1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Đề tài TCQT tại sao CSTT của mỹ không ảnh hưởng đến sản lượng của mỹ mà ảnh hưởng đến sản lượng của hongkong

20 115 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 899,42 KB
File đính kèm CSTT của My anh huong đen SL cua HongKong.rar (806 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả của bài nghiên cứu sau đây cho thấy rằng chính sách tiền tệ của Mỹ không có mối quan hệ nhân quả đối với sản lượng Mỹ, tuy nhiên với các quốc gia khác thì diễn biến lại hoàn toàn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

BÀI THUYẾT TRÌNH MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

KHÔNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN SẢN LƯỢNG CỦA MỸ MÀ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SẢN LƯỢNG CỦA HONG KONG

(WHY U.S MONEY DOES NOT CAUSE U.S OUTPUT BUT DOES CAUSE HONG KONG OUTPUT)

Giảng viên hướng dẫn : GS-TS Trần Ngọc Thơ

Sinh viên thực hiện: Nhóm 1 K24_GĐ A307

Trang 2

MỤC LỤC

I Giới thiệu 2

1 Lý do nghiên cứu 2

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Tính mới của đề tài nghiên cứu 3

II Các lý thuyết có liên quan 3

1 Lý thuyết nền tảng 3

2 Các nghiên cứu có liên quan 3

3 Mô hình định lượng trong dài hạn 5

4 Lý do chọn Hong Kong làm quốc gia nghiên cứu 6

III Phương pháp nghiên cứu 7

1 Dữ liệu nghiên cứu 7

2 Mô hình nghiên cứu 7

IV Mô hình ứng dụng tại Việt nam 16

V Kết luận 18

Trang 3

I Giới thiệu

1 Lý do nghiên cứu

Chính sách tiền tệ là chính sách điều hành toàn bộ khối lượng tiền tệ trong nền kinh

tế quốc dân nhằm tác động đền bốn mục tiêu lớn của kinh tế vĩ mô, trên cơ sở đó đạt mục tiêu cơ bản là ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua của đồng tiền, ổn định giá cả hàng hóa Chính sách tiền tệ là công cụ cơ bản điều hành kinh tế vĩ mô của tất cả các quốc gia trên thế giới Hầu hết các nhà kinh tế đều đồng ý quan điểm rằng việc cắt giảm cung tiền sẽ gây sự sụt giảm tổng cầu, và tổng cầu sụt giảm có thể sẽ gây ra sự sụt giảm sản lượng thực, ít nhất là trong ngắn hạn

Mặc dù có sự thống nhất trong quan điểm trên, nhưng những bằng chứng kinh tế học chứng minh điều này còn khá yếu và không thuyết phục Lý do là trên thực tế, Cục

Dữ Trữ Liên Bang (FED) không sẵn sàng thực hiện một cuộc thí nghiệm để kiếm chứng xem liệu sự sụt giảm tác động như thế nào đến sản lượng thực

Kết quả của bài nghiên cứu sau đây cho thấy rằng chính sách tiền tệ của Mỹ không

có mối quan hệ nhân quả đối với sản lượng Mỹ, tuy nhiên với các quốc gia khác thì diễn biến lại hoàn toàn khác Cụ thể là Hong Kong, quốc gia có chính sách neo tỷ giá với đồng Đô la Mỹ Khi thực hiện chính sách neo tỷ giá, chính sách tiền tệ Hong Kong được xem như phụ thuộc vào Mỹ, hay nói cách khác chính sách tiền tệ của nước này được thiết lập ở Washington D.C Và một điều tất yếu rằng những chính sách được đưa ra tại Mỹ không hề có chủ ý sẽ tác động đến sản lượng Hong Kong Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu thực nghiệm trong bài báo cáo của Gabriel Rodrı ́guez và Nicholas Rowe (2007) lại cho thấy bằng chứng về mối quan hệ nhân quả giữa chính sách tiền tệ

Mỹ và sản lượng của Hong Kong Sau đây, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu thông qua việc phân tích và đánh giá kết quả nghiên cứu thực nghiệm của bài báo cáo

2 Mục tiêu nghiên cứu

Kiểm định tác động của chính sách tiền tệ Mỹ đối với sản lượng đầu ra của Mỹ và sản lượng đầu ra của Hong Kong Từ đó giải thích mối quan hệ nhân quả giữa chính sách tiền tệ của Mỹ và sản lượng thực của các quốc gia có chính sách neo tỷ giá với đồng dollar Mỹ, đơn cử là Hong Kong

3 Tính mới của đề tài

Trang 4

Trên thực tế, không có chính phủ quốc gia nào mạo hiểm tăng hoặc giảm cung tiền để kiểm định mức độ tác động của nó đến sản lượng nền kinh tế

Mặc dù có nhiều nghiên cứu, tuy nhiên bằng chứng kinh tế lượng hỗ trợ là rất yếu hoặc không thuyết phục

Tác giả bài báo cáo đã thực hiện một cuộc kiểm tra thực nghiệm nhằm kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa chính sách tiền tệ và sản lượng thực thông qua số liệu của Hong Kong

II Lý thuyết nền tảng và các nghiên cứu liên quan

1 Lý thuyết nền tảng

Như lập luận của Christiano và cộng sự (1999), ngay cả khi các các nghiên cứu trước chưa đồng nhất về một tập hợp các giả định cho việc xác định những tác động của cú sốc ngoại sinh từ chính sách tiền tệ, có sự tán thành đáng kể về ảnh hưởng định tính của một cú sốc chính sách tiền tệ trong sự nhận thức rằng suy luận là chặt chẽ trên một tập hợp lớn các mô hình đã được xem xét trong các nghiên cứu trước Sự bất đồng chỉ đến từ hai trường phái phổ biến của kinh tế vĩ mô

Trường phái kinh tế vĩ mô Keynes lập luận rằng cung tiền không ảnh hưởng đến tổng cầu, và do đó sẽ không ảnh hưởng đến sản lượng thực

Một số nhà kinh tế học vĩ mô cổ điển lại cho rằng cung tiền có thể ảnh hưởng đến tổng cầu, nhưng giá cả và tiền lương hoàn toàn linh hoạt, và đường cung là đường thẳng đứng, có nghĩa là chỉ có mức giá sẽ giảm và sản lượng thực thì không thay đổi Mặc dù có sự tán đồng chung rằng cung tiền tác động đến sản lượng, song các bằng chứng kinh tế lượng hỗ trợ là yếu hoặc không thuyết phục

2 Các nghiên cứu liên quan

Về mối quan hệ nhân quả kinh tế của tiền lên sản lượng đã có nhiều công trình nghiên cứu bác bỏ cũng như ủng hộ quan điểm này

Nghiên cứu của Willem Hendrik Buiter, 1984, “Granger-Causality and Policy Ineffectiveness: A Rejoinder” Bài nghiên cứu chỉ ra một chính sách tối ưu hóa, sử dụng tiền tệ để tác động đến sản lượng, các dữ liệu đã không cho thấy mối quan hệ nhân quả Granger của tác động từ tiền lên sản lượng

Nghiên cứu của Ben S Bernanke, 1994, “The Macroeconomics of the Great Depression: A Comparative Approach” Mặc dù có nhiều yếu nhưng trong nghiên cứu này chỉ tập trung nghiên cứu của một cú sốc trong chính sách tiền tệ lên tổng cầu quốc

Trang 5

gia nhằm tìm hiểu nguyên nhân cuộc đại suy thoái Mỹ Về phía tổng cầu của nền kinh

tế, phân tích so sánh đã củng cố đáng kể trường hợp thực nghiệm của chính sách tiền

tệ như là một động lực chính của cuộc suy thoái một khả năng thú vị được đề xuất bởi phân tích này là sự sụp đổ tiền tệ trên toàn thế giới đã bắt đầu vào năm 1931 có thể được hiểu như là một bước nhảy từ một trạng thái cân bằng Nash tới những cái khác

Về phía tổng cung, các nghiên cứu thực nghiệm so sánh cung cấp hỗ trợ cho cả cuộc khủng hoảng tài chính gây ra và tiền lương danh nghĩa như cơ chế mà những cú sốc danh nghĩa có tác dụng thực sự Điều vẫn chưa được giải quyết là tại sao tiền lương danh nghĩa không điều chỉnh nhanh hơn khi đối mặt với tình trạng thất nghiệp hàng loạt

Nghiên cứu của Lawrence J Christiano, Martin Eichenbaum, Charles L Evans,

1998, “Monetary Policy Shocks: What Have We Learned and to What End?” Bài nghiên cứu tập trung trả lời câu hỏi: Điều gì sẽ xảy ra đối với chính sách tiền tệ sau một cú sốc ngoại sinh? Câu hỏi này là trung tâm để đánh giá tính hợp lý thực nghiệm của mô hình cơ cấu kinh tế được dùng cho phân tích sự thay đổi có hệ thống các luật lệ

và các định chế chính sách tiền tệ Bài viết vẫn chưa hội đủ những tập hợp các giả định để xác định ảnh hưởng của một cú sốc ngoại sinh đối với một chính sách tiền tệ Tuy nhiên đạt được sự đồng thuận cao về ảnh hưởng của chính sách tiền tệ trong một tập hợp các mô hình được đưa ra trong bài viết

Nghiên cứu của Nicholas Rowe and James Yetman, 2002,” Identifying a Policymaker's Target: An Application to the Bank of Canada” Mục tiêu nghiên cứu là tìm hiểu biến kinh tế nào là mục tiêu mà các nhà hoạch định chính sách tiền tệ của ngân hàng Canada hướng tới đồng thời tác động của nó theo thời gian là như thế nào

Ví dụ nếu như nhà hoạch định chính sách Canada sử dụng lãi suất như là công cụ thực hiện tỷ lệ lạm phát mục tiêu 2% và có một độ trễ 8 quý trong ảnh hưởng của lãi suất đối với lạm phát Và độ lệch của lạm phát của lạm phát so với mức bố từ Ngân hàng Canada với độ trễ là 8 quý Điều này có nghĩa rằng việc xem xét các quan hệ nhân quả thực nghiệm của chính sách tiền tệ đối với lạm phát có thể rất sai lầm

Nghiên cứu của Harald Uhlig, 2005, “What are the effects of monetary policy on output? Results from an agnostic identification procedure” Nghiên cứu này được thực hiện tại Đức đề xuất để đánh giá tác động của các cú sốc chính sách tiền tệ bằng một phương pháp bất khả tri mới, áp đặt các phản hồi trên những phản hồi về giá, dự trữ

Trang 6

không bắt buộc, lãi suất quỹ liên bang để phản ứng lại một cú sốc tiền tệ Không có

giới hạn được ấn đinh trong việc trả lời câu hỏi của GDP thực trong bài nghiên cứu

này Tác giả nhận thấy việc thắt chặt trong chính sách tiền tệ thì không có tác dụng rõ

ràng lên GDP thực thậm chí trong tình huống giá cả cũng có sự dịch chuyển dần dần

để đáp ứng cú sốc tiền tệ Tính trung lập của các cú sốc chính sách tiền tệ thì không

phù hợp với dữ liệu

3 Mô hình định lượng trong dài hạn

Giả định rằng có một phương trình cơ bản mà Fed tin cho thấy sự liên kết giữa

mức sản lượng thực cung tiền cơ bản yt+j với mức cung tiền mt và một số biến số khác

với một độ trễ j trong ành hưởng của tiền lên sản lượng

yt+j = F(mt, ….) (1)

yt+j : là biến mức độ sản lượng thực tế

mt : là biến cung tiền

J : là độ trễ chu kỳ của tác động chính sách tiền tệ với sản lượng đầu ra

Fed mong muốn một cách lý tưởng rằng sản lượng thực tăng tại một tỷ lệ không đổi g

có thể chứng minh được Là: y*

t+j = gt+j (2) Giả sử rằng Fed có một hàm hạ bậc hai và cấu trúc của nền kinh tế là tuyến tính, Fed

sẽ thiết lập một khoảng cung tiền tại mỗi giai đoạn để cho kỳ vọng của sản lượng thực

tại thời điểm t+j bằng với mức lý tưởng, tùy thuộc vào tất cả thông tin có sẵn tại thời

điểm t (It):

E(yi+j/It) = E[F(mt,…./It] = y*t+j (3)

Bởi vì bất kỳ biến số nào có thể tách thành một kỳ vọng hợp lý và một sai số dự báo,

mà sai số dự báo phải không tương quan với bất kỳ thông tin nào tại thời điểm t

yt+ j = E(yi+j|It)+ et+j (4)

Thay từ (2), (3) vào (4) ta có:

yt+ j = gt+j + et+j (5)

Phương trình (5) nói rằng sản lượng sẽ bằng với xu hướng thời gian cộng với một sai

số ngẫu nhiên mà tổng cộng sự không tương quan với bất kỳ thông tin có giá trị tại

thời điểm t Có thể suy luận, cung tiền là một bộ phận của bộ thông tin đó

Điều này có nghĩa rằng quỹ Dự Trữ Liên Bang dùng chính sách tiền tệ để điều hành

sản lượng thực, sản lượng sẽ không tương quan một cách cần thiết với sự chậm trễ của

cung tiền Cũng có thể thấy Rowe and Yetman (2002) Mặc dù vì tiền giả định gây ra

Trang 7

sản lượng, với một độ trễ khoảng J, bất kỳ sự kiểm định nhân quả nào cũng không tìm bằng chứng có quan hệ nhân quả

Để hiểu kết quả này tốt hơn, chúng ta thử coi tình huống nào mà Quỹ Dự Trữ Liên Bang sẽ chọn để cắt giảm cung tiền khoảng 20% Có 2 khả năng xảy ra :

Fed sẽ làm điều này chỉ khi nghiên cứu một vài thông tin (về một trong những biến số khác trong phương trình cấu trúc F , ví dụ như cắt giảm thuế quan trọng) sẽ dẫn đến kỳ vọng tăng lớn trong sản lượng nếu giữ cung tiền không đổi

Nếu Fed dự báo một cách chính xác, cung tiền sẽ giảm 20% nhưng khuynh hướng là sản lượng sẽ tiếp tục tăng Chỉ có sự dao động trong sản lượng là kết quả sai số dự báo của Fed, do đó nó phải không liên quan tới bất cứ gì mà Fed biết tại thời điểm mà chính sách tiền tệ có thể tác động lên sản lượng

4 Lý do chọn Hong Kong làm quốc gia nghiên cứu :

Để có kết quả là tiền có tạo nên sản lượng hay không chúng ta phải tìm bộ dữ liệu nơi mà cơ quan quản lý tiền tệ điều chỉnh chính sách tiền tệ mà không quan tâm tới ảnh hưởng của nó lên sản lượng Hong Kong cung cấp bộ dữ liệu này Trong nhiều năm Hong Kong giữ tỷ giá với USD cố định 5% Vì Hong Kong có mối quan hệ nhỏ với Mỹ nên cục Dữ trữ liên bang không đảm nhận trách nhiệm giữ tỷ giá cố định, Chính sách tiền tệ của Hong Kong được thiết lập một cách hiệu quả tại Washington

DC Ngụ ý chính sách tiền tệ của Mỹ sẽ tác động tới chính sách tiền tệ của Hong Kong

Nếu cổ phiếu của nền kinh tế Mỹ và Hong Kong liên hệ với nhau một cách không hoàn hảo, nếu Fed tiến hành chính sách tiền tệ để điều hành sản lượng ở Mỹ nhưng không quan tâm tới sản lượng của Hong Kong thì có nghĩa là chính sách tiền tệ này ít nhất nó là một phần ngoại sinh với chính sách tiền tệ của Hong Kong

Giả định rằng : Fed nhìn thấy cú sốc tích cực (Kỳ vọng gia tăng sản lượng) vào kinh tế

Mỹ Fed sẽ cắt giảm cung tiền đề ngược chiều gió giảm bớt cú sốc tránh đưa nền kinh

tế vào tăng trưởng nóng Nếu dự báo là đúng thì sản lượng Mỹ tiếp tục tăng bình thường trong khi nền kinh tế Hong Kong thì chịu ảnh hưởng của việc cắt giảm cung tiền Nếu không có cú sốc tương tự vào nền kinh tế Hong Kong sẽ suy thoái

Nếu Fed dự đoán một cú sốc tiêu cực trong kinh tế Mỹ, nó sẽ tăng cung tiền giảm lãi suất Không có sự thay đổi trong sản lượng đầu ra Mỹ là có thể nhìn thấy rõ nhưng

Trang 8

kinh tế Hong Kong thì hứng chịu hậu quả Có thể làm cho nền kinh tế Hong Kong rơi vào tăng trưởng nóng

Trong những điều khoản thực tế, tình huống được quan sát tại Hong Kong cũng tương đương như tình huống được quan sát trong Đại suy thoái nơi mà nhiều quốc gia đang làm việc dưới chế độ bản vị vàng Thực tế, một vài tài liệu về Đại suy thoái cho thấy nhiều bằng chứng liên quan đến vai trò của nhân tố tiền tệ trong suốt thời gian này; như Bernanke (1995) Theo như ông ta, “cú sốc được truyền tới toàn thế giới là qua sự hiệu lực của Bản vị vàng”; cũng như Choudhri và Kochin (1980), Eichengreen (1984),

và Halminton (1988) trong nhiều cái khác

Thực tế những nghiên cứu chế độ Bản vị vàng cho phép những nhà kinh tế khẳng định tương đối tự tin rằng nhân tố tiền tệ thể hiện một vai trò quan trọng, trong suy thoái kinh tế thế giới cả giá cả và sản lượng và sự phục hồi sau cùng Bằng chứng cho thấy những quốc gia rời khỏi Bản vị vàng phục hồi từ suy thoái nhanh hơn những quốc gia còn ở lại Không quốc gia nào thể hiện sự hồi phục đáng kể trong khi vẫn ở trong chế độ Bản vị vàng Sự phụ thuộc mạnh mẽ của tốc độ phục hồi vào việc lựa chọn chế độ tỷ giá là bằng chứng quan trọng chứng minh tầm quan trọng của nhân tố tiền tệ

III Phương pháp nghiên cứu

1 Dữ liệu nghiên cứu :

Dữ liệu của chúng ta bao gồm Vecto Zt của kích cỡ n x 1 mà nó bao gồm 3 chuỗi thời gian dùng trong phân tích kết quả Đó là, zt = (y1t, y2t, y3t)t trong đó y1t cho thấy hàm logarit của sản lượng Hong Kong (ythk) ; y2t cho thấy hàm logarit của sản lượng

Mỹ (ytus) và y3t cho thấy hàm logarit của cung tiền Mỹ(mtus), hoặc là lãi suất Cục dữ trữ liên bang Mỹ công bố (Rtus) Dữ liệu hàng quý và từ quý 1 năm 1986 đến quý 4 năm 1999

2 Mô hình nghiên cứu :

Quá trình kiểm định gồm 3 bước Trong bước đầu tiên kiểm định tính phù hợp của các chuỗi thời gian; sử dụng phương pháp kiểm định nghiệm đơn vị Dickey Filler (ADF) theo (Dickey và Filler 1979; Said và Dickey 1984) Bước thứ hai kiểm định sự tồn tại của mối quan hệ đồng liên kết dùng quy trình Johansen (Johansen 1988) Trong bước thứ ba và là bước cuối cùng, chúng tôi ước lượng mô hình hiệu chỉnh sai số

Trang 9

vectơ (VECM) và kiểm định quan hệ nhân quả Granger theo đề xuất của Phillip và Toda (1994)

a/ Kiểm định ADF

Trong thực tế, cách thích hợp để kiểm tra quan hệ nhân quả phụ thuộc vào việc có tồn tại hay không mối quan hệ hợp nhất Khi có sự mối quan hệ hợp nhất, chúng ta có thể kiểm chứng quan hệ nhân quả trong ngắn hạn bằng cách sử dụng F-test về sự khác biệt đâu tiên bị trễ của các biến số liên quan Chúng ta cũng có thể kiểm nghiệm quan

hệ nhân quả trong dài hạn bằng cách thực hiện F-test về thời hạn chỉnh sửa sai số Một

số tài liệu tham khảo thực nghiệm là Hayo (1999), Khalid and Guan (1999), và Wernerheim (2000)

Trong kiểm định ADF, chiều dài độ trễ được chọn bằng cách sử dụng thủ tục tuần

tự, được đề xuất bởi Campbell and Perron (1991), trong đó bao gồm giả định ban đầu

về độ trễ cực đại trong dự toán của ADF hồi quy và kiểm nghiệm ý nghĩa của độ trễ cực đại Nếu không phát hiện ý nghĩa nào, các số liệu thống kê được dự toán lại bằng cách sử dụng độ trễ kmax=1 Quy trình được lặp lại cho đến khi có một độ trễ có ý nghĩa được tìm thấy Nếu không, giá trị k=0 được chọn

Kết quả cho thấy bằng chứng các chuỗi dữ liệu này không có tính dừng Nói cách khác, tất cả các chuỗi được đánh giá như quy trình I (1) Từ thực tế này, bước thứ hai tác giả tiến hành kiểm định mối quan hệ đồng liên kết giữa hệ thống các biến số

b/ Kiểm định mối quan hệ đồng liên kết

Vector zt chứa n biến số, được thể hiện bằng mô hình VAR(k):

= + + (6)

Với giả định rằng là một chuỗi i.i.d không có nghĩa với ma trận hiệp phương sai

Ω Trong hầu hết trường hợp, sai số này được giả định theo phân phối chuẩn Gaussian, được ký hiệu bởi N (0,Ω)

Biến chứa các thành phần có thể xác định của quy trình, chẳng hạn như một hằng số, biến xu hướng thời gian, biến giả theo mùa và biến giả can thiệp Mô hình này được Johansen đề xuất (1988, 1991, 1995) và được sử dụng rộng rãi trong các ứng dụng thực nghiệm

Công thức (6) được chuyển thành mô hình Vector hiệu chỉnh sai số (VECM):

= + + + (7)

Với = - + ; = Chú ý rằng ma trận =

Trang 10

Mối quan hệ đồng liên kết xảy ra tại dãy số có độ tích hợp bậc xảy ra khi ma trận giảm hạng ; r < n khi ma trận biến đổi thành ma trận = , và là hai

ma trận chưa rút gọn có kích thước n x r Ma trận chứa các hệ số điều chỉnh và ma trận chứa các vector đồng liên kết Các vector này có thuộc tính là có tính dừng, mặc dù là không có tính dừng Lưu ý rằng có tồn tại các ma trận đủ hạng

và có kích thước n x (n-r) vuông góc với ma trận và Ta có = 0 ;

và hạng của ma trận ( , ) = n

Để kiểm tra hạng của ma trận Johansen (1988, 1995) đã phát triển các phương pháp kiểm tra đồng liên kết bằng cách sử dụng kỹ thuật hồi quy rút gọn dựa trên những mối tương quan chuẩn Phương pháp thu được vector kích thước n x 1 với

và phần dư, từ hồi quy phụ trợ (hồi quy của và liên tục và

… có độ trễ Phần dư được sử dụng có (n x n) ma trận phần dư:

=(1/T) (8)

Với i, j = 0,1 Bước tiếp theo là giải phương trình :

| - | = 0 (9)

Công thức này chỉ ra các giá trị và các giá trị phù hợp từ đến , cũng là các vector đồng liên kết Việc kiểm định hạng của ma trận có thể thực hiện bằng cách kiểm tra có bao nhiêu giá trị =1 Một số liệu thống kê cho kết quả các mối quan hệ đồng liên kết là Trace, được xác định bởi công thức sau :

= - log(1- ) (10)

Một số liệu khác cũng được đưa ra bằng cách kiểm tra ý nghĩa của các giá trị đặc trưng ước lượng :

= -T log(1- )

Trong Trace, giả thuyết là H0 : r=0 (không có đồng liên kết) ngược lại với giả thuyết HA : r > 0 (có đồng liên kết) Kiểm định giả thuyết thống kê với giả thuyết H0 : r = trái với giả thuyết H1 : r = +1, trong đó = 0,1…,n-1

Các giá trị tới hạn của những kiểm tra này được lập thành bảng bởi Osterwald-Lenum (1992) Tuy nhiên, sự phân chia giới hạn phụ thuộc vào hệ thống các thành phần xác định trong công thức (6)(6), và cũng phụ thuộc vào các thành phần xác định được đưa vào trong mối quan hệ đồng liên kết

Đối với quan hệ đồng liên kết, tác giả xem xét hai trường hợp Trường hợp thứ nhất chỉ bao gồm hệ số chặn trong quan hệ dài hạn Trường hợp thứ hai bao gồm hệ số chặn

Ngày đăng: 29/12/2018, 10:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w