi sự đánh giá

kết hợp (integrated assessment) bao gồm cả 3 khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường Theo Hak và cộng sự (2007), việc sử dụng các chỉ thị trong việc đánh giá kết hợp phải giải quyết nhiều thách thức tương tự như những áp dụng khác của chỉ thị; đó là lựa chọn chỉ thị phù hợp, tính sẵn có của dữ liệu, các so sánh giữa những chủ đề riêng biệt và cách thức đo lường, trọng số và số lượng tổng thể các chỉ thị được chọn Để giải quyết vấn đề này, một cách tiếp cận là thông qua các mô hình tính toán để đưa đến giá trị cuối cùng Điều đó cho phép các hệ thống đánh giá tính vừa có tính chặt chẽ vừa có tính linh hoạt [11]

Bản phát thảo ban đầu của Ủy ban phát triển bền vững (CSD) bao gồm 134 chỉ thị giảm dần xuống còn 58 chỉ thị vào năm 2001

và 50 chỉ thị cốt lõi vào năm 2005 sau nhiều lần xem xét [14] Phương pháp luận của các chỉ thị thường xuyên được cập nhật trên “trang mạng” (website) của “Phân ban phát triển bền vững” (Division of Sustainable development

- DSD) của Liên hiệp quốc Tập hợp chỉ thị bao hàm khung chủ đề/chủ đề phụ (thematic/ sub-thematic framework) được thông qua năm

2001 Tuy nhiên, có thể thấy rằng vấn đề này cần phải được rà soát tùy theo tình hình cụ thể đối với mỗi quốc gia, mỗi khu vực

Bảng 1 Các chủ đề của chỉ thị theo Ủy ban phát triển bền vững Liên Hiệp Quốc (CDS)

Nghèo đói Tai biến thiên nhiên (Natural hazards) Phát triển kinh tế

Quản trị (Governance) Khí quyển Quan hệ đối tác kinh tế toàn

cầu

Giáo dục Đại dương, biển và bờ biển Các mô hình tiêu thụ và sản

xuất Nhân khẩu (Demographics) Nước ngọt

Đa dạng sinh học

Nguồn: [14]

Việc tập trung và làm rõ điều cần đo

lường, điều được mong đợi từ việc đo lường

và những loại chỉ thị cần vận dụng được thể

hiện qua các “khung hoạt động” (framework)

mang tính khái niệm đối với những chỉ thị

(United Nations, 2007) Đã có sự phát triển

và áp dụng nhiều “khung hoạt động” khác

nhau mà những khác biệt giữa chúng là các phương thức theo đó những người xây dựng (“khung hoạt động”) đã khái quát hóa các phương hướng chủ yếu của sự phát triển bền vững, những liên hệ qua lại giữa các phương hướng này, và cũng là phương thức mà những người xây dựng tổ hợp các

Trang 3

vấn đề cần được đo lường, và các khái niệm

mà theo đó những người xây dựng biện

minh cho việc lựa chọn và tích hợp các chỉ

thị Theo đó, đã có các “khung hoạt động”

như là “khung hoạt động dựa theo lực dẫn

động – trạng thái – đáp ứng” (Driving

force-state-response frameworks), “khung hoạt

động dựa trên vấn đề (hoặc chủ đề)” (Issue-

or theme-based frameworks), “khung nguồn

lực” (Capital frameworks), “khung kế toán”

(Accounting frameworks); đồng thời với việc

áp dụng chỉ số tích hợp như là dấu chân sinh thái (Ecological Footprint), chỉ số bền vững

về môi trường (Environ mental Sustainability Index - ESI) và chỉ số năng lực môi trường (Environmental Performance Index - EPI), hoặc những tiếp cận chỉ báo khác (nằm ngoài khung hoạt động chính thống) (United Nations, 2007) Một ví dụ khung hoạt động được minh họa dưới đây:

Theo nguyên tắc, mỗi chủ đề bao gồm

bao gồm nhiều chủ đề phụ được thể hiện bởi

các chỉ thị cốt lõi và cả những chỉ thị mở rộng

khác Điều cần lưu ý là bản chất đa chiều và

tính kết hợp của sự phát triển bền vững nên

việc phân nhóm các chủ đề/chủ đề phụ luôn

phải được cân nhắc để đo lường tiến trình

hướng đến phát triển bền vững qua hàng loạt

chủ đề được thể hiện bởi những chỉ số Ví dụ

chủ đề “đại dương, biển và bờ biển” thể hiện

theo 3 chủ đề phụ là “vùng ven bờ, nghề cá

và môi trường biển”, được cụ thể hóa bởi các

chỉ thị cốt lõi là phần trăm dân số sống ở các

khu vực ven bờ đối với chủ đề phụ “vùng ven

bờ”, tỷ lệ trữ lượng cá trong phạm vi giới hạn

an toàn về mặt sinh học đối với chủ đề phụ

“nghề cá” và tỷ lệ diện tích đại dương được

bảo vệ đối với chủ đề phụ “môi trường biển”

Tuy nhiên, chủ đề này hiển nhiên sẽ được thay

đổi (hoặc loại trừ) đối với các quốc gia không

có biển Theo cách tiếp cận như vậy, các chỉ số

như là “Chỉ số hành tinh sống” (Living Planet

Index - LPI), Dấu chân sinh thái (Ecological Footprint - EF), Chỉ số phát triển đô thị (City Development Index - CDI), Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI), Chỉ số bền vững về môi trường (Environmental Sustainability Index - ESI), Chỉ số năng lực môi trường (Environmental Performance Index - EPI), Chỉ số khả năng tổn thương môi trường (Environmental Vulnerability Index - EVI),

“Chỉ số phúc lợi xã hội bền vững” (Index of Sustainable Economic Welfare - ISEW), “Chỉ

số đời sống tốt” (Well Being Index - WI), “Chỉ số lợi nhuận thật” (Genuine Savings Index - GS) hay “Tổng sản phẩm quốc nội thích ứng môi trường” (Environmental Adjusted Domestic Product - EDP),… cũng được lựa chọn áp dụng trong nhiều trường hợp đánh giá thực

tế [9]

Tương tự như Bộ chỉ thị của Hội đồng phát triển bền vững Liên Hiệp Quốc (CSD),

Bộ chỉ số thịnh vượng hay Thước đo độ bền vững BS (Barometer of sustainability hay

Hình 1 Khung hoạt động theo Áp lực – Tình trạng/trạng thái – Đáp ứng

Nguồn: ODEC, 1998; dẫn theo Singh và cộng sự, 2012

Trang 4

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 2/2017

BSI - Barometer of Sustainability Index) do

Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và

Tài nguyên Thiên nhiên (International Union

for Conservation of Nature and Natural

Resources – IUCN) đề xuất năm 1994 nhằm

mục đích so sánh các địa phương, vùng [2]

hoặc quốc gia [7] Thước đo này bao gồm

88 chỉ thị, được kết hợp lại thành 2 nhóm là

những chỉ thị thịnh vượng nhân văn và các

chỉ thỉ phúc lợi sinh thái Chỉ số thịnh vượng

nhân văn bao gồm một tập hợp các đo lường

về sức khoẻ và dân số, sự giàu có, kiến thức

và văn hoá, cộng đồng và sự bình đẳng Chỉ

số phúc lợi sinh thái gồm một tập hợp các

đo lường về đất đai, nguồn nước, không khí,

đa dạng sinh học và việc sử dụng nguồn lợi sinh vật

Tổ hợp các chỉ thị đơn để hình thành chỉ thị tổng hợp thể hiện theo thứ bậc từ trên xuống như sau:

Hình 2 Sơ đồ liên hệ thứ bậc giữa các chỉ thị đơn và chỉ thị tổng hợp

Nguồn: [3]

Bảng 2 Các yếu tố phúc lợi sinh thái và xã hội - nhân văn Phúc lợi sinh thái Tỷ trọng Phúc lợi xã hội – nhân văn Tỷ trọng

Nguồn: [2]

Trong trường hợp hiệu quả tốt nhất, mức

đạt được của mỗi yếu tố là 20 Tác động môi

trường xấu sẽ làm giảm tỷ trọng các tham số

môi trường cho đến 0

2 Thực tiễn áp dụng

Trong việc áp dụng những chỉ thị phát triển

bền vững của Ủy ban phát triển bền vững

(CSD) đối với các quốc gia, có nhiều tiêu chí

để lựa chọn các chỉ thị Gợi ý ban đầu là việc

lựa chọn các chỉ thị được xác định bởi kết quả của tập hợp chỉ thị và mục tiêu bao quát của các chỉ thị (theo CSD) phải thể hiện chính sách

ở cấp quốc gia, phù hợp với chiến lược phát triển bền vững cấp quốc gia Do vậy, cần điều chỉnh các chỉ thị phát triển bền vững của CSD nhằm thích ứng với bối cảnh của quốc gia Việc điều chỉnh này dựa trên cơ sở một ma trận 2 chiều đơn giản với sự có sẵn và tương thích của dữ liệu (Hình 3)

Trang 5

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 2/2017

Một vấn đề cần lưu ý rằng các chỉ thị phát

triển bền vững được xây dựng thông qua tiến

trình tương tác và đối thoại của rất nhiều các

bên liên quan (stakeholder) bao gồm những

đại biểu chính phủ, các chuyên gia kỹ thuật

và những đại diện quần chúng Tiến trình này

cho phép những người tham dự xác định khả

năng bền vững theo quan điểm của mình,

cân nhắc các khía cạnh tương ứng mang tính

địa phương cũng như những hệ thống giá trị

của chính họ [14] Trong thực tế, vấn đề này

thường không dễ dàng do nhận thức về những

khái niệm liên quan đến hệ thống chỉ thị - chỉ

số thường không thống nhất, đặc biệt trong

bối cảnh thiếu các nghiên cứu về thống kê môi trường [4]

Theo Chế Đình Lý (2006), có thể hiểu chỉ thị (indicator) “là một tham số (parameter) hay

“số đo” (metric) hay một giá trị kết xuất từ tham

số, dùng cung cấp thông tin, mô tả tình trạng của một hiện tượng/môi trường/khu vực Nó

là thông tin khoa học về tình trạng và chiều hướng của các thông số liên quan môi trường” Các chỉ thị này kết xuất từ các biến số, dữ liệu trong khi chỉ số (index) là “một tập hợp của các tham số hay chỉ thị được tích hợp hay nhân với trọng số” [4]

Tính tương thích của dữ liệu

Tương thích Chỉ thị liên

quan tương thích

Tương thích nhưng không

có sẵn

Không tương thích

dụng) (phải điều chỉnh) (phải đồng nhất) (phải loại bỏ)

Có sẵn mang tính

tiềm năng (được sử dụng) (phải điều chỉnh) (phải đồng nhất) (phải loại bỏ)

Dữ liệu liên quan

có sẵn (phải điều chỉnh) (phải điều chỉnh) (phải đồng nhất) (phải loại bỏ) Không có sẵn (phải loại bỏ) (phải loại bỏ) (phải loại bỏ) (phải loại bỏ)

Hình 3 Ma trận điều chỉnh các chỉ số phát triển bền vững

Nguồn: [14]

Hình 4 Minh họa các mức thông tin trong hệ thống chỉ thị - chỉ số đánh giá phát triển

Nguồn: Phỏng theo [4]

(1) Dữ liệu thô (các phép đo – Measurements) - (2) Số đo (độ đo – Metric) - (3) Chỉ thị (Indicator) - (4) Chỉ số (Index)

Những trình bày trên đây cho thấy một vấn

đề quan trọng khác trong việc đánh giá tính

tính bền vững của sự phát triển là xây dựng

các chi thị đơn Nguyên tắc xây dựng chỉ thị

đơn (Indicator) cần bảo đảm chỉ thị đơn là một phép đo khách quan và phải được lượng hóa Đồng thời với sự phản ánh bản chất cốt lõi của một thành phần trong hệ thống, việc thu thập

Trang 6

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 2/2017

số liệu để tính toán phải thuận tiện, dễ dàng,

nhanh chóng và ít tốn kém Đối với Việt Nam,

Chiến lược Phát triển bền vững giai đoạn 2011

– 2020 đã xác định các chỉ tiêu tổng hợp bao

gồm GDP xanh (Green GDP), Chỉ số phát

triển con người (HDI – Human Development

Index), Chỉ số bền vững về môi trường (ESI –

Environmental Sustainability Index) [6] Đi kèm

với các chỉ tiêu tổng hợp này là 10 chỉ tiêu về

kinh tế, 10 chỉ tiêu về xã hội và 7 chỉ tiêu về tài

nguyên và môi trường Tuy nhiên, bản chiến

lược đã nêu không trình bày cơ sở để lựa chọn

các chỉ tiêu

Tương tự bộ chỉ số thịnh vượng (BS) ([2];

dẫn theo Nath và Talay, 1998) đã đề xuất chỉ số

bền vững địa phương LSI (Local Sustainability

Index) với 5 chỉ thị có tỷ trọng số khác nhau

bao gồm: I1: Tỷ lệ trẻ vị thành niên không phạm

pháp, tỷ trọng C1=2; I2: Tỷ lệ trẻ sơ sinh không

tử vong, tỷ trọng C2=2; I3: Tỷ lệ số dân được

sử dụng nước sạch, tỷ trọng C3=4; I4: Tỷ lệ số

ngày không bị ô nhiễm không khí trong năm,

tỷ trọng C4=3; I5: Tỷ lệ diện tích đất không bị

ô nhiễm, tỷ trọng C5=1 Có thể thấy rằng chỉ

số LSI lồng ghép được các yếu tố phúc lợi –

kinh tế xã hội và phúc lợi sinh thái và cách tính

đơn giản, tuy nhiên Nguyễn Đình Hòe (2006)

đã chỉ ra nhiều nhược điểm của chỉ số này như

là việc khó thu nhập các chỉ thị I4và I5 đối với

những nước đang phát triển do thường không

có cơ sở dữ liệu về môi trường, đối với những

cộng đồng có mức phát triển cao thì chỉ thị I2

thường rất thấp, chỉ thị I1 có thể không nhạy

cảm đối với một số cộng đồng miền núi thuần

phát,… Trong trường hợp áp dụng thước đo độ

bền vững (BSI), có thể đánh giá mức đáp ứng

(thỏa mãn) về sinh thái và nhân văn Dù vậy,

các phương án phát triển bền vững trong việc

áp dụng thước đo này cần được so sánh trên

cơ sở cân nhắc hiệu quả của từng phương án

về hiệu quả phúc lợi sinh thái và phúc lợi xã

hội – nhân văn [2]

Phùng Khánh Chuyên (2009) khi nghiên

cứu sự phát triển của phường Thọ Quang –

quận Sơn Trà – thành phố Đà Nẵng theo hai

bộ chỉ số BSI và LSI đã cho thấy rằng cả hai

bộ chỉ số đều có thể áp dụng được cho các địa phương Tuy nhiên, chỉ số BSI thể hiện rõ sự chênh lệch giữa hai nhóm phúc lợi sinh thái và phúc lợi nhân văn với mức độ xem xét các thỉ thị như nhau trong khi chỉ số LSI ưu tiên xem xét một vài chỉ thị và không thể hiện được sự chênh lệch giữa 2 nhóm phúc lợi [1]

Bên cạnh việc đánh giá theo đơn vị địa lý, cách tiếp cận theo cộng đồng cũng thường được áp dụng trong các nghiên cứu liên quan đến phát triển Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (United Nations Development Programme – UNDP, 2010) đã đề xuất các chỉ

số đánh giá sự phát triển cộng đồng, ví dụ Chỉ

số phát triển con người (Human Development Index – HDI),… hoặc đánh giá những khía cạnh không thành công của việc phát triển như là Chỉ số nghèo (Human Poverty Index – HPI),… Tuy nhiên, phát triển cộng đồng là vấn đề đa giá trị, phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp đánh giá cũng như cách nhìn nhận của người đánh giá (Nguyễn Đình Hòe, 2006) Bên cạnh đó,

dù đánh giá theo phương thức nào thì những chỉ số trên đây cũng chỉ thiên về các phúc lợi kinh tế và nhân văn mà thiếu những chỉ thị phúc lợi sinh thái Do vậy, Chỉ số tổn thương sinh kế (Livelihood Vulnerability Index - LVI)

đã được đề xuất bởi Hahn và cộng sự (2009) nhằm kết hợp cả 3 khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường trong cách tiếp cận đánh giá theo cộng đồng [10]

Trong khuôn khổ Chương trình Tây Nguyên 3, áp dụng phương pháp chuyên gia (phương pháp Delphi) bao gồm các nhà quản

lý ở trung ương và địa phương, những nhà khoa học hàng đầu nghiên cứu về phát triển bền vững tại Việt Nam, và những chuyên gia đang làm việc cho các tổ chức quốc tế tại Việt

Nam (để mời tham vấn), đề tài “Nghiên cứu

xây dựng bộ chỉ tiêu phát triển bền vững về các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường các tỉnh Tây Nguyên” đã xây dựng bộ chỉ tiêu phát triển

bền vững về các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường các tỉnh Tây Nguyên [8] Bộ chỉ tiêu

Trang 7

gồm 77 chỉ tiêu cho cấp vùng, 70 chỉ tiêu cấp

tỉnh và 49 chỉ tiêu cấp huyện nhằm đánh giá

tổng thể quá trình phát triển bền vững khu vực

Tây Nguyên một cách toàn diện với 13 chủ đề,

phù hợp với thông lệ quốc tế, quốc gia và đặc

thù của các tỉnh Tây Nguyên Lĩnh vực kinh tế

gồm 3 chủ đề: phát triển kinh tế, quan hệ kinh

tế quốc tế, phương thức sản xuất và tiêu dùng

Lĩnh vực xã hội gồm 5 chủ đề: mức sống, quản

trị, sức khoẻ, giáo dục, dân số Lĩnh vực môi

trường gồm 5 chủ đề: thiên tai, khí quyển, đất

đai, tài nguyên nước ngọt, đa dạng sinh học

Gần đây, đã có một sự chuyển dạng quan

trọng của Khung Các mục tiêu phát triển bền

vững (Sustainable Development Goals (SDGs)

framework), là phương thức mà theo đó nó kết

hợp các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường

của sự phát triển bền vững qua những mục

tiêu và mục đích (goals and targets) với các

kết nối qua lại quan trọng [12] Dù vậy, việc tiếp

cận, xây dựng bộ chỉ số và lựa chọn các chỉ thị

cũng như thiết kế hệ thống đánh giá (cho điểm)

đối với quá trình phát triển rất dễ vi phạm tính

khách quan Do đó, để đánh giá đúng quá trình

phát triển, việc bảo đảm tính khách quan, dựa trên khoa học trong việc tiếp cận, lựa chọn bộ chỉ số, các chỉ thị và thiết kế hệ thống đánh giá trở nên cần thiết

3 Nhu cầu nghiên cứu

Đánh giá phát triển bền vững là công tác chuyên biệt đòi hỏi không chỉ nhiều nỗ lực mà còn kinh nghiệm của những người chuyên làm

về công tác đánh giá Yêu cầu là công tác này luôn đòi hỏi tính khách quan trong việc tiếp cận, lựa chọn bộ chỉ số và các chỉ thị cũng như thiết

kế hệ thống đánh giá nhằm phù hợp với điều kiện cụ thể ở mỗi quy mô Thực tế cho thấy

có không nhiều các nghiên cứu đánh giá riêng cho từng ngành, đặc biệt trong điều kiện Việt Nam, do vấn đề phát triển quá đa dạng, đòi hỏi việc đánh giá độ bền vững cho từng ngành, từng lĩnh vực phát triển cần phải được xây dựng với phương pháp luận đặc trưng Theo

đó, đồng thời với những nỗ lực phát triển, cần

có nhiều nghiên cứu về vấn đề đánh giá tính bền vững, nhằm hỗ trợ việc ra quyết định và hạn chế tối đa các tác động bất lợi về cả ba khía cạnh: kinh tế – xã hội – sinh thái

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1 Phùng Khánh Chuyên, 2009 Sử dụng phương pháp kiến tạo chỉ số BSI và LSI đánh giá mức độ bền vững của

sự phát triển ở phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng Tạp chí Khoa học Công nghệ, Số 2(31) Đại học Đà Nẵng

2 Nguyễn Đình Hòe, 2006 Môi trường và phát triển bền vững NXB Giáo dục

3 Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiếu, 2007 Chương 3 - Công cụ tiếp cận hệ thống ứng dụng trong nghiên cứu môi trường và phát triển Tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu môi trường và phát triển (trang 5) NXB Đại học quốc gia Hà Nội

4 Chế Đình Lý, 2006 Hệ thống chỉ thị và chỉ số môi trường để đánh giá và so sánh hiện trạng môi trường giữa các thành phố trên lưu vực sông Science and Technology Development, Enviroment and Resources, Vol.9

5 Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Số: 55/2014/QH13), 2014 Luật Bảo vệ môi trường

6 Quyết định số 432/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai

đoạn 2011 – 2020

Trang 8

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 2/2017

7 Phạm Thị Hồng Vân, 2010 Giới thiệu một số bộ chỉ tiêu đánh giá bền vững Bộ môn Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách – Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (http://ipsard.gov vn/dspr/news/newsdetail.asp?targetID=2497; truy cập 25/8/2016)

8 Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2014 Bộ chỉ tiêu phát triển bền vững các tỉnh Tây Nguyên

về kinh tế, xã hội và môi trường (http://iasvn.org/homepage/Bo-chi-tieu-phat-trien-ben-vung-cac-tinh-Tay-Nguyen-ve-kinh-te,-xa-hoi-va-moi-truong-6145.html; truy cập 3/9/2016)

Tiếng Anh

9 Christoph Böhringer and Patrick Jochem, 2006 Discussion Paper No 06-073 - Measuring the Immeasurable:

A Survey of Sustainability Indices Centre for European Economic Research

10 Micah B Hahn, Anne M Riederer, Stanley O Foster, 2009 The Livelihood Vulnerability Index: A pragmatic approach to assessing risks from climate variability and change-A case study in Mozambique Global Environ Change (in press - doi:10.1016/j.gloenvcha.2008.11.002)

11 Tomas Hak, Bedrich Moldan, Arthur Lyon Dahl, 2007 Sustainability Indicators – A Scientifi c Assessment Island Press

12 IUCN, 2015 IUCN recommendations regarding indicators for sustainable develpment goals

13 Rajesh Kumar Singh, H R Murty, S K Gupta, A K Dikshit, 2012 An overview of sustainability assessment methodologies Ecological Indicators 15, 282

14 United Nations, 2007 Indicators of sustainable development: Guidelines and Methodologies Third Edition

Ngày đăng: 30/12/2018, 10:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm